Trong những năm gần đây, do nhận thức được vai trò và tác dụng của đồng dao trong việc góp phần giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách trẻ thơ phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, một số bà
Trang 1bộ giáo dục vμ đμo tạo viện khoa học x∙ hội việt nam
Viện nghiên cứu văn hoá
Đỗ Thị minh chính
Từ đồng dao đến những bμi hát-đồng dao cho tuổi thơ trong nhμ trường ngμy nay (Qua khảo sát ở một số trường mầm non và tiểu học thuộc
quận Tây Hồ, Hà Nội)
Chuyên ngành: Văn hoá học Mã số: 60 37 10
Luận văn thạc sĩ văn hoá học
Người hướng dẫn: PGS,TS Nguyễn Xuân Đức
Hà Nội - 2005
Trang 2mục lục Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài 1
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
III Mục tiêu nghiên cứu 6
IV ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
VI Phương pháp nghiên cứu 7
VII Bố cục của luận văn 8
phần nội dung Chương 1: Đồng dao người Việt 1 Đồng dao cổ truyền người việt 9
1.1 Khái niệm 9
1.2 Hoàn cảnh ra đời, môi trường diễn xướng và thời gian xuất hiện của đồng dao.13 1.3 Tác giả của đồng dao 14
1.3.1 Đồng dao do người lớn sáng tác: 14
1.3.2 Đồng dao do trẻ em sáng tạo 17
1.4 Các yếu tố cấu thành đồng dao 19
1.4.1 Lời ca 20
1.4.2 Tiết tấu 24
1.4.3 Trò chơi 26
1.4.4 Không gian và thời gian trình diễn của đồng dao 28
1.5 Đồng dao trong xã hội ngày nay 29
Chương 2: Từ đồng dao đến bài hát-đồng dao cho trẻ thơ 2.1 Sự kế thừa về chủ đề 37
2.2 Sự kế thừa về ca từ 41
2.3 Sự kế thừa về giai điệu 49
2.3.1 Vai trò ý nghĩa của yếu tố giai điệu trong tác phẩm âm nhạc 49
2.3.2 Sự kế thừa và phát huy yếu tố vần điệu của đồng dao trong sáng tác bài hát đồng dao cho trẻ 50
2.4 Trò diễn 70
2.5 Không gian diễn xướng 73
Chương3: Đồng dao và bài hát-đồng dao trong hoạt động giáo dục âm nhạc cho trẻ em trong nhà trường, thực trạng và những đề xuất 3.1 Thực trạng bộ môn giáo dục âm nhạc trong nhà trường 79
3.1.1 Mức độ thực hiện chương trình và hiệu quả của các bài hát-đồng dao trong hoạt động giáo dục âm nhạc ở trường mầm non Quảng An và tiểu học Chu Văn An, quận Tây Hồ- Hà Nội 84
3.1.1.1 Vài nét về trường mầm non Quảng An và trường tiểu học Chu Văn An 84
3.1.1.2 Số lượng và nội dung bài hát đồng dao trong chương trình giáo dục âm nhạc 88
3.1.1.3 Số lượng và nội dung bài hát trong chương trình giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non 88
3.1.1.4 Số lượng và nội dung bài hát-đồng dao trong chương trình môn học âm nhạc ở trường tiểu học 93
Trang 33.2 Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy hát trong nhà trường 95
3.2.1 Phương pháp và hình thức dạy hát trong trường Mầm non 95
3.2.2 Phương pháp và hình thức dạy bài hát đồng dao trong môn học âm nhạc ở trường tiểu học 103
3.3 Nhận xét 105
3.4 Đề xuất 108
Kết luận 111
Tài liệu tham khảo 115
Trang 4Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể quý thầy, cô của Viện Nghiên cứu văn hoá, trường Cao Đẳng sư phạm Trung ương
đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Đức, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn chắc không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các nhà khoa học, quý thầy, cô giáo chỉ dạy thêm
để giúp tôi mở rộng kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi vào thực tiễn nghiên cứu
Trang 5Lời cam đoan
Đây là công trình sưu tầm và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả và những nhận xét nêu trong luận văn là trung thực Những đóng góp khoa học mới được đề cập trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Hà Nội, ngày 3 tháng 7 năm 2007
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Minh Chính
Trang 6mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Văn học, nghệ thuật là nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống tinh thần con người mọi thời đại, mọi lứa tuổi Với nhu cầu đó, từ ngàn xưa, cha ông ta không chỉ đã sáng tạo nên những lời ca tiếng hát phục vụ cuộc sống
hàng ngày của mình mà còn sáng tạo cả những ca khúc cho trẻ con học mà chơi, chơi mà học, đó là đồng dao
Về phương thức lưu hành, đồng dao là thứ để trẻ con hát, trẻ con chơi, phần lớn qua những hoạt động tập thể Có thể xem đây là một phương thức dạy học không thầy không sách, nhưng qua đó giáo dục con người từ tuổi ấu thơ những cảm nhận và cả những hiểu biết về thế giới tự nhiên, về môi trường,
về xã hội và cộng đồng một cách tự nhiên và sâu sắc, không chỉ bồi dưỡng trí tuệ cho các em mà còn góp phần tạo nên những tình cảm truyền thống tốt đẹp
từ trong gia đình, cha mẹ, anh em đến xóm làng, xã hội Có thể thấy đồng dao
là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hoá cộng đồng mà hầu hết mỗi con người chúng ta đến lúc trưởng thành vẫn mang trong mình những âm hưởng của nó Vì thế đồng dao không chỉ là đối tượng của các nhà nghiên cứu folklore mà cả của các nhạc sĩ cũng như các nhà sư phạm,
Vậy nhưng tiếc rằng cho đến nay, trong khi nhiều loại hình văn hoá, văn nghệ dân gian khác đã được sưu tầm, biên soạn, điều tra, nghiên cứu và sử dụng thì đồng dao là loại hình có số lượng không ít, với những giá trị lớn lao nhưng lại ít được các nhà folklore quan tâm, càng ít được các nhà sư phạm học chú ý đầy đủ trong nghiên cứu, khai thác, ứng dụng Các công trình về đồng dao phần lớn nặng về ghi chép, biên soạn lại còn phần khảo cứu chưa nhiều
Lý do có lẽ một phần vì đồng dao là loại hình gắn với trò chơi con trẻ, chủ yếu
Trang 7ở các làng quê, trong khi dưới chế độ ta, tất cả trẻ thơ đều được đến trường với một chương trình giáo dưỡng theo qui chuẩn Nhà nước, phần khác vì đồng dao khá phức tạp, đến mức cho đến nay chưa có được một khái niệm thống nhất giữa các nhà khoa học
Ngày nay, trước sự phát triển của kinh tế, cuộc sống xã hội có nhiều biến đổi, trẻ em đã được quan tâm và nuôi dưỡng không chỉ về vật chất mà cả tinh thần, thậm chí ngay từ khi còn trong bụng mẹ Trong những năm gần đây,
do nhận thức được vai trò và tác dụng của đồng dao trong việc góp phần giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách trẻ thơ phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, một
số bài hát ru và đồng dao xưa đã được các nhà thơ, nhạc sĩ khai thác chuyển vào sáng tác của mình và cũng đã có một số tác phẩm được đưa vào nội dung giáo dưỡng trong nhà trường với nhiều hình thức truyền thụ khác nhau Tuy số lượng chưa nhiều, nói đúng hơn, chưa tương xứng với vai trò tác dụng của nó, nhưng những giai điệu vui tươi, sôi nổi, trong sáng, ngọt ngào, thấm đẫm hồn dân tộc của một số ca khúc khai thác chất liệu đồng dao đã góp phần quan trọng bồi dưỡng đời sống tinh thần của trẻ thơ, để rồi đây, chính các em sẽ là lớp người tiếp tục bảo vệ và giữ gìn những di sản văn hoá quí báu của cha ông biết bao đời để lại
Là một giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương, khảo sát vấn đề này chúng tôi hy vọng sẽ có được những đề xuất và giải pháp nhằm khai thác đồng dao, nâng cao chất lượng, hiệu quả của môn giáo dục Âm nhạc trong các nhà trường phổ thông (bậc mầm non và tiểu học), đặng góp phần bồi dưỡng và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ thơ
Trang 8Tất cả những điều vừa đề cập tới trên đây chính là lý do để chúng tôi
lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Từ đồng dao đến những bài hát-đồng dao cho tuổi thơ trong nhà trường ngày nay"()
