DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN BKSH Tên Cơ sở dữ liệu sách của thư viện ĐHBK HN BKTC Tên Cơ sở dữ liệu tạp chí của thư viện ĐHBK HN BKBD Tên Cơ sở dữ liệu bạn đọc của thư viện
Nguồn lực thông tin và nhu cầu tin ở Thư viện trường ĐHBK Hà Nội
Nguồn lực thông tin
1.1.1 Khái niệm về nguồn lực thông tin Đối với mỗi cơ quan thông tin thư viện, nguồn lực thông tin là yếu tố vô cùng quan trọng, cấu thành nên mọi hoạt động của thư viện và là cơ sở để từ đó phát triển các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin của người dùng tin Hiện nay, khái niệm về nguồn lực thông tin không chỉ giới hạn ở nguồn thông tin được sở hữu bởi cơ quan thông tin, thư viện, vì ngoài nguồn thông tin hiện có trong thư viện, còn có các nguồn thông tin cần thiết ở các nơi khác nhau không tuỳ thuộc vào nơi bảo quản, lưu trữ mà các thư viện có thể với tới để cung cấp cho người dùng tin của mình
Hiện nay, khái niệm “nguồn lực thông tin” tại Việt Nam vẫn chưa được hiểu một cách đồng nhất Trong bài viết này, tôi sẽ trình bày một số định nghĩa về nguồn lực thông tin thường gặp trong các cơ quan thông tin thư viện cũng như trong các ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực thông tin và thư viện.
Khái niệm “Nguồn lực thông tin” được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh
“Nguồn lực thông tin” được hiểu là nơi bắt đầu và cung cấp thông tin, bao gồm cả tiềm lực và khả năng tiếp cận các nguồn thông tin khác nhau Tất cả các nguồn thông tin hiện có hoặc có thể truy cập đều được xem là nguồn lực thông tin.
Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ, "nguồn tin khoa học và công nghệ" được định nghĩa bao gồm nhiều loại tài liệu như sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu, tài liệu hội nghị, báo cáo nghiên cứu, tài liệu sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường, chất lượng, cũng như luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác do tổ chức, cá nhân thu thập.
Trong thực tiễn hiện nay, nhiều nhà quản lý và cán bộ thông tin thư viện thường sử dụng thuật ngữ “nguồn lực thông tin” để chỉ các dạng tài liệu khác nhau, đồng thời cũng ám chỉ đến “nguồn tin” Nguồn lực thông tin được coi là tài sản cố định đặc biệt, có khả năng gia tăng giá trị mà không bị hao mòn Việc đầu tư vào bảo quản và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các nguồn tin, như tổ chức kho lưu trữ, bảo quản, và xây dựng các mục lục cũng như cơ sở dữ liệu, sẽ làm tăng giá trị sử dụng của tài sản cố định này.
Nguồn lực thông tin là tập hợp các thông tin được thu thập và tích lũy trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, nhằm phục vụ cho sản xuất và quản lý xã hội Nó phản ánh các hiện tượng tự nhiên qua kết quả nghiên cứu và tài liệu nhận thức Nguồn lực thông tin bao gồm dữ liệu dưới dạng văn bản, số liệu, hình ảnh và âm thanh, được ghi nhận theo các quy ước hoặc không quy ước, cùng với các sưu tập và kiến thức từ cá nhân, tổ chức và ngành công nghiệp thông tin.
Nguồn lực thông tin là sản phẩm trí tuệ của con người, bao gồm những thông tin được tổ chức và kiểm soát, có giá trị trong hoạt động thực tiễn Nó được xem là phần tích cực của tiềm lực thông tin, giúp người dùng dễ dàng truy cập, tìm kiếm, khai thác và sử dụng, phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội.
Các khái niệm “nguồn lực thông tin” và “nguồn tin” đều chỉ tới các nguồn tài liệu, sách báo dưới nhiều định dạng khác nhau Tuy nhiên, “nguồn lực thông tin” có nội hàm rộng hơn so với “nguồn tin”.
Nguồn lực thông tin tại thư viện ĐHBK HN được hiểu là các tài liệu, sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn và cơ sở dữ liệu (CSDL) dưới nhiều định dạng khác nhau Mặc dù một số người cho rằng nguồn lực thông tin còn bao gồm nguồn nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất, nhưng trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung vào các nguồn tài liệu cụ thể.
1.1.2 Các đặc trưng của nguồn lực thông tin
Trong các thư viện và cơ quan thông tin hiện nay, nguồn tài liệu rất đa dạng về hình thức và phong phú về chủng loại, bao gồm tài liệu truyền thống như tài liệu in trên giấy và tài liệu hiện đại như CD-ROM, đĩa mềm, vi phim, vi phiếu, và cơ sở dữ liệu Tuy nhiên, để các nguồn tài liệu này trở thành nguồn lực hữu ích, chúng cần phải đáp ứng đầy đủ các đặc trưng nhất định.
Nguồn lực thông tin bao gồm các phần thông tin hoặc tri thức được ghi lại và định vị qua hệ thống dấu hiệu nội dung và hình thức, lưu giữ trên các vật mang tin truyền thống như giấy và phim ảnh, cũng như trên các vật mang tin điện tử như đĩa từ, CD ROM và DVD Cách lưu trữ thông tin thay đổi theo từng giai đoạn; tài liệu truyền thống có tính hữu hình, cần cơ sở vật chất như kho tàng và kệ giá, trong khi tài liệu điện tử được lưu trữ trên máy tính và cơ sở dữ liệu trực tuyến, mang tính vô hình và chỉ có thể truy cập qua internet Dù ở dạng nào, tất cả tài liệu đều có đặc trưng vật lý riêng.
Để kiểm soát nguồn lực thông tin hiệu quả, thông tin cần có tính cấu trúc, nghĩa là phải được ghi lại theo các thể thức và tiêu chuẩn nhất quán về nội dung và hình thức Điều này đảm bảo việc bảo quản, khai thác và sử dụng thông tin trở nên dễ dàng và thuận lợi.
Các thư viện hiện nay thường phân loại tài liệu dựa trên loại hình của chúng Việc tổ chức tài liệu trong kho hoặc các bản ghi trong cơ sở dữ liệu cần phải căn cứ vào nội dung và hình thức của tài liệu.
