1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu nét thanh lịch của người hà nội hiện nay qua khảo sát một số phố cổ hà nội

104 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ VĂN HOá THể THAO Vμ DU LịCHTrường đại học văn hoá hμ nội Nguyễn xuân trường Văn hoá ứng xử của người thái với môi trường tự nhiên ở huyện mộc châu tỉnh sơn l

Trang 1

NguyÔn xu©n tr−êng

V¨n ho¸ øng xö cña ng−êi th¸i víi m«i tr−êng

tù nhiªn ë huyÖn méc ch©u tØnh s¬n la

luËn v¨n th¹c sÜ v¨n ho¸ häc

Hμ néi - 2010

Trang 2

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ VĂN HOá THể THAO Vμ DU LịCH

Trường đại học văn hoá hμ nội

Nguyễn xuân trường

Văn hoá ứng xử của người thái với môi trường

tự nhiên ở huyện mộc châu tỉnh sơn la

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, MÔI TRƯỜNG XÃ

HỘI VÀ NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

5

1.2 Môi trường xã hội

1.2.1 Lịch sử người Thái ở Mộc Châu

1.2.2 Đặc điểm cư trú

1.2.3 Những giá trị văn hoá truyền thống

12 12 15 19

CHƯƠNG 2: NHỮNG HOẠT ĐỘNG ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ

NHIÊN CỦA NGƯỜI THÁI

27

2.1 Những vấn đề về lý luận văn hoá ứng xử

2.1.1 Khái niệm ứng xử

2.1.2 Khái niệm văn hóa ứng xử

2.1.3 Khái niệm môi trường tự nhiên

27 27 28 29

2.2 Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên 30

Trang 4

2.2.1.Văn hóa ứng xử với chất đất, địa hình đất dốc, đồi núi

2.2.2 Văn hóa ứng xử với tài nguyên nước

2.2.3 Văn hóa ứng xử với tài nguyên khí hậu

2.2.4 Văn hóa ứng xử với tài nguyên rừng

30 39 49 61

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GÍA TRỊ VĂN HOÁ ỨNG

XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

3.2.1 Phương hướng chung

3.2.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các gía trị văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La hiện nay

3.2.3 Một số kiến nghị

75

75 78

83

PHỤ LỤC

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Luận văn khoa học này là kết quả quá trình 3 năm học tập tại Khoa Sau đại học - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội với sự giảng dạy và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như những nỗ lực học hỏi của bản thân

Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến GS.TS Hoàng Nam - người hướng dẫn luận văn - Thầy đã dành cho em những lời chỉ bảo ân cần, những kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp em tự tin vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn

Và xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Văn hoá huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và các nghệ nhân người Thái ở các thôn bản của huyện đã cung cấp những tài liệu quý và hỗ trợ tác giả trong quá trình nghiên cứu Trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên khích lệ tinh thần để tác giả yên tâm trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả mong muốn nhận được những lời góp ý và chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Xuân Trường

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có những giá trị

và sắc thái văn hoá riêng Việc nghiên cứu để bảo tồn và phát triển sắc thái và giá trị văn hoá các dân tộc sẽ góp phần làm phong phú nền văn hoá các dân tộc Việt Nam, đồng thời củng cố sự thống nhất dân tộc và phát huy tính đa dạng văn hoá các dân tộc Đặc biệt, khi mà kinh tế thị trường phát triển, với

sự hội nhập giao lưu văn hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi phương diện, trong quá trình giao lưu ấy dân tộc Thái đã phải ứng xử với nhiều giá trị văn hoá mới, tiếp thu nhiều yếu tố văn hoá tiến bộ, đồng thời nhiều giá trị văn hoá Thái mang bản sắc dân tộc có nguy cơ ngày một mai một Do vậy, việc nghiên cứu văn hoá các dân tộc nói chung và những sắc thái trong văn hoá Thái nói riêng xét về mọi phương diện là vấn đề cần thiết và quan trọng hiện nay

Dân tộc Thái có dân số khá đông, xếp vào hàng thứ ba sau người Kinh

và người Tày, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc và miền tây tỉnh Thanh hoá

và Nghệ An Dân tộc Thái có nền kinh tế - xã hội phát triển với một nền nông nghiệp lúa nước truyền thống phát triển đến một trình độ cao Góp phần quan trọng vào sự hình thành và duy trì sự tồn tại của cộng đồng này chính là văn hoá ứng xử

Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu văn hóa Thái chủ yếu nghiên cứu về văn hóa truyền thống và mang tính tìm hiểu về nội hàm lý thuyết văn hóa, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về văn hóa ứng dụng, cụ thể

là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên Thực trạng ứng xử với môi trường

tự nhiên hiện nay dẫn đến hệ quả là môi trường tự nhiên bị tàn phá, rừng bị khai thác cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước sạch, lụt lội xảy ra liên tiếp nhiều năm…ngày càng gia tăng Môi trường xã hội có nhiều thay đổi cả

Trang 8

tích cực lẫn tiêu cực, các thành tựu khoa học kỹ thuật đã từng bước đi vào cuộc sống các cư dân nhưng cũng đồng thời nhiều giá trị văn hoá truyền thống có nguy cơ bị lãng quên, bị mất dần

Với mong muốn góp một phần nhỏ của mình vào việc giữ gìn bảo tồn

và phát triển nền văn hoá mang đậm chất nhân văn của dân tộc Thái, tôi mạnh

dạn chọn đề tài “Văn hoá ứng xử của người Thái với môi trường tự nhiên ở

huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ trước đến nay, những công trình nghiên cứu về văn hoá ứng xử có tính chất lý luận chung hoặc ở từng dân tộc nào đó có những phương diện cụ thể nào đó về vấn đề này Thoảng hoặc chỉ thấy văn hoá ứng xử của người Thái được đề cập đến như một phần nhỏ, một phương diện trong một công trình chung về người Thái

Hiện nay, nghiên cứu dân tộc Thái và các tộc người nói tiếng Thái theo nghĩa quốc tế sinh sống ở Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Ấn Độ…và

từ các quốc gia trên di cư sang các nước phương Tây Tổng dân số lên tới hơn

100 triệu người, đây không còn là vấn đề riêng của quốc gia nào nữa mà nó đã trở thành vấn đề mang tính quốc tế được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Điều đó được thể hiện bằng việc các hội nghị Thái học được tổ chức liên tục hàng năm trên trên thế giới, mà gần đây nhất là hội nghị Thái Quốc tế lần thứ bẩy tổ chức ở Hà Lan và tiếp theo là hội nghị Thái học lần thứ VIII được tổ chức ở Nakhon Phanôm Thái Lan Các tác phẩm như: Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của Cầm Trọng, trong cuốn sách này tác giả đã trình bày về nhiều mặt của đời sống xã hội Thái, về các mối quan hệ kinh tế, đặc biệt là vấn đề sở hữu đất đai Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, đã hệ thống những tư liệu thành văn, những văn

tự cổ phổ biến ở vùng Tây Bắc Việt Nam từ thế kỷ thứ VI như Quám tô

Trang 9

mướng, lệ mường, luật mường…nói về các lĩnh vực lịch sử, xã hội, tôn giáo Nhóm tác giả đã khái quát được bức tranh về lịch sử xã hội Thái giúp cho người đọc hiểu về tư tưởng, gía trị văn hoá và lịch sử xã hội cổ truyền của dân tộc Thái Cuốn sách Luật tục Thái ở Việt Nam của Ngô Đức Thịnh - Cầm Trọng, đã tập hợp những tư liệu dân gian tồn tại hàng trăm năm nay về luật tục của đồng bào Thái Trong cuốn sách quý này có thể tìm thấy những mô tả

về cách ứng xử của các mối quan hệ trong gia đình và xã hội Thái…

Về các khía cạnh khác nhau của đời sống văn hóa Thái đã có các tác phẩm: Nhà sàn Thái của Hoàng Nam – Lê Ngọc Thắng, Nghệ thuật trang phục Thái của Lê Ngọc Thắng và Hoa văn Thái của Hoàng Lương…

Những công trình nghiên cứu ở trên là cơ sở quan trọng đối với đề tài này Song, đến nay chưa có một công trình nào đề cập, nghiên cứu về văn hoá ứng xử của dân tộc Thái ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Bởi vậy nội dung này được tác giả lựa chọn thực hiện làm luận văn tốt nghiệp

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là cách ứng xử người Thái trong quan hệ với môi trường tự nhiên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu văn hoá ứng xử truyền thống của người Thái với môi trường tự nhiên ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu tri thức dân gian Thái về khai thác và bảo vệ môi trường tự nhiên thông qua việc nghiên cứu văn hoá ứng xử truyền thống với môi trường

tự nhiên ở Mộc Châu

Trang 10

Trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của những tri thức đó trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp luận: Coi hiện tượng văn hoá luôn biến động và nằm trong một điều kiện lịch sử cụ thể

Phương pháp thu thập tài liệu: Phương pháp điền dã dân tộc học, điều tra xã hội học, đọc tư liệu huyện Mộc Châu

Phương pháp xử lý tư liệu: Miêu tả, phân loại, thống kê, so sánh, quy nạp

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Góp thêm tư liệu về tri thức dân gian của người Thái ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Từ những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn sẽ là một đóng góp nhỏ vào việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về dân tộc Thái để làm công

cụ cho người làm công tác quản lý và làm cơ sở cho công tác quy hoạch, bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị văn hoá Thái trong hiện tại và tương lai

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn có 3 chương chính:

