Đinh Gia Khánh chỉ nhận định khái quát như sau: “Có bốn loại quy ước chủ yếu trong các bản hương ước: những quy ước về chế độ ruộng đất; những quy ước về việc khuyến nông, bảo vệ sản xu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ
TRẦN THỊ THU HÀ
VẤN ĐỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN QUA MỘT SỐ HƯƠNG ƯỚC TIÊU BIỂU
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể quý thầy, cô của Viện Nghiên cứu văn hoá, Phòng Quản lí Khoa học và Đào tạo đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Lê Văn Kỳ, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ em hoàn thành luận văn Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn chắc không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các nhà khoa học, các thầy cô chỉ dạy thêm để giúp em được mở rộng kiến thức phục vụ cho công việc nghiên cứu và công việc sau này
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn
Tác giả luận văn Trần Thị Thu Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các sự kiện và
tư liệu trong luận văn này là trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về lời cam đoan nói trên
T ác giả luận văn
Trần Thị Thu Hà
Trang 4Chương 1: Tổng quan về vùng châu thổ sông Hồng và Hương ước 11
1.1 Tổng quan về châu thổ Sông Hồng 11
1.2.1 Một số cách hiểu về hương ước 18
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của hương ước 20
1.2.3 Những nội dung chính của hương ước 19
Chương 2: Vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường
tự nhiên qua hương ước vùng châu thổ sông Hồng 45
2.1.1 Chế độ quân cấp công điền công thổ 45
2.1.3 Quy định bảo vệ sản xuất nông nghiệp qua hương ước 63
2.2 Vấn đề môi trường tự nhiên qua hương ước 72
2.2.1 Giữ gìn và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt 73
2.2.3 Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên 78
Chương 3: Từ hương ước xưa đến quy ước làng văn hoá hiện nay
với việc phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường 83
3.1 Sự thay đổi về chính trị, xã hội, phương thức sản xuất
và bảo vệ môi trường 83 3.2 Sự ra đời của quy ước làng văn hoá 85
3.3 Những quy định trong quy ước làng văn hoá hiện nay
về việc phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường 92
3.3.1 Trong bảo vệ sản xuất nông nghiệp 92
3.3.2 Trong bảo vệ môi trường tự nhiên 96
3.4 Một số kiến nghị 100 3.4.1 Về sản xuất nông nghiệp 100
3.4.2 Về bảo vệ môi trường tự nhiên 102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống đang được xác định là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội Trên quan điểm bảo tồn "động", các giá trị văn hóa truyền thống sẽ được bảo tồn tốt nhất khi nó được duy trì một cách phù hợp trong môi trường xã hội đương đại Điều này không chỉ giúp các giá trị văn hoá truyền thống không bị lãng quên, mà còn trực tiếp phát huy ảnh hưởng của mình bằng những đóng góp thiết thực cho cuộc sống
Hương ước có thể được xem là nơi hội tụ nhiều giá trị văn hoá của nông thôn Việt Nam truyền thống Tìm trong vốn cổ đó, con người hiện đại không chỉ thấy tính cộng đồng làng xã như một nét cốt cách điển hình của con người Việt Nam, mà xa hơn, họ còn có thể thấy khả năng tự chủ của một tập hợp dân chủ biết tự tổ chức, quản lý cuộc sống của mình một cách rất hiệu quả Trong tính cộng đồng dân chủ bình đẳng đó, những quy định chặt chẽ về ứng xử giữa các thành viên sẽ đóng vai trò ràng buộc, nâng cao ý thức công dân, tạo cho cộng đồng một khả năng cố kết bền vững Đây là tiền đề quan trọng để nông thôn Việt Nam trong truyền thống có thể duy trì sự ổn định của nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ cảnh quan môi trường Con người hiện đại có thể tự hào vì làm chủ khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, ngay cả khi đã có thể tổ chức sản xuất và đời sống cộng đồng tốt hơn, con người vẫn phải đối diện với những khó khăn, thậm chí nguy hiểm về an toàn lương thực, nguồn nguyên liệu, vấn đề phát triển bền vững và cải thiện môi trường Trong bài “Những lá phổi đô thị đang bị huỷ
hoại”, báo Kinh tế đô thị đăng ngày 30/8/2006 có đoạn viết:
Trên địa bàn Hà Nội có tới 110 hồ nước với diện tích khoảng 1048ha nhưng nhiều hồ đã và đang bị lấn chiếm biến thành ao ( ) Hệ thống
Trang 6hồ này đã đóng góp không nhỏ vào việc điều hoà cũng như thoát nước cho các phường xung quanh Quan sát hồ Linh Quang bây giờ mới thấy được sự khủng khiếp bởi tình trạng ô nhiễm nặng nề, toàn bộ đất, rác thải, phế thải xây dựng, phế thải sinh hoạt được đổ thẳng trực tiếp xuống hồ, nước hồ đen, đặc quánh, bốc mùi hôi thối” [28, tr.20]
Thực tế đó là hệ quả của tốc độ đô thị hoá quá nhanh cũng như khả năng
tự chủ để đoàn kết cộng đồng dân chủ đang dần bị xem nhẹ Những giải pháp đồng bộ để khắc phục tình trạng này đang được nỗ lực thực hiện, trong đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm mà cha ông đã thực hiện qua hương ước là một h-ướng khả thi Nó không chỉ giúp con người hiện đại biết trân trọng quá khứ, bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống qua tìm hiểu hương ước mà ở một mức độ nào
đó, còn biết duy trì những giá trị tích cực của hương ước trong đời sống hiện đại hôm nay
Chính vì những lý do nêu trên chúng tôi chọn đề tài Vấn đề sản xuất nông
nghiệp và bảo vệ môi trường tự nhiên qua một số hương ước tiêu biểu vùng châu thổ sông Hồng để làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử vấn đề
Là một yếu tố cấu thành văn hoá Việt Nam, hương ước được nhiều tác giả quan tâm tìm hiểu Tổng thuật những tài liệu viết về hương ước, có thể xếp thành hai nhóm rõ rệt: nhóm các tài liệu mang tính chất sưu tầm và nhóm những tài liệu nghiên cứu
Những tài liệu mang tính chất sưu tầm thường đi theo hướng tập hợp hương ước của từng địa phương Điều này giúp người đọc dễ dàng nhận thấy nét đặc thù trong quy định ứng xử của từng địa bàn, mối quan hệ giữa điều kiện
tự nhiên, xã hội tác động đến nội dung hương ước vì vậy mà cũng dễ được bộc
lộ Có thể kể đến các tài liệu như: Hương ước cổ Hà Tây của Nguyễn Tá Nhí,
Trang 7Đặng Văn Tu[38], Hương ước Thái Bình của Nguyễn Thanh biên soạn[44], Hương ước cổ Hưng Yên do Kiều Thu Hoạch chủ biên[19]
Nhóm tài liệu mang tính chất nghiên cứu về hương ước phong phú và đa
dạng hơn Tiêu biểu có thể kể đến: Xã thôn Việt Nam của nguyễn Hồng Phong [41], Nông thôn Việt Nam trong lịch sử của Viện Sử học [1], [2], Cơ cấu tổ
chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ của Trần Từ [57], Lệ làng phép nước[16]
và Hương ước và quản lý làng xã của Bùi Xuân Đính [17], Về hương ước lệ
làng của Lê Đức Tiết [54], Tìm hiểu luật tục các tộc người Việt Nam của Ngô
Đức Thịnh[46] Ngoài ra còn có các bài viết của Đinh Gia Khánh[22], Hoàng Sơn Cường[11], Nguyễn Xuân Kính[25],
Những cuốn sách và các bài viết nói trên là những công trình có giá trị học thuật Do mục đích nghiên cứu cụ thể của các tác giả, chưa có tài liệu nào dành một dung lượng thích đáng để bàn một cách tập trung về hai vấn đề sản
xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường Chẳng hạn, trong cuốn sách Văn hoá
dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, GS Đinh Gia Khánh
chỉ nhận định khái quát như sau: “Có bốn loại quy ước chủ yếu trong các bản hương ước: những quy ước về chế độ ruộng đất; những quy ước về việc khuyến nông, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trường; những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng; những quy ước về văn hoá tinh thần
và về tín ngưỡng [22, tr.64]
Trong cuốn Lược sử quản lí văn hoá ở Việt Nam, tác giả Hoàng Sơn
Cường cũng chỉ dành một mục hương ước với quy ước để bảo vệ sản xuất (từ tr.150-155) để bàn về nội dung này
Ngoài ra, đối với nội dung bảo vệ môi trường trong các hương ước xưa, các tác giả còn dành ít số trang hơn
Tuy các tác giả chưa dành được nhiều số trang để trình bày một cách hệ thống và chi tiết về vấn đề bảo vệ sản xuất và môi trường, nhưng tất cả những ý
Trang 8kiến của các tác giả đi trước đều là những gợi ý, những kinh nghiệm hết sức bổ ích đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc khảo sát, đánh giá những quy định về vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường trong hương ước nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đề tài nhằm nhấn mạnh những giá trị tích cực của những quy định, từ đó, đặt trong tương quan so sánh với quy ước để làm nổi bật vai trò của những quy định này trong đời sống đương đại, góp phần làm đẹp nông thôn mới như định hướng phát triển bền vững của Đảng
và nhà nước Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài xác định tập trung nghiên cứu các quy định trong hương ước về vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ cảnh quan môi trường Các hương ước
đó bao gồm hương ước cổ (viết bằng chữ Hán, chữ nôm), hương ước cải lương