Tính truy cập của nguồn lực thông tin là rất quan trọng, yêu cầu tổ chức và kiểm soát để người dùng có thể tìm kiếm thông qua các điểm truy cập như từ khóa, chủ đề, tên tác giả và tác phẩm Những điểm truy cập này được tạo ra trong quá trình xử lý tài liệu, giúp người dùng dễ dàng tìm thấy tài liệu thông qua các dấu hiệu nội dung và hình thức Đối với tài liệu truyền thống, việc truy cập chủ yếu thông qua hệ thống mục lục, bản chỉ mục và OPAC Trong khi đó, tài liệu điện tử còn cho phép truy cập thông qua các siêu liên kết trong ngôn ngữ HTML, giúp người dùng nhanh chóng tìm được tài liệu cần thiết.
Tính có thể chia sẻ được của các nguồn thông tin là yếu tố quan trọng để các thư viện đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng Điều này cho phép các thư viện sử dụng và trao đổi thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, tạo ra sự kết nối linh hoạt giữa các hệ thống thông tin Sự chia sẻ nguồn lực thông tin không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng mà còn mở rộng khả năng tiếp cận thông tin cho người dùng.
Hoạt động của Thư viện với công tác đào tạo của Trường ĐHBKHN 15
Xuất bản điện tử mang lại nhiều ưu điểm nổi bật, bao gồm khả năng kiểm soát thông tin dễ dàng và tìm kiếm nhanh chóng Với sự phát triển của Internet, xuất bản điện tử cho phép tiếp cận thông tin trên toàn cầu, đồng thời rút ngắn thời gian xuất bản Ngoài ra, công nghệ máy tính hỗ trợ tốt cho việc liên kết đến tài liệu gốc và tích hợp hình ảnh hoặc âm thanh, nâng cao trải nghiệm người dùng.
Sản phẩm xuất bản điện tử ngày càng chiếm ưu thế so với tài liệu truyền thống, vì vậy các cơ quan thông tin thư viện cần xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin hợp lý, hài hòa giữa các loại hình tài liệu mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng.
1.2 Hoạt động của Thư viện với công tác đào tạo tại Trường ĐHBK HN 1.2.1 Vài nét về trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBK HN) là trường đại học kỹ thuật đa ngành đầu tiên tại Việt Nam, được thành lập theo nghị định 147/NĐ của chính phủ vào ngày 06/3/1956, do Bộ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký Trường có hai nhiệm vụ chính trị quan trọng.
Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật là cần thiết để nâng cao trình độ chuyên môn, áp dụng phương thức đào tạo từ bậc cao đẳng trở lên.
Nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học cùng chuyển giao công nghệ mới vào thực tiễn lao động sản xuất là cần thiết để nhanh chóng đưa những thành tựu công nghệ hiện đại vào sản xuất, từ đó đáp ứng hiệu quả nhu cầu của xã hội.
Trường ĐHBK cam kết trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học chất lượng cao, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển.
“Công nghiệp hoá - hiện đại hoá” đất nước
Mục tiêu của ĐHBK HN hiện nay là trở thành một trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, nổi bật trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại Nhà trường hướng tới việc phát triển một số lĩnh vực đạt tiêu chuẩn tiên tiến khu vực và toàn cầu, đồng thời là địa chỉ tin cậy cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong và ngoài nước, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong giai đoạn đổi mới giáo dục phục vụ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, nhà trường đóng vai trò nòng cốt trong việc đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ Đồng thời, nhà trường cần xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình và mở rộng hợp tác với các trường đại học trong và ngoài nước Ngoài ra, tổ chức nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các đề án, quy trình công nghệ và sản xuất kinh doanh cũng là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường.
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội hiện đang hoạt động theo cơ chế 3 cấp: Trường, Khoa (Viện, Trung tâm) và Bộ môn (Phòng thí nghiệm) Hiện tại, nhà trường có tổng cộng 1.973 cán bộ viên chức, trong đó bao gồm 1.203 cán bộ giảng dạy, với 5 nhà giáo nhân dân, 45 nhà giáo ưu tú, 39 giáo sư, 148 phó giáo sư và 28 tiến sĩ khoa học.
Trường có đội ngũ 402 tiến sĩ và 505 thạc sĩ, hoạt động trong 14 khoa, 5 viện, 25 trung tâm nghiên cứu, 98 bộ môn và 20 phòng ban trực thuộc, phục vụ cho hơn 35 nghìn sinh viên cùng học viên cao học và nghiên cứu sinh.
Nhà trường chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, tạo điều kiện cho sinh viên và học viên nghiên cứu, học tập nhằm phát huy tối đa tài năng và trí tuệ Mục tiêu là biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, giúp sinh viên có khả năng thích ứng với nền kinh tế thị trường và đáp ứng nhu cầu xã hội khi ra trường.
Hình 1: Cơ cấu tổ chức của trường ĐHBK HN
Công tác đào tạo sau đại học là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh vị trí và sự phát triển của trường Trong những năm gần đây, chương trình đào tạo sau đại học đã được mở rộng và phát triển mạnh mẽ, với quy mô tuyển sinh cao học tăng từ 279 học viên vào năm 1999 lên 605 học viên vào năm 2002.
Năm 2004, số lượng sinh viên sau đại học đã gần đạt 1.000 người Dự kiến, đến năm 2015, tỷ lệ sinh viên sau đại học sẽ chiếm từ 25-30% tổng số sinh viên của toàn trường.
Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Trong giai đoạn 2000-2005, việc thực hiện nghị quyết 26/NQTW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về khoa học và công nghệ, cùng với nghị định 35/HĐBT về quản lý khoa học, đã góp phần nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực này.
& CN, trường ĐHBK HN đã chú trọng công tác NCKH trong cả cán bộ và
Viện KH&CN môi trường
Trường đã tham gia và chủ trì gần 1000 đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) ở nhiều cấp độ, cùng với việc thực hiện hơn 5000 hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) Nhiều cán bộ khoa học của trường đã đóng góp vào các chương trình quốc gia, và nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng hiệu quả trong sản xuất và đời sống xã hội.
Người dùng tin và nhu cầu tin ở thư viện trường ĐHBKHN
1.3.1 Đặc điểm người dùng tin ở Thư viện trường ĐHBK HN
Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin (NDT) là yếu tố quan trọng trong hoạt động của các cơ quan thông tin thư viện NDT và nhu cầu thông tin của họ định hướng cho toàn bộ hoạt động thư viện Để khảo sát nhu cầu này tại trường ĐHBK HN, tác giả đã gửi 1090 phiếu thăm dò, trong đó 50-100 phiếu cho mỗi khoa, chia đều cho cán bộ giảng dạy và sinh viên năm cuối Kết quả thu được 995 phiếu, đạt tỷ lệ 91%, với 36.1% là cán bộ, 59.3% là sinh viên năm thứ 3, 4, 5, và 3% là sinh viên năm thứ nhất, thứ hai Dựa trên kết quả này, tác giả đã phân tích và đánh giá để đề xuất giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin cho thư viện ĐHBK HN.
