1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh đồng nhìn từ góc độ phả hệ qua nghiên cứu gia đình thanh đồng nguyễn đình hùng ở hải phòng

85 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là lí do chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này với mong muốn hiểu biết sâu sắc hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu, lý giải vì sao trong suốt chiều dài lịch sử, tín ngưỡng Mẫu vẫn len lỏ

Trang 2

MỤC LỤC

Mục lục 1

Lời cảm ơn 3

Danh mục các hình vẽ 4

Danh mục các bảng biểu 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu 10

1.1 Một số khái niệm 10

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu 10

1.1.2 Khái niệm phả hệ 13

1.1.3 Khái niệm Thanh đồng 14

1.2 Hệ thống thần linh và nghi lễ trong tín ngưỡng thờ Mẫu 15

1.2.1 Hệ thống thần linh 15

1.2.2 Nghi lễ lên đồng trong đạo Mẫu 20

1.3 Một vài nét khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: Đời sống của gia tộc thanh đồng Nguyễn Đình Hùng 29

2.1 Lý lịch của các thành viên trong gia tộc Thanh đồng Nguyễn Đình Hùng 29

2.1.1 Bà Chấn Hưng- mẹ thanh đồng Nguyễn Đình Hùng 29

2.1.2 Thanh đồng Nguyễn Đình Hùng 30

2.1.3 Các con của thanh đồng Nguyễn Đình Hùng 32

2.2 Đời sống tâm linh 35

2.2.1 Không gian hành lễ- Đền Thánh Linh Từ 35

2.2.2 Những sinh hoạt tín ngưỡng chính 39

2.2.3 Hệ thống con nhang đệ tử 45

2.3 Đời sống thường nhật 48

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3: Gia đình thanh đồng - thanh đồng dòng tộc - trong thờ Mẫu và đời sống xã hội hiện nay 52

3.1 Vai trò của gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng trong thờ Mẫu 52

3.1.1 Đáp ứng nhu cầu tâm linh 52

3.1.2 Gìn giữ bản sắc, giá trị của Đạo Mẫu và lên đồng 54

3.2 Thanh đồng dòng tộc trong bối cảnh phát triển hiện nay 59

Trang 3

3.2.1 Thực trạng hầu bóng và thanh đồng những năm gần đây 59

3.2.2 Phát huy yếu tố tích cực của thanh đồng dòng tộc trong điều kiện xã hội hiện đại.64 Tiểu kết chương 3 67

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 74

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể quý Thầy, Cô Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi trong suốt những năm học vừa qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Ngô Đức Thịnh - người đã truyền đam mê, định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng đã cung cấp những tư liệu quý giá trong quá trình thực hiện luận văn

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Học viên thực hiện luận văn

Hoàng Thị Mỹ

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1 Phả hệ gia tộc Nguyễn Đình Chấn (Bình Lục, Hà Nam) Ngõ 201 Trần Nguyên Hãn, Lê Chân, Hải Phòng 35 Hình 2 Sơ đồ bài trí đền Thánh Linh Từ 36

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Danh sách con nhang đệ tử từ 2001 đến tháng 04/2011 46 Bảng 2 Thống kê con nhang đệ tử sinh hoạt thường xuyên từ 2001 đến tháng 04/2011 47

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trong những năm gần đây, Việt Nam đang đứng trước những thay đổi vô cùng to lớn, đó là sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ; sự bấp bênh của nền kinh tế thị trường trong bước đi ban đầu chưa ổn định, cái được cái mất diễn ra hàng ngày, trong gang tấc đã tác động không nhỏ đến tâm lý của người dân

Vì thế, thần thánh là nơi lý tưởng để họ cầu mong trông cậy Điều này giải thích vì sao con người một mặt đang ra sức để giải thiêng nhưng một mặt lại ra tăng niềm tin vào những tín ngưỡng huyền bí Trong số các tín ngưỡng đó, thờ Mẫu là một điển hình Việc thờ Mẫu từ xa xưa đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh, ăn sâu và bén rễ vào tâm thức của người Việt Trong đời sống xã hội hiện đại, tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn chứng tỏ được sức sống của mình Ở nông thôn cũng như thành thị, ở đồng bằng cũng như miền núi, thậm chí ở cả những đô thị lớn, hình thức sinh hoạt dân dã này vẫn tồn tại, có phần phát triển và ngày càng mở rộng Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, lên đồng là một nghi lễ điển hình Lên đồng cùng nhiều hình thức cầu cúng và sinh hoạt khác đã từng có thời được xếp vào loại hiện

tượng “mê tín dị đoan” chịu nhiều định kiến, thậm chí bị xóa bỏ gần như hoàn toàn

ở từng nơi từng lúc Trong những năm gần đây, lên đồng đang từng bước được thừa nhận như một sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống và ít nhiều những ý nghĩa tích cực của nó đã được công nhận trong xã hội Có lẽ vì thế mà ngày càng có nhiều người

ra trình đồng mở phủ và các buổi lên đồng cũng được diễn ra một cách sôi nổi, hoành tráng hơn ở mọi nơi trên khắp các vùng miền của đất nước Điều này đã cho thấy sự phát triển về chiều sâu và phổ biến của nghi lễ lên đồng và tục thờ Mẫu ở nước ta Tuy nhiên, sự bùng phát ấy đã gây ra không ít hệ quả tiêu cực trong xã hội Thực tế, trong xã hội của chúng ta xuất hiện ngày càng đông những ông đồng, bà đồng và gia đình có nhiều thế hệ hầu đồng Trong số đó, rất nhiều gia đình, nhiều ông, bà đồng thành tâm thực hành tín ngưỡng Họ coi việc thờ Mẫu và lên đồng là nghĩa cử cao đẹp hướng về tổ tiên, dân tộc Nhưng cũng có không ít người chỉ coi lên đồng là một thú ăn chơi, khoe của, thông qua hoạt động này để kinh doanh làm

Trang 7

giàu, để “buôn thần bán thánh”, tư lợi cho bản thân khiến lên đồng phát triển theo

một chiều hướng khác Đối với những gia đình có nhiều thế hệ thờ Mẫu và lên đồng, tác động của họ đối với cộng đồng là không nhỏ dù là tác động tiêu cực hay tích cực Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu về những gia đình đó là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn

1.2 Thêm vào đó, từ trước đến nay những công trình nghiên cứu về Đạo Mẫu và nghi lễ lên đồng có rất nhiều Tuy nhiên, nghiên cứu về từng thanh đồng vẫn còn rất

ít và nghiên cứu cả một gia tộc với rất nhiều thành viên cùng tham gia hầu đồng càng hiếm hơn Đây cũng là lí do chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này với mong muốn hiểu biết sâu sắc hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu, lý giải vì sao trong suốt chiều dài lịch sử, tín ngưỡng Mẫu vẫn len lỏi, bám rễ bền chặt vào tâm thức người dân để rồi mỗi lúc một lóe sáng hơn, phát triển phong phú hơn trong xã hội hiện đại của chúng ta- một xã hội mà dường như những thành tựu của khoa học - kỹ thuật và công nghệ đã làm thay đổi và chiếm lĩnh mọi mặt của đời sống

1.3 Hải Phòng là một địa phương có tín đồ theo Đạo Mẫu tương đối đông Theo

thống kê của TS Chu Phác trong bài viết “Đạo Mẫu - tín ngưỡng riêng của người

Việt” ở hội thảo “Nghiên cứu khả năng đặc biệt của con người trong hệ thống Đạo Mẫu Việt Nam” diễn ra tại Bảo Tàng Phụ Nữ Việt Nam, ngày 4/7/2010 vừa qua: Hà

Nội có khoảng ba trăm thanh đồng; Hải Phòng có khoảng trên một trăm thanh đồng Mỗi thanh đồng lại có hệ thống con nhang đệ tử riêng Trong đó, số thanh đồng có cùng huyết thống với nhau không phải là ít Vì thế, né tránh việc nghiên cứu về đối tượng này chắc chắn sẽ là một điều thiếu sót, ít nhất là của những người đang nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa dân tộc

1.4 Là một người con của thành phố Hải Phòng, đang nghiên cứu và giảng dạy

về lĩnh vực văn hóa nên mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé vào việc gìn giữ di sản của địa phương nói riêng và dân tộc nói chung

Với những suy nghĩ đó, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thanh đồng-

nhìn từ góc độ phả hệ” (Qua nghiên cứu gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng ở

Hải Phòng) làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa học

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu về hiện tượng Thanh đồng - nhìn từ góc độ phả hệ - là nghiên cứu đời sống của một gia đình với nhiều thế hệ liên tiếp nhau làm thanh đồng, cắt nghĩa nguyên nhân ra đồng và hoạt động mang tính tập thể của gia đình đó có đóng góp như thế nào cho xã hội của chúng ta

2.2 Tìm hiểu một gia đình thanh đồng cụ thể góp phần làm rõ hơn một loại thanh đồng đang tồn tại rất phổ biến trong xã hội hiện nay: thanh đồng dòng tộc Qua việc đánh giá vai trò của thanh đồng dòng tộc, chúng tôi muốn phần nào lí giải cho sức sống bền bỉ của thờ Mẫu và lên đồng Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy những mặt tích cực của thanh đồng dòng tộc trong đời sống xã hội hiện đại

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Luận văn tiến hành nghiên cứu cụ thể một gia đình có rất nhiều thành viên tham gia sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng Khảo sát, mô tả về địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng của gia đình - Đền Bà Chấn Hưng; tham dự các sinh hoạt tín ngưỡng chính để thấy nét riêng của đối tượng nghiên cứu so với những gia đình thờ Mẫu khác; tìm hiểu một số con nhang đệ tử của gia đình và phân tích đời sống thường nhật của những thành viên đã ra đồng để làm rõ chân dung của thanh đồng dòng tộc

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn: tác giả tập trung nghiên cứu gia tộc thanh đồng Nguyễn Đình Hùng ở Ngõ 201, Phường Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng và xem đây là trường hợp điển hình cho vấn đề đang nghiên cứu

4 Lịch sử nghiên cứu

Vấn đề tín ngưỡng thờ Mẫu đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của

nhiều học giả trong và ngoài nước Trước cách mạng có “Việc thờ cúng các vị tứ

bất tử ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Huyên, xuất bản bằng tiếng Pháp 1944 Sau

năm 1954, 1988, Viện nghiên cứu Văn hóa Dân gian chính thức hành hương về Phủ

Trang 9

Dầy khởi công nghiên cứu một khía cạnh của việc thờ cúng Mẫu Liễu- chương trình Hát văn và hầu bóng do PGS, TS Ngô Đức Thịnh làm chủ nhiệm đề tài

Trong những năm gần đây, bắt đầu từ năm 1990, khi tín ngưỡng thờ Mẫu được phục hưng trỗi dậy thì hiện tượng này được các học giả Việt Nam chú ý xem xét như một vấn đề văn hóa Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ra đời liên

quan đến vấn đề này như: “Vân cát thần nữ” của Vũ Ngọc Khánh, xuất bản 1990; Đặng Văn Lung với “Tam tòa Thánh Mẫu”, xuất bản 1991 Ở tác phẩm này tác giả

đã so sánh Thánh Mẫu với Pựt, Then của người Tày để tìm ra những nét đồng dạng Trên tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 5 năm 1990 PGS Trần Lâm

Biền đã công bố bài viết “Quanh tín ngưỡng dân giã Mẫu Liễu và điện thờ”

Ngoài ra, trong một số tài liệu khảo sát về “Các nữ thần ở Việt Nam” của Mai

Thị Ngọc Chúc và Đỗ Thị Hảo cũng đã bước đầu tập hợp va giới thiệu sơ lược huyền thoại và thần tích, ngọc phả của 75 vị nữ thần ở nước ta

