Với vai trò của một trung tâm thông tin - tư liệu, Thư viện Đại học Thuỷ lợi có nhiệm vụ thu thập những nguồn kiến thức, kinh nghiệm về khoa học, kỹ thuật trên thế giới phản ánh qua các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA - THỂ THAO & DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THU THẢO
HÀ NỘI - 2007
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học trường Đại học Văn hoá
Hà Nội đã tạo điều kiện để chúng tôi thực hiện luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thu Thảo đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong quá trình thực hiện luận văn Trong quá trình được cùng làm việc với Cô, em đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu làm nền tảng cho quá trình làm việc và nghiên cứu sau này
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến các Quý Thầy, Quý Cô đã trang bị những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập và nghiên cứu tại lớp CHTV 11 khoá học 2004-2007 Và cũng xin cảm ơn đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện rất nhiều trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Mặc dù đã cố gằng hoàn thành luận văn với nỗ lực cao nhất, nhưng luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều sai sót, kính mong Quý Thầy, Quý Cô tận tình chỉ bảo
Một lần nữa, tác giả xin cảm ơn đến tất cả mọi người
Hà Nội, tháng 7/2007
Học viên
Phạm Hồng Thái
Trang 3MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI VỚI NHU CẦU PHÁT TRIỂN SẢN
1.2 Sự cần thiết phải phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong trường ĐHTL…… 5 1.2.2 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện………
1.2.2 Sản phẩm thông tin - thư viện
1.2.2.2 Dịch vụ thông tin - thư viện………
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện…
Trang 41.4 Người dùng tin và nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin tại
trường ĐHTL…
1.4.1 Các nhóm Người dùng tin……… 1.4.2 Nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin tại trường Đại học Thuỷ lợi
Trang 52.1 Phương thức tạo lập và cung cấp sản phẩm thông tin - thư
viện…………
2.1.1 Hệ thống mục lục dạng phiếu……… 2.1.2 Thư mục in………
2.2.3 Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu
2.2.4 Dịch vụ tra cứu tin…
2.3 Nhận xét chung về chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện của thư viện Đại học Thuỷ lợi…
53
54
57
63
Trang 63.1.2 Định hướng phát triển loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin
3.1.3 Định hướng về chia sẻ sản phẩm và dịch vụ
Trang 73.2 Một số giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện……
3.2.1 Nhóm giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin và áp dụng công
nghệ thông tin của thư viện Đại học Thuỷ lợi
3.2.1.1 Tăng cường xây dựng và hoàn thiện nguồn lực thông tin
3.2.1.2 Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và đẩy mạnh công nghệ
3.2.3.1 Xây dựng nhóm sản phẩm thông tin - thư viện mới
3.2.3.2 Phát triển dịch vụ thông tin - thư viện mới
3.2.3 Đào tạo người dùng tin ……… 3.2.4 Marketing sản phẩm và dịch vụ TT-TV………
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NDT Người dùng tin
SP&DV Sản phẩm và dịch vụ
AACR2 Anglo-American Cataloguing Rules, Second Edition
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trường Đại học Thuỷ lợi là một trong những trường đại học thuộc khối kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực tài nguyên nước Qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, trường Đại học Thuỷ lợi đã trở thành một trường đại học đa ngành với quy mô đào tạo ngày càng lớn Thư viện Đại học Thuỷ lợi là một
bộ phận cấu thành thực hiện chức năng quan trọng là trung tâm Thông tin – Văn hoá – Giáo dục phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay, khoa học
và công nghệ có vai trò hàng đầu Các trường đại học nói chung và trường Đại học Thuỷ lợi nói riêng đều cần thiết phải có đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu khoa học có trình độ cao, bởi phần lớn chiến lược phát triển khoa học đều xuất phát từ môi trường đại học Vai trò của giáo dục đại học ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Quá trình đào tạo đại học gắn chặt với quá trình chuyển giao thông tin,
do đó thông tin chắc chắn phải có vị trí chiến lược Với vai trò của một trung tâm thông tin - tư liệu, Thư viện Đại học Thuỷ lợi có nhiệm vụ thu thập những nguồn kiến thức, kinh nghiệm về khoa học, kỹ thuật trên thế giới phản ánh qua các loại hình tài liệu, tích luỹ, tổ chức và sắp xếp để có thể phục vụ bạn đọc một cách tốt nhất Với những trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, thư viện còn có thể thực hiện cung cấp thông tin thiết thực với nhiều phương thức đa dạng cho các đối tượng người dùng tin trong điều kiện khối lượng thông tin đang gia tăng mạnh mẽ
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục ở bậc đại học
là khả năng cung cấp thông tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu của người dùng tin Để thực hiện nhiệm vụ chuyển giao kiến thức này đòi hỏi phải đẩy mạnh hoạt động, phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện theo hướng hiện đại hóa, tạo ra tiền đề để hội nhập với thế giới bên ngoài Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của Thư viện Đại học Thuỷ lợi và hiện nay nó cũng là tiêu chí quan trọng để đánh
Trang 10giá, kiểm định chất lượng giáo dục của cơ sở đào tạo
Trong những năm qua, Thư viện Đại học Thuỷ lợi đã có sự đóng góp to lớn vào việc thực hiện các mục tiêu của trường Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của người dùng tin, công nghệ thông tin và xu thế hội nhập, hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin của Thư viện Đại học Thuỷ lợi chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng NDT, nhiều nguồn tin chưa được tổ chức khai thác
Quá trình đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo đang diễn ra tại Đại học Thuỷ lợi đã đặt Thư viện trước nhiệm vụ lớn lao là phải hỗ trợ tốt hơn cho các hoạt động học tập, giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ và giáo viên trong trường Thực tế đó đỏi hỏi thư viện phải thực hiện nhiều vấn đề khác nhau để tăng cường khả năng phục vụ, trong đó việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện để sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin là vấn đề rất quan trọng Hoạt động thư viện gần đây đã được lãnh đạo trường Đại học Thuỷ lợi quan tâm đầu tư tương đối tương đối đúng mức, Thư viện đã có nhiều điều kiện để phát triển Với những kiến thức đã được tiếp thu trong thời gian học tập tại lớp CHTV11,
trường Đại học Văn hoá Hà Nội, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu phát triển sản
phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của trường Đại học Thuỷ lợi” làm để tài tốt
nghiệp thạc sỹ khoa học thư viện của mình Hy vọng rằng luận văn này sẽ đóng góp một số giải pháp có thể coi là cần thiết trong việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin của Thư viện Đại học Thuỷ lợi
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Thư viện trường Đại học Thuỷ lợi
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài phải giải quyết các vấn đề sau:
- Nghiên cứu các yêu cầu và sự cần thiết phải phát triển các sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện của trường Đại học Thuỷ lợi
- Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin của Đại học Thuỷ lợi
- Khảo sát thực trạng và phân tích các loại hình sản phẩm, dịch vụ, triển vọng
áp dụng và khả năng đáp ứng nhu cầu của người dùng tin
Trang 11- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn hướng vào đối tượng là các sản phẩm và dịch vụ thông tin (các đặc trưng, thuộc tính, khả năng áp dụng…)
+ Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin của Thư viện trường Đại học Thuỷlợi từ 1990 đến nay
4 Phuơng pháp nghiên cứu
Luận văn này tác giả sử dụng một số phương pháp như:
Quan sát
Điều tra, thống kê số liệu
Điều tra xã hội học
Phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương
Trang 12CHƯƠNG 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI VỚI NHU CẦU PHÁT TRIỂN
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
1.1 Trường Đại học Thuỷ lợi với nhiệm vụ đổi mới giáo dục đào tạo
Trường Đại học Thuỷ lợi được thành lập năm 1959, tiền thân là Học viện Thuỷ lợi Điện lực