Người dùng tin tại Thư viện trường ĐHBK HN bao gồm cán bộ công nhân viên, giảng viên, cán bộ nghiên cứu khoa học và sinh viên từ các hệ đào tạo Qua các biện pháp như thống kê số liệu, trao đổi mạn đàm, phân tích phiếu yêu cầu và điều tra bằng phiếu hỏi, đã xác định được thành phần người dùng, các lĩnh vực tài liệu mà họ quan tâm, ngôn ngữ sử dụng và mức độ thoả mãn thông tin của người dùng.
Qua kết quả điều tra và khảo sát thực tế có thể phân chia NDT tại Thư viện ĐHBK HN làm 2 nhóm chính:
Nhóm Cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Trong tổng số 995 phiếu điều tra nhu cầu tin, có 360 người dùng tin là cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu, chiếm 36,1% tổng số phiếu Đặc biệt, trong nhóm này, 5% là cán bộ lãnh đạo quản lý.
Đố i v ớ i nhóm ng ườ i dùng tin là cán b ộ lãnh đạ o qu ả n lý
Nhóm cán bộ quản lý trong trường, mặc dù chỉ chiếm khoảng 5% số người được hỏi, đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của trường Họ không chỉ tham gia giảng dạy mà còn định hướng chiến lược phát triển, với công việc quản lý đòi hỏi quyết định có chất lượng cao Hình thức phục vụ thông tin cho nhóm này bao gồm tổng quan, tổng luận và bản tin chọn lọc Với chuyên môn vững vàng, cán bộ quản lý cung cấp những thông tin giá trị, do đó, việc khai thác nguồn thông tin này là cần thiết để xây dựng kế hoạch phát triển nguồn lực thông tin phù hợp với lĩnh vực đào tạo của trường.
Nhóm người dùng tin là giảng viên và cán bộ nghiên cứu có trình độ trên đại học và khả năng sử dụng ít nhất 1-2 ngoại ngữ Họ đóng vai trò chuyển giao tri thức khoa học cho sinh viên, tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo, đồng thời là người dùng tin thường xuyên của thư viện Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, giảng viên cần cập nhật kiến thức và công nghệ mới liên quan đến lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu Sản phẩm của họ bao gồm bài giảng, giáo trình và các công trình nghiên cứu Họ cũng phải tìm và giới thiệu tài liệu cần thiết cho sinh viên, kích thích quá trình sáng tạo và nâng cao hiệu quả học tập và nghiên cứu.
Nhóm người dùng tin thường dành thời gian tìm kiếm tài liệu tham khảo tại thư viện, nơi cung cấp thông tin chuyên sâu và thời sự về khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực đào tạo Hình thức phục vụ thông tin bao gồm danh mục tài liệu chuyên ngành mới, thông tin thư mục chuyên đề, và tài liệu chọn lọc về khoa học và công nghệ, bao gồm sách, tạp chí khoa học và công nghệ nước ngoài, cũng như cơ sở dữ liệu và tài liệu điện tử.
Nhóm học viên cao học và sinh viên là một trong những nhóm người dùng chính tại thư viện, với số lượng đông đảo và tần suất sử dụng cao Trong nhóm này, có thể phân chia thành một số nhóm nhỏ khác nhau để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của họ.
Những người đã tốt nghiệp đại học và nghiên cứu chuyên sâu trong một lĩnh vực cụ thể thường cần tài liệu chuyên ngành sâu, bao gồm sách, tạp chí chuyên ngành, sách tham khảo nước ngoài, luận án và cơ sở dữ liệu chuyên ngành Đối với nhóm này, chủ yếu là cán bộ vừa học vừa làm, thời gian hạn chế nên thư viện cần đáp ứng nhu cầu bằng các hình thức như photocopy tài liệu hoặc cho mượn về nhà.
Nhóm sinh viên là đối tượng sử dụng chính của thư viện, với yêu cầu học tập và nghiên cứu ngày càng cao Trong bối cảnh đổi mới phương pháp giảng dạy, giáo viên chỉ đóng vai trò truyền đạt kiến thức cơ bản và khuyến khích sinh viên phát huy tính chủ động sáng tạo Sinh viên thường xuyên sử dụng thư viện và phòng thí nghiệm làm nơi học tập Quy trình đào tạo được chia thành hai giai đoạn: hai năm đầu tập trung vào các môn cơ bản và ba năm cuối chuyên sâu vào ngành học Do đó, các phòng đọc của thư viện được bố trí phù hợp với nhu cầu của sinh viên; sinh viên năm nhất và năm hai chủ yếu tiếp cận sách giáo trình cơ bản, trong khi sinh viên năm ba và năm cuối tìm kiếm tài liệu chuyên ngành và sách tham khảo ngoại văn.
Để phục vụ hiệu quả nhu cầu thông tin tài liệu của nhóm người dùng tin, cần tiến hành xem xét và đánh giá nhu cầu của họ Dựa trên những đặc điểm của nhóm người dùng, các biện pháp phù hợp phải được áp dụng để đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin của họ.
Thư viện Đại học Bách khoa Hà Nội
Hình 3: Thành phần các đối tượng người dùng tin tại Thư viện ĐHBK
Cán bộ quản lý Cán bộ GD và CNVC Sinh viên, học viên cao học
1.3.2 Nhu cầu tin của nguời dùng tin ở thư viện trường ĐHBK HN
Nhu cầu tin là yêu cầu khách quan về thông tin của cá nhân hoặc tập thể để duy trì hoạt động con người Nghiên cứu nhu cầu thông tin (NCT) giúp nhận diện nhu cầu và tài liệu của người dùng, từ đó tìm ra biện pháp phù hợp để cung cấp thông tin cho họ Cuộc đổi mới giáo dục, bao gồm chương trình học, phương pháp giảng dạy và quy mô đào tạo, đã tác động mạnh mẽ đến NCT Thông tin và tài liệu trở thành yếu tố thiết yếu trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập tại trường.
1.3.2.1 Nhu cầu thông tin theo các lĩnh vực chuyên môn ( ngành đào tạo)
Người dùng tại trường ĐHBK HN có nhu cầu phong phú và đa dạng, chủ yếu tập trung vào các chuyên ngành đào tạo Kết quả điều tra cho thấy, bên cạnh việc đọc tài liệu chuyên ngành, họ còn tham khảo các tài liệu liên quan đến các lĩnh vực khoa học khác.