Chương 1: Khái quát môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và người Thái ở

huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Chương 2: Những hoạt động ứng xử với môi trường tự nhiên của người Thái Chương 3: Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá ứng xử với môi trường

tự nhiên

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, MÔI TRƯỜNG

XÃ HỘI VÀ NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

1.1 MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

Mộc châu là một huyện miền núi cửa ngõ của tỉnh Sơn La nằm trên trục giao thông quốc lộ 6 huyết mạch của vùng Tây Bắc cách thị xã Sơn La 114

km về phía Đông Nam, cách Hà Nội 190 Km về phía Tây Bắc, là tuyến đường nối liền vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Bắc Bộ - Hà Nội – Tây Bắc Huyện có có đường biên giới 36.5 km giáp với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, có cửa khẩu quốc gia Bó Sập Mộc Châu từ xa xưa đã được coi là vùng đất xung yếu, có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

Huyện Mộc Châu hiện nay được định vị ở 20063” vĩ độ bắc và 104030” – 10507” kinh độ đông Phía bắc giáp huyện Phù Yên, phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía đông giáp tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp huyện Yên Châu Diện tích tự nhiên của huyện là 2.025Km2, trong đó phần lớn là đất lâm nghiệp, còn đất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 16,7%

Là huyện mang đặc trưng của miền núi Tây Bắc, địa hình chia cắt mạnh, có nhiều núi cao hiểm trở và thung lũng rộng, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 950 đến 1050m, có cao nguyên rộng lớn và tương đối bằng phẳng Vì vậy Mộc Châu có vị trí hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng

Trang 12

Hiện nay huyện Mộc Châu có 27 xã và 2 thị trấn bao gồm: thị trấn Mộc Châu, thị trấn Thảo Nguyên và các xã: Chiềng Hắc, Mường Sang, Đông Sang, Lóng Sập, Chiềng Sơn, Chiềng Khừa, Xuân Nha, Tân Lập, Tân Hợp, Phiêng Luông, Lóng Luông, Vân Hồ, Chiềng Khoa, Nà Mường, Tô Múa, Quang Minh, Song Khủa, Liên Hoà, Hua Păng, Quy Hướng, Chiềng Yên, Tà Lại, Mường Tè, Suối Bàng, Mường Men, Tân Xuân, Chiềng Xuân

Mộc Châu là miền đất có địa hình cácxtơ (núi đá vôi), có nhiều núi, đồi cao nhấp nhô như sóng lượn, nằm gối kề nhau chạy theo hướng tây bắc – đông nam, xen lẫn với những vùng cao nguyên rộng lớn là những vùng bình nguyên, lòng chảo, những khe vực, suối, sông làm cho địa hình Mộc Châu trở nên đa dạng Mộc Châu được xếp vào miền đất có vị trí mang tính chất tiếp xúc giữa nhiều hệ thống địa lý

Núi đá vôi ở Mộc Châu có độ cao trung bình từ 1.100m – 1.300m so với mặt nước biển, trong đó có đỉnh Pha Luông nằm ở phía nam huyện là ngọn núi cao nhất, với độ cao 1.880m Các cao nguyên và bồn địa (hay còn được gọi là đồng bằng giữa núi) làm nên yếu tố địa hình mang tính đặc thù của miền đất Mộc Châu Riêng cao nguyên Mộc Châu có độ cao trung bình là 1.050m

Nhờ các vận động địa chất và địa lý đã tạo nên hai dạng thổ nhưỡng cơ bản cho Mộc Châu:

Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên nền phong hoá từ đá vôi tức là đồi núi, cao nguyên Đây là loại đất tốt có nhiều mùn, thích hợp cho các loại cây trồng khô, đặc biệt các loại cây công nghiệp như chè, cà phê…và những phiêng bãi, những đồi trọc rộng có độ dốc ít, đó là những cánh đồng cỏ màu

mỡ rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn

Trang 13

Đất phù sa cổ, phân bố dọc các thung lũng, các bồn địa giữa núi hoặc các vạt nhỏ ven chân núi Đất này tầng dày, thuận lợi về thuỷ lợi để canh tác lúa nước và trồng cây thực phẩm

Với kiến tạo địa chất trên, Mộc Châu còn là nơi gặp gỡ của nhiều sông suối Trong đó, sông Đà là con sông lớn nằm ở phía bắc của huyện, giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của miền đất này Bên cạnh sông Đà là hệ thống các suối lớn, nhỏ có nguồn gốc khác nhau như suối Sặp, suối Quanh, suối Tân, suối Đo, suối Mực, suối Sơ Vin, suối Khủa, suối Giăng, suối Lồi…tổng chiều dài khoảng 274 km, trong đó suối Sặp là suối dài nhất, chảy qua huyện Mộc Châu 85 km và đi vào Yên Châu Dựa trên lưu lượng nước của dòng chảy các con sông, suối, những đập thuỷ điện có quy mô vừa và nhỏ

đã được xây dựng ở các địa phương, phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất trong mỗi bản làng Các dòng sông, suối và hồ nước đó không những có vai trò điều tiết nước sinh hoạt và sản xuất của nhân dân mà còn có tác dụng điều hoà khí hậu địa phương, cung cấp thuỷ sản và thuận tiện giao thông

Về thuỷ văn: Là huyện có địa hình chia cắt mạnh tạo ra hệ thống sông suối khá phong phú song phân bố không đều Ngoài sông Đà chảy qua với chiều dài 65km, còn có các suối chính như: Suối Sập, suối Bàng, suối Giăng…và các suối nhỏ, khe nước đa số các con suối trên địa bàn huyện đều ngắn và dốc Tuy nhiên, do độ cao và độ che phủ của thảm thực vật thấp nên lưu lượng nước thiếu ổn định, khả năng giữ nước rất hạn chế nên thường gây

lũ quét và xói mòn mạnh Mùa khô nhiều suối bị kiệt nước, thậm trí không còn nước gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân

Về tài nguyên nước của huyện Mộc Châu có hai loại nước chính là nước mặt và nước ngầm

Trang 14

Nước mặt: Đây là nguồn nước quan trọng cung cấp nước cho sản xuất

và sinh hoạt của dân cư, nhất là trong mùa khô Nước mặt chủ yếu là nguồn nước mưa được lưu giữ trong các ao, hồ chứa, kênh mương, mặt ruộng và hệ thống sông suối

Tuy nhiên nguồn nước mặt phân bố không đều cả về thời gian và không gian, nguồn nước dồi dào về mùa mưa và cạn kiệt về mùa khô, phần lớn mặt nước các sông, suối đều thấp so với mặt bằng canh tác và khu dân cư nên hạn chế khai thác sử dụng vào sản xuất và đời sống Chất lượng nguồn nước tương đối sạch Tuy nhiên do ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường từ các khu dân cư, các điểm chế biến nông sản…nên đa số các con suối trở thành nơi dẫn

tụ các chất thải, chất lượng nước ở các khu vực cuối nguồn bị giảm đáng kể, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Nước ngầm: Nguồn nước ngầm của huyện hiện tại chưa có điều kiện thăm dò, khảo sát đầy đủ Song trong thực tế, sự tích tụ của hồ thuỷ điện Hoà Bình làm cho các khe nứt, hệ thống hang động dưới 115m ở vùng Mộc Châu hoạt động trở lại đã đẩy mực nước ngầm lên cao hơn Ở các khu vực còn lại nước ngầm đã được nhân dân khai thác tương đối hiệu quả để phục vụ sinh hoạt Một số năm gần đây do độ che phủ của thảm thực vật giảm nên nguồn nước ngầm cũng bị giảm đáng kể, một số khu vực các giếng đào đã bị cạn nước về mùa khô Vì vậy để đảm bảo có đủ nước phục vụ đời sống của nhân dân trong vùng cần quan tâm sử dụng các biện pháp trữ nước mặt trong mùa khô như: đắp đập, xây bể chứa nước…kết hợp với các biện pháp khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng ở các khu vực đầu nguồn

Khí hậu Mộc Châu cũng chia thành 2 mùa rõ rêt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Tuy nhiên do nằm ở vùng cao nguyên có độ cao lớn, lại có địa hình cánh cung mở đón hướng gió,

Trang 15

nên vùng núi Mộc Châu là nơi tiếp nhận sớm và chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào Thêm vào đó là ảnh hưởng của luật đai cao nhiệt đới, nên ở đây có yếu tố khí hậu Á nhiệt đới mà rõ rệt nhất là các xã dọc đường quốc lộ 6 và lân cận Khí hậu ở đây rất mát mẻ, nhiệt độ trung bình từ 180 đến 230c, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm 80c; độ ẩm cao trung bình 85% và là nơi có lượng bốc hơi thấp nhất tỉnh, trung bình 572 mm/năm Mộc Châu là huyện có lượng mưa khá dồi dào, số ngày mưa trung bình 186 ngày/ năm, lượng mưa trung bình năm từ 1400 - 1500 mm và là huyện có số ngày mưa phùn cao nhất tỉnh, trung bình 50 ngày một năm Đây còn là vùng chịu ảnh hưởng gió mùa Lào nên mùa đông khá lạnh và thường xuyên bị sương muối, số ngày có sương muối trung bình là 5 ngày/năm Đặc biệt Mộc Châu là huyện có số ngày sương mù cao nhất tỉnh, trung bình trên 80 ngày/năm, chính vì vậy đây

là miền quê được mệnh danh là “Xứ sở của sương mù” hay “Mường Mọk”