Trường Đại học Thuỷ lợi là trường đại học thuộc khối kỹ thuật đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và là Trung tâm khoa học và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực: Thuỷ lợi, Thuỷ điện, Tài nguyên nước và Môi trường, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai Ngoài ra, Trường đại học Thuỷ lợi còn là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học các chuyên ngành khác đáp ứng nhu cầu của xã hội Trong tương lai gần, Trường Đại học Thuỷ lợi sẽ trở thành trưòng đại học đào tạo đa ngành
Trường hiện có trên 600 cán bộ, công nhân viên và giảng viên, 100% giảng viên của Trường đạt chuẩn trong đó năm 2006 có 7 giáo sư, 45 phó giáo sư, 84 Tiến
sỹ, 173 thạc sỹ Đã được Nhà nước phong tặng 2 Nhà giáo nhân dân, 58 Nhà giáo
ưu tú Mạng lưới cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ trải rộng từ Bắc tới Nam Đến nay Trường đã đào tạo cho đất nước gần 20000 kỹ sư,
429 thạc sỹ, 71 tiến sỹ, trong đó có nhiều người đã trở thành chuyên gia đầu ngành, những cán bộ chủ chốt ở Trung ương và địa phương Năm học 2006 - 2007 trường
có hơn 10.000 học viên và sinh viên đang theo học với các hệ đào tạo chính quy, tại chức, cử tuyển với các cấp học dự bị, cao đẳng, đại học, trên đại học chưa kể các lớp bồi dưỡng sau đại học ngắn hạn Công tác đào tạo được tiến hành tại 3 cơ sở:
Cơ sở chính tại Đống Đa – Hà Nội; Cơ sở 2 tại Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh và Trung tâm ĐH2 tại Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận
Chiến lược phát triển Trường Đại học Thuỷ lợi giai đoạn 2006 – 2020 sẽ đưa Đại học Thuỷ lợi trở thành một trong mười trường đại học hàng đầu của Việt Nam,
từ đó tạo tiền đề cho việc hoàn thành tốt các mục tiêu đã nêu ra ở trên Chiến luợc
Trang 13phát triển của Trường đaị học Thuỷ lợi sẽ được thực thi trong ba giai: đoạn năm năm, mười năm và mười lăm năm, trong đó giai đoạn năm năm đầu tiên sẽ đóng vai trò quyết định
Nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn năm năm tới là tập trung vào việc áp dụng phương pháp tư duy mới cho sinh viên, giảng viên và các bộ phận quản lý Vận dụng các cơ chế tích hợp để cải thiện chất lượng cán bộ, phát triển chương trình đào tạo, nâng cấp và mở rộng các ngành đào tạo, thay đổi phương pháp dạy và học, thu hút đầu tư tài chính, hoàn thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, huy động mọi nguồn lực mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế, cơ cấu lại bộ máy tổ chức của Nhà trường
Đại học Thuỷ lợi sẽ tập trung chủ yếu vào các hoạt động liên quan đến các ngành như Tài nguyên nước, Tài nguyên và Môi trường, Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Kỹ thuật bờ biển, Phát triển nông thôn, Kinh tế và Quản lý, Kỹ thuật công trình, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật dân dụng và vật liệu xây dựng Để đạt được điều đó, trường sẽ thành lập mười bảy ngành mới, giảng dạy và nghiên cứu tất cả các lĩnh vực nêu trên Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện trong ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất nâng cấp chín ngành hiện có và mở bảy ngành mới, giai đoạn hai mở bốn ngành mới và giai đoạn ba mở ba ngành mới
Trường Đại học Thuỷ lợi hy vọng số sinh viên đăng ký học tại trường sẽ tăng
từ 9494 (6/2006) đến khoảng 20,000 đến năm 2020, với quy mô tuyển sinh 3840 sinh viên năm 2010, 5210 sinh viên năm 2015 và 6240 năm 2020
Đào tạo thạc sĩ tăng từ 10 chuyên ngành lên 47 chuyên ngành và đào tạo tiến sĩ từ
13 ngành lên 49 chuyên ngành Thời gian đào tạo bậc đại học sẽ được rút ngắn từ 5
năm như hiện nay xuống còn 4 năm
Thư viện Đại học Thuỷ lợi trực thuộc Ban Giám hiệu trường, là một bộ phận cấu thành quan trọng trong việc thực hiện chiến lược chung của Đại học Thuỷ lợi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, cụ thể là góp phần thay đổi phương pháp dạy
và học, nâng cao tính chủ động học tập và nghiên cứu của cán bộ và sinh viên
Thư viện có nhiệm vụ:
Trang 14- Tổ chức và quản lý tốt hoạt động Thư viện nhằm phục vụ có hiệu quả cho
việc khai thác và sử dụng thông tin- tư liệu của cán bộ và sinh viên
- Đáp ứng mọi nhu cầu về in ấn các giáo trình bài giảng và các ấn phẩm khác
phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và công tác quản lý của Nhà
trường
- Quản lý tốt cơ sở vật chất hiện có, từng bước có kế hoạnh nâng cấp, hiện
đại hoá và trở thành Trung tâm Thông tin - thư viện, tăng cường năng lực phục vụ
đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý của nhà trường
- Không ngừng mở rộng quan hệ trao đổi, hợp tác chia sẻ tài nguyên với các
đối tác trong và ngoài nước Đặc biệt chú trọng việc trao đổi thông tin tư liệu với
các các cơ sở đào tạo xa trường, với các trường đại học khối kỹ thuật khu vực Hà
Nội, với Liên hiệp thư viện các trường Đại học và Trung tâm Thông tin - Tư liệu
các bộ, ngành hữu quan
- Từng bước đa dạng hoá các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện, mở rộng đối tượng người dùng tin
Bộ phận phục vụ giáo trình
Bộ phận kho mở
Bộ phận phục vụ tài liệu Ngoại văn
Trang 15Phương hướng phát triển
- Xây dựng một Trung tâm Thông tin - Thư viện theo mô hình tiên tiến và hiện đại phục vụ cho việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường
- Hình thành một đầu mối lưu trữ và xử lý thông tin tổng hợp phục vụ cho công tác quản lý của nhà trường
- Hình thành một Trung tâm học tập -Tự đào tạo cho sinh viên và các hệ đào tạo khác
- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ Khai thác, trao đổi và sử dụng các nguồn lực thông tin của các cơ quan Thông tin - Thư viện trong nước và quốc tế, phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin
- Trước mắt tranh thủ mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển cơ sỏ dữ liệu
tư liệu cho vốn tài liệu của thư viện, tạo cơ sở cho việc tự động hoá công tác nghiệp
vụ thư viện của toàn hệ thống
Từng bước tiến hành số hoá nguồn tài liệu nội bộ của trường để đưa lên mạng nội
bộ như: giáo trình, bài giảng, các kết quả nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và một số báo cáo tốt nghiệp xuất sắc của sinh viên
Tổ chức tốt các kho tài liệu, sử dụng mã vạch để quản lý thư viện và phục vụ bạn đọc
1.2 Sự cần thiết phải phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong trường Đại học Thuỷ lợi
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện trong trường Đại học Thuỷ lợi
Chất lượng giáo dục đào tạo là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của trường Đại học Thuỷ lợi Giáo dục đào tạo là một hệ thống lớn, phức tạp Chất lượng đào tạo được xác định bởi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố cấu thành của hệ thống như: mục tiêu, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, cơ sở vật chất (trường lớp, trang thiết bị, nguồn tài chính,…), đội ngũ giảng viên, phương thức liên kết và hợp tác Một yếu tố hỗ trợ
Trang 16đắc lực cho quá trình nâng cao chất lượng đó là thư viện
Hiện nay, nhờ có nguồn kinh phí tài trợ của các tổ chức nước ngoài và nguồn kinh phí đầu tư của Nhà trường, Thư viện Đại học Thuỷ lợi đang tích cực thực hiện nhiều kế hoạch nâng cấp và hiện đại hoá toàn diện hoạt động thông tin - thư viện Trong đó đặt trọng tâm vào một số mặt ưu tiên như ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, xây dựng nguồn thông tin điện tử, phát triển nhiều sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của NDT
và đóng góp tích cực vào tiến trình đổi mới phương pháp và nội dung đào tạo của Nhà trường
Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động thư viện Nó chính là phương tiện, công cụ do thư viện tạo ra để xác định, truy nhập, khai thác, quản lý các nguồn tin nhằm đáp ứng nhu cầu của NDT và nó là chiếc cầu nối giữa NDT và các nguồn thông tin Chất lượng sản phẩm
và dịch vụ thông tin là những tiêu chuẩn phản ánh năng lực, khẳng định vị thế của
cơ quan thông tin - thư viện và nó là thước đo hiệu quả hoạt động, là yếu tố cụ thể hoá chức năng nhiệm vụ của thư viện Trong hoạt động thông tin - thư viện, nếu tổ chức tốt các dịch vụ và phát triển được các sản phẩm thì NDT sẽ dễ dàng khai thác được các nguồn tin, thoả mãn nhu cầu thông tin của mình
Đối với môi trường giáo dục đại học, xu hướng tất yếu là áp dụng phương pháp mới trên nền tảng người học là trung tâm với mục tiêu là nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu nhằm phát triển toàn diện mọi kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và khả năng tư duy độc lập, thu thập thông tin có hệ thống, vvv…Để đáp ứng yêu cầu này, cùng với sự dẫn dắt của người thầy Thư viện phải có các cơ sở vật chất hiện đại, nguồn tài liệu liệu phong phú, có hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin đa dạng cùng với sự hỗ trợ của cán bộ thư viện
Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là một thực thể được tạo nên bởi nhiều yếu tố cấu thành Hệ thống được tạo ra trên cơ sở nhu cầu thông tin, nhu cầu thông tin trong trường Đại học Thuỷ lợi không ngừng phát triển nên các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện cũng phải không ngừng thay đổi, hoàn
Trang 17thiện, phát triển để đáp ứng kịp nhu cầu đó
Ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng trở nên rộng rãi trong tất các các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sự phát triển của internet và công nghệ truyền thông đã tạo ra những bản chất rất mới đối với hoạt động của các thư viện và cơ quan thông tin Các khái niệm như: thư viện điện tử, thư viện ảo, nguồn tin số hoá, công nghệ đa phương tiện… đã xuất hiện Từ thực tế này đã làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề đối với tất cả các thành phần tham gia vào việc tạo lập, sử dụng thông tin, nhờ đó sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng có bước phát triển mạnh mẽ
Thư viện Đại học Thuỷ lợi là một thành phần thuộc cơ cấu giáo dục đào tạo của Nhà trường, cũng như các cơ quan thông tin khác, nó thuộc loại hình các cơ quan phi lợi nhuận Mục tiêu cơ bản và lâu dài của thư viện là tạo điều kiện cho NDT truy nhập và sử dụng thông tin với tư cách là phương tiện phản ánh trí tuệ chung của loài người Song song với chiến lược làm giàu nguồn thông tin, chiến lược phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin bằng việc đề ra các giải pháp kỹ thuật nhằm khai thác một cách tối ưu các nguồn thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng Hoạt động này nhằm thực hiện hai chức năng chính:
- Tạo cho NDT có thể khai thác tốt nguồn thông tin bên ngoài
- Tạo điều kiện cho dòng tin bên trong hoà nhập với nguồn tin bên ngoài trên tất cả các phạm vi ( cá nhân, tổ chức, cộng đồng )
Từ trước đến nay, Thư viện đã hình thành và hoàn thiện mô hình và thể chế hoạt động của mình Đối tượng quản trị là các tư liệu truyền thống, đối tượng phục
vụ chủ yếu là cán bộ, giáo viên và sinh viên trong phạm vi trường Trong bối cảnh vai trò của khoa học kỹ thuật với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp, ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của sự phát triển, tính chính các và kịp thời của thông tin kinh tế - xã hội cũng như thông tin khoa học - kỹ thuật đều trực tiếp thúc đẩy và chi phối hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học của mọi thực thể trong xã hội Thông tin ngày càng gắn chặt với những lợi ích và lợi nhuận cụ thể Thư viện với các sản phẩm và dịch vụ đa dạng, chất lượng cao đáp
Trang 18ứng nhu cầu thông tin đã có những tiền đề cơ bản để kết hợp giữa hai tính chất phục
vụ công ích và hạch toán Những sản phẩm có thể được hạch toán là những sản phẩm dịch vụ có giá trị gia tăng, do việc sử dụng chúng xuất phát từ nhu cầu đặc biệt và người sử dụng chúng đạt được những lợi ích, lợi nhuận cụ thể
Thông qua việc trao đổi sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện sẽ mở rộng đối tượng NDT từ đó ngày càng phát triển được nguồn tin của mình Thực tế hiện nay các thư viện phần lớn hoạt động một cách riêng rẽ, biệt lập với nhau, phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin có định hướng đến việc phối hợp chia sẻ nguồn thông tin sẽ là một giải pháp nâng cao năng lực về nguồn tin
1.2.2 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.2.2.1 Sản phẩm thông tin - thư viện
Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình Sản phẩm bao gồm dịch vụ, phần cứng, vật liệu đã chế biến, phần mềm hoặc tổ hợp của chúng Sản phẩm có thể là vật chất (vd các bộ phận lắp ghép hoặc vật liệu đã chế biến), hoặc phi vật chất (vd thông tin, khái niệm hoặc tổ hợp của chúng) Sản phẩm có thể được làm ra có chủ định (vd để dành cho khách hàng), hoặc không được chủ định
(vd chất ô nhiễm hoặc kết quả không mong muốn)
Sản phẩm là khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế và hoạt động
thực tiễn của nền sản xuất Sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong
muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng Sản phẩm bao gồm sản phẩm vật chất, dịch vụ, con người, địa điểm, tổ chức và ý tưởng Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản sau đây:
Trang 19hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của NDT Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm là quá trình xử lý thông tin bao gồm: phân loại, biên mục, định từ khoá, tóm tắt… cũng như quá trình phân tích, tổng hợp thông tin
Sản phẩm TT-TV có những điểm khác biệt với những sản phẩm thông thường và cũng được hiểu như một loại hàng hóa đặc biệt :
- Giả cả của sản phẩm TT- TV = giá của vật mang tin + giá trị của thông tin
Một thực tế khách quan hiện nay các cơ quan thông tin - thư viện đang phải đương đầu với điều kiện phục vụ ngày càng trở nên khắt khe hơn:
Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ làm nảy sinh thêm những nhu cầu mới
Sự đòi hỏi và lựa chọn ngày càng khắt khe của NDT với các loại sản phẩm thông tin được chuyển tải qua các phương thức khác nhau
Khả năng thay thế nhau của các sản phẩm;
Đứng về mặt kinh tế - xã hội, một doanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường phải có khả năng làm thoả mãn những khách hàng của nó Một thư viện hay cơ quan thông tin cần phải đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng xã hội thông qua sản phẩm của nó
Một số đặc trưng của sản phẩm thông tin - thư viện
*Chu kỳ sống
Mỗi loại sản phẩm thông tin - thư viện có một chu kỳ sống Chúng tăng
trưởng, suy giảm, và cuối cùng được thay thế Từ lúc sinh ra đến mất đi, chu kỳ sống của sản phẩm có thể được chia làm 5 giai đoạn: Giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành, suy giảm, và bỏ đi
*Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trưởng
Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành như là một triết lý Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin
- thư viện đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trước cho mình những sản phẩm mới
Trang 20* Những nhân tố thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới
Một số nhân tố bên ngoài sẽ thúc đẩy sự phát triển và giới thiệu những sản
phẩm thông tin mới Chúng bao gồm: Những sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thói quen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn, và việc gia tăng sự cạnh tranh quốc tế
* Sự lựa chọn sử dụng thông tin gia tăng
Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông và internet NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởi không gian và thời gian
*Những xem xét về môi trường và nguồn tài nguyên
Thực tế ngày nay khối lượng thông tin gia tăng nhanh chóng dẫn tới việc khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu Một cơ quan thông tin - thư viện
dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó có thể thu thập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các sản phẩm thư viện phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ cao để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực thông tin với các cơ quan thông tin - thư viện khác
Trong những điều kiện đó, các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện: các nguồn lực thông tin, đa dạng hoá các sản phẩm thông tin - thư viện, phương thức phục vụ, sự ứng xử nhanh nhạy với những biến động của môi trường thông tin
1.2.2.2 Dịch vụ thông tin - thư viện
Trong hoạt động thông tin - thư viện, dịch vụ ra đời cùng với sự hình thành của các cơ quan thông tin - thư viện Cùng với sự phát triển của hoạt động thông tin
- thư viện, dịch vụ thông tin - thư viện ngày càng đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin của NDT
Nhu cầu thông tin và nhu cầu trao đổi thông tin thuộc nhóm nhu cầu tinh thần Có nhu cầu chỉ cần ở mức giúp người sử dụng trao đổi được thông tin, trong
Trang 21khi đó, có nhu cầu, ngoài việc trao đổi thông tin, người sử dụng dịch vụ còn cần được cung cấp những thông tin cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của họ
Theo từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt, “ Dịch vụ thư
viện ( library service) là một từ chung dùng để chỉ tất cả các hoạt động cũng như chương trình được thư viện cung cấp để đáp ứng nhu cầu về thông tin của cộng đồng độc giả ”
“ Dịch vụ thông tin ( information service) là dịch vụ cá nhân trực tiếp do
nhân viên của ban tham khảo của thư viện cung cấp cho độc giả trong tiến trình truy tìn thông tin của họ.”