Có khi chúng được gọi là quy ước, minh ước, còn hương ước mới có người gọi
là quy ước làng văn hoá sẽ được phân tích ở chương 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi tư liệu: Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ
tìm hiểu các bản hương ước viết về nông thôn châu thổ sông Hồng Những bản hương ước này, bao gồm hương ước cổ, hương ước cải lương đã được xuất bản thành sách trong thời gian gần đây Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, chúng tôi sẽ sử dụng thêm các bản hương ước được lữu trữ tại thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội và một số tài liệu khác Vì điều kiện thời gian và khả năng có hạn, chúng tôi dựa vào kết quả sưu tầm, dịch thuật, công bố của người đi trước
mà không đặt vấn đề giám định tài liệu, cũng như giám định các bản dịch chữ Hán, các bản phiên âm chữ Nôm
Trang 9- Phạm vi vấn đề: Khái niệm: “sản xuất nông nghiệp” và “môi trường tự
nhiên” bao hàm nội dung khá rộng Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ tập trung vào những điểm cơ bản nhất của từng vấn đề Cụ thể:
+ Với vấn đề sản xuất nông nghiệp: đề tài chỉ tập trung vào ba nội dung: những quy định về chế độ quân cấp công điền công thổ, những quy định khuyến nông và việc bảo vệ sản xuất
+ Với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên: đề tài cũng giới hạn nội dung nghiên cứu trong phạm vi ba yếu tố cơ bản nhất, bao gồm: những quy định về việc giữ gìn và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, những quy định trong việc giữ gìn
vệ sinh chung, những quy định bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
Những nội dung khác chưa được đặt ra trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, lần đầu tiên, luận văn trình bày có hệ thống về vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường tự nhiên trong hương ước
Thông qua việc tìm hiểu các hình thức quy định về khuyến nông, vệ nông, bảo vệ môi trường trong hương ước cũ, đề tài bước đầu so sánh, đánh giá việc kế thừa và phát huy những giá trị tích cực của hương ước trong quy ước, làm cơ sở để xây dựng những quy ước mới phù hợp với nông thôn trên chặng đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần thực hiện Nghị quyết Hội nghị
Trang 10lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về châu thổ sông Hồng và hương ước
Chương 2: Vấn đề sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường tự nhiên
qua hương ước vùng châu thổ sông Hồng Chương 3: Từ hương ước xưa đến quy ước làng văn hoá hiện nay với
việc phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường tự nhiên
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG VÀ HƯƠNG ƯỚC
1.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Châu thổ sông Hồng được hình thành là kết quả quá trình bồi đắp phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình, qua nhiều đợt biển tiến thoái liên quan đến các thời kỳ băng hà phát triển và các thời kỳ băng tan, đặc biệt là sự chinh phục châu thổ của cư dân nơi đây với phương thức chủ yếu là lấn biển [18, tr.10] Hàng chục vạn năm đã trôi qua kể từ thời phần châu thổ này được hình thành và vùng đất này không ngừng tiến ra biển với một tốc độ hiếm có (sự tiến ra biển của phù sa sông là tiêu chuẩn chính để cấu tạo một châu thổ): vào khoảng 100m một năm Đến ngày nay, vùng châu thổ sông Hồng đã tiến ra được hơn 160 km trên một diện rộng và ngày càng mở rộng về phía biển
Ranh giới địa lý tự nhiên của châu thổ sông Hồng bắt đầu từ một số huyện châu thổ của các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh và toàn
bộ các tỉnh Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình Đặc trưng cơ bản của châu thổ này là thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10m - 15m giảm dần đến độ cao mặt nước biển[26]
Niên giám thống kê (Nhà xuất bản Thống kê) cho biết sự phân bổ các tỉnh, thành theo địa vực thì năm 1992, châu thổ sông Hồng gồm có 6 tỉnh, thành: Thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Hà Tây, Hải Hưng, Thái Bình,
Hà Nam Ninh Đến năm 1994, là 7 tỉnh, thành: Thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Hà Tây, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình Năm 1996, vùng châu thổ sông Hồng từ 7 tỉnh, thành được nâng lên thành 9 tỉnh, thành: Thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Từ năm 2000 đến nay, châu thổ sông Hồng gồm 11 tỉnh, thành: Thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Hà Tây,
Trang 12Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định,
và Ninh Bình (Xem phụ lục 1)
Khí hậu của châu thổ sông Hồng rất phù hợp với việc gieo trồng lúa nước
và nhiều loại cây nhiệt đới khác, bởi nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,50C - 23,50C và lượng mưa trung bình năm 1400 - 2000 m/m, tổng nhiệt độ 83000C -
87000C đủ cho hai vụ lúa [26, tr.11] Tuy nhiên, khí hậu châu thổ sông Hồng cũng khá độc đáo, khác hẳn với miền Trung và miền Nam Đây là vùng châu thổ duy nhất ở Việt Nam có dạng khí hậu bốn mùa, tính chất thất thường với một mùa đông lạnh (ba tháng có nhiệt độ dưới 180C) đã khiến cho mùa vụ lúa ở châu thổ sông Hồng tối đa chỉ được hai vụ và trong khoảng thời gian đất nhàn
cư, dân nơi này lại canh tác hoa màu và một số cây ngắn ngày á nhiệt đới và ôn đới, khiến cho cơ cấu cây trồng ở đây phong phú, đa dạng, làm giàu cho bữa ăn của người dân Thực tế trên, từ lâu đã được cao dao phản ánh một cách rõ nét như sau:
Cơm ăn một bát sao no Ruộng cày một vụ sao cho đành lòng Sâu cấy lúa, cạn gieo bông Chẳng ương được đỗ thì giồng ngô khoai
Một đặc điểm nữa là môi trường nước, châu thổ sông Hồng có một mạng lưới sông ngòi khá dày, khoảng 0,5 - 1,0 km/km2 Ngoài hai con sông chính là sông Hồng và sông Thái Bình, còn có sông Đuống, sông Bạch Đằng, sông Luộc
ở bên trái sông Hồng và sông Đáy, sông Nhuệ, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Cơ ở bên phải Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa với hai mùa khô và mùa mưa, thủy chế của các con sông này cũng có hai mùa rõ rệt: mùa cạn dòng chảy nhỏ, nước trong, ít phù sa và mùa lũ dòng chảy lớn, nhiều phù sa Đặc biệt, lũ sông Hồng thất thường mà mãnh liệt đã khiến cho vấn đề chống lũ lụt, chống úng là mối quan tâm hàng đầu của cư dân sống trong châu thổ, mà biện pháp duy nhất
Trang 13là đắp đê, và xã hội châu thổ sông Hồng, về căn bản là một xã hội thủy lợi hóa
Đê sông, đê biển là công trình chinh phục tự nhiên quen thuộc của cảnh quan ở châu thổ sông Hồng Hệ thống đê được con người bồi đắp ngày càng trở nên đồ
sộ, vững chắc trước tác hại thuỷ tai trong mùa bão lũ Do hệ thống đê luôn được củng cố nên hệ thống đất đai trong đê đều dần trở nên nghèo kiệt, ít màu mỡ Phần đất ngoài đê, được phù sa bồi đắp nên đất màu mỡ, cho năng suất thu hoạch rất cao đối với các loại hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày Với mạng chi lưu dày đặc, nên theo thuỷ lộ, các thuyền buôn từ thượng du xuống miền duyên hải được thiết lập, tạo ra sự lưu thông hàng hoá giữa các vùng miền Như vậy, với chế độ thuỷ lưu tự nhiên và tác động của bàn tay, khối óc con người, vùng châu thổ sông Hồng từ bao đời nay luôn luôn là vùng đất có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội [26]
Đồng bằng châu thổ sông Hồng được bao bọc bởi rừng núi và biển vịnh Bắc Bộ Nhưng trong tâm thức của người dân thì lại “xa rừng, nhạt biển” và hướng vào nền nông nghiệp thuần túy Vốn họ từ vùng trước núi (trung du bán sơn địa) tiến xuống khai thác châu thổ lầy trũng thành châu thổ trú phú, nhưng chất “rừng núi” ở họ rất mờ nhạt, vì xa xưa, con người đã khai thác bằng phương pháp “đao canh hỏa chủng” những vùng đất cao quanh châu thổ và đẩy lùi các cánh rừng về phía miền núi Việt Bắc và Tây Bắc Ngay vùng trung du rộng lớn từ châu thổ sông Hồng qua các tỉnh miền Trung, đến vùng phía Đông dãy Trường Sơn, tận miền Đông Nam Bộ là một vùng rộng tới 11 triệu ha (1/3 diện tích cả nước), nay phần lớn là đồi trọc, do rừng trước đã bị phá đi phá lại nhiều lần và chế độ canh tác không tốt từ hàng nghìn năm nay Đất nghèo chất dinh dưỡng, các chất kiềm và kiềm thổ bị rửa trôi mạnh Mặt khác, biển cả bao
la luôn ở trước mắt họ, điều kiện đánh cá biển không phải là không thuận lợi Ven biển Đông có những dải đáy biển rộng nằm ngang dưới nước sâu từ 40 cm đến 60 cm, lượng cá không nhiều, nhưng có nhiều giống cá, trong đó có từ 250 đến 300 giống ăn được, cùng rất nhiều tôm cua và loại thân mềm (mực thẻ, mực
Trang 14nang, tuộc) Tuy vậy, người Việt ít có khả năng đi biển, trong suốt hàng nghìn năm lịch sử người nông dân Việt không tổ chức việc đánh cá theo quy mô lớn, nghề khai thác hải sản không mấy phát triển Ngược lại, do địa hình nhiều sông ngòi, nên người dân lại trọng việc khai thác cá nước ngọt Dù sao, người nông dân Việt, về cơ bản là người nông dân canh tác nông nghiệp trồng lúa và hoa màu là chính Tuy nhiên, cách thích ứng môi trường và canh tác nông nghiệp có sắc thái riêng Do canh tác lâu đời trên mảnh đất cổ, do sức ép dân số cao và nạn thiếu lương thực, nên người nông dân nơi đây đã sớm đi vào thâm canh, vừa đắp đê ngăn lũ lấn biển, vừa Nam tiến để mở rộng diện tích, tăng nguồn lương thực [26]