Mộc Châu không có “biển bạc” nhưng lại có “rừng vàng” Rừng Mộc Châu là kho tài nguyên phong phú, đa dạng sinh học với nhiều loại lâm thổ sản quý có giá trị kinh tế cao như gỗ vàng tâm, chò chỉ, lát, dâu, nghiến…Hàng năm rừng cung cấp một khối lượng lớn tre, nứa, dược liệu, thực phẩm, chất đốt cho nhu cầu xây dựng, sản xuất và đời sống của nhân dân Ngoài các lâm sản chính với số lượng lớn và giá trị cao, rừng còn cung cấp nhiều loại lâm sản có nhiều công dụng rất khác nhau dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xuất khẩu như mây, song, trúc…, dùng làm dược liệu cao cấp như ba kích, đẳng sâm, đặc biệt là sa nhân

ở đây có trữ lượng rất lớn Mặt khác, rừng Mộc Châu còn là môi trường tốt với nhiều động vật phong phú có giá trị như: Tê giác, voi, hổ, trâu…Ngày nay, nhiều động vật quý hiếm không còn thấy xuất hiện trong các khu rừng Mộc Châu, song dựa vào những xương, răng thú chứa trong các lớp trầm tích

cổ ở trong các hang động như hang Huyện Đội, hang Bưu Điện…có thể thấy

Trang 16

cách ngày nay khoảng 30-35 vạn năm - kỷ cánh tân, rừng Mộc Châu đã từng là môi trường sinh sống đông đúc của các loài động vật này

Sự phong phú và đa dạng của lâm thổ sản trong các khu rừng Mộc Châu đã tạo điều kiện cho cư dân ở Mộc Châu có thể phát triển nghề khai thác rừng Từ xa xưa, khi nền kinh tế còn chưa phát triển, hái lượm, săn bắn, đánh

cá còn là nguồn sống chính thì nguồn tài nguyên rừng có ý nghĩa sống còn với

cư dân Ngày nay, khi nền kinh tế, xã hội của cư dân đã phát triển, rừng cung cấp thường xuyên cho họ cái ăn, mặc, ở và phục vụ cho cuộc sống Tập quán sinh hoạt của đồng bào các dân tộc Mộc Châu thường ở nhà sàn, đó là sự thích ứng với môi trường Với chiếc nhà sàn đồ sộ đòi hỏi một khối lượng tre,

gỗ lớn…Tất cả nguyên liệu đó đều dựa vào rừng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và thiếu sót chủ quan, vốn rừng và thảm thực vật đang dần

bị thu nhỏ dần, kéo theo sự nghèo đi của giới động, thực vật, kể cả các loại thú, chim muông Ngoài ra chưa kể tới những thảm hoạ mà thiên tai gây ra như lũ, nguồn, sạt lở, xói mòn Hiện nay diện tích rừng của toàn huyện chỉ còn khoảng 23 % diện tích tự nhiên [1,tr.18]

Trong điều kiện xã hội mới, để phát huy nguồn tài nguyên đất rừng, khắc phục tình trạng trên, duới sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Mộc Châu, phong trào trồng rừng đã được phát động Với sự hỗ trợ của Nhà nước về giống, vốn và phương tiện, trồng rừng đã và đang trở thành ngành sản xuất thứ hai trong lâm nghiệp của huyện và đạt được những kết quả bước đầu Hàng năm huyện đã trồng mới và tu bổ hàng trăm hécta rừng Khai thác hợp lý và nhân nhanh vốn rừng, bảo vệ tài nguyên rừng đang là nhiệm vụ cấp bách của huyện, nó không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa sinh thái vô cùng quan trọng

Trang 17

Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, đất đai, đồng cỏ như vậy

đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho Mộc Châu phát triển cây công nghiệp, cây lương thực, thực phẩm, các loại cây ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới và chăn nuôi gia súc lấy sữa, lấy thịt cho sản lượng cao Những năm qua huyện đã có bước đột phá mạnh và có hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, xác định rõ các loại cây trồng chủ lực, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghệ mới gắn với chính sách đầu tư, chính sách khuyến nông…đã đưa năng suất cây trồng tăng nhanh

Các cây công nghiệp ngắn – dài ngày, cây ăn quả có quy mô diện tích phát triển ngày càng tăng, phản ánh quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp theo hướng tích cực Đã hình thành rõ nét các vùng sản xuất tập trung chuyên canh như vùng trồng chè, cây ăn quả…gắn với công nghiệp chế biến tập trung ở một số xã: Phiêng Luông, Chờ Lồng, Tô Múa, Chiềng Sơn…góp phần đáng kể nâng cao thu nhập kinh tế hộ gia đình

và tác động tích cực vào sự nghiệp chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa Hình thành vùng Ngô hàng hóa tập trung ở các xã ven Quốc Lộ 6, đây là sản phẩm chủ lực trong cơ cấu lương thực và sản phẩm có giá trị hàng hóa lớn Lượng ngô hàng hóa này đã góp phần đáng kể để huyện chủ động đối lưu một sản lượng gạo không nhỏ phục vụ nhu cầu lương thực ngày càng tăng của nhân dân

Về cảnh quan môi trường, Mộc Châu có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, có nhiều phong cảnh đẹp môi trường trong lành, điều kiện khí hậu rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch, dịch vụ Hiện tại huyện có nhiều thắng cảnh đẹp có giá trị để khai thác theo hình thức du lịch sinh thái như Hang Dơi, Thác Dải Yếm, Rừng thông, nông trường thảo nguyên Mộc Châu, làng văn hoá Lóng Luông – Vân Hồ…

Trang 18

1.2 MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

1.2.1 Lịch sử người Thái ở Mộc Châu

Mộc Châu tên tiếng Thái là Mường Sang, Thái Mộc Châu là một nhóm Thái đã thiên di từ Lào sang khoảng thế kỷ XIV Đó là điều có thể khẳng định được sau khi đã nghiên cứu, so sánh ăn khớp giữa các nguồn tư liệu thành văn

như: Tập Piết mướng (chuyện mường) của Mường Sang, tập Quám tố mướng

(chuyện bản mường) của người Thái Đen với các câu chuyện dân gian có nội dung tương tự của ngay chính đất Mường Sang

Dưới đây là tóm tắt một câu chuyện dân gian mang tính chất nửa thực nửa thần thoại để nói về sự thiên di của người Thái Mộc Châu từ Lào sang:

…Ngày xưa, vua đất Viêng Chăn sinh được người con trai, đặt tên là Pha - nha Nhọt - chom - cằm” Chàng trai lớn lên ra tắm ở sông Nậm Khoong (Mê - kông) tình cờ lấy được một hòn đá quý,

có nhiều màu sặc sỡ ở trong bọt nước đem về làm vật bảo bối Khi trưởng thành Pha - nha Nhọt - chom - cằm được phép vua cha đi tìm đất mới để lập bản, dựng mường Cùng đi với Nhọt - chom - cằm có nhiều binh, tướng và nhiều dân ở bản dưới, mường trên Trước khi lên đường, vua cha trao cho đoàn quân của Nhọt - chom - cằm 800 cây mác được làm bằng đồng đỏ với hàng chục thớt voi chiến

Mang theo hòn đá quý trong người, chàng khởi binh từ đất Viêng Chăn về Mường Thanh (Điện Biên) xuống Mường Húa (thuộc Tuần Giáo) lên Mường So (Phong Thổ), Mường Là (thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc) Chàng trai lại tiếp tục kéo quân để về mạn sông Hồng đến Mường Mả, Mường Sát, Cam Đường (nay là vùng đất thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ) Đoàn người lại xuôi về

Trang 19

Mường Cúc, Mường Át (Thu Cúc, Lai Đồng – Vĩnh Phú), lại ngược lên Mường Pi, Mường Sàng (vùng Lương Sơn, Thạch Bi – Hoà Bình) Với danh nhĩa là đoàn sứ giả của vua Lào, đoàn Nhọt

- chom - cằm đi tới đâu cũng được đón tiếp chu đáo

Không ngờ hòn đá quý của Nhọt - chom - cằm mang theo cứ mỗi ngày một lớn và khi tới đất Mường Mùn, Mường Hạ (Mai Châu – Hoà Bình) thì hòn đá đó đã phải dùng 8 người khiêng mới có thể tiếp tục đem đi được Khi họ đến Phiêng Luông (vùng thảo

nguyên Mộc Châu), hòn đá bỗng thốt lên: “chỗ này đất tốt!”