2 Lịch sử nghiên cứu
Như trên đã nói, đồng dao chưa được nghiên cứu nhiều thì vấn đề đồng dao với các ca khúc hiện đại cho thiếu nhi lại càng mới mẻ, chưa được các nhà khoa học trực tiếp quan tâm Các công trình về đồng dao chủ yếu nặng về sưu tầm, biên soạn hoặc thiên về khảo sát phần trò chơi, phần văn bản chứ chưa chú ý nhiều đến phần nhạc và sự tiếp nhận nó trong những ca khúc hiện đại cho thiếu nhi Một số nhạc sĩ đã đưa chất liệu đồng dao vào sáng tác của mình nhưng chỉ dừng lại ở công việc sáng tác chứ không nêu lên thành những vấn
đề có tính lý luận
Về lịch sử nghiên cứu, giới thiệu đồng dao, Chu Thị Hà Thanh đã có một tập hợp khá công phu và đầy đủ trong luận án tiến sĩ của mình [39, tr.4], trong đó bên cạnh bộ phận những công trình sưu tầm, chị chia phần khảo sát
thành hai mục: Những bài viết về đồng dao mang tính chất giới thiệu và Những công trình mang tính chất nghiên cứu Tuy nhiên tổng số công trình
mà chị thu thập được trong hai mục này chỉ có bảy bài giới thiệu và bốn bài nghiên cứu, trong đó đáng kể nhất chỉ là hai bài viết của PGS Vũ Ngọc
Khánh: Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam, tạp chí Văn học 4/1974 và Thi pháp đồng dao tạp chí Văn học, 5/1993
Điểm qua tình hình sưu tầm, nghiên cứu đồng dao, có thể thấy từ những năm 40 của thế kỷ XX đã có công trình của Nguyễn Văn Huyên (bằng tiếng Pháp) đăng trên tạp chí của Viện Viễn Đông bác cổ, cuốn sách mỏng của Ngô
) Trong công trình này chúng tôi gọi những bài hát của các nhạc sĩ hiện nay dựa trên đồng dao để sáng tác cho trẻ thơ là “bài hát-đồng dao” để phân biệt với những bài hát không mang âm hưởng đồng dao cũng như
đồng dao cổ truyền
Trang 9Quí Sơn chuyên sưu tầm trò chơi trẻ em, tập Bài hát ru em của Yên Đổ/Văn
Đàn bảo giám do Trần Trung Viên sưu tầm, đáng lưu ý nhất là tập Trẻ em hát trẻ em chơi của Nguyễn Văn Vĩnh in lần đầu năm 1935 trên Tứ Dân Văn Uyển và Bài hát trẻ con của Nam Hương, Hà Nội hay cuốn Tục ngữ phong dao của Nguyễn văn Ngọc Nhìn chung các công trình đã nêu đều nặng về sưu
tầm, không phân loại và khảo cứu
Từ sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau khi Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Viện nghiên cứu Văn hoá dân gian được thành lập thì việc sưu tầm và nghiên cứu văn hoá dân gian và đặc biệt là văn học dân gian, trong đó
có đồng dao mới được quan tâm nhiều hơn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Văn học dân gian, xuất bản năm 1972 đã dành 17 trang viết cho hai mục: Hát vui chơi trẻ em và Hát ru em [36, tr.277-293] Trước đó nhà xuất bản Kim
Đồng cũng đã cho in hai tập Gọi nghé (1967) và Tùng dinh (1969) của Hoàng
Trung Thông
Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu Folklore Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh
đề cập khá sâu về vấn đề ứng xử Việt Nam qua Folklore, trong đó ông đã dành một mục: Đồng dao và trò chơi trẻ em [20, tr.253-262] để bàn về đồng dao Trong cuốn Hành trình vào thế giới Folklore Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh cũng có mục Thế giới trẻ em - Tìm hiểu về đồng dao
Trong cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt của nhà xuất bản
Văn hoá (1997), nhóm tác giả Nguyễn Thuý Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy Hồng và Trần Hoàng đã phân loại và đánh giá khá đầy đủ về đồng dao và
trò chơi cho trẻ em người Việt Huy Hà cũng có cuốn Trò chơi dân gian trẻ
trăm trò chơi hướng dẫn (dùng cho các trường phổ thông cấp 1) của Nguyễn
Tử Yến, Phạm Kỳ Nam, Vũ Tiến Yêu, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 1963
[57]; Tập tầm vông (không đề tên tác giả) của nhà xuất bản Kim Đồng, Hà
Trang 10Nội, 1979 (16 trang); Trò chơi xưa và nay của Chu Quang Trứ, nhà xuất bản Thể dục thể thao, 1990 [54], tập bài hát Đồng dao con cò nhà xuất bản Âm nhạc Hà Nội, in năm 2004 [6]; Bình minh chim sơn ca, Đào Ngọc Dung sưu
tầm và tuyển chọn, nhà xuất bản Âm nhạc 2004 [7]
Ngoài ra còn một số bài viết, bài hát đăng lẻ tẻ trên các sách giáo khoa
Âm nhạc ở các trường phổ thông, trên các báo, tạp chí chuyên ngành như:
+ Thi pháp đồng dao của tác giả Vũ Ngọc Khánh, in trên tạp chí Văn học, số 5, năm 1999
+ Mấy điều ghi nhận về đồng dao Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, tạp chí Văn học, số 4 năm 1974
+ Vị trí của đồng dao của Nghiêm Đa Văn, tạp chí Vì trẻ thơ, số 6, năm
1995
+ Lời đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em của tác giả Phan
Đăng Nhật, tạp chí Giáo dục mầm non, số 3, 1992
+ Những câu hát trò chơi Mẹ hát ru con của Nguyễn Hữu Thu, nhà xuất
bản Phụ Nữ, Hà Nội 1987 (tr.119-126)
+ Trẻ mầm non ca hát của Vụ Giáo dục mầm non, nhà xuất bản Âm
nhạc, Hà Nội, 2004
+ Tuyển tập bài hát và trò chơi âm nhạc cho trẻ 2-5 tuổi của Viện
nghiên cứu chiến lược chương trình, nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội 2003
+ Tập bài hát Đồng dao con cò, Đào Ngọc Dung sưu tầm và biên soạn,
nhà xuất bản Âm nhạc 2003
Chuyên sâu về thi pháp đồng dao có luận án tiến sĩ của Chu Thị Hà
Thanh, đề tài Thi pháp đồng dao và thơ thiếu nhi Trong luận án này tác giả
Trang 11dành cả chương hai để khảo sát thi pháp đồng dao trên các phương diện: thể thơ, ngôn ngữ và kết cấu
Nhận xét:
Nhìn chung số công trình, bài viết mang tính lý luận không nhiều, các công trình sưu tầm, ghi chép và phân loại tuy có số lượng lớn nhưng tiêu chí không thống nhất bởi người thực hiện chưa đặt yêu cầu cao về tính chuyên sâu Mặt khác khi hệ thống lý luận chưa nhiều, các khái niệm chưa chuẩn, nhất là đối với đồng dao, một loại hình phức tạp được xác định trước hết bởi chức năng ứng dụng, thì bộ phận sưu tầm cũng không thống nhất trong tiêu chí lựa chọn
Đặc biệt các tác phẩm kế thừa và phát huy đồng dao, trò chơi đồng dao
ở góc độ âm nhạc, thơ, trò chơi tập thể, v.v tuy có nhưng cũng không xuất phát từ một ý thức đầy đủ về vai trò của nó trong nhà trường Đặc biệt dường như ngành giáo dục chưa đưa vấn đề này vào chương trình nghiên cứu, phát huy, các nhà sư phạm cũng chưa quan tâm nhiều đến vai trò đồng dao trong giáo dục trẻ thơ, có lẽ một phần cũng do hệ thống giáo dục ở bậc học mầm non mới được chính thức đưa vào hệ thống giáo dục quốc dân chưa lâu và ngay cả ở bậc tiểu học thì môn học âm nhạc cũng mới gần đây mới được quan tâm và đầu tư để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của bậc học
Tóm lại, có thể thấy cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về
sự kế thừa phát huy đồng dao trong sáng tác các bài hát cho thiếu nhi và thực trạng việc phổ biến các bài hát này trong chương trình giáo dục âm nhạc trong các trường mầm non và tiểu học cũng chưa được quan tâm đầy đủ
3 Mục tiêu nghiên cứu
+ Tìm hiểu những đặc điểm cơ bản đồng dao xưa của người Việt
Trang 12+ Khảo sát về sự kế thừa và phát huy đồng dao trong sáng tác các bài hát cho thiếu nhi và thực trạng việc phổ biến các bài hát-đồng dao trong một
số trường mầm non và tiểu học ở quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
+ Đưa ra ý kiến đề nghị và các biện pháp để khai thác, kế thừa và phát huy giá trị của các bài hát-đồng dao, góp phần giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ em