Nói tới đạo Mẫu còn có rất nhiều công trình chuyên khảo như: “Đạo Mẫu ở

Việt Nam, Hát văn”, xuất bản năm 1996 do Ngô Đức Thịnh chủ biên; “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Trung bộ” do Nguyễn Văn Thông chủ biên năm 2002; “Về tín ngưỡng

và lễ hội cổ truyền”, NXB Văn hóa Thông Tin và “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”, NXB Khoa Học Xã Hội Hà Nội, năm 2001 do Ngô Đức

Thịnh làm chủ biên

Đặc biệt năm 2004, Nhà xuất bản Khoa Học đã xuất bản cuốn “Đạo Mẫu và

các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và Châu Á” do Ngô Đức

Thịnh làm chủ biên Cuốn sách là tập hợp những nội dung cơ bản các bài tham luận khoa học của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài trong cuộc hội thảo quốc

tế “Tín ngưỡng thờ Mẫu và Lễ hội Phủ Dầy” được tổ chức ngày 30 tháng 3 đến

ngày 2 tháng 4 năm 2001 tại Hà Nội

Năm 2010, GS.TS Ngô Đức Thịnh đã cho ra mắt bạn đọc cuốn Đạo Mẫu Việt Nam gần 900 trang, do Nhà xuất bản Tôn giáo phát hành Cuốn sách là một công trình khoa học nghiên cứu về Đạo Mẫu một cách đầy đủ và toàn vẹn nhất theo những số liệu và quan điểm mới của tác giả sau rất nhiều năm dầy công nghiên cứu

Trang 10

Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đã khảo cứu một cách tương đối hoàn thiện, rõ nét về tín ngưỡng thờ Mẫu, khẳng định tín ngưỡng Mẫu là một giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc của dân tộc Tuy nhiên, nghiên cứu về từng thanh đồng- những người làm nên linh hồn của tín ngưỡng này còn rất hạn chế, nghiên cứu về cả một gia tộc thanh đồng càng hiếm hơn Với suy nghĩ đó, chúng tôi đã lựa chọn một gia đình thanh đồng với ba thế hệ liên tiếp nhau thờ Mẫu và hầu đồng để làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn của mình

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Luận văn sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để sưu tầm các tư liệu, tiếp cận đối tượng đồng thời quan sát, tham dự các sinh hoạt tín ngưỡng diễn ra tại đền riêng của gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng và phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu; những người đã và đang là con nhanh đệ tử của đền; những người đã có đền, phủ riêng

5.2 Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh, phân tích tổng hợp và nghiên cứu liên ngành để xử lý, nhận định về tư liệu đã thu thập được

để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu

6 Những đóng góp của luận văn

6.1 Thông qua nghiên cứu hiện tượng thanh đồng- nhìn từ góc độ phả hệ- luận văn trình bày, bổ sung thêm vào hệ thống tư liệu đối với việc nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu và lên đồng

6.2 Qua việc tìm hiểu về một gia đình thanh đồng có ba thế hệ nối tiếp nhau thờ Mẫu và lên đồng, chúng tôi muốn đưa ra những đánh giá bước đầu về hiện tượng thanh đồng dòng tộc, giúp mọi người nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của những người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu

7 Bố cục của luận văn

Chương 1 Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu

Chương 2 Đời sống của gia tộc thanh đồng Nguyễn Đình Hùng

Chương 3 Gia đình thanh đồng - thanh đồng dòng tộc trong thờ Mẫu và đời sống xã hội hiện nay

Trang 11

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu

Bản thân khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay vẫn còn rất nhiều quan điểm

không đồng nhất, tuy nhiên đa số các học giả đều thống nhất rằng thuật ngữ “Mẫu”

là một danh từ gốc Hán Việt được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Mẫu có thể được hiểu là mẹ, mụ, mạ, mế với nghĩa chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó

Mẫu cũng được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó có thật hoặc không có thật như Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Nghi Thiên Hạ

Mẫu còn được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở không ngừng của vạn vật như những danh xưng: Mẹ cây, Mẹ lúa, Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ xứ sở…

Sở dĩ có những quan niệm trên là do người Việt và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân nông nghiệp trồng lúa ở vùng nhiệt đới gió mùa Từ ngàn đời nay, quan niệm, lối nghĩ đến nếp sống của họ về cơ bản vẫn là nông dân Đi sâu vào đời sống của người nông dân trồng lúa nước thì đất và nước là những điều kiện quan trọng hàng đầu, nó nuôi sống cây lúa để sản sinh ra thóc gạo nuôi sống con người Người Việt đã dựa trên cơ sở những cảm nhận trực quan về sự sinh sôi, nảy nở của người mẹ, trong lao động sản xuất và trong đời sống cộng đồng đã xuất hiện ý thức

về sự sinh sôi, nảy nở và phát triển của vạn vật xung quanh mình Họ nhận thấy người mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc mang thai, sinh nở, giáo dưỡng và vì vậy người Việt đã sớm hình thành niềm tin thiêng liêng vào người mẹ mang nặng

đẻ đau, che chở, đùm bọc con cái Chính niềm tin ấy đã sản sinh ra cái mà ta gọi là Đạo thờ Mẫu

Hơn thế nữa, đất nước ta đã từng trải qua một thời kỳ chế độ mẫu hệ Người

vợ, người phụ nữ giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong tổ chức sản xuất và quản lý gia đình, nhất là về phương diện kinh tế Họ là người lo quản lý, chi tiêu, giáo

Trang 12

dưỡng con cái trong gia đình Đến khi xã hội chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, nhà nước phong kiến (thế kỷ X) đã được thiết lập, chế độ phụ quyền được thay thế chế độ mẫu quyền dẫn đến vai trò và địa vị của người đàn ông ngày càng tăng Tuy nhiên, những dấu vết và tàn dư của một thời mẫu hệ cũng không dễ gì có thể nhạt phai ngay được Ở xã hội Việt Nam, nguyên lý Mẹ (chữ của GS Trần Quốc Vượng) vẫn được đề cao và thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội, ăn sâu vào

tư tưởng, tính cách, truyền thống, thói quen của người Việt Nam từ ngàn xưa cho tới tận hôm nay

Với cách hiểu như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần

và thờ Tam phủ- Tứ phủ với niềm tin vào quyền năng của Mẫu- đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người Trong đó, thờ nữ thần là thờ những vị thần là nữ Nữ thần được thờ có thể là thần tự nhiên và cũng có thể là nhân thần như thần Mưa, thần Mây, Mẹ lúa, Mẹ cá hoặc Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Ỷ Lan

Còn thờ Mẫu là sự phát triển của thờ Nữ thần, ở đó chỉ những nữ thần là chủ thể của sinh nở mới được tôn là Mẫu Danh xưng Mẫu gắn với chức năng sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dạy con cái Còn trong thờ Nữ thần có các nữ thần không bao hàm

yếu tố này như những “Bà cô”- những người không chồng, không con hoặc những

phụ nữ bị chết trẻ chưa chồng

Nếu như thờ Mẫu thần được phát triển trên nền tảng thờ Nữ thần thì tín ngưỡng Tam Phủ - Tứ Phủ có thể được coi là bước phát triển cao hơn về nhiều mặt

từ thờ Mẫu thần

Trong quan niệm dân gian của người Việt, “phủ” được hiểu là lâu đài, cung

điện, nơi ở của Chúa (tức là người có vị thế dưới vua) Theo Từ điển tiếng Việt,

“phủ” có thể hiểu là một đơn vị hành chính như một vùng, miền hay một không

gian địa lý nào đó Người Việt cho rằng tự nhiên có thể được chia thành bốn vùng-

tứ phủ: Phủ Thượng Thiên (vùng trời); Phủ Thượng Ngàn (vùng rừng); Phủ Thủy (vùng nước) và Địa Phủ (vùng đất) Đứng đầu và có quyền năng cai quản bốn vùng

Trang 13

là bốn vị thánh Mẫu: Mẫu Thượng Thiên; Mẫu Địa; Mẫu Thủy; Mẫu Thượng Ngàn Tuy nhiên, trong điện thần chỉ có Tam tòa gồm ba vị thánh Mẫu là Mẫu Thượng Thiên; Mẫu Thượng Ngàn; Mẫu Thủy là thường xuyên xuất hiện còn Mẫu Địa rất ít gặp trong điện thờ Mẫu Bên cạnh cách hiểu này cũng có những cách lí giải khác: Tam Tòa - Tứ Phủ là những Phủ Thượng Thiên, Phủ Thượng Ngàn,Thủy Phủ và một phủ thuộc về con người- Nhân Phủ với sự hiện diện của Mẫu Liễu Hạnh Trong một số trường hợp, Mẫu Liễu Hạnh hóa thân vào Mẫu Thượng Thiên nên trong điện chỉ có Tam tòa nhưng thực chất lại có sự hiện diện của Tứ phủ Do đó mà gọi là Tam tòa- Tứ phủ

Cho đến giờ, không biết đích xác là tục thờ Mẫu có từ khi nào nhưng người ta

tin rằng bà mẹ thần linh này đã xuất hiện và định hình từ buổi “hồng hoan” của loài

người- từ khi con người khai phá đồng bằng sông Hồng Tín ngưỡng thờ Mẫu lấy việc tôn thờ người Mẹ, người phụ nữ làm đấng sáng tạo bảo trì cho sự tồn tại, sinh thành của vụ trụ, đất nước và con người Mẫu và quyền năng của Mẫu không chỉ gắn với hiện tượng tự nhiên (bà Mây, bà Mưa, bà Sấm, bà Chớp) với những bà mẹ

có công sinh thành ra dân tộc, hình thành cộng đồng người Việt ngày nay như mẹ

Âu Cơ - bà mẹ xứ sở sớm nhất của người Việt hay mẹ Pơ-Inư-Nưgar là mẹ xứ sở của dân tộc Chăm Đó còn là những mẹ có công trong đánh giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Chúa Kho, bà Ỷ Lan

Như vậy, Mẫu là Nữ thần nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu mà chỉ một số nữ thần được tôn vinh mới là Mẫu mà thôi Việc thờ Nữ thần nói chung và thờ Mẫu nói riêng không phải là một hiện tượng đơn lẻ Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những hình thức điển hình của tục thờ Nữ thần còn tồn tại cho tới ngày nay ở Việt Nam Lớp Nữ thần mang tính phổ quát rộng rãi phù hợp với xã hội nông nghiệp và vai trò của người phụ nữ trong xã hội Lớp Mẫu thần phát triển trên nền tảng của thờ Nữ thần, thường gắn với tính chất quốc gia như thờ các Vương Mẫu, Thánh Mẫu, Quốc Mẫu Về cơ bản, lớp Nữ thần và Mẫu thần đều mang tính bản địa, nội sinh Còn lớp Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ có thể được xem là sự phát triển, hoàn thiện của tín ngưỡng thờ Mẫu, hình thành trên cơ sở lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần đồng thời kết hợp và tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa

Trang 14

Như vậy có thể thấy rằng, tín ngưỡng dân gian của người Việt nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng là sản phẩm văn hóa của người Việt Trên cơ sở những đặc trưng về văn hóa và tư duy của mình, trong quá trình phát triển người Việt đã thu nhận không ít những giá trị văn hóa, tinh thần ngoại sinh để bồi đắp nên một sản phẩm tinh thần của riêng mình, khẳng định được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam Tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng và tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói chung có khả năng tự biến đổi, luôn vận động và bám sát cuộc sống, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Tín ngưỡng thờ Mẫu tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm đấng sáng tạo và bảo trì cho vũ trụ - con người Ở

