Nhiều từ đường thờ phụng các nhân vật lịch sử tổ tiên của dòng họ đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa v.v.... Hiện nay, trong bối cảnh chuyển đổi từ xã lên phường, dưới tác động mạn
Trang 1lª thÞ thu hμ
v¨n hãa dßng hä bïi
(th«n Bïi §«ng - lμng gi¸p nhÞ, Ph−êng thÞnh liÖt, quËn hoμng mai, hμ néi)
LuËn v¨n Th¹c sÜ v¨n ho¸ häc
Hμ Néi - 2011
Trang 2Bộ Giáo dục và đào tạo Bộ Văn hoá,thể thao và du lịch
Trường Đại học văn hoá Hà Nội
lê thị thu hμ
văn hóa dòng họ bùi
(thôn bùi đông - lμng giáp nhị, Phường thịnh liệt, quận hoμng mai, hμ nội)
Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 60 31 70
Luận văn Thạc sĩ văn hoá học
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS Hoμng vinh
Hμ nội - Năm 2011
Trang 3CHƯƠNG 1 VĂN HÓA DÒNG HỌ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA
VĂN HÓA HỌC XÃ HỘI
2.1 Bối cảnh xã hội- lịch sử và sự hình thành văn hóa dòng họ
Bùi Đông, phường Thịnh Liệt
31
2.2 Cấu trúc của văn hóa dòng họ Bùi Đông, Thịnh Liệt 38
2.3 Nhận định chung về văn hóa dòng họ Bùi Đông, Thịnh Liệt 66
CHƯƠNG 3 VĂN HÓA DÒNG HỌ BÙI ĐÔNG VÀ MỘT SỐ VẤN
70
3.1 Tác động của cuộc sống đô thị đến văn hóa dòng họ và sự
ứng phó của dòng họ trước tình hình đó
70
Trang 43.2 Sự kế tục truyền thống dòng họ 77 3.3 Những vấn đề đặt ra về việc bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hoá dòng họ Bùi Đông, phường Thịnh Liệt
85
PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai và thực hiện luận văn “Văn hóa dòng họ Bùi (thôn Bùi Đông- làng Giáp Nhị, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội)”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo và sự quan tâm, động viên của GS TS Hoàng Vinh, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới sự quan tâm, chỉ dạy
đó
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy Cô giáo công tác, giảng dạy tại khoa Sau đại học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, những người đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng quý báu cũng như đã luôn dành sự quan tâm, khích lệ tôi thực hiện bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn Ông Bùi Đăng Thái- trưởng họ chi Ất và những thành viên khác trong họ Bùi Đông, Thịnh Liệt đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin, tư liệu cho tôi trong khi thực hiện đề tài này Tôi cũng nhận được
sự giúp đỡ hiệu quả của Ban Văn hóa Thông tin phường Thịnh Liệt, Chi hội khuyến học của phường Thịnh Liệt và nhân dân địa phương khi tôi tiến hành khảo sát thực địa
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Viện Nghiên cứu Con người, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã dành sự quan tâm và hết sức tạo điều kiện về thời gian cũng như điều kiện văn phòng giúp tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi sin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên và khuyến khích tôi thực hiện tốt bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2011
Lê Thị Thu Hà
Trang 6UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Gáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa
VII đã khẳng định: “Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng
là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Văn kiện hội nghị lần
thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa XIII
cũng chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc,
là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” Như vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích việc
tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị văn hóa truyền thống để khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc – một trong những yếu tố góp phần tạo nên sức mạnh nội lực để Việt Nam hội nhập cùng thế giới Nghiên cứu văn hoá làng, văn hoá dòng họ chính là một hoạt động thiết thực để gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo chủ trương của Đảng và Nhà nước
Dòng họ- họ tộc là một điều thiêng liêng và sâu thẳm trong tâm hồn của các thế hệ người Việt Nam Đó không chỉ đơn thuần là di truyền của gien sinh học mà còn hàm ân nghĩa sinh thành Hiện nay, xu hướng tìm về cội nguồn đang phát triển ngày càng mạnh mẽ và đi vào chiều sâu Nhiều dòng họ tổ chức biên soạn gia phả, xây dựng mới hoặc tu bổ từ đường, khôi phục ngày giỗ tổ Nhiều người có xu hướng tìm về với họ mạc, nối kết lại mối liên hệ dòng họ từng bị ngắt quãng hay thất lạc Nhiều dòng họ
Trang 8đã xây dựng cả những trang web trên mạng phổ biến về dòng họ mình và
để mọi thành viên dòng họ tìm về, hướng về nguồn cội Nhiều dòng họ đã phối hợp với các ngành khoa học tổ chức hội thảo tôn vinh tổ tiên mình Nhiều từ đường thờ phụng các nhân vật lịch sử (tổ tiên của dòng họ) đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa v.v Hơn nữa, nhiều hoạt động của dòng họ được tổ chức nhằm gắn kết hơn mối quan hệ dòng họ, củng cố sự
cố kết cộng đồng và phát huy các giá trị của danh nhân dòng họ, làm gương cho con cháu Cũng theo một nghiên cứu gần đây của PGS Mai Văn Hai (Viện KHXH Việt Nam) tại hai địa phương là Tam Sơn và Đồng
Kỵ (Bắc Ninh) cho thấy, trong tổng số 420 hộ gia đình được phỏng vấn, có 97- 99.6 % khẳng định hiện nay gia đình, dòng họ vẫn rất quan trọng Thậm chí họ còn khẳng định gia đình, dòng họ hiện nay có vai trò lớn hơn trong quá khứ và ở tương lai vai trò đó vẫn sẽ tiếp tục được phát huy
Dòng họ là một hiện tượng lịch sử xã hội đặc biệt và mang tính phổ quát của nhân loại Với người Việt, dòng họ là một thành tố của văn hoá làng, nói rộng ra là văn hoá dân tộc Văn hoá một quốc gia, một dân tộc bao giờ cũng có cội nguồn từ gia đình và dòng họ Gia đình, dòng họ là
“trường học đầu tiên giáo dục con người, bồi dưỡng nhân cách con
người” để hình thành nên những con người văn hoá Có thể khẳng định
văn hóa dòng họ chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng và là hạt nhân góp phần tạo nên các giá trị văn hóa làng xã và văn hóa truyền thống của dân tộc Và mỗi dòng họ đã tạo nên những đặc điểm riêng, những giá trị văn hóa riêng làm nên văn hóa của dòng họ mình Có thể nói văn hóa của mỗi dòng họ là hồn cốt để dòng họ duy trì và phát triển
Nghiên cứu về dòng họ trong xã hội Việt Nam truyền thống và hiện đại từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều giới nghiên cứu Các công
Trang 9trình này không chỉ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về quá trình hình thành và phát triển của dòng họ mà còn góp phần tìm hiểu những vấn đề lịch sử- văn hóa dân tộc Hiện nay, trong bối cảnh chuyển đổi từ xã lên phường, dưới tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nền kinh tế thị trường, việc giữ gìn, phát huy giá trị tốt đẹp của văn hoá làng nói chung và văn hoá dòng họ nói riêng là một yêu cầu cấp thiết.