Theo Bách khoa toàn thư quốc tế về thư viện và thông tin học (International encyclopedia of library and information science), “Dịch vụ thông tin bao gồm lý thuyết và thực tiễn của việc cung cấp những dịch vụ giúp kết nối những người tìm kiếm thông tin với các nguồn tin.”
Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn thì dịch vụ thông tin - thư viện được định nghĩa: “Dịch vụ thông tin -
thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin và trao đối thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung.”
Thư viện là thiết chế văn hoá, giáo dục hoạt động phi lợi nhuận nên dịch vụ thông tin - thư viện không đặt trọng tâm vào mục tiêu thu nhiều lợi nhuận như hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực kinh doanh Mục tiêu quan trong nhất của dịch vụ thông tin - thư viện là giúp các cơ quan thông tin - thư viện nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin và giúp NDT tiếp cận, sử dụng có hiệu quả thông tin vào các hoạt động của mình
Một số đặc tính của dịch vụ thông tin thông tin - thư viện
* Tính vô hình
Khác với sản phẩm, dịch vụ thông tin không tồn tại dưới dạng vật phẩm cụ thể, không nhìn thấy được, nắm bắt được hay nhận diện được bằng giác quan Chính vì vậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ thông tin , cần phải tạo cho
Trang 22NDT biết tiềm năng của nó bằng cách cung cấp cho họ một cảm giác hữu hình về các dịch vụ đó
* Tính không đồng nhất
Dịch vụ thông tin gắn chặt với cá nhân/tập thể cung cấp dịch vụ Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng,…) và hơn thế nữa đối với cùng một cá nhân, chất lượng dịch vụ nhiều khi cũng thay đổi theo thời gian
* Tính không thể tách rời/chia cắt
Thông thường để thực hiện một dịch vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu được kết quả mà người mua dịch vụ mong muốn Ví dụ, trong dịch vụ tìm kiếm thông tin, để có thể người cung cấp thông tin cần phải thực hiện một số bước sau đây:
1 Phân tích nhu cầu
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm thông tin - thư viện và dịch vụ thông tin - thư viện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Sản phẩm thông tin - thư viện là một trong những tiền đề để cơ quan thông tin - thư viện triển khai và phát triển các dịch
vụ thông tin - thư viện khác nhau Sản phẩm thông tin - thư viện chính là một trong những nguồn khai thác thông tin quan trọng và tin cậy nhất của của cơ quan thông tin - thư viện bởi vì sản phẩm là kết quả của quá trình xử lý thông tin do các cán bộ thông tin - thư viện thực hiện Các sản phẩm có giá trị cao như các bài tóm tắt, chú giải, tổng luận, các CSDL chứa các thông tin tư vấn, đánh giá Chất lượng và sự đa
Trang 23dạng của sản phẩm thông tin - thư viện có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ thông tin - thư viện
Các cơ quan thông tin - thư viện muốn triển khai các dịch vụ cung cấp thông tin phải dựa trên các sản phẩm thông tin - thư viện như: hệ thống mục lục, thư mục, các CSDL, các ấn phẩm thông tin….của chính mình hoặc của các cơ quan thông tin
- thư viện khác
Tổ chức tốt các dịch vụ thông tin - thư viện sẽ đưa các sản phẩm thông tin - thư viện đến với người dùng một cách nhanh chóng và thuận tiện Từ đó, mức độ khai thác sản phẩm thông tin của NDT sẽ nhiều hơn, góp phần phát huy hiệu quả và nâng cao giá trị của sản phẩm thông tin - thư viện
Thông qua việc thực hiện các nhóm dịch vụ như nhóm dịch vụ cấp thông tin, nhóm dịch vụ hỗ trợ trao đổi thông tin và nhóm dịch vụ tư vấn thông tin, cơ quan thông tin - thư viện có thể giới thiệu đến đông đảo NDT những sản phẩm thông tin - thư viện mà mình đã xây dựng được
Dịch vụ thông tin - thư viện còn là kênh nhân thông tin phản hồi từ phía NDT, giúp cho cơ quan thông tin - thư viện có cơ sở đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện của mình để đáp ứng tốt hơn NCT ngày càng đa dạng và phức tạp của NDT
Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện chặt chẽ và có tính tương tác cao như vậy nên việc đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ hệ thống sản phẩm, dịch vụ của cơ quan thông tin - thư viện là hết sức cần thiết
1.3 Đặc điểm nguồn thông tin và cơ sở vật chất của trường Đại học Thuỷ lợi
Hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện dựa trên trên các yếu tố cơ bản là: nguồn lực thông tin, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và NDT Các yếu tố này đều có vai trò quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ, chi phối đến hiệu quả mọi hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện Nguồn lực thông tin chính là yếu tố nguyên liệu đầu vào cho việc tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin Nắm vững bản chất, thành phần, quá trình hình thành và phát triển hướng tới việc xây dựng được nguồn lực thông tin thích hợp, bao quát, đầy đủ, cập nhật là điều kiện cần thiết
Trang 24để cơ quan thông tin - thư viện triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện đáp ứng được nhu cầu của NDT
Xây dựng nguồn lực thông tin là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của thư viện bất cứ cơ quan thông tin - thư viện nào, Thư viện Đại học Thuỷ lợi cũng không nằm ngoại lệ Bằng nguồn kinh phí do trường cấp, hàng năm Thư viện duy trì việc bổ sung các loại tài liệu liên quan đến chuyên ngành thuỷ lợi và tài nguyên nước dưới hình thức đặt mua tại các nhà xuất bản và các nhà sách lớn trên địa bàn
Hà Nội Thư viện là bộ phận được nhà trường giao nhiệm vụ tập hợp các bản thảo giáo trình, tài liệu giảng dạy do giáo viên trong trường biên soạn và phối hợp với các nhà xuất bản để xuất bản sách và tài liệu giảng dạy phục vụ cho các đối tượng bạn đọc trong và ngoài trường Từ năm 2001 đến nay, Thư viện đã tổ chức xuất bản được hơn 100 đầu sách và giáo trình với số lượng hàng trăm nghìn bản
Ngày nay, cùng với quá trình mở cửa thị trường và hội nhập là sự xuất hiện
và phát triển mạnh mẽ của các loại hình tài liệu được cung cấp bởi nhiều nguồn khác nhau Ngoài nguồn thông tin được bổ sung theo kinh phí của Nhà trường, Thư viện là đơn vị thụ hưởng từ các dự án hỗ trợ phát triển như: dự án Hà Lan, DANIDA của Chính phủ Vương quốc Đan Mạch, Quỹ Châu Á…và từ các tổ chức,
cá nhân tài trợ trong và ngoài nước khác Hiện nay ngoài số sách tiếng Nga và tiếng Trung Quốc, kho sách ngoại văn ( chủ yếu bằng tiếng Anh) của Thư viện đã lên đến hơn 2000 đầu và nhiều tạp chí chuyên ngành có giá trị
Bên cạnh các nguồn thông tin trên, Thư viện trường Đại học Thuỷ lợi còn một nguồn tin vô cùng quan trọng khác, đó chính là nguồn thông tin nội sinh Nguồn tin này được hình thành chính trong quá trình phát triển của trường Nó bao gồm các kết quả nghiên cứu, báo cáo khoa học, luận án, kỷ yếu hội nghị….Là một trường đại học lớn, nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo mà còn tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai nhiều các công trình trọng điểm của Quốc gia trong lĩnh vực thuỷ lợi và tài nguyên nước Những tài liệu này được bổ sung vào thư viện và sau khi được xử lý, nó trở thành bộ sưu tập đặc biệt có giá trị
Trang 25Vốn tài liệu và cơ sở vật chất kỹ thuật là những yếu tố quan trọng của mỗi cơ