(trong tiếng Thái “tốt” là “đi”) Nhọt - chom - cằm mới đặt nơi

đó là Chiềng Đi Họ lại tiếp tục khiêng hòn đá qua núi “Kèm cọ”

đến một bãi bằng, đá lại nói “cho tôi xuống đây!” (tiếng Thái:

“khỏi chí lống”) Chiều ý đá Nhọt - chom - cằm bèn đặt hòn đá ở

đó và gọi tên đất ấy là chí lống (xuống đây) Nay chí lống được phiên âm là Chò Lồng một xã thuộc huyện Mộc Châu Hòn đá được mang tên là “xửa - hin - lái” (áo với nghĩa là hồn mường có màu sặc sỡ) Từ đó đất Chỉ Lống được chọn làm nơi trú ngụ “hồn mường” của Mường Sang

Đất Mường Sang thời đó đang có người Lếm, Lé ở Người Thái

do Nhọt -chom - cằm dẫn đến sau cũng đòi vào cư trú, nên xảy ra tranh chấp giữa hai bên Họ cược nhau bắn tên vào vách đá, nếu mũi tên ai cắm được trên đó sẽ thắng và được làm chủ đất Ngược lại mũi tên ai không cắm được vào vách đá mà rơi xuống đất, sẽ phải dời đi nơi khác Với cây nỏ có cánh cung và mũi tên bằng đồng, người đại diện bên Lếm, Lé gương lên bắn lần thứ nhất tên rơi xuống đất, lần thứ hai tên rơi xuống đất, và lần thứ ba tên lại rơi xuống đất! Đến lượt bên Thái bắn, người đại diện dùng

Trang 20

nỏ có cánh cung bằng tre với mũi tên tre có bịt sáp ong giương lên bắn lần thứ nhất tên cắm trên vách đá, lần thứ hai tên cắm trên đá, và lần thứ 3 tên lại cắm trên đá Người Thái đã thắng cược Song người Lếm, Lé vẫn không chịu và đòi hai bên phải làm lễ cúng “Ma mường” Nếu “Ma mường” ưng bên nào ắt sẽ hiện lên mà phân rõ bên nào sẽ là chủ đất Biết vậy Nhọt - chom - cằm bèn bố trí cho tướng Khăm Phông đem bông bọc toàn thân giả làm “ma mường” trèo lên nấp sẵn ở trên vách núi Đến khi hai bên bày thủ tục cúng, thì “ma mường” giả đó hiện trên vách núi trắng toát mà nói rằng: “Đất này người Thái ở mới phát, còn người Lếm, Lé ở thì loài người sẽ tiệt chủng” Thế là người Lếm,

Lé đành phải bỏ đi nơi khác cho người Thái vào cư trú

Nhọt - chom - cằm lên làm “chẩu mường”, đất Mường Sang mới đặt tên cho ngọn núi có vách đá cắm tên bịt sáp ong là “núi vách sáp ong” (Pom pha khỉ sút) và chia con cháu đi bản dưới, mường trên để làm chủ Các con cháu đó đều được phân một cây mác đồng của vua cha đất Viêng Chăn; và số còn lại họ đem đúc thành tượng đồng đặt ở chùa bản Vặt gọi là tượng Pha – nha Nhọt – chom – cằm Nhọt – chom – cằm chính là ông tổ của họ

Xa nối nghiệp trị vì đất Mường Sang

Ở Lào sang, người Thái Mộc Châu vẫn quen thờ Thích-ca Mô-ni, nên họ đã lập chùa ở bản Vặt (tên Vặt là âm chệch của Phật) và hàng năm tổ chức lễ Phật gọi là “Chách vặt, chách vá” vào tháng

5 âm lịch [31,tr.40-43]

Cho đến nay vẫn chưa có đủ cứ liệu để xác minh nhóm tộc người nào hiện có mặt ở Tây Bắc sẽ là hậu duệ của người mang tên “Lếm, Lé” Theo

Trang 21

như người Thái ở Mộc Châu kể thì sau khi thua cuộc với Nhọt – chom – cằm,

họ đã bỏ quê hương sang Lào cả Khi họ ra đi, Nhọt – chom – cằm còn cử tướng Khăm Phông đi tiễn chân….Song đấy mới chỉ là một loại tư liệu chưa lấy gì đáng tin cậy lắm Có thể đại bộ phận họ đã sang Lào nhưng ít nhất cũng còn những nhóm lẻ tẻ còn rơi rớt?

Còn câu chuyện về “cược bắn nỏ” để tranh đất thì ở người Xinh Mun còn phổ biến hơn cả Chúng tôi xin ghi lại câu chuyện đó do ông Nguyễn Văn Huy đã sưu tầm ở bản Ái xã Chiềng On – Yên Châu: “Xưa kia người Xinh Mun cư trú ở bản Ái, người Thái đến sau nhận đất bản Ái của mình Hai bên tranh chấp nhau và cùng thi bắn cung (nỏ) Họ ước với nhau rằng mũi tên của

ai dính vào núi đá thì toàn bộ đất đai quanh vùng sẽ thuộc về người đó Khi bắn, người Xinh Mun dùng tên đồng, nên mũi tên bật ra Còn người Thái dùng tên tre có bọc “khỉ sút” (sáp ong-tiếng Thái) nên mũi tên dính vào vách

đá Vì thế người Xinh Mun phải nhường bản Ái cho người Thái” [31,tr.44]

Theo Đại Việt sử ký toàn thư hay Việt Sử thông giám cương mục

bộ phận Thái đến vùng Mộc Châu vào khoảng thế kỷ thứ XIV Thời gian ghi trong chinh sử như trên phù hợp với thời gian mà

sách Quám tố mướng và Piết mướng ghi lại Sự kiện đó cũng được Lai lịch dòng họ Hà Công ghi rõ ông tổ của ngành này vào

khoảng thế kỷ thứ XIV, từ miền Bắc Hà (Hoàng Liên Sơn) xuống khai phá vùng Mường Thượng, Mường Hạ, rồi mở rộng dần xuống Mường Pa Một chi ngược lên Mộc Châu (Sơn La), một chi xuôi xuống Mường Không (Thanh Hóa) [35,tr.32]

1.2.2 Đặc điểm cư trú

Huyện Mộc Châu có 07 dân tộc chính cùng sinh sống, bao gồm: Thái, Mường, Mông, Kinh, Dao, Sinh Mun, Khơ Mú “Dân số Mộc Châu có

Trang 22

129,462 người, trong đó dân tộc Thái có 43.443 người, chiếm 33,55%; dân tộc Kinh 38.837 người, chiếm 30%; dân tộc Mường 20.336 người, chiếm 15,7%; dân tộc Mông 18.008 người, chiếm 14%; dân tộc Dao 7.921 người, chiếm 6,2%; dân tộc Sinh Mun 511 người, chiếm 0,39%; dân tộc Khơ Mú

363 người, chiếm 0,28%; dân tộc khác 43 người [1,tr.20]

Người Thái thường cư trú trong những bản (làng) Bản của người Thái thường được xây dựng ở gần rừng, gần nguồn nước Đó là những địa điểm tiện lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và cho cả công việc hái lượm, săn bắt những sản vật của tự nhiên Đây thường là những thung lũng lớn hoặc nhỏ rất màu mỡ, có những con sông, suối chảy qua Bước vào khu cư trú của người Thái, ta thường thấy những ngôi nhà sàn xinh xắn, duyên dáng quần tụ nhau trên một gò cao Xen giữa các nhà là các loại cây ăn quả lưu niên; bao bọc quanh làng là các cánh đồng, ngoài cùng là những dãy núi chạy viền quanh Hoặc các bản làng đó chạy dài theo chân đồi, trước mặt là những cánh đồng, sông suối Tuy ở đôi nơi, người Thái có sống xen kẽ với một số dân tộc anh

em khác nhưng nhìn chung với dân số khá đông, họ thường đóng vai trò chủ thể trong các địa vực cư trú của mình và gắn bó với các địa vực này từ bao thế

hệ Điều đó cho phép họ có thể kiến tạo một nền văn hóa riêng mang đậm tính tộc người

Dân số Mộc Châu phân bố không đều, mật độ tập trung đông ở các khu vực thị trấn huyện lỵ, thị trấn nông trường; khu vực Chiềng Ve và dọc quốc lộ

6 Ngược lại mật độ dân cư ở vùng nông thôn rộng lớn thì thưa thớt

Bản, mường (làng, xã) là nơi cư trú của cư dân các dân tộc Mộc Châu Cuộc sống đó lấy kinh tế ruộng nước và nương rẫy làm nền tảng Đơn vị bản bao gồm những gia đình thuộc những dòng họ của một hay hai, ba dân tộc cùng cư trú Còn mường có nhiều bản, nhiều bản hợp thành mường, bao gồm

Trang 23

nhiều đại và tiểu gia đình của nhiều dòng họ khác nhau, với những đường ranh giới rất cụ thể, với những tục lệ cổ truyền Bản, mường có mối quan hệ chặt chẽ như “gốc với rễ, như cây với cành” tạo ra một bộ máy hoàn chỉnh có tính chất khép kín, mang đậm màu sắc dân tộc Trong nền tảng xã hội ấy, bản

có thể được xem là đơn vị kinh tế, chính trị quan trọng trong xã hội Các gia đình trong bản với các thành viên của mình hợp lại thành một cộng đồng cư dân có tổ chức nhất định Mỗi bản có địa vực cư trú riêng, có phạm vi đất đai canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối riêng thuộc quyền quản lý và sử dụng của bản Do vậy, cộng đồng bản là một cộng đồng công xã nông thôn độc lập, lấy đơn vị gia đình làm nền tảng

Các tộc người đến cư trú ở Mộc Châu đã chọn điểm quần cư cho mình

ở ven bờ suối, dọc thung lũng, trên các cánh đồng hoặc tập trung men theo sườn đồi, hướng về đường giao thông hay một con suối lấy nước hoặc nơi có nguồn nước có thể sản xuất nông – lâm kết hợp

Nông nghiệp là hình thái kinh tế chính của cư dân Mộc Châu, những cánh đồng phì nhiêu là kết quả của nhiều thế hệ đã khai phá, cải tạo, đến nay rừng xanh núi cao đã trở thành đồi chè, nương ngô và cánh đồng lúa

Cư dân Mộc Châu vốn từ xưa có hai phương thức canh tác nông nghiệp: Làm nương rẫy ở vùng cao và làm ruộng nước ở vùng thấp Cả hai phương thức này đều được áp dụng phổ biến trong bản làng của đồng bào dân tộc Mộc Châu ngày nay Những hình thức canh tác ấy đã phản ánh môi trường sinh hoạt và truyền thống văn hoá của mỗi cộng đồng cư trú trên đất Mộc Châu