Cán bộ khoa Điện cần tham khảo tài liệu về tin học và quản lý kinh tế Các ngành truyền thống như điện, chế tạo máy, điện tử viễn thông thu hút nhiều sự quan tâm Sinh viên năm nhất và năm hai chủ yếu sử dụng sách giáo trình cơ bản và tài liệu tham khảo tiếng Việt, chưa có nhu cầu đọc sách chuyên ngành Việc phân chia người dùng theo lĩnh vực đào tạo giúp cán bộ thư viện nhận biết nhu cầu và phát triển nguồn lực thông tin hợp lý giữa các ngành học.
Bảng 2: Nhu cầu của người dùng tin về các lĩnh vực đào tạo của trường Lĩnh vực chuyên môn
Sinh viên Học viên CH
SL % SL % SL % SL % Điện tử VT 320 32.6 4 0.4 60 6 256 25.7
CN Thông tin 597 60 7 0.7 120 12 470 47.2 Điện - Điện tử 312 31 4 0.4 83 8.3 225 22.6
1.3.2.2 Nhu cầu thông tin theo ngôn ngữ xuất bản tài liệu
Hiện nay, tiếng Anh và tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ thứ hai tại thư viện của NDT Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ của trường thường xuyên tổ chức các lớp ngoại ngữ nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, giúp họ tiếp cận kiến thức và đọc tài liệu tham khảo từ nước ngoài, cũng như làm việc với các đối tác quốc tế Đối với sinh viên, việc học tiếng Anh kỹ thuật đã hỗ trợ đáng kể trong việc tiếp cận các tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài.
Bảng 3: Ngôn ngữ sử dụng của người dùng tin
Ngôn ngữ Số phiếu Tỷ lệ (%)
Ngoài việc sử dụng tài liệu bằng tiếng Việt thì hầu hết người dùng tin ở
Thư viện ĐHBK đều có nhu cầu sử dụng tài liệu tham khảo viết bằng tiếng
Nhu cầu sử dụng tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh trong cộng đồng cán bộ giảng dạy và nghiên cứu rất cao, đạt 72,3%, trong khi tài liệu tiếng Pháp chỉ chiếm 23%.
Nga 14% Cán bộ trường có nhiều người sử dụng được từ 2 đến 3 ngoại ngữ
1.3.2.3 Nhu cầu theo dạng tài liệu mà người dùng thường sử dụng
Hiện trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện ĐHBKHN
Hiện trạng nguồn lực thông tin tại Thư viện trường ĐHBK HN
Hiện nay, tài liệu rất phong phú và đa dạng, có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Các cách phân chia bao gồm hình thức ghi chép thông tin, thời gian xuất bản, ký hiệu thông tin, mức độ xử lý thông tin, và phổ biến nhất là theo vật mang tin.
Nguồn thông tin của thư viện trường ĐHBK HN được phân chia thành hai nhóm chính: tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại (tài liệu điện tử).
Tài liệu không số bao gồm các ấn phẩm, vi phim, vi phích, trong đó thông tin được ghi chép bằng phương pháp truyền thống Tùy thuộc vào mức độ phổ biến, tài liệu được phân loại thành tài liệu công bố và tài liệu không công bố.
Tài liệu công bố, hay còn gọi là tài liệu xuất bản, là loại tài liệu được phát hành bởi các nhà xuất bản và thường được đánh chỉ số ISBD hoặc ISSN Chúng được phân phối qua các kênh phát hành chính thức như nhà xuất bản, công ty, đại lý phát hành sách và hiệu sách Tại Thư viện trường ĐHBK HN, tài liệu công bố bao gồm sách tham khảo, sách tra cứu, tạp chí và một số lượng lớn sách giáo trình tiếng Việt từ các nhà xuất bản trung ương Bài viết này sẽ phân tích chi tiết về hiện trạng của các loại tài liệu này.
Sách giáo trình là tài liệu đặc thù của thư viện các trường đại học, cung cấp cho sinh viên kiến thức cơ bản và hệ thống về các môn học trong chương trình đào tạo Điều này giúp sinh viên xây dựng nền tảng vững chắc trước khi tiến vào nghiên cứu chuyên sâu.
Thư viện hiện có 1.783 loại giáo trình với tổng cộng 159.600 bản Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, kinh phí bổ sung cho giáo trình đã tăng đáng kể Tuy nhiên, do quy mô đào tạo mở rộng, số lượng sách giáo trình phục vụ cho sinh viên, đặc biệt là các giáo trình chuyên ngành, vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu Thành phần kho giáo trình hiện tại được phân loại theo năm xuất bản.
- Giáo trình xuất bản trước năm 1980 chiếm: 55%
- Giáo trình xuất bản từ năm 1980 1989 chiếm: 13%
- Giáo trình xuất bản từ năm 1990 1999 chiếm: 17%
- Giáo trình xuất bản từ năm 2000 đến nay chỉ khoảng 15%
Hình 4: Thống kê sách giáo trình theo năm xuất bản
Thư viện hiện có 115.071 cuốn sách tham khảo, chiếm 22,65% tổng số sách, được phân loại theo hai ngôn ngữ chính là tiếng Nga và tiếng gốc La tinh Trong số này, sách tham khảo tiếng Nga chiếm 82%, với 94.530 cuốn, trong đó có 18.831 cuốn xuất bản trước năm 1970 Các tài liệu tham khảo tiếng Anh, Pháp và Đức tổng cộng 16.971 cuốn, chiếm 14% tổng số sách tham khảo, với 50% trong số đó được xuất bản trước năm 1980.
Kho sách tham khảo tại thư viện trường ĐHBK HN khá lớn so với các trường khác nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu bạn đọc Nhiều tài liệu chủ yếu được xuất bản trước năm 1990, dẫn đến giá trị thông tin khoa học không cao Mặc dù tài liệu mới có nội dung phong phú hơn và phù hợp với chương trình đào tạo, nhưng số lượng đầu sách còn hạn chế Nguyên nhân chính là do kinh phí hạn hẹp; trước năm 1990, Việt Nam nhận được nhiều hỗ trợ từ Liên Xô, với sách tiếng Nga được cung cấp giá rẻ, tạo nên kho tài liệu phong phú Sau năm 1990, nguồn tài trợ giảm, tiếng Nga không còn phổ biến, trong khi nhu cầu về tài liệu kỹ thuật từ các nước phương Tây tăng cao Thư viện đã chuyển sang mua tài liệu tiếng Anh, Pháp và Đức, nhưng số lượng rất hạn chế do giá cả cao Trước đây, thư viện bổ sung trên 3000 sách tiếng Nga mỗi năm, hiện nay gần như không mua thêm sách tiếng Nga và chỉ có thể bổ sung khoảng 100 cuốn sách ngoại văn mỗi năm, thậm chí có những năm không mua được cuốn nào.