quan thông tin - thư viện Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và đóng
vai trò quyết định trong việc hình thành các dịch vụ thông tin - thư viện Vì việc xây
dựng và phát triển sản phẩm thông tin - thư viện được thực hiện dựa vào các nội
dung:
- Mở rộng đối tượng xử lý thông tin
- Xử lý sâu vào nội dung thông tin của đối tượng
quen và tập quán sử dụng và khai thác thông tin của NDT Việc đa dạng hoá và phát triển các sản phẩm thông tin - thư viện gắn liền với
việc đa dạng hoá và phát triển các dịch vụ thông tin - thư viện tương ứng
Bảng 1: Vốn tài liệu của Thư viện Đại học Thuỷ lợi
Ngoài ra, Thư viện hiện có hàng trăm đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà
nước và các báo cáo khoa học…Hàng năm, nguồn tài liệu này được bổ sung liên tục
kế hoạch đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường
Về cơ cấu nội dung, do đặc thù là trường đại học khối kỹ thuật, đối tượng sử
dụng là các cán bộ, giáo viên và sinh viên nên hầu hết sách và tạp chí thuộc về khoa
học kỹ thuật và khoa học tự nhiên phục vụ mục đích dạy và học của nhà trường Chỉ
có một số ít loại sách về khoa học xã hội như các sách về chính trị, luật pháp và
Trang 26sách về học và dạy ngoại ngữ, không có các tài liệu thuộc thể loại văn học, nghệ thuật
*Về cơ sở vật chất
Thư viện Đại học Thuỷ lợi hiện có trụ sở nằm trong khuôn viên của trường tại 175 phố Tây Sơn, quận Đống Đa, Hà Nội với tổng diện tích sử dụng khoảng 200m2 được bố trí, sắp xếp như sau:
01 kho giáo trình 195m2
02 kho tài liệu tham khảo: Kho ngoại văn 65m2 và kho mở 410m2
01 phòng khai thác tài liệu đa phuơng tiện 200m2
04 phòng đọc và tự học của sinh viên với tổng diện tích 585 m2 có
sức chứa khoảng 800 chỗ ngồi
04 phòng làm việc của cán bộ thư viện, phòng máy chủ, phòng họp… Các phòng làm việc được trang bị đầy đủ máy tính nối mạng LAN và Internet và các thiết bị ngoại vi như máy in, máy scanner, đầu đọc mã vạch Hệ thống máy chủ bao gồm 03 chiếc cấu hình tương đối mạnh, được cài đặt các phần mềm ứng dụng và phần mềm quản lý thư viện Libol Hệ thống máy tra cứu gồm 20 máy trạm terminal được kết nối với máy chủ và được bố trí ở các vị trí thuận lợi cho việc tra cứu
1.4 Người dùng tin và nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin tại trường Đại học Thuỷ lợi
Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là một hệ thống rất năng động, luôn luôn phát triển Chúng phục thuộc vào nhiều yếu tố có tính đặc trưng, trong đó yếu
tố NDT và nhu cầu sử dụng thông tin là cở sở định hướng cho cơ quan thông tin - thư viện trong quá trình tổ chức xây dựng và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Để sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đạt chất lượng cao
và hiệu quả thì cơ quan thông tin - thư viện phải nắm bắt được đặc điểm NDT và nhu cầu sử dụng thông tin để đưa ra các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của họ
Trang 27Về mục đích sử dụng thông tin, NDT trong trường Đại học Thuỷ lợi sử dụng thông tin phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động cơ bản là hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học Hoạt động đào tạo bao gồm đào tạo đại học và đào tạo sau đại học Ở mỗi bậc đào tạo đều có sự gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động giảng dạy, nghiên cứu của người dạy và hoạt động học tập, nghiên cứu của người học Hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm quá trình nghiên cứu và chuyển giao kết quả nghiên cứu trong trường đại học cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng Tất
cả các hoạt động trên đều cần sử dụng thông tin rất nhiều và thường xuyên Chính
từ các quá trình sử dụng thông tin đồng thời cũng sản sinh ra thông tin mới cho xã hội
1.4.1 Các nhóm Người dùng tin
Căn cứ vào việc thực hiện nhiệm vụ, chức năng của trường Đại học Thuỷ lợi
có thể chia đối tượng NDT thành các nhóm như sau:
Nhóm1: Cán bộ lãnh đạo, quản lý
Nhóm này gồm các thành phần như: Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Phòng, Khoa, Ban, Trung tâm Phần lớn cán bộ quản lý của Đại học Thuỷ lợi ngoài công việc quản lý họ còn tham gia công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học Nhóm này số lượng không lớn nhưng rất quan trọng, họ là những người xây dựng chiến lược phát triển của trường Đại học Thuỷ lợi Những thông tin họ cần là để tổ chức, điều hành và quản lý tốt mọi hoạt động của trường Đối với nhóm này, thông tin là công cụ để quản lý, giúp cho việc ra quyết định nên thông tin cung cấp cho họ phải bao quát, cô đọng, kịp thời Hình thức cung cấp thường là những bản tin tóm tắt, tin vắn, tổng luận phân tích Phương thức phục vụ chủ yếu cho nhóm này tuỳ thuộc vào những yêu cầu cụ thể
Ngoài những thông tin về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì nhóm này cũng rất cần đến những thông tin về các lĩnh vực chuyên môn vì phần lớn cán bộ quản lý là giảng viên kiêm nhiệm
Nhóm 2: Giáo viên, cán bộ nghiên cứu
Trang 28Đây là đối tượng phục vụ quan trọng của thư viện đại học nói chung và thư viện Đại học Thuỷ lợi nói riêng, giảng viên là nhóm NDT thường xuyên phải sử dụng thông tin, đặc biệt là các thông tin mới để phục vụ cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu Ngày nay, tiến trình đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và học tập của đội ngũ giảng viên Ở vị trí trung tâm của sinh viên trong hoạt động đào tạo, giảng viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy ở bậc đại học nhằm giúp sinh viên tiếp cận được với những kiến thức mới và kỹ năng học tập hiệu quả Do đó, sự quan tâm nghiên cứu, nắm bắt và đáp ứng một cách chủ động, kịp thời thường xuyên nhu cầu
sử dụng thông tin của giảng viên là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của thư viện để có thể cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện phù hợp với nhu cầu của họ
Nhóm người dùng này cũng là chủ thể sản sinh ra nguồn tài liệu xám bao gồm: luận án, đề cương và giáo trình các bài giảng, các kết quả nghiên cứu, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học, các nguồn thông tin điều tra cơ bản Đây là nguồn tin phản ánh tiềm lực, thành tựu đào tạo của trường Các loại hình sản phẩm và dịch vụ phát triển trên cơ sở nguồn thông tin này đóng vai trò rất quan trọng đối với thư viện trong việc tạo ra các nguồn thông tin có giá trị gia tăng cao
Nhóm 3:Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
Đây là nhóm người dùng tin có số lượng đông nhất, họ không chỉ tiếp thu kiến thức do giáo viên truyền đạt mà từ những kiến thức nền tảng đó họ phải tích cực, chủ động tìm kiếm những thông tin liên quan nhằm phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, áp dụng những kiến thức vào việc giải quyết những vấn đề lý luận
và thực tiễn mà xã hội đang đặt ra Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học, họ
là những người đã tốt nghiệp đại học và đang công tác ở các địa phương trên cả nước Thông tin họ cần là những thông tin có tính chất chuyên ngành, phù hợp với chương trình đào tạo, đề tài mà họ đang thực hiện