Hiện nay các dân tộc Mộc Châu đang cố gắng giảm dần diện tích nương rẫy, khai khẩn ruộng nước, ứng dụng khoa học kỹ thuật, trồng giống mới, thâm canh tăng vụ và chuyển hướng vào nghề rừng, chăn nuôi và trồng

Trang 24

cây công nghiệp, cây ăn quả Do đó, đồng bào đã có nguồn thu nhập tốt hơn, góp phần nâng cao đời sống và bảo vệ môi trường sinh thái

Dựa vào những đặc điểm về tự nhiên, địa vực cư trú, tập quán và kỹ thuật sản xuất thì kinh tế trồng trọt là yếu tố quyết định sự tồn tại xã hội cổ truyền của người Thái Kinh tế trồng trọt chỉ có thể gọi đúng tên khi con người đã can thiệp và chủ động điều tiết quá trình sinh truởng của các loại cây Nền tảng của kinh tế trồng trọt là đất đai Để tiến hành trồng trọt tốt trước đây đồng bào đã có những tri thức cơ bản nhằm phân loại đất gắn với từng loại cây trồng:

Đất cát sỏi, đất có lẫn đá răm chỉ có thể trồng mía, ngô, đậu hay trồng dâu để nuôi tằm

Đất bãi vùng cao nguyên thường để làm nương trồng bông, xen lạc, vừng và các loại dưa

Đất trũng thấp gần chân núi hoặc trong khe núi thường trồng ngô xen đậu Đất mùn thường trồng lúa nếp, các loại rau xanh hoặc cây ăn quả

Đất có độ ẩm cao ở nơi cớm nắng thường trồng một số cây dược liệu và chàm Ngoài việc trồng trọt, đồng bào rất chú trọng đến chăn nuôi Cánh đồng

cỏ bát ngát của thảo nguyên rất thuận tiện cho việc chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, ngựa, để dùng làm sức kéo, dễ thồ hàng, đặc biệt là lấy sữa và thực phẩm

Nghề thủ công của các dân tộc Mộc Châu như nghề rèn, mộc, đan lát, dệt vải…được coi là nghề phụ gia đình Những sản phẩm thủ công nghiệp ngoài phần chủ yếu để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày còn dùng làm vật trao đổi Nếu như nghề đan lát là công việc của đàn ông đã đạt đến trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao thì nghề dệt vải có từ ngàn

Trang 25

đời là công việc của chị em phụ nữ các dân tộc Những tấm vải bền đẹp với những hoa văn rực rỡ, sinh động, mang sắc thái riêng của từng dân tộc đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật trang phục nổi tiếng

Hình thái kinh tế của các dân tộc Mộc Châu phản ánh họ là cư dân trồng trọt, nguồn sống chủ yếu dựa vào kết quả của mùa màng từ ruộng nước

và nương rẫy đến công việc làm vườn, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủ công nghiệp là những ngành kinh tế phụ cổ truyền hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế trồng trọt

Các dân tộc Mộc Châu chủ yếu sống tập trung thành những bản, mường nhỏ, cư trú đan xen nhau, hoà nhập vào nhau trên các vùng đất của huyện Chính sự hoà nhập giữa các dân tộc đã tạo nên đặc điểm rất điển hình của cư dân vùng Tây Bắc, đó là sự giao thoa về văn hoá và sử dụng lẫn nhau về mặt tiếng nói (để trao đổi hàng hoá và giao tiếp trong sinh hoạt) Vì vậy hiện tượng song ngữ và đa ngữ; song văn hoá và đa văn hoá là nét đặc thù của bản sắc văn hoá các dân tộc vùng Tây Bắc nói chung và ở Mộc Châu nói riêng

1.2.3 Những giá trị văn hoá truyền thống

Tụ cư trong điều kiện môi sinh đó, lúa nước sớm trở thành cây lương thực chính của đồng bào với các giống lúa nếp truyền thống dẻo, thơm đến độ

có loại được gọi là “nếp quên chồng” Tập quán ăn cơm nếp với các dạng thức

ăn khô như nướng, đồ hay vùi tro bếp…đã trở thành đặc tính của người Thái

Trên cơ sở đó, người Thái đã sớm định canh, định cư, lập ra cả hệ thống bản mường tụ cư đông đúc - bản là cộng đồng tồn tại theo quan hệ láng giềng, vận hành theo chế độ dân chủ công xã mà “Tạo bản” là người đứng đầu, được coi như là một ông bố chung “Po bản” Mọi người trong bản quan

hệ với nhau không anh thì em, không nội thì ngoại…đều coi nhau như anh

em Tình cảm của mọi thành viên trong bản được chia xẻ, đùm bọc, giúp đỡ

Trang 26

lẫn nhau Việc lành hay việc dữ, tất cả mọi người luôn có mặt bên nhau, tận tình với nhau Có thể nói, bản là một gia đình lớn của người Thái Vì thế, bản

là đơn vị xã hội mang tính chất gia đình và mọi việc trong bản là việc của một gia đình - Đây là một đặc trưng độc đáo của người Thái trong tổ chức xã hội ở cấp cơ sở

Trên bản là cấp mường Theo truyền thống, một mường vẫn tồn tại trên

cơ sở quan hệ anh em là chính…Bản dưới, bản trên có thể vẫn coi nhau là anh

em, cùng chia bùi, xẻ ngọt với nhau Vì thế, hàng năm toàn mường vẫn có những cuộc thờ cúng chung Những cuộc thờ cúng đó thường liên quan đến các vị thần thánh, siêu nhân…nhằm phù hộ độ trì dân toàn mường

Nếu coi văn hoá Thái là “Văn hoá thung lũng”, “Văn hoá lúa nước” thì cũng có thể coi văn hoá Mông, Dao, Sinh Mun hay Khơ Mú…là “Văn hóa đồi gò”, “Văn hóa lúa cạn” Nhưng dù ở hình thái nào thì văn hoá của cộng đồng các dân tộc Mộc Châu là nền “văn hóa văn minh nông nghiệp” Do vậy từ nhà

ở, trang phục, ăn uống đến nếp cảm, nếp nghĩ của đồng bào các dân tộc Mộc Châu đều phản ánh lối tư duy của cư dân nông nghiệp

Nhà ở truyền thống của các dân tộc Mộc Châu có hai loại cơ bản là nhà sàn (của các dân tộc: Thái, Mường, Khơ Mú, Sinh Mun) và nhà đất (của các dân tộc Kinh, Mông, Dao) Trải qua bao đời chung sống bên nhau đồng bào các dân tộc

đã tự hoà nhập và chịu ảnh hưởng lẫn nhau khá đậm nét, đặc biệt phong cách kiến trúc của người Thái có nhiều ảnh hưởng tới kiến trúc của các dân tộc anh em

Kiến trúc nhà sàn, tùy từng nhóm có những dáng vẻ khác nhau, nhưng

đó là những sự khác nhau về hình thức, còn nếp ăn, nếp ở của họ vẫn theo tập quán chung Trên cái mặt sàn rộng thênh thang ấy (ít khi có vách ngăn thành buồng) đã tạo ra một không gian xã hội gia đình thật ấm và thanh bình Gia đình Thái trong cái không gian sống ấy sống với nhau thật chân tình, ít khi to tiếng

Trang 27

mà thường trân trọng, thân mật và nhẹ nhàng trong ứng xử và cách ăn, cách nói

Họ quan niệm rằng trong gia đình hay cả trong bản, trong mường mà to tiếng với nhau sẽ không còn là anh em, mắng người cũng chính là mắng mình

Trên cơ sở đó, mọi thành viên trong gia đình tự giác tuân thủ phong tục, tập quán và sự phân công lao động truyền thống Từ khi mới lọt lòng, trẻ

em Thái đã được giáo dục hướng dẫn theo sự phân công lao động tự nhiên (gái dệt vải, trai đan chài) Sự phân công đó đã trở thành chuẩn mực của nam

nữ thanh niên Thái: Gái không biết dệt vải là gái hư, trai không thạo đan chài là trai biếng Những người như thế thường bị xã hội chê cười Bởi thế, trước khi đi lấy chồng, các cô gái đã tự chuẩn bị đầy đủ chăn đệm, vải vóc, thổ cẩm cho gia đình tương lai

Trang phục là yếu tố quan trọng của văn hoá các dân tộc Mộc Châu, phản ánh nếp sống văn hoá của con người trong mỗi cộng đồng dân tộc Trang phục không chỉ mang tính chất giới tính mà còn mang tính xã hội rõ nét Đó là trang phục ngày thường, trang phục trong những ngày lễ hội, cưới xin…Đặc biệt trang phục của phụ nữ bất kỳ dân tộc nào cũng đều được trang trí cầu kỳ và đẹp mắt, nó thể hiện cảm quan thẩm mỹ, sự khéo léo, tài hoa và phản ánh bản sắc văn hoá đặc trưng của từng tộc người Trang phục còn thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa con người với môi trường tự nhiên “Vườn hoa trang phục” của các dân tộc Mộc Châu thật giàu hương sắc; sự dịu dàng, tinh tế, lắng đọng của trang phục Thái, Mường, Sinh Mu, Khơ Mú…và sự phô diễn rực rỡ đến choáng ngợp của trang phục Mông, Dao Với đôi tay khéo, chị em tự cắt may váy áo cho mình, quần áo cho chồng con theo kiểu mẫu truyền thống, tạo ra những bộ trang phục đậm đà bản sắc dân tộc Đó là tấm váy dài nhuộm chàm thơm phức với chiếc áo “cóm” (áo ngắn) chít eo khít khao tôn thêm những đường nét mềm mại trên thân thể, tạo ra vẻ thanh

