Thư viện Đà Nẵng là một trong những thiết chế văn hoá của thành phố, bằng phương tiện sách báo và các nguồn lực thông tin hiện có, thư viện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu của người dùng tin
Trang 1Bộ Giáo dục - Đào tạo Bộ văn hoá - thông tin
Trường đại học Văn hoá Hà Nội
-*** -
Vũ Thị Ân
Tăng cường hoạt động thư viện - thông tin tại Thư viện Khoa học tổng hợp thμnh phố Đμ Nẵng trong giai đoạn đổi
Trang 2Những chữ viết tắt sử dụng trong luận văn AACR2: Quy tắc biên mục Anh – Mỹ
ADSL (Asymmetric Digital Subscriber Line): Đường truyền tốc độ cao
theo công nghệ thuê bao số bất đối xứng
CD – ROM (Compact Dick Read Only Memory): Đĩa quang
CDS/ISIS (Computerized Documentation System/ Integrated Set of
Information): Hệ thống lưu trữ và tìm kiếm thông tin CSDL: Cơ sở dữ liệu
Internet: Mạng thông tin toàn cầu
ISBD: Quy tắc biên mục theo tiêu chuẩn quốc tế
ISO2709: Tiêu chuẩn trao đổi dữ liệu thư mục quốc tế
Trang 4Mục lục
Lời nói đầu:……… 1
Chương 1: Thư viện thμnh phố Đμ Nẵng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - x∙ hội của thμnh phố 1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng
trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước….6
1.1.1 Đặc điểm về tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố 6 1.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến năm 2010………14
1.2 Yêu cầu và nhiệm vụ của thư viện thành phố Đà Nẵng trong
giai đoạn mới……… 17
1.2.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của thư viện thành phố Đà Nẵng……….17
1.2.2 Yêu cầu đối với thư viện thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới……….18
1.2.3 Nhiệm vụ của thư viện thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới……….20
1.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin ở thư viện thành phố
Đà Nẵng……… 21
1.3.1 Đặc điểm người dùng tin……… 21
1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin……… 29 Chương 2: Thực trạng tổ chức vμ hoạt động của thư viện
thμnh phố Đμ Nẵng
2.1 Thực trạng tổ chức thư viện thành phố Đà Nẵng……….37
2.1.1 Cơ cấu tổ chức……… 37
Trang 52.1.2 Đội ngũ cán bộ……….42
2.1.3 Cơ sở vật chất……… 47
2.2 Hoạt động của thư viện……… 51
2.2.1 Xây dựng nguồn lực thông tin……….………51
2.2.2 Tạo lập các sản phẩm thư viện - thông tin……… 63
2.2.3 Tổ chức các dịch vụ thư viện - thông tin……… 69
2.2.4 Hướng dẫn nghiệp vụ mạng lưới thư viện cơ sở……… 75
2.3 Nhận xét, đánh giá chung……… 78
2.3.1 Điểm mạnh……… 78
2.3.2 Điểm yếu và một số điểm bất cập………80
Chương 3: Các giải pháp tăng cường hoạt động thư viện - thông tin tại thư viện thμnh phố Đμ Nẵng 3.1 Hoàn thiện hoạt động tổ chức và quản lý mô hình thư viện cấp thành phố theo hướng hiện đại hoá……….89
3.1.1 Đổi mới cơ cấu tổ chức……… 89
3.1.2 Tăng cường cơ sở vật chất……… 92
3.1.3 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện……….94
3.2 Nâng cao chất lượng hoạt động thư viện………98
3.2.1 Tăng cường nguồn lực thông tin………98
3.2.2 Hoàn thiện và phát triển các sản phẩm thư viện - thông tin……… 106
3.2.3 Đa dạng hoá các dịch vụ thư viện - thông tin………….111
Trang 63.2.4 Cñng cè vµ ph¸t triÓn m¹ng l−íi th− viÖn quËn, huyÖn - c¬ së……… 114
Trang 7Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân dân cả nước đang thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin vào cuối Thế kỷ 20 và đầu Thế kỷ 21 trên thế giới đã có sự tác động tích cực, nhanh chóng, trực tiếp trên các lĩnh vực văn hoá và đời sống xã hội ở Việt Nam trong tiến trình giao lưu hội nhập với cộng đồng quốc tế Thông tin tri thức đang trở thành nguồn lực quan trọng, có tính chất quyết định đến sự phát triển của xã hội, tạo ra những cơ hội lớn cùng những thách thức gay gắt
đối với các cơ quan thư viện - thông tin trong việc thoả mãn nhu cầu thông tin ngày càng phong phú và đa dạng của người dùng tin Chính vì vậy việc hiện
đại hoá hoạt động thư viện - thông tin là vấn đề có tính chất cấp thiết đặt ra trong thời điểm hiện nay ở đất nước ta
Đà Nẵng là một thành phố trẻ được coi là trung tâm quan trọng của khu vực miền Trung, chứa đựng nhiều tiềm năng kinh tế, du lịch Thành phố đang
nỗ lực phát huy các thế mạnh của mình nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc
đổi mới chung của đất nước
Thư viện Đà Nẵng là một trong những thiết chế văn hoá của thành phố, bằng phương tiện sách báo và các nguồn lực thông tin hiện có, thư viện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu của người dùng tin, góp phần phục vụ thiết thực các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của thành phố trong giai đoạn mới
Trong những năm qua, mặc dù thư viện đã có rất nhiều cố gắng về hoạt
động cũng như vấn đề tổ chức và quản lí, song hiện tại thư viện thành phố Đà
Trang 8Nẵng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt như: Trụ sở chưa được xây dựng ổn định, kho giá chật chội, dột nát, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu thốn, lạc hậu, vốn tài liệu còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, hạn chế về chuyên môn, Chính vì thế thư viện thành phố Đà Nẵng chưa phát huy một cách có hiệu quả vai trò cũng như chức năng nhiệm vụ của mình
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện thành phố Đà Nẵng, cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc nhằm tìm ra những nguyên nhân chủ quan cũng như các nguyên nhân khách quan, để từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể mang tính khả thi phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của thư viện cũng như của thành phố nhằm nhanh chóng kiện toàn cơ cấu tổ chức, tăng cường các hoạt
động thư viện thông tin, nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin cho mọi tầng lớp nhân dân trong thành phố
Cho tới thời điểm này, chưa có một tập thể, cá nhân nào nghiên cứu thực trạng hoạt động của Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng Vì vậy xuất phát từ đòi hỏi thực tế, cộng với sự mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp phát triển thư viện thành phố nhà, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tăng cường hoạt động thư viện - thông tin tại Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn đổi mới đất nước” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thư viện - Thông tin của mình Hy vọng với kết quả nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học để thư viện thành phố Đà Nẵng áp dụng vào thực tiễn, nhằm đẩy nhanh hoạt động của mình phát triển ngang tầm với các thư viện hiện đại trong cả nước, xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một thành phố văn minh - giàu đẹp