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào tìm hiểu đồng dao xưa của trẻ em người Việt, sự kế thừa, phát huy nó trong việc sáng tác các bài hát-đồng dao cho thiếu nhi và thực trạng việc phổ biến các bài hát-đồng dao trong chương trình môn học âm nhạc của một số trường mầm non và tiểu học ở quận Tây Hồ, Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
+ Phân tích các văn bản (để tìm những đặc trưng cơ bản của đồng dao) + Điều tra, phỏng vấn (bằng phiếu), ghi hình về những bài hát-đồng dao trong một số trường mầm non và tiểu học
+ Thống kê, xử lý các số liệu
+ Phân tích, tổng hợp
+ Nghiên cứu liên ngành
6 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Kết quả khảo sát sẽ cho thấy mức độ, hiệu quả của việc kế thừa, phát huy đồng dao trong sáng tác các bài hát cho thiếu nhi và thực trạng việc phổ biến các bài hát này trong chương trình môn âm nhạc ở các trường mầm non
và tiểu học
Trang 13+ Đề xuất, kiến nghị các biện pháp để kế thừa, phát huy hơn nữa vai trò, hiệu quả giáo dục của các bài hát-đồng dao trong hoạt động giáo dục âm nhạc
ở các trường mầm non và tiểu học
+ Qua việc tìm hiểu các nội dung trong đề tài cũng sẽ tích luỹ thêm những thông tin và tư liệu phục vụ cho công việc giảng dạy chuyên ngành âm nhạc trong trường sư phạm của bản thân tôi
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Đồng dao cổ truyền Người việt
Chương 2: Từ đồng dao đến các bài hát-đồng dao cho trẻ thơ
Chương 3: Đồng dao và bài hát-đồng dao trong hoạt động âm nhạc cho trẻ
em trong nhà trường, thực trạng và những đề xuất
Trang 14Chương 1 khái quát về đồng dao
1.1 Đồng dao trong xã hội xưa
1.1.1 Khái niệm
Qua các công trình sưu tầm và nghiên cứu của nhiều tác giả, chúng ta thấy đồng dao là một bộ phận folklore dành cho trẻ em, đã xuất hiện rất sớm Tuy nhiên, như đã nói ở trên, cho đến nay chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về cách hiểu khái niệm đồng dao
Các giáo sư của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau này là trường Đại học khoa học xã hội nhân văn như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Lê Chí
Quế… khi viết giáo trình Văn học dân gian Việt Nam không đưa đồng dao
vào như một thể loại chuyên biệt [17], [36]
Chu Thị Hà Thanh, trong luận án tiến sĩ của mình, sau khi tập hợp các tài liệu và công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đã tổng kết các khuynh hướng khi nghiên cứu về đồng dao như sau:
+ Một số nhà nghiên cứu cho rằng đồng dao là những tác phẩm văn học dân gian, không thuộc vào một thể loại cụ thể nào được trẻ em truyền
miệng Như vậy với quan niệm này các tác giả đã nhìn nhận đồng dao là
phương tiện ngôn ngữ (những chỗ in đậm do chúng tôi nhấn mạnh-ĐTMC)
gắn với mục đích phục vụ đời sống tinh thần và sinh hoạt vui chơi của trẻ em
+ Một số nhà nghiên cứu xác định “đồng dao là ca dao nhi đồng”, bao
gồm những lời hát dân gian thuộc một số thể loại văn học dân gian nhất định
và trẻ em nhất thiết phải là chủ thể chủ yếu và đích thực của sự sáng tạo và diễn xướng Với quan niệm này thì hát ru tuy mục đích là phục vụ trẻ em
Trang 15nhưng chúng lại không trực tiếp là người diễn xướng nên không được gọi là
đồng dao, những lời sấm truyền sấm ký cũng vậy
Doãn Quốc Sỹ lại dựa vào nghĩa Hán - Việt của thuật ngữ, xem đồng
dao là ca dao nhi đồng và đặt tên cho công trình của mình là Ca dao nhi
đồng Trong công trình này, ông phân loại đồng dao theo các lĩnh vực nội
dung mà nó phản ánh và đưa vào đó cả tục ngữ, câu đố hoặc vô danh hoặc có tên tác giả [27, tr.671-683]
Cùng quan điểm này, hai soạn giả Nguyễn Tấn Long và Phan Canh
trong Thi ca bình dân, tập IV, mục Đồng dao cũng định nghĩa đồng dao là ca
dao nhi đồng và xem đồng dao là một bộ phận của ca dao [27]
Thế nhưng trong thực tế khái niệm ca dao lại chưa được minh định một
cách nhất quán và bản thân Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, trong các công trình kể trên của mình cũng không đưa ra định nghĩa về ca dao
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam viết cho hệ Cao đẳng sư
phạm, PGS Hoàng Tiến Tựu cũng nhất trí với các tác giả trước đó rằng đồng dao thuộc thể loại ca dao trẻ em Theo ông, “đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng của trẻ em”, nó bao gồm cả những bài vè kể chim, kể quả cả những lời sấm truyền, sấm ký (nhưng ông lại không xếp vào đó những bài hát
ru của trẻ em) [51]
Một số tác giả khác lại xem đồng dao là một bộ phận của dân ca:
- Trong công trình Việt Nam văn học sử yếu Dương Quảng Hàm xem
đồng dao là bài hát của trẻ em không có chương khúc [20, tr.153]
- Nhà văn Vũ Ngọc Phan cũng đưa đồng dao vào trong mục: Hát vui chơi và hát trẻ em bao gồm những bài đồng dao của trẻ em, nhưng không đưa
ra tên gọi cụ thể [37, tr.740]
Trang 16- Vũ Ngọc Khánh và Trần Hòa Bình cũng nhất trí với thuật ngữ đồng dao tương đồng với bài hát dân gian của trẻ em [18]
Như vậy có thể thấy sự không thống nhất giữa các tác giả về khái niệm
đồng dao chính vì: một số chỉ nhìn đồng dao trên bình diện ngôn từ và như vậy đồng dao là ca dao nhi đồng, trong khi tất cả các lời ca dao, với tư cách là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đích thực, đều có nghĩa, trong khi nhiều bài
đồng dao lại không có nghĩa, có một số khác khác xem đồng dao là nghệ thuật biểu diễn, là bài hát dân gian của trẻ em
Một vấn đề cũng không thể bỏ qua ở đây là cho đến nay, trong giới nghiên cứu folklore Việt Nam vẫn còn một số người đồng nhất hai khái niệm
ca dao và dân ca Tuy nhiên, nếu xem hai khái niệm này là một thì kết luận của những người xem đồng dao là ca dao trẻ em cũng không đúng khi phân loại nó theo nội dung hoặc khi đưa sấm truyền, sấm ký hoặc những bài hát ru trẻ em ra khỏi đồng dao
Cho nên vấn đề đặt ra cho chúng ta ở đây là xem xét lại hai khái niệm
ca dao và dân ca Ca dao và dân ca là những từ Hán-Việt Người Trung Quốc
xưa cũng đã có sự phân biệt hai khái niệm này Sách Thuyết văn giải tự giải
thích nghĩa của từ ca là hát có nhạc đi theo, sách Mao truyện phân biệt giữa
ca và dao là: Khúc kết hợp lời và nhạc gọi là ca, lời không kèm nhạc gọi là dao Đối chiếu cách hiểu của người Trung Quốc về ca và dao với các thuật
ngữ người Việt đang dùng thì ca là dân ca còn dao là ca dao [10] Có thể
nhận thấy rằng ca dao là loại lời không kèm nhạc, có người gọi đây là “thơ dân gian”, trong khi đồng dao tuy có ca từ nhưng lại có kèm nhạc, dù còn đơn giản và thô sơ Mặt khác, trong thực tế không ít bài đồng dao chỉ đơn thuần là lối hát xắp/chắp vần, chỉ để mua vui mà không có nội dung, trong khi đã gọi
là ca dao với nghĩa là nghệ thuật ngôn từ thì thường bộc lộ tâm sự của tác giả dân gian
Trang 17Thuật ngữ đồng dao mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này có phần gần gũi với các quan niệm sau đây hơn:
- Theo định nghĩa của nhóm tác giả thuộc Viện nghiên cứu văn hóa thì:
“Đồng dao là những bài hát truyền miệng của trẻ em lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên Vốn là những sáng tác dân gian không rõ tác giả, về sau từ vần
điệu của loại hình này, một số sáng tác, những bài thơ cho trẻ em hát có tên tác giả cũng được các nhà nghiên cứu gọi là đồng dao” [26, tr.5]
- PGS Trần Đức Ngôn trong cuốn Văn học thiếu nhi Việt Nam cho rằng
đồng dao không xác định như một thể loại văn học dân gian riêng biệt, mà đây
là khái niệm tập hợp một vài thể loại khác nhau, chúng bao gồm cả những bài hát