đó, con người có thể ký thác những mong ước, khát vọng về đời sống trần thế của mình, mong đạt tới sức khỏe và tài lộc Đây là một tín ngưỡng hướng về đời sống trần thế hiện tại chứ không phải ở thế giới bên kia như những tín ngưỡng, tôn giáo khác

Tóm lại, tín ngưỡng thờ Mẫu có thể được hiểu là “một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo và bảo trợ cho sự tồn tại sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người Trong quá trình nảy nở, vận động và biến đổi, nó đã và đang chuyển hóa từ tín ngưỡng nguyên thủy

để trở thành một tôn giáo sơ khai

1.1.2 Khái niệm phả hệ

Ở Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả hệ, tương tự như gia phả của người Hoa hay người Việt

Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, vai trò và công đức của cha mẹ, ông

bà, tiên tổ trong thời đại mà họ đã sinh ra và lớn lên của một gia đình hay một dòng họ Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng

họ Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả

Trang 15

Tại các nước Đông Á, do chịu ảnh hưởng của Đạo Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải giữ đạo Trung đạo Hiếu Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc

Với cách hiểu như vậy nên trong luận văn này chúng tôi dùng khái niệm phả

hệ để tiếp cận nghiên cứu vấn đề với ý nghĩa tương tự như gia phả

1.1.3 Khái niệm Thanh đồng

Mỗi tôn giáo đều có những nghi lễ riêng và những người trung gian để thực hành những nghi lễ đó Nếu như trong Phật giáo là các nhà sư, trong Thiên chúa giáo là những vị linh mục thì trong tín ngưỡng thờ Mẫu là những ông đồng, bà đồng Họ là cầu nối giữa thế giới trần tục với thế giới tâm linh, thế giới của những

người đang sống với thế giới của những “đấng tối cao”

Theo Phan Kế Bính trong “Việt Nam phong tục” có hai dòng đồng: “những

người thờ chư vị, như thờ Bà Chúa Liễu Hạnh, Thượng Ngàn Công Chúa, Cửu Thiên Huyền Nữ, các Quan lớn, các ông Hoàng, các cô, các cậu thì gọi là đồng cốt còn dòng thứ hai là thanh đồng - những người thờ về Đức Thánh Trần Người tin mình là có số thờ, thường lập riêng cửa hàn cửa tĩnh trong nhà, bài trí cờ kiếm tôn nghiêm, hoặc họp con hương đệ tử lập một cửa điện, ngày đêm hương khói phụng thờ Tuy nhiên, hiện nay hai khái niệm này không còn được tách biệt rạch ròi như trước nữa Những người thờ Mẫu, thờ Tam phủ- Tứ phủ đều tự xưng mình là thanh đồng Vậy có thể hiểu:

“Thanh đồng- người lên hầu đồng là người có phẩm cách, thân thể trong sạch Thanh đồng là người ngồi trước ban thờ Mẫu, làm “ghế” cho các thánh nhập hồn Lúc thánh nhập là thân xác của người ngồi đồng được thần linh “mượn” cái giá để “bóng” (hồn) của mình cỡi lên Thanh đồng nếu là nam giới thì là ông Đồng, ngược lại, nếu là nữ giới gọi là bà Đồng Dân gian gọi nôm na Thanh đồng là con Công (con Công đệ tử) hoặc con Đồng” [22, tr.19]

Trang 16

Trong luận văn này, người viết không nghiên cứu một thanh đồng mà nghiên cứu cả một gia tộc có ba thế hệ nối tiếp nhau có những người là thanh đồng Do đó, đối tượng được đề cập ở đây là thanh đồng dòng tộc Thanh đồng dòng tộc là những thanh đồng có chung một quan hệ huyết thống, thuộc cùng một dòng tộc mà ở đó các thế hệ nối tiếp nhau đều có ít nhất một người làm thanh đồng Mọi hoạt động tín ngưỡng của một thanh đồng nào đó đều chịu sự chi phối của đồng thầy Ví dụ như khi một thanh đồng ở thế hệ sau muốn hầu thánh thì đồng thầy của dòng tộc ấy phải làm lễ trình Thánh, trình Phật, trình Tổ tiên xin phép trước thì thanh đồng sau mới được phép hầu đồng Bên cạnh đó, thanh đồng dòng tộc còn mang tính tập thể nghĩa

là khi tiến hành một nghi thức thờ cúng nào đó thì tất cả những thanh đồng của gia tộc ấy đều tham gia Cả không gian hành lễ, thời gian hành lễ cũng mang tính tập thể chứ không còn là hoạt động riêng lẻ của một thanh đồng nào

Như vậy, nghiên cứu vấn đề “Thanh đồng – nhìn từ góc độ phả hệ”- nghĩa là

nghiên cứu những ông đồng, bà đồng có cùng một huyết thống và ở các thế hệ khác nhau - gọi là thanh đồng dòng tộc - một loại thanh đồng đã và đang tồn tại rất nhiều trong xã hội của chúng ta hiện nay

1.2 Hệ thống thần linh và nghi lễ trong tín ngƣỡng thờ Mẫu

1.2.1 Hệ thống thần linh

Hệ thống thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu phong phú và đa dạng Tứ phủ công đồng là đại diện toàn bộ thần linh tập hợp lại từ bốn miền của vũ trụ: Thiên phủ (miền Trời), Nhạc phủ (miền rừng núi), Thoải phủ (miền sông nước) và Địa phủ (miền đất) Các thần linh Tứ phủ không chỉ phân biệt theo từng phủ (từng miền) mình “cai quản” mà còn phân biệt theo thành các thứ bậc (hàng)

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, đứng đầu là Thượng Thiên Thánh Mẫu – vị thần sáng tạo ra bầu trời, trước hết là đại diện cho nguồn sinh lực vô biên, cốt lõi của sự sống và mọi nguồn hạnh phúc Qua ngài, người ta mong muốn mọi việc của bầu trời diễn ra theo quy luật hiền hòa

Mẫu Thượng Ngàn là bà mẹ thế gian gắn với người Việt từ thời nguyên thủy,

là hóa thân Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rừng núi, địa bàn sinh sống của

Trang 17

nhiều dân tộc thiểu số Các đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở hầu khắp mọi nơi nhưng có hai nơi thờ phụng chính gắn với hai truyền thuyết là Suối Mỡ (Bắc Giang)

và Bắc Lệ (Lạng Sơn) Mẫu Thượng Ngàn thường được thờ ở một ban riêng Tuy nhiên, theo dòng chảy của lịch sử, khi kinh tế thương mại đạt tới một mức độ nhất định và thành thị xuất hiện, đạo Mẫu không còn là của riêng người buôn bán kinh doanh Trong quá trình ấy một sự chuyển hóa thần linh đã xảy ra, Mẫu Địa được thay thế bằng Mẫu Thượng Ngàn với tư cách một thần linh hiện thân cho sợ giàu

có Điều này đã tạo nên hệ tam tòa mới gồm: Mẫu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải Tuy vậy, trong thực tế còn rất nhiều đền, phủ vẫn thờ chúa Sơn Trang

Vị Mẫu thứ 3 là Mẫu Thoải (Thủy) – vị thần sáng tạo ra mọi miền của nước, biển, sông, suối, đầm, hồ Ngài được người nông dân hết sức kính trọng, hệ thống thờ ngài và các thần linh liên quan có mặt ở hầu khắp mọi nơi, như một đảm bảo cho nguồn nước nông nghiệp luôn được đầy đủ

Ở tam tòa kể trên, Mẫu Thượng Thiên vẫn luôn như một chân lý tuyệt đối, siêu linh ở tầng trên mà lúc nào con người cũng phải kính trọng và tôn thờ Có quan niệm đồng nhất Mẫu Thượng Thiên với Mẫu Liễu Hạnh nhưng lại có quan niệm đồng nhất Mẫu Liễu Hạnh với Mẫu Địa

Theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là “người trần mắt thịt” có nguồn

gốc từ tiên nữ, sau một thời gian sinh ra, lớn lên, lập gia đình, sinh con đẻ cái…rồi cũng có những tình cảm yêu, ghét, hạnh phúc, đau khổ… như những người dân bình thường khác Khi mất đi, bà được nhân dân tôn là Địa Tiên Thánh Mẫu, được đưa vào thờ trong Tam Tòa Thánh Mẫu ngang hàng với các vị Thánh Mẫu mang tính chất tự nhiên Có ý kiến cho rằng: Mẫu có nguồn gốc là tiên trước khi là người trần nên trong điện thờ Mẫu đôi khi người ta đồng nhất Mẫu với Mẫu Thượng Thiên

Nói tóm lại, trên đây là những vị Thánh Mẫu – những vị thần nguyên thủy có quyền năng sáng tạo trước tiên bởi vì trên thế gian này không có gì là không do mẹ sinh ra Có thể nói, tín ngưỡng của người Việt đã gắn các Mẫu với những chức năng tạo thiên lập địa Với chức năng này, các Mẫu mang tư cách của những anh hùng

Trang 18

văn hóa được nảy sinh từ một thực tế phát triển của kinh tế nông nghiệp được nuôi dưỡng bởi ước vọng và lớn lên theo dòng lịch sử Sinh ra từ nông nghiệp với đối tượng trực tiếp của sản xuất là đất và nước mang yếu tố âm Vì thế những ý niệm thiêng liêng kết tụ và nhân cách hóa đã tạo nên cho các ngài mang dạng nữ Các ngài luôn thương xót, cưu mang và nâng đỡ con người, diệt trừ kẻ ác nên được người đời sùng kính và tôn thành mẹ của trần gian

Tiếp theo sau hàng Mẫu là Ngũ vị tôn ông (Ngũ vị Tôn Quan) được gọi theo thứ tự từ Quan đệ Nhất đến Quan đệ Ngũ Quan Đệ Nhất Thượng Thiên ở cảnh trời,

Đệ Nhị Thượng Ngàn ở cảnh rừng núi, Đệ Tam Thủy Phủ ở miền sông nước biển

cả Họ là những vị thần thường trực để thừa hành lệnh của ba vị Thánh Mẫu Quan

Đệ Tứ khâm sai đi khắp các phủ để thông tin tình hình ở các cõi đồng thời dân sở cầu, sở nguyện của trăm dân và nhận lệnh phái truyền những quyết định từ ba nơi

đó Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện quyền năng sáng tạo cũng như việc thi hành những quyết định của Thánh Mẫu

Nổi bật nhất trong hàng Quan là Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ Hai vị này có đền thờ riêng, có thần tích và huyền thoại, đặc biệt là hay giáng đồng nên được các tín đồ thờ cúng nhiều và tôn kính

Các quan lớn trong văn chầu hay giáng đồng thường có tính cách quý phái, hùng dũng, nhân từ Các vị đều mặc võ quan mang kiếm hay kích, mặc võ phục với màu sắc tùy thuộc các vị thuộc Thoải phủ (trắng), Thiên phủ (đỏ), Nhạc phủ (xanh), hay Địa phủ (vàng) Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ đều thuộc Thoải phủ, dòng Long Vương Bát Hải

Tiếp đến là Tứ phủ Chầu Bà (cũng gọi là Chúa Bà) được coi như hóa thân, phục vụ trực tiếp các Tứ vị Thánh Mẫu Nhiều vị trong hệ thống đã hóa thân xuống đời thường, trở thành tướng lĩnh giúp nước yên dân Tuy gọi là Tứ vị Chầu Bà nhưng số lượng có thể lên tới 12, tuy nhiên trong số đó, Chầu Bà Đệ Tứ, Chầu Lục cùng Chầu Bé thường giáng đồng và được mọi người biết rất rõ thần tích