2 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động thư viện - thông tin tại thư viện thành phố Đà Nẵng từ 1999 đến hết tháng 6 năm 2006
Trang 93 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Tăng cường hoạt động thư viện - thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin
Để thực hiện mục đích trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra đối với thư viện trong
định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới
- Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin ở thư viện thành
phố Đà Nẵng
- Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của thư viện thành
phố Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, tăng cường hoạt động
thư viện - thông tin, nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với những quan điểm, đường lối chỉ đạo của
Đảng, Nhà nước
Phương pháp nghiên cứu được dùng trong luận văn là:
- Phân tích và tổng hợp tài liệu;
- Phân tích phiếu yêu cầu của người sử dụng thư viện;
- Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, quan sát;
- Phân tích đánh giá các mẫu biểu thống kê
ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:
Trang 10Luận văn góp phần làm rõ vấn đề tổ chức và hoạt động của mô hình thư viện cấp thành phố hiện đại trong giai đoạn mới
Luận văn đưa ra những giải pháp khả thi, góp phần tăng cường hoạt
động thư viện - thông tin nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện thành phố Đà Nẵng
Luận văn góp phần nhất định trong việc định hướng phát triển thư viện
thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới
Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục và
phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Thư viện thành phố Đà Nẵng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của thư viện thành phố
được sự chỉ dẫn của quý Thầy, Cô, và các bạn đồng nghiệp
Qua đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo Sư - Tiến
sĩ Nguyễn Thị Lan Thanh - người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo khoa Sau Đại học - trường
Đại học Văn Hoá Hà Nội Các Thầy, Cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học Thư viện Khoá 2003 - 2006 đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Trang 11Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Th− viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng, cảm ơn các anh, chị và các bạn đồng nghiệp tại cơ quan
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt khoá học, cũng nh− trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 121.1.1 Đặc điểm về tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố
Thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01/01/1997 theo Nghị quyết của Quốc hội Nằm ở vị trí 15055’ đến 16014’ vĩ Bắc, 108018’ đến 108020’ kinh Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp biển Đông
Nằm ở vào vị trí trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam
về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; cách Thủ đô Hà Nội 764 km về phía bắc; cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía nam Ngoài ra Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là
Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng Quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng
Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myama đến các nước vùng Đông Bắc á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành
Trang 13phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
Về địa hình:
Thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy ra biển, bên cạnh đó có một số đồi núi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700-1500m, độ dốc lớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn, có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc và tỉnh Quảng Nam
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân
sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
Về khí hậu:
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và khí hậu miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng
12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa
đông, tuy nhiên không rét đậm và rét kéo dài
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25,90C, cao nhất vào các tháng 6,7,8, trung bình từ 28-300C, thấp nhất vào các tháng 12,1,2, trung bình từ 18-230C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m có nhiệt độ trung bình khoảng 200C
Trang 14Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10,11 trung bình từ 85,67 - 87,67%; thấp nhất vào các tháng 6,7, trung bình từ 76,67
- 77,33%
L−ợng m−a trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; l−ợng m−a cao nhất vào các tháng 10,11, trung bình từ 550 - 1000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1,2,3,4, trung bình từ 23 - 40 mm/tháng
Về tài nguyên:
*Tài nguyên đất: Với diện tích đất tự nhiên là 1.255,53 km2 (chủ yếu
là đất đồi núi và đảo, trong đó có huyện đảo Hoàng Sa diện tích 305 km2), thành phố có rất nhiều loại đất khác nhau: cồn cát và đất cát ven biển; đất mặn; đất phèn; đất phù sa; đất xám bạc màu và đất xám; đất đen; đất đỏ vàng;
đất mùn đỏ vàng…Trong đó quan trọng là nhóm đất phù sa ở vùng đồng bằng ven biển thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, d−ợc liệu, chăn nuôi gia súc và có kết cấu vững chắc, thuận lợi cho việc
Trang 15*Tài nguyên khoáng sản: Thành phố Đà Nẵng có nhiều loại tài
nguyên khoáng sản khác nhau như:
Cát trắng: tập trung ở Năm Ô, trữ lượng khoảng 5 triệu m3
Đá hoa cương ở Non Nước (Hiện nay đã được cấm khai thác do việc bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn)
Đá xây dựng: đây là loại khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập trung ở khu vực phía Tây, Bắc và Tây Nam thành phố
Đá phiến lợp: tập trung ở thôn Phò Nam xã Hoà Bắc, là loại đá filit màu xám đen, có thể tách thành từng tấm với kích thước (0,5 x10) x 0,5 m Trữ lượng khoảng 500.000 m3
Cát, cuội sỏi xây dựng được lấy từ lòng sông Vĩnh Điện, Tuý Loan, Sông Yên, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Đê; cuội sỏi Hoà Bắc, Hoà Liên
Đất sét: trữ lượng khoảng 38 triệu m3
Nước khoáng ở Đồng Nghệ, lưu lượng tự chảy khoảng 72 m3/ngày
Đặc biệt vùng thềm lục địa còn có nhiều triển vọng về dầu khí
*Tài nguyên nước:
Biển, bờ biển
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng trên 50 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác, do được nằm trên các tuyến
đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ Mặt khác vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu, thuyền có công suất lớn
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao
Trang 16gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loài mực và 03 loại rong biển)…với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có độ sâu từ 50 - 200 m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50 m (chiếm 31,0%), vùng nước sâu trên 200 m (chiếm 20,6%) Hằng năm có khả năng khai thác trên 150.000 - 200.000 tấn hải sản các loại
Bên cạnh đó bờ biển Đà Nẵng còn có nhiều bãi tắm đẹp như: Non Nước, Mỹ Khê, Xuân Thiều, Năm Ô,…với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi cho việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển
Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng còn đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt
Sông ngòi, ao hồ:
Đa số các sông ngòi ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc, được bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc thành phố và tỉnh Quảng Nam Có 2 con sông chính là sông Hàn, chiều dài khoảng 204 km, tổng diện tích lưu vực khoảng 5.180 km2 và sông Cu Đê (chiều dài khoảng 38km, lưu vực khoảng 426 km2) Ngoài ra trên
địa bàn thành phố còn có các sông: sông Yên, sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Tuý Loan, sông Phú Lộc,…Thành phố còn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản, với tiềm năng về diện tích mặt nước, tạo điều kiện tốt cho thành phố xây dựng thành các vùng nuôi trồng thuỷ, hải sản
*Tài nguyên rừng:
Với diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm ba loại rừng: Rừng
đặc dụng: 22.745 ha, trong đó đất rừng là 15.933 ha; Rừng phòng hộ: 20.895
ha, trong đó đất có rừng là: 17.468 ha; Rừng sản xuất : 23.508 ha, trong đó đất
có rừng là 18.176 ha
Trang 17Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh phía Tây huyện Hoà Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m3 Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và khu văn hoá lịch sử môi trường Nam Hải Vân, đây là những nơi bảo tồn và phát triển các loài động vật rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, là những bức bình phong che chắn gió bão cho thành phố
Về tổ chức hành chính:
Thành phố Đà Nẵng được chia thành 6 quận nội thành đó là: Quận Hải Châu, Quận Thanh Khê, Quận Sơn Trà, Quận Ngũ Hành Sơn, Quận Liên Chiểu, Quận Cẩm Lệ và 2 huyện ngoại thành là Huyện Hoà Vang và Huyện
Đảo Hoàng Sa
Dân số của thành phố là 764.549 người (năm 2004) Cơ cấu dân số ở nông thôn là 156.652 người, chiếm tỷ lệ 20,5%; thành thị là 607.897 người, chiếm 79,5%; nam là 369.167 người, chiếm 48,3%; nữ là 395.382 người, chiếm 51,7%; trong độ tuổi lao động là 467.860 người, chiếm 61% dân số Nguồn nhân lực dồi dào, lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao, người dân cần cù lao động, có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi, chế biến thuỷ hải sản, hoa màu, đánh bắt cá và trong một số ngành công nghiệp tiêu dùng Góp phần thực hiện Nghị quyết của Thành uỷ về chương trình 3 có “có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hoá, văn minh đô thị”, thành phố đã đang xây dựng và đi vào thực thi đề án “Giải quyết việc làm cho lao động của thành phố trong độ tuổi lao động”, nhằm cụ thể hoá các chủ trương của Thành uỷ, của Hội đồng
Trang 18Nhân dân thành phố để giải quyết hợp lý và ngày càng tốt hơn mối quan hệ cung và cầu lao động trong thị trường lao động của thành phố Đà Nẵng, hướng
đến mục tiêu mọi người dân trong độ tuổi lao động đều được hỗ trợ, tạo mọi
điều kiện, có nhiều cơ hội để có việc làm ổn định đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của thành phố
Nguồn lực kinh tế:
Trong thời kỳ đổi mới, Đà Nẵng đã tập trung huy động các nguồn vốn, cùng với sự trợ giúp của Trung ương, dồn sức chỉ đạo đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng, nâng cấp chỉnh trang đô thị và đã đi đầu trong xây dựng hệ thống hạ tầng khung của đô thị, vừa tạo cho Đà Nẵng có tốc độ phát triển kinh
tế nhanh, vừa làm thay đổi nhanh chóng cơ bản bộ mặt đô thị
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ 19 từ 19/12 đến 21/12 năm 2005 đã nêu rõ: Năm năm qua (2001-2005) Đà Nẵng đã
đạt được mức tăng GDP bình quân hàng năm 13% Đến năm 2005, tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp đã chiếm 48,2%, dịch vụ 46,1% và nông nghiệp 5,7% Thu nhập bình quân đầu người qua 5 năm tăng 2,2 lần, năm 2005 ước
đạt 1.015 USD (so với năm 2000 chỉ có 460 USD) Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20,1%/năm Tổng doanh thu tăng 7,9%/năm Kim ngạch xuất khẩu tăng 17,5%/năm Qua 5 năm đã thu hút 50 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 291,5 triệu USD, đưa tổng số dự án FDI đang hoạt động trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng lên 80 dự án với tổng vốn trên 500 triệu USD
Điểm nổi bật là tiến trình đô thị hoá ở Đà Nẵng diễn ra với tốc độ khá cao Tổng vốn đầu tư phát triển của thành phố ước đạt 23.912 tỷ đồng trong 5 năm 2001-2005, tăng bình quân 28,2%/năm Thành phố chủ chương vừa phát triển sản xuất kinh doanh vừa tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cấp và chỉnh trang đô thị để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, tăng phúc lợi công cộng và nâng cao điều kiện sống cho nhân dân Chính vì thế một diện
Trang 19mạo thành phố hiện đại đang ngày càng hiện ra rõ nét Đến nay, Đà Nẵng đã cơ bản xác định và hình thành các khu công nghiệp tập trung, khu thương mại
- dịch vụ, khu dân cư,…phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” ngày càng phát huy tác dụng trong xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh
Trong lịch sử, Đà Nẵng cùng với Hội An là cửa ngõ của một số Tôn giáo từ ngoài truyền vào, xa xưa là Phật giáo và những thế kỷ gần đây là Thiên chúa giáo và Tin lành Trong thành phố Đà Nẵng hiện nay vẫn còn một số cơ
sở tôn giáo vốn là của các làng xã cũ (chùa, chiền, ) đang tồn tại, một số cơ
sở mới được xây dựng Về Phật giáo có các chùa như: Phổ Đà, Vu Lan, Diệu Phật, Tường Quang, Từ Vân, Từ Tôn,…quy tụ số đông cư dân thành phố theo
đạo Phật
Trên đất Đà Nẵng ngoài dân tộc Kinh còn có đồng bào dân tộc KơTu sinh sống, tập trung nhiều nhất ở các xã Hoà Bắc, Hoà Tiến thuộc huyện Hoà Vang Mỗi dân tộc đều có những nét đẹp riêng về truyền thống và bản sắc văn hoá
ở Đà Nẵng có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử có giá trị văn hoá cao, tiêu biểu nhất phải kể tới là Bảo tàng Cổ Viện Chàm mang tên người sáng lập Musée de Parmentier, nằm trên vùng đất năm xưa là trung tâm của vương quốc Chămpa Rất nhiều di vật của nền văn hoá này đã được nghiên cứu, sưu tầm và trưng bày tại nơi đây Hàng năm thu hút một lượng khách thăm quan rất lớn đặc biệt là du khách nước ngoài
