1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc của người khiếm thị tại một số thành phố lớn của việt nam

117 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 729,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI NGUYỄN THỊ DUNG NGHIÊN CỨU CÁC HOẠT ĐỘNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI MỘT SỐ THÀNH P

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ DUNG

NGHIÊN CỨU CÁC HOẠT ĐỘNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ

LỚN CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THU THẢO

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 4

I Tính cấp thiết của đề tài 4

II Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 6

III Phương pháp nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ VÀ NHU CẦU ĐỌC CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ 8

1.1 Đặc điểm tâm lý của người khiếm thị và người khiếm thị ở Việt Nam 8

1.1.2 Người khiếm thị ở Việt Nam 9

1.1.3 Chính sách và luật pháp của Việt Nam đối với người khuyết tật 11

1.1.4 Các hoạt động xã hội hướng tới người khiếm thị 13

1.1.5 Các cơ quan, tổ chức của người khiếm thị tại Việt Nam 15

2.2 Nhu cầu đọc của người khiếm thị 19

1.2.1 Khái niệm 19

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc 20

1.2.3 Nhu cầu đọc của người khiếm thị 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ LỚN CỦA VIỆT NAM 26

2.1 Hoạt động đáp ứng của các cơ quan tổ chức tại một số thành phố lớn của Việt Nam 26

2.1.1 Về nội dung tài liệu 26

2.1.2 Về loại hình tài liệu 27

2.1.2.1 Tài liệu chữ nổi 28

2.1.2.2 Băng cat set, đĩa CD, sách nói 31

2.2 Các sản phẩm, dịch vụ thông tin và tư liệu cho người khiếm thị 36

2.2.1 Sản phẩm 36

2.2.2 Dịch vụ 41

HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN LƯU ĐỘNG CHO NGƯỜI KHIẾM THỊ 43

2.3 Công tác tổ chức hoạt động phục vụ người khiếm thị 46

2.3.1 Thư viện mini phục vụ người khiếm thị 46

2.3.2 Mở dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại thư viện công cộng 47

2.3.3 Thư viện âm thanh cho người khiếm thị 48

2.3.4 Chương trình thư viện lưu động 48

2.3.5 Website dành cho người khiếm thị 51

2.4 Hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc theo đánh giá của người khiếm thị qua điều tra, nghiên cứu 53

2.4.1 Về nội dung 54

2.4.2 Về hình thức 55

2.5 Nhận xét chung 58

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI MỘT SỐ THÀNH PHỐ LỚN CỦA VIỆT NAM 60

3.1 Nhóm giải pháp về phát triển các nguồn tin truyền thống 60

3.1.1 Chính sách bổ sung 60

Trang 3

3.1.2 Bổ sung hợp tác 61

3.2 Nhóm giải pháp về phát triển và tiếp cận các nguồn tin hiện đại 62

3.2.1 Phát triển nhiều hơn website cho người khiếm thị 62

3.2.2 Sử dụng và tập huấn sử dụng phần mềm đọc tiếng Việt 64

3.2.3 Lập chương trình đào tạo tin học cho người khiếm thị 66

3.3 Nhóm giải pháp về các sản phẩm và dịch vụ thông tin và tư liệu 66

3.3.1 Sản phẩm 67

3.3.2 Dịch vụ 70

3.4 Nâng cao chất lượng công tác tổ chức hoạt động phục vụ người khiếm thị 73

3.4.1 Bản quyền 73

3.4.2 Vận động đọc 73

3.4.3 Thư viện lưu động 74

3.4.4 Dịch vụ giao tài liệu tận nhà 74

3.4.5 Chương trình bưu điện dành cho người mù và dịch vụ bưu điện 75

3.4.6 Cho mượn trang thiết bị 76

3.4.7 Tập huấn cho cán bộ phục vụ trực tiếp người khiếm thị 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Phụ lục 01 83

Phụ lục 02: 88

Phụ lục 04: 102

Phụ lục 05: 107

Phụ lục 06: 110

Trang 4

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, nước ta có hơn 5,1 triệu người có khuyết tật về mắt, chiếm khoảng 6% dân số, kể cả 1 triệu người bị đa khuyết tật

Khoảng 900,000 người (1,2% dân số) khiếm thị, trong đó 60,000 người mù hoàn toàn Chỉ có trên 40,000 trong số người khiếm thị trong cả nước được hưởng các dịch vụ do đã đăng kí là thành viên của các Hội người mù

Mặc dù nhà nước có chính sách phổ cập giáo dục cấp 2 thì chỉ có 6% người khiếm thị có trình độ từ cấp 2 trở lên và 20% đạt mức học vấn cấp 1 đến cấp 2 có khoảng 30% người khiếm thị làm việc có thu nhập

Đời sống của họ đang gặp rất nhiều khó khăn Với ý chí, nghị lực, quyết tâm vươn lên, người khiếm thị cũng có nguyện vọng được học tập, làm việc để có cuộc sống bình đẳng như các thành viên khác trong xã hội, góp phần xây dựng đất nước

Chăm lo cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng nhằm giảm bớt những khó khăn, thiếu thốn của họ là một trong những chính sách của chính phủ Việt Nam Chính vì vậy, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đánh giá cao những đóng góp của các Nhà tài trợ trong thời gian qua trong việc tạo ra và thúc đẩy các dịch vụ thư viện thông tin cho người khiếm thị trong hệ thống thư viện công cộng và các cơ quan khác tại Việt Nam, góp phần đưa chính sách của chính phủ Việt Nam đối với người khuyết tật đi vào cuộc sống Các

dự án tăng cường việc tiếp cận thông tin cho người khiếm thị được triển khai

Trang 5

đã thiết thực giúp cho người khiếm thị có cơ hội hòa nhập và hưởng lợi từ xã hội được nhiều hơn

Học tập suốt đời cũng được xem như là mục tiêu chính của chủ trương hòa nhập xã hội, để giúp người khiếm thị có khả năng làm việc, cạnh tranh, làm tốt tránh nhiệm của cong dân và hưởng thụ di sản văn hóa và tri thức

Hỗ trợ cho việc học tập suốt đời và văn hóa đọc phải được thực hiện một cách công bằng và bình đẳng, người khuyết tật cũng có quyền đưa ra các ý kiến về cách thức phục vụ để họ có thể tiếp cận sử dụng nguồn lực thư viện và thông tin

Hiện nay chính phủ đã có sự đầu tư đáng kể để hình thành mạng liên kết, tạo lập nội dung số hóa và xây dựng đội ngũ nhân viên công nghệ thông tin đầy đủ năng lực làm việc Sự đầu tư lớn ở đấy để có thể đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị có thể độc lập truy cập vào nhiều nguồn lực thông tin rộng rãi vốn chưa phục vụ thỏa đáng và cung cấp thêm tiện nghi sử dụng công nghệ hỗ trợ như nhận dạng giọng nói, phần mềm đọc nhân tạo, phóng đại màn hình, trình bày dạng chữ lớn hay chữ Braille, web nói tamhonvietnam.net

Với người khiếm thị, việc đọc tài liệu là một trở ngại lớn thì việc tiếp cận được nguồn tài liệu cũng là một khó khăn không nhỏ.Những người khiếm thị ở thành phố có nhiều điều kiện tiếp cận tài liệu tốt hơn ở nông thôn Vì thế

mà khoảng cách tri thức giữa những người khiếm thị ở nông thôn và thành thị ngày càng lớn Điều này càng khiến cho cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn

Nhằm đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu đọc sách của người khiếm thị, năm 1998, Hội người mù Việt Nam đề xuất Vụ thư viện giúp xây dựng 2 phòng đọc sách dành cho người khiếm thị tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội Đến nay, nhiều thư viện công cộng của các tỉnh cũng đã lập các phòng đọc sách

Trang 6

dành cho người khiếm thị Các công trình nghiên cứu về việc đáp ứng nhu cầu đọc cho người khiếm thị ở Việt Nam cũng đã có nhưng còn ít, tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu cũng chưa nhiều

Xuất phát từ những cơ sở nêu trên tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các

hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc của người khiếm thị tại một số thành phố lớn của Việt Nam” với hy vọng sẽ đóng góp một hướng phát triển mới cho

việc phục vụ đáp ứng nhu cầu đọc cho người khiếm thị ở Việt Nam và giúp người khiếm thị ở Việt Nam có thể hưởng thêm được nhiều những quyền lợi bình đẳng như những người bình thường trong xã hội

II Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc của người khiếm thị

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu tại những địa phương mà việc phục vụ nhu cầu đọc cho người khiếm thị đang hoạt động một cách có tổ chức Đó là: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh (tuy nhiên trong luận văn cũng đề cập tới một số tỉnh thành khác có tham gia công tác này)

III Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt các qua điểm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước và thành phố về phát triển văn hóa, thư viện Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng khi thực hiện đề tài gồm:

- Khảo sát thực tiễn, phỏng vấn

- Thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phân tích thống kê, so sánh

Trang 7

- Trao đổi mạn đàm,…

- Phương pháp tâm lý giáo dục

Ngoài phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Đặc điểm tâm lý và nhu cầu đọc của người khiếm thị