ru, những bài ca vui chơi, những bài ca dao và những bài vè cho thiếu nhi [31]
- Theo GS.TS KH Tô Ngọc Thanh thì đồng dao có thể xem là một hình thức trình diễn văn hoá-văn nghệ dân gian dành riêng cho trẻ em lứa tuổi 5-11
tuổi Một bài đồng dao thường gồm một bài văn vần, được hát lên bằng một giai điệu âm nhạc đơn giản, bài hát ấy được hát lên trong khi trẻ chơi với một chủ đề phù hợp với bài hát [34]
Nhìn chung, dù còn những khía cạnh khác nhau nhưng hầu như các nhà
đồng dao học đều thống nhất được ở một điểm, đó là: đồng dao không chỉ là phương tiện giải trí vui chơi, mà còn là những bài học giáo huấn sinh động,
ấn tượng và sâu sắc với trẻ trong mọi thời đại Cũng chính vì nhận thức được khả năng giáo dục to lớn của đồng dao nên các nhạc sĩ trong nhiều thời đại đã khai thác nhiều phương diện nghệ thuật của đồng dao để sáng tác ra những ca khúc mới cho thiếu nhi
Từ ý kiến của nhiều học giả trên đây, chúng ta có thể đi đến nhận thức
chung rằng đồng dao là những bài hát dân gian truyền miệng của trẻ em, cho trẻ em, trên cơ sở những lời văn vần (của tác giả xác định hoặc vô danh),
có hình ảnh và nhịp điệu đơn giản, gắn với các trò chơi Trẻ em là đối tượng
Trang 18hưởng thụ, cũng có khi là chủ thể sáng tạọ, nhưng dù ở cương vị nào thì các
em cũng luôn luôn là người giữ vai trò “diễn xướng" và đồng dao đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của chúng
1.1.2 Hoàn cảnh ra đời, môi trường diễn xướng của đồng dao
Nông thôn làng xã Việt Nam xưa vốn có nhiều những đặc điểm về địa
lý, môi trường cũng như những điều kiện sinh hoạt tương tự nhau, cuộc sống lao động trồng lúa nước gắn với những cảnh vật thật gần gũi như cây đa, bến nước, sân đình, Những người con sinh ra và lớn lên bên những lũy tre làng vốn là những con người hiền hòa, chăm chỉ, chất phác như hạt lúa, củ khoai, cuộc sống lao động và sinh hoạt chỉ nằm trong khuôn khổ của xóm làng và không biết từ bao đời họ đã “cộng cư, cộng cảm, cộng mệnh” với nhau, nương tựa vào nhau trong cộng đồng thân thiết đó Ngay từ thủơ ấu thơ, những đứa trẻ đã lớn lên trong vòng tay thân ái của gia đình và cộng đồng Trong xã hội truyền thống rất ít có những trường học cho con em người lao động, và nếu có thì những trường ấy lại dạy chữ “thánh hiền” vốn chuyển tải những chuẩn mực văn hoá xa lạ với người dân và mục đích của việc học là để làm quan sau này, trong khi nhu cầu phát triển nhận thức, biểu đạt tình cảm, sáng tạo nghệ thuật lại là phẩm chất có tính tất yếu của con người ở mọi lứa tuổi, mọi lúc, mọi nơi Chính điều đó đã làm nẩy sinh những vùng văn hoá, văn nghệ dân gian vô cùng phong phú, trong đó, cùng với những loại hình văn nghệ dân gian khác,
đồng dao đã là một phương tiện hữu hiệu đáp ứng nhu cầu lứa tuổi thiếu nhi
Vốn gắn bó với cuộc sống nông nghiệp, những ngày nông nhàn hay cả những khi “tối lửa, tắt đèn”, lúc tham gia lao động trên cỏnh đồng hay vui chơi trong những đêm trăng sáng, chỉ cần những câu nói vần vè, có chút nhịp
điệu là bọn trẻ có thể “tổ chức” một cuộc chơi Như vậy trẻ em chính là đối tượng phục vụ chủ yếu của đồng dao Tư liệu khảo sát của các nhà nghiên cứu cho thấy, phần lớn đồng dao dành cho con trẻ vừa hát vừa chơi song có một bộ
Trang 19phận mà cả trẻ em và người lớn đều sử dụng, tuy nhiên mỗi đối tượng sử dụng theo những mục đích và cách thức riêng, đó là hát ru
Theo nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Vũ Ngọc Khánh, những trò chơi
có lời như Chồng lộng, chồng cà, Dâm dâm da da, những trò “ê hê”, chạy
quanh cánh đồng và rừng núi, v.v có thể là sản phẩm của những thời kỳ lịch
sử rất xa xôi Rồi đến bài Cầu thằng Bô đi tô đi tát, đi hát nhà vong, có thể
liên quan tới giai đoạn xã hội mà đạo giáo có ảnh hưởng trong dân chúng
Những trò chơi như trò Đánh ô với lời hát Hết quan, hoàn dân, phá chùa, lùa dân, kéo quân trở về, v.v phải chăng ít nhiều dính dáng với những phong trào bạo động nông dân sôi nổi Theo cuốn Hành trình vào thế giới Folklore Việt Nam của GS Vũ Ngọc Khánh thì: “có lẽ những bài hát cầu mưa, những
trò chơi nhảy múa thô sơ đã được ra đời sớm hơn cả, đáng xem như những bài
đồng dao xuất hiện đầu tiên”
Như vậy, đồng dao vốn là những sỏng tỏc tập thể và được truyền miệng
từ xa xưa, ban đầu có thể là do một người hay nhóm người cùng sáng tác, sau
đó được bổ sung, sửa chữa và cứ như vậy lại tiếp tục lưu truyền trong xã hội
1.1.3 Tác giả của đồng dao
Căn cứ trên nội dung, hình thức, cấu trúc của đồng dao, Chu Thị Hà Thanh chia tác giả của đồng dao thành hai nhóm như sau:
1.1.3.1 Đồng dao do người lớn sáng tác
- Một bộ phận đồng dao bắt nguồn từ các hìmh thức thơ ca của người lớn và do người lớn sáng tác Có thể thấy trong bộ phận đồng dao xuất hiện từ người lớn có nhiều bài phản ánh nhiều vấn đề của xã hội đương thời, những vấn đề mà trẻ em không thể nhận thức và tư duy được, những bất công, những
hiện thực xấu xa của xã hội như bài: Con kiến mà leo cành đào Trong sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, bài này được xếp vào
Trang 20phần ca dao lịch sử trong bối cảnh xã hội bế tắc, không lối thoát của người dân như con kiến leo ra, leo vào Tuy nhiên, lời ca trong bài được kết cấu theo kiểu vòng tròn, ngộ nghĩnh nên trẻ em rất thích và có thể hát mãi đến khi kết thúc cuộc chơi
Một số bài vè nói ngược chứa đựng những ẩn dụ sâu xa, những nghịch cảnh trớ trêu, những hình ảnh của loài vật được dùng để nói bóng gió một vấn
đề xã hội, tuy không hiểu được nhưng những hình ảnh ngộ nghĩnh, tương phản, trái khoáy, gây sự bất ngờ và kích thích tính tò mò của trẻ em nên cũng
được chúng yêu thích
Một bộ phận đồng dao liên quan đến ma thuật, phù chú và niềm tin về
đấng thần linh của người cổ đại Các bài Lạy trời mưa xuống, lạy ông nắng lên, chắc chắn có liên quan đến tín ngưỡng và dân ca nghi lễ của người lớn Một số bài gắn với phụ đồng như Phụ đồng ếch, Phụ đồng chổi, Phụ đồng vung có thể lúc đầu là những hình thức ma thuật, phù chú với quan niệm duy
tâm về thế giới tự nhiên, tuy nhiên với sự tiến hoá của lịch sử, tính chất phù chú, ma thuật cũng dần mất đi chỉ còn lại yếu tố trò chơi được trẻ em sử dụng
Ngoài ra, theo nhiều công trình nghiên cứu, bộ phận gọi là “sấm truyền”, “sấm ký” là những lời có tính chất thần bí, báo trước những sự kiện sắp hoặc sẽ xảy ra, thường là những ẩn ngữ dự đoán những điều tốt, xấu liên quan đến nhân vật lịch sử, một triều đại hay giai đoạn lịch sử nào đó Người lớn có thể có những tiên đoán về những sự kiện lịch sử nhưng để tránh phải nói ra, họ sáng tác ra những câu sấm, ký và dạy con trẻ hát để lan truyền rộng
rãi vào xã hội người lớn Thí dụ, theo Nguyễn Văn Tố bài Chi chi chành chành (mỗi nơi trẻ em hát mỗi khác) phản ánh một cách kín đáo những sự
kiện bi thảm xảy ra vào năm 1885, sau khi vua Tự Đức mất (1883) Còn học giả Nguyễn Văn Huyên lại cho rằng bài ca là một lời sấm cổ báo trước tương lai của nước ta sau khi triều đình nhà Lê sụp đổ Tại Hải Phòng tương truyền
Trang 21có những câu hát trong dân gian, báo trước sự xuất hiện của Trạng Trình, còn
ở xứ Nghệ lại có sấm của trạng Trình báo trước sự “sinh Thánh” (ám chỉ xuất
hiện nhân vật lịch sử vĩ đại Hồ Chí Minh): Đụn Sơn phân giải, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh Thánh” (Đụn Sơn: núi Đụn ở huyện Nam Đàn, Bò Đái: tên một khe nước trên núi Đụn)