Chầu Đệ Nhất là hóa thân của Mẫu Thượng Thiên Chầu Đệ Nhị là hóa thân của Mẫu Thượng Ngàn - vị Thánh thống soái trong các hàng Chầu cai quản vùng

Trang 19

núi non, sơn cước Tương truyền, bà là con gái của một gia đình người Hán ở Đông Cuông, tỉnh Yên Bái Từ nhỏ, bà chỉ làm việc thiện không lấy chồng Sau khi mất,

bà hiển linh luôn giúp dân lành nên được nhiều người thờ phụng Chầu Đệ Tam là hóa thân của Mẫu Thoải Đó là vị thánh có dáng vẻ u buồn, y phục và khăn trùm màu trắng Chầu Đệ Tứ là vị thánh giữ vai trò khâm sai Tứ phủ, tuy đứng đầu Địa phủ cũng có khi bà hóa thân dưới dạng Chầu Thoải Phủ, mặc áo trắng, múa mái chèo, khi lại hóa thân thành Thánh Mẫu Thiên phủ, mặc áo đỏ, múa quạt Chầu Đệ Ngũ thờ ở suối Lâm (Lạng Sơn); Chầu Lục (người Nùng, thờ ở Hữu Lũng, Lạng Sơn); Chầu Thất Tiên La (thờ ở Hưng Hà, Thái Bình); Chầu Bát Nàn (ở Đồng Mỏ, Lạng Sơn); Chầu Mười gốc người Thổ, tương truyền đã có công giúp Lê Lợi đánh tan quân Liễu Thăng, trấn ải vùng Đông Bắc nước ta Đền thờ chính của Chầu Mười tại Đồng Mỏ (Lạng Sơn) nhưng đền thờ vọng bà thì có ở khắp nơi

Nhìn chung, một trong những đặc trưng dễ nhận thấy của các thần linh hàng Chầu là nhiều người có gốc từ các dân tộc thiểu số, cho nên khi giáng đồng, các Chầu đều ăn mặc theo trang phục của các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Dao và nhạc chầu văn cũng theo điệu Xá Thượng mang đặc trưng của các dân tộc miền núi Dưới hàng Chầu là hàng các ông Hoàng, cũng được gọi tên theo thứ tự từ Ông Hoàng Đệ Nhất đến Ông Hoàng Mười Tứ phủ quan Hoàng có thứ bậc dưới Ngũ vị Tôn Ông nhưng cao hơn Cô và Cậu, chủ yếu là tướng lĩnh có công chống giặc hoặc khai phá đất đai Theo GS Ngô Đức Thịnh: trong số mười Ông Hoàng thì thường có sáu ông giáng đồng, trong đó 3 ông giáng đồng thương xuyên là Ông Hoàng Bơ, Ông Hoàng Bảy và Ông Hoàng Mười Khi giáng đồng các Ông Hoàng có phong cách gần giống với các quan lớn, tuy nhiên có phần tươi vui và gần gũi với người trần hơn là các quan

Đến hàng Tứ vị Thánh Cô và Tứ vị Thánh Cậu Hàng Cô được gọi tên từ Cô

Đệ Nhất (Cô Cả) đến Cô thứ 12 (Cô Bé) Tất cả đều là những thị nữ của Thánh Mẫu

và các Chầu Đối với hàng Thánh Cô, tuy được gọi tên như vậy nhưng tùy theo từng địa phương các Cô còn được gọi tên gắn với từng vùng như Cô Bé Bắc Lệ, Cô Cam Đường, Cô Đồng Mỏ…

Trang 20

Còn các Cậu đều là phụ tá của các Ông Hoàng Tuy nhiên, khi giáng đồng chỉ thấy Cậu Bơ (Ba) và Cậu Bé (Mười) là hay xuất hiện

Các Thánh Cô, Thánh Cậu đều là những người đã từng tồn tại trên thế giới, sinh thời là những người làm việc thiện nên khi chết được hóa kiếp vào chốn bồng lai dưới sự nâng đỡ của Mẫu đặc biệt là Mẫu Thượng Ngàn

Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu đã thu nạp thêm Đức thánh Trần Hưng Đạo vào hệ thống thần điện Ngài được thờ ở ban riêng cùng các tướng hầu cận là Quỳnh Hoa và Quế Hoa Hai cô được tín đồ đạo Mẫu coi là con của Đức Thánh Trần Hưng Đạo được quy về hàng Thánh Cha là dòng Bát Hải Đại Vương, thuộc hàng Long thần và được đặt đối trọng với Hàng Mẫu - Mẹ

“Tháng Tám giỗ cha, Tháng Ba giỗ Mẹ”, thậm chí còn được đẩy lên ở một mức cao

hơn nữa là Ngọc Hoàng Thông thường ở vị trí vua cha hay Ngọc Hoàng thì chỉ giáng chứ không nhập đồng giống như các giá hàng Mẫu nhưng Đức Thánh Trần lại khác Cùng với một số thuộc hạ, vị thần nhân này nếu gặp một người thích hợp căn

số thì cũng giáng và nhập đồng để trừ ma và chữa bệnh, hình thành hẳn một dòng Thánh mang tên là dòng Thanh đồng như quan niệm trước đây

Trong điện thần của Đạo Mẫu còn có sự hiện diện của Hổ (Ngũ Hổ) và Rắn (Ngũ Lốt) Nơi thờ thần Ngũ Hổ ở hạ ban, phía dưới điện thờ chính Ngũ Hổ cai quản bốn phương và trung tâm, là con vật quyền uy, là thần chiến trận cứu giúp các chiến tướng trong trận mạc Trong quan niệm của dân gian, Hổ là vị chúa cai quản rừng núi còn rắn thần là ở miền sông nước biển cả Trong hầu đồng, tuy không thường xuyên nhưng cũng có trường hợp các vị Quan Ngũ Hổ hay Ông Lốt giáng đồng

Như đã biết, đạo thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian chi phối mạnh mẽ đến tâm linh người Việt Đạo Mẫu cũng chịu sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử Bên cạnh những yếu tố nội tại, yếu tố bên ngoài cũng đã ảnh hướng đến tín ngưỡng thờ Mẫu, nhất là Đạo giáo Trung Hoa với hình tượng Ngọc Hoàng được đưa vào điện thờ cùng với Nam Tào và Bắc Đẩu Nhiều khi người Việt đã dân dã hóa để gọi Đức

Trang 21

vua cha, có khi đức cha được phan thành vua cha Ngọc Hoàng, vua cha Diêm Vương, vua cha Bát Hải cai quản khắp mọi miền vũ trụ

Tóm lại, hệ thống thần linh trong thờ Mẫu Tứ Phủ bao gồm cả Thiên thần và Nhân thần, là các vị thần linh đã từng là người trần thế, có nguồn gốc Tiên, Thánh hay người trần thế Các thần linh trong thờ Mẫu Tứ Phủ cũng bao gồm cả Nam thần

và Nữ thần Chúng ta cũng thấy trong điện thần Tứ Phủ có sự đan xen, kết hợp giữa các hình thức tín ngưỡng dân gian Việt với các hình thức tín ngưỡng từ bên ngoài,

từ đó có những thần linh dân dã và cũng có một số thần linh ngoại nhập Trong quá trình “trần gian hóa” và “lịch sử hóa” những nhân vật thần linh có đầy đủ nguồn gốc và công trạng với nhân dân, được nhân dân thờ phụng Cũng vì thế, họ đều là những phúc thần, có thể xua đuổi tà mà, mang lại sức khỏe, tài lộc và giúp con người vượt qua mọi khó khăn, vận hạn

1.2.2 Nghi lễ lên đồng trong đạo Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển ngày một rộng khắp Cùng với sự phát triển của

nó, các hình thức nghi lễ, lễ hội và các sinh hoạt văn hóa khác cũng phục hồi và phát triển tạo nên bộ mặt văn hóa đa dạng, phong phú, sống động, góp phần vào việc bảo tồn, làm giàu và phát huy bẳn sắc dân tộc Việt Nam Nói đến nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu không thể không đề cập tới Lên đồng Lên đồng - hầu bóng là một phong tục gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt Đây là một lễ thức đặc trưng và tiêu biểu nhất của tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ, vốn xuất phát từ người Việt ở Bắc Bộ nhưng sau đó theo chân người Việt vào Trung bộ và Nam bộ tạo nên những sắc thái khác nhau

“Lên đồng” được hiểu là nghi lễ nhập hồn của các vị thánh Tứ phủ vào thân

xác các ông Đồng, bà Đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh các vị thánh nhằm phán truyền chữa bệnh, ban phúc lộc cho các đệ tử, con nhang của Đạo Mẫu

Theo gốc từ Hán “đồng” có nghĩa là đứa trẻ Vì vậy, hầu đồng được hiểu là

một hiện tượng xuất thần để trở về với tâm hồn trẻ thơ, trở lại với sự trong sáng, tạm thời gạt bỏ những lo toan của cuộc sống trần tục, có như vậy mới dễ tiếp cận được với thế giới linh thiêng, hòa hợp được với thiên nhiên, vũ trụ

Trang 22

Mặt khác, “đồng còn có nghĩa là cùng, vừa có tính chất xuất thần vừa có tính

chất nhập thần, con đồng xuất cái hồn cá thể ra khỏi xác thân, hội nhập về một linh hồn thánh thiện như là để thần linh dễ tiếp cận với chúng sinh và ở một mặt nào đó

là một hiện tượng thông linh” [2, tr.644]

Theo tác giả Nguyễn Khắc Khảm có nhiều yếu tố liên quan đến ngữ nghĩa của

nghi lễ lên đồng của người Việt Đối với ông, từ “đồng” có nghĩa là “người trung

gian” ở một số vùng nói tiếng Hán, đặc biệt ở Phúc Kiến, Quảng Đông Ở những

vùng này đã từng là cái nôi của Bách Việt mà trong thời tiền sử có nhiều mối quan

hệ thân thuộc với Lạc Việt Từ “t’ung” được sử dụng với nghĩa người lên đồng ở Nam Trung Quốc, còn ở Việt Nam là từ “đồng”, đơn giản bao hàm nghĩa là người

nhập đồng, người trung gian để cho một vị thần hay thánh nhập vào Còn theo GS Ngô Đức Thịnh:

“Hầu đồng hay hầu bóng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của nhiều vị thần linh, trong đó, mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (nhập đồng, giáng đồng), rồi làm quan (tức thời gian thực hiện các nghi lễ, nhảy múa, ban lộc, phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng), được gọi là một giá đồng (tức là thời gian thần linh ngự trị trên cái giá của mình là các ông Đồng, bà Đồng” [28, tr.190]

Thông thường trong một năm, có rất nhiều dịp diễn ra hầu đồng như: Lễ Xông Đền; Lễ hầu Thượng Nguyên (tháng giêng); Lễ hầu Nhập Hạ (tháng tư); Lễ Tán Hạ (tháng Bảy); Lễ Tất Niên (tháng chạp); Lễ Hạp Ấn (25 tháng Chạp)…nhưng dịp

quan trọng nhất vẫn là giỗ Mẫu và giỗ Cha “Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ”

Ngoài ra, đối với từng đền, phủ hoặc đối với các ông Đồng bà Đồng còn có những

lễ hầu riêng: Lễ hầu tiệc các vị thánh như tiệc Cô Bơ (12 tháng 6); Tiệc Quan Tam Phủ (12 tháng 6); Tiệc Chầu Bắc Lệ (tháng 9); Tiệc Ông Hoàng Bẩy (12 tháng 7); Tiệc Ông Hoàng Mười (10 tháng 10); Tiệc Quan Đệ Nhị (11 tháng 11); Tiệc Trần Triều (20 tháng 8)…