Chương 2: Thực trạng hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc của người khiếm thị tại một số thành phố lớn của Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc của người khiếm thị ở Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ VÀ NHU CẦU ĐỌC

CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ

1.1 Đặc điểm tâm lý của người khiếm thị và người khiếm thị ở Việt Nam

1.1.1 Đặc điểm tâm lý của người khiếm thị

Khái niệm thuật ngữ “khiếm thị” dùng để mô tả tình trạng thị lực không thể điều chỉnh bằng kính thuốc hay phẫu thuật Nó bao gồm những người mắc bệnh thị lực chỉ còn một phần và những người bị mù hoàn toàn Một số người khiếm thị khó nhìn thấy những vật ngay trước mặt nhưng có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà hoặc ở hai bên, một số người khác lại có thể thấy rõ ràng những vật ngay trước mắt nhưng không thấy gì ở hai bên Một số trường hợp bệnh lý có thể gây thị lực chỉ nhìn lốm đốm từng vùng, một số bệnh lý khác ảnh hưởng đến sự nhận biết màu sắc hoặc khả năng nhận biết khoảng cách Cũng có một số người thì rất khó khăn khi gặp ánh nắng chói chang và một số người khác có thể không nhìn thấy gì cả khi gặp ánh sáng yếu

Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được - chẳng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý

giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú

trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ

Trang 9

đông người Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao

Sự phân biệt đối xử của cộng đồng là nguyên nhân chính cản trở người khuyết tật có cuộc sống tốt đẹp

Kỳ thị là vấn đề thường xảy ra với nhóm thiểu số và mang một số đặc điểm bị cho là bất lợi Người ta bắt gặp thái độ đó với nhóm người mắc HIV, những người đồng tính luyến ái, tội nhân sau khi ra tù Người khuyết tật cũng không tránh khỏi và điều đó càng làm họ khó khăn hơn để có được cuộc sống bình thường

Nói về hiện trạng người tàn tật có liên quan tới mắt; hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 45 triệu người mù và 135 triệu người khiếm thị Trong số những người mù và khiếm thị, có đến 90% số người mù lòa sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam được xếp trong nhóm các nước này Mặt khác, số lượng người mù trên thế giới có xu hướng gia tăng Dự tính do sự gia tăng dân số, tăng tuổi thọ và một số nguyên nhân khác, số người mù trên thế giới sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2020 nếu như chúng ta không có những biện pháp phòng chống mù lòa hữu hiệu Theo cách tính này, đến năm 2020 ở Việt Nam sẽ có hơn một triệu người mù và hơn ba triệu người khiếm thị Có thể thấy gánh nặng mù lòa ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội

1.1.2 Người khiếm thị ở Việt Nam

Hoàn cảnh sống và việc làm

Báo cáo của Tiến sĩ Ôn Tuấn Bảo, Giám đốc văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật ở Việt Nam, về tổng quan tình hình người tàn tật Việt Nam và sự hỗ trợ của chính phủ cho biết:

Trang 10

Phần lớn người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỉ lệ: 95,85% Số người tàn tật sống độc thân chiếm 3,31% Tỉ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 –

55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi dưới 15 chiếm 28,85%) Người tàn tật sống lang thang là 0,62% [1]

Cả nước có 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau Tỉ lệ người tàn tật có nhu cầu song chưa có việc làm là 30,43% Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có số người tàn tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77% Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ người tàn tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng Người bị tàn tật đa số là do bẩm sinh, bệnh tật và tai nạn lao động Đặc biệt, có tới 20% bị đa tàn tật (vừa câm, vừa điếc hoặc bị khiếm khuyết cả về vận động, thị giác, trí tuệ ) Sức khoẻ yếu, lại không được học hành đầy đủ (chỉ gần 6% người tàn tật học hết trình độ trung học phổ thông, trên 20% có trình độ trung học cơ sở), nên cơ hội kiếm việc làm của họ gần như không có Đây là nguyên nhân chính khiến

họ không tìm được việc làm, phải sống dựa vào gia đình và trợ cấp xã hội [1]

Nguyện vọng của người tàn tật:

Theo kết quả điều tra, trong tổng số người tàn tật được hỏi ý kiến thì 48,5% số người tàn tật mong muốn nhà nước trợ cấp vốn để tự tạo việc làm 23,9% có nguyện vọng phục hồi chức năng;

13,56% có nhu cầu được bố trí việc làm;

9,98% mong muốn nhà nước thu hút vào các cơ sở bảo trợ xã hội

4,08% có nguyện vọng được học nghề

Trang 11

Nếu tính gộp các nhu cầu được trợ cấp vốn để tự tạo việc làm và có nguyện vọng được đào tạo thì tỉ lệ này lên tới 66,14% Điều này chứng minh

đa số người tàn tật có ý chí vươn lên để có cuộc sống tự lập, độc lập về kinh

tế và hòa nhập với cộng đồng [1]

Trình độ học vấn của người khiếm thị Việt Nam

Một bộ phận không nhỏ người tàn tật chưa biết chữ với tỉ lệ 35,58% chung cho toàn quốc Riêng khu vực nông thôn là 36,9%

Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp I chiếm tỉ lệ 25,36% Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp II chiếm tỉ lệ 21,46% và cấp III là 5,64% (đặc biệt người tàn tật ở khu vực đô thị có trình độ cấp III có tỉ lệ khá cao: 15,98%; so với khu vực nông thôn là 4,31%)

Phần lớn người tàn tật không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 97,64% Chỉ có một bộ phận nhỏ người tàn tật được đào tạo (công nhân kỹ thuật: 1,22%; trung học chuyên nghiệp: 90,53%; cao đẳng và đại học 0,61%)

Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho người tàn tật, khâu quan trọng nhất để tạo điều kiện cho người tàn tật có thể tham gia hòa nhập với cộng đồng ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ rất lớn và nặng nề Hiện nay, cả nước

có khoảng 1 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 3% trẻ em nói chung ở lứa tuổi dưới 18 Mục tiêu của Việt Nam là sẽ đưa 50% trẻ em khuyết tật tới trường vào năm 2005 và 70% vào năm 2010.[1]

1.1.3 Chính sách và luật pháp của Việt Nam đối với người khuyết tật

Pháp lệnh về người tàn tật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 1998,

được ban hành nhằm để “bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng” Pháp lệnh này quy định trách nhiệm của gia đình, xã hội và Nhà nước đối với người tàn tật và quyền lợi của người tàn tật

Trang 12

Năm 1992, Chính phủ Việt Nam đã ký vào tuyên bố chung về quyền tham gia đầy đủ và bình đẳng của người tàn tật khu vực Châu Á – Thái Bình

Dương

Tại Điều 6 Khoản 4 của Pháp lệnh Thư viện ban hành ngày 28/10/2000

có đề cập đến dịch vụ thư viện phải hướng đến người khiếm thị “Người mù phải có điều kiện sử dụng các tài liệu thư viện bằng chữ Braille hoặc dưới dạng những vật mang tin khác” [4]

Nghị định của Chính phủ số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/8/2002 quy định

chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện Điều 2 chương 2 về trách nhiệm của thư

viện đối với người sử dụng vốn tài liệu thư viện quy định:

Tại khoản 4, “Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị”

Tại khoản 2 “Thư viện công cộng ở địa phương có trách nhiệm xây dựng tài liệu tiếng dân tộc thiểu số phù hợp vời đặc điểm dân cư trên địa bàn để phục vụ đối tượng bạn đọc này”

Tại khoản 3 “Thư viện công cộng ở địa phương, thư viện các trường phổ thông và cơ sở giáo dục khác, cung văn hóa thiếu nhi, nhà văn hóa thiếu nhi có trách nhiệm xây dựng bộ phận tài liệu phù hợp với khả năng, tâm sinh lý, lứa tuổi của trẻ em; tổ chức phòng đọc, mượn tài liệu dành riêng để phục vụ trẻ em.”

Tại khoản 6 “Trong thư viện hoạt động bằng ngân sách nhà nước, người cao tuổi quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổi ngày 28 tháng 4 năm 2000, người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998, do điều kiện sức khỏe không có khả năng đến thư viện thì được phục vụ miễn cước phí tài liệu thư viện tại nhà bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc thư viện

Trang 13

lưu động khi có đơn đề nghị được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận Tổng cục Bưu điện chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ Tài chính quy định chế độ miễn cước phí đối với việc gửi sách, báo của thư viện qua bưu điện tới các đối tượng bạn đọc trên.”[5]

Trong chương 5 của Nghị định về chính sách đầu tư của nhà nước đối với thư viện, tại khoản 6 của điều 14 quy định: “Nhà nước có chính sách đầu

tư cho việc viết, xuất bản các sách, báo dành cho trẻ em, sách, báo bằng tiếng dân tộc thiểu số, tài liệu dành cho người khiếm thị để phục vụ cho các đối tượng bạn đọc.”