Trang 29Nhiệm vụ hàng đầu của sinh viên là học tập để hoàn thành tốt chương trình đào tạo của ngành học, ngoài ra sinh viên còn thực hiện các bài tập lớn, tham gia các kỳ thi olimpic, thực hiện các đề tài nghiên cứu… nhằm hỗ trợ cho quá trình học tập đạt kết quả cao và rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho công việc sau này của họ
Do vậy, NCT của sinh viên chịu sự chi phối rất lớn bởi hoạt động học tập, nghiên cứu của họ theo chương trình riêng cho từng ngành của trường và định hướng nghề nghiệp của họ sau khi ra trường
Ngoài việc sử dụng thông tin để phục vụ cho mục đích học tập và tự nghiên cứu, sinh viên còn sử dụng thông tin cho mục đích giải trí nhằm nâng cao đời sống tinh thần của mình
1.4.2 Nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin tại trường Đại học Thuỷ lợi
Để làm cơ sở cho quá trình phân tích nhu cầu, đánh giá hiện trạng, qua đó đề xuất các giải pháp phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện ở trường Đại học Thuỷ lợi, việc khảo sát đã được tiến hành với sinh viên và giáo viên trong phạm vi thời gian 01 tháng theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Do thời gian
có hạn và số sinh viên rất đông với nhiều cơ sở và hình thức đào tạo nên việc khảo sát chỉ được tiến hành đối với những sinh viên là độc giả của Thư viện trường Số lượng khảo sát là 100 sinh viên, học viên cao học và 70 cán bộ, giáo viên Tổng số phiếu phát ra là 170 phiếu, số phiếu đạt yêu cầu thu về là 153 phiếu trong đó 92 phiếu của sinh viên và 61 phiếu của cán bộ, giáo viên
Nội dung khảo sát (xem phiếu khảo sát ở phụ lục) phản ánh nhu cầu và
những nhận xét về sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng như sự kỳ vọng của người sử dụng thông tin vào các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện ở trường Đại học Thuỷ lợi
Do mục đích sử dụng thông tin của NDT trong trường đại học đa dạng nên nội dung thông tin đáp ứng yêu cầu của họ cũng rất phức tạp NDT cần thông tin về nhiều chuyên ngành khác nhau tương ứng với chương trình đào tạo Không chỉ những thông tin cơ sở của nhiều ngành mà còn đòi hỏi thông tin chuyên sâu về các chuyên ngành mà họ đang nghiên cứu, học tập, làm việc và những chuyên ngành
Trang 30liên quan Họ không chỉ cần nhưng thông tin hồi cố từ vốn tài liệu như sách, báo, tạp chí…mà còn cần những thông tin có tính cập nhật từ các nguồn khác nhau nhau như các tạp chí khoa học luận văn, luận án, CSDL…dưới các dạng: thông tin chỉ dẫn, thông tin dữ kiện, thông tin toàn văn
Trước đây, NDT thói quen khai thác và sử dụng thông tin qua bộ máy tra cứu truyền thống của thư viện Ngày nay, nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông vào hoạt động thông tin - thư viện, NDT tăng cường khai thác thông tin từ xa
và sử dụng thông tin số hoá trong các CSDL chuyên ngành trên internet Số lượng người sử dụng internet tăng lên rất nhanh chóng vì nó chứa lượng thông tin rất lớn
về nhiều lĩnh vực, luôn được cập nhật và có thể khai thác mọi nơi, mọi lúc
Trình độ khai thác và sử dụng thông tin của NDT trong trường Đại học Thuỷ lợi cũng rất đa dạng Từ những sinh viên năm thứ nhất mới làm quen với việc khai thác và sử dụng thông tin đến những người đã có kỹ năng khai thác và sử dụng thuần thục như cán bộ, giáo viên
Sự đa dạng về thành phần, trình độ của NDT và sự phức tạp trong NCT của các nhóm NDT trường Đại học Thuỷ lợi đòi hỏi thư viện phải phát triển nhiều sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện nhằm giúp NDT tìm kiếm và khai thác thông tin có hiệu quả Thông qua các sản phẩm thông tin - thư viện như: hệ thống mục lục, thư mục, tạp chí tóm tắt, các CSDL giúp NDT nhanh chóng tìm kiếm được những thông tin phù hợp với nhu cầu của mình Các dịch vụ thông tin như: dịch vụ phục vụ đọc tại chỗ, dịch vụ cho mượn về nhà, dịch vụ tra cứu tin, phổ biến thông tin có chọn lọc… phục vụ kịp thời mọi yêu cầu tin của giáo viên sinh viên giúp họ thực hiện các hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học đạt kết quả cao
Trong điều kiện khối lượng thông tin được tăng lên một cách nhanh chóng và NDT gặp rất nhiều trở ngại trong việc xác định chính xác thông tin phù hợp với NCT của mình thì các sản phẩm và dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tìm kiếm, lựa chọn, đánh giá những thông tin cần thiết Những sản phẩm và dịch
vụ này có ý nghĩa đặc biệt là đối với những NDT thường xuyên phải khai thác thông tin trên internet Vì tuy thông tin trên internet tuy phong phú, tiện lợi song
Trang 31phần lớn những thông tin tri thức này chưa hoàn hảo, đúng sai chưa đuợc xác định
Sự bùng nổ của thông tin và tri thức và những áp lực đổi mới giáo dục của trường đòi hỏi thư viện Đại học phải có cách thức mới trong việc tạo lập, quản lý và phổ biến thông tin tri thức
Trang 32CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM
VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN CỦA THƯ VIỆN ĐẠI HỌC THUỶ LỢI 2.1 Phương thức tạo lập và cung cấp sản phẩm thông tin - thư viện
Việc phân tích hiện trạng các sản phẩm thông tin - thư viện của Thư viện Đại học Thuỷ lợi được tiến hành dựa trên thông tin thu được qua kết quả quan sát thực
tế quá trình tạo lập và khảo sát ý kiến đánh giá của NDT Kết quả đánh giá hiện trạng các sản phẩm là cơ sở quan trọng để đề xuất giải pháp tăng cường chất lượng
và phát triển sản phẩm thông tin - thư viện của Thư viện Đại học Thuỷ lợi
Sản phẩm thông tin - thư viện được đánh giá dựa trên tính chuẩn mực, sự đa dạng, và mức độ chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tổ chức xây dựng sản phẩm Tuỳ theo những sản phẩm cụ thể mà những tiêu chí đánh giá chung này sẽ được phân chia chi tiết hơn để đảm bảo cho việc đánh giá chính xác
Sản phẩm thông tin - thư viện là kết quả của một chuỗi các hoạt động thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin của một cơ quan thông tin - thư viện thực hiện Sản phẩm thông tin - thư viện của Thư viện Đại học Thuỷ lợi do Bộ phận xử lý nghiệp
vụ thực hiện
Tài liệu nhập về thư viện, sau khi vào sổ tổng quát và sổ đăng ký cá biệt sẽ được đưa vào xử lý nghiệp vụ theo một quy trình khép kín Công đoạn đầu tiên là đóng dấu của thư viện vào trang tên sách và trang 17 nếu là sách và ghi các thông tin: ký hiệu phân loại, từ khoá, tóm tắt…vào một bản khai (worksheet dữ liệu) Hiện tại, thư viện Đại học có 3 loại bản khai dành cho sách, tạp chí và luận văn luận án
Số lượng các trường dữ liệu trên bản khai dựa trên cơ sở tham khảo của các cơ quan thông tin và thư viện khác
Để kiểm soát thư mục và cung cấp thông tin cho NDT, thư viện Đại học Thuỷ lợi đã tiến hành thường xuyên công việc biên mục cho các tài liệu Biên mục
là một công đoạn nhằm ghi trên một phiếu mục lục thủ công hay trên một biểu ghi thư mục trực tuyến các nét đặc trưng bên ngoài của một tài liệu và xác định nội
dung của tài liệu đó Thư viện mô tả một tài liệu cho người sử dụng dưới hai
Trang 33hình thức: mô tả thư mục hay còn gọi là biên mục mô tả và mô tả nội dung
Sau khi các dữ liệu được nhập vào máy tính thông qua phân hệ biên mục của phần mềm quản lý thư viện Libol theo khổ mẫu Marc 21, dữ liệu sẽ được lưu trong