Trang 28

thoát, duyên dáng cho chị em Hàng cúc bạc với tấm khăn piêu thêu chỉ màu sắc sặc sỡ càng tăng thêm vẻ đẹp rạng rỡ, quyến rũ của họ

Không chỉ có vẻ đẹp trang phục mà Đệm của người Thái nổi tiếng là

ấm, bền và đẹp Đạt được các tiêu chuẩn đó là nhờ kỹ thuật khéo léo của người phụ nữ Hai mặt của chiếc đệm trước kia thường được làm bằng vải chàm đen, còn dải viền của thành đệm là vải thổ cẩm Cái khó trong kỹ thuật làm đệm là phải khâu luồn chỉ trên khung xếp thành từng múi để chăng, giữ hai mặt trên, dưới sao cho khi nhồi bông vào, dù được nén rất chặt mà đệm không bị chỗ phồng, chỗ xẹp Đệm Thái được phân biệt bằng chính chất liệu bông nhồi Đệm bông gạo được coi là tốt nhất, tiếp theo là đệm bông cỏ tranh rồi mới đến đệm bông lau Đệm không được giặt nên khi ngủ phải có vải ga Vải dùng làm ga thường là vải có màu trắng hay vải có kẻ sọc đẹp mắt Ngoài đệm nằm, người Thái còn làm đệm ngồi, đệm tựa

Ăn uống hay còn gọi là văn hoá ẩm thực, là bộ phận quan trọng thứ ba của văn hoá các dân tộc Mộc Châu Cơm nếp (hiện nay thêm cơm tẻ), ngô, măng, rau, thịt, cá là những thứ thường thấy trong bữa cơm hàng ngày của đồng bào Khẩu vị ưa thích là món nướng và đồ xôi hay vùi tro, đồng bào thường thích ăn chua, cay, đắng và có nhiều gia vị Đồ uống thường là rượu cần và rượu nếp, rượu cất được dùng trong dịp lễ, tết, đón khách và sau những ngày lao động mệt nhọc

Trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, thành tựu văn hoá đáng lưu ý nhất là

sự phong phú, đa dạng của văn hoá nghệ thuật dân gian được thể hiện qua những câu truyện cổ, điệu hát, điệu múa (xoè), những câu ca dao, tục ngữ…Mỗi dân tộc đều có kho tàng nghệ thuật dân gian riêng của dân tộc mình, chứa đựng những tâm tư, tình cảm và nhận thức của họ về tự nhiên, xã hội, con người cũng như tài năng sáng tạo văn hóa trong lịch sử dân tộc [22]

Trang 29

Vốn là cư dân sinh sống lâu đời ở xứ Mộc, người Thái đã có chữ viết và lưu lại được nhiều văn bản quý giá trên nhiều lĩnh vực: văn hoá - nghệ thuật, lịch

sử, tín ngưỡng, luân lý, tập quán…góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hóa của các dân tộc Mộc Châu nói riêng, của cả dân tộc Việt Nam nói chung

Dân tộc Thái có ngôn ngữ và văn tự từ rất lâu đời, và có nguồn gốc từ

Ấn Độ Người Thái có cả một kho tàng các truyện cổ dân gian phản ánh sâu sắc quá trình xây dựng, tồn tại và phát triển của dân tộc, mang nhiều ý nghĩa giáo dục nhưng cũng giàu chất thơ Các truyện thơ đầy chất trữ tình nói lên cảm xúc mãnh liệt của cả dân tộc với thiên nhiên tươi đẹp, với con người, với tình yêu lứa đôi, nói lên khát vọng của cả dân tộc và luôn hướng tới cái thiện, cái đẹp Tục ngữ dân ca Thái phản ánh quá trình chinh phục thiên nhiên, tích lũy kinh nghiệm của cuộc sống nhưng qua đó ta cũng thấy được tính cách và tâm hồn nghệ thuật của họ Những ước mơ và khát vọng của cuộc sống đã chắp cánh cho những lời “khắp”(hát), điệu “pí”, nhịp (khèn) bay bổng ở mọi nơi, mọi lúc Điều đáng nói ở đây là người Thái có thể sinh hoạt văn nghệ

“khắp” bất cứ lúc nào, trong bất kỳ tâm trạng nào – Vui: khắp, buồn: khắp, thậm chí khi lao động mệt nhọc cũng “khắp” cho bớt mệt…Người Thái thích gửi gắm tâm tư tình cảm của mình qua lời khắp, điệu pí Có thể nói: “khắp” là một cách giao tiếp của người Thái Họ có thể “khắp” cá nhân, và cũng có khi

“khắp” đối đáp từng đôi, từng nhóm

Hòa cùng tiếng “khắp”, trong các lễ hội thường có thêm dàn chiêng trống Đặc biệt là trong các dịp mừng nhà mới hay cưới xin…người Thái thích cầm tay nhau xòe vòng theo nhịp chiêng trống cầm chịch say sưa thâu đêm suốt sáng

Người Thái đã xây dựng một nền văn học phong phú là sự tổng kết quá trình tư duy về sự vật, các hiện tượng khách quan của tự nhiên và xã hội Như

Trang 30

một bức tranh lịch sử xã hội sinh động được khái quát hóa trong hình tượng nghệ thuật của ngôn ngữ

Trên nền tảng của nền một nền kinh tế nông nghiệp ruộng nước hay nương rẫy, cộng đồng các dân tộc Mộc Châu đã hình thành và phát triển với một cơ cấu xã hội tương ứng Từ trong lòng xã hội ấy, trên nền cảnh chung của nền kinh tế ấy, họ đã tạo dựng lên những giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần độc đáo và phong phú, mang đậm màu sắc dân tộc Vì vậy, mặc

dù khác nhau về sắc áo, ngôn ngữ và tập quán, song các dân tộc ở Mộc Châu

đã sát cánh đoàn kết bên nhau xây dựng cuộc sống, lập bản, dựng mường Cái chung, cái riêng đã hoà quyện vào nhau tạo ra cho xứ Mộc có một bản sắc văn hoá phong phú, sinh động Bản sắc văn hoá đó đã được tinh lọc qua thời gian,

có cả bề dày và chiều sâu của lịch sử dân tộc Vì thế nó đã trở thành sức sống

tự nhiên trong đời sống của dân tộc và nền văn hoá dân tộc “Vườn hoa văn hoá” xứ Mộc ngày càng nở rộ với thời gian, vừa gắn liền với các giá trị văn hóa truyền thống vừa mang tính hiện đại

Trong sinh hoạt tinh thần các lễ hội có vai trò tập hợp cộng đồng rõ nét nhất Các lễ hội điển hình của người Thái là các lễ cúng bản, cúng mường mà

tiếng Thái gọi là xên bản, xên mường

Các đơn vị bản, mường theo quan niệm truyền thống cũng có linh hồn (phi bản, phi mường) Nếu như một con người có linh hồn trong đó có một hồn là chủ thì bản, mường cũng có nhiều linh hồn và cũng có một hồn chủ như vậy Hồn chủ của bản, mường chính là hồn được cộng đồng bản, mường

chọn chiếc áo đại diện cho bản được gọi là “quan chủ áo”(quan chảu sửa) thì

ở mường gọi là “tạo chảu sửa” Các thủ lĩnh bản, mường đồng thời cũng là

các chủ áo và theo chế độ cha truyền con nối

Trang 31

Với các bản, lễ cúng bản có thể là cúng hồn dòng họ đứng đầu bản, cũng có thể là cúng hồn của những người đầu tiên khai phá đất hoang dựng

nên bản mà người Thái gọi là “Sần” Các Sần của bản Thái giống như Thành

Hoàng của người Việt

Các lễ cúng mường cúng bản xưa còn cúng gọi hồn rất nhiều thần chú theo quan niệm đa thần Các thần chú có khắp nơi trong tự nhiên nhưng được qui

về 2 vị thần quan trọng nhất là thần nước và thần đất (Thần thủy và Thổ thần)

Những điều chúng ta vừa đề cập ở trên chính là cơ sở cho các lễ cúng mường, cúng bản của người Thái tồn tại lâu dài Trong các lễ cúng đó, ngoài phần lễ (linh thiêng) còn có phần hội (trần tục) Các trò vui được tổ chức ở đây

có ném còn, nhảy sạp…người ta đem đến hội các nhạc cụ như cồng chiêng, khèn Hội là dịp để anh em, bà con, bạn bè gặp nhau, không chỉ trong phạm vi một mường mà có thể nhiều mường, nhiều vùng Những ngày hội lớn hay những lễ hội nổi tiếng sau này đều bắt đầu từ các lễ hội bản mường như vậy

Trong các giá trị văn hóa bản mường tình cảm cộng đồng, sự đùm bọc, che chở là một nét sống đẹp Tập quán tốt này có nguồn gốc từ các mối quan

hệ của công xã láng giềng nhưng trong xã hội của người Thái nó được củng

cố vững chắc thêm bằng mối quan hệ dòng máu (ải noọng – bên nội), thông gia theo đường mẹ (lúng ta – bên ngoại) và thông gia theo tuyến đường cô (nhính xao) Ba mối quan hệ ải noọng, lúng ta, nhính xao rằng buộc tất cả các

thành viên không phải bằng sự liên kết hời hợt mà bằng sự gắn bó vừa mang tinh thần trách nhiệm, vừa thể hiện lòng tự trọng, tính thể diện cao

Trong không gian xã hội như thế, xã hội Thái đã tạo ra một môi trường thuận lợi để những hoạt động văn hóa lễ hội nảy nở, phát triển Trong đó, đáng

kể nhất và nổi bật là các lễ nghi liên quan đến nông nghiệp, đến sự cầu mùa

Trang 32

Lễ nghi và lễ hội nông nghiệp Thái thường được tổ chức và diễn ra ở cả

ba cấp đơn vị xã hội: Cấp gia đình, cấp bản và cấp mường Mỗi cấp mang đặc điểm, dáng đấp riêng của mình

Ở cấp đơn vị gia đình, các lễ nghi diễn ra trong phạm vi từng gia đình Nét đặc thù ở đây là các lễ nghi đó diễn ra theo từng bước, từng công việc cụ thể của quá trình sản xuất (từ lúc gieo trồng cho tới khi thu hoạch xong xuôi) Như vậy, lễ nghi nông nghiệp chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình

Ở cấp bản, ngoài lễ “Xên bản” mang tính chất cầu an tại rừng cấm

“Đông xựa” thì các lễ nghi nông nghiệp ít được tổ chức Đây cũng là một nét đặc thù rất Thái

Ở cấp mường: Cũng giống như cấp bản, các lễ nghi cụ thể liên quan đến nông nghiệp ít được tổ chức, có chăng cũng chỉ phảng phất mờ nhạt Ở cấp mường, lễ nghi thời cúng chỉ mang tính chất cầu an là chính Chỉ những khi hạn hán lâu ngày, hay gió bão tác hại mùa màng, mường mới tổ chức cúng cầu mưa, cầu tạnh…Vì, thực ra tổ chức mường chỉ là một tổ chức hành chính đơn thuần của bộ máy thống trị chứ không dính dáng gì đến qui trình sản xuất [20]

Lễ nghi đặc thù ở cấp mường chỉ diễn ra xung quanh cột trụ mường

“Lắc mướng” Thực ra, cúng “Lắc mướng” chỉ để củng cố và tăng cường thế lực của giai cấp thống trị chứ rất ít liên quan đến sản xuất nông nghiệp Ở đây,

có liên quan đến sản xuất nông nghiệp là lễ đắp phai mường mà mọi thành viên trong mường phải có nghĩa vụ tham gia lao động (chứ không thờ cúng)

Có thể nói, đó là ngày hội lao động mở màn cho một mùa vụ sản xuất, chứ không mang tính chất nghi lễ nông nghiệp

Trang 33

CHƯƠNG 2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CỦA NGƯỜI THÁI

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VĂN HÓA ỨNG XỬ

2.1.1 Khái niệm ứng xử

Khái niệm ứng xử, theo “Từ điển tiếng Việt” do giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì nghĩa từ “ứng” mang hai nội dung: 1 Là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu gọi; 2 Là có mối quan hệ phù hợp tương đối với nhau Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định

Trong cuốn sách về tâm lý học ứng xử, tác giả Lê Thị Bừng định nghĩa

“Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn,

có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất Mọi ứng xử của con người đều xuất phát từ cái tâm, cái trí”[5, tr.17]

Trong cuốn “Xã hội học văn hóa” tác giả Đoàn Văn Chúc đề cập đến khái niệm “Liên hệ xã hội” là một trừu xuất chỉ sự dính líu nhau của mỗi người, mỗi nhóm người trong đời sống xã hội Liên hệ xã hội chỉ trở thành hữu hình, nắm bắt được khi mỗi con người hay mỗi nhóm người hành động như thế nào đấy là khách thể hóa, cụ thể hóa một liên hệ xã hội Hành động và

nói như thế nào đấy là ứng xử: Ứng: đáp lại, đối xử Xử: đối đãi [11,tr.61] Sự

ứng xử được biểu thị ở con người và các nhóm người trong mọi hoạt động sinh

Trang 34

tồn, trong đó chủ yếu là giữa người với người và tất nhiên gồm cả mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng

2.1.2 Khái niệm văn hóa ứng xử

Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử, nhưng đã xác định nội hàm của khái niệm này Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường (các dân tộc, các quốc gia láng giềng…) Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là: tận dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực) Đối với môi trường tự nhiên, việc ăn uống là tận dụng, còn mặc, ở, đi lại

là ứng phó Đối với môi trường xã hội – tác giả xác định: “Bằng các quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, mỗi dân tộc đều cố gắng tận dụng những thành tựu của các dân tộc lân bang để làm giàu thêm cho nền văn hóa của mình; đồng thời lại phải lo ứng phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao ” [29,tr.16-17] Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

có hai hàm nghĩa là: tận dụng và ứng phó Có thể coi đó là thái độ ứng xử Cách thức thể hiện thái độ này là giao lưu và tiếp biến văn hóa

Khái niệm “Văn hóa ứng xử ” được tập thể tác giả công trình “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” xác định tương đối đầy

đủ, và “gồm cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác”[12,tr.54] Nghĩa là, văn hóa ứng xử, theo các tác giả, gồm 3 chiều quan hệ: Với thiên nhiên, xã hội và bản thân Văn hóa ứng xử gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử Đó là các chuẩn mực xã hội

Cho đến nay ở Việt Nam, nhìn chung khái niệm văn hóa ứng xử đã được gián tiếp, trực tiếp làm rõ gồm: thái độ, cách thức quan hệ, hành động và

Trang 35

cả kỹ năng lựa chọn nhằm tận dụng, ứng phó và thể hiện tình người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với bản thân Thái độ, cách thức quan

hệ, hành động và cả kỹ năng lựa chọn đều bị chi phối bởi các giá trị được biểu hiện dưới dạng chuẩn mực cơ bản của xã hội

2.1.3 Khái niệm môi trường tự nhiên: Tập hợp các điều kiện địa lý tự nhiên

của một vùng lãnh thổ có tác động trực tiếp đến mức sống của dân cư và các chỉ tiêu kinh tế trong vùng lãnh thổ ấy [34,tr.940]

Sách Luật bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành, phần giải thích từ ngữ viết “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [26,tr.6]

Môi trường tự nhiên trong luận văn này chủ yếu được giới hạn trong những yếu tố sinh thái Là điều kiện tự nhiên tác động đến đời sống của sinh vật nói chung và đời sống con người nói riêng

Theo cách hiểu thông thường thì môi trường sinh thái được tác giả đề cập trong luận văn gồm các yếu tố: tài nguyên đất đai, thủy văn, khí hậu, rừng

Từ các nhận định trên, tác giả hiểu khái niệm ứng xử là bao gồm toàn

bộ những tác động của con người vào tự nhiên nhằm ngày càng hoàn thiện mối quan hệ con người - tự nhiên, trong đó con người luôn đóng vai trò chủ động điều khiển thái độ và hành vi của mình Trong khái niệm ứng xử, có bao hàm nội dung thích ứng, thích nghi của con người với thiên nhiên Ở luận văn này tác giả không quan tâm đến tính thích nghi sinh học của con người mà sử dụng nội hàm về sự thích nghi với môi trường thiên nhiên nhờ vào những phương thức, công cụ và những tạo phẩm văn hóa Bởi lẽ, loài vật thích nghi với môi trường trực tiếp bằng chính cơ thể của chúng Còn ở con người, bên cạnh sự thích nghi sinh học; còn có sự thích nghi với môi trường nhờ những

Trang 36

công cụ và những sản phẩm do mình sáng tạo ra Ứng xử của con người bao gồm cả nội dung thích nghi này

Các khía cạnh của ứng xử bao gồm: Phòng tránh để tự bảo vệ; khai thác, sử dụng để phục vụ cuộc sống; bảo tồn, giữ gìn tự nhiên để phục vụ mục đích lâu dài của bản thân con người Nghiên cứu Văn hóa ứng xử của người Thái với môi trường tự nhiên tác giả đã giới hạn chỉ xét bốn yếu tố của môi

trường: đất, nước, khí hậu, rừng Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa con người

với môi trường tự nhiên được nhìn nhận là quan hệ hai chiều, tác động qua lại với nhau

Tóm lại: Ứng xử là sự thể hiện của con người bằng thái độ và hành vi

khi đứng trước hiện tượng tự nhiên, thái độ và hành vi của người khác hoặc của chính bản thân mình Sự tổng hợp những thái độ và hành vi đẹp được gọi

là văn hóa ứng xử

2.2 VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

Như các dân tộc khác, cùng với sự phát triển của trí tuệ, người Thái đã tìm hiểu và có những hiểu biết, khám phá về những hiện tượng tự nhiên và thiên nhiên xung quanh nơi cư trú của mình Để tồn tại, chung sống được với thế giới xung quanh, người Thái đã tạo ra những phương thức, những điều kiện thích hợp để thích nghi với nó, khai thác nó và chế ngự nó Nghiên cứu văn hóa Thái, ta thấy khả năng thích nghi với tự nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên Điều đó thể hiện ở trong tri thức người Thái trong việc ứng xử với tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu và tài nguyên rừng

2.2.1 Văn hóa ứng xử với chất đất, địa hình đất dốc, đồi núi

Tài nguyên đất có ý nghĩa rất quan trọng đối với vấn đề sinh tồn của con người, là nền tảng cơ bản tạo nên sự sống Từ xa xưa người Thái đã tích lũy được hệ thống tri thức dân gian về sử dụng và quản lý đất Tùy theo chất

Trang 37

đất, địa hình đất mà mỗi nơi, người Thái có những cách thức phù hợp để sử dụng có hiệu quả và bảo vệ tốt nhất nguồn tài nguyên vô giá mà thiên nhiên

đã ban tặng

- Ứng xử với chất đất

Nông nghiệp là hình thái kinh tế chính của cư dân Mộc Châu, những cánh đồng phì nhiêu là kết quả của nhiều thế hệ đã khai phá, cải tạo, đến nay rừng xanh, núi cao đã trở thành đồi chè, nương ngô và cánh đồng lúa