1.1.4 Các hoạt động xã hội hướng tới người khiếm thị

Dự án giáo dục tiểu học lớn nhất của Việt Nam mang tên ''Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn'' bắt đầu được thực thi từ ngày 12/10/2008 Điều này có nghĩa là 200 triệu USD do các nhà tài trợ cung cấp

đã sẵn sàng để đến với hơn 4.200 trường học chính và gần 15 nghìn điểm trường ở Việt Nam Đa số, khi phải hòa nhập với trường học của người sáng, các em phải nhờ bạn bè đọc giúp tài liệu rồi ghi âm vào băng, sau đó mở ra nghe và tự mình đánh máy bằng phần mềm dành cho người khiếm thị Hiện nay có 3 tổ chức chính hỗ trợ cho chương trình giáo dục hòa nhập(GDHN),

đó là Radda Barnen (RB), Tổ chức quốc tế Pearl S Buck (PSBI) và Tổ chức cứu trợ và phát triển (CRS) Theo thống kê của Trung tâm Tật học, Viện khoa học và giáo dục, GDHN hiện đang được triển khai thực hiện tại 51 trong tổng

số 61 tỉnh/ thành phố trong cả nước với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và phi chính phủ khác [1]

Tổ chức RB đã thực hiện chương trình GDHN từ nhiều năm trước đây Những năm gần đây, dự án hỗ trợ tập trung ở hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Tiền

Trang 14

Giang Trọng tâm của chương trình trong những năm gần đây là nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các trường hoà nhập và huy động sự tham gia

và hỗ trợ của cộng đồng để đẩy mạnh chương trình giáo dục hoà nhập Đối tượng là tất cả học sinh khuyết tật 0 - 16 tuổi tại vùng thực hiện dự án từ năm

1999, RB hỗ trợ việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên có trình độ cao đẳng về giáo dục hoà nhập Chương trình này đã được thử nghiệm ở hai trường CĐSP Vĩnh Phúc và Trường CĐSP Tiền Giang (năm học 1999 - 2000)

và bốn trường (Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Thừa Thiên Huế và Phú Thọ) trong năm học 2000 - 2001 [16]

Tổ chức PSBI hỗ trợ thực hiện chương trình GDHN cho trẻ khiếm thính tại tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Đồng Tháp, Long An, Đồng Nai Tỉnh Thái Nguyên có khoảng 4200 trẻ khuyết tật trong đó trẻ câm điếc là

1350, cho đến nay đã có 3 huyện tham gia dự án GDHN trẻ khiếm thính và đã đưa được 138 trẻ câm điếc ra lớp Trong năm học 2000 - 2001 ngành giáo dục tỉnh Thái Nguyên tiếp tục triển khai thêm 2 huyện nữa Phú Thọ có 4923 trẻ khuyết tật, tính đến tháng 4 năm 2001 đưa được 1865 trẻ ra lớp học

Tổ chức CRS bắt đầu thực hiện chương trình hoà nhập từ năm 1995 với

2 dự án thí điểm ở Từ Liêm (Hà Nội) và Thường Tín (Hà Tây) Từ năm 1998

đã mở rộng thêm tới 3 huyện Yên Khánh (Ninh Bình) Hoà bình và Quảng Ninh với khoảng trên 3000 trẻ khuyết tật được hưởng lợi

Bộ Giáo dục đặt ra chủ trương đưa 100% trẻ khuyết tật được đến trường, sử dụng công nghệ thông tin cho trẻ khiếm thị nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung, đề nghị Chính phủ công nhận hệ thống chữ Braille là chữ viết chính thức được phép lưu hành rộng rãi trong cả nước và sớm cấp phép xuất bản sách giáo khoa cho người mù ở tất cả các cấp học

Trang 15

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Văn Nhung ký công văn số 4801/ĐH&SĐH ngày 14 tháng 6 năm 2004 cho Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, các Đại học, Học viện, các Trường Đại học, Cao đẳng về Đào tạo học sinh khiếm thị

Trong những năm qua, một số học sinh khiếm thị tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có nguyện vọng xin học các trường đào tạo (đại học, cao đẳng, THCN, dạy nghề) Tuy chưa có quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng để tạo điều kiện cho học sinh khiếm thị hoà nhập cộng đồng, một số trường đã tiếp nhận đào tạo

1.1.5 Các cơ quan, tổ chức của người khiếm thị tại Việt Nam

 Hội người mù Việt Nam (HNMVN):

HNMVN là tổ chức quần chúng do những người mù ở Việt Nam tự nguyện lập ra với sự bảo trợ của nhà nước Thành lập ngày 17.4.1969, HNMVN hoạt động theo điều lệ, những người mù từ 15 tuổi trở lên tán thành điều lệ có quyền tự nguyện gia nhập HNMVN có nhiệm vụ thay mặt người

mù Việt Nam quan hệ với các tổ chức trong nước và quốc tế, nhằm chăm sóc người mù về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và giúp đỡ người mù thực hiện nghĩa vụ công dân Đến nay, HNMVN đã có 120 chi hội với gần 6.000 hội viên; là thành viên của Hội người mù quốc tế

 Thư viện sách nói dành cho người mù

Thư viện sách nói dành cho người mù có địa điểm Số 186 Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP HCM Thư viện có nhiệm vụ phục vụ miễn phí cho người mù sản xuất, in sang băng, tặng băng sách nói cho người mù và Hội người mù các quận, huyện tại TP.HCM và các tỉnh, thành phố

 Thư viện khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 16

Thư viện có địa chỉ tại 69 Lý Tự Trọng, Quận 1, TP HCM

Tại đây có các dịch vụ dành cho bạn đọc khiếm thị gồm:

- Tra cứu CSDL online của thư viện

- Sử dụng máy Victor Reader

- Học tập từ xa qua mạng Internet

- Học tập, làm việc, sử dụng máy tính

- Phục vụ miễn phí

 Thư viện Hà Nội

Thư viện có địa chỉ tại 47 Bà Triệu Hà Nội

Các dịch vụ dành cho người khiếm thị gồm:

- Phòng phục vụ người khiếm thị

- Tài liệu dành riêng cho người khiếm thị

- Phục vụ miễn phí

 Quỹ FORCE, Hà Lan

Quỹ FORCE là một tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ những người có khuyết tật không sử dụng được tài liệu thông thường, người mù, người khiếm thị ở các nước đang phát triển thông qua việc tiếp cận thông tin để tăng cường cơ hội của họ trong cuộc sống

Qũy FORCE vào Việt Nam từ năm 2000 và hoạt động chủ yếu với các đối tác là: Thư viện công cộng, Hội người mù, các trường Nguyễn Đình Chiểu và các trung tâm nuôi dạy trẻ khiếm thị trong việc sản xuất và phân bổ tài liệu ở dạng thay thế Quỹ đã có Báo cáo 10 năm công tác tăng cường tiếp cận thông tin cho người khiếm thị ở Việt Nam hồi tháng 11 năm 2010 tại Hà Nội

Trang 17

 Quỹ Gordon Barclay ở Hải Phòng

Tổ chức Quỹ Gordon Barclay Việt Nam vào hoạt động tại Hải Phòng từ năm 1992 cho đến nay Quỹ đã tài trợ cho Trường nuôi dạy trẻ em khiếm thị Hải Phòng một cơ ngơi khang trang, có đủ điều kiện cơ sở vật chất nuôi và dạy 40 học sinh nội trú và 40 học sinh mù ngoại trú hoà nhập ở 20 trường của cộng đồng Ở đây, các em được học tập, được học nghề, được tạo công ăn việc làm để có đời sống ổn định Qua 10 năm trường trẻ mù đã nuôi dạy được

120 học sinh, trong đó 40 em đã tốt nghiệp phổ thông cơ sở, 02 em đã tốt nghiệp trung cấp âm nhạc, 01 em đang theo học khoa Sử của trường Đại học

Sư phạm Hải Phòng

Trường đã có thể tự in được sách bằng chữ Braille từ lớp 1 cho đến lớp

12 phục vụ cho học sinh học tập

Tổ chức GBVF còn giúp cho Hội người mù thành phố Hải Phòng từ năm

1992 đến năm 1997 với sự dầu tư cơ bản về xây dựng trung tâm dạy nghề cho người mù, tổ chức các lớp học chữ Braille, trang thiết bị sản xuất trường nuôi dạy trẻ khiếm thính Hải Phòng từ năm 1992 đến năm 1997

 Hệ thống các trường Nguyễn Đình Chiểu tại Hà Nội, Đà Nẵng,

Thành phố Hồ Chí Minh và một số trung tâm, trường giáo dục đặc biệt khác trên cả nước

Hệ thống các trường Nguyễn Đình Chiểu được thành lập từ những năm

1926 đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh sau đó là Hà Nội, Đà Nẵng và một số tỉnh thành khác Với các hoạt động chính như:

- Can thiệp sớm, giáo dục mầm non (đối với trẻ khiếm thị từ 6 tháng đến 5 tuổi)

- Dạy văn hoá bậc tiểu học, PTCS

Trang 18

- Hướng nghiệp dạy nghề (xoa bóp bầm huyệt, sử dụng máy tính, âm nhạc, thủ công, nữ công gia chánh)