ổ cứng của hệ thống máy chủ và được sử dụng để in ấn theo các yêu cầu khác nhau theo các mẫu danh mục hay mẫu phiếu mục lục được lập sẵn tích hợp trong phần mềm Libol Bằng các tính năng lọc dữ liệu của phần mềm đem lại khả năng tuỳ biến cao cho người sử dụng, cán bộ thư viện có thể in ra theo yêu cầu theo các dấu hiệu khác nhau để tạo ra các bộ phiếu mục lục hay các bản thư mục một cách dễ dàng và thuận tiện
Đối với độc giả, thông qua giao diện của phân hệ tra cứu, độc giả cũng dễ dàng tìm được loại tài liệu mình cần thông qua các dấu hiệu và điều kiện tìm kiếm khác nhau Sau khi tìm được tài liệu mình cần, độc giả chỉ đánh dấu tài liệuvà khai báo số thẻ của mình, yêu cầu sẽ được chuyển đến bàn thủ thư Sau đó độc giả sẽ đến
bộ phận cho mượn để làm các thủ tục mượn
Đối với việc xây dựng CSDL độc giả, thư viện đã phối hợp với Phòng Quản
lý sinh viên của trường để sử dụng chung dữ liệu về sinh viên Hàng năm, các dữ liệu này sẽ được Phòng Quản lý sinh viên giao cho thư viện ngay sau khi các sinh viên nhập trường Dữ liệu bao gồm các thông tin cá nhân về độc giả được gắn kèm với file ảnh để phục vụ cho mục đích in thẻ của thư viện Hoặc cũng có thể thư viện phải thực hiện công đoạn quét ảnh bằng máy scanner của độc giả để nhập vào CSDL Hiện nay, thẻ do thư viện in ra cho sinh viên sử dụng trên chất liệu plastic có giá trị thay thế thẻ sinh viên Sinh viên dùng thẻ này để thực hiện các dịch vụ của thư viện đồng thời cũng là thẻ để sinh viên sử dụng các dịch vụ khác
Hiện tại thư viện Đại học Thuỷ lợi sử dụng phần mềm quản lý thư viện Libol
6.0 và các máy trạm đặt tại thư viện không có ổ cứng mà sử dụng bootrom từ máy chủ:
- Các ứng dụng sử dụng tại các máy trạm đơn giản, cùng truy cập vào một cơ
sở dữ liệu đặt tại máy chủ Mô hình này không có phần mềm máy chủ quản lý CSDL nên hạn chế việc tra cứu CSDL, không thể mở rộng và đòi hỏi gần như trang
Trang 34bị mới hoàn toàn hệ thống khi tiến hành liên kết với thư viện thành viên thuộc cơ sở
2 của trường và các cơ quan thông tin - thư viện bên ngoài
Hình 2: Sơ đồ hệ thống máy chủ của Thư viện Đại học Thuỷ lợi
- Các ứng dụng sử dụng một phần mềm máy chủ quản lý CSDL chung đặt tại một máy chủ Hệ thống này tăng số người sử dụng tại thư viện, tuy vậy hạn chế về dữ liệu và dịch vụ có thể cung cấp vì chỉ giải quyết được các dữ liệu sẵn có trong các CSDL tạo lập trước Việc nâng cấp liên thông là không khả thi vì không thể cho
người dùng từ xa kết nối vào CSDL máy chủ cũng như không thể thay đổi hệ
thống để cung cấp dịch vụ mới Ngoài ra phần mềm Libol 6.0 hiện nay thư viện Đại học Thuỷ lợi đang sử dụng chưa đạt chuẩn vì thiếu hẳn chức năng quản lý dữ liệu điện tử
Trang 35Xét theo cấu trúc hệ thống thì Thư viện Đại học Thuỷ lợi hiện có hai loại mục lục: mục lục chữ cái và mục lục phân loại Hệ thống mục lục này là sản phẩm của quá trình xử lý tài liệu, nó cũng phản ánh toàn bộ quá trình phát triển của thư viện Trước đây, hệ thống này được các cán bộ thư viện xây dựng bằng phương pháp thủ công dưới hình thức viết tay, tiếp đó là được in ra từ CSDL thư mục bằng phần mềm quản lý tư liệu CDS/ISIS Mục lục phân loại dựa trên khung phân loại BBK và khung phân loại 19 lớp do Thư viện Quốc Gia Việt Nam biên soạn Số lượng phiếu mục lục của Thư viện đã có hơn 10.000 phiếu được bố trí để tra cứu tài liệu tại kho đóng Việc phân loại tài liệu và tổ chức kho mở của thư viện hiện nay
sử dụng khung phân loại DDC
Hệ thống mục lục là một loại sản phẩm quan trọng, thông qua các phiếu mục lục, NDT xác định được vị trí lưu giữ tài liệu về chủ đề, môn loại khoa học mà họ quan tâm Kết hợp với bộ máy tra cứu, mục lục giúp cho việc lựa chọn tài liệu một cách chính xác và đầy đủ
Mặc dù Thư viện Đại học Thuỷ lợi cung cấp mục lục trực tuyến thông qua hệ thống máy tra cứu sử dụng trong phạm vi thư viện nhưng đồng thời vẫn duy trì bộ máy tra cứu truyền thống bởi lẽ nó vẫn có những ưu thế riêng và phù hợp trong điều kiện hiện tại
Việc duy trì hệ thống mục lục phiếu vẫn là cần thiết trong khi chưa tổ chức được việc xây dựng CSDL hồi cố tài liệu ở cho kho đóng Qua khảo sát thăm dò cho thấy trong số 158 phiếu thăm dò đã có 33% ý kiến vẫn sử dụng sản phẩm này
để tra cứu thông tin
*Ưu điểm:
Hệ thống mục lục của Thư viện Đại học Thuỷ lợi trong nhiều thập niên qua
là công cụ tra cứu đắc lực của bạn đọc Thư viện đã sử dụng hệ thống này ngoài việc để tuyên truyền, giới thiệu bộ sưu tập tài liệu cho bạn đọc còn là công cụ phục
vụ cho công tác bổ sung, thanh lọc tài liệu
Trong khi chưa tiến hành xây dựng được các CSDL hồi cố thì hệ thống mục lục phiếu vẫn là công cụ tìm tin rất tốt Mặt khác, trong tình huống có sự trục trặc về
Trang 36hệ thống máy tính hoặc mất điện, bạn đọc vẫn có thể tìm kiếm được thông tin hoặc tài liệu mình cần
*Nhược điểm
Hệ thống mục lục của Thư viện Đại học Thuỷ lợi do chưa xây dựng được hồ
sơ tiêu đề tác giả chuẩn nên có sự không thống nhất trong các phiếu mô tả tên tác giả cá nhân người Việt Nam
Chưa có bộ phiếu mục lục chủ đề ( subject heading) do chưa áp dụng khung
đề mục chủ đề vào việc định chủ đề tài liệu
Bộ phiếu mục lục được sắp xếp theo khung phân loại cũ nên việc hiệu chỉnh gặp khó khăn Việc quản lý bộ phiếu mục lục cũng phức tạp, cán bộ thư viện phải thường xuyên sửa chữa các lỗi về phân loại và biên mục, sắp xếp lại các phích xếp sai chỗ, làm lại các phích hỏng, san phích bổ sung các phích tiêu đề…Có trường hợp độc giả muốn độc quyền mượn một tài liệu nên đã giật đứt phích ra khỏi hộp và trường hợp mất phích dẫn đến tài liệu trên giá không được sử dụng
2.1.2 Thư mục in
Thư mục là sản phẩm của hoạt động thư mục: các công trình tập hợp các thông tin, tài liệu đã được chọn lọc, xử lý nhằm cung cấp các nguồn tài liệu cho người sử dụng Đối tượng của thư mục là tài liệu và người sử dụng Thư mục chú trọng khai thác triệt để kho tài liệu bằng những phương pháp riêng, vd: viết dẫn giải, tóm tắt, tổng quan hay các phương pháp cấu trúc riêng theo từng đề tài Như vậy, hoạt động thư mục bao gồm hoạt động thông tin thư mục và hoạt động tra cứu thư mục
Trước đây, Thư viện Đại học Thuỷ lợi biên soạn các loại hình thư mục theo quy tắc mô tả ISBD (International Standard Bibliographic Description ) ISBD là một tập hợp các quy tắc do Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Thư viện (IFLA) xây dựng để mô tả nhiều dạng tư liệu thư viện khác nhau trong quá trình biên mục Những quy tắc này hệ thống hóa việc mô tả thông tin thư mục của một ấn phẩm thành các vùng như sau: Vùng 1: Nhan đề và thông tin trách nhiệm Vùng 2: Ấn bản Vùng 3: Các thông tin đặc thù của tư liệu (ví dụ tỷ lệ xích của bản đồ hay
Trang 37trường độ của một băng ghi âm) Vùng 4: Thông tin xuất bản và phát hành Vùng 5:
Mô tả vật lý (ví dụ: số trang của cuốn sách) Vùng 6: Thông tin tùng thư Vùng 7: Ghi chú Vùng 8: Các mã số chuẩn (ISBN, ISSN)
Hiện nay, thư viện Đại học Thuỷ lợi sử dụng bộ quy tắc biên mục Anh - Mỹ AACR2 làm chuẩn biên soạn các sản phẩm thư mục Các quy tắc AACR2 được Hiệp hội Thư viện Mỹ, Hiệp hội Thư viện Canada và một nhóm các chuyên gia về thông tin và thư viện phối hợp phát hành AACR2 được xây dựng cho mục đích tạo lập các sản phẩm thư mục và các biểu ghi biên mục của các thư viện viện nói chung Các quy tắc này hướng dẫn việc mô tả và định vị cho mọi dạng tư liệu thông thường của thư viện