Lịch sử đất nước Trung Hoa xưa cũng tương truyền có những bài đồng dao là sấm truyền, sấm ký do người lớn nghĩ ra rồi dạy cho trẻ con hát để tiên
báo về thời cuộc Theo Trần Lê Bảo, trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán
Trung có tất cả tám bài đồng dao thuộc loại này [1, tr.44-49] Như vậy đồng dao tuy là “món ăn tinh thần” của trẻ em nhưng cũng liên quan đến người lớn
- Một bộ phận đồng dao cũng do người lớn sáng tác nhưng hoàn toàn dành riêng cho trẻ em Đó là những lời có vần, điệu được người lớn sáng tạo ra
để hát và nói cho trẻ em nghe, trong đó bao gồm cả những bài hát ru của bà, của mẹ của chị, Những bài hát này không đơn thuần chỉ thể hiện tình cảm
mà có khi còn muốn truyền đạt những kinh nghiệm trong ứng xử cuộc sống, trong lao động để răn dạy trẻ em từ khi còn trứng nước Đây thực sự là một trong những hình thức bảo tồn và lưu truyền văn hoá dân gian một cách tự nhiên trong xã hội truyền thống, là loại trường học “không thầy, không sách”, một “xã hội giáo dục”mà người xưa đã biết tận dụng triệt để Những bài đồng dao này vô cùng phong phú, hấp dẫn, đa dạng về nội dung, có những bài chỉ
để cho trẻ em vừa hát vừa vui chơi, nội dung rất gần gũi, vui tươi, ngộ nghĩnh phù hợp với khả năng, với tâm sinh lý và mức độ tham gia của trẻ em ở từng
độ tuổi
Cũng có những bài đồng dao chỉ gắn với trò chơi mà không quan tâm lắm đến nội dung Đối với dạng bài đồng dao này thì yếu tố nhịp điệu có vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt và qui định hành động chơi của trẻ em, thí
dụ những bài Thả đỉa ba ba, Rồng rắn lên mây, Chơi ô ăn quan,
Trang 22Chúng ta cùng xem xét một vài bài đồng dao để thấy đây chắc chắn là
do người lớn nghĩ ra từ quá trình trải nghiệm cuộc sống của mình, thí dụ bài
Thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà, phải tội đàn ông Theo Chu Thị Hà Thanh, câu
ca trên phảng phất tính chất tín ngưỡng của dân tộc Việt trong quan niệm về
linh hồn của người chết đuối Còn theo một số học giả thì những câu hát Hết quan hoàn dân, phá chùa lùa dân, kéo quân trở về ít nhiều đã phản ánh thái
độ của người dân bất bình trước những bất công của xã hội và câu hát còn thể hiện những ước mong của họ Cũng có giả thiết cho rằng lời đồng dao trên liên quan đến cuộc khởi nghĩa của nông dân
Như đã trình bày ở phần trên, trẻ em là chủ thể hưởng thụ và diễn xướng
đồng dao, cũng có khi góp phần sáng tạo lại đồng dao trong các trò chơi, tạo nên những dị bản nhưng nhiều khi lại là những người sáng tác ra đồng dao Thế giới đồng dao do trẻ em sáng tác vô cùng phong phú, thể hiện đúng bản chất hồn nhiên, trong sáng, vô tư và sở thích của chúng Những bài đồng dao gắn với trò chơi hay các hoạt động vui chơi ca hát, nhảy múa mang đầy tính ngẫu hứng và sáng tạo trẻ thơ Các em luôn nghĩ ra những câu hát hay hành
động phù hợp với không gian và điều kiện của mình như Nu na nu nống, cái cống nằm trong, con ong nằm ngoài hay Cào cào giã gạo cho nhanh, tao may
áo đỏ áo xanh cho mày, v.v Mặc dầu có những bài có khi không có mối liên
hệ về ngữ nghĩa nhưng những hình ảnh thân quen trong đó như cào cào, con ong, cái bống cùng nhạc tính được tạo nên từ cách hiệp âm, hiệp vần, ngắt nhịp đã taọ niềm hứng thú cho trẻ Chính những điều này đã làm cho đồng dao có những đặc trưng và bản sắc riêng, không giống như các thể loại văn nghệ dân gian khác
Một số bài đồng dao gắn với công việc lao động của trẻ em như: chăn trâu, cắt cỏ hay lao động trên đồng ruộng, những câu hát này đã tiếp thêm sinh
Trang 23lực cho các em Những lời ca thể hiện tính hồn nhiên, thân thiện của các em không chỉ với thiên nhiên cây cỏ mà cả với những loài vật thân quen như trâu
(Gọi trâu), nghé (Nghé ò, nghé ọ)
Tựu trung lại, đồng dao là những diễn xướng dân gian diễn ra trong sinh hoạt cộng đồng của xã hội truyền thống, có những đặc điểm chung giống như nhiều loại hình văn nghệ dân gian khác như: tính tập thể, tính truyền miệng,
và tính dị bản, song ở đây cũng có thể thấy trong tính tập thể của đồng dao có mối quan hệ nhiều chiều giữa người lớn với trẻ em, trẻ em với trẻ em và trẻ em với người lớn
1.1.4 Các yếu tố cấu thành đồng dao
Khi tìm hiểu các yếu tố cấu thành của đồng dao, chúng tôi thấy rằng: nếu tiếp cận từ góc độ của khoa học tâm lý và giáo dục thì ta sẽ thấy đồng dao chính là phương tiện và môi trường để trẻ em phát triển nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, điều chỉnh những hành vi, ứng xử của mình theo những chuẩn mực
đạo đức chung của xã hội Khi nhìn nhận đồng dao qua ca từ, ở góc độ văn học dân gian thì phần lớn đồng dao chính là những sáng tạo ngôn từ mang tính tập thể nhằm tổng kết những hiểu biết, những kinh nghiệm, biểu đạt, chia sẻ những tình cảm, cảm xúc, của con người trong cộng đồng Còn nhìn từ góc
độ biểu diễn thì đồng dao chính là phương tiện hữu hiệu để trẻ em thể hiện khả năng ca hát và khả năng sáng tạo trong vận động thích ứng với các loại nhịp điệu Khi diễn xướng một bài đồng dao, hai yếu tố này luôn được kết hợp một cách hài hoà, đồng điệu và đây cũng chính là phương tiện quan trọng để trẻ em cảm nhận và phát triển những năng lực thẩm mĩ Cũng nhìn ở khía cạnh
biểu diễn thì không gian trình diễn của đồng dao chính là những tiền sân khấu
cùng các đồ chơi kèm theo tuy đơn giản nhưng hiệu quả và hấp dẫn cao chính
là những đạo cụ
Trang 24Như vậy đồng dao là tổng hợp của nhiều yếu tố mà nói theo thuật ngữ folklore học thì đồng dao là một nguyên hợp con trong nguyên hợp tổng là văn hoá dân gian
Do đặc điểm “nhân chi sơ… tính tương cận” nên trong thực tế cho dù các vùng miền có đặc điểm về ngôn ngữ, địa lý và môi trường khác nhau
nhưng đồng dao của vùng miền nào cũng bao gồm ba yếu tố là: trò chơi, lời
ca và nhạc điệu Ba yếu tố trên luôn tồn tại và thống nhất trong một bài đồng
dao, song mức độ của mỗi yếu tố ở mỗi bài, có khi ở mỗi vùng miền có sự khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, không phải bài đồng dao nào cũng còn tồn tại với đầy đủ cả ba yếu tố trên Theo công trình của nhà nghiên cứu âm nhạc và văn hoá dân gian Nguyễn Thụy Loan thì tuyệt đại đa số các bài đồng dao của trẻ em người Việt đều đã bị khuyết đi phần âm nhạc, chỉ có
số ít bài và những bài hát ru là còn phần giai điệu [32,] Điều này thể hiện rõ
qua cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt, ở đó các tác giả đã sưu tầm,
ghi chép và phân loại theo nội dung phản ánh và đa phần các bài đồng dao trong công trình này cũng chỉ gồm hai yếu tố là lời ca và tiết tấu
Thực ra trong nhiều bài đồng dao thì hai yếu tố trên cũng đủ để trẻ em vừa hát vừa hoạt động theo nội dung của bài Đối với những bài hát ru thì phần giai điệu âm nhạc có cụ thể và rõ ràng hơn Tuy nhiên, ngay trong những bài hát ru, phần giai điệu tùy theo từng vùng, miền có cách phát âm khác nhau sẽ tạo nên những sắc thái khác nhau, song những giai điệu này luôn thể hiện rõ mối tương quan giữa cao độ và tiết tấu
Việc tìm hiểu về chất liệu ngôn ngữ, các kiểu kết cấu trong lời ca, tiết tấu, hành động và không gian của đồng dao không chỉ nhằm mục đích khám phá những qui luật kiến tạo nên vẻ đẹp, sức thu hút và hấp dẫn của đồng dao
mà còn thấy được giá trị và sức sống mãnh liệt của đồng dao trong việc tạo
Trang 25nên những tình cảm, những truyền thống quý báu trong những di sản văn hóa