Sách tham kh ả o ti ế ng Vi ệ t
Số lượng tài liệu tham khảo tiếng nước ngoài tại thư viện hiện chỉ có 9870 cuốn, chiếm khoảng 4% tổng số sách tham khảo Các tài liệu này bao gồm sách kỹ thuật liên quan đến các ngành học, sách tin học, sách học ngoại ngữ, cùng với các tác phẩm văn học nổi tiếng và sách chính trị xã hội Những tài liệu này giúp người dùng có cái nhìn toàn diện về đời sống xã hội và các chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong những năm qua, kinh phí bổ sung hạn chế đã dẫn đến việc giá tài liệu tăng cao, khiến lượng bổ sung mỗi loại chỉ đạt từ 1 đến 2 cuốn Hiện tại, kho sách tham khảo của thư viện chủ yếu vẫn là sách tiếng Nga được bổ sung trước năm 1990.
Tài liệu đặc biệt trong hệ thống kho sách của thư viện bao gồm các loại sách như bách khoa toàn thư, từ điển và sổ tay tra cứu chuyên ngành, với tỷ lệ 70% từ năm 1980.
Hiện nay, có khoảng 6000 cuốn sách tham khảo được xuất bản, trong đó bao gồm nhiều bộ bách khoa tra cứu chuyên ngành quý giá.
- Encyclopedia of Sciences and Technology
- Encyclopedia of Industrial Chemistry (24 tập)
- Mc Graw-Hill Encyclopedia of Sciences and Technology (12 tập)
- Encyclopedia of Energy Technology and the Environment
Ngoài ra thư viện còn lưu trữ số lượng lớn từ điển: tiếng Anh, tiếng
Pháp, tiếng Nga, tiếng Đức và tiếng Nhật là những ngôn ngữ được cung cấp cho sinh viên học ngoại ngữ, cùng với các loại sổ tay tra cứu chuyên ngành như sổ tay hóa công, sổ tay công nghệ chế tạo máy và từ điển tin học điện tử viễn thông Thư viện còn có một số tạp chí tóm tắt nổi tiếng trên thế giới như Chemical Abstract và Signalitique.
Nguồn tạp chí chiếm hơn 1/3 tổng số vốn tài liệu của thư viện, bao gồm các tạp chí khoa học kỹ thuật chuyên ngành trong nước và quốc tế Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu, việc tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ mới nhất là vô cùng quan trọng, và phần lớn thông tin này được giới thiệu qua các tạp chí khoa học chuyên ngành từ các nước phát triển.
Bảng 6: Thống kê số lượng tạp chí có trong Thư viện
Loại tạp chí Số loại Tỷ lệ % Số cuốn
Tạp chí tiếng Anh, Pháp 682 38.8 44.344
Tạp chí các nước Đông Âu 219 12.4 27092
Thư viện ĐHBK HN hiện đang lưu giữ 1503 loại tạp chí ngoại với tổng cộng 219.926 bản Đáng chú ý, phần lớn trong số này là tạp chí của Liên Xô cũ, cùng với các tạp chí từ các nước Đông Âu và tư bản chủ nghĩa Kể từ năm 1990, chỉ có một số ít loại tạp chí được bổ sung thêm vào bộ sưu tập này.
Công tác xây dựng nguồn lực thông tin ở thư viện trường ĐHBK HN 43
Công tác tổ chức và xây dựng nguồn lực thông tin của mỗi thư viện có sự khác biệt rõ rệt, phụ thuộc vào hoàn cảnh, bối cảnh, chức năng và nhiệm vụ cụ thể của từng thư viện Đặc biệt, Thư viện trường ĐHBK cũng mang những đặc thù riêng trong việc phát triển nguồn lực thông tin nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của người dùng.
Việc xây dựng và tổ chức nguồn lực thông tin tại HN chủ yếu nhằm cung cấp tài liệu khoa học và công nghệ phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học (NCKH) và học tập của cán bộ và sinh viên Chất lượng phục vụ bạn đọc của thư viện phụ thuộc vào công tác bổ sung tài liệu và tổ chức kho Bổ sung tài liệu là yếu tố quyết định chất lượng hoạt động thư viện; nếu thực hiện tốt, kho tài liệu sẽ đáp ứng nhu cầu người dùng, thu hút đông đảo bạn đọc Ngược lại, nếu chất lượng bổ sung kém, kho tài liệu lớn nhưng không chất lượng sẽ dẫn đến ít người sử dụng và giảm hiệu quả khai thác Do đó, để phát triển nguồn tin hiệu quả, thư viện cần có chính sách phát triển nguồn tin cụ thể, phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của mình.
Công việc bổ sung tài liệu là quá trình quan trọng trong việc lựa chọn và sắp xếp các tài liệu cần thiết cho đơn vị thông tin, yêu cầu người thực hiện phải có kiến thức sâu rộng và am hiểu nhu cầu của người dùng Quy trình này bao gồm việc xây dựng chính sách và kế hoạch bổ sung, tiếp cận nguồn tài liệu, cũng như chọn hình thức và phương thức bổ sung Để đảm bảo hiệu quả trong công tác này, các cơ quan thông tin thư viện cần có một chính sách phát triển nguồn tin rõ ràng, được ban hành bởi lãnh đạo, nhằm hướng dẫn các hoạt động xây dựng vốn tài liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp giữa các cơ quan thông tin thư viện.
Chính sách phát triển nguồn tin là tuyên ngôn quan trọng của cơ quan thông tin thư viện, yêu cầu lãnh đạo và nhân viên phải tập trung vào mục tiêu và giải pháp thực hiện Thư viện Trường ĐHBK HN coi việc xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin là nhiệm vụ hàng đầu, ảnh hưởng trực tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu tài liệu và chất lượng phục vụ bạn đọc Tuy nhiên, đến nay, thư viện vẫn chưa biên soạn được chính sách phát triển nguồn tin đầy đủ, dẫn đến việc lựa chọn và bổ sung tài liệu chủ yếu dựa vào quy định hiện có.