Người nông dân ở châu thổ sông Hồng đã đạt trình độ thâm canh cao, thể hiện qua việc làm thủy lợi để tăng diện tích và tăng vụ, lựa chọn giống lúa trồng
để nâng cao năng suất, cải tiến kỹ thuật Chính vì thế mà từ lâu, năng suất lúa nơi đây đạt mức cao nhất so với các vùng khác trong nước ta Khi P.Gourou nghiên cứu châu thổ sông Hồng (1931) thì lúc đó, bên cạnh năng suất bình quân chưa cao (1,4 tấn/ha) đã thấy những năng suất 3,5 tấn/ha, tức khoảng 6-7 tấn/năm/ha Ngày nay, năng suất bình quân ở châu thổ sông Hồng là 5,5 tấn/ha, năng suất cao khoảng 8-9 tấn/ha [26]
Tuy nông nghiệp từ lâu đã đi vào hướng thâm canh cao so với các vùng khác, nhưng cũng để ứng phó với tình trạng dân số cao, luôn mất cân đối giữa dân số và đất đai, lương thực, nên đã từ lâu vùng châu thổ sông Hồng cũng là nơi phát xuất những luồng di dân đi các vùng đất mới Ít hướng ra biển và đại dương, nhưng lại đi vào khai thác cái đa dạng của tài nguyên và khả năng lao động của các ngành nghề thủ công truyền thống, nhất là trong thời gian nông nhàn
Các nghề thủ công có lịch sử lâu đời là nghề gốm, nghề dệt và nghề luyện kim Ngoài ba nghề này, cư dân châu thổ sông Hồng còn có các nghề khác, trong đó nghề thủ công mỹ nghệ như: chạm khắc, chạm bạc, làm tranh dân gian,
Trang 15nghề kim hoàn Hoạt động thương nghiệp cũng góp phần tạo nên nét đặc trưng của đời sống văn hoá cư dân trong vùng đó là chợ quê Các chợ thường lập ở các trung tâm, các đầu mối giao thông của làng xã, ở cạnh các đình, chùa, quán, nên thường có tên chợ Đình, chợ Chùa, chợ Quán
Những vết hằn sâu sắc nhất trong tâm thức con người Việt cổ - chủ nhân văn hóa Đông Sơn, là tâm lý, tâm thức của một cư dân nông nghiệp, cư dân trồng lúa nước Bởi nông nghiệp là nguồn sống chính của cộng đồng, nên mọi hoạt động của con người trên mảnh đất này đều bị nghề nông chi phối sâu sắc
Do đó, tín ngưỡng, tôn giáo chính của họ là những lễ thức nông nghiệp và hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng cơ bản là những hội mùa Lễ cầu mùa được diễn ra hàng năm trong tất cả các làng xã Những hoạt động hội rất tự do, tự phát của người Việt thuở xưa đã được các lớp con cháu truyền tụng, phát triển
nó thành nhiều hình thức nghệ thuật Bằng các lễ thức, trò diễn lễ hội dân gian
đã phản ánh về đời sống tinh thần, văn hóa, cũng như cách làm ăn, cày cấy, lòng ước mơ về những vụ mùa tươi tốt của người Việt ở châu thổ sông Hồng
Đồng bằng châu thổ sông Hồng là một vùng văn hoá, lịch sử cổ, là cái nôi hình thành dân tộc Việt và cũng là quê hương của các nền văn hoá nổi tiếng trải suốt tiến trình lịch sử văn minh Việt Nam Từ thời Hùng Vương tới ngày nay là
sự phát triển nối tiếp của ba nền văn hoá lớn: văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đại Việt, văn hoá Việt Nam, mà tiêu biểu cho các nền văn hoá ấy là trung tâm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội Đây là trung tâm văn hoá quan trọng nhất, góp phần làm nên những thành tựu cao nhất và tiêu biểu nhất cho nền văn hoá Đại Việt Do vậy, nó mang trong mình truyền thống lâu đời bền chắc, vừa thích ứng và theo kịp với những biến động lịch sử, vừa đóng vai trò hướng đạo đối với cả nước
1.1.2 Điều kiện xã hội
Nói đến điều kiện xã hội của châu thổ sông Hồng, trước hết, chúng ta
không thể không tìm hiểu, nghiên cứu về làng xã của nó Làng xã cổ truyền của
Trang 16người Việt, là tế bào cơ bản, là tấm gương phản chiếu nền văn hoá truyền thống của dân tộc Cho nên: “Văn hoá dân tộc chỉ là sự mở rộng và nâng cao của văn hoá xóm làng, hay như có người nói, văn hoá Việt Nam truyền thống về cơ bản
là văn hoá xóm làng" [26, tr.111] Những yếu tố văn hoá như tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội của làng xã cũng tạo ra mối liên hệ khắp vùng, miền toàn quốc Xét về cuội nguồn, làng thời phong kiến, là sự phát triển mở rộng của một gia đình lớn, một gia tộc từ thủa khởi đầu Những cứ liệu điều tra cho tới gần đây cho thấy, hầu như các làng đều có một họ gốc, họ lớn nhất, rồi từ đó tiếp nhận thêm các dòng họ mới bằng nhiều quan hệ khác nhau Nhiều làng cho tới nay vẫn giữ lại tên một dòng họ, một gia tộc nào đó, như Dương Xá, Đào
Xá, Đặng Xá, Ngô Xá, Nguyên Xá Dần dần, cùng với quá trình tăng trưởng dân số, xáo trộn dân cư, quan hệ hôn nhân, các làng từ quan hệ thân tộc trở thành quan hệ láng giềng Cho tới nay, khoa học kỹ thuật đã đạt đến trình độ hiện đại hoá cao, nhưng càng ngày, người ta càng nhận thức rõ rằng gia đình, gia tộc, một hình thức cơ cấu xã hội mang tính tự nhiên là cơ cấu phù hợp nhất với sản xuất nông nghiệp, không thể tổ chức sản xuất nông nghiệp theo kiểu dây chuyền của xí nghiệp công nghiệp [47]
Nhà nghiên cứu Diệp Đình Hoa khi nghiên cứu về người Việt vùng châu
thổ Bắc Bộ cho rằng: Tuy dựa trên một mẫu số chung, nhưng mỗi làng đều có một kiểu tổ chức riêng để phù hợp với mọi sinh hoạt kinh tế - xã hội, mọi nhu cầu và mục đích của từng làng Làng Việt là một cộng đồng về phong tục, tập quán, mỗi làng có tập tục về cưới xin, tang ma, khao vọng riêng và được ghi
cụ thể trong hương ước Làng còn là cộng đồng về tín ngưỡng, tôn giáo và các sinh hoạt văn hoá, lễ hội của làng xã Đời sống tâm linh của cư dân châu thổ sông Hồng được biểu hiện qua rất nhiều hình thức mà cốt lõi vẫn là văn hoá làng xã để được cộng cảm, cộng mệnh, cộng lãnh thổ, cộng đồng trong sự sống
và cái chết cùng ý thức hướng về cuội nguồn Cuối cùng, làng là một cộng
Trang 17đồng về tiếng nói (tiếng làng), được biểu hiện qua tiếng nói, cách nói, và cách diễn đạt khác nhau[18]
Như vậy, chúng ta có thể nói rằng, làng xã với diện mạo vật thể và phi vật thể, là nơi gắn bó suốt đời và truyền đời của người nông dân, tạo cho họ một nhận thức và một thái độ nhất quán: sống theo làng và vì làng, bám chặt lấy làng và giữ làng bằng mọi giá
Làng xã là tổ chức xã hội truyền thống, có tính tự quản thông qua bộ máy quản lý là hội đồng kỳ mục do dân bầu ra Để điều hoà hoạt động trong làng xã, gìn giữ thuần phong của xóm làng, đồng thời giữ gìn kỷ cương phép nước, các quan viên trong làng xã cùng nhau họp bàn để lập ra hương ước cho làng mình
và lưu truyền cho đời sau
Trong làng xã, quyền lực mang tính tự quản, phần lớn dựa trên cơ sở quyền trưởng lão, trọng lão trong làng Trong dân gian có câu: "Triều đình trọng tước, làng nước trọng xỉ" Luật nước là sản phẩm của chính quyền, còn lệ làng dựa vào truyền thống được cộng đồng chấp nhận từ những kinh nghiệm của con người và được truyền từ đời này sang đời khác Lệ làng là những quy phạm hoạt động của mỗi thành viên trong làng, còn hương ước tức lệ làng thành văn Để đảm bảo cho sự cân bằng xã hội, hương ước của từng làng, xã đã đáp ứng được yêu cầu đó Trong hương ước, có những quy định chặt chẽ về đời sống sản xuất,
về quan hệ xã hội, về đời sống tinh thần của người dân trong vùng Đồng thời, hương ước cũng có những quy định về thưởng, phạt rõ ràng nhằm khuyến khích những hoạt động có lợi cho làng xã
1.2 TỔNG QUAN VỀ HƯƠNG ƯỚC
1.2.1 Một số cách hiểu về hương ước
Các khái niệm hương ước, khoán ước, hương lệ, khế ước, hương khoán, hương biên, khoán lệ, thể lệ, tục lệ, áp khoán, cựu khoán, quy ước thường để chỉ chung cho những quy định về một số các hoạt động của làng xã, như: thiết chế tổ chức xã hội, hoạt động của các hội, phường, giáp, các hoạt động tín
Trang 18ngưỡng, tôn giáo Và thuật ngữ thông dụng nhất là hương ước hay khoán ước
Vì vậy mà luận văn của chúng tôi sử dụng thuật ngữ hương ước làm thuật ngữ nghiên cứu
Trước hết, chúng tôi điểm lại những cách hiểu về hương ước được các nhà nghiên cứu đề cập
Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Hương ước là luật lệ do làng xã dưới
chế độ cũ đặt ra” [71, tr.863] “Khoán ước thì được định nghĩa là “Bản giao kèo” [71, tr.910]
Còn nhà nghiên cứu Diệp Đình Hoà thì định nghĩa: “Hương ước là biểu hiện cho sự dung hòa về quyền lợi giữa làng xã với nhà nước, giữa “phép nước”
và “lệ làng” [Diệp đình hoa, tr.554]
Theo GS Phan Đại Doãn, “hương ước tức là lệ làng thành văn bản, hay hương ước là công cụ tự điều khiển, tự điều chỉnh của làng xã” [12, tr.20-21] Tác giả Trần Từ cho rằng: “Dù không phải là một bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những điều quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng
xã, vẫn đóng vai trò một “cương lĩnh”, có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã,