Gia tộc họ Bùi ở thôn Bùi Đông, Thịnh Liệt còn gọi “Họ Bùi Làng Sét”, là một dòng họ nổi tiếng đã đóng góp nhiều nhân vật quan trọng cho các triều đại trong thời gian từ đầu thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20, cũng như nhiều văn hào … của nền văn hóa Việt Nam trong 5 thế kỷ đó Gia tộc này
đã được nhắc đến trong nhiều sách và tài liệu như Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, cũng như nhiều bài báo khác Lê Quý Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục chương Tùng
đàm có ca ngợi họ Bùi Thịnh Liệt “Con cháu sinh sôi nảy nở, công nghiệp
rạng rỡ vẻ vang, từ đầu đời Trung Hưng bầy tôi kế thế, tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà quý hiển nhất, chỉ có họ Bùi mà thôi” [21, tr 535] Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập tổng quát đến văn hoá dòng họ Bùi ở thôn Bùi Đông - làng Giáp Nhị, gọi tắt là họ Bùi Đông, nay thuộc phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội
Việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa dòng họ Bùi Đông ở Thịnh Liệt mang một ý nghĩa khoa học và thực tiễn thiết thực, góp phần khằng định những đóng góp của dòng họ này trong lịch sử hình thành và phát triển của Thịnh Liệt nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung Kết quả nghiên cứu về họ Bùi Đông ở Thịnh Liệt là một trong những cơ sở
Trang 10khoa học giúp cho dòng tộc, cán bộ và nhân dân Thịnh Liệt tuyên truyền giáo dục các thế hệ con cháu phát huy truyền thống hiếu học, yêu nước, trọng tình nghĩa, đóng góp công sức, trí tuệ nhiều hơn nữa trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương đất nước
Vì những lý do trên tôi chọn đề tài “Văn hoá dòng họ Bùi (thôn Bùi Đông - làng Giáp Nhị, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội)” làm luận văn cao học ngành Văn hóa học
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Vấn đề văn hoá làng xã Việt Nam nói chung cũng như văn hoá dòng
họ nói riêng đã được một số học giả trong và ngoài nước nghiên cứu từ rất sớm
Trước năm 1945, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị
tham khảo như Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính; Việt Nam văn hóa
sử cương của Đào Duy Anh; Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của Pierre
Gourou v.v Những công trình này đã phác thảo khá đầy đủ diện mạo của làng quê Việt Nam truyền thống Đặc biệt nhấn mạnh mô hình quản lý làng xã, phong tục, tập quán, nếp nghĩ, cách làm của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ trước Cách mạng tháng Tám, 1945 Diện mạo này được bao quát từ cấp độ gia đình đến dòng họ, đến cộng đồng xã hội
Từ năm 1945 đến 1990, việc nghiên cứu làng xã, dòng họ được quan tâm và tập trung vào những vấn đề cụ thể Một số công trình không thể
không nhắc đến: Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (1959); Nếp
cũ- làng xóm Việt Nam của Toan Ánh (1968) Hai công trình trên đã mô tả
chi tiết, cụ thể về mối liên kết dòng họ, các hoạt động của dòng họ, đặc biệt là thờ tổ tiên, vai vế của từng người trong họ và vai trò của trưởng
Trang 11tộc, hình thức tương trợ và công nhận trong họ Viện Sử học tổ chức biên
soạn và xuất bản hai tập Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977-1978),
tập hợp nhiều bài viết của nhiều các giả, trong đó đề cập đến nhiều lĩnh vực thuộc làng xã, dòng họ và gia đình Năm 1984, tác giả Trần Từ ra mắt
độc giả công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng
Bắc Bộ
Từ 1990 đến nay nhiều công trình nghiên cứu khoa học đi sâu tìm hiểu văn hoá dòng họ dưới góc độ lịch sử, văn hoá, xã hội, dân tộc học
được xuất bản, chẳng hạn: Phạm Quốc Sử (1998), Vài nét về tổ chức và
quan hệ trong dòng họ người Việt ở nông thôn đồng bằng sông Hồng;
Phan Đại Doãn (1998), Mấy ý kiến về dòng họ người Việt ở đồng bằng
sông Hồng; Mai Văn Hai (1998), Quan hệ dòng họ ở Châu thổ sông Hồng;
Nguyễn Thế Long (1998), Gia đình và Thân tộc; Nguyễn Đức Dụ (1998),
Dõi tìm tông tích người xưa ; Tân Việt (2000), Việc họ; Đặng Nghiêm Vạn
(2001), Dân tộc- văn hoá- tôn giáo Nhiều cuộc hội thảo đã diễn ra như: Hội thảo khoa học “Cội nguồn: Dòng họ với truyền thống văn hoá dân
tộc” (1997); “Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An với sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỉ XXI” (1997), “Văn hoá dòng họ
ở Thái Bình” (1999) Những cuộc hội thảo này đã giúp chúng ta có cái
nhìn toàn diện hơn về giá trị của dòng họ
Một số luận văn cũng lựa chọn “văn hoá dòng họ” làm đề tài nghiên
cứu: Phạm Minh Phúc (2000), Văn hoá dòng họ trong đời sống cư dân
làng Bối Khê, Hà Tây; Đỗ Thị Phương Anh (2006), Văn hoá dòng họ Nguyễn Quý ở Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội; Phạm Thị Quế Liên (2007), Văn hoá các dòng họ Ngô ở làng Tam Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Trang 12Trên các tạp chí chuyên ngành như Dân tộc học, Nghiên cứu Lịch
sử, Văn hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật, Nghiên cứu Hán Nôm, Xã hội học cũng đăng nhiều bài viết chuyên nghiên cứu về các dòng họ như: Thử phân tích yếu tố dòng họ trong cấu trúc sở hữu ruộng đất của một làng thuộc đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XIX; Đôi nét về khởi nguyên và đặc điểm dòng họ của người Việt; Nghiên cứu các dòng họ- cơ sở khoa học và phương hướng giải quyết các vấn đề đặt ra; Bàn về dòng họ người Việt; Giáo dục dòng họ- một vấn đề còn tồn tại; Văn hóa họ tộc một vấn đề còn
để ngỏ; Dòng họ trong đời sống gia đình nông thôn Việt Nam hiện nay- Nghiên cứu trường hợp xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; Vai trò của dòng họ và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cư dân Huế xưa và nay; Tìm hiểu quan hệ dòng họ trong hoạt động cúng giỗ ở nông thôn- qua khảo sát việc thực thao lễ giỗ tại làng Đại Kim, xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên v.v
Trên đây, chúng tôi điểm qua đôi nét các công trình nghiên cứu dòng họ nói chung Kết quả nghiên cứu của các công trình này giúp cho người viết có một cách nhìn về làng xã với nhiều hướng tiếp cận khác nhau cũng như sử dụng các nguồn tư liệu đa dạng hơn khi tập trung nghiên cứu về đề tài
Địa danh Thịnh Liệt nói chung và một số danh nhân dòng họ Bùi (Bùi đông) nói riêng đã được ghi chép khá sớm trong các bộ sử sách thời phong kiến như: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên; Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
Trang 13Gần đây một số công trình nghiên cứu đề cập đến lịch sử làng Thịnh
Liệt và các danh nhân đã ra mắt độc giả như: Các nhà khoa bảng Việt Nam
(1075-1919) do Ngô Đức Thọ chủ biên (1993); Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triếu đại phong kiến Việt Nam do Trần Hồng Đức
biên soạn (1999); Trạng Nguyên, tiến sĩ, hương cống Việt Nam do Bùi Hạnh Cẩn, Minh Nghĩa, Việt Anh biên soạn (2002); Các làng khoa bảng
Thăng Long Hà Nội do Bùi Xuân Đính và Nguyễn Viết Chức đồng chủ
biên (2004) Các cuốn sách trên có giới thiệu một cách sơ bộ về năm sinh, năm mất, công lao, chức vị của các danh nhân; Trung tâm UNESCO
Thông tin tư liệu lịch sử và văn hoá Việt Nam (1998), Danh nhân văn hoá
Bùi Huy Bích (1744-1818), cuốn này tập hợp các nghiên cứu của nhiều
học giả về thân thế, sự nghiệp của Bùi Huy Bích; Vũ Văn Quân (2002),