độc đáo mà cha ông chúng ta đã gọt giũa và lưu truyền từ bao đời nay
1.1.4.1 Lời ca
Phần nhiều đồng dao, nhất là bộ phận do chính các em sáng tạo, thường
sử dụng thể thơ 4 chữ, ví dụ:
Nu na nu nống Cái cống nằm trong Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Bên cạnh đó cả những câu được viết ở thể thơ 2, 3 chữ hoặc cũng có bài
ở thể thơ 2, 3 chữ:
Tập tầm vông Chị có chồng
Em ở goá
Chị ăn cá
Em mút xương Chị nằm giường
Em nằm đất Chị vật
Em coi Chị voi
Em ngựa
Lại có lúc các thể 2, 3 chữ được kết hợp với những câu dài hơn:
Trang 26Cúc cù cu Sáng rồi đây Dậy thôi! Các bác đi cầy nhà ta Ruộng nương đồng đất bao la Trâu bò đợi bác cùng ra cấy cày
Ba bà đi bán lợn sề Bán đi chẳng được chạy về lon ton
Lời ca của bài đồng dao mô tả rất nhiều kiến thức về thiên nhiên, xã hội, con người, về cảnh vật, cuộc sống và sinh hoạt của cộng đồng Điều đặc biệt là những nội dung đó được mô tả bằng các hình thức nhân hoá, ẩn dụ khiến cho thiên nhiên, côn trùng, loài vật rất gần gũi với con trẻ
Trong một bài đồng dao có thể mỗi câu thơ mang một ý nghĩa, một hiện tượng khác nhau nhưng lại ghép nối với nhau theo bằng nhiều kiểu vần khác nhau như nội vần (vần trong một dòng câu) và ngoại vần (vần nối hai dòng
Trang 27câu), vần liền, vần cách (có thể cách 1, 2, 3, 4… chữ) Sự phối hợp các loại
vần này trong một bài đồng dao rất phong phú và linh hoạt:
Bằng que lim khi chìm khi nổi Bẳng quả ổi khi nổi khi chìm
Trong rất nhiều bài đồng dao có tình trạng người đang hát về nội dung
A lại sang nhảy sang B một cách đột ngột Theo GS TSKH Tô Ngọc Thanh
thì tính đặc biệt trong tư duy trẻ em là nhảy cóc, điều này thể hiện khá rõ
trong đồng dao:
Nu na nu nống Cái cống nằm trong Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Ông Phật ngồi khóc Con cóc nhảy qua Con gà đánh trống Con bống thổi kèn
Điều này có thể lý giải bởi tâm lý của trẻ đang trong quá trình hoàn
thiện, nhiều lúc trẻ tập trung chú ý nhanh nhưng rồi phân tán cũng nhanh, sự
tập trung chú ý chưa bền lâu nên có thể đang nghĩ về sự việc A thì lại chuyển
ngay sang B và cũng có đôi khi trong bài đồng dao chỉ cần chọn các từ, câu
nối với nhau cho vần, có giai điệu để dễ nhớ, dễ đọc, dễ chơi là đủ Như vậy
không có tính lô gic trong nội dung nhưng lại phải đáp ứng những yếu tố khác,
nghĩa là đồng dao không hề là một sản phẩm ngẫu hứng hoàn toàn tuỳ tiện
Trang 28Cũng cần phải kể đến một trong những yếu tố làm cho đồng dao phong phú hơn trong sự thể hiện nội dung là tính chất đơn âm và đa thanh trong tiếng Việt Sự phong phú của thanh điệu đã làm cho tiếng Việt giàu nhạc tính bởi
âm vực của các từ chênh nhau khá lớn Tính đơn âm khiến cho khả năng kết hợp các thanh điệu thuận lợi, nhất là khi lôgic ngữ nghĩa không được đặt lên hàng đầu như ở không ít bài đồng dao Chính vì vậy trong thơ Việt, nhất là trong thơ lục bát, bên cạnh tự vận (vần chữ) còn có âm vận (luật bằng trắc) và vì vậy rất nhiều tác phẩm thơ ca của ta xứng đáng với lời khen “thi trung hữu nhạc”
Theo nghiên cứu của các nhà lý luận âm nhạc thì âm điệu giọng nói phổ thông của người Việt chúng ta rất gần với quãng 4 và 5 trong âm nhạc, chẳng hạn những câu nói ngay từ lúc bắt đầu phát âm của trẻ em như: bà ơi, mẹ
1.1.4.2 Tiết tấu
Để phù hợp với những hoạt động vui chơi tập thể của trẻ thơ, những bài
đồng dao thường có nhịp điệu đơn giản, ngắn gọn và phù hợp với hoàn cảnh cũng như yêu cầu của trò chơi Trước hết có thể nhận thấy trong các bài đồng dao thường có nhịp lấy đà, sau đó tùy theo cấu trúc của lời ca, những âm hình
Trang 29đặc tr−ng riêng đ−ợc lặp đi lặp lại, trong đó nhiều bài đồng dao đ−ợc cấu tạo theo một chu kỳ thuần nhất gọi là những bài cấu trúc theo nhịp đơn, chẳng hạn:
Con chim chích choè
Nó đậu cành chanh Tôi ném hòn sành
Nó quay lông lốc Tôi làm một chốc
Đựơc ba mâm đầy…
Nhiều bài đồng dao khác cũng viết ở chu kỳ nhịp đơn nh−ng có những quy luật khác và cấu trúc của bài thống nhất gồm 3 hay 6 từ, vớ dụ:
Tập tầm vông Tay nào không, tay nào có Tập tầm vó
Tay nào có, tay nào không
Có những bài lặp lại chu kỳ 2 từ nh−:
Giã giò Giã giò Con cò Mày đã
Có con Mày ra
Bờ suối
Trang 30Mày mò Tép ăn
Còn trong những bài đan xen hay luân phiên hai dạng nhịp điệu trở lên thì gọi là những bài có cấu trúc theo chu kỳ nhịp điệu hỗn hợp hay phức:
Cúc cù cu Sáng rồi đây Dạy đi các Bác đi cày nhà ta Ruộng nương đồng đất bao la Trâu Bò đợi Bác chúng ta cấy cày Cúc cù cu
Sáng rồi đây Học trò tỉnh dạy đi ngay ra tràng (trường) Học sao ngoan ngoãn giỏi giang
Học sao đổi mới dân làng mới hay
Những bài được cấu trúc theo thể lục bát cũng thuộc kiểu kết cấu nhịp phức như:
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về Bắt được lũ cá rô trê
Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn
Dù được cấu trúc theo chu kỳ nhịp đơn hay nhịp phức thì nhịp điệu trong các bài đồng dao rất đều đặn, đến cuối câu, cuối đoạn có sự phân ngắt nhịp điệu bằng cách ngân dài trường độ hoặc ngắt nghỉ bằng dấu lặng tạo nên
Trang 31sự phân chia các đoạn và cao trào trong một bài, tuy nhiên trong đa phần các bài đồng dao, tiết tấu thường mang tính chu kỳ, lặp đi lặp lại rất nhiều, thông thường là có cấu trúc 2, 3, 4 hoặc 5, 6 từ hay kiểu thơ lục bát, có bài mang tiết
tấu của nhịp đi như bài: Rồng rắn lên mây hoặc là theo chu kỳ vòng tròn như:
Bí ngô là cô đỗ nành
Đỗ nành là anh dưa chuột Dưa chuột là ruột dưa gang Dưa gang là nàng dưa hấu Dưa hấu là cậu bí ngô
Bí ngô là cô đỗ nành…
1.1.4.3 Trò chơi
Nhiều bài đồng dao được trẻ em hát kết hợp với hành động theo nhịp điệu phù hợp, quá trình đó chính là diễn xướng dân gian của đồng dao Trong
các công trình nghiên cứu về đồng dao vấn đề diễn xướng dân gian của đồng
dao được các học giả gọi bằng nhiều tên khác nhau như "trò chơi","vận động",
"diễn xuất", Có thể nói tất cả những tên gọi đó đều có phần đúng bởi diễn xướng dân gian của đồng dao diễn ra chưa đạt đến một chuẩn mực nhất định
nào cả, chính vì vậy chúng ta không thể có được một thuật ngữ nhất quán cho vấn đề này Vì vây, tuỳ vào từng trường hợp, từng ngữ cảnh khác nhau, trong luận văn này chúng tôi sử dụng những cụm từ khác nhau
Kết quả khảo sát của Chu Thị Hà Thanh từ cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt cho thấy trong 106 trò chơi của trẻ em thì có 47 trò chơi có
lời đồng dao, chiếm 44,1%, trong đó nhóm trò chơi vận động là 35/57 trò chơi
có lời đồng dao chiếm 61 %, nhóm trò chơi khéo léo có 4/33 trò chơi có lời
Trang 32đồng dao, chiếm 14 %, nhóm trò chơi trí tuệ có 8/106 trò chơi có lời đồng dao chiếm 5% [35, tr.35]
Qua đó có thể thấy lời đồng dao gắn bó một cách hữu cơ với trò chơi, thậm chí nhiều lúc không thể thiếu vì nếu thiếu lời đồng dao thì trẻ em không thể chơi đ−ợc Trong nhiều bài đồng dao gắn với các trò chơi, thì vai trò của trò chơi rất quan trọng, trò chơi bổ sung và nâng cao chức năng thẩm mĩ cuả
đồng dao, mặc dù những hành động kết hợp khi hát các bài đồng dao có thể
chỉ là những trạng thái của cảm xúc, hoặc vận động của tay nh− bài Tập tầm vông, với chân nh− bài Nu na nu nống, nh−ng cũng có cả những bài phải kết hợp t− duy với vận động toàn thân, ví dụ nh− ở những bài Thả đỉa ba ba, Pháo
Rồng rắn lên mây
Có cây xúc xắc
Trang 33Có nhà hiển minh Hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không?
Trong bài đồng dao này, ngoài việc nội dung của lời ca qui định các vận
động tương ứng thì những nhân vật được xuất hiện dần cùng với những đặc
điểm và tính chất của nó làm cho khung cảnh diễn xướng của bài đồng dao đã
có dáng vẻ của những yếu tố sân khấu…
ở một số trò chơi có lời đồng dao, chúng ta không thấy mối quan hệ chặt chẽ về nội dung trong các khổ, các đoạn, mà lời đồng dao chỉ có tính chất
phân nhịp hay đánh dấu hết một chặng chơi ở một số trò chơi như Đánh chuyền, Nu na nu nống, Chuyển thẻ, Chồng lộng chồng cà, Chi chi chành chành, v.v còn phân định người thắng hay được để thay vị trí chủ trò
Như vậy, trò chơi và đồng dao có mối quan hệ hữu cơ và trong nhiều trường hợp là mối quan hệ tương hỗ rất đắc lực
Tuy mức độ và yêu cầu vận động có khác nhau nhưng qua trò chơi đồng dao, trẻ tập luyện toàn thân, được trải nghiệm nhiều cảm xúc tích cực, được tập luyện, phối hợp các phản xạ với tiết tấu, lời ca và những vận động của thân mình, cử chỉ, điệu bộ hành động trong hát và vui chơi, mà trong nhiều bài các vận
động này là cơ sở của những vận động theo nhịp điệu âm nhạc và múa sau này
1.1.4.4 Không gian và thời gian trình diễn của đồng dao
Những bài đồng dao vốn ra đời và gắn bó mật thiết với môi trường, cuộc sống thiên nhiên và lao động ở nông thôn, có thể nói không gian văn hoá của đồng dao chính là làng quê Việt Nam Những bến nước, cây đa, sân đình
và các luỹ tre làng và cả những cánh đồng thẳng cánh cò bay chính là không gian trình diễn của đồng dao Các hoạt động văn hoá dân gian khác chỉ diễn ra một số ít lần, vào những dịp nhất định trong năm như lễ hội, lễ tết theo lịch nông nghiệp và trong những không gian nhất định như đình làng, bến nước…
Trang 34lại bị chế định bởi những nghi thức, nghi lễ nào đó, còn môi trường và không gian diễn xướng của đồng dao hết sức đơn giản, lại không bị ràng buộc bởi bất
kỳ một nghi thức nào nên diễn xướng đồng dao có thể diễn ra trong rất nhiều loại không gian và thời gian Có những bài đồng dao được diễn xướng trong lao động trên cánh đồng như chăn trâu, cắt cỏ, lại có những bài đồng dao chỉ
để hát ru, trong tiếng võng kẽo kẹt… Xuất phát từ điều này mà đồng dao không
chỉ là phương tiện thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, cảm xúc mà còn là phương tiện để
trẻ em thể hiện khả năng tham gia các hoạt động rất đa dạng trong lao động và
đời sống sinh hoạt cộng đồng
Như vậy chúng ta thấy rằng không gian trình diễn của đồng dao cũng phong phú và linh hoạt như môi trường của đời sống Môi trường tự nhiên, xã hội xưa kia không chỉ là nơi ra đời mà cũng chính là không gian nuôi dưỡng, lưu truyền những sáng tạo vô cùng phong phú của những khúc đồng dao Đây cũng chính là khoảng trời rộng mở và chắp cánh cho những bài đồng dao bay bổng hoà với thiên nhiên đất trời cùng với mỗi tâm hồn, mỗi con người trên dải đất Việt Nam
1.2 Đồng dao trong xã hội ngày nay
Vào năm 2004 Viện Âm nhạc Việt Nam đã tiến hành điều tra và sưu tầm đồng dao tại châu thổ Bắc Bộ Số liệu điều tra cho thấy ngày nay hầu như những bài đồng dao cổ truyền không còn vang lên ở những miền quê, thay vào
đó, ở một số vùng đã xuất hiện những bài đồng dao với nội dung mới và nhiều ngôn từ hiện đại Thí dụ đây là một bài đồng dao mới mà các nhà nghiên cứu
âm nhạc ghi được ở nông thôn Bắc Bộ và cả ở thành thị:
Một cái giường có bốn đại dương Dương dương dương cái giường đi ngủ Ngủ ngủ ngủ cái tủ đựng tiền
Trang 35Tiền tiền tiền cô Tiên biết múa Múa múa múa công chúa biết bay Bay bay bay tàu bay có cánh
v.v
Như vậy câu hỏi đặt ra là: tại sao đồng dao cổ truyền hầu như bị thất truyền trong xã hội hiện đại?
Chúng ta đều biết rằng sự phát triển bùng nổ của khoa học kỹ thuật và
đặc biệt sự đột phá của công nghệ thông tin cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
đã làm cho nền kinh tế thế giới thay đổi từng phút từng giờ, môi trường thiên nhiên và xã hội theo đó cũng thay đổi một cách nhanh chóng Với mục tiêu nhanh chóng thoát khỏi “tình trạng đói nghèo và chậm phát triển”, sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và những lĩnh vực thiết yếu khác của đời sống xã hội, bằng các giải pháp hữu hiệu như đầu tư hàng đầu cho giáo dục về cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giáo viên, quan tâm đến các chương trình phổ cập giáo dục các bậc học phổ thông ở vùng sâu, vùng xa Với mục tiêu ưu tiên để phát triển kinh tế, Nhà nước đã không chỉ quan tâm đến giáo dục phổ thông mà còn quan tâm và đầu tư cho đào tạo nghề ở các bậc trung học chuyên nghiệp, cao
đẳng và đại học, để nhanh chóng cung cấp nguồn nhân lực dồi dào, đủ trình
độ tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại của thế giới phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế văn hóa xã hội Tuy nhiên, do nhận thức và quan niệm còn phiến diện nên có những giai đoạn nội dung và chương trình học tập của trẻ em ở bậc học phổ thông chỉ tập trung vào những môn khoa học cơ bản
mà chưa quan tâm đến việc giáo dục và phát triển toàn diện các mặt cho học sinh thông qua nhiều nội dung giáo dục khác như các môn học nghệ thuật trong nhà trường, trong khi nội dung chương trình đã bị xem là nặng nề, thậm chí quá tải ngay cả sau lần cải cách Do vậy, trẻ em ở nông thôn hay thành thị
Trang 36đều phải tập trung cao độ vào việc học tập các môn khoa học cơ bản Để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, thời gian dành cho việc giải trí tinh thần như vui chơi, ca hát, sinh hoạt tập thể, nghe kể và đọc truyện và đặc biệt là sự cảm thụ những tập truyện văn học quá ít Không hoặc còn rất ít các em đọc truyện văn học hay cổ tích, thay vào đó là những tập truyện tranh ít nhiều mang tính hành
động, thậm chí là bạo lực Những tập truyện mà lời văn mang nặng tính thông báo hay mệnh lệnh dần chiếm chỗ những câu chuyện cổ tích thần kỳ đầy tính nhân văn Cùng với việc được tiếp xúc với những máy móc và thiết bị điện tử, ngay trong từng gia đình trẻ em đã có thể tiếp thu thông tin một cách nhanh chóng Bằng màn hình vi tính như một đối tác bên cạnh, ngay trong căn phòng của mình, không cần hợp tác với ai các em có thể cuốn hút cả ngày với những trò chơi điện tử Như vậy, cùng với nhiệm vụ học tập khá bận rộn, trẻ em ít có
điều kiện thời gian để tập hợp nhau và vui chơi tập thể một cách hồn nhiên, thoải mái phù hợp với đặc điểm tâm lý và lứa tuổi của chúng Điều này đã làm giảm đi đáng kể nhiều đức tính đáng quý của các em vốn thường được hình thành từ những hoạt động cộng đồng
Sự hiện diện của những thành tựu văn minh và lối sống công nghiệp đã tác động mạnh mẽ tới đời sống vật chất, tinh thần và lối sống của trẻ em Không chỉ ở các thành phố lớn mà ngay cả ở những vùng nông thôn hiện nay, không gian của xóm làng đã được bê tông hóa và cũng trở nên chật hẹp hơn nhiều, vì thế trẻ em không còn những không gian tự nhiên để vui chơi như ngày xưa Bên cạnh đó, trò chơi điện tử với những tiết tấu nhanh, hấp dẫn, cuốn hút mạnh mẽ và cũng làm thay đổi khá nhiều những nét tính cách cùng những đặc trưng tâm lý của trẻ em Có thể thấy trẻ em ngày nay hoạt bát, nhanh nhẹn hơn nhưng chúng cũng có vẻ quyết đoán, lạnh lùng, ít xúc động cảm thông chia sẻ hơn trong giao tiếp và ứng xử, ngay cả với người thân trong gia đình chứ chưa nói đến những thành viên khác trong cộng đồng và xã hội
Trang 37Tệ nạn xã hội và tỷ lệ trẻ em vị thành niên phạm tội ngày càng gia tăng, ngay cả sự giao lưu tình cảm giữa những người thân trong gia đình cũng bị hạn chế Những lời hát ru con trẻ cũng hình như bị vắng bóng bởi cũng nhiều thế hệ người lớn không biết hay có thể nói là rất hạn chế trong việc thuộc những câu hát ru và những bài đồng dao Trẻ em hầu như không có cơ hội để
được nghe và hát cùng mẹ, bà hoặc chị bởi ai cũng có những công việc và nhiệm vụ của mình Họ cũng đã quá mệt mỏi sau khi hoàn thành những nhiệm
vụ và chức phận hàng ngày, do vậy sự quan tâm và chia sẻ của các thành viên trong gia đình cũng phần nào bị hạn chế
Như vậy, tốc độ đô thị hóa diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ,
đặc biệt ngay cả ở những vùng quê, chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thay đổi nhận thức và lối sống của người dân, ngay cả những quan niệm, thái
độ với những phong tục truyền thống của cha ông ta từ bao đời Chúng ta cũng thấy: có những khoảng thời gian trước đây không chỉ những bài hát dân ca mà
đặc biệt những bài hát-đồng dao cũng ít xuất hiện “Văn hoá đồng dao” không chỉ dần phai nhạt bởi yếu tố không gian và thời gian mà sự tồn tại của nó ngày càng mong manh trong xã hội hiện đại Khi tiếp nhận những giá trị văn hóa mới có người cho rằng những hệ giá trị văn hóa cũ không còn phù hợp với xã hội hiện đại, nó đã trở lên lạc hậu và lỗi thời Như vậy, chính từ các yếu tố môi trường tự nhiên, xã hội và đặc biệt là con người thay đổi, đã dẫn đến việc nhận thức về các giá trị văn hoá truyền thống của các thế hệ cha ông cũng ít nhiều
bị thay đổi Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng mỗi dân tộc, quốc gia bao giờ cũng có những nét đặc trưng của nền văn hoá bị chi phối bởi nhiều yếu tố của vùng khí hậu, điều kiện tự nhiên, về đất đai và phương thức lao động của con người Sự phát triển kinh tế văn hoá, xã hội bao giờ cũng phải dựa trên những
điều kiện cơ bản đó Trong quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, phải luôn luôn tôn trọng những phong tục tập quán phù hợp với điều kiện sinh hoạt hay lao động sản xuất Trong thực tế, có thể có những sự thay đổi nhưng phải
Trang 38luôn phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội Thực tiễn cho thấy những hệ giá trị đó cũng đã được lưu giữ bao đời và tạo nên những sự bình ổn và phát triển xã hội truyền thống đến những trạng thái cực thịnh Những giá trị văn hóa đó đã tạo nên những truyền thống tốt đẹp, nó chính là cơ sở của tinh thần
đoàn kết, những sức mạnh vô song vượt qua nhiều khó khăn và thử thách Lịch
sử đã chứng minh nếu những truyền thống quí báu đó không được bảo tồn, lưu giữ và phát huy thì sẽ đánh mất bản sắc của một quốc gia, một dân tộc, sẽ làm hủy hoại môi trường sống của con người Những bài học này đã được các quốc gia siêu công nghiệp nhận thức một cách thấm thía và sâu sắc
Tóm lại, có thể nhận thấy một điều đơn giản là: nếu chúng ta không có những giải pháp kịp thời và hữu hiệu thì đồng dao sẽ nhanh chóng mất đi cùng với thời gian
Trong những năm gần đây, dưới sự định hướng và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước qua Nghị quyết Trung ương 5 Khoá VIII: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, các di sản văn hoá dân gian đã
đựơc quan tâm đầu tư để bảo tồn, kế thừa và phát huy trong đó có cả những khúc đồng dao xưa Tuy nhiên, sự vận hành đi lên của xã hội cùng với những thay đổi của thời gian và không gian tất yếu dẫn đến không phải tất cả những bài đồng dao cổ truyền đều phù hợp với trẻ em trong xã hội hiện đại Chúng ta cũng thấy, trong những sinh hoạt vui chơi và ca hát những bài đồng dao xưa, trẻ em đã có được những không gian riêng mà không có sự can thiệp của người lớn, do vậy chúng hoàn toàn chủ động, mạnh dạn, độc lập, tự tin và tích cực sáng tạo trong khi hát và chơi Chính môi trường và cách thức sinh hoạt văn hoá của đồng dao đã tạo cho trẻ em nhiều cơ hội được tích cực chủ động hơn trong trình diễn
Xuất phát từ nhận thức sâu sắc về vai trò của văn hoá dân gian, trong vài thập kỷ nay và đặc biệt trong những năm gần đây, nhiều chất liệu trong
Trang 39kho tàng văn hoá văn nghệ dân gian của cha ông ta đã được bảo tồn, kế thừa
và phát huy trong các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có những khúc
đồng dao xưa Thực tế, trong kho tàng di sản của văn hóa dân gian vẫn còn nhiều những bài hát-đồng dao có chủ đề, nội dung và những hình ảnh gần gũi, những cảm xúc hồn nhiên, trong sáng rất phù hợp và có ý nghĩa giáo dục cao với trẻ Chính vì vậy mà việc phổ biến và lưu truyền những khúc đồng dao không chỉ hướng trẻ luôn phải biết nhớ về cội nguồn mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục và phát triển toàn diện các mặt nhân cách cho trẻ em
ở lĩnh vực sáng tác âm nhạc, một số nhạc sĩ đã chắp cánh cho những bài đồng dao được vang lên trong không gian mới Không còn là những bài
đồng dao có vần và nhịp điệu đơn giản như xưa, mà chúng đã được cách điệu, sáng tạo thông qua ngôn ngữ và phương tiện của nghệ thuật âm nhạc hiện đại
Điều quan trọng là những bài hát-đồng dao ngày nay không chỉ mở ra cho trẻ em một thế giới tràn đầy cảm xúc mà còn tạo cơ hội cho trẻ được hát, vận động và trình diễn trong môi trường và không gian mới như lớp học hay trên sân khấu hiện đại Nhiều bài hát-đồng dao đã được các phương tiện phát thanh và truyền hình phổ biến đến khắp mọi miền của đất nước
Trang 40Chương 2
Từ Đồng dao đến bμi hát-Đồng dao cho trẻ thơ
Có thể thấy trong những năm gần đây chất liệu của những bài đồng dao xưa đã được các nhạc sĩ khai thác và phát huy mạnh mẽ trong khi sáng các những bài hát cho trẻ em Trong chương hai của luận văn, chúng tôi sẽ phân tích những bài hát đã kết hợp giữa âm nhạc bác học với chất liệu của những bài đồng dao cổ truyền
Sự kế thừa chất liệu đồng dao trong những bài hát-đồng dao cho trẻ em
được thể hiện qua các yếu tố như: chủ đề, lời ca, tiết tấu và không gian diễn xướng Tuy nhiên trong các bài hát- đồng dao ngày nay thì các yếu tố cấu thành đã phong phú và phức tạp hơn nhiều
2.1 Sự kế thừa chủ đề và tiêu đề
Chủ đề là phạm vi những nội dung mà các nhạc sĩ khai thác trong các bài hát Đó có thể là những nội dung bao trùm như tình cảm đối với quê hương, đất nước, gia đình, môi trường thiên nhiên, cộng đồng làng xóm và những sinh hoạt gắn với cuộc sống hàng ngày của trẻ; có khi chỉ là những hình ảnh, nhân vật cụ thể hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày của trẻ Mỗi chủ đề trên có thể có nhiều bài hát và mỗi bài hát lại có một tiêu đề khác nhau với những sắc thái, cung bậc riêng, tạo nên sự phong phú và đa dạng trong kho tàng ca khúc cho trẻ em
Việc tìm hiểu, phân tích các bài hát-đồng dao trong chương trình giáo dục âm nhạc ở bậc học mầm non và tiểu học đã cho thấy: chủ đề của các bài hát viết cho trẻ em đã được các nhạc sĩ quan tâm và lựa chọn là những vấn đề rất gần gũi và thiết thực với cuộc sống hằng ngày của trẻ Đó là các chủ đề về quê hương, đất nước, con người với các hình tượng, nhân vật, nội dung gắn bó