Trang 23

Để chuẩn bị cho ngày hầu đồng, các ông Đồng bà Đồng phải chọn ngày lành, sau đó thông báo với chủ đền kết hợp với người hầu dâng, mời cung văn và bạn bè con nhang đệ tử, các bạn đồng tới dự

Bên cạnh đó, việc sắm sửa các lễ vật để dâng cúng trong quá trình hành lễ cũng rất cầu kì, phải tùy theo con đồng vào dịp lễ nào trong năm hay tính chất của buổi hầu đồng đối với bản thân người hầu như lễ trình đồng, lễ hầu bản mệnh, các tiệc khao…

Trang phục trong buổi hầu cũng được các ông Đồng bà Đồng rất quan tâm Mỗi giá đồng thờ một vị thần linh nào đó thì phải có trang phục riêng, không dùng lẫn trang phục của các vị thánh khác Cho nên, hiện nay các ông Đồng, bà Đồng định hầu bao nhiêu giá thì phải chuẩn bị bấy nhiêu trang phục Trang phục dù là đắt tiền hay không cũng phải phù hợp và tuân thủ những quy định về kiểu dáng, màu sắc của từng giá đồng, phù hợp với các Phủ ví dụ như màu đỏ thuộc phủ Thiên, màu xanh thuộc Nhạc phủ, màu trắng thuộc Thoải phủ còn màu vàng thuộc Địa phủ Sau khi hầu xong mỗi giá, các ông Đồng bà Đồng thường dùng những lễ vật đã

sử dụng trong buổi hầu lễ đó để ban phát lộc cho người tới dự

Để đem lại thành công cho buổi hầu đồng không thể không nhắc đến vai trò của người hầu dâng và cung văn Người hầu dâng thường là hai hoặc bốn người Bốn người này thường ngồi ở bốn góc chiếu gọi là tứ trụ Hai người ngồi phía trên sát bàn thờ còn gọi là Tay Quỳnh, Tay Quế- hai người này là những người đã từng hầu đồng, họ rất có kinh nghiệm trong việc hầu đồng nên họ là chân tay đắc lực cho

cô đồng, giúp cô thay quần áo và chuẩn bị các nghi thức, đạo cụ…Họ cũng là những người nhắc bài cho thanh đồng mới chưa quen việc thánh Còn hai người hầu dâng ngồi đằng sau gọi là Tay Huệ, Tay Lan, hai người này cũng phụ giúp thanh đồng trong việc nâng khăn sửa áo

Cung văn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hầu đồng Họ là những người tạo điều kiện cho sự xuất thần của những ông đồng, bà đồng vào cõi phiêu du

của miền “địa linh” bằng những giai điệu, những lời hát và nhạc cụ chủ đạo như

đàn nguyệt, trống bang, cảnh đồng, phách, thanh la… Khi tham dự vào buổi hầu

Trang 24

đồng, người ta sẽ thấy được sự phối hợp rất nhịp nhàng và chính xác giữa ông đồng,

bà đồng, cung văn và những người hầu dâng như một kịch bản được chuẩn bị một cách công phu, tỉ mỉ từ trước: quần áo cho mỗi giá được thay đổi rất nhanh và chính xác, không lộn xộn, lời ca tiếng hát, tiếng nhạc của giá nào vào đúng giá đấy mặc

dù cung văn chỉ cần nhìn vào điệu bộ hay kí hiệu ở tay của các ông bà đồng

Trong buổi hầu đồng, trình tự một giá đồng có thể phân thành các bước sau:

- Ngồi nghe cung văn, phán truyền, ban lộc

- Thánh giá hồi cung

Tuy nhiên, có những giá đồng chỉ giáng chứ không nhập Hiện tượng này người ta gọi là hầu trùm khăn, hầu tráng bóng hoặc hầu tráng mạn

Ban đầu các ông bà đồng phải thực hiện những nghi lễ cần thiết như lễ cúng chúng sinh, lễ thỉnh thánh Sau khi thực hiện xong thì các ông bà đồng trùm khăn

đỏ phủ diện lên đầu, chiếc khăn này là một trong những trang phục không thể thiếu

ở các buổi hầu đồng Ông bà đồng ngồi trước ban thờ, hai tay chắp dâng ba nén hương và khấn mời Thánh về, còn cung văn cứ tuần tự thỉnh Thánh từ trên xuống dưới, tức là từ Thánh Mẫu tới các hàng Quan rồi đến hàng Chầu, hàng Ông Hoàng, hàng Cô, hàng Cậu Khi Thánh về và nhập vào người hầu, người này sẽ ra hiệu cho cung văn là vị thánh nào bằng kí hiệu ở tay để cung văn hát văn về vị thánh đó Lúc này, chiếc khăn phủ diện được bỏ ra, những người hầu dâng sẽ nhanh chóng giúp các ông, bà đồng mặc trang phục của vị Thánh đang giáng Sau khi thay đổi lễ

phục, các ông, bà đồng sẽ làm phép “khai quang”, xưa đuổi ma quỷ, làm trong sạch

hương để dâng cho các vị thánh, rồi cầm bó hương tiến đến trước ban thờ Thánh làm lễ dâng hương Nghi thức dâng hương có sự khác biệt giữa Thánh nam và

Trang 25

Thánh nữ Thánh nữ quỳ dâng hương, rập trán xuống đất ba lần Còn các thánh Nam thì quay lạy, giơ cao bó hương trước trán Những động tác múa, diễn lại sự

tích và hành trang của các “ngài” đã biểu hiện một các sống động sự nhập hồn và

tái sinh của Thánh vào cơ thể các ông, bà đồng

Tuy nhiên, tùy theo vị trí và tính cách của mỗi vị Thánh mà động tác múa cũng khác nhau Với các Thánh hàng Quan thường có múa kiếm, long đao, kích… thì cung văn chơi nhạc và hát điệu hát dồn, lưu thủy, có tiếng trống và cảnh đồng đệm nhịp

Với các Thành hàng Chầu Bà thường có múa mồi, múa quạt theo điệu Xá thượng, Xá lượn Với các thánh hàng Ông Hoàng Mười thì thướng múa cung, múa kèo theo nhịp điệu lưu thủy, hát bộ

Với các Thánh hàng Cô, thường múa mồi, múa quạt, múa chèo đò, múa thêu hoa, dệt gấm, múa hái hoa…theo các nhịp bỏ bộ, điệu xá, lưu thủy…

Với các Thánh hàng Cậu thương múa hèo, múa lân theo điệu lưu thủy, bỏ bộ,

và sẽ bám trụ trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam Mặc dù lên đồng ngày nay vẫn là một vấn đề còn đang được bàn cãi nhưng nếu loại bỏ những yếu tố tiêu cực thì lên đồng là một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Trang 26

1.3 Một vài nét khái quát về tín ngƣỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng

Trong đời sống tinh thần của người dân Hải Phòng, tín ngưỡng Mẫu chiếm một

vị trí quan trọng Giống như nhiều địa phương khác, ở Hải Phòng, đa số các ngôi chùa đều có sự hiện diện của ban thờ Thánh Mẫu với những vị thánh trong điện thần thờ Mẫu nói chung và một số ngôi đền, phủ thờ Mẫu của Hải Phòng nói riêng cùng các vị thánh thần mang tính chất địa phương

Nói đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng, chắc chắn sẽ không ai bỏ qua một nơi thờ Mẫu rất nổi tiếng mang tên Phủ Thượng Đoạn Đây là ngôi đền ở Phường Đông Hải, Quận Hải An Nó là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của dân thôn, là nơi thờ vọng các vị thánh Mẫu cùng các công đồng Tứ Phủ

Ngoài ra, người dân Hải Phòng cũng tôn xưng một số vị thánh của địa phương lên hàng Thánh Mẫu và thờ tự với tư cách là những thánh Mẫu của riêng địa

phương mình Đó là vị thần “Tiền tổ khai canh” của mảnh đất này- Bà Lê Chân

Nơi thờ bà là Đền Nghè- quận Lê Chân Đây là một công trình kiến trúc quen thuộc đối với mỗi người dân đất Cảng Trong ngôi đền, có hai ban thờ chính Một ban thờ các vị thánh trong tín ngưỡng Tứ phủ, một ban thờ bà Lê Chân Trong tâm thức của người dân, đền Nghè được coi là một trong nhiều nơi thờ Mẫu ở Hải Phòng, một nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng Đặc biệt là vào lúc giao thừa, người dân Hải phòng có tục rủ nhau đi lễ đền Nghè dâng nén hương thành kính lên Thánh Mẫu Lê Chân với ước vọng một cuộc sống bình yên, hạnh phúc và đủ đầy

Nếu như bà Lê Chân được nhân dân tôn vinh là thánh Mẫu từ một nhân thần có thật trong lịch sử thì Bà Chúa Nam Phương lại là một vị thánh Mẫu nhuốn màu huyền thoại Tương truyền bà là vị thần cai quản bốn phương của đất Hải Phòng Thực tế cho thấy, không phải chỉ có một Hải Phòng là thờ Bà Chúa Nam Phương hay còn gọi là Bà Chúa Bản Cảnh như vị thần chủ cai quản địa phương mình mà một số nơi trên đất nước ta cũng thờ vị thần này như: Thái Bình, Hải Dương Tuy nhiên, ở mỗi địa phương khác nhau thì vị thần này cũng có những đặc điểm khác biệt do quá trình ngự giáng của thần không giống nhau

Trang 27

Ở Hải Phòng có ba địa chỉ được coi là ba nơi thờ chính của bà Nam Phương:

đó là Chùa Cấm, Ngõ Cấm, đường Lê Lợi; ngã ba Vườn hoa chéo; Cây đa mười ba gốc Đây là ba nơi bà đã từng ngự lãm Trong đó, ngôi đền ở ngã ba Vườn hoa chéo hiện nay không còn nữa do chính sách phá đình, đền, chùa của nhà nước ta trong lịch sử Nhưng nhân dân vẫn sùng bái thờ tự ở ngã ba đường Vào ngày sóc, vọng hàng tháng ở đó lúc nào cũng nghi ngút khói hương, tiền vàng, hoa quả

Có thể khẳng định đây là hai vị thánh Mẫu của Hải Phòng Ngoài nơi thờ chính như đã liệt kê ở trên, hầu như bản điện tư gia thờ Tứ phủ nào trên đất Hải Phòng cũng đều có mặt một trong hai vị thánh Mẫu này, trong đó Bà Chúa Bản Cảnh được phối thờ nhiều hơn

Như vậy, có thể thấy, bên cạnh các vị thánh thần trong hệ thống thần linh của điện Mẫu Việt Nam, ở các địa phương khác trong phạm vi cả nước, có lẽ không một địa phương nào không có những vị thánh thần được nhân dân của chính địa phương

ấy thờ tự và tôn xưng làm thánh Mẫu Chính sự mềm mại trong tiếp nhận này là lí

do khiến tín ngưỡng thờ Mẫu ở lại lâu bền hơn trong đời sống tinh thần của người dân

Trong những năm trở lại đây, ngày càng có nhiều người theo tín ngưỡng thờ Mẫu Điều này cũng đồng nghĩa với việc số lượng các đền phủ, điện mang tư cách

tư gia tăng lên bên cạnh những đền phủ của cộng đồng làng xã Và đương nhiên kéo theo đó là những nghi lễ cũng được tổ chức nhiều hơn, đội ngũ những người thực hành tín ngưỡng- những ông đồng bà đồng với đủ mọi thành phần, đủ mọi lứa tuổi