- Phục hồi chức năng: sinh hoạt hằng ngày, định hướng duy chuyển

- Giáo dục trẻ nhìn kém (đối với những trẻ còn nhìn thấy ở khoảng cách gần)

- Giáo dục hội nhập (trẻ mù học tại trường phổ thông bình thường với học sinh sáng mắt)

- Giáo dục đa tật (đối với những trẻ ngoài tật mù còn chậm phát triển trí tuệ nhẹ, khó khăn về học tập, có tật nhẹ về vân động )

- Thực nghiệm các chương trình giáo dục trẻ khiếm thị

- Làm đồ dùng học tập cho người mù

Phương hướng hoạt động trong thời gian sắp tới của hệ thống trường học này bao gồm:

- Nguyên cứu khoa học

- Làm đồ dùng, sách chữ nổi, sách nói, dụng cụ học tập đặc biệt cho người mù

- Vận động xã hội hoá giáo dục trẻ khuyết tật

Hiện tại trên cả nước cũng có rất nhiều các cơ sở nuôi dạy trẻ em khuyết tật trong đó có trẻ em khiếm thị Hầu hết các trung tâm nuôi dạy, cơ sở đào tạo này để tập trung vào giáo dục và hướng nghiệp cho các em để các em có thể hòa nhập với xã hội và lao động kiếm sống được (Xem chi tiết hơn tại Phụ lục 02)

Trang 19

2.2 Nhu cầu đọc của người khiếm thị

1.2.1 Khái niệm

Nhu cầu đọc là một loại nhu cầu tinh thần của con người Nhu cầu đọc

là một dạng đặc biệt của nhu cầu tin Nhu cầu đọc cũng bắt nguồn từ yêu cầu tiếp nhận thông tin khi con người tham gia và các hoạt động sống khác nhau nhưng nó chỉ thực sự hình thành với điều kiện chủ thể có khả năng giải mã thông tin đã được mã hóa trong tài liệu trong thực tiễn, khả năng giải mã thông tin trong tài liệu tỷ lệ thuận với trình độ văn hóa, vốn tri thức của mỗi người Khi đòi hỏi với việc đọc trở nên cấp bách, thường xuyên, nhu cầu đọc lại xuất hiện Nhu cầu đọc là nguồn gốc của hoạt động thư viện Hoạt động thư viện không thể tồn tại và phát triển ở những nơi không có nhu cầu đọc [10]

Đáp ứng nhu cầu đọc là hoạt động của cơ quan thông tin thư viện nhằm thỏa mãn các nhu cầu đọc của độc giả Căn cứ vào nhu cầu đọc của độc giả

mà cơ quan thông tin thư viện có thể xây dựng và đưa ra kế hoạch phát triển hoạt động của mình Việc đáp ứng được nhu cầu đọc của độc giả cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của chính cơ quan thông tin, thư viện đó

Có thể nói, sách cho người khiếm thị là một vấn đề nan giải không chỉ của riêng ngành giáo dục Trong khó khăn chung, do điều kiện kinh tế xã hội, các cơ sở đã chủ động khắc phục theo cách riêng Hội Người mù Việt Nam đã liên hệ với Hội Phụ nữ xây dựng phòng đọc cho người khiếm thị, phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam sản xuất băng (sách nói) Viện Nghiên cứu chiến lược giáo dục đã trình duyệt dự án thống nhất ký hiệu chữ braille cho các lớp

có cải tiến Tuy nhiên, những cố gắng to lớn đó vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu khổng lồ về sách của người khiếm thị

Trang 20

Cho đến nay, loại sách đặc biệt này chỉ được xuất bản và lưu hành “nội bộ”! Lý do thì có nhiều Trước hết, ở nước ta chưa có một cơ sở nào xuất bản,

in ấn sách braille cho người khiếm thị như một nhà xuất bản chính thống Những cuốn sách chữ nổi hiếm hoi có được là do các cơ sở có nhu cầu tự

“xuất bản”, tất nhiên được sự cho phép của Nhà nước Đó là Hội Người mù Việt Nam và hệ thống các trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu ở ba niềm Bắc, Trung, Nam Theo ông Đào Soát, Chủ tịch Hội người mù Việt Nam thì khi có nguồn kinh phí, Hội có chủ trương ra sách braille để gửi về các địa phương miễn phí, tuy nhiên, số lượng rất hạn chế”

Việc dịch sách này không hề đơn giản, nhất là đối với các môn tự nhiên

và thậm chí vất vả hơn nhiều so với việc dịch sách ngoại ngữ Dịch các công thức, thuật ngữ chuyên biệt trong các môn tự nhiên là rất khó: ví dụ như sin, cos, tang… do không có sự thống nhất cụ thể về cách dịch các công thức nên mỗi trường lại có một cách dịch khác nhau

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đáp ứng nhu cầu đọc

Việc đáp ứng nhu cầu đọc cho độc giả chịu ảnh hưởng của cả các yếu

tố từ phía bạn đọc và cơ quan thông tin thư viện Trong đó:

Yếu tố từ phía bạn đọc như: tuổi tác, tình trạng sức khỏe, địa điểm sinh sống, trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính,… Những yếu tố này tác động trực tiếp tới nhu cầu đọc và mức độ mong muốn được đáp ứng của độc giả

Để khắc phục những trở ngại này và nâng cao hơn chất lượng đáp ứng nhu cầu đọc của độc giả thì các yếu tố từ phía đơn vị tổ chức phục vụ hoạt động thông tin thư viện là yếu tố then chốt

- Chất lượng của sản phẩm thông tin, thư viện:

Trang 21

Có 4 tiêu chí cơ bản phản ánh chất lượng của sản phẩm thông tin, thư viện: Mức độ bao quát nguồn tin, chất lượng của các đơn vụ cấu thành sản phẩm, khả năng cập nhật thông tin và khả năng tìm kiếm thông tin qua sản phẩm

- Chất lượng của các dịch vụ thông tin, thư viện[13]:

Có thể nêu ra các tiêu chuẩn sau để đánh giá một dịch vụ:

+ Chi phí để thực hiện dịch vụ Đây là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá dịch vụ

+ Chất lượng của sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để đáp ứng nhu cầu của độc giả + Tính kịp thời của dịch vụ Mọi dịch vụ đều cần một khoảng thời gian xác định để thực hiện Tính kịp thời được biểu hiện ở chỗ: các kết quả mà dịch vụ đạt được có đủ để độc giả sử dụng chúng một cách hợp lý và có hiệu quả hay không?

+ Tính thuận tiện: thuộc tính này trả lời cho câu hỏi người đọc sử dụng dịch

vụ có thuận tiện nhất hay không? Để sử dụng dịch vụ người đọc có buộc phải thực hiện các thủ tục rườm rà hay không?

- Đánh giá của độc giả

Đánh giá của người dùng tin phản ánh giá trị sử dụng một cách tổng hợp về sản phẩm thông tin, thư viện: Số lượt sử dụng sản phẩm ( số bản của

ấn phẩm, số lượng đĩa CD,… được xuất bản cho một/ một số cơ sở dữ liệu…) đánh giá qua thông tin phản hồi của đọc giả.[13]

- Chính sách của Quốc gia

Để có thể tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp, các cơ quan thông tin thư viện cần có được hạ tầng thông tin quốc gia đủ cho phép nó hòa nhập với cộng đồng thông tin trong khu vực và quốc tế Điều này hoàn toàn phụ thuộc

Trang 22

vào chính sách của Quốc gia mà nhờ nó chính phủ có cơ sở, có kế hoạch để định hướng đầu tư thỏa đáng và hợp lý.[13]

1.2.3 Nhu cầu đọc của người khiếm thị

Người khiếm thị cũng có nhu cầu đọc sách giống như tất cả mọi người trong xã hội Họ mong muốn được học tập và làm việc bình đẳng trong xã hội Nhu cầu đọc sách của người khiếm thị là rất lớn

Thông qua việc thu nhận ý kiến phản hồi từ các hoạt động mở rộng trong phạm vi cả nước như Hội thảo, tập huấn, hợp tác chia sẻ nguồn lực và nhất là việc tìm hiểu bạn đọc khiếm thị tại Thư viện KHTH Tp HCM trong nhiều năm và gần đây là một số thư viện Tỉnh, thành, Hội người mù, Trường cho người mù, các Trung tâm và mái ấm nhà mở cho người khiếm thị… có thể tóm tắt nhu cầu đọc của người khiếm thị như sau:

Theo kết quả điều tra phỏng vấn trực tiếp đối với 75 đối tượng người khiếm thị tại 3 địa phương là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có 88% là người khuyết tật mù hoàn toàn, 6% là người khuyết tật bị

dị tật ở mắt không thể nhìn nếu không có thiết bị hỗ trợ và 6% là người khuyết tật thị giác ở mức độ có thể nhìn nhưng không rõ và chính xác Đây là những người khiếm thị đang sinh hoạt và học tập tại các cơ sở đào tạo, nuôi dưỡng người khuyết tật và khiếm thị