Thư mục giới thiệu sách mới được thư viện biên soạn thường xuyên Những thông tin thư mục này được giới thiệu trên trang web của trường kèm với hình ảnh
và tóm tắt của ấn phẩm Ngoài ra việc biên soạn các thư mục được tiến hành khi có yêu cầu đột xuất của NDT Khi đó, nhân viên thư viện sẽ trích xuất các thông tin trong CSDL thư mục và in ra theo yêu cầu
*Ưu điểm:
Hiện nay Thư viện Đại học Thuỷ lợi đã ứng dụng tin học hoá vào việc biên soạn thư mục Từ cơ sở dữ liệu, thông tin được trích xuất và in ra theo các điểm truy cập khác nhau Trong điều kiện khối lượng xuất bản phẩm trên thế giới và trong nước về chuyên ngành thuỷ lợi, tài nguyên nước ngày một tăng, các loại hình thư mục do thư viện đại học biên soạn đã giúp cán bộ nghiên cứu và giáo viên phần nào nắm bắt được những thông tin mới nhất và lĩnh vực ngành mà họ quan tâm
Thư viện Đại học Thuỷ lợi đang dần được trang bị các phương tiện tự động hoá trong các khâu công tác của mình như thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin, tạo hiệu quả phục vụ ngày càng cao
* Nhược điểm:
Trong xu thế hợp tác liên kết và chia sẻ nguồn lực thông tin ngày nay, việc biên soạn các bản mục lục liên hợp, trao đổi thư mục giữa các thư viện là cần thiết Những vấn đề hợp tác chia sẻ chưa được quan tâm một cách thích đáng, chưa có sự
Trang 38phối hợp với các thư viện khác để biên soạn các thư mục liên hợp
Thư viện Đại học Thuỷ lợi chưa bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác thư mục Bởi vậy, công tác biên soạn các thư mục chuyên đề và phục vụ các đề tài nghiên cứu khoa học vẫn còn bỏ ngỏ
Sản phẩm thư mục in còn nghèo nàn về loại hình, chủ yếu chỉ biên soạn thư mục thông báo sách mới
2.1.3 Các cơ sở dữ liệu
Hiện nay Thư viện Đại học Thuỷ lợi đang sử dụng phần mềm quản lý thư viện Libol 6.0 do công ty tin học Tinh Vân cung cấp Phân hệ biên mục của phần mềm này có khả năng tổ chức các dữ liệu theo khổ mẫu MARC 21 và xuất, nhập các biểu ghi theo chuẩn ISO 2709
Sự phát triển của mẫu ghi mục lục đọc máy cho phép ghi các dữ liệu thư mục
và chuyển nó từ thư viện này đến thư viện khác làm tăng khả năng phối hợp sử dụng thông tin và giảm bớt công tác biên soạn mục lục cho tài liệu nhập vào từng thư viện riêng Thư viện Đại học Thuỷ lợi sử dụng giao thức Z39.50 được tích hợp sẵn trong phần mềm để tải các biểu ghi đã được biên mục sẵn của một số thư viện lớn ở nước ngoài để xây dựng CSDL thư mục sách ngoại văn được bổ sung vào
Trong khi vẫn chưa có một khung đề mục chủ đề bằng tiếng Việt chính thức được áp dụng ở Việt Nam nên Thư viện Đại học Thuỷ lợi vẫn sử dụng bộ từ khoá
do Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia biên soạn để làm từ khoá cho các biểu ghi biên mục cho tất cả các loại tài liệu
Hiện tại, các CSDL của Thư viện Đại học Thuỷ lợi do thư viện tự xây dựng Trước đây CSDL thư mục được xây dựng trên phầm mềm quản lý tư liệu CDS/ISIS Do nhược điểm của phần mềm CDS/ISIS là hệ quản trị CSDL và phần giao tiếp không tách biệt nhau, quá phức tạp để sử dụng nhưng tính năng thì hạn chế nên từ năm 2002 Thư viện Đại học Thuỷ lợi đã chuyển sang sử dụng phần mềm Libol để xây dựng các CSDL và dùng hệ quản trị CSDL SQL để quản lý Hệ thống các máy trạm phục vụ tra cứu không lắp ổ cứng mà sử dụng bootrom từ máy chủ nên rất thuận tiện cho việc bảo trì và nâng cao an toàn dữ liệu
Trang 39Tên CSDL Số lượng biểu ghi
Bảng 2: Danh mục các cơ sở dữ liệu của Thư viện Đại học Thuỷ lợi
Ngoài ra, nhằm hiện đại hoá dịch vụ mượn trả tài liệu, Thư viện còn xây dựng được CSDL độc giả gồm hơn 5000 biểu ghi Thẻ độc giả được in trực tiếp trên CSDL bằng chất liệu plastic có gắn chip để kiểm soát vào, ra thư viện và mã vạch
để kiểm soát quá trình mượn, trả tài liệu
2.2 Các hình thức cung cấp dịch vụ thông tin - thư viện của thư viện Đại học Thuỷ lợi
Dịch vụ thông tin - thư viện là hoạt động cơ bản nhất mà thư viện Đại học Thuỷ lợi luôn chú trọng thực hiện nhằm giúp NDT nhận được những thông tin phù hợp với nhu cầu của mình Hiện tại, Thư viện Đại học Thuỷ lợi triển khai cung cấp các dịch vụ sau:
2.2.1 Dịch vụ đọc tại chỗ
Bạn đọc sẽ sử dụng thẻ thư viện để vào thư viện qua cửa kiểm soát và tự do lựa chọn các phòng đọc của thư viện Nếu lựa chọn kho tài liệu được tổ chức là kho đóng thì bạn đọc sẽ tra tìm tài liệu thông qua hệ thống mục lục phiếu hay các máy tra cứu Có hai hình thức mượn thủ công thông qua phiếu mượn và mượn tự động thông qua modul mượn tả của phần mềm quản lý thư viện Theo hình thức thủ công, sau khi điền thông tin và ghi số đăng ký cá biệt của tài liệu vào phiếu mượn, bạn đọc sẽ đưa phiếu mượn cho thủ thư và nhận tài liệu sau khi để lại thẻ thư viện và phiếu mượn Sau khi đọc xong tài liệu, bạn đọc đưa tài liệu cho thủ thư và thủ thư
sẽ đối chiếu phiếu mượn với tài liệu được trả sau đó giao lại thẻ thư viện cho bạn đọc Với hình thức mượn tự động, sau khi độc giả nhập các thông tin số thẻ và số
Trang 40đăng ký các biệt của tài liệu vào giao diện màn hình phân hệ mượn trả tại các máy phục vụ việc tra cứu, những yêu cầu này sẽ được chuyển đến màn hình của thủ thư Sau khi đi lấy tài liệu theo yêu cầu, thủ thư sẽ yêu cầu độc giả xuất trình thẻ thư viện và sử dụng đầu đọc mã vạch để tiến hành việc cho mượn tài liệu Bạn đọc đọc tài liệu tại phòng đọc tại chỗ và trả lại cho thư viện vào cuối buổi phục vụ
Nếu bạn đọc lựa chọn kho tài liệu được tổ chức là kho mở, sau khi tra tìm tài liệu trên bộ máy tra cứu của thư viện , sẽ trực tiếp vào kho chọn tài liệu mình cần hoặc cũng có thể tự tra tìm trực tiếp tài liệu trên giá mà không cần thông qua bộ máy tra cứu
Hiện tại, Thư viện đã tổ chức kho mở theo hình thức các tài liệu được sắp xếp các ngành đào tạo của trường và chưa thực hiện việc dán mã vạch cho các tài liệu nên việc quản lý cho mượn gặp không ít khó khăn
Theo quan sát thực tế, ngoài 2 phòng đọc lớn có sức chứa được khoảng 300 chỗ ngồi, các phòng đọc còn lại có sức chứa mỗi phòng gần 50 chỗ ngồi Các phòng đọc mở cửa phục vụ từ 7g30 đến 22g30 tất cả các ngày trong tuần
Kết quả khảo sát mức độ sử dụng dịch vụ đọc tại chỗ của Thư viện Đại học Thuỷ lợi cho thấy có 61,9% sinh viên và 14,7% giáo viên, cán bộ nghiên cứu
thường xuyên sử dụng dịch vụ này (xem bảng 6)
Việc đánh giá chất lượng dịch vụ đọc tại chỗ của Thư viện Đại học Thuỷ lợi
sẽ theo các tiêu chí như: môi trường phục vụ, thiết bị hỗ trợ, nội dung tài liệu, cách
tổ chức sắp xếp tài liệu, giờ mở của phục vụ…
Môi trường phục vụ là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng làm tăng giá trị
và hiệu quả của dịch vụ đọc tại chỗ Môi trường phục vụ bao gồm việc thiết kế phòng đọc, bố trí bàn ghế, giá sách phù hợp và các trang thiết bị hỗ trợ như hệ thống chiếu sáng, hệ thống quạt, điều hoà không khí và các thiết bị phụ trợ khác Kết quả khảo sát cho thấy 81,5% sinh viên và 78,6% cán bộ giáo viên đánh giá môi trường phục vụ của dịch vụ đọc tài liệu tại chỗ từ mức tương đối tốt đến rất tốt Tuy nhiên, hầu hết các ý kiến đều cho rằng đường truyền kết nối Internet còn chậm, không ổn định nên gặp nhiều khó khăn trong việc tra tìm tài liệu Ngoài ra, cũng có nhiều ý