Làng xã Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội) đầu thế kỳ XIX qua tư liệu địa
bạ, đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, cuốn này có đề cập đến
nhiều số liệu về đất đai có liên quan đến dòng họ Bùi; Nguyễn Thị Hoài
Phương (2005), Tiếp cận tư liệu gia phả qua khảo sát gia phả họ Bùi
(Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội), luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử Luận
văn này chủ yếu khảo sát về gia phả dòng họ Bùi, cách thức trình bày và phân tích một số nội dung trong gia phả có liên quan đến các vấn đề lịch
Trang 14- Nêu lên các cấu trúc cùng với những biểu hiện của văn hoá dòng họ;
- Giới thiệu khái quát thôn Bùi Đông - làng Giáp Nhị, phường Thịnh Liệt, nơi sản sinh, bảo lưu các giá trị văn hoá của dòng họ Bùi;
- Trên cơ sở phân tích những tác động của lối sống đô thị đến Văn hoá dòng họ Bùi cũng như sự ứng phó của dòng họ Bùi đối với sự tác động này, Luận văn đưa ra một số ý kiến về việc kế thừa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của dòng họ trong đời sống văn hoá xã hội phường Thịnh Liệt hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn là các yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể của dòng họ Bùi trong quá khứ và hiện tại
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận văn hóa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa
Luận văn vận dụng phương pháp phỏng vấn sâu để tìm hiểu một số mặt của văn hoá dòng họ Bùi Đông ở Thịnh Liệt trong giai đoạn hiện nay
Trang 15Luận văn sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học, để thu thập tư liệu làm đối chứng
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp liên ngành: kết hợp khai thác các nguồn thư tịch sử học với văn học và văn hoá
6 Đóng góp của luận văn
Bước đầu trình bày lý luận về văn hóa dòng họ dưới góc nhìn của văn hóa học xã hội
Luận văn là văn bản đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống về giá trị văn hoá của dòng họ Bùi Đông ở Thịnh Liệt
Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì, kế thừa những giá trị văn hoá của dòng họ Bùi Đông trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương
Luận văn là tài liệu để giáo dục truyền thống địa phương
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp thêm tư liệu vào việc nghiên cứu dòng họ Bùi Đông ở Thịnh Liệt nói riêng và dòng họ Bùi trên
cả nước nói chung
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục nội
dung luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Văn hóa dòng họ dưới góc nhìn của văn hóa học xã hội Chưong 2: Nhận diện văn hóa dòng họ Bùi Đông, phường Thịnh
Liệt
Trang 16Chương 3: Văn hóa dòng họ Bùi Đông và một số vấn đề đặt ra hiện
nay
Chương 1 VĂN HÓA DÒNG HỌ TỪ CÁCH NHÌN CỦA
VĂN HÓA HỌC XÃ HỘI
1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Dòng họ và đôi nét về dòng họ ở Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm dòng họ
Nghiên cứu về dòng họ người Việt, tác giả Đặng Nghiêm Vạn đưa
ra ba cách hiểu về “họ”: thứ nhất, họ là những người cùng mang một tên
họ, mà không chắc gì hay có một chứng cớ gì có chung một nguồn gốc cho dù là rất xa xưa; thứ hai, họ là những thành viên mang cùng tên họ, được biết chắc chắn có cùng một nguồn gốc từ thủy tổ chung; thứ ba, họ là những người thuộc một tông tộc tức là cùng thuộc về một ông tổ 5 đời, gọi nôm na là chi họ [63, tr 7-8] Tuy nhiên để hiểu về khái niệm “họ” theo ba nghĩa trên thì nội hàm lại quá rộng và ý nghĩa hướng về “cội nguồn”, nhớ
ơn “tổ tông” của con cháu lại khó có thể thực hiện được một cách đầy đủ
Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý), “Họ” có ba nghĩa chính: 1 Tập hợp những người có chung một tổ tiên, một dòng máu; 2 Tiếng đặt trước tên riêng, dùng chung cho những người cùng một họ để phân biệt với họ khác; 3 Quan hệ họ hàng nhưng không phải ruột thịt [70,
tr 810] Một khái niệm khác cũng đưa ra trong từ điển này là “Họ hàng”,
có hai nghĩa: 1 Những người có quan hệ huyết thống, cùng tổ tiên với
Trang 17nhau nói chung; 2 Những vật có cùng chủng loại hay nguồn gốc Khái niệm “dòng họ”: Những người cùng huyết thống trong các thế hệ kế tiếp nhau nói chung [70, tr 546] Các từ “dòng giống”, “dòng dõi”, “họ tộc” cũng được dùng để chỉ về dòng họ Các nhà nhân học còn dùng thuật ngữ
“thân tộc” trong nghiên cứu gia đình và dòng họ
Trong luận văn nghiên cứu về văn hóa dòng họ Ngô làng Tam Sơn, Phạm Thị Quế Liên đưa ra cách hiểu khái quát về dòng họ như sau: Dòng
họ là tập thể những sinh vật xã hội (tức con người- theo cách nói của Anghen) cùng chung nguồn gốc (cùng chung huyết thống cùng chung một ông tổ) làm thành những thế hệ kế tiếp nhau Dòng họ mang đặc điểm lịch
sử văn hoá riêng được tạo nên bởi các yếu tố tự nhiên và xã hội [34, tr 12]
Nhà nhân học A Schultz và Robert H Lavenda (2001) trong cuốn
Anthropology- A Perspective on the Human Condition (Nhân học, một quan điểm về tình trạng nhân sinh) cho rằng có thể có hai cách chính mà
người ta sử dụng để thiết lập dòng họ Dòng họ song hệ (bilateral hay cognatic descent) là nhóm các thành viên có liên quan với nhau bằng một quan hệ như nhau thông qua bên cha và bên mẹ Dòng họ đơn hệ là loại dòng họ gồm những người có liên hệ với nhau chỉ thông qua bên cha hoặc bên mẹ Đây là loại dòng họ thông thường nhất trên thế giới và hiện nay bao gồm hai loại phụ hệ và mẫu hệ Theo cách hiểu này thì ở Việt Nam dòng họ đơn hệ có lẽ là phổ biến hơn cả và trong đó các dòng họ phụ hệ chiếm đa số Cũng theo các nhà nhân học này, thân tộc, dòng họ được xác định như các nhóm xã hội, thiết lập thế tương quan giữa các cá nhân và nhóm xã hội trong không gian và thời gian Các hệ thống thân tộc, dòng họ giúp duy trì trật tự xã hội mà không có sự can thiệp của chính quyền Hệ
Trang 18thống này cũng cung cấp những định hướng xã hội đa dạng, theo đó có thể phát triển nhiều mối quan hệ khác nhau như liên minh, liên kết, hỗ trợ, chống đối và có cả thù nghịch Có thể nói, theo quan điểm của hai nhà nhân học trên, khái niệm dòng họ đã lột tả được toàn bộ cấu trúc, vai trò, đặc trưng, chức năng của một dòng họ
1.1.1.2 Đôi nét về dòng họ ở Việt Nam
Dòng họ ở Việt Nam là một hiện tượng lịch sử- xã hội, được hình thành từ rất sớm Dòng họ là sản phẩm của chế độ thị tộc phụ hệ, bắt đầu phát triển mở rộng từ sau khi xã hội có giai cấp và phát triển có quy củ dưới chế độ phong kiến với thể chế tông pháp rất nghiêm ngặt Dòng họ có một vai trò và vị trí quan trọng trong cuộc sống người Việt Nó vừa là một thiết chế xã hội cơ bản mang tính truyền thống và kế tiếp, vừa là một môi trường văn hóa đặc thù Theo Vũ Ngọc Khánh (1996) trong bài “Dòng họ Việt Nam từ nguồn gốc đến vận mệnh” đăng trên tạp chí Dân tộc học, số 3 cho rằng: “dòng họ gắn liền với tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên, liên quan đến tổ tiên là liên quan đến vấn đề tâm linh” Phan Đại Doãn (1999) cho rằng quan hệ dòng họ của người Việt thực sự có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hàng ngày Khi kinh tế hàng hóa và tiền tệ chưa cao, đồng tiền chưa phải là lực lượng đảm bảo an toàn cho con người trước các sự rủi ro thì các thể chế của dòng họ lại tích cực tạo nên sự an toàn cho cuộc sống Đứng trước làng (người Việt), con người không tồn tại với tư cách cá nhân, mà dưới danh nghĩa gia đình, dòng họ, những đơn vị thân thuộc Các dòng họ lớn, nhiều đời, nhiều chi, nhiều người khoa bảng có thế lực rất