Thư viện được xây dựng với sự hỗ trợ của các chuyên gia và độc giả, dựa trên bảng phân loại, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học Thư viện thường xuyên xem xét và cập nhật các đề mục, loại bỏ nội dung cũ và bổ sung thông tin mới để phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế và xã hội Hàng năm, thư viện lập kế hoạch bổ sung tài liệu dựa trên các lĩnh vực và chuyên ngành đào tạo của trường, đảm bảo nguồn lực thông tin chất lượng cao cho đội ngũ nghiên cứu và giảng dạy.
Các tài liệu thiết yếu cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập bao gồm sách giáo trình, sách tham khảo, tài liệu tra cứu và các tạp chí chuyên ngành.
Các tài liệu phục vụ cho mục đích giải trí và nâng cao đời sống cho nhà đầu tư bao gồm sách chính trị xã hội, sách văn học, cùng với các loại báo và tạp chí do cơ quan trung ương xuất bản.
Tài liệu nghiệp vụ thư viện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cán bộ thư viện nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn Đây là nguồn tài nguyên thiết yếu giúp cán bộ thư viện tiếp cận thông tin mới mẻ và cập nhật trong lĩnh vực thư viện học.
- Ngoài dạng tài liệu là sách thì thư viện còn bổ sung các tài liệu dạng khác như: băng, đĩa CDROM, cassetts
Cán bộ thư viện cần có những định hướng rõ ràng để bổ sung tài liệu một cách hiệu quả Việc mua sắm tài liệu cho Thư viện ĐHBK cần dựa trên các tiêu chí cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên.
Thư viện HN đã thực hiện đúng định hướng và bổ sung tài liệu theo nhu cầu người sử dụng Việc mua tài liệu được tiến hành theo quy trình và có sự hỗ trợ từ cộng tác viên, đồng thời kho sách được thanh lọc thường xuyên Tuy nhiên, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng trong trường, cần xây dựng một chính sách bổ sung tài liệu cụ thể và chi tiết cho thư viện.
Thư viện ĐHBK HN bổ sung tài liệu qua hai phương thức chính: bổ sung phải trả tiền, bao gồm việc mua trực tiếp từ tác giả hoặc nhà xuất bản và gián tiếp qua các cơ quan phát hành; và bổ sung không mất tiền, bao gồm nguồn lưu chiểu, trao đổi và tặng biếu.
Mua t ừ các nhà xu ấ t b ả n trong n ướ c
Nguồn mua tài liệu là yếu tố quan trọng trong việc bổ sung tài liệu cho thư viện Cuối năm, thư viện lập kế hoạch dự toán để xin kinh phí cho năm sau, dựa vào nhu cầu tài liệu của các ngành đào tạo Tài liệu tiếng Việt được mua từ các nhà xuất bản trong nước như Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Nhà xuất bản Giáo dục, và nhiều nhà xuất bản khác Thư viện cũng mua tài liệu qua Tổng công ty Phát hành sách Trung ương, trong khi các loại báo và tạp chí tiếng Việt được cung cấp thông qua Tổng công ty Phát hành báo chí Việt Nam.
Thư viện cần mua sách tham khảo và tạp chí ngoại văn từ các nhà xuất bản lớn như McGraw-Hill, Simon, Prentice-Hall, Addison-Westley, và Blackwell Việc đặt mua sách nước ngoài phải thông qua Xunhasaba, công ty xuất nhập khẩu sách báo thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin Sách tiếng Anh là ngôn ngữ chủ yếu được đặt mua do nhu cầu cao từ người dùng thư viện.
Bảng 11: Thống kê số lượng tài liệu thư viện mua từ năm 2000 – 2005
Báo và tạp chí tiếng Việt
Thư viện thường gặp khó khăn trong việc chủ động kinh phí từ đầu năm, dẫn đến việc đặt mua tài liệu bị động Có những năm thư viện không thể mua sách tham khảo ngoại văn, chỉ có thể xin kinh phí vào cuối năm để mua sách giáo trình hoặc tài liệu tiếng Việt Việc phân bổ ngân sách cho tài liệu điện tử phụ thuộc vào quyết định của lãnh đạo nhà trường, vì loại tài liệu này thường có giá cao và cần được mua liên tục Để phát triển nguồn lực thông tin cho thư viện điện tử, trường ĐHBK HN cần đầu tư nhiều hơn vào việc bổ sung tài liệu, bao gồm cả tài liệu truyền thống và điện tử trong những năm tới.
Theo quyết định số 688/QĐ ngày 14/7/1986 của Bộ trưởng Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp, Thư viện nhận được nguồn sách lưu chiểu bổ sung, bên cạnh nguồn tài liệu phải trả tiền, được quy định rõ tại điều 7 chương I.
Quản lý và khai thác nguồn lực thông tin
2.3.1 Ph ầ n m ề m - công c ụ để qu ả n lý và khai thác ngu ồ n l ự c thông tin
Tin học hoá hoạt động thông tin thư viện là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển thư viện hiện đại, theo Nghị định số 72/2002/ND-CP của chính phủ Thư viện cần nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá hoạt động của mình Kể từ năm 1997, Thư viện trường ĐHBK HN đã áp dụng phần mềm CDS/ISIS, một công cụ quản trị tư liệu miễn phí do UNESCO cung cấp cho các nước đang phát triển CDS/ISIS là hệ thống lưu trữ và tìm kiếm thông tin được thiết kế cho cơ sở dữ liệu văn bản có cấu trúc, cho phép người dùng thao tác dễ dàng qua các menu Hiện tại, Thư viện đang sử dụng phiên bản CDS/ISIS for MS DOS 3.7.
Tất cả các chương trình đều hoạt động trong chế độ hội thoại, hỗ trợ nhiều ngôn ngữ và không giới hạn số lượng cơ sở dữ liệu Chúng cung cấp ngôn ngữ tìm kiếm linh hoạt, cho phép tạo tệp đảo để truy cập nhanh đến các CSDL Ngoài ra, người dùng có thể in và sắp xếp kết quả tìm kiếm theo ý muốn, đồng thời dễ dàng trao đổi dữ liệu.
CDS/ISIS chủ yếu được sử dụng để quản trị tài liệu, do đó, khả năng tính toán hạn chế và các tính toán thống kê cần được thực hiện bằng phần mềm khác Hệ thống này cũng gặp khó khăn trong việc hỗ trợ mạng diện rộng, mã vạch và các thiết bị hiện đại, đồng thời không cung cấp hỗ trợ trực tuyến cho người dùng Người dùng không thể hỏi hệ thống về cách lập biểu thức tìm tin hay cách sử dụng các toán tử Thêm vào đó, thông báo lỗi là một phần quan trọng trong giao tiếp với người sử dụng, nhưng các thông báo lỗi của CDS/ISIS thường khó hiểu và không thân thiện với người dùng.
Việc ứng dụng phần mềm CDS/ISIS đã mang lại nhiều lợi ích cho thư viện như xây dựng cơ sở dữ liệu, hỗ trợ in phích tự động và cải thiện khả năng tra cứu thông tin nhanh chóng trên máy tính so với hệ thống mục lục truyền thống Tuy nhiên, với những hạn chế hiện tại, CDS/ISIS không còn phù hợp với yêu cầu của thư viện hiện đại Do đó, thư viện dự kiến sẽ chuyển sang sử dụng phần mềm mới để quản lý tài liệu và hệ thống thông tin, đồng thời kết nối với mạng thông tin trong trường và quản lý người dùng Các cơ sở dữ liệu hiện tại sẽ được chuyển đổi sang phần mềm mới.
2.3.2 Quản lý nguồn lực thông tin
Ngày nay, sự bùng nổ thông tin mang đến nhiều tài liệu phong phú, nhưng người dùng gặp khó khăn trong việc chọn lọc thông tin phù hợp Do đó, việc quản lý và khai thác nguồn lực thông tin một cách khoa học là cần thiết để phát huy tối đa tiềm năng của thư viện, phục vụ tốt nhu cầu của người dùng.
Trước khi ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động của thư viện, việc xử lý và tổ chức nguồn lực thông tin chủ yếu diễn ra theo phương pháp thủ công, dẫn đến nhiều hạn chế trong việc tra cứu và tiếp cận tài liệu.
Năm 1997, thư viện đã áp dụng phần mềm CDS/ISIS để phát triển cơ sở dữ liệu sách, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác nguồn thông tin tại thư viện.
Qu ả n lý ngu ồ n tài li ệ u truy ề n th ố ng
Việc thu thập, quản lý và xử lý tài liệu là rất quan trọng đối với việc tìm kiếm thông tin tại các cơ quan Để quản lý thông tin hiệu quả, cần có những người hiểu rõ cách thu thập và xử lý thông tin, cũng như biết cách sử dụng nguồn thông tin cho nhiều mục đích khác nhau Các nhà nghiên cứu và phân tích thông tin, cùng với các nhà quản lý, có trách nhiệm thu thập và xử lý thông tin theo các chủ đề khác nhau, từ đó tạo ra thông tin tổng hợp giúp người dùng dễ dàng nắm bắt và hiểu thông tin trong các hoạt động bận rộn của họ.
Thư viện ĐHBK HN hiện đang chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu giấy và quản lý chúng thông qua quy trình tập trung tại phòng biên mục Để xử lý tài liệu hiệu quả, thư viện áp dụng phần mềm CDS/ISIS cùng với các tiêu chuẩn quốc tế như ISBD và Bộ từ điển từ khoá khoa học công nghệ Việc này không chỉ giúp chia sẻ và trao đổi cơ sở dữ liệu giữa các thư viện mà còn gặp phải một số hạn chế, đặc biệt là thiếu hướng dẫn cho mô tả tài liệu hiện đại và khung phân loại 19 lớp.
Kỹ thuật trong các ngành khoa học chưa được cập nhật thường xuyên và phân chia rõ ràng, dẫn đến tình trạng nhiều mục có quá nhiều sách được xếp vào một vấn đề chung.
Quy trình xử lý tài liệu bao gồm các bước chính: tra cứu trùng lặp, đóng dấu xác nhận, phân loại kho tài liệu, ghi chép vào sổ tổng quát, đăng ký từng tài liệu, dán nhãn cho tài liệu, và cuối cùng là xử lý hình thức cũng như nội dung của tài liệu.
Việc xử lý tài liệu tại thư viện trường ĐHBK HN dựa trên phiếu mô tả tiền máy, sau đó được nhập vào cơ sở dữ liệu và in phích tự động Thư viện này là một trong số ít nơi còn duy trì hệ thống mục lục truyền thống, thường xuyên được cập nhật với sách mới Tài liệu sau khi xử lý sẽ được giao cho các bộ phận phục vụ, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực thông tin Hiện nay, thư viện quản lý tài liệu theo các loại kho khác nhau.
Kho sách giáo trình là nơi lưu trữ tài liệu duy nhất được tổ chức theo khoa trong trường, với tài liệu trong mỗi khoa được sắp xếp theo thứ tự chữ cái tên sách Cách phân bố và sắp xếp này giúp cán bộ thư viện dễ dàng quản lý và nhận biết vị trí từng cuốn sách, từ đó nâng cao độ chính xác và đầy đủ trong việc kiểm kê tài liệu.
Kho sách tham khảo được tổ chức theo ngôn ngữ, với mỗi ngôn ngữ được phân chia theo khổ sách và sắp xếp theo số đăng ký cá biệt Cách sắp xếp này giúp quản lý và kiểm soát tài liệu hiệu quả, ngăn ngừa tình trạng thất lạc hoặc mất sách, đồng thời dễ dàng trong việc kiểm kê.
Kho tạp chí được tổ chức theo ngôn ngữ và sắp xếp theo ký hiệu tạp chí, trong khi báo được xếp theo tên và số báo trong tháng hoặc theo năm.
Nhận xét và đánh giá về hiện trạng nguồn lực thông tin tại Thư viện trường ĐHBK HN
Đánh giá nguồn lực thông tin tại thư viện ĐHBK HN là rất quan trọng để phát hiện những vấn đề mới và chưa được giải quyết Qua việc phân tích thực trạng hiện có, có thể xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp phát triển nguồn lực thông tin, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng.
Thư viện trường ĐHBK HN đã phát triển một kho tài liệu đa dạng và phong phú, với tổng cộng 508.000 bản ghi, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu học tập và nghiên cứu liên quan đến chương trình đào tạo của trường.
Thư viện ĐHBK HN là một trong số ít trường đại học hiện nay còn duy trì kho mượn sách giáo trình, cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên Kho tài liệu ngoại ngữ tập trung vào các lĩnh vực KHKT tiên tiến, được giảng viên lựa chọn để thư viện mua sắm, đáp ứng nhu cầu học tập Với khoảng 6000 cuốn sách, bao gồm từ điển và bách khoa toàn thư quý giá, kho tài liệu này thu hút đông đảo người dùng Thư viện cũng theo dõi số vòng quay của tài liệu và đưa những tài liệu có lượt mượn cao vào phòng tra cứu, giúp bạn đọc tiếp cận thông tin nhanh chóng.