mà mọi cá nhân, mọi tổ chức trong làng, trong xã phải tuân thủ” [57, tr.103] Theo Phan Kế Bính thì khoán ước được định nghĩa như sau: “Chốn hương thôn thường có ước hẹn với nhau, lập ra sổ sách, đồng dân ký tên gọi là khoán ước Trong khoán ước có thưởng có phạt, trừ ra các việc lớn đã có phép của nhà nước, còn việc nhỏ thì trong dân thôn thi hành lẫn nhau” [4, tr.180] Nhà dân tộc học Bùi Xuân Đính - một trong những người đầu tiên đi sâu nghiên cứu hương ước và có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này đã định nghĩa: “Hương ước (Hương khoán, Hương biên, Hương lệ ) là văn bản ghi lại những tục lệ của Làng, bao gồm các quy định về thế ứng xử, về các nghĩa vụ phải gánh vác, những việc được làm hay bị cấm đoán nhằm buộc từng tổ chức,
Trang 19cá nhân vào đời sống cộng đồng” [51, tr.11] Có thể nói, đây là một trong những định nghĩa đầy đủ nhất, được nhiều người tán đồng nhất
Nhìn chung, trong giới nghiên cứu Việt Nam, các từ hương ước, lệ làng dùng để chỉ hương ước người Việt Đối với các dân tộc thiểu số, chúng ta thường dùng từ luật tục Tuy nhiên, GS TS Ngô Đức Thịnh, trong công trình
Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam lại có một cách sử dụng hơi khác
Trong công trình này, ông coi hương ước cũng là luật tục, một thứ “luật tục thành văn của làng xã người Việt” [46, tr.111] Ở chương ba, ông viết:
Nếu căn cứ vào hình thức tồn tại và cả trình độ phát triển nữa thì có thể chia luật tục của các dân tộc ở Việt Nam thành ba loại chính:
- Luật tục dưới dạng lời nói vần truyền miệng
- Luật tục thành văn hay đã được văn bản hoá
- Luật tục tồn tại dưới dạng các thực hành xã hội
Nếu căn cứ vào trình độ phát triển của luật tục phản ánh trình độ phát triển xã hội, thì có thể phân chia luật tục của các tộc người ở nước ta thành ba cấp độ:
- Luật tục Tây Nguyên
- Luật tục của các tộc người thung lũng, mà đặc trưng là luật tục Thái
- Hương ước của người Việt.[46, tr.88-89]
Theo chúng tôi, dù quan niệm như thế nào thì luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt vẫn là hai loại khác nhau, là những sản
phẩm của hai trình độ phát triển xã hội khác nhau Trong công trình Luật tục với đời sống (Công trình được Hội Văn nghệ dân gian tài trợ năm 2006, chưa xuất
bản) GS Phan Đăng Nhật không quan niệm bộ luật tục Thái là luật tục dân gian
Trang 20Hệ thống thiết chế của làng hình thành dần trong quá trình phát triển hàng nghìn năm qua của xã hội nước ta đã ngày càng chặt chẽ, vững chắc và làm nên sức mạnh của làng Hệ thống ấy được thể hiện một cách đầy đủ nhất trong bản khế ước chung của dân làng, gọi là “hương ước”
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của hương ước
Trước khi nhà nước phong kiến trung ương tập quyền được hình thành các nhóm cư dân đã tập hợp thành từng cộng đồng làng xã nhỏ lẻ và riêng biệt Thời kỳ này, số lượng dân cư còn ít, các tổ chức xã hội mới được hình thành nên chưa phức tạp về tổ chức và quan hệ xã hội Nhưng để tồn tại được, những cộng đồng nhỏ ấy phải đề ra những quy ước về tập tục, về việc thờ cúng, bảo vệ phong tục tập quán của làng, bảo vệ đất đai thuộc lãnh thổ của làng, bảo vệ thành quả lao động, việc ứng xử với những thành viên mới Chính những nhu cầu này của cộng đồng đã đòi hỏi phải có quy tắc, nền nếp, trật tự Đó chính là yêu cầu tự nhiên của con người nên mỗi cộng đồng đã tạo cho mình những tục
lệ, tập quán riêng, và đưa nó trở thành lệ làng và truyền khẩu từ đời này sang đời khác, nhằm ước thúc mỗi thành viên trong làng luôn có nghĩa vụ tuân theo
để đảm bảo cho cộng đồng tồn tại và phát triển
Theo thời gian, làng xã ngày càng phát triển, cư dân ngày càng đông đúc, cuộc sống của làng mạc ngày càng phong phú thì tục lệ ngày càng nhiều nhằm đáp ứng được những nhu cầu của dân cư trong cộng đồng Khi làng Việt tiểu nông định hình, dân số mỗi làng ngày càng phát triển đến con số hàng nghìn thì các quan hệ xã hội giữa các cá nhân với nhau, giữa các cá nhân với các tổ chức phe giáp, phường hội, xóm ngõ, bộ máy thôn xã truyền thống, giữa làng xã và nhà nước phong kiến ngày càng phức tạp Trong tình hình đó, để giữ được thế thăng bằng trong làng xã, những quy ước trước kia phải được bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của làng xã Trước hàng loạt những quan hệ xã hội của làng mạc tiểu nông chằng chéo như thế, những quy ước, tập tục truyền miệng sẽ kém hiệu lực Bởi vì khó có thể nhớ hết được, hơn nữa để thống nhất với nhau được những điều này, điều kia về quy tắc ứng xử, về quyền lợi, nghĩa vụ của cá
Trang 21nhân với cộng đồng cũng rất khó Chính vì vậy, việc văn bản hóa những tập tục, tập quán với những quy định chi tiết, cụ thể cần phải được ra đời để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của làng xã
Như vậy, hương ước ra đời là yêu cầu, đồng thời cũng là kết quả của quá trình phát triển nội tại của đời sống làng xã Nó là sự kế tục và hoàn chỉnh những quy ước cơ sở của từng nhóm cư dân trong từng đơn vị cư trú
Làng Việt buổi đầu là điểm tụ cư của những người trồng trọt Quá trình phát triển của làng gắn liền với lịch sử của đất nước Trong thời Bắc thuộc, các thư tịch cổ đã không ghi chép gì về các đơn vị tụ cư có tên gọi là làng mà chỉ cho biết rất sơ lược về một đơn vị hành chính có tên gọi là “xã” Trong thời kỳ này bọn đô hộ Trung Quốc muốn với tay vào sâu những đơn vị tụ cư còn rất nhỏ bé và giản đơn trong vùng nông thôn Việt nên đã chia và đặt các “hương” ở dưới cấp huyện, mỗi hương lại có các đại xã và tiểu xã Ở thời kỳ này các quan
hệ xã hội bên trong từng đơn vị tụ cư chưa phức tạp, diện mạo của các làng xã lúc đó không khác công xã Hùng Vương nhiều
Từ nửa đầu thế kỷ X trở đi, việc nước ta giành được độc lập đã thúc đẩy quá trình phát triển mọi mặt của làng xã Bên cạnh các thiết chế tổ chức truyền thống, trong mỗi xã thôn của người Việt đã xuất hiện một thiết chế mới do nhà nước trung ương tập quyền áp đặt nhằm hướng những đơn vị tụ cư đó vào quỹ đạo của nhà nước Từ đây, cuộc sống làng mạc trở lên phong phú, phức tạp và quá trình lệ thuộc của nó vào nhà nước trung ương cũng ngày càng rõ rệt
Sang thời Trần, trật tự đẳng cấp theo các khuôn mẫu phong kiến dần dần hình thành tạo ra những tiền đề cho sự phân hóa giai cấp [16] Đời sống các làng xã ngày càng phức tạp cả về cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ xã hội, nhất là vào giai đoạn cuối thời Trần, đầu thời Hồ Sự phức tạp này đòi hỏi phải
có những quy ước bằng văn bản để điều chỉnh Tuy nhiên, cuộc xâm lược và đô
hộ hai mươi năm của nhà Minh đã làm gián đoạn quá trình này
Đầu thế kỷ XV, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh, triều đại Hậu Lê ra đời và phát triển cực thịnh đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của các làng xã trên tất cả các mặt Lúc này, cơ cấu tổ chức làng xã đã tương
Trang 22đối hoàn chỉnh và đạt tới sự hoàn chỉnh Dưới tác động của nhà nước phong kiến, sự phát triển nội tại của các làng xã, sự hoàn chỉnh về thiết chế tổ chức cũng diễn ra mạnh mẽ Trật tự phong kiến được thể hiện qua vị trí ngôi thứ khi họp hành, quyền hưởng phần chia biếu được xác lập trên bình diện cả làng và ngày càng lấn át trật tự theo tuổi tác của truyền thống công xã Trong tình hình
đó, những quy ước truyền miệng không thể đáp ứng được yêu cầu quản lý làng
xã, nó đòi hỏi các quy ước phải nhiều hơn tương ứng với các lĩnh vực của đời sống xã hội và đồng thời cũng phải được ghi lại bằng văn bản Đó chính là tiền
đề, là thời điểm để hương ước ra đời Như vậy, hương ước được hình thành trên nền của những phong tục, lệ tục làng xã Tuy nhiên, để hương ước xuất hiện, phải có ba điều kiện cụ thể:
- Cơ cấu tổ chức làng xã đã hoàn chỉnh, các phong tục tập quán ngày một đầy đủ, phong phú và phức tạp
- Trong mỗi cộng đồng làng xuất hiện một tầng lớp nho sĩ có đủ trình độ soạn thảo các văn bản bằng chữ Hán
- Nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp sâu vào làng xã hay đời sống làng Việt ngày càng bị phong kiến hóa sâu sắc nhưng vẫn còn giữ được những tập tục, truyền thống riêng
Về thời điểm xuất hiện hương ước ở người Việt, cho đến nay, các nhà nghiên cứu sử học, dân tộc học đều thống nhất cho rằng, hương ước xuất hiện vào giữa thế kỷ XV, khi có đủ ba điều kiện cần thiết nêu trên của hương ước Chứng cứ mà các nhà nghiên cứu khẳng định là Đạo dụ 5 điểm được ban bố vào năm Quang Thuận thứ năm (1464), ghi trong “Hồng Đức thiện chính thư”, có nội dung như sau:
Nhà nước đã có điều luật để chiếu vào đó mà thi hành, dân an nước thịnh, không nên có khoán ước riêng để trừ bỏ cái hại theo chính bỏ
tà Nếu làng nào có tục khác lạ, lập khoán ước và cấm lệ, ắt phải nhờ viên chức nho giảng, người nào đứng tuổi, có đức hạnh ngay thẳng
Trang 23mới có thể tuân hành Khi đã lập khoán lệ rồi, phải trình lên quan chức, các nha môn xem xét các điều lệ có nên theo, sẽ phê chuẩn mà cho thừa hành [13, tr.102-103]
Có thể nói, đây là cái mốc đánh dấu thời điểm ra đời của loại hình hương ước với tư cách như là một bộ luật thành văn của làng xã được nhà nước cho phép soạn thảo, chấp thuận