mạnh trong làng, nhiều khi thao túng cả bộ máy làng xã
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào khẳng định chính xác số lượng tên các dòng họ của người Việt Nam Và các nghiên cứu mới chỉ đi sâu tìm
Trang 19hiểu về dòng họ của người Việt ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ Theo nhà dân tộc học người Pháp, P Gourou trong cuốn “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” cho rằng ở vùng đất này có 202 họ [23, tr 118] Theo Nguyễn Đức Dụ trong cuốn “Gia phả- khảo luận và thực hành” ước tính tên họ người Việt Nam có khoảng 300 họ [15, tr 201] Những con số này chỉ mang tính tương đối vì có khi cùng mang một họ nhưng lại không cùng chung huyết thống hay cùng chung một ông tổ Chẳng hạn, ngay tại làng Thịnh Liệt nay là phường Thịnh Liệt cũng có hai họ Bùi gọi là Bùi Trong
và Bùi Ngoài Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Phương (2005), hai
họ này tuy có chung tộc danh (Bùi) nhưng không có quan hệ họ hàng, thân thuộc Người thuộc hai họ này có thể kết hôn được với nhau mà không lo
sợ “vi phạm luân lý” Về tên gọi Bùi Trong và Bùi Ngoài chỉ đơn giản là cách gọi để phân biệt, dựa vào vị trí cư trú của dòng họ trên cơ sở lấy đình làng Giáp Nhị làm chuẩn Họ Bùi ở phía trong của đình làng (là dòng họ
đã đến trước và định cư ở đây) gọi là Bùi Trong, còn họ Bùi ở phía ngoài đình làng (là dòng họ sau này mới di cư đến) thì gọi là Bùi Ngoài [44, tr 35]
Tên các dòng họ người Việt cũng được nhiều tác giả nghiên cứu từ rất sớm Tựu chung lại, có nhiều nguồn gốc xuất hiện khác nhau, chẳng hạn: Do người phương Bắc thiên cư sang Việt Nam, lâu dần được Việt hóa nhưng vẫn giữ lại họ gốc của mình đã dùng từ trước (ví dụ họ Mã); do mượn các tên của các dòng họ phổ thông của người Trung Hoa như họ Nguyễn, Trần, Lý, Đỗ Đây là hiện tượng phổ biến; một số dòng họ có gốc Chămpa (Ông, Ma, Trà, Chế); đổi họ do sợ bị trả thù, tiêu biểu họ Lý đổi sang họ Nguyễn, họ Trần đổi sang họ Trình, họ Mạc đổi sang họ khác;
do kỵ húy tên vua hay tên người trong hoàng thất; trường hợp được ban
Trang 20quốc tính; quan lại được vua ban (hay bắt đổi) sang họ khác; đi làm cách mạng nên đổi tên họ và một số trường hợp vì lý do gia đình (làm con nuôi, bán khoán, đổi từ họ bố sang mẹ để trả ơn, đổi sang họ đông đinh để khỏi
bị chèn ép )
Dòng họ người Việt mang một số đặc điểm sau:
Dòng họ theo chế độ gia tộc phụ quyền Nghĩa là, quan hệ dòng họ tính về phía người cha hay người đàn ông Dòng họ gồm chi trưởng, các chi thứ và các phân chi Dòng họ người Việt theo chế độ thế tập, cha truyền con nối theo dòng trưởng Con trưởng của chi trưởng (trưởng nam dòng đích) sẽ là trưởng tộc hay trưởng họ Chỉ khi dòng trưởng không có con trai thì người ta mới lấy con trưởng của dòng thứ kế cận lên thay Nguyễn tắc này cũng được ứng dụng cho các chi thứ hay phân chi Trưởng tộc có trách nhiệm trông coi từ đường của tổ tiên, lo việc thờ cúng, quản lý ruộng họ và những việc khác liên quan đến dòng họ
Dòng họ theo chế độ ngoại tộc hôn, nghĩa là, nam nữ cùng một họ (cùng thờ một ông tổ) không được phép kết hôn với nhau, nếu vi phạm bị khép vào tội loạn luân Tuy nhiên ở các làng chỉ có một dòng họ lớn, người ta đặt ra quy định: nam nữ cùng họ nhưng đã quá 5 đời thì có thể kết hôn với nhau Hoặc khắt khe hơn người ta áp dụng chế độ “cửu tộc” (chín đời)
Dòng họ theo chế độ cửu tộc (từ ông Thủy tổ cho đến những con cháu xa) Nếu lấy bản thân mình làm đời thứ nhất thì tính ngược lên bốn đời nữa, gọi là đời trên gồm cha (phụ), ông (tổ phụ), cụ (tẳng tổ), kỵ (cao tổ); tính xuôi về sau bốn đời nữa gồm con (tử), cháu (tôn), chắt (tằng tôn), chút (huyền tôn), xa nữa gọi là viễn tôn Trong chín đời này, những người cùng dòng họ không được lấy nhau
Trang 21Dòng họ người Việt có một thể chế phức tạp và chặt chẽ được các nhà nghiên cứu gọi là chế độ tông pháp Đó là những quy định về cách ứng xử giữa con người với con người cùng một tổ tiên, thể hiện qua việc tang, hôn, tế
Dòng họ người Việt từ lâu không còn là một đơn vị kinh tế mà phân tách thành nhiều gia đình nhỏ (gia đình hạt nhân) có quyền sở hữu riêng và điều kiện kinh tế riêng Giữa các gia đình hạt nhân gắn kết với nhau bằng mối quan hệ cộng cảm dựa trên cơ sở thân tộc, biểu thị rõ nhất ở ngày giỗ
tổ Người tộc trưởng được coi là “thủ lĩnh” của dòng họ Việc thờ phụng tổ tiên với mộ tổ và nhà thờ họ như sợi dây liên kết tín ngưỡng Cơ sở kinh tế cho hoạt động của dòng họ là ruộng họ và quỹ họ
Sự cố kết trong họ tương đối bền chặt, nên trong cộng đồng làng xã dòng họ có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hay phải chịu một phần trách nhiệm về hành vi ứng xử của các thành viên thuộc dòng họ mình Sự cố kết của cộng đồng dòng họ mang nhiều yếu tố tích cực, nhất
là trong việc tổ chức khai hoang lập làng, khuyến học, trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm v.v Tuy nhiên, sự cố kết này cũng chứa đựng nhiều hạn chế, tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội của toàn thể cộng đồng Nếu sự cố kết trong nội bộ từng dòng họ rất bền chặt thì sự liên kết giữa các dòng họ với nhau lại lỏng lẻo, thậm chí đối nghịch nhau Bằng sự cố kết bền chặt về tâm lý thân thuộc, dòng họ nổi lên như một tổ chức chi phối đời sống cộng đồng làng xã từ hoạt động kinh tế đến các lĩnh vực chính trị xã hội khác (bầu bán vào các tổ chức quản lý làng xã)
1.1.2 Khái niệm văn hóa
Như chúng ta biết, từ văn hóa có nguồn gốc từ tiếng La Tinh
“colere”, sau chuyển thành “cultura” có nghĩa là cày cấy, vun trồng, với
Trang 22nghĩa ban đầu là vun trồng đất đai cây cối trong nông nghiệp sau chuyển sang nghĩa vun trồng tinh thần, trí tuệ Vì đó là cái thiêng liêng, có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người Đến thời Trung Cổ, văn hóa
“cultus” được hiểu là săn sóc, tín ngưỡng, văn hóa được hiểu theo nghĩa là tín ngưỡng Tín ngưỡng cũng là một điều thiêng liêng, là biểu hiện sự phát triển cao nhất của tinh thần con người
Ban đầu, từ văn hóa được hiểu và quan niệm là nó mang tính đồng nhất trên toàn thế giới Về sau, các nhà nghiên cứu tìm hiểu và phát hiện ra rằng mỗi dân tộc khác nhau đều có những truyền thống, đặc trưng khác nhau, và như thế có nghĩa là có những nền văn hóa khác nhau, riêng biệt
Do vậy, các nhà văn hóa học phương Tây giải thích từ văn hóa theo hai trường hợp là Culture (văn hóa nói chung) và cultures (những nền văn hóa) Trong sách “Nhân học- một quan niệm về tình trạng nhân sinh” có đoạn viết: “Các nhà nhân học đôi khi phân biệt giữa văn hóa Culture (với chữ C viết hoa) và những nền văn hóa cultures (dùng ở số nhiều với chữ c viết thường) Văn hóa viết hoa được xem là một thuộc tính của nhân loại nói chung- đó là khả năng học hỏi và sáng tạo ra những hành vi và quan niệm để chủng loài có thể tồn tại được như những cơ thể sinh học Ngược lại những nền văn hóa (viết thường) là những truyền thống khác nhau bao gồm những hành vi và quan niệm mà những tập thể người học hỏi được vì