100% người khiếm thị (NKT) được phỏng vấn có tới thư viện hoặc trung tâm thông tin dành cho người khiếm thị để tìm hiểu và đọc tài liệu Trong đó:

- 51% tới thư viện 1 lần/tuần

- 43% tới thư viện nhiều hơn 1 lần/tuần

Trang 23

- 6% tới thư viện 1 lần/tháng

Khả năng sử dụng máy hỗ trợ đọc, máy vi tính và công nghệ thông tin:

- 96% NKT có khả năng sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin

hiện đại như phần mềm đọc sách cho người khiếm thị

- 80% NKT có thể sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản cho người

khiếm thị trên máy tính

- 58% NKT có khả năng truy cập internet vào website của người

khiếm thị

Địa điểm tiếp cận tài liệu:

- 100% đối tượng được hỏi đều tới thư viện trường học nơi đào tạo

- 22,7% tới thư viện nơi cư trú để tham khảo tài liệu

- 43,6% tới thư viện lớn sử dụng dịch vụ cho người khiếm thị

- 30,6% tìm kiếm thông tin trên website cho người khiếm thị

Về nội dung tài liệu

Báo, tạp chí Truyện Tranh ảnh

Họa đồ, bản

đồ

Trang 24

Về dịch vụ thư viện cho người khiếm thị

Giao tài liệu tận nhà

Nhờ cán bộ thư viện

Khác

Gần 100% NKT được hỏi hài lòng về thái độ phục vụ của cán bộ thư viện và

trung tâm thông tin cho người khiếm thị

Hơn 90% NKT được hỏi thấy thoải mái khi sử dụng các thiết bị hỗ trợ đọc tại

thư viện và trung tâm thông tin cho NKT

Về mức độ thuận tiện của việc tới cơ quan thông tin thư viện cho NKT

Rất thuận tiện

Thuận tiện Bình thường Chưa thuận

Xã hội Tin học

Trang 25

Giao tài liệu tận nơi

Khác

Trang 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐỌC CỦA NGƯỜI KHIẾM THỊ TẠI MỘT SỐ

THÀNH PHỐ LỚN CỦA VIỆT NAM

2.1 Hoạt động đáp ứng của các cơ quan tổ chức tại một số thành phố lớn của Việt Nam

2.1.1 Về nội dung tài liệu

Cho đến gần đây với những ý kiến đóng góp giữa các cơ quan tình nguyện khác nhau về việc đảm bảo đầu sách bao quát các chủ đề Một số tựa sách chỉ xuất hiện ở một loại chuyển dạng trong khi đó có một số được chuyển sang nhiều hình thức khác nhau

Hệ thống trường Nguyễn Đình Chiểu, cho đến năm 2000 chủ yếu là xuất bản và lưu hành “Nội bộ” sách chữ Braile, chủ yếu là sách giáo khoa phục vụ cho học sinh khiếm thị Sách tham khảo, sách văn hóa, giải trí rất ít hầu như không có Hình thức xuất bản thực chất là chuyển từ sách giáo khoa

Mặc dù được Đảng và Nhà nước quan tâm, song các cơ sở trên gặp nhiều khó khăn trong việc cho ra đời loại sách đặc biệt này Trên thực tế, sách Braille chủ yếu là các sách giáo khoa phục vụ cho học sinh khiếm thị Các sách tham khảo, sách văn hóa, giải trí thông thường rất ít và hầu như không

có Hình thức xuất bản thực chất là dịch từ sách giáo khoa thông thường sang chữ Braille Theo chủ trương của Bộ Giáo dục và đào tạo, các em khiếm thị học hòa nhập cùng các em sáng mắt chung một chương trình phổ thông, nhưng do chưa có một chương trình học biên soạn riêng cho đối tượng đặc biệt này nên các trường đã tự tổ chức dịch từ sách giao khoa thường thành sách chữ nổi Hiện, trường Nguyễn Đình Chiểu – Hà Nội đã có sách braille các môn cơ bản như Toán, Văn, Tiếng Việt, Ngoại ngữ, Sử, Địa, Lý, Hóa…

từ lớp 1-9 Số lượng bản in không nhiều và thực tế cũng chưa đủ đáp ứng nhu

Trang 27

cầu học của các em trong trường Sách braille cho các bậc học cao hơn hầu như không có Hội Phụ nữ từ thiện TP Hồ Chí Minh đã khắc phục bằng cách

“xuất bản” sách nói: đọc sách giáo khoa thường thu vào bằng casset và sao nhiều bản đối với bộ sách từ lớp 1 đến lớp 12.[12]

2.1.2 Về loại hình tài liệu

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị điển hình trong việc tăng cường tiếp cận thông tin cho người khiếm thị

Cuối năm 1999 thư viện bắt đầu các hoạt động phục vụ người khiếm thị Các hoạt động ban đầu chủ yếu là tài liệu chữ nổi và sách chữ nổi ở dạng băng Cassettes Người sử dụng cũng có thể yêu cầu cán bộ thư viện đọc sách báo chưa được chuyển sang các dạng thích hợp

Thư viện cũng đã sản xuất sách chữ nổi, đồ họa nổi và sách nói Từ tháng 10 năm 2003 đến năm 2010 đã có 47438 CD sách nói kỹ thuật số và 99 bằng audio được sản xuất tại đây và đưa đến các độc giả khiếm thị các tỉnh thành thông qua hệ thống thư viện công cộng, Hội người mù và các thư viện mini tại các trường và trung tâm nuôi dạy trẻ khiếm thị khắp cả nước Hiện nay đã có thêm 2 studio sản xuất sách nói tại Hội người mù Trung Ương và thư viện Hà Nội, Thư viện KHTH TP Hồ Chí Minh chủ động phối hợp để tăng số lượng và chất lượng của loại tài liệu này.[16]

Việc xây dựng cở sở vật chất và cung cấp trang thiết bị chuyên dụng cùng với các chương trình tập huẩn các kỹ năng cần thiết đã tạo điều kiện cho việc sản xuất các tài liệu ở dạng thay thế cho người khiếm thị Trước khi có các dự án tài trợ, tài liệu cho người khiếm thị chủ yếu là sách chữ nổi được sản xuất thủ công để sử dụng nội bộ và một số ít băng cassettes với chất lượng thấp Dự án tài trợ của FORCE đã làm thay đổi tình trạng này về cả số lượng và loại hình với việc tạo ra 5 loại tài liệu thay thế như: Sách chữ nổi,

Trang 28

Sách minh họa nổi, tài liệu đồ họa nổi, website cho mọi người, mục lục liên hợp tài liệu cho người khiếm thị, trong đó việc sản xuất sách chữ nổi đã được tin học hóa và sách nói kỹ thuật số sử dụng DAISY format (phần mềm sản xuất sách giáo khoa và sách nói cho người khiếm thị) [14]

Sau một thời gian sản xuất và có được một số lượng đáng kể các tài liệu thay thế thì việc tất yếu phải làm là xây dựng một mục lục liên hợp để tập trung nguồn lực sẵn có về loại này của tất cả các cơ quan thông tin thư viện tham gia dự án phục vụ người khiếm thị Hiện nay đã hoàn thành một mục lục như thế Trong tương lai có thể phải mở rộng đến các sản phẩm của các dự án khác để người khiếm thị có thể bao quát được tất cả các tài liệu dạng này

2.1.2.1 Tài liệu chữ nổi

Lượng đầu sách đưa vào phục vụ bạn đọc khiếm thị chưa nhiều Phần nhiều ấn phẩm được thiết kế và xuất bản đều dành cho người sáng mắt nên phương tiện hỗ trợ người khiếm thị tiếp cận thông tin và vốn tài liệu còn hạn chế Nơi có nhiều tài liệu như Hà Nội cũng chỉ có hơn 2000 cuốn sách chữ nổi Nơi có ít tài liệu nhất như Thư viện Điện Biên chỉ có 30 đĩa CD-Rom do

Bộ Văn hóa- Thông tin và thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh tặng Thư viện Khoa học tổng hợp TP Hồ Chí Minh cũng có trên 100 tựa sách minh họa nổi, gần 500 bản copy, gần 50 nhan đề sách chữ Braille,

148 cuốn Tại Hải Phòng, với sự tài trợ của Quỹ Gordon Barclay hiện trung tâm nuôi dạy và giáo dục trẻ khiếm thị đã trang bị được máy in chữ Braille và

tự tổ chức in tài liệu chữ Braille phục vụ cho bạn đọc khiếm thị [11]

Cho đến nay, loại sách đặc biệt này chỉ được xuất bản và lưu hành “nội bộ” Lí do là ở nước ta chưa có một cơ sở nào xuất bản, in ấn sách Braille cho người khiếm thị như một nhà xuất bản chính thống Những cuốn sách chữ nổi hiếm hoi có được là do các cơ sở có nhu cầu tự “xuất bản”, tất nhiên được sự