Các bản hương ước cổ do các làng xã tự soạn thảo khá đa dạng về nội dung
và hình thức
Về hình thức, đại đa số hương ước được viết trên giấy bản, còn một số hương ước được khắc trên gỗ (làng Thọ Trai, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), trên lá đồng (làng Đông Lao, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây) Cũng có làng lại khắc hương ước trên bia đá (làng Đông Linh, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) Tùy theo cách ghi của từng làng mà hương ước được gọi theo tên khác nhau như: hương khoán, hương lệ, khoán ước, tục lệ, điều ước [16]
Về nội dung, tùy theo từng làng mà hương ước có nhiều hay ít điều, mỗi điều lại có từng phần cụ thể được chia theo các mục hoặc khoản Có bản hương ước lên tới hơn một trăm điều (hương ước làng Quỳnh Đôi có 115 điều) Nhưng cũng có bản hương ước chịu ảnh hưởng Luật pháp nhà nước nên đã chia thành hai phần: phần chính trị (nói về cơ cấu tổ chức - hành chính làng xã) và một phần là phong tục (ghi chép về tục lệ thờ cúng, ngôi thứ, chia ruộng đất ) Tùy điều kiện của mỗi làng mà các bản hương ước gồm nhiều hay ít điều khoản và tỷ lệ các điều về các mặt đời sống có những chênh lệch khác nhau và được sắp đặt theo những trình tự khác nhau Ví dụ như làng có nhiều người làm quan thì các điều khoản về khao vọng, chúc mừng sẽ chiếm ưu tiên (làng Mộ Trạch, Hải Dương); làng coi trọng việc thờ cúng thì các điều khoản liên quan đến hội hè, tế lễ lại có số lượng nhiều (làng Cổ Ninh ở Nam Định, làng Trang Liệt ở Bắc Ninh); làng có truyền thống hiếu học và khoa bảng thì việc khuyến học, tổ chức đón mừng người
đỗ đạt được đặt lên hàng đầu và các điều khoản về nó cũng chiếm tỷ lệ cao hơn Cứ như vậy, những làng nào chú trọng về vấn đề nào thì vấn đề đó được đặt lên hàng đầu Đặc biệt hương ước làng Đông Linh (Quỳnh Phụ, Thái Bình) được khắc trên bia đá chỉ có phần nói về đạo lý [16]
Như vậy, nội dung cụ thể của hương ước do làng quy định tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, kinh tế, tập quán, phong tục mà mỗi làng có những quy định riêng Tuy nhiên, nhìn chung chúng ta có thể thấy trong nhiều hương ước thường có các điều khoản phản ánh những nội dung chính sau:
Trang 24- Những quy ước liên quan đến cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng;
- Những quy ước về việc bảo vệ an ninh làng xã;
- Những quy ước về việc bảo đảm đời sống tâm linh cộng đồng;
- Những quy ước về việc bảo đảm các nghĩa vụ sưu thuế, binh dịch với nhà nước phong kiến;
- Những quy ước về khuyến học, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, lập quỹ nghĩa thương
Gắn với các điều khoản về các nội dung trên là các quy định về việc thưởng, phạt những người có công, những người thực hiện tốt hay những người
vi phạm hương ước Các hình thức khen thưởng chủ yếu là: thưởng tiền, tặng vị trí ngôi thứ (nếu có), cho giảm bớt một số nghĩa vụ phải đóng góp Các hình thức xử phạt thường là: phạt tiền hoặc hiện vật, đánh đòn, hạ vị trí hoặc truất ngôi thứ người vi phạm, tẩy chay, không cho tham dự các sinh hoạt cộng đồng Trên đây là những nội dung cơ bản của các bản hương ước cổ, nhưng không phải bản hương ước nào cũng có đầy đủ những nội dung đó Với những nội dung này, chúng ta nhận thấy hương ước là sợi dây nối liền các tổ chức và các cá nhân trong làng ở vấn đề quyền lợi và nghĩa vụ Nó trở thành một công
cụ quản lý làng, trở thành tri thức dân gian về quản lý cộng đồng và là thành tố góp phần tạo ra lối sống của dân làng Hương ước vừa là biểu hiện cho sựửtung hòa về quyền lợi giữa làng xã và nhà nước, vừa thể hiện tính tự trị, tựa quản của làng với nhà nước phong kiến
Qua một số hương ước cổ còn lưu lại ngày nay chúng ta thấy nó có lịch
sử hình thành, tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ Để phù hợp với sự phát triển của làng xã, với chủ trương chính sách của nhà nước phong kiến ở từng thời kỳ, hương ước luôn phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Ví dụ hương ước làng Dương Liễu (Hà Tây) sửa, bổ sung 9 lần (từ năm 1666-1800), hương ước làng Mộ Trạch (Hải Dương) được bổ sung, sửa đổi 16 lần (từ 1665-1797),
Trang 25hương ước làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) cũng thường xuyên được bổ sung từ năm 1660 cho đến những năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945[16] Khi nước ta bị thực dân Pháp xâm chiếm và đặt ách thống trị thì hương ước, lệ làng vẫn tác động vào đời sống của dân làng dù gặp phải sự cấm đoán, cản trở của chính quyền thực dân vì hương ước, lệ làng đã thấm sâu vào máu thịt của người nông dân Việt Nam Không thể xóa bỏ, thực dân Pháp đã quyết định cải tổ bộ máy tổ chức làng xã và các tục lệ trong làng bắt đầu từ tháng 8 năm 1921 Họ thay thế hội đồng kỳ mục bằng hội đồng tộc biểu hay hội đồng Hương chính gồm đại biểu của các dòng họ trong làng để thi hành chỉ thị của nhà nước để phân bổ sưu thuế,
Cùng với việc thay đổi hội đồng kỳ mục, thực dân Pháp cũng chấn chỉnh
bộ máy lý dịch, chấn chỉnh hoạt động của làng theo ý đồ của chúng trong việc ban hành các hương ước mẫu để buộc các làng xã Việt Nam sửa đổi theo hương ước đó Đó là lí do ra đời hương ước cải lương Trong nội dung của hương ước cải lương, thực dân Pháp đã cố tình bỏ đi những gì mà chúng cho là nguy hiểm đối với chính quyền đô hộ bằng cách đưa vào đó những điều khoản phân biệt đẳng cấp, ngôi thứ ở chốn đình trung, khuyến khích việc dùng tiền để “mua quan bán tước”, đặt ra nhiều lệ khao vọng tốn kém tạo nên những tệ nạn, thói tục hủ lậu ở các làng xã nông thôn trong những năm dưới chính quyền thực dân Pháp cai trị
Tuy nhiên, cuộc cải lương hương chính của thực dân Pháp đã không đạt được ý đồ như họ mong muốn vì hội đồng tộc biểu không có kinh nghiệm về quản lý làng xã, vấp phải sự phản ứng quyết liệt của hội đồng kỳ mục Đến năm
1941, hội đồng tộc biểu bị bãi bỏ, thay vào đó là hội đồng kỳ mục được tái lập lại với thành phần mở rộng hơn
Các bản mẫu hương ước được viết bằng chữ quốc ngữ, gồm hai phần: phần chính trị và phần tục lệ
- Phần chính trị: Quy định cách tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hội đồng tộc biểu và bộ máy chức dịch Việc thu chi ngân sách, việc sưu thuế, kiện
Trang 26cáo, việc canh phòng trong làng, ngoài đồng, việc giáo dục, việc ngụ cư, ký táng, vệ sinh
- Phần tục lệ: Do mỗi làng có tục lệ khác nhau, được hình thành từ rất lâu đời nên thực dân Pháp không thể đưa ra mẫu chung cho các làng Vì vậy, phần tục lệ quy định việc sử dụng đất công, phân định ngôi thứ, khao vọng, hôn lễ,
ma chay vẫn giữ nguyên nội dung nhưng đã được cải biến theo ý đồ của thực dân Pháp
Ngoài bản hương ước cải lương viết bằng chữ quốc ngữ, một số làng vẫn soạn ra bản hương ước bằng chữ Hán mà nội dung không tuân theo bản hương ước cải lương mẫu Họ đã bỏ đi phần chính trị, chỉ giữ lại phần tục lệ, như hương ước làng Thọ Trai (Bắc Ninh), hương ước làng Đa Ngưu (Hưng Yên) Đây là bằng chứng cho thấy sự phản ứng của làng xã trước chủ trương cải lương của thực dân Pháp “Điều đó cũng thể hiện sự tồn tại dai dẳng và sức sống bền
bỉ của truyền thống” [49; tr.133]
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cơ cấu tổ chức làng
xã thời phong kiến bị bãi bỏ, hương ước gần như bị lãng quên Lúc này, xã là cấp hành chính cơ sở, gồm nhiều làng, chứ không gồm một làng như trước Cách mạng, hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể kinh tế ở nông thôn làm cho làng cổ truyền mất đi vị trí, vai trò quan trọng của nó trong quản lý xã hội và bảo tồn các giá trị văn hóa ở nông thôn
Năm 1988, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết 10 (khoán 10) giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định và lâu dài cho nông dân Hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, là tác nhân quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Việc thay đổi vị trí của hộ gia đình dẫn đến các vị trí, vai trò thiết chế tổ chức phong tục tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, tính cách riêng của xã hội đã dần dần được khẳng định lại Một
số làng bắt đầu lập lại hương ước với tên gọi mới là “Quy ước làng” Bản quy ước đầu tiên được biết đến là của làng Hồi Quan, xã Tương Giang (nay thuộc
Trang 27huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) khởi thảo năm 1989, đến năm 1990 được ban hành
Ngành văn hóa của tỉnh Hà Bắc (cũ) thấy được những mặt tích cực của những bản quy ước này, nên năm 1991 đã lồng ghép việc soạn thảo và thực hiện quy ước làng với phong trào “xây dựng làng văn hóa” Các bản quy ước làng cũng được đổi thành “Quy ước làng văn hóa” Sau đó, việc xây dựng quy ước làng văn hóa trở thành một phong trào trong toàn tỉnh, liên tục từ giữa năm
1990 đến năm 1993 đã có trên 500 làng của tỉnh soạn thảo Mặc dù xuất hiện ở một tỉnh, mang tính tự phát về nhận thức và trong chỉ đạo có những mặt lúng túng, bất cập, song quy ước làng đã có một số kết quả tích cực trong quản lý, xây dựng nông thôn Nhiều tỉnh đã đến tham quan, học tập và trao đổi về chủ trương xây dựng quy ước làng và xây dựng làng văn hóa Các cơ quan, các nhà khoa học ở Trung ương, trước hết là các nhà khoa học tham gia đề tài cấp nhà nước KX 08-09 “Thiết chế chính trị xã hội nông thôn”đã kiến nghị cho xây dựng hương ước mới Tháng 06-1993, sở VHTT -TT tỉnh Hà Bắc đã tổ chức cuộc Hội thảo “xây dựng quy ước làng văn hóa ở Hà Bắc”, khẳng định những mặt tích cực và sự cần thiết của việc xây dựng quy ước làng văn hóa [43]
Từ những mặt tích cực của quy ước làng và những khuyến nghị của các nhà khoa học đã được Trung ương nghiên cứu, chấp thuận Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) họp tháng 06-1993 đã thừa nhận và khuyến khích các địa phương xây dựng quy ước và chính thức gọi là Hương ước
Hội nghị Trung ương 5 (khóa VII) họp tháng 06-1993 bàn về ổn định và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn đã ra Nghị quyết với nội dung khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp sống văn minh
ở các thôn, xã Từ sau khi có Nghị quyết của hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII), các địa phương trong cả nước đã chỉ đạo xây dựng hương ước mới, quy ước làng văn hóa Sau này thêm ngành tư pháp tham gia trực tiếp chỉ đạo, nên phong trào xây dựng hương ước mới đi đúng hướng, có tác dụng tích cực trong xây dựng nông thôn mới Ngày 19-06-1998, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ
Trang 28thị số 24/CT-TTg về việc xây dựng và thực hiện hương ước ở cơ sở Từ những chủ trương trên đã tạo đà cho việc soạn thảo hương ước mới tại hầu hết các tỉnh
từ miền nam Trung Bộ trở ra, tiêu biểu là tỉnh Bắc Ninh
Nhìn chung thì hầu hết các thôn làng đã soạn thảo được những bản hương ước mới có nội dung phù hợp với khuôn khổ của pháp luật, đáp ứng được yêu cầu quản lý xã hội ở cộng đồng trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế, từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
1.2.3 Những nội dung chính của hương ước
1 2.3.1 Hương ước với tổ chức làng xã
Qua các tài liệu thư tịch cổ và các bản hương ước cho thấy tổ chức bộ máy quản lý làng xã ở Việt Nam được hình thành bằng hai cách:
- Được triều đình phong kiến bổ nhiệm;
- Dân trong làng xã bầu ra
Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì đầu nhà Trần
và đầu nhà Hậu Lê, triều đình đều đặt ra lệ bổ nhiệm chức xã quan, nhưng sau
đó thì bãi bỏ và để cho dân bầu [10] Theo nội dung các bản hương ước còn lưu lại thì bên cạnh các xã quan, xã trưởng, còn có hàng ngũ các quan viên là những người giữ vị trí, vai trò không nhỏ trong việc quản lý làng xã Họ là những quan lại các cấp đã nghỉ hưu, nho sinh, đại biểu của các dòng họ và những người có công với làng xã
Điều 19, hương ước làng Phú Mỹ quy định: “Mỗi tháng đúng ngày 16 là
kỳ hội đồng hàng tháng Cứ 8 giờ sáng, viên Chánh hương hội lên hiệu trống
mở hội đồng ở công sở thì các tộc - giáp biểu phải đủ mặt Nếu tộc, giáp biểu nào bỏ thiếu làm biên bản vắng mặt, thiếu đến ba kỳ làm biên bản truất ra ngoài hội đồng, mà họ giáp ấy phải bầu người khác ra thay” Điều này cho thấy rõ rằng, ở nông thôn Việt Nam đã có một nếp sống tốt đẹp do hương ước quy định
là nhân dân tham gia tích cực vào công việc quản lý làng xã
Trang 29Tổ chức quản lý cơ bản của làng xã qua hương ước cổ là hội đồng kỳ mục, còn ở hương ước cải lương là hội đồng tộc biểu Hội đồng kỳ mục bao gồm quan lại các cấp đã về hưu, các tân cựu chánh phó tổng, cựu lý phó trưởng
và những người đỗ đạt Người đứng đầu hội đồng này là tiên chỉ, bên dưới có một hay hai thứ chỉ Còn hội đồng tộc biểu gồm các thành viên là đại biểu của các dòng họ trong làng cử ra Hai hội đồng này có toàn quyền quyết định mọi công việc trong làng Ngoài ra, bộ máy quản lý làng xã còn có lý trưởng và phó
lý, thư ký, thủ quỹ, chưởng bạ, hộ lại, trương tuần, cai vạn, thủ lộ
Xã hội Việt Nam là xã hội thuần nông, tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý làng xã được quy định khá rõ rệt, các chức danh đều rõ ràng, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, trong công việc, lý trưởng và phó lý không được tự ý quyết định, khi hội đồng tộc biểu họp bàn công việc thì quyết định theo đa số Tùy theo làng lớn, làng nhỏ mà một số chức vụ được kiêm nhiệm như phó lý kiêm chức trương tuần, cai bạ, thư ký kiêm chức cai bạ Nhưng cũng có chức vụ không được kiêm nhiệm như lý trưởng không được kiêm chức thủ quỹ để đề phòng lạm dụng Điều này khiến cho tổ chức quản lý làng xã hoạt động thông suốt, tránh sự chồng chéo lẫn nhau trong thừa hành công vụ
Bên cạnh việc định ra các chức danh của bộ máy, các hương ước còn có mục “Quân kỷ” Nội dung của mục này bao gồm các điều quy định về tiêu chuẩn bầu chọn người, đạo đức, phong cách làm việc, khen thưởng và kỷ luật đối với người được dân bầu chọn làm việc cho làng Với những quy định này,
có lẽ sẽ không có xã quan nào dám làm điều trái với hương ước, bởi vì họ luôn
bị sự giám sát của cộng đồng cư dân làng xã Những người quản lý này, hoạt động theo những chức danh, nhiệm vụ và trách nhiệm rất rõ ràng Họ có khả năng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao mà không cần sự chỉ đạo của bộ máy chính quyền cấp trên Chính vì vậy, tổ chức quản lý làng xã là người trực tiếp hướng dẫn, chỉ huy, động viên, khuyến khích dân làng kịp thời nhất trong mọi công việc, mọi hoàn cảnh Đồng thời nó cũng đảm bảo sự an toàn, an ninh
Trang 30cho làng xã, làm cho mọi mặt hoạt động của làng xã chuyển động theo hướng hoàn thiện và ngày càng đi lên một cách tốt đẹp
Qua những cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược, chúng ta cũng thấy rất rõ, truyền thống tự quản của làng xã đã phát huy một cách tốt nhất tác dụng của nó đối với dân làng Từ đó, chúng ta càng thấy rõ hơn tổ chức làng xã giữ một vai trò rất quan trọng trong việc tham gia quản lý chung của đất nước
1.2.3.2 Hương ước với thuần phong, mỹ tục
Trải qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, mỗi dân tộc đã có rất nhiều phong tục, tập quán được hình thành, tồn tại hoặc mất đi, hoặc phát triển cao hơn thành những phong tục, tập quán mới Mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán phù hợp với đặc điểm tâm lý dân tộc, hoàn cảnh, điều kiện sống mang bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình Trong các phong tục, tập quán được hình thành từ xa xưa thì có những phong tục, tập quán được hình thành tồn tại được một thời gian nhưng sau đó lỗi thời và bị lãng quên; có những phong tục, tập quán hay, phù hợp với cuộc sống được nâng niu, duy trì, phát triển và lưu lại đến ngày nay Nhưng nó mất đi hay tồn tại đều phụ thuộc vào tình hình của từng thời điểm, từng hoàn cảnh của mỗi địa phương Vì vậy, mà dân tộc Việt Nam đã sử dụng hương ước để bài trừ những thói hư tật xấu của con người và khuyến khích cổ vũ mọi người duy trì thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc
Ý thức dùng hương ước để cải biến đồi phong, bại tục và phát triển thuần phong mỹ tục thường được nêu rõ ràng ở phần mở đầu của hương ước
Tục lệ xã Đọi Sơn (Hà Nam) ghi “Khoán lệ của hàng xã cũng như luật lệ của Nhà nước cần phải tuỳ thời thay đổi để thích hợp với sự thực tiến hoá và cách sinh hoạt của dân Vậy muốn cho trong xã được thịnh vượng, thì phải châm trước tình thế mà sửa đổi những khoản lệ trong dân Phàm các thuần phong mỹ tục của Tiền nhân để lại ta phải duy trì, còn những lệ tục hư danh
Trang 31hiện tại cần nên bỏ đi Mục đích làm cho gia tộc được thịnh giầu, dân xã có trật
tự Sau sẽ theo trình độ tiến hoá mà cải bổ thêm, để thích hợp ngày nay cho vẻ vang trong xã hội vậy”
Thông qua các điều quy định của hương ước để cải hóa phong tục, tập quán trong nông thôn là một biện pháp rất hữu hiệu Các quy định của hương ước luôn phản ánh đầy đủ đặc tính của từng địa phương Đặc biệt các quy định này tuy mang nặng tính tự nguyện nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ tính cưỡng chế nên nó mạnh hơn những quy tắc đạo đức Quy định trong hương ước bao gồm nhiều nội dung về phong cách sống, lối sống của con người thông qua một số phong tục như cưới hỏi, ma chay, giao lưu, ứng xử trong cộng đồng như con cái với cha mẹ, ông bà, vợ chồng, học trò với thầy học, trẻ con với người lớn, người dân với quan chức, hàng xóm láng giềng với nhau
Việc hôn lễ
Cưới xin là vấn đề hệ trọng trong đời sống con người, nên các hương ước đều quy định con trai đến 18 tuổi mới được lấy vợ, con gái 17 tuổi mới được lấy chồng Không có hương ước nào cho phép lấy vợ, chồng sớm hơn Gia đình nào
có con cháu thành gia thất, phải có mâm cỗ ra đình trình làng, trước là để các bậc thành hoàng chứng giám, sau là để chính quyền và bà con trong làng xã biết Trai gái dựng vợ gả chồng phải nộp một khoản tiền gọi là tiền cheo, nhưng không quá nặng; số tiền này đưa vào quỹ làng dùng vào việc công Trai gái lấy
vợ, lấy chồng làng khác thì phải nộp nhiều hơn
Nhiều hương ước còn quy định không được tổ chức ăn uống xa xỉ, phải tiết kiệm trong tiến hành tổ chức hôn lễ, thực hiện chế độ một vợ một chồng Điều 121 hương ước thôn Yên Trai, xã Vân Canh (nay thuộc huyện Từ Liêm) quy định: “Người nào bỏ vợ, chê chồng, khi lấy vợ, lấy chồng khác tất phải có giấy tiêu hôn trình hội đồng, hộ lại thì thủ quỹ mới được nhận tiền cheo”
Trang 32Một số khoán ước còn đề cập đến cả những chi tiết nhỏ, nhằm đảm bảo cho các đám cưới không bị cản trở, như phạt bất cứ ai đóng cọc, chăng dây ngăn cản đám cưới (hương ước xã Đại Hữu (Thái Bình), hương ước làng Võng Thị (Hà Nội)
Việc tang ma
Người Việt Nam quan niệm “Nghĩa tử là nghĩa tận”, vớiáy nghĩa đạo lí rất sâu xa Cho nên, các hương ước đều quy định việc đưa tiễn người quá cố là nghĩa vụ của mọi người, bắt buộc mọi người phải có mặt Ai không có lý do mà vắng mặt trong buổi đưa tiễn sẽ bị làng phạt Việc đến giúp các gia đình có việc hiếu là nghĩa vụ của mọi người, đồng thời cũng là niềm vinh dự Nếu ai không làm tròn nghĩa vụ thì lần sau không được chọn đến giúp, mà còn bị phạt
Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta thấy, trong một số hương ước quy định rất rõ: khi trong gia đình có người chết thì phải gặp những ai, lễ mọn như thế nào, phải làm những nghĩa vụ gì với làng, nhưng sau đó bao giờ cũng kết luận một câu là “tùy hoàn cảnh gia đình”, nếu nghèo túng chỉ cần 100 miếng trầu lễ tạ, thậm chí chỉ cần “báo hiếu mời” là được
Số lượng quy định về tang lễ trong mỗi hương ước có khác nhau nhưng đều có chung quan điểm tiến bộ là bãi bỏ những hủ tục trong ma chay như bày trò ăn uống, tế lễ linh đình, kéo dài việc để người chết trong nhà đều bị bãi bỏ
Ví dụ như điều 44, hương ước xã Cổ Nhuế, nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội quy định: “Trong làng ai mệnh một, bất cứ sang, hèn, giàu, nghèo, trong 24 giờ phải rước ra đồng Trong thời gian ấy nhất thiết cấm ngặt không được tạo ra sự
ra ăn uống, giết trâu, giết bò để thiết đãi mời làng”
Một số hương ước cổ có đưa ra những quy định phân biệt đối xử đối với những người khi còn sống có hành vi làm trái khoán ước, làm mất danh dự của làng xóm thì khi chết không ai được đến đưa ma Đây là một hình phạt kinh khủng có tác dụng răn đe rất hiệu nghiệm nhưng có lẽ nhận thấy hình phạt này
Trang 33hơi quá đáng nên một số hương ước cải lương đã bỏ đi và trở thành một nếp sống đẹp, một mỹ tục mới trong nông thôn
Tinh thần tôn trọng người già, người có công
Theo quan niệm của người Việt Nam, tôn trọng người già đó là điều tích đức cho chính bản thân mình Trong tất cả các hương ước đã sưu tầm được, hương ước nào cũng có những điều quy định về ngôi thứ, chúc mừng, quà biếu; ngoài ra các cụ còn được miễn mọi lao động công ích, giảm sưu thuế và các khoản đóng góp về tiền bạc
Trong 4 điều được coi trọng thì việc trọng người già được đặt lên hàng đầu, tiếp đến là tri thức, những người được Vua ban phẩm hàm và cuối cùng là những người đang đảm nhiệm các chức vụ làm việc trong bộ máy nhà nước và
tổ chức xã hội Điều này được thể hiện trong các điều nói về vọng lão, khao vọng Điều 20 hương ước làng Võng Thị nay thuộc quận Ba Đình quy định:
“Trong làng người nào nhiều tuổi hơn cả, thông hiểu Hán tự thì được làm tế chủ, cũng là những người khoa mục và những người có phẩm hàm cao nhất Nếu những người ấy đi vắng thì cắt xuống người dưới”
Người Việt Nam trong thời đại hiện nay vẫn giữ những điều coi trọng ấy: Tôn trọng người già; tôn trọng những người có văn bằng, học vị, tri thức; tôn trọng những người được Nhà nước phong tặng các danh hiệu vẻ vang Đó là những đức tính tốt từ xưa cần được tôn trọng, giữ gìn và phát triển
Tinh thần lấy hoà làm trọng - tương thân tương ái
Tương trợ nhau lúc khó khăn là một nét sinh hoạt đẹp đẽ của người dân Nghệ Tĩnh Với ý thức nhường cơm sẻ áo, cứu tế tương trợ đã trở thành hành động tự phát và lập kho nghĩa thương là một trong những biểu hiện của tinh thần ấy
Kho nghĩa thương (còn gọi là kho nghĩa sương) là kho thóc của dân thôn
đề phòng khi bị thiên tai, hạn hán hoặc lụt lội, mất mùa, dân làng khổ sở thì
Trang 34mang thóc ấy chuẩn cấp cho người nghèo Kho thóc này được gây dựng nên từ một phần của ruộng công, từ lòng hảo tâm của những người khá giả, từ sự quyên góp không kể ít nhiều của tất cả mọi người Vì thế việc sử dụng kho thóc này đòi hỏi phải công bằng Gặp khi mất mùa, đói kém, gặp nạn binh đao khói lửa, kho thóc này dùng cho việc cứu tế
Lập kho thóc nghĩa thương là một biện pháp cứu trợ hữu hiệu, thể hiện tinh thần đoàn kết, lá lành đùm lá rách, nên hương ước làng Nhị Khê (tỉnh Hà Tây) ghi rõ: “Làng lập một kho nghĩa sương, cứ thu ruộng tư trong làng mỗi sào một thước và ruộng hậu làng mượn cả ra, chia cho những người đến vai được cấy ruộng ấy, được cầy cấy; làng thu mỗi sào 40 thước, trữ vào kho làng, còn những hậu kỵ của làng, làng thu làm xuân thu nhị kỳ, lấy tiền công chi việc tế Thuế thời làng nộp Ruộng tư thu ba năm thời thôi Ruộng hậu nộp mượn ba năm thời giả Thóc kho nghĩa sương ấy, làng ai có vay thời lấy lãi nhẹ mà thôi Khi đói kém thời cho vay mà không lấy lãi”
Tình làng nghĩa xóm đã ăn sâu, thấm vào máu thịt mỗi người dân Việt Nam cho nên hầu hết các bản hương ước đều đề cập đến tinh thần thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt hàng ngày Với họ, việc cứu giúp lẫn nhau, đi lại thăm viếng là nhiệm vụ, là thói quen Vì vậy, họ cho rằng thấy chết mà không cứu là có tội, thấy hoạn nạn mà không dốc sức là thất nhân thất đức Hương ước một số làng còn dành hẳn một điều về “Ứng cứu hiệu lệnh”
để nhắc nhở người dân trong xã những việc nên làm và đã trở thành quy định chung Bản hương ước này không chỉ đưa ra mức thưởng cho những người có công cứu nạn mà còn định ra mức đền bù cho những người chẳng may thiệt thòi trong khi cứu giúp Bên cạnh đó, hương ước một số làng cũng thẳng tay trừng trị những kẻ nào làm ngơ, ngại khó, ngại khổ, không sẵn sàng, ứng cứu người gặp nạn Hơn nữa, còn quy trách nhiệm và xử phạt những người điếm trưởng (tương tự như chức tổ trưởng) không làm tròn phận sự của mình, quy định tẩy
Trang 35chay và xử phạt những kẻ nào nhẫn tâm lợi dụng lúc người khác đang gặp khó khăn mà mưu lợi cho riêng mình
Với tấm lòng sẵn sàng sẻ chia, đùm bọc mỗi khi có khó khăn trong lúc làm nhà, khi tống táng, lúc lấy vợ lấy chồng, khi trồng lúa trồng khoai, lúc gặt hái, khi có việc vui tất thảy đều tạo thành một truyền thống đẹp để con cháu học tập và noi theo
Việc lấy hoà làm trọng được người dân Việt Nam rất coi trọng vì có giữ gìn được hoà khí thì mới có thể đoàn kết, có đoàn kết thì mới có đủ sức mạnh để chống giặc ngoại xâm, ngăn ngừa được trộm cướp và phòng chống thiên tai Thực tế cuộc sống muôn màu muôn vẻ Vì vậy, xảy ra tranh chấp, xích mích cũng là điều khó tránh cho nên người dân luôn lấy việc hoà giải làm đầu khi gặp những trường hợp cãi cọ, kiện cáo Hầu hết các hương ước khi đề cập đến vấn
đề này đều có cách giải quyết tương tự giống nhau: trước hết đôi bên phải đưa
ra Hội đồng (hoà mục) để thương lượng, hoà giải Nếu thương lượng, hoà giải không được, đôi bên không đi đến một thoả thuận nào, lúc ấy mới trình quan trên xem xét Trong quá trình hoà giải hoặc trình quan trên, kẻ nào còn cố tình gây căng thẳng (gây rối) sẽ phải chịu phạt (tiền, giam ) Cho nên khi xảy ra tranh chấp, xích mích thì người dân nông thôn luôn muốn lấy việc hoà giải làm đầu vì nó tạo ra sự đoàn kết và giữ vững sợi dây thân tình Đó là phương châm sống của người dân Việt Nam
Người Việt Nam luôn chê trách những người hay sinh sự, kiện cáo Cha con, vợ chồng, anh em, trong họ ngoài làng nếu sinh tranh chấp thì đó là điều bất hạnh lớn Vì thế, ai trong chúng ta cũng đều mong muốn chung sống hoà bình, chuộng sự hoà giải khi có va chạm, xích mích Nếu chú ý đến vấn đề hoà giải thì việc to sẽ thành việc nhỏ, việc nhỏ sẽ thành không có gì và mọi người sẽ lại hoà hợp, yêu thương nhau
Trang 36Lấy hoà làm trọng, tương thân tương ái là một nếp sống đẹp, là lẽ sống của người dân Sống cùng làng, cùng xóm, người dân có mối quan hệ gắn bó với nhau về nhiều mặt Mối quan hệ ấy bền vững không gì phá vỡ nổi
Bài trừ hủ tục
Song song với việc nuôi dưỡng, khuyến khích thuần phong mỹ tục, trong một số hương ước còn quy định việc bài trừ thói hư tật xấu trong làng Xây dựng cái tốt đồng thời phải chú trọng bài trừ cái xấu, đó là điều mà các hương ước thường chú trọng
Việc các hương ước dành ra những điều cụ thể nhằm bài trừ thói hư, tật xấu trong nông thôn chứng tỏ rằng người Việt Nam luôn quan tâm đấu tranh với cái xấu để hoàn thiện nhân cách con người Trước hết phải luôn hướng về cuộc sống hòa bình, nhân nhượng, tôn trọng lẫn nhau, biết nhường nhịn lẫn nhau Những hành vi như gây lộn, chửi đánh nhau, làm huyên náo trong thôn xóm không phải chỉ bị chê bai mà còn bị xử phạt Ở trong gia đình và ra chốn đình trung, chỗ đông người phải luôn biết cư xử là người mực thước như ăn nói ý nhị, ăn mặc sạch sẽ, không tranh ăn, tranh uống Hỗn láo với ông bà cha mẹ, chồng đối xử vũ phu với vợ, vợ lăng loàn với chồng với gia đình nhà chồng, con gái lẳng lơ không chịu trau rồi tính nết, con trai đến tuổi không chịu chăm lo học hành, không chịu bới công tìm việc, ngày tháng rong chơi theo các quy định của các hương ước cổ đó không phải là việc riêng của từng gia đình Trái lại đã là người cùng làng, cùng xóm thì ai cũng có trách nhiệm can ngăn
Đây chính là những bài học bổ ích của hương ước cổ trong đấu tranh chống thói hư, tật xấu, hủ tục là chỗ động viên được mọi người trong làng cùng tham gia đấu tranh, thực hiện
1.2.3.3 Hương ước với tôn giáo, tín ngưỡng
Quan niệm “sống gửi thác về” đã ăn sâu vào trong tâm thức của mỗi người dân Họ quan niệm người sống được khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt hay
Trang 37không là nhờ vào sự phù hộ của thần linh và tổ tiên, người chết không phải là về hẳn thế giới bên kia, không còn liên quan gì đến người sống, người chết vẫn còn tác động vào thế giới người đang sống theo hướng “phù hộ” hay “trách phạt” Tất cả các quan niệm về sự tác động chồng chéo giữa “âm” và “dương”, giữa người và thần, giữa kiếp trước và kiếp sau, luật nhân quả mà người Việt tin theo
đã được các hương ước phản ánh thông qua những quy định trong việc thờ cúng các lực lượng siêu nhiên (thần, phật, thánh, mẫu, tổ nghề ) và những người có công với làng xã, đất nước Việc thờ phụng này được hương ước các làng quy định rất cụ thể và chi tiết về ngày tổ chức, người đứng ra tổ chức, quy trình chuẩn bị, lễ vật dâng cúng, hình thức rước kiệu, tế tự và các hình thức diễn xướng trong ngày tế lễ
Đặc biệt việc thực hiện các điều khoản về tôn giáo, tín ngưỡng tuy ít nhiều mang tính áp đặt, cưỡng chế, hay doạ dẫm, nhưng cái quan trọng chính là
ở chỗ nó có tác động tích cực vào ý thức hướng thiện ở mỗi con người, chế ngự
và ngăn chặn được một phần nào những hành vi xấu khi nó chưa hình thành Người nông dân tin rằng, những quy định trong hương ước liên quan tới thần linh, tới tổ tiên, nên phải thực hiện, phải chấp nhận và làm được việc tốt, việc thiện sẽ được thần linh biết đến và phù hộ độ trì, cho “lộc” Bởi vậy, người nông dân sẵn sàng chấp nhận các công việc liên quan tới thần linh, họ không tính toán thiệt hơn, thậm chí làm vượt cả trách nhiệm và khả năng kinh tế của mình, như đóng góp xây dựng và tu bổ đình chùa hay sửa lễ vật Đó chính là lòng tin của người dân vào tôn giáo tín ngưỡng và lòng tin đó đã biến thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hoá của làng
Những quy ước về việc tu bổ, xây dựng các ngôi đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ đã làm cho các cơ sở thờ tự luôn tồn tại cùng làng xã, mang dấu ấn văn hóa riêng biệt của từng làng, làm cho văn hóa vật thể nước ta càng thêm đa dạng và sinh động
1.2.3.4 Hương ước với giáo dục và khuyến học
Trang 38Người Việt Nam nói chung, và những người dân ở vùng châu thổ sông Hồng nói riêng rất chú trọng đến việc học hành, nên từ xa xưa, không chỉ các làng xã, mà ngay cả Nhà nước đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ người đi học và cả những người đỗ đạt dưới nhiều hình thức khác nhau
Trong hương ước các làng đều quy định chia một số ruộng công để làm ruộng học điền Ruộng khuyến học trong làng dùng để mở trường, nuôi thầy dạy học, tiền giấy bút cho học trò nghèo: nếu ai đi học thì được làng cấp cho một số ruộng để góp thêm vào việc ăn học và sinh hoạt hàng ngày
Tục ngữ có câu “Nhân bất học bất tri lý” Chính vì thế mà hương ước các làng quy định trẻ em từ 6 tuổi trở lên đều phải đi học, không phân biệt giàu nghèo, trai gái Hương ước làng Thượng An (tỉnh Thái Bình) quy định “ trong làng ai có con bé lên 7 tuổi thời phải cho đi học, ai không tuân hương hội xét tư cách người ấy có thể cho con đi học được thời phạt từ 0$50 đến 1$00 nếu không chịu nộp thời trình quan nghĩ trị” Nếu học trò nào học hành tấn tới thì làng đưa lên trường công (trường của Nhà nước) để học và dự thi Làng xã tạo quyền lợi này nhằm tạo điều kiện cho học trò yên tâm đi học và đi thi Thế nhưng trên thực tế, không phải làng nào cũng có nhiều ruộng “học điền” để cấp cho những người đi học Chính vì thế mà tuỳ theo từng làng học trò có thể được cấp ruộng nhiều hay ít
So với quy định về học điền, quy định về việc miễn phu phen tạp dịch đối với người đang đi học, đi thi được hương ước đề cập đến nhiều hơn Tuy mức
độ miễn giảm mỗi làng một khác, song nhìn chung, các làng đều có bàn đến và đều có Hương ước một số làng có quy định người đi học được miễn hoàn toàn phu phen tạp dịch từ một đến ba năm và được giảm một nửa thuế thân, có làng còn miễn nhiều hơn, thậm chí có làng lại miễn thêm cả việc binh lính cho những người đi học để tiện cho việc học tập Đặc biệt, có làng còn đưa ra quy định miễn hết mọi việc sưu thuế cho người đang đi học, và người đi học phải có trách nhiệm chuyên tâm vào việc học; nếu làng phát hiện ra người nào vừa đi học,
Trang 39vừa đi cày thì sẽ đình chỉ ngay việc nhiêu miễn để “răn cái lỗi không chăm học” (hương ước làng Mộ Trạch (Hải Dương) )
Những quy ước về khen thưởng trên là việc khuyến khích và cổ vũ cho thuần phong mĩ tục trong dân làng Nó đã có tác dụng sâu sắc, cổ vũ cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước Đồng thời nó cũng góp phần giáo dục tinh thần ham học hỏi, hiểu biết, tinh thần cố gắng phấn đấu vì danh dự của bản thân, của dòng họ, của dân làng Chỉ có điều, trong đời sống xã hội ngày càng phức tạp, những quy ước trên đã gián tiếp làm nảy sinh một tệ nạn xã hội: đó là tệ tranh giành, mua bán ngôi thứ, thậm chí, có những người học không phải vì quyền lợi và danh dự của dân làng (trong đó có bản thân mình),
mà học để thoả mãn tính hiếu danh mà thôi
Với tinh thần khuyến học, các làng xã nông thôn Việt Nam đã lập trường học riêng của làng và mời thầy về dạy để tất cả mọi người đều được học chữ, không phân biệt giàu nghèo Đây là một quan niệm tiến bộ thời bấy giờ trong bối cảnh xã hội phong kiến còn mang tư tưởng trọng nam khinh nữ, trọng người
có của Việc tuyển chọn thầy giáo thì không câu nệ, có thể là người quan trên bổ
về, hoặc người trong làng có học thức cũng được, miễn sao người ấy có tâm Để khuyến khích những người đang đi học, hoặc đi thi lên cao, hương ước một số làng đề ra quy định thí sinh, lẫn khoá sinh đều được biếu thịt trong dịp tế lễ, khi
đi thi thì làng cho tiền và tổ chức tiễn chân, đặc biệt hương ước làng Tây Mỗ còn quy định: ai thi đỗ tiến sĩ thì được làng cho ruộng và hưởng hoa lợi Như vậy, tất cả những người đi học đều được quan tâm và động viên cổ vũ Việc quan tâm đến từng bước đi của người ham học như vậy đã góp phần thúc đẩy các học trò ngày càng nỗ lực phấn đấu Ngoài ra, điều đó còn làm cho người đi học cảm thấy vinh dự và hăng say học hành
Hương ước các làng luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ con em theo học, nhưng cũng không quên răn dạy con cháu phải chăm học và giữ gìn nhân cách, coi việc giữ gìn hạnh kiểm làm đầu, biết giữ gìn lễ nghĩa, biết giúp
Trang 40đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn, bài trừ thói hư tật xấu Nếu học trò nào mắc phải những tật xấu thì sẽ bị làng cảnh cáo và phạt nặng Đó cũng chính là biện pháp để rèn học trò, giúp họ trở thành những người không chỉ có tri thức mà còn
có đạo đức Còn nếu như thầy dạy học mà vi phạm vào lễ nghĩa thì cũng bị phạt rất nặng Đây cũng là một biểu hiện của lòng mong mỏi cái thiện, cái tâm trong sáng trong người thầy để học trò noi theo
Trong xã hội truyền thống, địa vị của người thầy là bậc thứ hai sau vua trong ba địa vị: Quân - Sư - Phụ, nên nhiều nơi quy định khi thầy quy tiên thì trò phải để tang như tang cha mẹ, ngày mùng ba tết học trò phải đến lễ thầy, không
kể là thầy còn sống hay đã chết Việc kính trọng thầy giáo là nghĩa vụ của học trò, của các bậc phụ huynh rất được các gia đình chú trọng, gìn giữ Điều này được ghi rõ trong hương ước
Bên cạnh việc khuyến khích tinh thần trọn nghĩa đạo thầy trò, một số hương ước còn có những điều quy định nhằm khuyến khích công lao những người có công nuôi dạy nên những nhân tài cho đất nước
Qua những điều trình bày trên, chúng ta thấy rõ tinh thần hiếu học, truyền thống khuyến học của người dân Việt Nam đã có từ lâu đời, được hương ước các làng ghi lại khá cụ thể, chi tiết Hầu như làng xã nào cũng thành lập quỹ khuyến học Chế độ học điền ngày nay không còn nữa, song thay vào đó là một loạt cải cách nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi con người, trong đó đặc biệt nhất là đối với thế hệ trẻ (học sinh, sinh viên )