họ là thành viên của những xã hội đó Mỗi truyền thống có thể được gọi là một nền văn hóa riêng, mặc dù biên giới ngăn cách một nền văn hóa này với một nền văn hóa khác thường không dễ xác định”[49, tr 13] Quan niệm văn hóa trên đây tương đối phù hợp với định nghĩa văn hóa do nguyên tổng giám đốc Unesco, Federico Mayor đưa ra “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua
Trang 23các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[53, tr 23]
Thuật ngữ văn hóa được các nhà nghiên cứu từ thời Cổ đại cho đến ngày nay nghiên cứu, tìm tỏi, phân tích để làm rõ nội hàm ý nghĩa của nó Tuy nhiên, đến ngày nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa dựa trên các cách tiêp cận khác nhau, chẳng hạn tiếp cận theo tính chất miêu tả, theo tính chất lịch sử, nhấn mạnh vào nếp sống xã hội, nhấn mạnh vào sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên, nhấn mạnh vào tính chất
di truyền xã hội tức khả năng học tập của con người; nhấn mạnh vào phương thức ứng xử, nhấn mạnh vào khía cạnh tư tưởng của văn hóa, nhấn mạnh vào phương diện giá trị của văn hóa, nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo trong lịch sử, nhấn mạnh vào mô hình các thể chế xã hội, nhấn mạnh vào ý nghĩa biểu trưng của văn hóa v.v…Theo giáo sư Hoàng Vinh “Văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn- xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và mọi hoạt động của những con người sống trong cộng đồng ấy” [66, tr 43]
1.1.3 Khái niệm văn hóa dòng họ
Hiện nay, nhiều bài viết về văn hóa dòng họ đăng trên các tạp chí mới chỉ trình bày khái niệm văn hóa dòng họ một cách chung chung, thậm chí cuộc hội thảo về văn hóa dòng họ ở Nghệ An cũng không trực tiếp đề cập tới khái niệm “văn hóa dòng họ” mà chỉ nêu lên một số khía cạnh cụ thể Có quan niệm cho rằng “văn hóa dòng họ là toàn bộ những giá trị vật
Trang 24chất và tinh thần do một cộng đồng thân tộc sáng tạo ra, không ngừng được gìn giữ và hoàn thiện trong suốt quá trình phát triển” Có lẽ, quan niệm trên mới đưa ra cách hiểu chung chung về văn hóa chứ chưa lột tả
hết, chưa chỉ ra cái cốt lõi của văn hóa dòng họ
Theo các nhà xã hội học văn hóa, văn hóa được chia làm hai dạng: văn hóa cá nhân và văn hóa cộng đồng Văn hóa cá nhân là toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích lũy vào mỗi cá nhân biểu hiện ở hệ thống quan niệm và hành xử của cá nhân ấy trong đời sống thực tiễn Văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm xã hội, nó không phải là số cộng đơn giản của những văn hóa cá nhân- thành viên của cộng đồng xã hội ấy, mà là toàn bộ những quan niệm, giá trị và hệ thống ứng xử được các thành viên trong cộng đồng chia sẻ và chấp nhận, đã trở thành truyền thống của cộng đồng xã hội ấy Văn hóa dòng họ chính là một hình thức thuộc văn hóa cộng đồng
Auguste Comte (1798-1857), người Pháp- ông tổ sáng lập ra ngành
xã hội học đã nhiều lần nói rằng “Xã hội loài người- đó trước hết là một cộng đồng tinh thần”[30, tr 48] Ở đây ta thấy, cái xã hội người đồng nhất với cái tinh thần Nhóm xã hội là một nhóm tinh thần, biểu thị ở truyền thống tín ngưỡng của họ về những giá trị cao cả nào đó Dựa vào đó, người ta có những cách hành xử phù hợp như bảo vệ nhau, đồng thuận, đồng cảm với nhau, cùng tôn vinh một giá trị, cùng chung tín ngưỡng Với dòng họ, truyền thống tín ngưỡng về cội nguồn thân tộc được tuyệt đại bộ phận người trong họ tôn vinh, là cơ sở để đồng cảm, chia sẻ các công việc chung của họ, đồng thời tiến hành các công việc khác để củng cố tín ngưỡng chung này chẳng hạn vinh danh tổ tiên, xây dựng từ đường, nhà thờ, chăm lo săn sóc mộ tổ, tổ chức ngày lễ, ngày kỵ giỗ tổ v.v Có thể
Trang 25khẳng định rằng: Văn hóa dòng họ chính là truyền thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng với những biểu hiện để phát huy giá trị của dòng họ
Phân tích xã hội học về khái niệm văn hóa dòng họ, có thể hiểu nội hàm của văn hóa dòng họ chính là lối sống của cộng đồng thân tộc Khi đề cập đến văn hóa cộng đồng người ta thường quan tâm đến hai yếu tố cốt lõi là giá trị và chuẩn mực (là các giá trị cao cả và hệ thống những quy định cụ thể về phương thức hành xử trong hoạt động thực tiễn để thực hiện các giá trị ấy) Tương ứng với giá trị nào thì có hệ thống chuẩn mực đi kèm nhằm tạo nên những khuôn mẫu hành vi hình thành các thể chế xã hội Tập hợp các thể chế xã hội ấy tạo nên lối sống Lối sống chính là văn hóa Văn hóa dòng họ được toát lên thông qua “hoạt động sống” của dòng
họ Đó chính là lối sống của dòng họ Theo nhà nhân loại họa Hoa Kỳ C.W Wissler “Lối sống là cái, nhờ đó mà mỗi công xã hoặc bộ lạc được xem là một văn hóa Văn hóa bộ lạc là toàn bộ các hình thái tín ngưỡng và hoạt động thực tiễn, được xây dựng thành những khuôn mẫu hành vi, bằng cách đó mà bộ lạc được xác định” [30, tr.46] Giáo sư nhân loại học Hoa
Kỳ Victor Barnouw cũng tán thành nhận định trên, ông khẳng định: “Văn hóa là lối sống của một nhóm người, trong đó hình thái của toàn thể các
mô thức hành vi học được, ít hay nhiều đã được khuôn mẫu hóa, các mô thức ấy trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thông qua nghĩa của ngôn ngữ giao tiếp và qua sự bắt chước” [67, tr.5]
Hiểu một cách đơn giản hơn, với dòng họ, sợi dây cốt lõi xuyên suốt kết cấu này là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tôn vinh giá trị nguồn cội, tư tưởng cộng đồng, yêu thương đoàn kết, đùm bọc, hòa hợp với nhau, gắn kết giữa cá nhân và tập thể, giữa cái riêng và cái chung, được thể hiện trong việc người trong họ xây dựng từ đường, trùng tu nhà thờ, viết gia
Trang 26phả, chăm sóc phần mộ tổ tiên, giỗ tế, thiết lập các hội lạc quyên cứu tế, tạo dựng quỹ khuyến học, thậm chí xây dựng trường học v.v Có thể nói
sự khôi phục, bổ sung và duy trì sự liên tục của gia phả dòng họ, nhà thờ
họ là một biểu hiện về văn hóa có từ lâu đời và nó vẫn đang phát huy và phát triển ở nước ta hiện nay Việc sinh hoạt dòng họ đã hình thành ý thức tốt cho mỗi người, mỗi gia đình thực hiện như một “quy định không thành văn”, nhưng có tác dụng quan trọng trong việc phục hồi làm phong phú giá trị nhân văn tốt đẹp như sống có nghĩa, có tình, có gia giáo, tôn ti trật tự, quý trọng con người, tuân thủ pháp luật, có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau, với cộng đồng dân cư, tổ dân phố, làng, bản và đặc biệt là đề cao đạo đức nhân cách tình cảm yêu quê hương làng xóm Có thể nhận thấy những năm gần đây, cùng với những hoạt động văn hóa làng xã, văn hóa dòng họ đã được khôi phục trở lại và ngày càng thể hiện sự mới mẻ, tiến
bộ
1.2 Cấu trúc của Văn hóa dòng họ
Như phần trên đã phân tích, văn hóa dòng họ là văn hóa của một cộng đồng thân tộc, văn hóa ấy phải có cấu trúc của nó Chúng tôi cho rằng cấu trúc của văn hóa dòng họ gồm bốn thành tố chính như sau: gia đình hạt nhân; tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; truyền thống dòng họ; ruộng
họ (quỹ họ) Dưới đây sẽ nói kỹ hơn về bốn thành tố đó
1.2.1 Gia đình hạt nhân
Có thể nhận thấy rõ rằng dòng họ là một tập hợp của các gia đình hạt nhân có chung quan hệ thân tộc Quan hệ trong gia đình là những biểu hiện nhỏ năm trong quan hệ của dòng họ Trong gia đình hạt nhân có chia
ra các thế hệ: cha, con, cháu Trong mỗi thế hệ ai sinh trước gọi là trưởng, sinh sau là thứ Đó là điều mang tính tự nhiên, không có gì thay đổi được
Trang 27Điều này đã tạo nên quan hệ thứ bậc trong họ Nói cách khác, người Việt lấy bản thân và gia đình mình làm hạt nhân rồi theo quan hệ thân thuộc nội- ngoại mà quy định tính thân- sơ tạo ra một mạng lưới quan hệ họ hàng Họ luôn đi đôi với “hàng”, đó là cách nói dân gian để chỉ quan hệ thứ bậc ở họ Nếu trong xã hội, quan hệ người người dựa trên các yếu tố địa vị, chức vụ thì trong họ, quan hệ người dựa trên thế thứ, vai vế, là trưởng hay là thứ và cũng quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của người trưởng tộc, trưởng họ Ở người Việt, cơ sở duy trì huyết thống chủ yếu là gia đình theo phụ hệ và mở rộng là dòng họ Sợi dây huyết thống quy ước này đã nuôi dưỡng ý thức về gia đình, về dòng họ của mỗi người Có thể khẳng định yếu tố văn hóa gia đình là một trong những cơ sở quan trọng nhất tạo nên văn hóa dòng họ mà cụ thể là tạo nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Đó là điều thiêng liêng nhất để những người có chung huyết thống tự gắn kết với nhau thành họ
Giáo dục trong gia đình là một truyền thống quý báu của người Việt,
là sợi dây duy trì những thuần phong mỹ tục, duy trì lối sống trong gia đình Đây là một trong những yếu tố tạo ra những người con thành đạt, giỏi giang với đẩy đủ phẩm chất đạo đức cũng như tài năng Đó là những danh nhân, những người làm rạng danh gia đình, rạng danh dòng họ và rạng danh đất nước Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý), danh nhân là “người có danh tiếng” [70, tr 510] Theo đó, cách hiểu về danh nhân chỉ mang nghĩa chung chung Theo từ điển tiếng Việt của trung tâm
từ điển học thì danh nhân là “người có danh tiếng và được xã hội công nhận” [59, tr 389] Cũng có thể khẳng định rằng để trở thành một danh nhân cần có sự nỗ lực hoạt động của cá nhân kết hợp với yếu tố giáo dục gia đình, dòng họ Đó là những người tài giỏi, có danh tiếng, sáng tạo ra
Trang 28các giá trị văn hóa và được xã hội công nhận, là những người góp phần tạo nên truyền thống tốt đẹp của dòng họ
Thực tế hiện nay là việc tôn vinh danh nhân như thế nào cho thật phù hợp với lòng người, còn là vấn đề phải cân nhắc, thảo luận Bởi lẽ cuộc sống đời thường vốn từng làm nẩy sinh bao điều phiền toái, gắn liền với bao giai thoại chìm nổi, khó phân biệt Việc xác định một danh nhân thật không hề đơn giản Tuy thế, cái gì hợp với lòng người, gắn kết với lợi ích của nhân dân, của đất nước thì vẫn mãi toả sáng
1.2.2.Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các biểu hiện của nó
Chính tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã tạo cho người ta ý thức về cội nguồn của mình Ý thức này đặc biệt thể hiện ở các dòng họ lớn Đó là niềm tự hào vì dòng họ đã tồn tại được lâu đời, lại có nhiều người đỗ đạt, thành danh, thậm chí là có thế lực để có thể nhờ cậy khi cần
Ý thức về nguồn cội tạo nên sự cố kết chặt chẽ trong dòng tộc với tinh thần “họ chín đời còn hơn người dưng”, “một giọt máu đào hơn ao nước lã” hay “sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì” Sự cố kết này càng thể hiện
rõ khi những gia đình trong dòng họ có những việc lớn như tang ma, cưới xin, dựng nhà hay những công việc liên quan đến quyền lợi, danh dự của dòng họ Ý thức về nguồn cội luôn thường trực trong mỗi con người, thôi thúc người ta làm các công việc hướng về dòng họ như đóng góp xây dựng
từ đường, nhà thờ của dòng họ, chăm lo săn sóc phần mộ tổ tiên, viết gia phả, họp họ và tổ chức lễ giỗ họ Đặc biệt, “gia phả và nhà thờ họ là điểm tựa tinh thần của con cháu trong dòng họ, khiến cho muôn đời con cháu noi theo gương tốt của tổ tiên”[29, tr 432]
- Nhà thờ họ
Trang 29Nhà thờ họ còn gọi là từ đường, là nơi thờ Thủy tổ và các vị tiên tổ hoặc cao tổ của dòng họ khi chưa phân chi Trong các chi nếu có những vị thần hiển linh hoặc các vị đỗ đạt cao, chức tước lớn làm rạng danh dòng
họ mặc dù về thế thứ ở hàng thấp nhưng cũng được rước vào nhà thờ họ để phối thờ với Thủy tổ Nhà thờ họ ra đời từ yêu cầu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và được hình thành bởi các nguồn gốc:
+ Là nơi ở của các vị tổ Sau khi mất, con cháu thờ tự ngay trong nhà, lập ban thờ riêng Nhiều thế hệ qua đi, con cháu ngày càng đông đúc, xuất hiện sự phân chi, phân nhánh ngày càng nhiều, điều kiện kinh tế ngày càng khá giả thì ngôi nhà ấy được sửa sang, tu bổ dùng làm nơi thờ tự riêng các vị tiên tổ
+ Nhà thờ xây dựng mới Trường hợp này tuy điều kiện kinh tế của con cháu dòng họ Thường là do dòng họ đóng góp mà thành
+ Nhà thờ do một người sau khi thành đạt, làm quan dựng ngôi nhà
để ở, vừa làm nơi thờ cúng cho mình sau này Khi người đó mất, con cháu lấy đó làm nơi thờ tự
Quy mô nhà thờ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi dòng họ Thường những dòng họ lớn, lâu đời, nhiều người đỗ đạt làm quan thì nhà thờ họ được xây dựng khang trang Có dòng họ chưa xây nhà thờ thì dựng một cái bàn lộ thiên, tạc bia đá ghi tên thụy hiệu của tổ tiên làm nơi tế tự [9, tr.24]
Về kiến trúc, theo Chu Quang Trứ́, “Nếu nhà thờ họ, đền, miếu, nghè… có chức năng chú yếu là thờ cúng và tưởng niệm gần với đình và chùa thì về kết cấu kiến trúc cũng là sự thu nhỏ và đơn giản lối kiến trúc đình và chùa” [55, tr 107] Nhà thờ họ phổ biến thường có kết cấu kiểu
Trang 30chữ nhất ( -), tức một tòa nhà ngang gồm 3 gian hoặc 5 gian, có hàng hiên Một bức bình phong cuốn thư hoặc đắp ông hổ nổi ở giữa làm giới hạn khu thờ tự và sân Có nhà họ họ to thường mô phỏng ngôi đền thờ Thành hoàng có kết cấu chữ nhị ( ), phía trước có sân, qua sân, đối diện
là nhà đại bái Xung quanh nhà thờ họ thường có tường bao, có cổng, và cột trụ đắp linh vật Mái nóc thường trang trí đôi rồng chầu mặt trăng Từ cuối triều Nguyễn trở về sau, các kiến trúc nhà thờ thường theo kiểu đầu hồi bít đốc
Trong nhà thờ, gian chính giữa thường treo bức đại tự chữ Hán, hai bên treo câu đối nội dung nhắc nhở con cháu về nguồn gốc của mình, ca ngợi công đức tổ tiên, đề cao truyền thống dòng họ Bàn thờ tổ tiên có long ngai, bài vị Đồ thờ phụng trong nhà thờ gồm bộ tam sự (đỉnh và hai cây đèn), ngũ sự (đỉnh, hai cây đèn, hai ống đựng hương, hoa), thất sự (thêm đôi hạc đưng trên lưng rùa và một mâm bồng) Nếu là dòng họ khoa bảng hoặc có tước phẩm vua ban thì đồ thờ cúng còn có giá đựng đồ gia bảo, sắc phong v.v… Đồ thờ tự được giữ gìn, bảo quản rất cẩn thận, không được phép cầm cố hay mua bán
Nhà thờ họ thường giao cho con trưởng ngành đích cai quản và là tài sản chung của dòng họ Dòng họ lớn nhiều chi nhánh thì có nhà thờ tổ trong bản chi, gọi là nhà thờ chi họ hay từ đường chi họ Nhà thờ này thường thò các vị tổ tiên bốn đời và cũng giao cho con trưởng của chi họ trông nom Những dòng họ có nhiều người đỗ đạt làm quan thì ngoài nhà thờ còn có nhà tưởng niệm các danh nhân của dòng họ
Nói tóm lại, nhà thờ họ, nhà tưởng niệm danh nhân phản ánh truyền thống của dòng họ, lịch sử phát triển và những đóng góp của dòng họ với
Trang 31đất nước Đó còn là những tư liệu quan trọng để tìm hiểu về làng xã, về các danh nhân và lịch sử dân tộc
ở phía sau mộ để chắn hướng gió chạm tới mạch mộ [58, tr 113] Nếu dòng họ có nghĩa trang riêng thì mộ của vị thủy tổ thường được táng ở vị trí cao nhất