Cư dân Mộc Châu vốn từ xưa có hai phương thức canh tác nông nghiệp: Làm nương rẫy ở vùng cao và làm ruộng nước ở vùng thấp Cả hai phương thức này đều được áp dụng phổ biến trong bản làng của đồng bào dân tộc Mộc Châu ngày nay Vừa làm nương, vừa làm ruộng

Ở Mộc Châu cơ bản có hai dạng thổ nhưỡng : Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên nền phong hóa từ đá vôi (đá mẹ) tức là đồi núi, cao nguyên Đây là loại đất tốt có nhiều mùn, thích hợp cho các loại cây trồng khô, đặc biệt là các loại cây công nghiệp như chè, cà phê…và những phiêng bãi, những đồi trọc rộng có độ dốc ít, đó là những cánh đồng cỏ màu mỡ rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn Đất phù sa cổ, phân bố dọc các thung lũng, các bồn địa giữa núi hoặc các vạt nhỏ ven chân núi Đất này tầng dày, thuận lợi về thủy lợi để canh tác lúa nước và trồng cây thực phẩm

Đất cát sỏi, đất có lẫn đá răm chỉ có thể trồng mía, ngô, đậu hay trồng dâu để nuôi tằm

Đất bãi vùng cao nguyên thường để làm nương trồng bông, xen lạc, vừng và các loại dưa

Đất trũng thấp gần chân núi hoặc trong khe núi thường trồng ngô xen đậu

Trang 38

Đất mùn thường trồng lúa nếp, các loại rau xanh hoặc cây ăn quả

Đất có độ ẩm cao ở nơi cớm nắng thường trồng một số cây dược liệu

đã có hai loại ruộng nước ở trên những khoảng đất bằng phẳng của thung lũng lòng chảo hay cao nguyên và ở những sườn núi có độ dốc Loại ruộng ở nơi

bằng phẳng gọi là “na tông” Loại ruộng ở các eo hẹp men theo chân núi hoặc trên sườn núi, gọi là “na hon”

Địa hình ở Mộc Châu núi non nối nhau một cách liên tục nên sự bằng

phẳng của “na hon” chỉ có thể nằm trong ý nghĩa tương đối Nhìn chung toàn

bộ cánh đồng được xếp thành từng bậc từ thấp lên cao nối tiếp nhau với khu

vực “na hon” ở chân núi Do đó có thể thấy khái niệm bằng của “na tông” chỉ

bó tròn trong từng thửa ruộng Và để biến địa hình bằng phẳng ở miền núi

thành “na tông” bao giờ cũng phải tập trung lao động vào khâu tạo ra các bờ ngăn nước Nói cách khác việc làm cánh đồng “na tông” phải sử dụng kỹ

thuật tạo bờ thửa để phân chia thành những ruộng cao, thấp, ngang dọc sao

Trang 39

cho thích hợp với từng khu đất bằng trong toàn bộ vùng thung lũng, lòng chảo hay cao nguyên có độ dốc

Trái lại với “na tông” là “na hon” “Na hon” là một khu đất bị cắt nhỏ

thành từng thửa ruộng Ở đây người Thái không dùng khái niệm “ruộng bậc thang” Điều đó cũng có lý vì nhìn chung những cánh đồng lúa của họ đều là

“ruộng bậc thang” và như vậy sẽ không có sự phân loại ruộng theo địa hình

nữa “na hon” của người Thái không chỉ có riêng những “ruộng bậc thang” ở

sườn núi hoặc nơi có độ dốc cao mà gồm cả những ruộng nhỏ bé nằm rải rác trong các thung lũng hẹp, eo núi hoặc men theo bờ sông suối sát ngay chân

núi cao…Một đặc điểm rất cơ bản của địa hình để tạo ra khu “na hon” là

không có mặt bằng tự nhiên; hoặc nếu có cũng rất nhỏ hẹp Bởi vậy kỹ thuật

phổ biến của việc làm “na hon” bao giờ cũng tập trung vào khâu tạo mặt

bằng Trên cơ sở đó mới bắt đầu đắp bờ ngăn nước [31]

Dựa vào địa hình và nguồn nước người Thái có sự phân loại ruộng riêng Từ khi biết trồng trọt người Thái đã nắm được đặc tính của cây trồng Lúa là một loại cây trồng mọc được cả trên cạn lẫn dưới nước Song nhìn chung từ xưa tới nay lúa ở nước thường hợp hơn, tốt hơn và có năng suất cao hơn lúa mọc trên cạn Nắm bắt được quy luật đó người Thái đã phân loại ruộng theo nguồn nước khớp với hoàn cảnh tự nhiên, địa vực cư trú của mình

“Ruộng nước mưa” thường phân bố trên những vùng cao nguyên chỉ đủ nước cấy một vụ Đặc điểm cơ bản của nguồn nước tưới “ruộng nước mưa” là phải có một lượng mưa tối đa để “đất no nước” từ đó trên mặt đất sẽ xuất hiện những mạch ở khắp nơi Và những mạch đó sẽ do người điều khiển cho chảy tới ruộng Từ đặc điểm đó ruộng ở đây phải chờ nước của trời và thời vụ bao giờ cũng chậm hơn “ruộng nước ngâm”

Trang 40

“Ruộng nước ngâm” thường tập trung trong các thung lũng lòng chảo – vùng cư dân chủ yếu của người Thái Đặc điểm của loại ruộng này là con người có thể chủ động được nguồn nước tưới, không phải chờ trời mưa Do chủ động được nguồn nước tưới, người làm “ruộng nước ngâm” có thể chủ động được cả về thời vụ và các khâu kỹ thuật khác Vấn đề thâm canh để đảm bảo năng suất lúa đã được đặt ra Cho nên người Thái có câu “Ruộng bùn là nguồn thóc lúa” để nói lên ưu thế hơn hẳn của loại “ruộng nước ngâm”

Người Thái còn có ruộng theo hạng tốt, hạng xấu

Hạng tốt bao gồm các thửa ruộng nằm trong loại “ruộng mùn” Trong

đó lại phân ra hai hạng: Hạng tốt nhất gồm các thửa ruộng nằm sát bản gọi là

“ruộng mùn bản”; hạng tốt vừa bao gồm các thửa ruộng nằm kề miệng mương gọi là “ruộng miệng mương” Hạng xấu thì có một loại bao gồm các thửa ruộng nằm kề bên bãi cát hoặc ở cuối mương, lạch gọi là “ruộng bên cát, cuối nước”

Ý nghĩa của việc phân ruộng theo hạng tốt xấu và trung bình đối với người Thái không chỉ nhằm mục đích để tác động các khâu kỹ thuật vào đất, vào ruộng, mà cái chính là để đặt giống lúa cho thích hợp Theo người Thái việc phân loại ruộng theo hạng, chủ yếu là do chất đất (đất nhiều mùn thì tốt còn ít mùn thì xấu) và do nước (ruộng chủ động nước thì tốt và nước thất thường thì xấu)

Văn hoá lúa nước luôn đặt ra cho con người phải hiểu biết về đất Người Thái ngoài biện pháp sử dụng “nước” được đặt ra khá chu đáo thì biện pháp “phân” hầu như không có gì Phân bón tự nhiên có thể có ba nguồn chủ yếu Những trận mưa hàng năm đã tải phù sa, mùn từ các khu rừng, núi ra sông, suối nhập vào mương, chảy về bón cho ruộng, và một loại nguồn phân mùn không kém phần quan trọng là những đống rơm, gốc rạ, phân gia súc đã làm cho chất đất, cây trồng tốt hơn Ở người Thái thì biện pháp bón phân

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Mộc Châu (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Mộc Châu, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Mộc Châu
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Mộc Châu
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
2. Đỗ Thuý Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày-Nùng-Thái ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày-Nùng-Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thuý Bình
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1994
3. Phan Kế Bính (1999), Việt Nam phong tục, Nxb. Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 1999
4. Bộ Văn hoá – Thông tin (1998), Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hoá – Thông tin
Nhà XB: Nxb. Văn hoá dân tộc
Năm: 1998
5. Lê Thị Bừng (1997), Tâm lý học ứng xử, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1996), Toàn tập, t.27, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
7. Nguyễn Từ Chi (1995), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. Văn hoá – Thông tin
Năm: 1995
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
10. Đoàn Văn Chúc (1993), Những bài giảng về văn hoá, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về văn hoá
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 1993
11. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hoá, Nxb. Viện Văn hoá và Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hoá
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb. Viện Văn hoá và Văn hoá dân tộc
Năm: 1997
12. Nguyễn Viết Chức (2002), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nxb. Văn hoá thông tin và Viện văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin và Viện văn hoá
Năm: 2002
13. Phan Hữu Dật (1995), Một số vấn đề về dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1995
14. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1995
15. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1996
16. Bế Viết Đẳng (1978), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1978
17. Nguyễn Khoa Điềm (1994), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
18. Lê Sĩ Giáo (1992), “Sự xuất hiện nghề trồng lúa, một vấn đề quan trọng của Dân tộc học nông nghiệp lịch sử”, Dân tộc học, (6), tr.12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự xuất hiện nghề trồng lúa, một vấn đề quan trọng của Dân tộc học nông nghiệp lịch sử”, "Dân tộc học
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Năm: 1992
19. Lê Như Hoa (1998), Hôn lễ xưa và nay ở Việt Nam, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn lễ xưa và nay ở Việt Nam
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 1998
21. Nguyễn Văn Huy (1998), Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w