Thư viện đã tích lũy một cách đầy đủ các luận văn và luận án của cán bộ khoa học cùng học viên sau khi hoàn thành việc học tập và nghiên cứu tại trường.
Thư viện không chỉ dựa vào tài liệu truyền thống mà còn chủ động đầu tư vào tài liệu điện tử và xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) tài liệu, nhằm nâng cao nguồn lực thông tin và phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của độc giả.
Thống kê mức độ đầy đủ và sự hài lòng của người dùng về tài liệu, bao gồm nội dung, số lượng và mức độ cập nhật thông tin, nhằm đánh giá nguồn lực thông tin hiện có của thư viện ĐHBK HN.
Bảng 17: Mức độ đáp ứng thông tin tài liệu của người dùng
Về nội dung tài liệu
Về số bản tài liệu
Về mức độ cập nhật tài liệu
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
Chưa thoả mãn nhu cầu 259 26 448 45 299 30
Nguồn lực thông tin của thư viện mới chỉ đáp ứng 74% nhu cầu về nội dung tài liệu Mặc dù số lượng tài liệu phong phú, nhưng một số chuyên ngành lại có tài liệu cũ và sách tham khảo ngoại văn hạn chế, dẫn đến chỉ 55% nhu cầu của người dùng được đáp ứng với tài liệu mới Đặc biệt, có đến 44% người dùng không hài lòng với số lượng tài liệu hiện có, và trong mùa thi, tỷ lệ yêu cầu bị từ chối còn cao hơn, lên tới 53%.
Mặc dù thư viện đã nỗ lực bổ sung tài liệu phù hợp với các ngành đào tạo của trường và nhiều sách tham khảo đã được sử dụng hiệu quả, nhưng mức độ cập nhật thông tin vẫn chưa kịp thời Sự gia tăng nhanh chóng số lượng người dùng và mở rộng quy mô đào tạo đã khiến nguồn lực thông tin của thư viện chưa đáp ứng đủ nhu cầu Do đó, thư viện cần được đầu tư nhiều hơn về kinh phí và tăng cường thu thập tài liệu điện tử, nhằm chuẩn bị tốt cho việc chuyển đổi sang thư viện điện tử và đáp ứng nhu cầu của người dùng.
Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Thư viện trường ĐHBK HN tuy chưa phong phú và đa dạng, nhưng đã hỗ trợ hiệu quả cho người dùng trong việc tìm kiếm thông tin trong thư viện và tiếp cận các nguồn tin từ xa bên ngoài.
Khai thác nguồn lực thông tin qua sản phẩm và dịch vụ của Thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu người dùng tin Kết quả khảo sát tại thư viện cho thấy người dùng đã đưa ra những đánh giá về hiệu quả sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện, được trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 18 Đánh giá chất lượng và hiệu quả khai thác thông qua sản phẩm và dịch vụ
Sản phẩm và Dịch vụ
Số người sử dụng Chất lượng sử dụng
Có trả lời Không trả lời Tốt TB Chưa tốt
SL % SL % SL % SL % Sl %
Mục lục truyền thống 720 72.3 275 27.7 520 72.2 125 17.3 75 10.4 Tra cứu trên máy 755 79 240 21 485 64.2 157 20.7 113 14.9 Thư mụcTB sách mới 520 52.2 475 47.8 425 81.7 85 16.3 10 1.92 Đọc tại chỗ 850 89 145 11 452 53.1 350 41.1 48 5.64 Muợn về nhà 725 75.9 270 24.1 260 35.8 380 52.4 85 11.7 Sao chụp tài liệu 715 71.8 280 28.2 655 91.6 28 3.9 32 4.4 Kết nối internet 822 86 173 14 425 51.7 320 38.9 77 9.36 CSDL 335 33.6 660 66.4 283 84.4 32 9.55 20 5.9
Số lượng người dùng (NDT) vẫn chủ yếu sử dụng mục lục tra cứu truyền thống do thư viện chỉ có 3 máy tính phục vụ Mặc dù kết nối Internet miễn phí được 51% NDT đánh giá là tốt, giúp họ truy cập cơ sở dữ liệu sách và thông tin từ xa, nhưng số máy tính còn quá ít, thời gian sử dụng bị hạn chế, và tốc độ đường truyền chậm vào giờ cao điểm, dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa cao Sản phẩm và dịch vụ thông tin của thư viện vẫn mang tính truyền thống và chưa đáp ứng đủ nhu cầu đa dạng của NDT Do đó, thư viện cần xem xét và đánh giá lại nguồn lực cũng như chất lượng sản phẩm và dịch vụ để điều chỉnh phù hợp với nhu cầu của người sử dụng trong tương lai.
Trong những năm qua, Thư viện trường ĐHBK HN đã phát huy tốt chức năng của một thư viện truyền thống, nỗ lực thu thập và tạo nguồn tài liệu phong phú, đồng thời tổ chức hệ thống tra cứu hiệu quả cho bạn đọc Mặc dù đã đáp ứng phần nào nhu cầu thông tin của người dùng trong toàn trường, nhưng Thư viện ĐHBK HN vẫn còn một số bất cập trong nguồn lực thông tin.
Số lượng tài liệu hiện có tuy lớn nhưng đã cũ, với ngôn ngữ và cấu trúc chưa phù hợp với nhu cầu của người dùng Việc ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa trong thư viện diễn ra chậm, dẫn đến việc khai thác thông tin và tài liệu còn hạn chế Hơn nữa, phần mềm CDS/ISIS không đáp ứng được yêu cầu của các thư viện hiện đại.
Thiếu sự phối hợp trong việc bổ sung tài liệu, cùng với kinh phí cấp không đồng đều và không đủ, đã dẫn đến việc số lượng sách, tạp chí và tư liệu nước ngoài ngày càng giảm do giá cả tăng từ 5-10% mỗi năm Hơn nữa, tài liệu không công bố vẫn chưa được quản lý và khai thác một cách hiệu quả.
Những nhận xét và đánh giá trên đây cho thấy mặc dù thư viện ĐHBK
HN đã nỗ lực trong việc xây dựng nguồn lực thông tin và đã đạt được nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, công tác này vẫn chưa được quan tâm đúng mức, với việc thư viện thiếu chính sách phát triển nguồn và công tác bổ sung tài liệu còn thụ động Sự kết hợp giữa cán bộ bổ sung và các nhà khoa học chưa chặt chẽ, dẫn đến nhiều tư liệu cũ và hết hạn sử dụng chưa được thanh lọc Để vận hành và khai thác thư viện điện tử hiệu quả trong tương lai, thư viện cần phát huy thế mạnh, khắc phục hạn chế và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động.