Quan niệm của người Việt, “thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần”, cho nên việc đặt phần mộ của thủy tổ rất quan trọng, ảnh hưởng đến con cháu trong dòng họ Một dòng họ nào đó phát đạt về mặt khoa cử, quan trường hay binh nghiệp đều tin rằng nhờ vị tổ này được táng ở vị trí đắc địa và khi có việc không may trắc trở người ta nghĩ đến chuyện ngôi mộ bị
“động” Vì thế hàng năm các dòng họ phải lo sửa sang phần mộ, đặc biệt
là mộ tổ vào dịp thanh minh, gọi là lễ tảo mộ
- Giỗ họ và các nghi lễ khác
Là một trong những hình thức sinh hoạt tập thể của dòng họ người Việt Lễ này được tổ chức vào dịp kỉ niệm ngày mất của Thủy tổ (hoặc ngày mất của tổ chi) Đây là một nét đẹp văn hóa, gắn liền với tục thờ cúng tổ tiên của người Việt, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
Trang 32Trong ngày giỗ, trưởng họ phải biện lễ vật để cúng tổ tiên Lễ vật được quy định tùy theo điều kiện của dòng họ và phong tục của địa phương Con cháu phải thu xếp công việc về họp mặt đông đủ, tập trung tại nhà thờ họ hoặc nhà người tộc trưởng Nhiều dòng họ còn gọi việc tham gia lễ giỗ họ là đi “việc họ” Lễ giỗ gồm hai phần: tế và lễ Các dòng
họ lớn vào loại thế gia vọng tộc thường có phần tế Chủ tế thường do trưởng họ đảm nhiệm, có đọc văn tế Phần lễ, giới thiệu con cháu về dự, giới thiệu truyền thống dòng họ, kiểm điểm lại hoạt động của dòng họ trong một năm và dự bàn công việc năm tới Trong ngày này, những gia đình có con dâu mới, có cháu mới sinh (thường là cháu trai) thì đưa đến làm lễ tạ ơn tổ tiên và nhận (trình, vào) họ Nhiều dòng họ có quỹ khuyến học thường tổ chức tuyên dương các cháu học sinh có thành tích cao trong học tập Cuối cùng là bữa cơm thân mật giữa các thế hệ họ hàng, tạo nên
sự gần gủi, gắn bó trong dòng họ Bữa cơm này thường rất đơn giản có xôi trắng, thịt thủ lợn hoặc thịt gà, Bát canh và một ít đồ xào, nộm Người đi
ăn lễ giỗ họ còn mang phần về chia cho con cháu ở nhà gọi là hưởng một chút lộc của tổ tiên
Giỗ họ trở thành một hoạt động thắt chặt mối liên hệ tinh thần trong gia tộc “Khi con cháu nhớ đến tổ tiên của mình thì cũng nhớ tới ông tổ chung của các chi, đồng thời cũng nhớ tới cái thời kỳ trước khi các gia đình trong một chi còn đoàn tụ với nhau trong một gia đình duy nhất Cái nhớ ấy nhất định là có ích, và có tác dụng đáng kể trong việc thắt chặt dây liên lạc tinh thần giữa các con cháu của một chi, một họ” [41, tr 126]
- Họp họ
Trang 33Cuộc họp thường diễn ra định kỳ vào trước ngày kỵ, ngày giỗ của
họ Nội dung chú yếu để bàn tính cho việc tổ chức ngày giỗ tổ, thu quỹ họ… Những khi có việc bất thường như tu sửa nhà thờ, chỉnh trang mộ phần, hay đám tang, đám cưới của người trong họ cũng có thể tổ chức họp
họ Đây là hoạt động chung của dòng họ thể hiện sự gắn kết của quan hệ
họ tộc, thể hiện sự quan tâm, chia sẻ trách nhiệm với những người trong
họ Tham gia cuộc họp thường có trưởng họ và người trưởng của các chi, nhánh Sau buổi họp, trưởng các chi, nhánh về tổ chức các hoạt động trong chi nhánh của mình (tiến hành thu quỹ họ, lập danh sách các cháu có thành tích xuất sắc trong học tập, thông tin về tình hình của dòng họ, v.v…)
- Gia phả
Gia phả là một cuốn sổ ghi chép về nguồn gốc của dòng họ, tên tuổi, thân thế, sự nghiệp của các thành viên trong dòng họ Gia phả có nguồn gốc từ Trung Quốc thời Xuân Thu (722-481 TCN) của tác giả Tả Khâu Minh Ở Việt Nam gia phả đầu tiên được nhắc tói là Ngọc điệp của nhà Lý biên doạn năm Bính Dần (1026) Ban đầu gia phả chỉ được Hoàng tộc và các dòng họ quan lại, dòng họ đỗ đạt ghi chép Về sau, việc chép gia phả trở nên phổ biến hơn trong dân chúng
Cuốn gia phả gồm hai phần: Phần Phả ký nêu ý nghĩa của việc lập gia phả và công cuộc khởi nghiệp của dòng họ Phần tộc hệ chép tên húy, tên tự, tên hiệu, công trạng của các vị tiên tổ, nơi đặt mộ, ngày giỗ các vị trong họ bắt đầu từ thủy tổ trở xuống rồi đến các con cháu các ngành Ngoài ra còn có phần ký sự ghi chép công trạng sự nghiệp của các ông tổ các đời
Độ dày mỏng của gia phả tùy thuộc vào độ lớn của dòng họ, đôi khi không phải dòng họ nào cũng viết gia phả Sau một thời gian gia phả lại
Trang 34được biên chép bổ sung thêm, gọi là tục biên gia phả.Thông thường, gia phả được biên soạn bằng chữ Hán, có xen lẫn chữ Nôm Gia phả được soạn công phu, biên chép rõ ràng, thể chữ chân phương, có ghi rõ người biên soạn, sao lục, tục biên (tên tuổi, chức tước, học vị, thế thứ trong họ)
và ghi rõ cả năm biên soạn
Gia phả thông thường có thể coi như một cuốn sử ký phản ánh trung thực về thứ bậc của các thế hệ, ghi chép công lao của các thành viên trong dòng họ Nó thể hiện tâm thức uống nước nhớ nguồn, lòng biết ơn và kinh trọng của con cháu với tổ tiên Chính vì thế, gia phả được giữ gìn cẩn thận, thường được đặt ở nơi tôn nghiêm trong nhà thờ họ hay nhà tộc trưởng, được coi như một vật thiêng liêng, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Gia phả là tài liệu để giáo dục truyền thống quý báu của dòng họ, gắn liền với truyền thống dân tộc đối với từng gia đình, từng con người Thông qua những cuốn gia phả, nhiều người nghiên cứu có thêm những tư liệu xác đáng để viết nên lịch sử của địa phương Đó là cơ sở để dòng họ, chi họ lần tìm về gốc rễ
1.2.3 Truyền thống dòng họ
Truyền thống dòng họ được tạo nên trong suốt quá trình hình thành
và phát triển Các dòng họ đã tạo nên những dấu ấn đặc sắc của dòng họ mình, duy trì qua nhiều thế hệ Tiêu biểu có thể kể đến một số các truyền thống sau:
+ Truyền thống lập làng: nhiều dòng họ đến những vùng hoang sơ khai phá thiết lập nên những làng đầu tiên Ngày nay, nhiều địa danh tên
Trang 35làng gắn với tên dòng họ để ghi dấu sự mở mang làng xã của các dòng họ, chẳng hạn như Trịnh Xá, Dương Xá, Đào Xá…
+ Truyền thống lao động sản xuất: nhiều dòng họ có các nghề thủ công truyền thống, nghề làm thuốc, những nghề gia truyền khác mang đến làng và phổ biến cho cả làng và được tôn làm ông tổ nghề ở làng
+ Truyền thống hiếu học: rất nhiều dòng họ nổi tiếng về truyền thống học hành, khoa cử Hai nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đính và Nguyễn Viết Chức (2004) đã tiến hành sưu tầm khảo sát, nhận thấy: riêng ở đất Thăng Long- Hà Nội có tới 24 làng khoa bảng Một số dòng họ khoa bảng nổi tiếng ở Bắc Bộ như: họ Nguyễn (Kim Đôi, Bắc Ninh) , họ Ngô (Tả Thanh Oai, Hà Nội), họ Vũ (Mộ Trạch, Hải Dương), họ Bùi (Thịnh Liệt,
Hà Nội) v.v…
+ Truyền thống đánh giặc cứu nước: Truyền thống này được phát huy trong suốt chiều dài lịch sử, mỗi khi đất nước đứng trước họa xâm lăng Từ mỗi cá nhân, gia đình cho đến dòng họ đã đông viên, khuyến khích con em đứng lên bảo vệ tổ quốc Ngay trong thời bình, truyền thống
ấy thể hiện qua việc nhiều người đã dũng cảm bảo vệ sự bình yên cho xóm làng
1.2.4 Ruộng họ (quỹ họ)
Bất kỳ một hoạt động của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào đều không thể xa rời yếu tố kinh tế, vì đây là yếu tố tạo điều kiện vật chất duy trì các hoạt động Với dòng họ, thì phần thu hoa lợi từ ruộng họ hay phần tiền được những người trong họ đóng góp (quỹ họ) chính là yếu tố giúp duy trì
và thúc đẩy các hoạt động chung Trước đây, các công việc của dòng họ được tiến hành dựa trên số tiền hoa lợi từ ruộng họ Những năm gần đây, khi ruộng họ không còn thì hình thức đóng góp quỹ họ trở nên phổ biến
Trang 36Cách thức quản lý, sử dụng, tạo quỹ họ phản ánh sự đồng thuận, chia sẻ trách nhiệm, đoàn kết gắn bó của những người trong họ vì công việc chung của mình