Có những thanh đồng cao tuổi thì cũng có những thanh đồng tuổi đời chỉ mười tám, đôi mươi Có những thanh đồng làm nghề buôn bán thì cũng nhiều thanh đồng là tri thức làm việc trong các cơ quan nhà nước Có những dân thường và cũng có cả quan chức Có gia đình chỉ có một người tham gia sinh hoạt tín ngưỡng thờ Mẫu thì cũng có những gia đình, gia tộc có tới hai, ba thế hệ liên tiếp nhau Hải Phòng không phải là trường hợp ngoại lệ

Có thể điểm mặt một số đồng thầy lớn của đất Hải Phòng như:

- Cụ Phòng Tây ở Lương Khánh Thiện

Trang 28

- Cụ Thu ở đền Tiên Na, Ngã tư Thành Đội

- Cụ Chấn Hưng, Trần Nguyên Hãn (ba thanh đồng này đều đã mất)

- Ông đồng Giao ở Lê Lai

- Ông Hùng ở Trần Nguyên Hãn

- Bà đồng Mai ở Giếng Thống, Dư Hàng Kênh

- Bà đồng Đức ở Lán Bè

- Bà đồng Hiền ở Quán Sỏi…

Mỗi thanh đồng này đều có hệ thống đệ tử và con nhang riêng của mình

Theo đánh giá của nghệ nhân Hoàng Tú, số 26/31 đường Tôn Đức Thắng, phường Trần Nguyên Hãn - thành viên Câu lạc bộ Bảo tồn đạo Mẫu Việt Nam cho biết: trong bức tranh thờ Mẫu nói chung, đạo Mẫu Hải Phòng vẫn luôn đi đúng hướng Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình, mỗi cá nhân mà người dân có cách ứng

xử với đạo Mẫu khác nhau và nhìn chung là tương đối đúng mực chứ không vượt trội so với các thành phố khác như một số người vẫn thường nghĩ do họ cho rằng người Hải Phòng là dân làm ăn buôn bán nên cung cách họ thực hành tín ngưỡng cũng hoành tráng và nặng về thương mại hơn Nghệ nhân khẳng định: cái khác của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng chính là ở chỗ những tín đồ theo đạo Mẫu đã đưa một số vị thánh của riêng địa phương Hải Phòng vào điện thờ Chính vì thế, khi thực hành nghi lễ hầu đồng, một số thanh đồng cũng thỉnh được giá của các vị thánh này về Tuy nhiên, số lần các thánh giáng là rất hiếm

Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hải Phòng không nằm ngoài dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung, tuy có một số nét riêng như đã trình bày ở trên Trong đời sống tâm linh của người dân đất Cảng, tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ lên đồng

đã và đang trở một nhu cầu không thể thiếu

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Thờ Mẫu là một tín ngưỡng tâm linh độc đáo trong hệ thống tín ngưỡng dân gian đa thần của người Việt Nam Với một hệ thống điện thần phức tạp nhưng tương đối hệ thống và hoàn chỉnh, các nghi lễ đã được quy chuẩn khá chặt chẽ, tín ngưỡng này đã dần hé lộ ý niệm về vũ trụ và một ý thức nhân sinh- ý thức hướng về cội nguồn mà trong đó Mẹ là biểu tượng

Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời từ rất lâu nhưng đã phát triển rất mạnh mẽ trên khắp mọi miền đất nước Cùng với sự phát triển của nó, các nghi lễ và những người thực hành tín ngưỡng cũng ngày một phong phú, đa dạng hơn, đặc biệt là những ông bà đồng Họ không chỉ là những người nhỏ tuổi như trước đây mà với đủ lứa tuổi, đủ thành phần Có những gia đình chỉ có một người nhưng cũng có gia đình có rất nhiều người cùng tham gia đã tạo nên một bức tranh đạo Mẫu vô cùng sống động Những gia đình có truyền thống như vậy sẽ hoạt động tín ngưỡng ra sao, có đóng góp thế nào cho xã hội, việc làm của họ có được tôn vinh hay không? Chúng tôi xin trình bày ở các chương sau

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỜI SỐNG CỦA GIA TỘC THANH ĐỒNG

NGUYỄN ĐÌNH HÙNG 2.1 Lý lịch của các thành viên trong gia tộc Thanh đồng Nguyễn Đình Hùng 2.1.1 Bà Chấn Hưng- mẹ thanh đồng Nguyễn Đình Hùng

Bà Chấn Hưng - tên thật là Lã Thị Thanh Vân, sinh năm 1916 ở Bình Lục, Nam Hà Nam Hà là một tỉnh cũ của Việt Nam nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, với tỉnh lỵ là thành phố Nam Định Tỉnh được thành lập ngày 21 tháng 4 năm 1965 trên cơ sở sát nhập hai tỉnh Hà Nam và Nam Định Đây là quê hương của đạo Mẫu Năm mười bảy tuổi, bà lấy chồng - người Hà Nội- tên là Nguyễn Đình Chấn nhưng vợ chồng bà lập nghiệp ở Hải Phòng Bà sinh được hai người con, một trai, một gái Sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu có ở Bình Lục nhưng hiếm muộn nên gia đình bà tích cực làm từ thiện và đi cầu tự Bản thân bà là một đứa con cầu tự của gia đình Theo lời các con bà kể lại, hồi nhỏ cha mẹ bế bà lên chùa, đặt trong một cái thúng để cầu khấn sau đó bán bà vào một ngôi chùa ở Bình Lục Ngay

từ nhỏ, bà đã tỏ ra gần gũi và quan tâm đến những việc cúng bái Sau này, khi lập gia đình, về Hải Phòng làm ăn sinh sống bà vẫn luôn để tâm đến chuyện tâm linh

Là con duy nhất trong gia đình, bố mẹ mất sớm nên bà Vân phải gánh vác, lo toan mọi việc từ nhỏ Những năm trước chiến tranh, bà mở xưởng xay sát gạo thóc, buôn bán vải vóc để nuôi hai người con ăn học Chăm chỉ làm ăn buôn bán nên sau này bà trở thành một thương gia giàu có tiếng tăm ở đất Hải Phòng Những năm chiến tranh phá hoại, chứng kiến cảnh dân làng không có cơm ăn, không đủ quần áo

để mặc bà đã tình nguyện ủng hộ cho Cách mạng 2 lạng vàng, 50 tấn đỗ tương, 20 súc vải màu cỏ úa, đồng thời bà còn công đức rất nhiều cho việc xây dựng, trùng tu

đình, đền, chùa ở khắp mọi nơi (Theo một bức thư viết tay của bà để lại có chữ kí

của ông Hoàng Tùng- Tổng biên tập báo Cách Mạng thời đó)

Sau chiến tranh, những gia đình tiểu tư sản như gia đình bà gặp rất nhiều khó khăn do chính sách cải cách của Nhà nước lúc bấy giờ Tài sản bao nhiêu năm làm

ăn tích cóp của gia đình đều bị tịch thu hết Một mình bà chèo chống nuôi hai người

Trang 31

con (lúc này cụ ông đang ở với bà hai) Không cam chịu, bà tăng gia sản xuất chăn nuôi và mở của hàng bán thuốc nam Sau một thời gian, với kinh nghiệm cũng như nghị lực của người mẹ, bà đã vực lại kinh tế cho gia đình Bà tiếp tục đóng góp tiền của để công đức, sửa chữa tôn tạo lại những ngôi chùa ở địa phương cũng như ở các nơi khác và cứu giúp những người già không nơi nương tựa, những người gặp hoàn cảnh khó khăn.

Theo lời ông Hùng, từ nhỏ bà đã có duyên với chuyện tâm linh Bà thích thú với việc đắp đình, chùa, nặn tượng Lớn lên, khi lập gia đình, làm ăn khá giả bà có nhiều cơ hội quan tâm và công đức cho việc trùng tu, xây dựng đình chùa miếu mạo Nhưng cơ duyên để bà đến với việc thờ Mẫu là qua một lần ốm nặng tưởng rằng vô phương cứu chữa, bà gặp một thanh đồng người Hà Nội và được vị thanh đồng này cứu chữa bắt bệnh bằng những bông hoa hồng bọc trong một dải lụa trắng Vị thanh đồng này gói hoa vào dải lụa rồi đem hơ trên bó hương, bảo Bà đem

về sao lên và sắc uống Quả thật một vài ngày sau bà khỏi bệnh Từ đó, bà tin vào đạo Mẫu Bà trình đồng mở phủ (ngôi đền Thánh Linh Từ ngày nay, lấy hiệu là Chấn Hưng) và tham gia hầu đồng cho đến cuối đời Những người đã được bà mở phủ, những người đã từng cùng bà đi khắp đền này phủ kia đều có chung một nhận xét rằng: đương thời bà là một thanh đồng có tiếng không chỉ ở Hải Phòng mà còn

ở Hà Nội, Nam Định (Theo lời bà Nguyễn Thị Hiền, số 74 Triệu Vương, Hà Nội; ông Nguyễn Văn Hà, số 13 Phố Trần Nguyên Hãn, Quận Lê Chân, Hải Phòng) Hiện nay ở gia đình bà vẫn còn lưu giữ rất nhiều tấm ảnh khi bà tham gia hầu bóng

2.1.2 Thanh đồng Nguyễn Đình Hùng

Ông là con trai duy nhất của bà Vân Hồi ông còn nhỏ- năm 13 tuổi- ông đã là chủ của 23 thửa đất có tổng diện tích là 14.693 m2, trị giá hơn 3 vạn đồng Đông Dương lúc bấy giờ Nhưng khi chính sách đổi mới được ban hành, ông Hùng được liệt vào con gia đình tư sản cần khai trừ và bị tịch thu hết tài sản Cuộc đời ông vì thế gặp rất nhiều thiệt thòi Bao nhiêu năm công tác, ông không được vào biến chế Ông quyết định tự mình nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo theo sở thích của bản thân Ông đam mê với nghề chế tạo cơ khí Ông kể lại rằng thời chiến tranh phá hoại, ông

Trang 32

đã làm được chiếc đài cải tiến thành máy phóng thanh để giúp cho việc tuyên truyền được thuận lợi hơn Tiếp đó, ông còn chế tạo ra máy sản xuất bông tái sinh, máy làm đá, máy gọt vỏ sấu…

Lúc còn thanh niên, Bà Chấn nhiều lần định ra đồng cho ông bởi theo luật những gia đình nào thờ đạo Mẫu đều muốn có người nối dõi sự nghiệp thờ cúng của

tổ tiên, tránh tình trạng hương tàn khói lạnh nhưng ông không chịu Là con một gia đình khá giả lại được chiều chuộng nên ông Hùng lúc bấy giờ không chú tâm đến việc hương khói thờ Mẫu Ông kể ông thường giúp mẹ mình một số việc để bà hành lễ: từ việc sắp hương hoa đến việc tu sửa đền thờ, đưa bà đi lễ bái ở khắp đền này phủ nọ nhưng xác định là một thanh đồng thì chưa bao giờ ông nghĩ tới Ông nói, ông không tin vào những điều huyền bí nhưng vì tôn trọng mẹ mình nên ông vẫn theo bà đi lễ, đi hầu với tư cách là người xem

Năm 37 tuổi, khi ấy ông Hùng bị bệnh rất nặng: sơ vữa động mạch do hậu sởi chạy vào đã khiến ông phải bỏ đi một ngón chân ở bàn chân phải (hiện nay chân phải của ông còn 4 ngón) và chỉ có thể ngồi, không nằm được trong rất nhiều năm Mất 7 năm chữa trị tại Bệnh viện Trung Ương nhưng bệnh tình không thuyên giảm, chân ông mỗi lúc một teo đi Vậy mà trong một buổi xem mẹ mình hầu bóng tại đền Mẫu của tư gia, khi mẹ ông hầu giá Chầu Lục, bà đã lấy nắm hương hơ dưới chân ông, trong chốc lát ông nằm được xuống như một phép lạ Sau lần đó, ông có phần tin vào đạo Mẫu hơn nhưng vẫn rất ngần ngại, băn khoăn