Trang 29

cho phép của Nhà nước Đó là Hội Người mù Việt Nam và hệ thống các trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu ở ba niềm Bắc, Trung, Nam Theo ông Đào Soát, Chủ tịch Hội người mù Việt Nam thì khi có nguồn kinh phí, Hội có chủ trương ra sách Braille để gửi về các địa phương miễn phí, tuy nhiên, số lượng rất hạn chế”

Việc dịch sách này không hề đơn giản, nhất là đối với các môn tự nhiên

và thậm chí vất vả hơn nhiều so với việc dịch sách ngoại ngữ Dịch các công thức, thuật ngữ chuyên biệt trong các môn tự nhiên là rất khó: ví dụ như sin, cos, tang… do không có sự thống nhất cụ thể về cách dịch các công thức nên mỗi trường lại có một cách dịch khác nhau Điều đó dẫn đến tình trạng, sách Toán chữ nổi của trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội không thể đọc được ở trường Nguyễn Đình Chiểu TP HCM Thêm vào đó, xu hướng cải cách cách trong giảng dạy tiểu học là tăng phần quan sát hình họa, giảm lời diễn đạt nên đòi hỏi người dịch phải có trình độ, có kỹ năng mô tả, diễn giải cụ thể từ hình họa sang lời văn thật dễ hiểu để các em khiếm thị hình dung được Chi phí cho việc dịch sách vì thế rất tốn kém Còn việc đóng sách thành từng quyển chữ nổi thì nguyên liệu giấy sử dụng rất đắt tiền Giấy phải cứng, dày và dai Máy in cũng vậy Trung bình, 5 trang chữ braille mới bằng một trang chữ thường Theo ông Phạm Anh Dũng - Hiệu trưởng trường Nguyễn Đình Chiểu

Hà Nội, chi phí cho bộ sách Braille lớp 1 khoảng hơn 2 triệu đồng, gấp hơn

20 so với giá thành một bộ sách lớp 1 chữ thường! Mặt khác, sách Braille không bền như sách thường và phải được bảo quản cẩn thận, không được để nằm gây bẹp các điểm nổi, tay sờ có mồ hôi sẽ dễ làm nhòe chữ…[16]

Trong khi đó, nhu cầu được tìm hiểu thông tin và tiếp cận với văn hóa đọc của người khiếm thị đang tăng lên Chính vì thế, hiện nay, các thư viện đang tiến hành các hoạt động phối hợp với Hội người mù ở Trung ương và địa phương

Trang 30

Trung ương Hội Người mù Việt Nam đã tiếp nhận và khai trương Thư viện chữ nổi cho người mù với vốn đầu tư 10 triệu yên do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam tài trợ, đặt tại Trung tâm đào tạo, phục hồi chức năng cho người mù (Hà Nội) Dự án thư viện chữ nổi cho người mù Việt Nam ngoài việc cung cấp sách báo cho độc giả mượn và đọc tại chỗ, còn

có nhiệm vụ biên soạn, in sách bằng chữ nổi Qua gần 1 năm triển khai, thư viện đã biên soạn và in 500 cuốn sách, với 40.000 trang in bằng chữ nổi, phục

vụ nhu cầu học tập, nâng cao trình độ văn hóa của người khiếm thị như sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 tập một và hai, sách phục hồi chức năng, sách dạy xoa bóp, bấm huyệt, tập sách "Những tấm gương phụ nữ mù" tập một và giáo trình tiếng Anh Headway

Trung tâm Sao Mai tại Thành phố Hồ Chí Minh được tài trợ xây dựng

Dự Án Thiết Lập Phòng In Chữ Nổi được tài trợ với số tiền 4,000 đô la Dự

án này sẽ giúp cho các học viên khiếm thị những kỹ năng cơ bản về in ấn tài liệu chữ nổi

Ngoài một số tài liệu chữ nổi, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh cũng có dịch vụ chuyển dạng tài liệu sang chữ Braille theo yêu cầu của bạn đọc.[16]

Báo chữ nổi

Từ trước đến này, người mù chỉ có một tờ báo chuyên dụng có tên là

"Đời mới" Tờ báo được phát đến tận tỉnh hội, phường hội, tới tay từng hội viên và những người mù, giúp họ hoà nhập hơn với đời sống cộng đồng, tạo cho họ một cuộc sống mới" Báo ra đời đã được 33 năm Ban đầu chỉ là tờ nội san lưu hành nội bộ với số lượng rất nhỏ do kinh phí hạn hẹp Đến năm

1988, "Đời mới" chính thức được đăng ký như một tờ tạp chí trong hệ thống báo chí Năm 1992 ra thêm bản in chữ thường và "tờ" "Đời mới" truyền thanh

Trang 31

(được in sao ra băng cát-sét) Có những dịp kỷ niệm quan trọng cần tuyên truyền và cần có tiếng nói ủng hộ của các cấp ngành, tờ bản in chữ thường mới được xuất bản Còn định kỳ, tháng chẵn các hội viên có "tờ" chữ nổi, tháng lẻ có "tờ" truyền thanh.[11]

Hiện tại có 16 máy tính được kết nối với máy in chữ nổi cỡ nhỏ đã được trang bị tại 6 Hội người mù, trung tâm trẻ em khiếm thị Tây Ninh và thư viện Hà Nội Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Trường Nguyễn Đình Chiểu Tp Hồ Chí Minh cũng đã được trang bị 3 máy in Embosser (máy in chữ nổi, nhãn nổi, in chữ Braille).[11]

Ông Đào Xoát- Chủ tịch Hội Người mù cho biết, trong thời gian tới, Hội sẽ tích cực phối hợp với Vụ Thư viện cũng như chỉ đạo các chi hội người

mù cơ sở thực hiện tốt công tác này nhằm tạo một môi trường văn hóa đọc thuận lợi cho người khiếm thị

2.1.2.2 Băng cat set, đĩa CD, sách nói

Sách nói kỹ thuật số là một dạng tài liệu được bạn đọc khiếm thị rất quan tâm Cùng một lúc loại hình này đáp ứng cho nhiều đối tượng khiếm thị, nhất là những người không biết đó sách chữ nổi và những người gặp khó khăn trọng việc đọc như dyxlexia (Dyxlexia là một loại bệnh bẩm sinh về khả năng đọc Người bị dyslexia lúc đọc bị loạn một số kí tự đảo ngược) Các lợi điểm của nó cùng với máy đọc chuyên dụng cho phép người khiếm thị đến bất cứ trang nào, nhanh chậm theo ý muốn, đánh dấu trang cho lần đọc kế tiếp Sự

dễ dàng trong việc sử dụng này đã thu hút được nhiều người sử dụng hơn Sách nói và máy đọc Victor cũng là giải pháp mở rộng dịch vụ cho người khiếm thị đồng loạt tại 100 thư viện công cộng tỉnh/thành phố và quận/huyện

và các cơ quan khác

Trang 32

Tính đến năm 2010, Quỹ Force đã tài trợ cho chúng ta tổng cộng là 624 bản chính các cuốn sách nói và 49843 bản sao Tất cả số sách nói này đã được đưa vào sử dụng Những cuốn sách nói này đều được xây dựng trên chuẩn Daisy và được hỗ trợ đọc bởi máy đọc sách nói Victor đã trang bị tại các thư viện và cơ quan thông tin có phục vụ người đọc khiếm thị

Máy đọc sách nói Victor – reader hiện đã có khoảng 109 chiếc được trang bị tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, 64 Thư viện công cộng tỉnh/thành, trường Nguyễn Đình Chiểu TP Hồ Chí Minh, các trung tâm nguồn lực cho người khiếm thị khác [11]

Riêng tại Trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội đã có được 20 máy đọc

Từ tháng 10 năm 2003, Thư viện KHTH Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành và phân phối sản phẩm sách nói dạng DAISY – dạng sách nói giúp người mù sử dụng như cách đọc của người sáng, có thể dừng, chọn lại, định

vị bất cứ câu, dòng, đoạn hay phần chương nào của nột cuốn sách Tính đến nay đã có 75 nhan đề và xuất ra dưới hai dạng sản phẩm, là băng cassette và đĩa CD, chia sẻ phân phối 3524 CD và 413 băng cassette cho 200 đơn vị với

20 lượt Chủ đề tài liệu về khoa học thường thức, khoa học xã hội, sách thiếu nhi, văn học hiện đại, văn học dân gian, y học, tâm lý, giáo dục, nông nghiệp,

Trang 33

văn hóa xã hội Sản phẩm được phân phối cho toàn bộ hệ thống thư viện tỉnh thành trên toàn quốc, hội người mù Sắp tới, một studio mới được thành lập hướng vào mục tiêu sản xuất chuyển dạng sách giáo khoa và giáo trình cho học sinh, sinh viên [11]

Có nhiều tổ chức nhà nước hay cơ quan từ thiện trên cả nước tổ chức phát hành sách nói nhằm giải quyết phần nào nhu cầu học tập và giải trí cho người mù và khiếm thị trong cộng đồng như các thư viện tỉnh thành, mái ấm, nhà mở, trung tâm đặc biệt Nổi bật nhất là Hội Người mù Việt Nam đã liên

hệ với Hội Phụ nữ phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam xây dựng phòng băng sách nói, sản xuất băng (sách nói) Hội Phụ nữ từ thiện TP Hồ Chí Minh