- Ruộng họ
Là phần ruộng đất để thu hoa lợi phục vụ việc cúng giỗ tổ tiên và các hoạt động của dòng họ Ruộng họ được hình thành từ các nguồn gốc sau:
+ Ruộng hương hỏa của tổ tiên để lại cho dòng họ
+ Ruộng do con cháu khi thành đạt, nhất là trường hợp được hưởng lộc điền hiến tặng cho dòng họ
+ Ruộng do những người trong dòng họ đặt hậu khi không có chồng hoặc không có con
+ Ruộng do dòng họ có quỹ mua thêm
+ Ruộng do con cháu đi làm ăn xa sau đó định cư nơi khác (định cư
ở nước ngoài) gửi tặng lại họ
Có một số dòng họ còn có cả ao, vườn cũng thuộc sở hữu chung của dòng họ Ruộng họ thường được giao cho gia đình trưởng họ phát canh, thu hoa lợi, phục vụ vào việc cúng tế và các việc chung khác của họ
Ruộng họ là tài sản chung của dòng họ nên không ai được phép chuyển nhượng hay xâm chiếm Trong thời kỳ cải cách ruộng đất (1954-1956), phần lớn ruộng họ đều thực hiện công hữu hóa Chỉ một số trường hợp đặc biệt, ruộng họ được duy trì nhưng với diện tích không nhiều
- Quỹ họ
Quỹ họ là một khoản tài chính nhất định của dòng họ để dùng vào công việc chung như: giỗ tổ, cúng lễ, chạp mộ, mua sắm các đồ thờ cúng
Trang 37trong nhà thờ (hoành phi, câu đối, đèn hương), sửa chữa tu bổ nhà thờ, thăm nom hiếu hỉ trong họ tộc
Trước kia, quỹ họ có được do khoảng thu hoa lợi từ ruộng họ Ngày nay, để duy trì hoạt động của dòng họ phải tạo quỹ bằng cách đóng góp theo định suất đồng thời kêu gọi sự hảo tâm của con cháu thành đạt trong
họ
Quỹ họ thường giao cho trưởng họ hoặc hội đồng gia tộc quản lý Các khoản chi tiêu được công khai vào mỗi dịp giỗ họ Quỹ này thường được cho vay lấy lãi để tăng thêm ngân quỹ
1.3 Văn hóa dòng họ và chức năng khuyến học trong xã hội hiện nay
Một nét đặc sắc trong văn hóa truyền thống nước ta là tập quán noi gương trong dòng họ, thông qua việc ca ngợi công đức của tổ tiên, của những danh nhân trong họ Công đức của tổ tiên, vẻ đẹp về phẩm giá, giá trị đạo đức tốt đẹp của tổ tiên được thường xuyên nhắc nhở cho con cháu trong những ngày giỗ họ, những ngày tuyên dương các cháu có thành tích tốt trong học tập v.v Đó là những tấm gương sáng để các thế hệ cháu con noi theo Để khuyến khích con em trong họ không ngừng học tập noi gương liệt tổ liệt tông để trở thành những người tài giỏi, có ích cho gia đình và xã hội, những người có vị trí trong dòng họ đã vận động quyên góp xây dựng quỹ khuyến học, khuyến tài Hoạt động khuyến học trở thành một trong những hoạt động chính tiêu biểu và sôi nổi của nhiều dòng họ ở nước ta và ngày càng đi vào nề nếp quy củ Chẳng hạn, họ Phạm đã xây dựng hẳn một Quy chế tổ chức và hoạt động quỹ Tấm lòng vàng của dòng họ Trong đó quy định rõ từ mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và
Trang 38tổ chức, nhiệm vụ cụ thể của các thành viên Ban quản lý quỹ, tiêu chuẩn xét trao giải, học bổng và trợ cấp, trình tự xét và trao giải thưởng, học bổng và tiền trợ giúp và tổ chức lễ vinh danh và lễ trao thưởng, giá trị các loại tiền trao tặng, nguồn thu của quỹ và mức chi cho từng đối tượng được hưởng cụ thể
Nếu trước kia dòng họ dành sự quan tâm lớn cho việc củng cố vị trí, thế mạnh của mình trong hệ thống chính quyền quản lý địa phương thì nay, sự quan tâm lớn ấy dành cho từng con người cụ thể thông qua hoạt động khuyến học của dòng họ Bởi con người chính là nguồn nhân lực tương lai của dòng họ nói riêng, của đất nước nói chung Nếu trở thành những người tài giỏi cả đức cả tài thì những người này sẽ làm vẻ vang cho dòng họ, là động lực thúc đẩy sự phát triển, sự lớn mạnh không ngừng của dòng họ nói riêng và đất nước nói chung Hoạt động này đã kêu gọi được
sự quan tâm của những người giàu có, có tâm với dòng họ, với quê hương
Họ đã đóng góp tiền của một cách nhiệt tình, đầy trách nhiệm với những con em trong họ mình, giúp nhiều gia đình vượt qua khó khăn trong việc trang trải kinh phí học hành, giúp nhiều người tìm được niềm tin, niềm phấn khởi trong học tập Đáng kể có thể thấy họ Phạm ở Phù Lưu, Can Lộc Hà Tĩnh với tên tuổi của Phạm Nhật Vượng, một người có học mà làm nên sự nghiệp, đã hướng về cội nguồn tìm mọi cách góp phần khuyến học đào tạo nhân tài cho quê hương Ông đã chi ra hàng chục tỷ đồng xây dựng trường dạy nghề (16 tỷ đồng), trường mẫu giáo (2,5 tỷ đồng) và xây dựng một quỹ học bổng mang tên cha mình (Phạm Dương), hỗ trợ cho học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập Từ năm học 2000-2001, quỹ học bổng mang tên Phạm Dương ra đời ủng hộ cho ngành giáo dục Can Lộc 50 triệu đồng để giúp 500 cháu, mỗi cháu 100.000 đồng
Trang 39mua sách vở Sau đó, liên tục mỗi năm khoản tiền từ nguồn học bổng Phạm Dương chuyển cho huyện Can Lộc là 100 triệu đồng Số tiền ấy tính đến nay đã hơn nửa tỷ đồng đã đến tay hàng ngàn học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn, được trợ giúp để vươn lên học giỏi, thành đạt
Đào tạo, xây dựng con người có đẩy đủ cả đức cả tài là phương châm phát triển của toàn Đảng, toàn dân ta Hiểu được vai trò và thế mạnh của con người trong công cuộc kiến thiết đất nước, mỗi dòng họ ngày càng
nỗ lực động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cả về vật chất và tinh thần cho con em không ngừng học tập để có thể hoàn thiện bản thân trở thành những người có ích cho xã hội Tùy điều kiện kinh tế của từng dòng họ mà
có hình thức khuyến khích khác nhau, dòng họ lớn có thể trao tặng tiền mặt lên đến hàng triệu đồng (họ Phạm ở Phù Lưu, Can Lộc, Hà Tĩnh), cũng có dòng họ trao tặng xe đạp, xe máy cho các cháu thi đỗ đại học (họ Bùi Đức ở Ninh Kiều, Cần Thơ), hay chỉ đơn giản như nhiều các dòng họ khác là tặng sách bút, đồ dùng học tập và một ít tiền thưởng hàng năm cho các gia đình khó khăn, các cháu có thành tích cao trong học tập v.v Đây trở thành một hoạt động thường xuyên, là một nét văn hóa tiêu biểu của dòng họ, được mọi người trong họ chấp nhận, đồng tình ủng hộ và cùng chung vai góp sức tạo nên
Tiểu kết
Tóm lại, văn hóa dòng họ được tạo nên trên cơ sở là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, gia đình hạt nhân, truyền thống của dòng họ và cơ sở kinh tế
Trang 40của dòng họ Tùy từng thời điểm mà từng yếu tố có ưu thế hay sự vượt trội khác nhau và cũng được sự quan tâm ở mức độ khác nhau
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là sợi chỉ đỏ xuyên suốt các mối quan
hệ khiến cho dòng họ vẫn bền chặt và phát triển không ngừng qua nhiều thăng trầm lịch sử Văn hóa gia đình là yếu tố cơ sở, góp phần hình thành nên văn hóa dòng họ Đây là yếu tố tạo nên tín ngưỡng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, được toàn thể những người trong họ tin theo và tôn thờ Yếu tố truyền thống và giáo dục truyền thống dòng họ là một công cụ hữu hiệu trong việc duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, duy trì những nét đẹp trong lối sống gia đình và là yếu tố mang tính triết lý phát triển của dòng
họ Giáo dục truyền thống để từ đó phát triển sự nghiệp trồng người - một
sự nghiệp vẻ vang nhất nhưng cũng đầy khó khăn thách thức nhất
Bốn yếu tố đó luôn quyện vào nhau tạo nên một đời sống tinh thần của dòng họ thật phong phú, là điểm tựa tinh thần vững chãi cho các thế hệ thành viên của dòng họ phát triển
Chương 2
NHẬN DIỆN VĂN HÓA DÒNG HỌ BÙI ĐÔNG