Ông tâm sự với chúng tôi, lý do để ông hoàn toàn tin tưởng vào tín ngưỡng này

là sau một lần theo mẹ và các con nhang đệ tử của đền đi hầu tại đền thờ Mẫu ở Lạng Sơn (khoảng hồi tháng 2 năm ông 45 tuổi), trong lúc đang xem người khác hầu đồng thì đột nhiên máu ở mũi và mồm ông chảy ra rất nhiều, không nói với ai câu gì, ông nhảy xuống sông ở gần đó tắm rửa sạch sẽ, buổi chiều vào hầu liền lúc

12 giá đồng Từ đó, ông không còn nghi ngại với việc hầu đồng nữa và năm 45 tuổi ông quyết định làm lễ ra đồng và trở thành Thanh đồng nối dõi sự nghiệp thờ cúng của gia tộc mình Ông vẫn còn nhớ như in cái cảm giác khoan khoái, khỏe mạnh sau khi hầu liền lúc 12 giá đồng xong Từ đó đến nay, năm nào ông cũng tổ chức

Trang 33

hầu đồng 4 lần tại đền của gia tộc Năm nay, ông đã ngoài 70 nhưng vẫn còn rất khỏe mạnh và minh mẫn

2.1.3 Các con của thanh đồng Nguyễn Đình Hùng

Ông Hùng có 5 người con, 4 trai, 1 gái Các con của ông đều đã có gia đình

Họ theo nghề lắp đặt, sửa chữa và buôn bán máy công nghiệp, buôn bán bất động sản Lớn lên trong một gia đình có truyền thống thờ cúng Tứ phủ, hơn nữa được chứng kiến những gì đã xảy ra với bà và cha mình, trong số các con ông (cả dâu rể)

có 6 người tâm huyết theo tín ngưỡng này

Năm 2008, để tìm người nối dõi sự nghiệp thờ cúng của tổ tiên, ông Hùng đã

ra đồng cho 6 người con của mình Theo phỏng vấn các con của ông Hùng đều nhận xét rằng từ khi ông Hùng trình đồng cho họ, họ cảm thấy làm ăn rất suôn sẻ, may mắn hơn

Cô con dâu trưởng của ông là một người buôn bán nhỏ ở khu phố Chị bán đá xay Theo lời của ông Thoa- thầy cúng làm việc tại đền Thánh Linh Từ- cho biết: ông đã chứng kiến con dâu trưởng ông Hùng chữa bệnh cho nhiều người và họ đều khỏi bệnh Khi được hỏi chị cho biết: trước đây chị bán đá- công việc vất vả tối ngày và không bao giờ nghĩ mình có thể chữa bệnh cho mọi người nhưng quả thật cách đây 6 năm chị thấy một đứa trẻ cạnh nhà chân tay sưng tấy, đau nhức, mưng

mủ và bị bệnh viện trả về vì không tìm ra bệnh Chị đã bảo mẹ cháu đi tìm những cây lá sắc uống và sau khi uống vài lần cháu bé đó khỏi bệnh Từ đó đến nay có rất nhiều người đến nhờ chị chữa bệnh Chị nói không biết giải thích với mọi người như thế nào nhưng từ khi hầu bóng chị thấy cuộc sống dễ chịu hẳn lên Gia đình chị cũng không lục đục như trước nữa Chồng chị- con trai trưởng của ông Hùng bớt ăn chơi, cờ bạc Hiện nay, chị là một trong hai người hầu dâng mỗi khi ông Hùng hầu đồng

Con trai thứ hai của ông cũng tham gia hầu đồng Anh là kĩ sư cơ khí còn vợ buôn bán hàng mã Anh cũng là người con được ông Hùng tín nhiệm và giao phó những việc của đền phủ Khi được hỏi, anh nói gia đình anh chỉ có mình anh là theo hầu bóng Vợ anh buôn bán vàng mã nhưng không tham gia hầu đồng bao giờ Anh

Trang 34

cho biết bình thường anh là một kĩ sư cơ khí, tay chân cứng rắn vì tiếp xúc nhiều với máy móc thế mà khi hầu đồng anh cũng múa dẻo như ai Anh thấy vơi hết mệt mỏi, phiền toái mỗi khi hầu đồng Anh chưa thấy mình có khả năng đặc biệt gì, chỉ biết rằng mỗi lần hầu, anh hầu được 18 giá liền không biết mệt mỏi

Cả hai vợ chồng con trai thứ 3 của ông Hùng đều hầu bóng Thừa hưởng gien của bố, người con trai thứ của ông cũng là người say mê với máy móc Anh làm nghề sửa chữa và buôn bán máy điện lạnh Vợ anh buôn bán hàng sén ngoài chợ

Vợ chồng anh tín tâm theo hầu Tứ Phủ vì truyền thống của gia đình và cũng vì niềm đam mê thích thú của bản thân Anh cho biết, công việc buôn bán của anh rất bận rộn nhưng mỗi khi ở đền có việc anh đều gác lại và lo toan việc thánh trước Đó là tâm nguyện của vợ chồng anh, là tấm lòng thành kính dâng lên các thánh Mẫu Những thành viên cuối cùng trong gia đình ông Hùng tham gia hầu đồng là vợ chồng người con gái của ông Chị là con gái duy nhất của ông Hùng, năm nay đã gần 40 tuổi Theo dõi buổi trình đồng của gia đình, chúng tôi thấy chị là người đã lắc mình nhiều nhất khi ông Hùng trùm bốn chiếc khăn đỏ lên đầu bốn người con của mình Chị nói chị thích hầu đồng, chị thấy sảng khoái và trong lòng rất tâm huyết với việc thờ Mẫu mặc dù chị cũng chưa thấy là mình có khả năng đặc biệt nào Theo lời của Chị Đặng Thị Cúc - người giúp việc của gia đình ông Hùng- cho biết: vợ chồng chị Thủy buôn bán đắt hàng hơn hẳn trước Từ khi ra đồng, mỗi tuần

vợ chồng chị có thể bán được bảy chiếc máy công nghiệp còn trước kia mỗi tuần chỉ bán được một cái đã là khó khăn Và cũng từ khi ra đồng, cuộc sống kinh tế gia đình chị khấm khá hẳn lên

Trong số năm người con của ông Hùng có con trai trưởng và út là không theo tín ngưỡng Tứ Phủ Một người ở nhà, một người làm nghề buôn bán bất động sản Khi được hỏi họ cho biết họ chỉ đến đền của gia đình thắp nhang thành tâm chứ chưa hầu đồng bao giờ Có chứng kiến cha và các anh chị em trong gia đình hầu đồng nhưng bản thân cảm thấy không thích thú với chuyện này Con trai út của ông nói sau này nếu quả thật mình có căn Tứ phủ thì anh sẽ lập một đền riêng để thờ tự chứ không thờ chung với đền của gia đình

Trang 35

Như vậy, trong gia tộc của Bà Chấn Hưng có tám người: bà, ông Hùng và sáu người cháu của bà (cả trai, gái, dâu, rể) đều có tâm theo hầu Tứ phủ Khi họ trình đồng mở phủ tức là họ đã được cấp sắc (sắc cũng giống như bằng cấp của người trên trần vậy) và trở thành những thanh đồng, những tín đồ của đạo Mẫu chăm lo việc thánh Qua việc tìm hiểu lai lịch của các thành viên trong gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng chúng ta có thể rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, trong một gia tộc có thể có nhiều thế hệ cùng tham gia một tín ngưỡng, tôn giáo Ở gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng, có ba thế hệ liên tiếp theo tín ngưỡng thờ Mẫu và lên đồng Mỗi đời đều tìm một người để có thể nối dõi

sự nghiệp thờ cúng của tổ tiên nhưng không bắt buộc phải là trai hay gái, mặc dù

những người theo Mẫu vẫn thường quan niệm “một đồng nam bằng một ngàn đồng

nữ” Khi người chủ đền đã cao tuổi, ông sẽ làm một lễ trình đồng mở phủ cho thế

hệ kế tiếp (có thể là con cũng có thể là cháu) để trông nom việc hương khói của gia đình

Thứ hai, hiện tượng gia tộc có nhiều thế hệ làm thanh đồng như gia đình ông Hùng xuất hiện rất nhiều trong đời sống xã hội của chúng ta Có gia tộc, ở các thế

hệ nối tiếp nhau đều có những người có căn số và bắt buộc phải ra đồng nếu không

sẽ bị đầy đọa Cũng có gia tộc mà các thế hệ nối tiếp nhau làm thanh đồng chỉ thuần túy sùng đạo theo lối truyền thống, tức là thấy cha mẹ và xung quanh làm vậy thì mình cũng làm để yên tâm và cầu một sự yên ổn cho gia đình và bản thân Và cũng

có gia tộc có người có căn số nhưng cũng có người không Như vậy, trong xã hội hiện nay đang tồn tại hai loại thanh đồng Người có căn số bắt buộc phải ra hầu đồng và người không có căn mạng nhưng vẫn có thể ra đồng Ở gia đình ông Hùng,

Bà Chấn Hưng và ông là những người có căn số đã từng bị cơ đày- đau ốm, bệnh tật- nên bắt buộc phải ra đồng Còn các con ông chưa có những biểu hiện như bố và

bà mình nhưng họ vẫn trình đồng mở phủ Do đó, cái quan trọng để một người có thể ra đồng không phải là họ có căn số hay không mà chính là ở cái tâm, ở sự thành kính của họ đối với các thánh thần Tứ phủ Tất nhiên, những người đã có căn số thì

họ bắt buộc phải ra đồng nếu không muốn bị đày đọa về tinh thần và thể xác

Trang 36

Dưới đây là phả hệ của gia tộc Thanh đồng Nguyễn Đình Hùng

Hình 1 Phả hệ gia tộc Nguyễn Đình Chấn (Hàng Hòm- Hà Nội)

Ngõ 201 Trần Nguyên Hãn, Lê Chân, Hải Phòng

2.2 Đời sống tâm linh

2.2.1 Không gian hành lễ- Đền Thánh Linh Từ

Nằm trong một con ngõ nhỏ 201 trên đường Trần Nguyên Hãn, ngôi đền mang tên Đền Bà Chấn Hưng dường như không mấy xa lạ đối với người dân nơi đây Đền

có tên chữ là Thánh Linh Từ nhưng mọi người thường gọi bằng cái tên thân mật của người đã khai sinh ra nó: Đền Bà Chấn Hưng

Đền được xây dựng từ năm 1947 thời Bà Chấn Hưng, trong khuôn viên của gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng hiện tại với một kiến trúc đơn giản, sạch sẽ và

được bài trí theo sô đồ như sau:

Trang 37

Hình 2 Sơ đồ bài trí đền Thánh Linh Từ

Ghi chú:

1 Tượng Mẫu Thượng Thiên

2 Tượng Mẫu Thượng Ngàn

3 Tượng Mẫu Thoải

9 Tượng Ông Hoàng Bơ

10 Tượng Ông Hoàng Bảy

11 Tượng Ông Hoàng Mười

12 Tượng Ông Hoàng Hai

13 Ban Bà Chúa Bản Cảnh

14 Ban Trần Triều

15 Câu đối

16 Ban Sơn Trang (Chầu Lục)

17 Tượng Quỳnh Hoa

18 Tượng Quế Hoa

27 Ban thờ Bà Chân Hưng

28 Ban thờ gia tiên

Trang 38

Cũng giống như nhiều ngôi đền thờ Mẫu khác ở phạm vi gia đình, đền Bà Chấn Hưng thờ công đồng Tứ phủ, các vị chư linh của bốn miền vũ trụ với trung tâm là các Mẫu, các vị thần linh hóa thân của Mẫu như Ngũ vị Tôn Ông, các ông Hoàng, Tứ phủ Thánh Cô, Cậu và Ngũ Hổ