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tập trung tới 18 trường Đại học, Cao
đẳng, Trung học chuyên nghiệp và Công nhân kỹ thuật, hàng năm cung cấp cho thành phố cũng như cả nước một nguồn nhân lực, nhân tài dồi dào, có trình độ chuyên môn vững vàng đủ đáp ứng nhu cầu đổi mới đất nước
Mảnh đất Đà Nẵng còn là nơi nuôi dưỡng và trưởng thành của nhiều danh nhân nổi tiếng như: Lưu Trùng Dương, Bùi Minh Quốc, Ông ích Khiêm,
Trang 20Lâm Quang Thự, Hoàng Châu Ký, Phan Tứ,…Cùng với sự định hình của dân cư nông nghiệp với nghề trồng hoa màu, lúa nước, nghề biển là quá trình hội
tụ phát triển của văn hoá dân gian đa dạng và phong phú với các loại hình nghệ thuật Tuồng, Dân ca Bài chòi nổi tiếng Nơi đây còn có nhiều các lễ hội truyền thống: lễ rước Mục đồng, lễ hội Cầu ngư, lễ hội Quan thế âm, lễ hội
Đua thuyền, và các lễ hội đình làng Điều này phản ánh nét đặc sắc về truyền thống văn hoá của cộng đồng cư dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tóm lại: Có thể nói Đà Nẵng - một thành phố trẻ đang trên đà phát triển mạnh mẽ, cùng với bản tính cần cù lao động, sáng tạo, hiếu học, tinh thần
đoàn kết toàn dân một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Đó là cơ sở để phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh, phong phú mà Nghị quyết Trung ương V (khoá VIII) của Đảng đã đề ra Đồng thời vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội của thành phố một cách ổn định và bền vững
1.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến năm
2010
Với mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm kinh tế văn hoá lớn của miền Trung và cả nước, với các chức năng cơ bản là một trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ của miền Trung; là thành phố cảng, đầu mối giao thông (đường biển, đường hàng không, đường sắt, đường bộ) quan trọng về trung chuyển và vận tải trong cả nước và quốc tế; là trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính, ngân hàng; là một trong những trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục đào tạo, trung tâm khoa học công nghệ của miền Trung; Đà Nẵng còn là một trong những địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng và an ninh khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước….Đà Nẵng phải phấn đấu để trở thành một
Trang 21trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 [3]
Đảng bộ và nhân dân thành phố Đà Nẵng đã vạch ra những định hướng phát triển kinh tế xã hội chủ yếu cho thành phố như sau:
- Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị hiện đại, văn minh, có môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh, phát triển trong thế ổn định và bền vững, giữ vai trò trung tâm của miền Trung và Tây Nguyên với cơ cấu kinh tế công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, nông lâm nghiệp, trong mối quan hệ với cả nước, khu vực hành lang Đông - Tây và ASEAN
- Tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tăng tỷ trọng phát triển công nghiệp hướng mạnh vào công nghiệp chế biến, công nghiệp hàng tiêu dùng phục vụ cho xuất khẩu, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hoá chất, từng bước tăng tỷ trọng dịch
vụ và du lịch
- Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái nhằm đảm bảo
sự phát triển bền vững của thành phố, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân
- Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội Tạo nhiều việc làm cho người lao động, nâng cao trình độ dân trí Tăng cường đầu tư công cộng cho khu vực nông thôn, miền núi, vùng xa nhằm làm cho mức sống của các tầng lớp dân cư ngày càng nâng cao
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế; đa dạng hoá các loại hình sản xuất kinh doanh; phát huy nội lực, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi thông thoáng để thu hút vốn và công nghệ mới từ bên ngoài, tăng cường giao lưu kinh tế với các địa phương trong nước và quốc tế
Trang 22- Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tham mưu chính sách, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp và công nhân kỹ thuật; có chính sách phát triển sử dụng nhân tài Coi trọng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới Phát huy truyền thống văn hoá, dũng cảm, cần cù của nhân dân Đà Nẵng và hoà nhập với các thành phố lớn trong nước và khu vực
- Phát triển kinh tế xã hội bền vững gắn kết với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Một số chỉ tiêu chủ yếu
- GDP tăng 13%/năm thời kỳ 2001-2005; tăng 14%/năm thời kỳ 2010; tăng 13,5%/năm cả thời kỳ 2001-2010
2006 GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 2000 USD
- Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 21-23%/năm giai đoạn
2001-2010, đạt 1.720 triệu USD vào năm 2010
- Tốc độ phát triển dân số ở dưới mức 1,2% vào năm 2010
- Đến 2010 giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới mức 10%, số hộ
được sử dụng điện 100% và nước sạch là 95%
- Hàng năm giải quyết thêm việc làm cho khoảng 2,2 - 2,5 vạn lao động
- Cơ cấu kinh tế: Đến năm 2010 theo hướng Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp
+ Công nghiệp + Xây dựng: 46,7%
+ Dịch vụ: 50,1%
+Thuỷ sản, nông, lâm nghiệp: 3,2%
Trang 231.2 Yêu cầu và nhiệm vụ của thư viện thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới
1.2.1 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của thư viện thành phố Đà Nẵng
Tiền thân của Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng là thư viện tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, được thành lập vào ngày 2/9/1975 với sự chi viện về vốn sách và cán bộ của 2 thư viện kết nghĩa là Thanh Hoá và Hải Phòng Tổng số vốn sách ban đầu chỉ có khoảng 30.000 bản cùng với 60 tên báo, tạp chí đặt mua; số lượng cán bộ ít ỏi, chưa kịp đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; trụ sở còn tạm bợ, chật chội
Qua quá trình phấn đấu, đầu tư, xây dựng và phát triển trong gần 10 năm, thư viện được công nhận là thư viện Khoa học Tổng hợp tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vào ngày 18/10/1986
Năm 1997 sau khi tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng được chia tách thành 2 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, thư viện được mang tên Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng, với số lượng cán bộ 17 người trong đó có 11 Đại học Thư viện, 3 Đại học ngành khác và 3 Trung cấp Thư viện Vốn sách có khoảng trên 50.000 bản (Sau khi đã chia rút cho thư viện Quảng Nam); báo, tạp chí các loại 200 tên Cơ cấu tổ chức mới chỉ có hai phòng chính đó là: phòng Kỹ thuật và phòng Công tác bạn đọc, ngoài ra có thêm bộ phận Kế toán - Thủ quỹ
Từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đòi hỏi thư viện cũng phải phát triển cho ngang tầm với vóc dáng của một đô thị mới Được sự quan
Trang 24tâm của UBND thành phố Đà Nẵng, Sở Văn hoá Thông tin, Vụ Thư viện, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Đà Nẵng đã
và đang từng bước phát triển ngày một khởi sắc Đến nay số lượng cán bộ biên chế và trong chỉ tiêu biên chế của thư viện đã lên tới 23 người; vốn tài liệu khoảng trên 160.000 bản về tất cả mọi lĩnh vực tri thức; thường xuyên bổ sung gần 300 loại báo, tạp chí; phục vụ cho trên 4000 độc giả ở mọi trình độ, lứa tuổi Cơ cấu tổ chức đã quy mô hơn, hiện đại hơn với các phòng ban chính:
- xã hội chung của thành phố
1.2.2 Yêu cầu đối với thư viện thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới
Thư viện thành phố Đà Nẵng là một trong những thiết chế văn hoá quan trọng của thành phố Pháp lệnh Thư viện đã quy định: Thư viện có chức năng nhiệm vụ truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, văn hoá, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước [27, tr.7-8]
Với nguồn lực thông tin được bổ sung, phát triển trong thời gian qua, cùng với việc triển khai các hoạt động phục vụ bạn đọc một cách tích cực đã
Trang 25chứng tỏ thư viện thành phố Đà Nẵng là một trung tâm văn hoá, thông tin, giáo dục và giải trí của thành phố Vai trò của thư viện được nâng cao, thư viện thực sự là một kho tàng tri thức văn hoá nhân loại lớn nhất của thành phố, phục vụ đắc lực cho công tác học tập, nghiên cứu, góp phần thúc đẩy sự tiến
bộ về khoa học kỹ thuật, phát triển sản xuất và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn thành phố
Giai đoạn hiện nay, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VIII và Đại hội IX - Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân cả nước đang thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Với mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã định hướng phát triển kinh tế - xã hội dài hạn từ năm 2001 đến 2010, với mục tiêu là chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ Phấn đấu trở thành thành phố công nghiệp trước năm
2020 Bên cạnh đó, ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn
ra trên quy mô toàn cầu, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã đặt ra cho thư viện thành phố Đà Nẵng những yêu cầu trong giai
đoạn mới Cụ thể là:
- Thư viện thực sự trở thành một trung tâm thông tin phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của thành phố trong giai đoạn mới, đặc biệt chú trọng công tác phục vụ nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học
và kỹ thuật từ nguồn lực thông tin của thư viện vào đời sống sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá;
- Thư viện phải tăng cường những hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong thành phố, đặc biệt là những người lao động tới sử dụng thư viện Phải làm cho sách, báo và thư viện thực
Trang 26sự trở thành những người bạn thân thiết, là món ăn tinh thần không thể thiếu
được của mỗi người dân;
- Đẩy mạnh việc ứng dụng một cách hiệu quả những thành tựu của công nghệ thông tin vào công tác thư viện, nhằm mục đích chia sẻ, tăng cường nguồn lực thông tin, nâng cao chất lượng hoạt động phục vụ người dùng tin trong giai đoạn mới;
- Thư viện cần phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đẩy mạnh các mặt hoạt
động, nhằm đáp ứng đầy đủ, kip thời về nhu cầu đọc và sử dụng thông tin ngày một cao, đa dạng, phong phú và phức tạp của cán bộ và nhân dân trên địa bàn thành phố
1.2.3 Nhiệm vụ của thư viện thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn mới
Để đáp ứng những yêu cầu nêu trên, đòi hỏi thư viện Đà Nẵng cần phải thực hiện một số nhiệm vụ như sau:
- Tập trung phát triển vốn tài liệu khoa học - kỹ thuật; Chọn lọc, bổ sung phát triển vốn tài liệu đa dạng về loại hình, có chất lượng về nội dung, tạo nên nguồn lực thông tin phong phú trên cơ sở đặc thù và điều kiện của thành phố cũng như nhu cầu của người đọc; Chú trọng đặc biệt mảng tài liệu
địa chí bởi, nhóm tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quan trọng để nghiên cứu
về địa phương nhằm góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của thành phố;
- Nâng cao chất lượng phục vụ độc giả, tạo điều kiện tốt nhất cho người dùng tin khai thác nguồn lực thông tin của thư viện thành phố Đà Nẵng cũng như của tất cả các thư viện trong toàn quốc và trên thế giới, đồng thời đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền giới thiệu sách, hướng dẫn đọc, nhằm lôi kéo các tầng lớp nhân dân lao động sử dụng và khai thác tài liệu trong thư viện;
Trang 27- Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các mặt hoạt động của thư viện; Xác định tin học hoá là yếu tố quan trọng trong định hướng phát triển sự nghiệp, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện đa dạng, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Tin học phải được áp dụng một cách hiệu quả trong công tác xử lý kỹ thuật thư viện và công việc phục vụ độc giả; Xây dựng mạng LAN, nối kết với mạng thông tin toàn cầu INTERNET và xây dựng Website thư viện Đà Nẵng; Vấn đề chuẩn hoá và thống nhất về chuyên môn cần được chú trọng đặc biệt để làm cơ sở cho việc hội nhập và chia sẻ nguồn lực thông tin;
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển thư viện trong tình hình mới;
- Có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ thư viện về những kiến thức mới của khoa học chuyên ngành thư viện - thông tin, tin học tư liệu, ngoại ngữ để cán bộ thư viện có đủ tự tin đảm đương công việc trước yêu cầu
và nhiệm vụ mới;
- Tác động tích cực tới chính quyền cấp quận, huyện và cơ sở để xây dựng và phát triển từng bước vững chắc mạng lưới thư viện công cộng trên địa bàn thành phố; Phải sớm hình thành dự án xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện cơ sở; Đẩy mạnh công tác xã hội hoá thư viện;
- Đề xuất, kiến nghị với Sở Văn hoá - Thông tin, UBND thành phố để sớm có một trụ sở thư viện ổn định, khang trang
1.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin ở thư viện thành phố
Đà Nẵng
1.3.1 Đặc điểm người dùng tin
Người dùng tin là đối tượng chính của hoạt động thư viện - thông tin Mọi khâu công tác tổ chức và triển khai hoạt động của thư viện đều nhằm vào
Trang 28mục đích cuối cùng là làm thế nào để thoả mãn tối đa nhu cầu của người dùng tin Việc sử dụng thư viện của người dùng tin chính là thước đo về tính hiệu quả trong công tác tổ chức và hoạt động của thư viện Chính vì thế, nghiên cứu
đặc điểm người dùng tin là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với thư viện Đà Nẵng nhằm xác định hướng phát triển sự nghiệp, đồng thời đề
ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay, với dân số gần 800.000 người, là nơi tập trung tới 18 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật, vậy mà mới chỉ có mỗi thư viện thành phố và Trung tâm Thông tin Tư liệu thuộc trường Đại học Đà Nẵng là những nơi đáp ứng nhu cầu thông tin cho bạn đọc Trung tâm Thông tin Tư liệu chủ yếu phục
vụ cho sinh viên các chuyên ngành trong trường, nơi đây đòi hỏi bạn đọc đến phải nhất thiết có một trình độ ngoại ngữ và tin học nhất định, do đó rất nhiều người còn e ngại khi tới, vì thế số người này lại tập trung về thư viện thành phố Và cũng chỉ có thư viện thành phố là nơi lưu trữ và cung cấp tài liệu một cách đầy đủ nhất, với thủ tục đơn giản, lệ phí thư viện không cao do đó những năm qua, người dùng tin tại thư viện Đà Nẵng đã phát triển đông về số lượng,
đa dạng hơn về thành phần và trình độ cũng ngày một cao hơn
Qua thống kê các sổ đăng ký thẻ đọc, mượn cũng như cơ sở dữ liệu bạn
đọc tại thư viện Đà Nẵng đăng ký làm thẻ thư viện đến giữa năm 2006, có tổng số bạn đọc là 4880 người, trong đó người lớn là 4490 người, chiếm tỷ lệ 92,0% Bạn đọc thiếu nhi là 390 người, chiếm tỷ lệ 8,0% Có thể nói bạn đọc thiếu nhi tại thành phố Đà Nẵng cũng đã được sự quan tâm đặc biệt của thư viện Kể từ năm 2004 đến nay, được sự quan tâm và cho phép của UBND thành phố, Sở Văn hoá - Thông tin, thư viện Đà Nẵng đã thành lập phòng đọc mượn thiếu nhi riêng biệt nằm trong khuôn viên thư viện, với kinh phí đầu tư xây dựng trên 70 triệu đồng Phòng thiếu nhi tuy mới chỉ hoạt động được trong vòng hơn một năm, nhưng thư viện đã thu hút được một lượng bạn đọc
Trang 29như trên là không ít, con số này trong những năm tiếp theo sẽ còn tăng lên gấp nhiều lần Đối tượng bạn đọc thiếu nhi của thư viện là học sinh tiểu học và trung học cơ sở trên toàn thành phố Đặc điểm của bạn đọc thiếu nhi là rất năng động sáng tạo, ưa tìm tòi học hỏi, ham hiểu biết và đọc sách rất say sưa Thư viện chính là môi trường tốt để các em bổ túc thêm kiến thức ngoài nhà trường Ngoài ra thư viện còn là sân chơi, giải trí thiết thực lành mạnh cho các
em
Bảng 1.1 Bạn đọc chia theo lứa tuổi người lớn và thiếu nhi
STT Chia theo người lớn & thiếu nhi Thẻ cấp Tỷ lệ%
Đặc điểm lứa tuổi
Bảng 1.2 Bạn đọc chia theo lứa tuổi
STT Chia theo lứa tuổi Thẻ cấp Tỷ lệ%
Theo bảng thống kê Bạn đọc chia theo lứa tuổi, ta thấy: bạn đọc của
thư viện trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi có tổng cộng 3850 người, chiếm tỷ lệ
Trang 30cao nhất (85,7%); bạn đọc có độ tuổi từ 31 đến 50 tuổi là 572 người (12,7%);
độ tuổi từ 51 đến 60 tuổi là 42 người (0,9%); và trên 60 tuổi là 26 người (0,6%) Qua đây cho thấy bạn đọc của thư viện Đà Nẵng chủ yếu ở trong độ tuổi thanh niên, đối tượng này đến thư viện nhằm vào mục đích học tập, bổ sung kiến thức, nâng cao nghề nghiệp Đây chưa phải là đối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực khoa học Đối tượng trong độ tuổi từ 31 đến 50 chiếm tỷ lệ thấp hơn, nhưng thực sự là đối tượng rất khó tính trong việc chọn tìm tài liệu Đa số họ là những người có khả năng nghiên cứu chuyên sâu trong các lĩnh vực nghề nghiệp của mình Trong số họ, nhiều người là nhà quản lý, nhà khoa học của thành phố Hiện tại thư viện chưa thực sự thu hút
được đông đảo đối tượng này
Đặc điểm giới tính
Xét về giới tính, thư viện Đà Nẵng có tỷ lệ bạn đọc Nam đông hơn bạn
đọc Nữ giới, tuy nhiên tỷ lệ chênh lệch không cao Cụ thể bạn đọc là Nam giới
có tổng cộng 2275 người, chiếm tỷ lệ 50,3% và Nữ giới là 2215 người chiếm
tỷ lệ 49,3%
Chúng ta cũng biết rằng đặc điểm về tâm sinh lý của mỗi giới tính có sự khác biệt Do đó xét về góc độ nhu cầu tin và nhu cầu đọc của họ cũng có sự khác nhau Bởi thế, căn cứ vào tỷ lệ nam, nữ này mà thư viện có thể phát triển vốn tài liệu theo hướng ưu tiên hơn một chút cho bạn đọc Nam giới là cần thiết
Bảng 1.3 Bạn đọc chia theo giới tính
STT Chia theo giới tính Thẻ cấp Tỷ lệ%
Trang 31đẳng, Đại học khá cao trong tổng số bạn đọc người lớn Đối tượng này là 2660 người, chiếm tỷ lệ 59,2%; đối tượng có trình độ trên Đại học, mặc dù chiếm tỷ
lệ còn rất thấp 102 người (2,3%), nhưng thực sự là đối tượng quan trọng đòi hỏi thư viện cần phải phấn đấu đáp ứng thoả mãn về nhu cầu tin ở trình độ cao của họ; riêng đối tượng là học sinh trung học phổ thông gồm 1580 người, cũng chiếm tỷ lệ khá cao 35,2%; đối tượng còn lại là học sinh các trường trung học chuyên nghiệp có 148 người, chiếm tỷ lệ 3,3% Thư viện không có
đối tượng bạn đọc người lớn có trình độ tiểu học hay trung học cơ sở Căn cứ vào đặc điểm trình độ của bạn đọc tại thư viện Đà Nẵng cho thấy, bạn đọc của thư viện chủ yếu là giới trí thức, sinh viên và học sinh
Bảng 1.4 Bạn đọc chia theo trình độ học vấn
STT Chia theo trình độ Thẻ cấp Tỷ lệ%
Trang 32Đặc điểm nghề nghiệp
Căn cứ vào nghề nghiệp cụ thể của bạn đọc, thư viện Đà Nẵng có đối tượng bạn đọc rất đa dạng, phong phú về ngành nghề thuộc nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau trong xã hội Chung quy có thể chia bạn đọc của thư viện Đà Nẵng thành 4 nhóm nghề nghiệp chính như sau:
Nhóm 1: Là cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu khoa học và làm công tác giảng dạy
Nhóm 2: Là công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường Nhóm 3: Là sinh viên, học sinh
Nhóm 4: Là những thành phần lao động khác như: tiểu thương, thợ thủ công, các nghề tự do, hưu trí, người khiếm thị,…
Tỷ lệ tương quan giữa các nhóm nghề nghiệp trong bạn đọc được thể hiện trong bảng thống kê sau:
Bảng 1.5 Bạn đọc chia theo nhóm nghề nghiệp
STT Chia theo nghề nghiệp Thẻ cấp Tỷ lệ%
1 N Nghiên cứu, giảng dạy, quản lý 1012 22,5%
Trang 33cả các thầy, cô giáo các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Họ thuộc diện cán bộ công chức
đang công tác tại các cơ quan Nhà nước Nhóm này có tổng cộng 1012 người, chiếm tỷ lệ khá đông trong thành phần bạn đọc (trên 22%) Nhu cầu tin của họ
ở mức cao và chuyên sâu trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Việc nghiên cứu tài liệu của họ nhằm vào mục đích quản lý xã hội, chỉ
đạo sản xuất, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội, nghiên cứu
để nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường Loại hình tài liệu nhóm
đối tượng này thường sử dụng cũng hết sức đa dạng và phong phú Họ cần đến sách, tài liệu tra cứu, tài liệu địa chí và các tạp chí chuyên ngành Về ngôn ngữ, ngoài tài liệu tiếng Việt, họ còn có nhu cầu nghiên cứu các tài liệu chính văn bằng tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh, tiếng Pháp Tuy nhiên ở khía cạnh này thư viện thường chưa đáp ứng được Nhìn chung để thoả mãn cho nhu cầu tin của nhóm 1 là một trong những vấn đề đang đặt ra cho thư viện Đà Nẵng
Nhóm 2 là những người công nhân, kỹ thuật viên Trong đối tượng này
có 406 người đăng ký sử dụng thư viện Họ chủ yếu tìm đọc các tài liệu kỹ thuật nhằm nâng cao tay nghề Bên cạnh đó, nhu cầu tìm đọc tài liệu văn học nghệ thuật với mục đích giải trí của họ cũng khá cao Trong số nhóm 2 này có nhiều người đang theo học các lớp đại học tại chức trong và ngoài thành phố,
do đó họ có nhu cầu tham khảo các tài liệu chuyên sâu thuộc lĩnh vực nghề nghiệp của mình
Nhóm 3: Bao gồm các bạn đọc là sinh viên thuộc các trường Đại học
Đà Nẵng, Đại học Duy Tân và tất cả các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố, học sinh các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và trung học phổ thông của thành phố Tổng cộng có 2896 người đăng ký làm thẻ thư viện, chiếm tỷ lệ 64,5%, là lực lượng đông đảo nhất trong thành phần bạn đọc của
Trang 34thư viện Tất cả các sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo học thêm để
mở rộng kiến thức ngoài chương trình chính khoá được nhóm bạn đọc này quan tâm nhiều nhất Với xu thế phát triển chung của xã hội, nhóm 3 cũng là nhóm có nhu cầu về tài liệu tin học và ngoại ngữ cao nhất, năng động nhất Nhóm bạn đọc này rất chăm chỉ, cần cù, gắn bó với thư viện Một cuộc phỏng vấn được thực hiện đối với đối tượng thuộc nhóm này (là sinh viên Đại học Đà
Nẵng và Đại học Duy Tân) “Tại sao các em thường đến thư viện đọc tài
liệu?” đã nhận được câu trả lời “Bọn em thường xuyên đến thư viện là để trau dồi thêm kiến thức Vì nếu chỉ có kiến thức tiếp thu được từ trong nhà trường thì sau này ra trường sẽ rất khó xin được việc làm” Điều này có thể khẳng
định rằng, bối cảnh của xã hội hiện nay đã có ảnh hưởng và tác động rất lớn
đối với nhu cầu tin của nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên Thư viện không thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của bạn đọc, nhưng cũng cần đặc biệt quan tâm đối với nhóm đối tượng này
Nhóm 4 là các thành phần lao động khác của xã hội như tiểu thương, nghề may, nội trợ, thợ thủ công, cán bộ hưu trí, người khiếm thị,…Nhóm này chiếm tỷ lệ thấp trong thành phần bạn đọc của thư viện Phần lớn nhu cầu của
họ là các tác phẩm văn học, sách lịch sử, địa lý Ngoài ra, các tài liệu về nghệ thuật sống, đối nhân xử thế, kỹ thuật nấu ăn, sách dạy khéo tay,… cũng được
họ quan tâm Đến với thư viện, rất ít khi nhóm này không được thoả mãn nhu cầu
Nói chung, việc phân chia các nhóm bạn đọc nêu trên chỉ là tương đối Qua phân tích cho thấy, hầu hết bạn đọc của thư viện Đà Nẵng là lực lượng cán bộ công chức Nhà nước và sinh viên, học sinh Ngoại trừ bạn đọc thiếu nhi, số còn lại đều có trình độ học vấn khá cao Trong khi đó, bạn đọc thuộc diện nông dân hầu như không có và những thành phần khác chiếm tỷ lệ thấp
Đây chính là cơ sở để thư viện đi sâu nghiên cứu, phân tích nắm vững đặc
Trang 35điểm của người dùng tin, từ đó có những giải pháp thích hợp để thu hút nhiều thành phần bạn đọc đến với thư viện, và trên cơ sở phân chia các nhóm bạn
đọc sẽ triển khai các hoạt động thích hợp, phát triển nguồn lực thông tin phù hợp và tổ chức phục vụ có phân biệt, có như vậy thư viện mới từng bước nâng cao được chất lượng hoạt động, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai
đoạn mới
1.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin
Ngày nay thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người, thông tin được sử dụng để làm tăng chất lượng các quyết định quản lý trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội…Với cơ quan thư viện - thông tin, nhu cầu tin của người dùng tin là yếu tố định hướng cho việc xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin để từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện
Nhu cầu tin là những đòi hỏi khách quan về thông tin của con người đối với việc tiếp nhận, sử dụng thông tin nhằm duy trì các hoạt động trong môi trường xã hội Nước ta trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nền kinh tế của nước nhà đã có những bước chuyển biến tích cực, đời sống văn hoá tinh thần được nâng cao, đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân được cải thiện Bởi vậy, nhu cầu về tinh thần, nhu cầu
về thông tin ngày nay luôn được đề cao trong xã hội Nhu cầu tin của bạn đọc tại thư viện Đà Nẵng cũng nằm trong hệ quả chung đó, có nghĩa là nhu cầu tin của người dùng tin ở đây cao hơn, rộng hơn và sâu sắc hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước đây
Để đi sâu nghiên cứu nhu cầu tin của bạn đọc tại thư viện thành phố Đà Nẵng, luận văn đã sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, thống kê, phân tích phiếu yêu cầu và có sử dụng thêm cả phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Trang 36Các nhóm đối tượng bạn đọc tại thư viện Đà Nẵng được lựa chọn để gửi phiếu điều tra nhu cầu tin tương ứng với giới tính và các nhóm nghề nghiệp trong thành phần bạn đọc nêu trên Tổng số phiếu điều tra phát ra là 300 phiếu, kết quả thu lại đã nhận đủ 300 phiếu trả lời, đạt 100% Trong đó nam là
156 phiếu, chiếm tỷ lệ 52%; nữ là 144 phiếu, chiếm tỷ lệ 48% (gần tương ứng với tỷ lệ nam - nữ trong thành phần bạn đọc: Nam 50,7% - Nữ 49,3%) Phiếu
điều tra gửi theo tỷ lệ nhóm nghề nghiệp như sau: nhóm cán bộ quản lý, cán
bộ nghiên cứu khoa học và làm công tác giảng dạy 61 phiếu, chiếm tỷ lệ 20,3%; nhóm công nhân 33 phiếu, chiếm tỷ lệ 11%; nhóm sinh viên - học sinh
194 phiếu, chiếm tỷ lệ 64,7%; nhóm ngành nghề khác 12 phiếu, chiếm tỷ lệ 4% (tương ứng trong thành phần bạn đọc của thư viện chia theo nghề nghiệp là: 22,5%; 9,0%; 64,5%; 4,0%)
Các đối tượng đến với thư viện Đà Nẵng ngày càng đa dạng, phong phú Nhu cầu nghiên cứu tài liệu, sử dụng thông tin của họ có mục đích chính là bổ sung kiến thức cho nghề nghiệp Bởi vậy, nhu cầu luôn có chiều hướng phát triển cao và bền vững Đọc sách đã trở thành một hoạt động không thể thiếu
được trong cuộc sống hàng ngày của họ Kết quả điều tra hoạt động bạn đọc
thường tham gia cho thấy 83,0% bạn đọc dành thời gian rảnh rỗi để đọc
sách, tham khảo tài liệu Ngoài hoạt động đọc sách chỉ có một số ít dành thời gian rỗi cho các hoạt động thể thao (25,0%), du lịch (10,0%)
Bảng 1.6 Hoạt động bạn đọc thường tham gia
Nội dung câu hỏi
đã được trả lời
Tổng số
Nghề nghiệp NC- QL-
GD
Công nhân
SV- HS Khác
SPTL Tỷlệ
% SPTL Tỷ lệ
% SPTL Tỷ lệ
% SPTL Tỷ lệ
% SPTL Tỷ lệ
Trang 37Khác 67 22,3 18 29,5 3 9,1 41 21,1 5 41,7
Bạn đọc của thư viện thành phố Đà Nẵng dành thời gian đáng kể cho việc đọc sách và nghiên cứu tư liệu Đọc sách đã trở thành một nhu cầu thiết
yếu và thói quen của họ Qua kết quả điều tra thời gian đọc sách và nghiên
cứu tư liệu của bạn đọc cho thấy: bạn đọc dành thời gian từ 1-2 giờ mỗi ngày
cho việc đọc sách chiếm tỷ lệ cao nhất 31,7%, đó là nhóm nghiên cứu giảng dạy, công nhân, sinh viên - học sinh Nhóm bạn đọc dành thời gian từ 2-3 giờ mỗi ngày đứng ở vị trí thứ 2, chiếm tỷ lệ 24,7% Số bạn đọc sử dụng tài liệu không thường xuyên chỉ chiếm tỷ lệ 8,3%, và dưới 1 tiếng là 8,7%
Như vậy có thể khẳng định rằng nhu cầu tin của bạn đọc tại thư viện Đà Nẵng là khá cao, vấn đề làm thế nào để thoả mãn được nhu cầu này phụ thuộc
rất lớn vào khả năng đáp ứng của thư viện
Bảng 1.7 Thời gian đọc sách và nghiên cứu tư liệu
Nội dung câu
SV-HS Khác
SPTL Tỷlệ
Từ 1-2 tiếng 95 31,7 28 46,0 24 72,7 41 21,1 2 16,7
Từ 2-3 tiếng 74 24,7 11 18,0 1 3,0 58 29,9 4 33,3
Từ 3-4 tiếng 52 17,3 9 14,8 0 0,0 41 21,1 2 16,7 Trên 4 tiếng 28 9,3 4 6,6 0 0,0 23 11,9 1 8,3
Qua điều tra cũng cho thấy, nơi bạn đọc thường xuyên lui tới đọc sách báo, nghiên cứu tư liệu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng chủ yếu là tại thư viện Đà Nẵng, chiếm tỷ lệ tới 99,7% Thực tế cho thấy ngoài đối tượng là sinh viên Đại học Đà Nẵng có Trung tâm Thông tin Tư liệu của trường ra, còn lại các nhóm đối tượng khác hầu như chưa có một thư viện hoặc một trung
Trang 38tâm thông tin tư liệu nào khác có điều kiện tốt để thu hút họ Từ thực tế khách quan này đòi hỏi thư viện Đà Nẵng cần phải tính đến trong định hướng phát triển sự nghiệp Về lĩnh vực khoa học bạn đọc quan tâm, có thể thấy rằng hầu hết các lĩnh vực tri thức bạn đọc đều có nhu cầu Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là sách văn học nghệ thuật (59,3%), khoa học tự nhiên (50,7%), khoa học xã hội (47,7%) Các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, kinh tế, nghiên cứu tài liệu
địa chí chiếm tỷ lệ thấp (KHKT: 27,3%; Kinh tế: 22,0%; Tài liệu địa chí: 21,7%) Riêng lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp nhất 11,3% Từ thực tế này cho thấy, thư viện Đà Nẵng hiện nay chưa thu hút được đông đảo thành phần bạn đọc là cán bộ kỹ thuật thuộc lĩnh vực nông nghiệp, và thành phần bạn đọc là nông dân, mặc dù Đà Nẵng vẫn là một thành phố có thế mạnh kinh
tế về nông - lâm - ngư nghiệp, với dân số sống ở ngoại thành không ít
Qua tỷ lệ trên cũng phản ánh rõ nét về thành phần bạn đọc của thư viện hiện nay, đối tượng sinh viên học sinh chiếm tỷ lệ cao nhất, chính vì thế sự quan tâm về tài liệu thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc học tập chiếm tỷ lệ khá cao Ngược lại, vì thư viện không có đối tượng bạn đọc là nông dân nên sự quan tâm đối với lĩnh vực nông nghiệp rất thấp cũng là lẽ đương nhiên
Xét về góc độ giới tính, qua số liệu điều tra cho thấy sự quan tâm đến các lĩnh vực khoa học cũng có sự khác nhau đáng kể Đối với lĩnh vực khoa học kỹ thuật có 50,6% giới nam quan tâm, nhưng đối với nữ giới chỉ có 15,9% quan tâm nghiên cứu Có 62,8% nam giới quan tâm đến khoa học tự nhiên, trong khi đó nữ giới chỉ chiếm tỷ lệ 44,4% Sự quan tâm về lĩnh vực văn học nghệ thuật, nữ chiếm tỷ lệ rất cao 72,9%, còn nam giới chiếm tỷ lệ 46,8% Một số lĩnh vực còn lại thì cả hai giới đều có sự quan tâm gần như nhau
Trang 39Yếu tố nghề nghiệp của bạn đọc tại th− viện cũng có thể xem là yếu tố chính, chi phối đến sự quan tâm nghiên cứu tài liệu của họ Điều này thể hiện
rõ qua bảng thống kê sau (bảng 1.8)
% SPTL Tỷ lệ
% SPTL Tỷ lệ
% SPTL Tỷ lệ
Nhu cầu đọc của bạn đọc th− viện Đà Nẵng bị chi phối, thay đổi theo trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính và lứa tuổi của họ Qua bảng thống kê
số liệu: Lĩnh vực khoa học bạn đọc quan tâm, cho thấy bạn đọc thuộc nhóm
nghề nghiệp làm công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy không những có nhu cầu về các tài liệu thuộc chuyên ngành của mình mà còn có sự quan tâm tới nhiều các lĩnh vực khác Đây là nhóm bạn đọc có trình độ cao Họ có nhu cầu lớn đối với các lĩnh vực khoa học tự nhiên 47,5%; khoa học kỹ thuật 42,6%; khoa học xã hội 59% và văn học nghệ thuật 65,6% Nhu cầu nghiên cứu của
họ nhằm mục đích phục vụ cho công tác lãnh đạo, quản lý xã hội, nghiên cứu
Trang 40ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất và đời sống xã hội, vào công tác giảng dạy
Đối tượng là công nhân cũng có nhu cầu đối với nhiều lĩnh vực khoa học, tuy nhiên sự quan tâm của họ không phải là vấn đề bức thiết và cũng là
đối tượng tìm đến thư viện với mục đích giải trí chiếm tỷ lệ cao 72,7%
Đối tượng là sinh viên - học sinh chủ yếu quan tâm đến tài liệu thuộc các lĩnh vực: khoa học tự nhiên: 54,6%; văn học nghệ thuật: 54,1%; khoa học xã hội: 46,4% và các lĩnh vực khác có liên quan có thể bổ trợ kiến thức cho chuyên ngành học của họ
Nhóm nghề nghiệp khác bao gồm các bác hưu trí, tiểu thương, ngành nghề tự do, người khiếm thị, …qua điều tra cho thấy họ tìm đến thư viện chủ yếu với mục đích giải trí Họ là nhóm nghề nghiệp quan tâm đến tài liệu thuộc lĩnh vực văn học nghệ thuật cao nhất, chiếm tỷ lệ 75%, các lĩnh vực khoa học
kỹ thuật, kinh tế hầu như không được họ quan tâm
Về loại hình tài liệu, phần lớn bạn đọc thích nghiên cứu, tìm thông tin qua sách, chiếm 81,7% Tuy nhiên bạn đọc cũng quan tâm nhiều đến những thông tin được đăng trên báo (46,7%) và tạp chí (33,7%) Các tài liệu điện tử như: băng, đĩa từ, các cơ sở dữ liệu, và thông tin trên mạng Internet bạn đọc thư viện Đà Nẵng cũng đã bước đầu được tiếp cận và đã xuất hiện nhu cầu Tuy nhiên vì đây là dạng tài liệu đặc biệt được đọc bằng những phương tiện hiện đại do đó nhu cầu còn chưa cao, chủ yếu tập trung ở giới sinh viên - học sinh (11%) và cán bộ nghiên cứu, quản lý giảng dạy (23%) Tương lai cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin thì thư viện cũng cần phải tính đến khả năng đáp ứng nhu cầu về loại hình tài liệu này
Bảng 1.9 Loại hình tài liệu bạn đọc sử dụng