đã khắc phục bằng cách “xuất bản” sách nói: đọc Sách giáo khoa thường thu vào băng casset và sao nhiều bản đối với bộ sách từ lớp 1 đến lớp 11 Các loại tài liệu khác thì có một số nhà kinh doanh băng đĩa phát hành, đa số là sách giải trí cho trẻ em như chuyện cổ tích [11]

Đa số người mù và khiếm thị theo dõi tin tức trên đài phát thanh truyền hình để cập nhật thông tin hàng ngày

Có thể nói, sách báo cho người khiếm thị là một vấn đề nan giải không chỉ của riêng ngành giáo dục

Một vài năm gần đây với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ và sản phẩm phục vụ cuộc sống; Đã có những gương điển hình hiệp sĩ công nghệ thông tin thiết kế những chương trình ứng dụng mới để hỗ trợ cho người mù và khiếm thị Có nhiều dự án đem công nghệ kỹ thuật mới để cải thiện chương trình phục vụ người mù và khiếm thị

Với 65,3% NKT được hỏi mong muốn sử dụng nhiều hơn loại hình tài liệu âm thanh và là loại hình xếp thứ 2 trong bảng đánh giá khuynh hướng sử dụng tài liệu của cuộc điều tra, những cố gắng và sự đầu tư của các cơ quan tổ

Trang 34

chức và chính phủ đã đáp ứng được một phần nhu cầu về sử dụng tài liệu âm thanh cho NKT tại các thư viện lớn Do khó khăn về phương tiện thiết bị máy móc nên có thể các tài liệu này mới được phổ biến và dễ tiếp cận tại các thư viện lớn và các trường học được đầu tư nhiều của các đơn vị tài trợ Tơi các tỉnh/ thành và vùng sâu hơn chắc chắn việc tiếp cận loại hình tài liệu hữu ích này còn gặp nhiều trở ngại về đầu tư trang thiết bị và phương tiện hỗ trợ

Xếp cuối cùng trong danh sách loại hình tài liệu được bạn đọc khiếm thị tiếp cận thường xuyên và sự đầu tư trang bị cũng như nguồn tài liệu sách chữ đại và máy đọc sách phóng đại hiện có, chúng ta đã đáp ứng được nhu cầu đọc của NKT đối với loại hình tài liệu này

2.1.2.4 Tranh ảnh đồ họa nổi

Tài liệu đồ họa nổi và sách minh họa nổi là hai loại đầu tiên được giới thiệu ở Việt Nam Đã có một cơ sở dữ liệu đồ họa nổi được tạo ra tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh cho việc xuất ra dạng giấy

để chia sẻ với các thư viện trong nước, đồng thời chia sẻ các hình ảnh cho các thư việc ở nước khác khi có yêu cầu Nhờ có kỹ thuật này mà Thư viện Khoa

Trang 35

học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã có thể hội nhập trẻ khiếm thị vào các cuộc thi vẽ tranh Sách minh họa nổi là một khám phá mới vì tính thực dụng của nó Người sản xuất có thể sử dụng bất kỳ vật liệu sẵn có tại địa phương để làm ra các cuốn sách có minh họa nổi để trẻ khiếm thị cũng có được sách tranh như trẻ em sáng mắt Tuy nhiên việc sản xuất nhạc Braille không được phát triển như các loại khác mặc dù đã được tập huấn và cung cấp thiết bị Khó khăn nằm ở chỗ người sản xuất vừa phải biết chữ Braille và kiến thức về nhạc Mái ấm Thiên Ân là nơi có đủ các điều kiện này và đã có sản phẩm Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh sẽ xúc tiến việc phối hợp để có nhiều sản phẩm hơn nữa phục vụ người khiếm thị và chia

sẻ không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả quốc tế

Với sự tài trợ của Quỹ Force từ năm 2004 đến năm 2010 chúng ta đã có được cơ sở dữ liệu đồ họa nổi gồm 279 hình, 80 cuốn và mỗi cuốn 800 trang, sách minh họa nổi gồm 105 bản chính, 534 bản sao đã được phân phối tới các

cơ quan liên quan để đưa vào phục vụ người khiếm thị [11]

Ngoài ra còn có khoảng 65 búp bê học chữ nổi, bút chì màu/mùi, đồ chơi được trang bị tại các trường Nguyễn Đình Chiểu, xe thư viện lưu động

và 11 thư viện mini

Nhu cầu về tranh ảnh, minh họa, đồ họa nổi của bạn đọc khiếm thị đã phần nào được đáp ứng Với số lượng bản sách và nội dung hiện có chúng ta đã phần nào giúp người khiếm thị nhìn nhận và tiếp cận dễ dàng hơn cũng như hòa nhập được với cuộc sống Với khả năng phát triển kỹ thuật và công nghệ hiện đại việc sản xuất tranh ảnh đồ họa nổi không còn quá khó khăn nữa Sự đầu tư và quan tâm của các cơ quan tổ chức cũng như chính phủ cho công tác phát triển loại hình sản phẩm này sẽ giúp NKT có được nhiều hơn cơ hội tiếp cận với những hình ảnh và nội dung phong phú

Trang 36

2.2 Các sản phẩm, dịch vụ thông tin và tư liệu cho người khiếm thị

Đối với người mù và mất thị lực, vấn đề khó khăn là phải tìm được hình thức tài liệu thay thế nào cho tài liệu in để làm phương tiện xóa được khoảng cách giao tiếp thông tin của họ Hình thức phổ biến hiện nay là tài liệu chữ lớn, sách nói, tài liệu nổi (Braille và Moon) và văn bản điện tử Một số ít người sử dụng chữ Braille nhưng đó không phải là hình thức hiệu quả nhất để thay thế tài liệu in thông thường Văn bản điện tử ngày càng nhanh chóng bộc

lộ tính năng động nhờ khả năng chuyển đổi bản điện tử thành nhiều hình thức thay thế khác [14]

Do cộng đồng sử dụng tương đối ít và chi phí sản xuất cao, tài liệu thay thế đã từ lâu lệ thuộc vào khả năng của tổ chức hay cá nhân tình nguyện

Băng cassette và sách chữ lớn thường là hai thế mạnh của thị trường kinh doanh xuất bản sách phổ thông và giải trí Điều này buộc các thư viện chú ý đến công tác phát triển dịch vụ của họ lưu ý nhiều hơn đến thành phần người khiếm thị và khuyết tật

Tài liệu chuyển dạng, đặc biệt trên thị trường kinh doanh, chủ yếu là tài liệu phổ thông cho cả dạng tiểu thuyết và khác tiểu thuyết, đặc biệt là loại sách tiểu sử nhân vật Dạng băng đĩa thu âm có nội dung bị rút gọn và được xuất bản chậm hơn nhiều so với tài liệu in thông thường Chỉ có một số ít tài liệu được làm cho đọc giả theo yêu cầu riêng của họ [14]

Các sản phẩm và dịch vụ thông tin cho NKT hiện nay cũng đã có và áp dụng ở hầu hết các thư viện công cộng trên cả nước và đã đáp ứng được nhu cầu đọc một lượng không nhỏ bạn đọc khiếm thị

2.2.1 Sản phẩm

2.2.1.1 Tài liệu chữ đại

Trang 37

Đây là nguồn tiêu biểu để đọc sách nói chung và mục đích giải trí mà hầu hết là do giới xuất bản thương mại sản xuất Tuy vậy, số nhan đề được xuất bản hàng năm là 2000, thì quá ít nếu so với tổng đầu sách in thông thường hàng năm được xuất bản Số lượng nhan đề cũng bị thu hẹp, chủ yếu

là chọn những sách tiểu thuyết hay khác tiểu thuyết phổ biến mà bị cho là mang tính thương mại, không có một biểu hiện đáp ứng nhu cầu người thiểu

số Cỡ chữ tài liệu thường dao động từ 16 đến 20 [14]

Chữ lớn đặc biệt quan trọng cho độc giả hiện tại bị giảm thị lực và cũng dùng được các tài liệu in ấn Với những người chưa sử dụng thư viện, nó cũng

là động cơ khuyến khích họ trở thành độc giả Chữ lớn cũng cho hình thức chuyển dạng đối với người bị, đang bị giảm thị lực giúp họ có thể kéo dài được thời gian đọc cho đến khi thích nghi với việc sử dụng tài liệu chuyển dạng

Trong một số trường hợp, chữ lớn dùng kèm theo với tài liệu nói như kèm với phần mềm đọc màn hình Vì thế chữ lớn cũng đóng vai trò quan trọng trong mọi phương diện của dịch vụ thư viện như cung cấp tài liệu đọc, hướng dẫn dịch vụ và các bảng biểu chỉ dẫn

Về kỹ thuật in mà nói thì chữ lớn được phân biệt dựa vào kích cỡ chữ

là chủ yếu Nhưng xét đến phương tiện phục vụ người khiếm thị thì còn có một số yếu tố khác phải nói đến như phải đảm bảo chữ dễ đọc và rõ ràng Những yêu cầu này gồm độ dày, độ nét của các ký tự, khoảng cách giữa các

ký tự, khoảng cách giữa các dòng và độ tương phản giữa chữ in và nền

Theo quy định chung, R.N.I.B đề nghị dùng kiểu chữ không chân (Arial, Univers or Helvetica) với độ nét vừa hay đậm Cỡ chữ nhỏ nhất là 14 Thay đổi độ tương phản trên nền nhám và nên chọn chữ đen trên nền trắng hay vàng Cần nhớ kỹ là còn tùy thuộc vào độ thị lực của cá nhân người

Trang 38

khiếm thị mà cỡ chữ, nét chữ của tài liệu chữ lớn nói riêng và tài liệu bất kỳ nào khác cũng vì thế mà cần thay đổi

Cần phân biệt giữa chữ lớn và chữ phóng to Làm lớn chữ in bằng cách phóng to vẫn giữ lại được những đặc tính của tài liệu gốc mà nó không cần thiết phải đáp ứng được những đặc tính đọc rõ của chữ lớn Mặc dù mở thêm khả năng truy cập vào các văn bản mà tưởng chừng như không thể nào phục

vụ được người khiếm thị nhưng đó không phải là cách mà phù hợp được hết tất cả độc giả đọc chữ

Việc sản xuất chữ lớn và chữ phóng to qua việc sử dụng các trang thiết

bị như máy photocopy phóng to, CCTV và hệ thống máy tính hóa mở rộng khả năng đọc và cung cấp lượng thông tin đáng kể mà nếu không chỉ còn cách

là đọc chữ in thông thường Mặc dù có những hạn chế do luật bản quyền hiện tại còn gây nhiều khó khăn, nó cũng đã mở ra một khả năng lựa chọn khác cho sinh viên nếu cần sẽ có thể yêu cầu văn bản cho bài học theo đúng thời gian làm bài [14]

Hệ thống máy tính hóa có thêm những thuận tiện cho phép đạt được những chuẩn đọc rõ chấp nhận được nhờ vào việc điều chỉnh cỡ chữ và sử dụng máy in laser chất lượng cao Dùng máy quét cũng tạo cơ hội cho bản sao còn đẹp hơn cả bản gốc Thiết bị đầu ra là máy in hay màn hình có thể cũng được điều chỉnh theo sở thích cá nhân như co chữ hay màu nền

Nếu nhìn vào số liệu của cuộc điều tra, loại hình tài liệu chữ lớn này xếp thứ 4 trong số các tài liều được bạn đọc khiếm thị đánh giá và khuynh hướng sử dụng và sự trang bị đầu tư về thiết bị máy móc cũng như phục vụ bạn đọc sử dụng loại hình tài liệu này có thể thấy chúng ta đã đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc khiếm thị về loại hình tài liệu này

2.2.1.2 Băng cassettes/CD

Trang 39

Với những người không còn nhìn thấy hay chỉ còn chút ít thị lực, băng cassette là vật mang tin thông dụng nhất để đọc và lấy thông tin Vì thế cách này mở rộng cho nhiều người tiếp cận thông tin và tài liệu và nhất là người

mà không thể thấy hay đọc chữ Braille hay chữ lớn khó khăn

Cũng như đối với người khiếm thị, dạng này còn được sử dụng đối với bất cứ người nào bị mắc chứng đọc chữ in khó khăn như chứng dyslexic, hay

họ không cầm sách được hay không lật trang được, v.v Một số trường hợp, ví

dụ như người bị thêm nhiều khuyết tật khác, họ khó có thể nhận biết ra giọng nói Điều này thấy ở người chậm hiểu hay thiểu năng học hay chứng lãng tai Đối với loại sau, vì chứng khiếm thị gắn liền với tỷ lệ cao tuổi, nên chắc chắn

sẽ là một phần khách hàng đáng kể nữa

Băng sách hay băng thông tin vốn là tài liệu trọng yếu trong dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị

Việc tăng trưởng của các xuất bản phẩm thương mại đã giúp thư viện

có điều kiện tốt để xây dựng và phát triển vốn tài liệu, vì thế người khiếm thị nên được tạo điều kiện chọn lựa tài liệu tốt hơn Thư viện nên nhắm vào việc

mở rộng mua các phiên bản đầy đủ, quản lý tài liệu thì luôn nhớ đến nhu cầu người khiếm thị, chứ đừng nghĩ đến những chuyện này chỉ phát sinh thêm chi phí

Dạng CD có nhiều ưu thế, ngoài việc có thể lưu trữ nhiều tài liệu chỉ nằm trong 1 đĩa, nó còn giải quyết được các khó khăn khác mà người khiếm thị gặp phải khi đọc tài liệu Về mặt kỹ thuật có thể dễ dàng định vị và dừng lại đúng chỗ Nhưng đôi khi việc thiết kế các nút điều khiển máy hát CD khiến nhiều người khiếm thị gặp rắc rối khi sử dụng

Hiện tại số lượng đĩa CD cũng như nội dung của các tài liệu dạng âm thanh của chúng ta là rất lớn và đang được đầu tư sản xuất với quy mô và chất

Trang 40

lượng cao nhưng nhu cầu về sử dụng loại hình tài liệu này vẫn còn rất lớn (hơn 80%) Điều đó chứng tỏ đây là loại hình tài liệu mà bạn đọc khiếm thị sử dụng nhiều và có nội dung hữu ích được họ quan tâm và mong muốn sử dụng nhiều hơn nữa Từ đó có thể thấy được việc đáp ứng nhu cầu đọc của NKT ở dạng tài liệu này vẫn còn cần phải được đầu tư và quan tâm hơn nữa

2.2.1.3 Tài liệu chữ Braille

Chữ Braille là phương tiện đọc bằng cách dùng tay sờ lên, một bộ ký hiệu 6 chấm nổi, tùy theo cách sắp xếp các chấm mà phân định các chữ, số và các dấu khác nhau Có hai cấp độ chữ Braille cấp 1 phiên ra từng ký tự một ghép thành chữ, kể cả dấu Braille cấp 2 sử dụng cách ghép từ thành chữ, cho phép đọc nhanh hơn và làm sách chuyển dạng bớt cồng kềnh đi

Sách chữ Braille hiện nay phổ biến trong các trường học và trung tâm đào tạo Đặc biệt là dưới dạng tài liệu giáo khoa và truyện Sách chữ Braille là một sản phẩm mà có lẽ là sản phẩm đầu tiên mà bạn đọc khiếm thị nghĩ tới khi cần tìm tài liệu Là loại tài liệu được sản xuất với số lượng bản sách cũng như đầu sách nhiều Hiện nay chúng ta đã đáp ứng được một phần nhu cầu tài liệu chữ Braille tuy nhiên nội dung còn chưa phong phú và số lượng bản in còn cần phải bổ sung nhiều hơn để bạn đọc khiếm thị có thể tiếp cận và thỏa mãn nhu cầu thông tin

2.2.1.4 Nhạc Braille

Nhạc nổi Braille tạo ra bởi mã Braille đặc biệt R.N.I.B là nhà cung cấp chính sản phẩm này tại Anh và NLB thì có bộ sưu tập lớn nhất, có khoảng 13,000 nhan đề nhạc Braille có nhiều nhan đề mới nhập về đều đặn Có từ nhạc cổ điển cho đến nhạc pop và cả nhạc cho các đàn bàn phím điện tử Hiện nay chưa được biên mục hết, nhưng cũng đang trong quá trình biên mục hồi

cố nhập máy Nhạc nổi Braille có thể mua từ R.N.I.B

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Quỹ FORCE (2010), Báo cáo tăng cường tiếp cận thông tin cho người khiếm thị - 10 năm hợp tác giữa Việt Nam và Quỹ Force 2000 – 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tăng cường tiếp cận thông tin cho người khiếm thị - 10 năm hợp tác giữa Việt Nam và Quỹ Force 2000 – 2010
Tác giả: Quỹ FORCE
Năm: 2010
12. Thanh Thủy (2004). “Hỗ trợ các thư viện công cộng mở rộng dịch vụ cho người khiếm thị”, Toàn cảnh sự kiện-dư luận, (173), tr.35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ các thư viện công cộng mở rộng dịch vụ cho người khiếm thị”, "Toàn cảnh sự kiện-dư luận
Tác giả: Thanh Thủy
Năm: 2004
13. Trần Mạnh Tuấn (1998), Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện, Trung tâm thông tin tư liệu khoa học và công nghệ quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện
Tác giả: Trần Mạnh Tuấn
Năm: 1998
14. Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh (2005), Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị : Cẩm nang thực hành tốt nhất : Tài liệu dịch / Nguyễn Thị Bắc biên tập, h.đ., , Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị : Cẩm nang thực hành tốt nhất
Tác giả: Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
16. Website của Thư viện Khoa học Tổng học Thành phố Hồ Chí Minh http://www.gslhcm.org.vn/ Link
15. Vụ thư viện (2002), Về công tác thư viện: Các văn bản pháp quy hiện hành về thư viện, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w