Từ ngoài nhìn vào, theo sơ đồ bài trí thờ cúng trong di tích, chúng ta có thể hình dung như sau:

Hàng trên cùng và cao nhất là Hậu cung Đây là nơi thờ Tam tòa Thánh Mẫu với sự hiện diện của ba Mẫu: Mẫu Đệ Nhất ngồi giữa, mặc trang phục màu đỏ; Mẫu

Đệ Nhị ngồi thứ hai phía bên tay trái mặc trang phục màu xanh; Mẫu Đệ Tam với trang phục màu trắng, ngồi phía bên tay phải của Mẫu Đệ Nhất Ba vị này được đặt trong một khám thờ riêng trong Hậu cung

Cũng trong cung này, ngũ vị Quan lớn cũng được phối thờ ở hàng thứ hai bao gồm: Quan Đệ Nhất ngồi giữa, phía bên tay trái là Quan Đệ Nhị và Quan Đệ Ngũ Phía bên tay phải là hai vị Quan Đệ Tam và Quan Đệ Tứ Đây là 5 vị Quan lớn thường xuyên giáng đồng, đại diện cho mười vị Quan lớn thuộc hàng quan trong tín ngưỡng thờ Mẫu Các vị quan này đội mũ cánh chuồn- kiểu mũ quan trong thời phong kiến xưa Trang phục của các vị quan tương đối giống nhau về kiểu cách, hoa văn và cũng tuân thủ đúng theo những quy định của tín ngưỡng Tứ phủ: Quan

Đệ Nhất thuộc Thiên Phủ nên mặc đồ màu đỏ; Quan Đệ Nhị thuộc Phủ Thượng Ngàn nên mặc quần áo màu xanh; Quan Đệ Tam mặc trang phục màu trắng vì thuộc Thoải Phủ; Quan Đệ Tứ là đại diện của Địa Phủ nên mặc trang phục màu vàng còn Quan Đệ Ngũ mặc áo quan có màu xanh thiên thanh hay còn gọi là màu xí lâm Tiếp theo hậu cung là cung công đồng Cung công đồng được bắt đầu bằng sự hiện diện của Tứ phủ Ông Hoàng Các vị này tọa lạc ở hàng thứ ba tính từ trong ra ngoài ban thờ Ở đền Bà Chấn Hưng, chủ đền thờ bốn vị Ông Hoàng thường xuyên giáng đồng Đó là Ông Hoàng Bơ, ngồi giữa trong trang phục màu trắng Bên trái là Ông Hoàng Hai, mặc áo xanh Bên phải là Ông Hoàng Bảy, mặc áo tím Ông Hoàng Mười trong trang phục màu vàng ngồi cạnh Ông Hoàng Bảy ở vị trí thứ 4

Trang 39

Xuống hàng thứ tư lui về hai bên là hai khám thờ riêng biệt Phía bên tay trái của đền thờ là khám thờ Bà Chúa Bản Cảnh- tương truyền là người cai quản vùng đất Hải Phòng Những đền, phủ thờ Mẫu ở Hải Phòng thường phối thờ bà trong điện thần Đối diện với khám thờ bà là cung Trần Triều, bên dưới là hai vương cô: Quỳnh Hoa và Quế Hoa- con gái vua Trần

Giữa chính đền thờ đặt một bát hương to - nhà đền gọi là bát hương công đồng

Tứ phủ

Cuối cùng là Hạ ban Hạ ban là nơi thường thờ Ngũ Hổ Theo chủ đền giải thích, uy lực của con hổ khiến con người khiếp sợ cho nên phải thờ phụng để tránh hiểm họa và mong Ngài phù hộ để dễ dàng làm ăn Nhưng thần Hổ cũng phải quy phục bởi quyền năng của thần linh nên thờ thần Hổ phải đặt bên dưới ban thờ các vị thần linh là vì thế

Sang một khoảng không gian không cùng với ban thờ ở chính đền là một động được đắp nổi rất cầu kỳ Đây là động Sơn Trang Sự khác biệt của đền thờ Thánh Linh Từ so với các đền khác trong vùng là ở động Sơn Trang này Thông thường những nơi khác thường thờ ba vị là Bà chúa Sơn Trang, cô Bơ Thoải và cô Đôi Thượng Ngàn, còn ở đây nhà đền thờ Chầu Lục Vị thần này gốc người Nùng quê ở Hữu Lũng, Lạng Sơn, đương thời giỏi việc chữa bệnh cứu người Đền thờ của Thanh đồng Nguyễn Đình Hùng thờ bà là bởi khi còn sống Bà Chấn Hưng sát căn với vị thánh Chầu Lục

Lui ra phía ngoài gần cửa ra vào hơn và cũng về phía bên tay trái- ban thờ Bà Chấn Hưng- người đầu tiên tham gia sinh hoạt tín ngưỡng Tứ phủ, người khai sinh

ra ngôi đền mang tên bà và cũng là người gây dựng nên truyền thống thờ Mẫu của gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng hiện nay Ban thờ bà đối diện với ban thờ của gia tiên, dòng họ Ban thờ bà được đặt riêng biệt không cùng thờ với những người trong gia đình Đây là sự sắp xếp có chủ ý của chủ đền Theo lời ông Hùng, đền thờ của gia đình ông thờ các vị thánh của công đồng Tứ phủ Bà Chấn Hưng cũng được tôn vinh là một thanh đồng thầy, là mẹ không chỉ với tư cách người sinh thành ra ông mà còn là mẹ của rất nhiều thanh đồng khác nữa

Trang 40

Tô điểm và trang trí cho ngôi đền thêm trang hoàng là đồ mã Có thể nói trong tín ngưỡng Tứ phủ, đồ mã là một trong các lễ vật dâng lên các đấng thần linh, biểu hiện sự tôn kính, cầu mong sự an lành, sự che chở của một thế giới siêu hình cho con người Một đặc điểm lớn nhất đối với đồ mã Tứ phủ nói chung và ở đền của gia đình ông Hùng nói riêng là màu sắc phải tương ứng theo từng phủ: màu đỏ tượng trưng cho Thiên phủ; màu xanh tượng trưng cho Nhạc phủ; màu trắng là của Thoải phủ và màu vàng là Địa phủ Ví dụ như vàng Tứ phủ (loại vàng viên hình hộp được đóng thành bánh và xếp khối với 4 màu xanh, đỏ, trắng, vàng)

Tất cả các đồ mã của đền ông Hùng được đặt và sắp xếp theo sự chỉ định của

ông- chủ đền (đồng thầy) và được làm từ một “hoa man” riêng (theo tiếng Hán hoa

man chỉ những người làm đồ mã) ở Hải Phòng chứ không phải thứ đồ mã bán sẵn ở ngoài các cửa hàng tạp hóa

Ngoài ra ở đền Bà Chấn Hưng, chúng ta không thể không nói tới những chiếc nón được làm rất cầu kỳ do những con nhang đệ tử cúng tiễn Những chiếc nón này được gọi là nón Tứ phủ Thông thường nón dùng trong đền, phủ thờ Mẫu có hai loại: một là nón quai thao và nón thông thường Để biểu thị cho từng vị thánh tối thượng, trong lòng Nón thường được dán giấy màu tương ứng điểm xuyết những kim tòng màu vàng Đặc biệt bao giờ cũng có một chiếc nón rất to được treo ở trung tâm các nón thông thường gọi là nón công đồng Nón công đồng được trang trí rất cầu kỳ, nhiều màu sắc, đầy chất dân gian và rất đắt tiền nên thường để treo cho đẹp, mỗi năm chỉ đốt một lần vào dịp cuối năm để thay nón mới

Nhìn chung, không gian hành lễ của gia đình thanh đồng Nguyễn Đình Hùng tương đối bề thế, cách bố trí cân đối, hợp lý vừa đẹp mắt vừa tạo cho mọi người một cảm giác ấm cúng, thiêng liêng khi đến đây Theo nhiều người trong vùng đánh giá thì đền thờ Mẫu của gia đình ông Hùng xứng tầm là một trong số những ngôi đền tư gia thờ Mẫu lớn ở Hải Phòng

2.2.2 Những sinh hoạt tín ngƣỡng chính

Như biết bao đền, phủ khác thờ Đạo Mẫu Tứ phủ ở Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung, trong một năm có rất nhiều các nghi lễ diễn ra như: lễ tôn nhang

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Văn hóa- Thông tin, Cục Văn Hóa - Thông tin cơ sở (1999), Tín ngưỡng mê tín, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng mê tín
Tác giả: Bộ Văn hóa- Thông tin, Cục Văn Hóa - Thông tin cơ sở
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1999
2. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
3. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
4. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2005
5. Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã Hội
Năm: 2000
6. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1996
7. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông Tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông Tin Hà Nội
Năm: 2001
8. Đỗ Như Hảo, Mai Thị Chúc (1984), Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nữ thần Việt Nam
Tác giả: Đỗ Như Hảo, Mai Thị Chúc
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1984
9. Nguyễn Thị Hiền (2007), Các hình thức diễn xướng dân gian trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, Ban Nghiên cứu Di sản Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức diễn xướng dân gian trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2007
10. Hội Folklore Châu Á (2006), Giá trị và tính đa dạng của Folklore Châu Á trong quá trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và tính đa dạng của Folklore Châu Á trong quá trình hội nhập
Tác giả: Hội Folklore Châu Á
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
12. Đinh Gia Khánh (1992), “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam”, Tạp chí Văn học (5), tr.7- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1992
13. Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) (2002), Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
14. Võ Hoàng Lan (2007), “Thanh đồng nhìn từ đền Kiếp Bạc”, Tạp chí Di sản Văn hóa, (18) tr.71-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh đồng nhìn từ đền Kiếp Bạc
Tác giả: Võ Hoàng Lan
Năm: 2007
15. Dã Lan, Nguyễn Đức Dụ (2010), Gia phả khảo luận và thực hành, Nxb Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả khảo luận và thực hành
Tác giả: Dã Lan, Nguyễn Đức Dụ
Nhà XB: Nxb Thời Đại
Năm: 2010
16. Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (2009), Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tác giả: Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2009
17. Đặng Văn Lung (2004), Văn hóa Thánh Mẫu, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Thánh Mẫu
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2004
18. Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm, Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi của tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb Thế giới
19. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
20. Nghiên cứu khả năng đặc biệt của con người trong hệ thống đạo Mẫu Việt Nam (2009), Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng đặc biệt của con người trong hệ thống đạo Mẫu Việt Nam
Tác giả: Nghiên cứu khả năng đặc biệt của con người trong hệ thống đạo Mẫu Việt Nam
Năm: 2009
21. Nhiều tác giả (2006), Hỏi và đáp về cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Danh sỏch con nhang đệ tử từ 2001 đến thỏng 04/2011 - Thanh đồng nhìn từ góc độ phả hệ qua nghiên cứu gia đình thanh đồng nguyễn đình hùng ở hải phòng
Bảng 1. Danh sỏch con nhang đệ tử từ 2001 đến thỏng 04/2011 (Trang 47)
Bảng 2. Thống kờ con nhang đệ tử sinh hoạt thường xuyờn từ 2001 đến thỏng 04/2011 - Thanh đồng nhìn từ góc độ phả hệ qua nghiên cứu gia đình thanh đồng nguyễn đình hùng ở hải phòng
Bảng 2. Thống kờ con nhang đệ tử sinh hoạt thường xuyờn từ 2001 đến thỏng 04/2011 (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm