BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI ĐỖ LINH GIANG LỄ HỘI CÁC NGÔI CHÙA LIÊN QUAN ĐẾN TỪ ĐẠO HẠNH Ở VÙNG LÁNG HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
ĐỖ LINH GIANG
LỄ HỘI CÁC NGÔI CHÙA LIÊN QUAN ĐẾN TỪ
ĐẠO HẠNH Ở VÙNG LÁNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI – 2009
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN
ĐẾN TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI 9
1.1 Khái quát về vùng đất Láng 9
1.1.1.Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Láng 9
1.1.2.Những đặc trưng văn hóa vùng Láng 12
1.2.Thần tích thánh Từ Đạo Hạnh 16
1.3.Khái quát các di tích thờ Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội 24
1.3.1.Chùa Láng 24
1.3.2.Chùa Nền 29
1.3.3.Chùa Hoa Lăng 32
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA LỄ HỘI CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI 36
2.1 Lễ hội các di tích thờ Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội 36
2.1.1 Lịch lễ hội 37
2.1.2 Chuẩn bị lễ hội 38
2.1.3 Diễn trình lễ hội 40
2.1.3.1 Các nghi lễ chính trong lễ hội 41
2.1.3.2 Các trò diễn dân gian 51
2.2 Những giá trị văn hoá của lễ hội các di tích liên quan đến Thánh Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội 61
2.2.1.Giá trị cố kết cộng đồng 62
2.2.2.Giá trị hướng về cội nguồn 63
2.2.3.Giá trị cân bằng đời sống tâm linh 65
2.2.4.Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hoá 66
2.2.5.Giá trị bảo tồn làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc 67
Trang 32.3 Các lớp văn hóa tích hợp trong lễ hội tại các di tích liên quan
Thánh Từ Đạo Hạnh ……… 68
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG LỄ HỘI VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN, QUẢN LÝ, KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN TỪ ĐẠO HẠNH Ở HÀ NỘI 76
3.1 Vai trò của lễ hội các di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội với đời sống cư dân làng Láng xưa và nay 76
3.2.Thực trạng lễ hội các di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội 80
3.2.1.Công tác chuẩn bị lễ hội 81
3.2.2.Trình tự lễ hội 82
3.3.Một số vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội 87
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 105
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống, mang tính cộng đồng sâu sắc, là đỉnh cao của sự hoà hợp, đoàn kết vì một ước nguyện, mong cầu sự phồn vinh trong cộng đồng
Có những lễ hội được tổ chức thường niên, cũng có những vùng, lễ hội
tổ chức theo chu kỳ 3 năm, 5 năm hoặc những năm “phong đăng hoà cốc” , nhưng đều có chung một đặc điểm: Mỗi lần mở hội là một lần người dân được
“tạm gác” lại những vất vả, nhọc nhằn của cuộc sống, quên đi nhữnh trắc trở, rủi ro của một xã hội nông nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào “ông Trời”, để bước vào một không khí tràn ngập màu sắc, âm thanh, ánh sáng… nhất nhất đều huy hoàng, tráng lệ
Tham dự lễ hội, con người được bày tỏ lòng thành kính với thần linh, những vị anh hùng mà họ luôn tôn thờ và ngưỡng vọng Đây cũng là dịp con người trần thế được giao lưu với giới siêu hình thông qua lễ tế thần Bên cạnh
đó, lễ hội nào cũng gắn với những trò chơi dân gian mang tính cộng đồng và giải trí cao, gần gũi với đời sống của những cư dân nông nghiệp Sau mỗi dịp làng mở hội, người dân như được tiếp thêm sinh khí để quay về tiếp tục với công việc đồng áng nặng nhọc, một nắng hai sương Với những ý nghĩa quan trọng ấy, có ý kiến cho rằng: lễ hội là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là phương thức để thoả mãn tâm linh, điều hoà cuộc sống con người Vì thế, tìm hiểu về lễ hội là một phương thức để tiếp cận đời sống văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi tộc người
Thăng Long – Hà Nội, vùng đất địa linh nhân kiệt, trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của cả nước, thì sinh hoạt lễ hội càng trở nên phong phú và mang nhiều đặc điểm đáng lưu ý hơn
Trang 5Trải qua những thăng trầm của lịch sử, sự tàn phá của chiến tranh, nhiều
lễ hội bị gián đoạn Song, với sức sống tiềm tàng mãnh liệt, vùng đất kinh đô ngàn năm văn hiến này vẫn lưu giữ được trong lòng nó nhiều giá trị văn hoá tiêu biểu và đặc sắc, trong đó một phần quan trọng tồn tại trong các lễ hội cổ truyền Đây thực sự là những di sản văn hoá hết sức quý giá và cần thiết trong công cuộc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra Gần đây, nhiều lễ hội đã được khôi phục, trở thành một nét đẹp trong văn hoá của Việt Nam
Nhắc tới lễ hội cổ truyền Thăng Long không thể không nhắc tới lễ hội Láng (trong đó bao gồm cả chùa Láng, chùa Nền, chùa Hoa Lăng) - vốn được coi là hội lớn và hấp dẫn nhất phía tây thành Thăng Long Đây là những di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh - một vị Thánh được thờ phụng khá nhiều nơi
ở vùng châu thổ Bắc Bộ Bởi vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị văn hóa ẩn chứa trong các lễ hội của các di tích này không chỉ giúp ta bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Thủ đô mà còn góp phần, xây dựng hình ảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến – là một hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Đông Đô - Hà Nội Với những lý
do ấy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giá trị lịch sử - văn hoá của lễ hội tại các di
tích liên quan đến Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Văn
hoá học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” là một công trình khá công phu, tập hợp bài viết của nhiều nhà nghiên cứu về các lễ hội tiêu biểu của 3 miền Bắc, Trung, Nam; trong đó, hội Láng được nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc giới thiệu khá đầy đủ dù có phần sơ lược Trong bài viết, tác giả chủ yếu
Trang 6đề cập đến thần tích của Thánh Từ Đạo Hạnh và trò diễn “đấu thần” - trò diễn tiêu biểu nhất trong hội Láng [29, tr.628 - 639]
Nằm trong hệ thống các di tích liên quan tới Thánh Từ Đạo Hạnh ở Hà nội có chùa Láng là một trong số ít các ngôi chùa cổ kính nhất của Thăng Long đã được khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
Cuốn: Lịch sử cách mạng phường Láng Thượng [ 25, tr.34-45] giới thiệu
về chùa Láng với những cảnh đẹp của thiên nhiên, các di vật đặc sắc, tiêu biểu đã mất hoặc hiện vẫn đang lưu giữ tại chùa, đặc biệt các đạo sắc phong qua các thời kỳ Cuốn sách cũng đề cập tới hội Láng với vị trí là một trong những lễ hội lớn nhất của thành Thăng Long
Trong công trình Di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Hà Nội [2,
tr.370-373], giới thiệu một cách khái quát về chùa với những thông tin như : tên gọi, niên đại, sự tích, đối tượng thờ qui mô kiến trúc và vai trò của chùa
Láng đối với nhân dân trong vùng Còn cuốn Tuyển tập văn bia Hà Nội lại
chủ yếu đề cập tới văn bia Chiêu Thiền tự tạo lệ bi, trong đó miêu tả khung cảnh ngôi chùa như một trong những thắng cảnh đẹp bậc nhất của kinh thành Thăng Long [54, tr.58-61]
Trong Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Tiến về Di tích chùa Thầy [
48, tr.51-55] cũng đề cập tới chùa Láng, song chỉ dừng ở tư cách là một ngôi chùa phối thờ Thiền sư Đạo Hạnh với chùa Thầy và là một trong những ngôi chùa thuộc dạng “ tiền Phật hậu Thánh”
Tác giả Nguyễn Huy Quang với Luận án Thạc sĩ Văn hoá học: Chùa Láng,
những giá trị văn hoá nghệ thuật cũng đã đi sâu tìm hiểu về các giá trị văn hóa vật
thể của chùa Trong luận văn, tác giả đã tập trung nghiên cứu về qui mô kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc gỗ và hệ thống các di vật có giá trị của chùa như: chuông,
Trang 7tượng thờ…Đồng thời, tác giả cũng giới thiệu về lễ hội chùa Láng xưa – một hoạt động văn hóa có ý nghĩa trong đời sống cư dân làng Láng
Các ngôi chùa còn lại trong hệ thống di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh tại Hà Nội như: chùa Nền, chùa Hoa Lăng cũng được đề cập đến trong một vài cuốn sách, nhưng chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu Các thông tin trong bộ hồ sơ công nhận di tích lưu tại Ban Quản lý Di tích danh thắng Hà Nội từ năm 1962 lại quá sơ lược Riêng chùa Hoa Lăng chưa được xếp hạng di tích nên không có hồ sơ lý lịch, các thông tin rời rạc, ít được đề cập
Năm 2007, sinh viên Lã Hồng Phương (Khoa Bảo tàng) cũng chọn đề
tài “Lễ hội các di tích liên quan đến Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội” làm đề tài
khoá luận của mình Tuy nhiên, với khuôn khổ và yêu cầu của một khoá luận tốt nghiệp ngành Bảo tồn – Bảo tàng nên tác giả mới dừng lại ở việc thống kê, mô tả lại diễn trình của lễ hội tại các di tích đơn lẻ mà chưa nhìn nhận được tính tổng thể trong lễ hội, chưa đưa ra những đánh giá về giá trị lịch sử - văn hoá, vai trò của lễ hội này trong xã hội hiện nay
Như vậy, dù đã có những bài viết nghiên cứu về các ngôi chùa liên quan tới Từ Đạo Hạnh tại Hà Nội nói chung, đến lễ hội Láng nói riêng, song hầu hết mới dừng ở mức miêu thuật lại Tuy vậy , đây là nền tảng cơ bản , tạo
cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo Kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, tác giả luận văn đi sâu nghiên cứu nhằm hệ thống hoá một cách đầy đủ các lễ hội thuộc hệ thống di tích này, mối quan hệ giữa chúng và đánh giá những giá trị văn hoá của các lễ hội đối với đời sống cộng đồng làng Láng nói riêng và của của cả nước nói chung (đặc biệt những địa phương có thờ Thánh Từ Đạo Hạnh)
Trang 8- Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội trong đời sống cộng đồng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào nghiên cứu di tích và lễ hội chùa Láng, chùa Nền, chùa Hoa Lăng
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian:
Tập trung nghiên cứu các di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh ở vùng Láng (Hà Nội) Ngoài ra, để có thêm tư liệu so sánh, luận văn mở rộng phạm
vi nghiên cứu đến lễ hội của một số di tích thờ Từ Đạo Hạnh ở châu thổ Bắc
Bộ như: chùa Thầy ( Quốc Oai - Hà Nội), chùa Ông (Văn Lâm- Hưng Yên) +Về thời gian:
*Đối với các di tích: luận văn nghiên cứu quá trình hình thành và tồn tại cho tới nay với tư cách là địa điểm diễn ra lễ hội
Trang 9* Đối với lễ hội: Tập trung nghiên cứu lễ hội xưa (trước năm 1945) và lễ hội ngày nay (2009) để có cái nhìn toàn diện về lễ hội xưa và nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; lý luận văn hoá chủ nghĩa Mác - Lênin trong nghiên cứu lễ hội cụm di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh tại làng Láng
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành bao gồm:
+ Phương pháp nghiên cứu văn hoá dân gian, văn hoá học, Mỹ thuật học, Dân tộc học
+ Phương pháp điền dã điều tra xã hội học, kết hợp với khảo sát thực địa, chụp ảnh - ghi hình và phỏng vấn trực tiếp nhằm kiểm tra, đánh giá chính xác những thông tin thu thập được
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa trên những thông tin đã có, qua điều tra, khai thác kết hợp với những công trình nghiên cứu đi trước để có một cái nhìn tổng thể về diễn tiến của lễ hội, vai trò ý nghĩa của lễ hội và di tích, đồng thời đối chiếu, so sánh và phân tích để đưa ra những kết luận cuối cùng cho Luận văn
6 Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu toàn diện về lễ hội của những di tích có liên quan tới
Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội (cũ)
- Xác định mối liên quan chặt chẽ giữa lễ hội của các di tích trên
- Bóc tách các lớp văn hóa tích hợp trong thần tích Thánh Từ Đạo Hạnh
và trong các lễ hội có liên quan đến ông
Trang 10- Khẳng định vị trí và ảnh hưởng của lễ hội những di tích thờ Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội đối với đời sống dân cư vùng Láng Từ đó góp phần làm sáng
tỏ giá trị của những lễ hội cổ truyền Thăng Long và tín ngưỡng thờ Thánh ở Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về các di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội
Chương 2: Lễ hội các di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội Chương 3: Thực trạng lễ hội và vấn đề bảo tồn, quản lý và khai thác giá trị văn hoá lễ hội của các di tích liên quan Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN TỪ ĐẠO HẠNH
Ở HÀ NỘI
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT LÁNG
Những di tích liên quan trực tiếp tới Thánh Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội
cũ đều thuộc vùng Láng xưa Láng là tên nôm của làng Yên Lãng - một vùng đất ngoại vi của kinh thành Thăng Long xưa Có lẽ bởi vì vị trí địa lý này nên bên cạnh những đặc trưng văn hoá của xứ kinh kỳ, vùng đất này còn mang những giá trị văn hoá riêng biệt, độc đáo Những nét văn hóa đó
đã góp phần hình thành một vùng văn hoá quan trọng của đất Thăng Long ngàn năm văn hiến – vùng đất Láng
có khu vực lòng sông rộng nối với sông Tô Lịch
Đầu đời Lê sơ, phường Vườn Tỏi thuộc huyện Quảng Đức, phủ Trung
Đô, sau đổi là phủ Phụng Thiên Sau này, khi thu hẹp phạm vi thành Thăng Long chỉ còn 36 phường, thì làng Láng được cắt thuộc về huyện Thanh Trì,
xứ Sơn Nam, đổi gọi là xã Các tấm bia của chùa Càn An (phố Nam Đồng)
dựng năm Vĩnh Tộ thứ ba (1621) hay tấm bia của chùa Láng dựng năm Thịnh
Trang 12Đức thứ tư (1656) đều ghi làng Láng thuộc huyện Thanh Trì Ca dao xưa còn lưu truyền câu nói:
Kể qua một huyện Thanh Trì Mọc làm hàng sáo, Láng thì trồng rau…
Năm Bảo Thái thứ tư (1723), vua Lê Dụ Tông định lại bản đồ trong nước, nên có thể vào thời này, xã Yên Lãng tách ra khỏi huyện Thanh Trì về thuộc huyện Quảng Đức - phủ Phụng Thiên - kinh thành Thăng Long và đổi
tên là Yên Lãng trại (thời kỳ này, kinh thành chỉ có các đơn vị hành chính cơ
sở là phường, thôn, trại) Tên gọi này còn được lưu giữ tại chùa Láng: trong bản Luận tích viết năm Vĩnh Hựu thứ ba đời vua Lê Ỷ Tông (1737) ghi rõ trại
Yên Lãng thuộc huyện Quảng Đức, kinh thành Thăng Long Đến năm Gia Long thứ tư (1805), nhà Nguyễn đổi tên huyện Quảng Đức thành Vĩnh Thuận, phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, Yên Lãng thành một xã thuộc tổng Hạ
- huyện Vĩnh Thuận - phủ Hoài Đức Năm 1831, vua Minh Mệnh lập tỉnh Hà Nội, Yên Lãng thuộc phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Nội
Trong Bản đồ thành Hà Nội vẽ năm 1831, khu vực Yên Lãng không còn
có hồ (có thể do quá trình bồi lấp và tiêu nước), chỉ còn sông Kim Ngưu, cửa sông ở giáp Cầu Giấy khá rộng Diện tích đất canh tác của vùng được mở rộng, việc đi lại quan hệ với các phường, trại có phần thuận lợi hơn
Năm 1899, thực dân Pháp thu hẹp phạm vi thành phố Hà Nội, Yên Lãng không thuộc phạm vi nội thành mà chuyển sang khu vực ngoại thành thuộc tổng An Hạ - huyện Hoàn Long - tỉnh Hà Đông Cuối năm 1942, thành phố
Hà Nội được mở rộng, Yên Lãng cùng các làng thuộc huyện Hoàn Long được cắt thuộc về Đại lý đặc biệt Hà Nội (khu vực ngoại thành) cho đến tháng 8 năm 1945
Trang 13Từ khi chính quyền cách mạng được thành lập, xã Yên Lãng thuộc ngoại thành Hà Nội Ngày 2-5-1946, khi ngoại thành Hà Nội được chia ra thành 5 khu, Yên Lãng thuộc khu Đống Đa cho đến khi làng bị thực dân Pháp chiếm đóng
Trong thời kỳ bị Pháp chiếm, Yên Lãng thuộc quận Cầu Giấy, đại lý Hoàn Long Hà Nội nhưng từ 1947 đến 5-1948, thuộc quận 4 (Trấn Tây), từ 15-7-1948, thuộc quận 5 Đống Đa Khoảng giữa năm 1949, liên xã Yên Thịnh ( bao gồm Yên Lãng, Thành Công, Giảng Võ và Thịnh Quang thuộc quận 5) được thành lập Đến cuối năm 1949, Yên Lãng lại thuộc miền E quận ngoại thành Hà Nội
Sau khi Thủ đô được giải phóng, từ tháng 1954 đến tháng
10-1955 vẫn giữ nguyên ba đơn vị thôn như thời gian địch chiếm, thuộc quận Cầu Giấy, ngoại thành Hà Nội Tháng 10-1955, đội cải cách ruộng đất về thành lập xã Thống Nhất gồm ba làng Láng và các làng: Thịnh Quang, Thành Công, Ngọc Khánh, Giảng Võ, Hào Nam Sau cải cách ruộng đất, ba thôn được tách ra khỏi xã Thống Nhất, lập ra xã Trung Thành thuộc quận 6, từ năm 1961, thuộc huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội Đến ngày 28-8-1965, Bộ Nội vụ quyết định xã Trung Thành trở lại tên cũ là xã Yên Lãng, thuộc huyện Từ Liêm
Tháng 4-1973, Yên Lãng được cắt về nội thành thuộc khu phố Đống
Đa Thời gian đầu là khối dân phố Yên Lãng, đến tháng 4-1974, tách ra thành hai tiểu khu là Yên Lãng và tập thể Đến tháng 4-1976, sắp xếp lại, các tiểu khu Yên Lãng và tập thể Yên Lãng được sát nhập thành tiểu khu Yên Lãng Ngày 17-1-1979, các khu phố nội thành tổ chức lại, tiểu khu Yên Lãng được tách ra thành hai tiểu khu Láng Thượng và Láng Hạ, vẫn thuộc khu phố Đống Đa
Trang 14Ngày 10-6-1981, Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định phân cấp quản lý cho cấp quận và phường Làng Yên Lãng xưa nay bao gồm ba phường: Láng Thượng, Láng Hạ, Láng Trung thuộc địa bàn quản lý hành chính của quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội Địa giới phía Bắc giáp đường Giảng Võ; phía Tây là đoạn sông Tô Lịch từ Cầu Giấy đến Ngã Tư Sở; phía Đông giáp Hoàng Cầu và Nam Đồng; phía Nam giáp Thịnh Quang
Trước đây, Yên Lãng là một vùng nông nghiệp trồng rau nổi tiếng của Hà Nội Những xóm dân cư thưa thớt ở xen lẫn bãi trồng rau kéo dài 4km Người dân sinh sống với nghề nghiệp chính là canh tác trên các ruộng rau Cuối thế kỷ XIX, dân cư trong vùng khoảng 2226 nhân khẩu [58,tr 1057] Ngày nay, đây là khu vực trung tâm của quận Đống Đa, tập trung đông dân cư, trường học (Đại học Ngoại Thương, Đại học Ngoại Giao….), phố xá tấp nập, buôn bán sầm uất Dân cư từ khắp các vùng trên cả nước về đây sinh sống lập nghiệp Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp nhường chỗ cho nhà dân sinh xây dựng san sát nhau Theo chủ trương của Nhà nước về
dự án xây dựng mở rộng đường Láng những năm tới đây, diện tích đất nông nghiệp còn lại sẽ được chuyển đổi mục đích sử dụng, Yên Lãng xưa
sẽ trở thành trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của quận Đống Đa
1.1.2 Những đặc trưng văn hoá vùng Láng
Láng là một vùng đất lịch sử văn hóa lâu đời của Thủ đô Hà Nội Làng Yên Lãng xưa trải dài bên cạnh sông Tô Lịch - con sông nằm ở phía Đông tỉnh thành Hà Nội.Qua các bản đồ Thăng Long và tỉnh thành Hà Nội
ta có thể thấy rõ dòng sông Tô Lịch là tuyến giao thông huyết mạch của kinh thành Thăng Long Đi dọc theo sông Tô Lịch, thuyền bè có thể vào tận trong các khu phố cổ Do sự thông thương dễ dàng, nên sự giao lưu về
Trang 15kinh tế, văn hoá giữa Yên Lãng với nội thành và các vùng lân cận sản xuất đặc sản và nghề thủ công cổ truyền có nhiều thuận lợi
Làng Láng nổi tiếng với nghề trồng rau gia vị từ lâu đời Sử cũ còn ghi lại: từ năm Đại Trị thứ năm (1362) vua Trần Dụ Tông có chính sách đưa gia nô ra làng Láng khai khẩn đất đai trên bờ sông Tô Lịch trồng rau, hành, tỏi để tiêu dùng trong cung cấm, (nhân thế nên đặt tên là phường Vườn Tỏi) Về sau, nghề trồng rau gia vị không chỉ phát triển ở Láng mà còn có ở nhiều phường trại khác gần đấy như: Thịnh Hào, Xã Đàn, Hào Nam… Ca dao cổ còn lưu giữ một bài khá dài về các loại rau được trồng trên vùng đất Láng này:
Ở đâu mà chẳng biết ta
Ta ở kẻ Láng vốn nhà trồng rau Rau thơm, rau húng, rau mùi Thìa là, cải cúc, húng dồi, hành hoa Mồng tơi, rau ghém, ớt, cà
Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên Quang song tám dẻ cho bền Chọn người lịch sự gánh lên Kinh kỳ…
Tuy trồng được rất nhiều thứ rau, nhưng húng và hành hoa vẫn là nổi
tiếng nhất Húng Láng là thứ rau thơm ngon nổi tiếng không nơi nào có được Cha ông ta xưa kia đã đúc kết rằng:
Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn…
hoặc:
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây
Trang 16Húng Láng được sánh ngang hàng với rất nhiều đặc sản của nhiều vùng trong kinh thành nói riêng, cũng như của các địa phương trong cả nước Húng Láng có nhiều loại: húng thơm ăn với rau sống, húng dũi, húng dổi ăn với thịt chó, lòng lợn, tiết canh….nhưng đặc sắc và ngon nhất là loại húng thơm, màu tía sẫm, ngọn nhỏ Loại húng này có mùi, vị thơm đặc biệt
mà không có nơi nào sánh được
Ngoài rau húng , đặc sản làng Láng còn có hành hoa (khác với hành củ ở chỗ khi hành già, có hoa rồi có hạt) Hành ở đây nhỏ cây, nhỏ củ nhưng ăn rất thơm Từ xưa, nhiều địa phương vẫn đến làng Láng mua hạt hành về để gieo nhưng hương vị của hành Láng vẫn rất riêng, rất đặc trưng mà không vùng nào
có được
Bên cạnh đó, người làng Láng còn trồng ray mùi, rau diếp, thìa là… Tất cả các loại rau đều được chăm sóc vô cùng khéo léo và cẩn trọng: Rau mùi chỉ 40 ngày một lứa, gieo hạt rồi phải làm lều, che nắng, che mưa Rau diếp trồng nửa tháng rồi tỉa lá gốc, sau đó cứ 5 ngày lại có thể tỉa được, thu hoạch trong 3 tháng thì cây ra hoa Rau diếp làng Láng lá dài dùng để cuốn tôm, ăn cùng với nhiều món đặc sản ngày Tết Hà Hội xưa cũng như nay Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn và có tài nấu nướng, vì thế, với những món ăn không thể thiếu các loại rau gia vị, họ luôn cố gắng kén chọn cho được các loại rau được trồng ở Láng Có ý kiến cho rằng: Nếu trong các món sào, canh cá nấu dấm, nấu baba hoặc nem, chả rán… Mà thiếu mất hành, húng, thìa là, tía tô… của làng Láng thì các món ấy, dù nấu ngon đến đâu cũng kém hẳn hương vị
Nghề trồng rau gia vị ở Láng đòi hỏi người nông dân không chỉ cần cù sớm tối mà đó còn là cả một “nghệ thuật”: Từ khâu làm đất sao cho nhỏ, mịn, ra luống, gieo hạt, trồng ngọn… phải đảm bảo thời vụ nghiêm ngặt
Trang 17Việc chăm bón cũng phải đúng quy cách, phù hợp với từng loại rau Đặc biệt, quá trình thu hoạch phải đúng thời điểm, quy cách thu hoạch, bó cặp… cũng đòi hỏi nhiều sự công phu
Láng xưa còn có một đặc sản khác là cà pháo Cà ở đây quả trái xoan, cùi dầy, ít ruột, thơm, giòn Người Hà Nội có câu:
Dưa La, cà Láng, nem Bắng, tương Bần…
Láng còn có một số gia đình làm thuốc cao cổ truyền, chuyên chữa các bệnh lao xương,lao hạch, một số bệnh ngoại khoa khác Nghề này đã
có từ rất lâu đời, đến thế kỷ XIX, có cụ lang Ngọc tay nghề nổi tiếng đất
Hà Thành
Ngoài ra, làng Láng từ lâu đời còn nổi tiếng với truyền thống thượng
võ, trong các dịp hội làng đều có đấu võ, đấu vật Trai làng không mấy người là không biết võ, đã có nhiều người giành được các giải thưởng trong các kỳ thi đấu vật (trước Cách mạng Tháng Tám) như: Cụ Lãnh Giang, ông Toàn, ông Trai, ông Soạn…
Vùng đất Láng có nhiều di tích lịch sử gắn liền với các danh nhân, phong tục tập quán, có giá trị lịch sử văn hóa lâu đời Ba thôn trước đây của làng đều có chùa và đền riêng biệt: Láng Thượng có chùa Láng, chùa Thưa, chùa Nền; Láng Trung có đền Ngọ, đền Mắt Rồng; Láng Hạ có đền Đại, chùa Mứng, đền Ứng Thiên
Lâu đời nhất là đền Ứng Thiên được xây dựng từ 1070 đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072) Di tích có mối quan hệ gắn bó với các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê: Hàng năm nhà Lý đều về cúng tế Đến đời Trần, một năm có hạn lớn, vua Trần Anh Tông (1293-1314) ra thăm đền làm lễ cầu đảo rồi gia phong cho thần là Ứng thiên Hậu thổ phu nhân (Vị nữ thần giúp dân cấy cầy thuận hoà) Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII), có ông
Trang 18họ Nguyễn ở thôn Hạ đúc một tượng đồng nặng 200 kg vị thần Hậu thổ để thay thế cho tượng gỗ, nhưng sau dân rước tượng đồng lên chùa Mứng để phụng thờ
Đây là vùng đất lịch sử, vừa là nơi “ chôn nhau, cắt rốn” vừa là nơi ghi những dấu ấn lịch sử của Thánh Từ Đạo Hạnh - một vị thiền sư nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam Những di tích lịch sử nổi tiếng như : Chùa Nền ( tên chữ là Đản Thánh Cơ) được xây dựng trên nền ngôi nhà nơi Thánh ra đời, thờ hai vị Từ Vinh và Tăng Thị Loan – thân phụ và thân mẫu Thánh Từ Đạo Hạnh Chùa Láng (tên chữ là Chiêu Thiền Tự), xây dựng dưới thời vua Lý Anh Tông (1138-1175), là một di tích lịch sử và thắng cảnh nổi tiếng ở đất kinh thành Thăng Long
Ngoài ra, còn rất nhiều các di tích lịch sử văn hóa có giá trị nằm trên vùng đất này góp phần xây dựng giá trị lịch sử văn hóa của vùng đất Láng – vùng đất lịch sử lâu đời của Thủ đô Hà Nội
1.2 THẦN TÍCH THÁNH TỪ ĐẠO HẠNH
Sách Việt Điện U Linh (do Đinh Gia Khánh – Trịnh Đình Dư dịch và chú
thích) còn ghi lại thần tích của Thánh Từ Đạo Hạnh như sau:
Đạo Hạnh họ Từ, tên là Lộ, cha tên là Vinh theo học đạo Phật, làm chức Đô sát ngạch tăng quan đời Lý, thường đến chơi làng An Lão (làng Láng
- Hà Nội bây giờ), lấy người con gái họ Tăng tên là Loan, dựng nhà ở xóm Nam làng ấy Nhà ở được kiểu đất quý, sinh ra được Từ Đạo Hạnh có khí cốt tiên phật, lúc còn trẻ hay chơi bời phóng túng, nhưng chí lớn, cách cử động ít người ít người lường biết
Đạo Hạnh thường kết bạn với nhà Nho tên là Phi Sinh, một đạo sỹ tên
là Lê Toàn Nghĩa và một người đàn hát tên là Phan Ất, đêm chăm chỉ đọc sách, ngày thì đánh cầu, thổi sáo, đánh bạc làm vui, thường bị cha mắng là du
Trang 19đãng Một đêm, cha lẻn ra dòm trong buồng, thấy bên ngọn lửa đèn, sách vở
la liệt, Đạo Hạnh ngồi dựa án ngủ, tay vẫn cầm quyển sách Từ đấy biết con chăm học, cha không lấy làm lo Sau Đạo Hạnh thi khoa Bạch Liên đỗ thứ nhất, nhưng không chịu ra làm quan, chỉ ngày đêm nghĩ cách phục thù cho cha Nguyên trước đây, cha dùng pháp thuật vào nhà ông Diên Thành Hầu Nhà Hầu có vị Pháp sư tên là Đại Điên dùng bùa trấn áp, giết chết vứt xác xuống sông Tô Lịch, xác trôi đến cầu Tây Dương nhà Hầu dừng lại ở đấy, suốt ngày không trôi đi Hầu sợ, báo cho Đại Điên biết Đến tới nơi nói to lên rằng "Người tu hành không được giận mãn kiếp, nên biết sống: sống chỉ là một trường đùa bỡn, chết mới thành đạo Bồ đề!" Nói dứt lời cái xác liền trôi
đi, đến xứ Hàm Rồng thuộc làng Nhâm Mục thì dừng lại Người làng thấy thiêng mới dựng lăng, miếu và đắp tượng để thờ, hàng năm cứ đến ngày Mồng 10 tháng Giêng là ngày giỗ, tại đền có tế lễ Còn mẹ, sau mất mai táng tại chùa Ba Lăng ở xã Thương An, chùa Ba Lăng nay tức chùa Hoa Lăng, thờ hai vị thánh phụ và thánh mẫu Đạo Hạnh ở nhà thờ tự cha mẹ lúc nào cũng nghĩ đến phục thù mà chưa có kế gì Một hôm rình Đại Điên ra đường, Đạo Hạnh toan dùng phép thuật cầm gậy xông đến đánh, chợt nghe trên không có tiếng hét: "Không được, thôi ngay đi!" Đạo Hạnh liền bỏ gậy trở về, trong lòng buồn bực đau xót, định sang Ấn Độ ở Tây Thiên học cho được thuật lạ
về đánh Đại Điên Đạo Hạnh bền cùng với Minh Không và Giác Hải đến nước Sỉ Man, thấy đường hiểm trở, nên định quay về Bỗng thấy một cụ già chèo chiếc thuyền nhỏ, ba người đến hỏi cụ rằng:
- Thưa cụ, đây sang Tây Thiên còn xa không?
Cụ già đáp:
- Đường núi hiểm hóc, đi bộ không được, tôi có chiếc thuyền này có thể chở giúp các ông sang, lại có cái gậy cho các ông cầm, cứ chỉ thằng về phía Tây sẽ đến ngay
Trang 20Nói xong cụ già đọc câu kệ rằng:
Đạo lý đương nhiên lộ cộng hành
Đa công viễn học, chí thành danh Uông dương vạn phái, hà lao thiệp Chỉ nhật Hoàng giang đổ Thánh sinh
Đọc dứt câu kệ, trông ra đã thấy thuyền ghé bến Tây Thiên, phép thần thông thật là linh thiêng lắm vậy Đạo Hạnh ở giữ thuyền, Giác Hải, Minh Không lên bờ học được phép thiêng, hai người liền trở về trước Đạo Hạnh giữ thuyền liền ba ngày, không thấy tin tức hai bạn tự nhiên bỗng thấy một bà
cụ đi đến, Đạo Hạnh vái chào, rồi hỏi:
- Cụ có thấy hai người mới lên học đạo không?
Bà cụ nói:
- Hai người đó đã học được nhiều phép thiêng của ta trở về nước rồi! Đạo Hạnh bèn vái lậy và kể cho bà cụ biết: ba người cùng đi học đạo, thật đáng buồn mà hai bạn nỡ bỏ mình về trước! Bà cụ nghe xong, liền sai Đạo Hạnh gánh hai thùng nước về nhà, rồi cụ dạy cho mọi phép thiêng, lại trao cho phép rút đất và lời thần chú Đà ni Đạo Hạnh giận hai bạn phụ mình, mới đọc một câu thần chú, Minh Không và Giác Hải đang đi đường, bị đau bụng quá, phải ngồi nghỉ Đạo Hạnh dùng phép rút đất, tiến về phía trước, ẩn trong bụi rậm ở xã Ngải Cẩu thuộc huyện Từ Liêm hóa hình làm con hổ gào thét xông ra coi rất ghê sợ Hai người bèn nhìn nhau lấy làm kinh lạ Bề ngoài tuy lấy làm lạ nhưng vì nhờ có phép thuật sáng suốt phân biệt thực hư, biết ngay là Đạo Hạnh hóa hình, mới ngồi nói rằng:
- Ngươi muốn biết kiếp sau, ta sẽ nói cho mà nghe!
Đạo Hạnh nghe nói tỉnh ngộ, liền hiện nguyên hình và bảo với hai bạn rằng:
Trang 21- Chúng ta cùng học đạo đức Thế Tôn, nhưng tôi còn vướng trần duyên, sau này sẽ ra thế gian ở ngôi nhân chủ, lúc ấy sẽ không tránh khỏi bệnh nạn, các anh có duyên với ta, xin cứu cho
Thế rồi bỏ mối giận cũ, ba người cùng truyền phép thuật: xuống nước, lên không; bắt hổ, bắt rồng, hổ phải hàng phục, xuất quỷ nhập thần không ai lường được Đạo Hạnh được nhường làm anh cả, rồi đến Minh Không, còn Giác Hải là em thứ ba Chỗ gặp nhau ấy nay gọi là cầu Báo
Minh Không, Giác Hải về chùa Giao Thủy, Đạo Hạnh thì lên tu luyện ở chùa Thiên Phúc, thuộc huyện Thạch Thất, Sơn Tây Trước chùa có hai cây thông cổ, người ta gọi là cây "Rồng" Đạo Hạnh hằng ngày trông vào cây đọc chú "Đại bi tâm Đà ni la", đọc tới vạn lần, cây thông rơi dần từng cành, rồi cả hai cây đều mất hết, biết rằng đức Quan Thế Âm đã ứng hộ, Đạo Hạnh càng gia tâm tụng kinh đọc chú, cầu cho thấu đến Thiên đường Một hôm thấy một
vị thần đến trước mặt, đứng lơ lửng không sát đất, Đạo Hạnh hỏi:
- Ngươi không nhớ việc trước à ?
Đạo Hạnh trông lên không, chẳng thấy gì, mới đánh chết Đại Điên, đem xác quẳng xuống sông Tô Lịch để trả thù trước
Trang 22Thù trả xong, mối tục lụy đã lắng, Đạo Hạnh mới đi chơi khắp các nơi rừng sâu để cầu ấn quyết Nghe có Cao tăng Trí Huyền ở Thái Bình tu rất đắc đạo, mới thân thiết yết kiến, hỏi về "chân tâm", đọc câu kệ rằng:
Cửu hỗn phàm trần vị thức câm Bất tri hà xứ thị chân tâm Nguyện thùy chỉ đích khai phương tiện Liễu kiến như như, đoạn khổ tầm
Trí Huyền cũng đọc mấy câu kệ đáp:
Bí huyền trân truyền trị vạn câm
Cá trung mãn mục lộ thiền tâm
Hà sa cảnh giới ưng hưu thoại Bất tất Bồ Đề cách vạn tầm
Đạo Hạnh chưa hiểu được rõ, mới sang chùa Pháp Vân hỏi sư Sùng Phạm:
- Thế nào là chân tâm?
Phạm đáp:
- Cái gì chẳng là chân tâm!
Đạo Hạnh nghe hiểu luôn, mới trở về chùa Thiên Phúc, huyện Thạch Thất tu đạo và luyện phép như trước Đạo Hạnh càng ngày càng cao, khiến được các chi, các chú đến đầy trước mặt để sai bảo Dân ở quanh vùng đấy hễ
có bệnh tật đến xin bùa dấu đều được khỏi luôn; lấy đạo giúp mọi người, mọi người đều được nhờ ơn
Bấy giờ vua Lý Nhân Tông (1072-1127) không có con trai, cầu tự mãi cũng không được Em Nhân Tông là Sùng Hiền Hầu, bèn mời Đạo Hạnhđến nhà cầu tự cho mình, để sau còn mình sẽ được lập thành thái tử Đạo Hạnh xin đầu thai để tạ ơn Bấy giờ Sùng Hiền Hầu phu nhân đang tắm trong
Trang 23phòng, bỗng thấy Đạo Hạnh hiện hình trong thùng nước, phu nhân kinh hãi nói với Hầu, Hầu đã biết ý mật bảo phu nhân rằng:
- Thấy hình ở trong thùng nước tức là chân nhân đã nhập vào thai rồi Thế rồi phu nhân có mang, Đạo Hạnh khi từ biệt ra về có dặn răng:
- Đến ngày phu nhân sinh đẻ, xin báo cho biết ngay
Đến ngày sinh, phu nhân khó đẻ, Sùng Hiền Hầu nói: "phải kịp báo cho cao tăng biết"
Đạo Hạnh được ti, họp các đồ đệ bảo rằng:
- Ta chưa hết nhân duyên với đời lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian, khi nào chết lại về làm chủ "Tam thập tam thiên" nếu thấy chân thân của ta nát hết, bấy giờ ta mới vào cõi "bất sinh, bất diệt"
Các đồ đệ đều cảm tiếc, ứa nước mắt khóc, Đạo Hạnh đọc kệ rằng:
Thu lai bất đáo nhạn lai quy
Dị sử nhân gian động phát bị
Vị báo môn nhân lưu luyến trước
Cổ sư kỷ độ tác kim sư
Đọc xong, lên động đập đầu vào vách đá, nện chân lên bàn đá rồi hóa Nay vết đầu và vết chân trên đá vẫn còn in
Đạo Hạnh hóa ngày mồng Bảy tháng Ba năm Hội Tường Đại Khánh thứ ba (1112), thác sinh con trai Sùng Hiền Hầu, sinh ra rất chóng lớn, rất thông minh, người đẹp và có tài Vua Lý Nhân Tông đem vào cung nuôi dạy, rồi lập làm Hoàng thái tử Đến khi Nhân Tông mất, thái tử lên nối ngôi tức là vua Thần Tông
Năm Bính Thìn (1136), Thần Tông đã 21 tuổi phát bệnh, mình mọc đầy lông biến như hình con hổ Các danh sư trong nước đến chữa rất nhiều, bệnh
Trang 24vẫn không khỏi Minh Không và Giác Hải nghe tin biết là đúng với lời trước, liền đặt ra câu ca dao cho trẻ con hát: " Muốn chữa Lý Cửu Trùng, phải tìm Nguyễn Minh Không " Câu hát truyền đi, triều định nghe được , mới sai xứ đền chùa Giao Thủy đón Minh Không về kinh đô chữa bệnh Minh Không và Giác Hải thổi một niêu cơm rất nhỏ mời quan quân ăn Quan quân rất đông người mà mãi không sao ăn hết Đoạn, Minh Không và Giác Hải cùng với sứ giả xuống thuyền Minh Không bảo quan quân hãy nằm nghỉ, đợi gần sáng nước triều lên sẽ cho thuyền đi Ai nấy đều yên giấc, hai sư dùng phép làm cho thuyền không cần chèo lái mà đi nhẹ như tên, chốc lát đã đến kinh đô, hai
sư đánh thức mọi người dậy thì trông lên đã thấy tháp Báo Thiên rồi! Mọi người đều rất kính phục
Sứ giả mời sư vào trong điện, các sư trong nước ngồi đó rất đông, thấy hai sư hình dáng cục mịch, ăn mặc cũ kỹ nên coi thường, không ai đứng dậy Hai sư bèn lấy một cái thanh sắt ở trong túi ra, dài ước 5 tấc đóng lên cột trong cung điện, lấy tay vỗ lên cái đinh cắm rất sâu vào gỗ Hai sư dõng dạc cất tiếng nói:
- Ai nhổ được cái đinh này mới chữa được bệnh cho vua!
Mọi người bèn lần lượt dùng hết sức nhổ đinh không được Minh Không dùng hai ngón tay bàn tay bên trái nhổ đinh ra dễ như chơi Bấy giờ ai nấy đều phục Minh Không có phép lạ
Minh Không sai lấy một cái vạc to, đổ 12 cân dầu và bỏ 100 cái đinh vào vạc, sai lấy một cành cây hòe, rồi xin rước vua ra chỗ đó Minh Không nhường cho Giác Hải đốt lửa đun vạc, lửa cháy rất mạnh, dầu sôi lên sùng sục Minh Không nhúng tay vào trong vạc dầu lấy đủ 100 cái đinh ra Giác Hải nhường Minh Không làm phép, Minh Không lấy cành hòe nhúng xuống dầu, vẩy khắp mình vua rồi nói lớn lên rằng:
Trang 25- Đã làm đến Thiên tử sao lại còn có bệnh thế?
Dầu vẩy đến đâu, lông trên mình vua biến đi đến đấy, vuốt ở chân tay cũng rụng đi, bệnh vua liền khỏi, thân thể lại tươi đẹp và khoan khoái như trước
Sau khi vua mất, chùa Thiên Phúc hiện lên khí thiêng lạ thường, ai trông thấy cũng kinh sợ Địa phương tâu lên, vua Anh Tông (con vua Thần Tông) liền sai sứ lên tế, tôn phong làm "Thượng đẳng tối linh thần"
Khi Đạo Hạnh hóa, xác còn ở trong động, trả qua hàng tháng vẫn thơm tho, người làng lấy làm lạ để vào trong khám để thờ Đến thời Vĩnh Lạc (1403-1424) nhà Minh, quân Minh sang ta, đến chỗ này thấy mùi hương thơm, tìm đến trong khám thấy chân thân một vị đạo nhân, nét mặt tươi như lúc còn sống Người Minh cho là "Tiên" mới rước sang chùa Hương Sơn làm phép hỏa táng Lửa đốt đến bảy ngày vẫn không cháy đến "chân thân", người Minh định bỏ, đêm mộng thấy người đến bảo
- Chân thân ta trải qua đời Lý tới nay không nát, phép thiêng không phải là ngẫu nhiên Nay các ngươi muốn hỏa táng, phải lấy gỗ rào mộ mà đốt thì mới được
Người Minh làm theo như thế, quả nhiên đốt cháy, bèn nhặt lấy tro đắp thành tượng, để vào am thờ ở bên tả chùa Thiên Phúc
Trong thời Quang Thuận (1460-1469) đời vua Lê Thánh Tông Trường Lạc hoàng hậu sai Thái úy Trịnh quốc công (Nguyễn Đức Trịnh) lên động chùa Thiên Phúc cầu tự, khi làm lễ, có một phiến đá ở ngoài động bay vào, Trịnh quốc công mang về trình cho hoàng hậu Ít lâu sau, hoàng hậu mộng thấy rồng vàng bay vào bên sườn, rồi có mang sinh ra vua Lê Hiến Tông Nhân thế mới dựng am "Hiển Thụy" ở chùa Thiên Phúc, có khắc bia để ghi
Trang 26Từ đó chùa càng nổi tiếng, nhà nước và dân gian cầu đảo việc gì cũng được linh ứng, tới nay, hương khói không lúc nào dứt
1.3 KHÁI QUÁT CÁC DI TÍCH LIÊN QUAN ĐẾN TỪ ĐẠO HẠNH Ở
HÀ NỘI
Di tích liên quan đến Thánh Từ Đạo Hạnh được phổ biến ở khá nhiều địa phương vùng châu thổ Bắc Bộ Tại Hà Nội, có ba di tích liên quan trực tiếp đến ông là Chùa Láng, chùa Nền, chùa Hoa Lăng
1.3.1 Chùa Láng
Chùa Láng là tên gọi theo địa danh của làng, tên chữ của chùa là Chiêu
Thiền Tự (Chiêu là điểm tốt rõ rệt, đây là nơi sinh ra đại Thánh nên gọi là Thiền, Chiêu Thiền có nghĩa là ánh sáng của Phật pháp) Hiện nay, chùa thuộc
phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Theo thư tịch và truyền thuyết dân gian, chùa Láng được xây dựng từ thời Vua Lý Anh Tông (1138-1175) Đây là một trong những thắng cảnh đẹp nhất kinh thành và là nơi các vị Vua thường xuyên lui tới để tụng kinh, niệm Phật Đến đời nhà Trần, trải qua ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông, chùa Láng đã bị hư hỏng nặng Có lẽ, đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc hiện nay, chùa Láng không còn lưu giữ được dấu vết nào của thời Lý -Trần Trong quá trình tồn tại, chùa Láng có rất nhiều lần trùng tu lớn như: Năm 1658, nhà chùa cùng với nhân dân dưới sự giúp đỡ của triều đình đã tô lại tượng vua Lý Thần Tông và sư Từ Đạo Hạnh, đồng thời sửa lại hai nếp nhà ngang Năm 1666, tất cả các hoành phi, câu đối, cuốn thư, cửa võng đều được sơn son thếp vàng lại, đồng thời thay các cột trong Thượng điện từ gỗ mít bằng gỗ lim và tô lại các tượng trong chùa Năm Thành Thái thứ 13 (1901), chùa được tu sửa 9 gian hậu đường cho cao ráo, rộng rãi để làm nơi thờ cúng Các vì kèo và các mảng chạm khắc hỏng đều được thay lại và đảo lại
Trang 27ngói hai dãy hành lang đặt tượng La Hán, xây nhà chuông, nhà khánh, tô lại tượng, sửa lại vườn tháp, trùng tu lại hai động Thập điện Diêm vương
Diện mạo ngày nay của chùa Láng là kết quả của lần trùng tu di tích khoảng giữa thế kỷ XIX, tạo nên một quy mô to lớn theo kiểu “Nội công ngoại quốc” như hiện nay
Chùa toạ lạc trên một khu đất rộng, khác cách biệt với khu cư trú của dân làng Chùa nằm theo hướng Nam trông ra sông Tô Lịch Về toàn cảnh, di tích được chia thành hai phần rõ rệt: Khu vườn rộng phía trước,
và quần thể kiến trúc tập trung ở phía sau Tính từ ngoài vào, các kiến trúc bộ phận của chùa bao gồm: Ba lớp cổng nằm trên đường gạch lớn dẫn vào sân chùa, giữa sân là nhà bát giác, hai bên có hai dãy dải vũ song song, liền phía sau là nhà tiền đường, trung đường, thiêu hương và thượng điện Hai bên nhà thượng điện có hai dãy hành lang, phía sau có nhà chuông, nhà khánh và khu thờ Tổ, thờ Mẫu, khu vườn tháp nằm hơi chếch
về phía sau của chùa
Toàn bộ kiến trúc của chùa được xây dựng theo chiều sâu, tạo nên một
bố cục thoáng đãng nhưng hết sức chặt chẽ và hợp lý:
Lớp cổng ngoài cùng có quy mô lớn do bốn cột trụ biểu tạo thành, đều
có mặt cắt hình vuông Ở hai đỉnh của hai cột chính là hai bình nước thiêng, bốn góc bên dưới trang trí nổi hình bốn mặt hổ phù Hai cột nhỏ hai bên đắp đôi nghê đang hướng mặt vào nhau Giữa các cột là cửa vào, trên cửa là hệ thống mái che theo kiểu 4 lá mái với các đầu đao uốn cong Từ hai cột trụ nhỏ, hệ thống tường bao được kéo về hai phía tạo ra sự ngăn cách không gian trong và ngoài chùa Trên hai bức tường này, sát với cột nhỏ đắp dạng phù điêu hai tượng voi quỳ, đầu hướng về cửa chính
Trang 28Lớp thứ hai là một nếp nhà ngang ba gian xây theo kiểu tường đầu hồi bít đốc, hai đầu trước và sau của hồi xây trụ biểu cao ngang diềm mái thượng Mái theo kiểu hai tầng bốn mái, phần cổ diêm được để trống mặt sau, phía trước đắp nổi các hình tích xưa: Lã Vọng câu cá, bát bửu
Cửa trong cùng được bố trí dàn trải theo chiều ngang của khu vườn, cửa chính được tạo ta từ hai trụ biểu, hai trụ bên xây dựng vòm dạng hai tầng tám mái Các góc mái tạo thành những đao cong, bờ nóc đắp nổi hai đầu rồng chầu vào bình Cam lồ Trên cửa diềm của hữu môn trang trí tiên đánh cờ, hữu môn trang trí hình nhà, lân, người
Hai bên sân có nhà dải vũ nằm song song Mỗi dãy gồm 9 gian hẹp, xây kiểu tường hồi bít đốc, có kết cấu đơn giản, các vì đều thống nhất theo kiểu
"vì kèo quá giang" Các kết cấu kiến trúc để trơn, không trang trí hoa văn Trước đây, giữa sân gạch là một bệ đá to dùng cho ngày lễ hội, nay nhân dân đã dựng trên nền đó một ngôi nhà bát giác Toà nhà này được xây gạch, tám cạnh đều nhau với hai tầng 16 mái Tám mái trên có hình tam giác thu nhỏ dần lên đỉnh Trên nóc mái đắp hình bốn con chim phượng chụm đuôi vào nhau hình trái dành Sát cổ diêm là những hình con hạc, lân, nghê xếp thành từng cặp Đỡ các mái trên là hệ thống con rường được chồng khít lên nhau, đỡ các mái dưới có kết cấu chồng rường và cốn hiên Cả hai kết cấu này đặt trên một thanh xà to, một đầu gắn sâu vào tường, đầu kia nằm trên cột hiên Trang trí trên kiến trúc này khá đậm đặc, tuy nhiên đề tài chủ yếu gồm có: Rồng, mây, mai, điểu, tùng, lộc, rồng quấn thuỷ, sóng nước Các hoa văn được thực hiện bằng kỹ thuật chạm nổi, bố cục tập trung, phủ kín bề mặt các bức cốn
Tiền đường là một tòa nhà lớn có 9 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai với hai tầng mái lợp ngói có kích thước lớn, dày, mũi hất cao kiểu mũi
Trang 29hài Phần cổ diêm được xây tường bao kín, mặt trước chia thành các ô để đắp nổi các hình: Lã Vọng câu cá, mai điểu, tứ linh, tứ quý, bát bửu Bộ khung nhà có kích thước lớn, đỡ mái thượng là 10 bộ vì nóc được kết cấu theo kiểu
“chồng rường giá chiêng” Đỡ mái dưới là những kẻ cong dài một đầu ăn mộng qua cột hiên, đầu kia nằm trong tường bao
Trang trí trên bộ khung tòa Tiền đường khá phong phú và đa dạng: Các đầu dư được chạm rồng; các con rường chạm nổi văn lá cách điệu cùng những cụm mây; cốn nách trang trí hổ phù, long mã, thân kẻ thể hiện hình rồng, mây, chim, phượng đang bay; đầu kẻ trang trí tứ linh, tứ quý Tiền đường có nền cao hơn khoảng 50 cm so với mặt sân, dưới thềm bậc cửa của gian giữa đặt đôi rồng lớn đang hướng mặt vào trong, mặt trước là hệ thống cửa bức bàn, phía sau để trống thông với tòa Trung đường
Tương tự như Tiền đường, Trung đường được xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai và cũng có 9 gian Hai bộ vì nóc ở đầu hồi được làm theo kiểu
“chồng rường giá chiêng”, còn những bộ vì nóc gian trong lại có kết cấu kiểu
“giá chiêng, kẻ truyền” Gian giữa của nhà Trung đường bày hương án, để đồ
tự khí, các gian bên xây bệ cao sát tường hậu làm nơi đặt tượng thờ Nghệ thuật chạm khắc ở tòa này cũng tương tự như Tiền đường, chỉ có điểm khác biệt là ở gian giữa vẫn còn giữ được những mảng chạm đề tài rồng, phượng mang phong cách của thế kỷ XVII- XVIII
Thiêu hương nối Trung đường với Thượng điện, tạo cho khu thờ chính
có kết cấu hình chữ Công ( ) Thiêu hương gồm hai gian, dọc hai bên xây tường bao với ba bộ vì nóc có kết cấu đơn giản kiểu kèo cầu Giữa hai hàng cột cái đặt hương án, khám thờ, hai bên sát tường bao làm lối ra vào nhà Thượng điện Gian trong của tòa Thiêu hương là nơi đặt tượng vua Lý Thần Tông (hậu thân của Từ Đạo Hạnh) ngồi trong một chiếc khám lớn
Trang 30Thượng điện gồm ba gian, xây kiểu tường hồi bít đốc Bộ khung có kết
cấu chồng rường, các đầu dư được chạm lộng hình đầu rồng có niên đại
khoảng thế kỷ XVII Dọc theo Thiêu hương và Thượng điện có hai dãy hành lang ở hai bên Kiến trúc này có kết cấu đơn giản theo kiểu "kèo cầu quá giang", phía trước để trống, mặt sau xây tường bao
Nhà chuông, nhà khánh được xây dựng sát phía sau thượng điện Hai kiến trúc này xây bằng gạch kiểu hai tầng tám mái cong Trong nhà treo chuông cổ (ở phía Đông) và khánh cổ (ở phía Tây)
Phía sau Thượng điện là khu nhà Tổ với kết cấu hình chữ nhị ( ) gồm Tiền tế và Hậu cung Tiền tế gồm 7 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, hậu cung gồm có 3 gian được xây bằng những bệ gạch làm nơi thờ các vị sư Tổ của chùa và thờ Mẫu
Ngoài hệ thống cổng Tam quan và các nếp nhà, chùa Láng còn có khu vườn tháp, nơi đặt mộ của các nhà sư đã mất Các mộ tháp đều xây theo kiểu
ba tầng Phần kiến trúc này góp phần khẳng định cho niên đại sớm và vị trí quan trọng của di tích
Các pho tượng thờ trong Thượng điện được đặt theo thứ tự: trên cùng là
bộ Tam thế, các hàng tiếp theo là bộ Di Đà tam tôn, Thích Ca niêm hoa , tượng Từ Đạo Hạnh ở hàng thứ năm, ngồi chính giữa, bên phải là Bồ tát, bên trái là tượng Thổ địa
Chiêu Thiền tự là một ngôi chùa có quy mô bề thế và lộng lẫy Với phương thức xây dựng những ngôi nhà lớn quy hoạch tập trung trong một không gian khép kín tạo ra sự uy nghiêm choáng ngợp đối với con người Đặc biệt, lối sắp đặt này tạo ra sự hài hoà, tôn đẩy lẫn nhau và làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho kiến trúc tổng thể Bên trên các bộ khung được trang trí với mật độ dày đặc, sinh động đã làm tăng vẻ đẹp cho kiến trúc của ngôi chùa
Trang 31Chùa được xây dựng từ thời Lý bên bờ sông Tô, nơi in đậm dấu vết của nền văn hoá Thăng Long thời Lý - Trần Niên đại khởi dựng của chùa đã cho thấy đây chính là một trong số ít những di tích thời Lý hiện còn Bên cạnh đó, việc tồn tại của ngôi chùa là minh chứng quan trọng về trung tâm Phật giáo ở phía Tây thành Thăng Long trước đây
1.3.2 Chùa Nền
Chùa có tên chữ là Đản Cơ Tự (chùa Nền sinh Thánh) Di tích hiện nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa Chùa toạ lạc trên một gò đất cao nhìn ra hướng Nam với sông Tô trước mắt
Trước đây, chùa có bố cục mặt bằng theo kiểu “tiền chữ nhất hậu chữ đinh”( ) gồm Tiền đường, Trung đường và Thượng điện Ngày nay, bố cục mặt bằng của chùa đã có nhiều thay đổi là kết quả của nhiều đợt trùng tu trong lịch sử Chùa Nền ngày nay bao gồm khá nhiều đơn nguyên kiến trúc hợp lại bao gồm: Tiền đường, Trung đường, Thượng điện, Cung cấm, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà vong, tịnh xá, tả mạc, hữu mạc
Tiền đường là một nếp nhà ngang xây bằng gạch kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, phía trước của hai bức tường hồi xây vượt ra ngoài diềm mái Đầu của mỗi hồi xây trụ biểu vuông, trên đắp tượng nghê đang quay mặt vào trong sân chùa Tiền đường phía trước làm cửa bức bàn, phía sau để trống thông với Trung đường Trong lòng nhà để trống tạo không gian khá rộng rãi nhằm phục vụ cho những sinh họat của phục vụ sinh hoạt cộng đồng Bộ khung nhà Tiền đường gồm 4 bộ vì làm theo hai dạng: “chồng rường giá chiêng” ở giữa, hai bên là “thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ” Mỗi bộ vì nhà gồm bốn hàng chân cột, có kích thước nhỏ, có hình dáng kiểu “búp đòng” Bộ khung chủ yếu được bào trơn, đóng bén tạo cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát Đầu của các kẻ hiên chạm nổi các hoa văn thực vật, văn mây
Trang 32Trung đường có hai mặt trước và sau đều để trống để thông với Tiền đường và Thượng điện Hai gian hồi xây bệ gạch cao làm chỗ ngồi cho các giáp Nghệ thuật điêu khắc trong đơn nguyên kiến trúc này tập trung trên bức cốn của các bộ vì: ở các gian bên, chạm khắc một mặt hổ phù lớn phủ kín bề mặt của cốn Hổ phù được thể hiện nổi khối trên nền mây cuộn, mặt gần giống đầu rồng như vẻ dữ tợn được nhấn mạnh hơn, còn hai gian giữa chạm nổi đề tài hoa dây
Thượng điện là nếp nhà ngang, rộng lòng, nằm vuông góc nhưng có nền cao hơn tòa Trung đường Ở gian giữa đặt một hương án lớn, hai bên xây gạch cao sát tường hậu để đặt tượng thờ Trang trí kiến trúc của Thượng điện khá đơn giản, trên bộ khung nhà các con rường được chạm nổi, và chạm bong kênh với hoa văn thực vật, mây Xà hạ của gian giữa chạm khắc hai con rồng đầu hướng vào nhau Thân rồng nhẹ nhàng, miệng há, mũi hở, mắt lồi, tai to dạng tai trâu Trên bề mặt của mảng chạm này được thể hiện nổi bằng những vòng lửa, bên trong khắc chữ Hán ghi tên chùa: "Cổ Sơn Tự"
Hậu cung là gian cuối của Thượng điện nhưng ngăn cách với Thượng điện bởi hệ thống cửa bức bàn Các bộ vì cũng có kết cấu "thượng chồng rường hạ kẻ" Hai vì trong được chồng lên qua đấu kê, còn bộ vì ngoài cùng được chồng khít lên nhau tạo thành cốn rường Trên mặt ngoài của bức cốn chạm nổi một mặt hổ phù đang ngậm mặt trăng Đây là nơi đặt khám thờ bên trong có tượng thân phụ và thân mẫu của Từ Đạo Hạnh
Nhà Tổ có bố cục mặt bằng kiểu chữ Đinh ( ) với Tiền tế và Hậu cung, được xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai với các bộ vì kiểu "chồng rường giá chiêng, hạ kẻ" Phía trước nhà Tiền tế làm cửa bức bàn, mặt sau xây tường bao Hậu cung kết cấu đơn giản theo kiểu "kèo cầu quá giang" Hậu cung cũng là nơi thờ những vị sư trụ trì của chùa đã viên tịch
Trang 33Hệ thống tượng thờ của chùa Nền khá phong phú bao gồm: các tượng Phật (tượng Thích ca, tượng Thánh Tăng…), các tượng Mẫu ( tượng tam tòa Thánh Mẫu, tượng Cô, tượng Cậu ) và đặc biệt là tượng thánh Phụ, thánh Mẫu được đặt ở tư thế ngồi kiết già, hai tay đặt lên đùi, mắt nhắm hờ nhìn xuống, mũi thẳng, tai to chảy dài xuống vai Ngoài ra, chùa còn lưu giữ được nhiều di vật có giá trị khác như: khánh đồng, đỉnh đồng, bát hương…
Chùa Nền là nơi tưởng niệm hai vị thân Phụ và thân Mẫu có công sinh thành, dưỡng dục một nhà thiền sư nổi danh, có nhiều đóng góp cho nền văn hoá dân tộc Tuy chùa không có vẻ bề thế, khang trang như nhiều ngôi chùa khác, song, vượt qua không gian hạn hẹp, nó vẫn bảo lưu được nhiều giá trị
về lịch sử và nghệ thuật Chùa Nền là một tư liệu quý trong việc tìm hiểu về thiền sư Từ Đạo Hạnh và sự tồn tại của một trung tâm Phật giáo ở phía Tây của kinh thành Thăng Long thế kỷ XI-XII
1.3.3 Chùa Hoa Lăng
Chùa Hoa Lăng trước có tên là chùa Ba Lăng thuộc phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội Chùa tọa lạc trên một khu đất cao, phía trước là sông Tô, bao quanh là những vườn cây cổ thụ tạo nên khung cảnh thanh bình chốn cửa thiền tự Tương truyền, đây là nơi thánh Mẫu Tăng Thị Loan tu hành và sau khi bà mất nhân dân thờ bà luôn tại đây
Theo Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, vào thời Lý, chùa Hoa Lăng
được khởi dựng bằng tranh tre sơ sài Đầu thế kỷ XII, dưới thời vua Lý Thần Tông (1128-1138) - người được coi là kiếp sau của Từ Đạo Hạnh đã cho tạc tượng thánh Phụ và thánh Mẫu để thờ và cho xây dựng lại ngôi chùa to đẹp, kiên cố hơn Về mặt bằng tổng thể, khu chính của chùa Hoa Lăng có kết cấu hình chữ Công, nhưng bên cạnh đó còn có nhiều đơn nguyên kiến trúc khác hợp lại
Trang 34Đi từ ngoài vào là Tam quan chùa Hiện nay, Tam quan được xây dựng lại khá đơn giản, chỉ gồm 4 cột trụ biểu khá đơn giản gần giống Nghi môn của đình
Tiền đường của chùa là một kiến trúc 3 gian 2 chái, xây bằng gạch kiểu tường hồi bít đốc tay ngai Phần mái của kiến trúc được đỡ bởi 6 hàng cột, cao khoảng 3m đứng trên các chân tảng đá tròn Bộ vì nóc gian giữa có kết cấu kiểu “giá chiêng” với hai đầu của con rường được chạm hình đầu rồng mang đặc trưng phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX Bộ vì được đỡ bởi một câu đầu to, khỏe Câu đầu không chạm khắc, chỉ được bào trơn đóng bén Ở Tiền đường có tượng Đức Ông bên tay trái (tượng được phủ khăn màu đỏ), còn tượng Thánh tăng bên tay phải (được phủ khăn màu vàng)
Nằm phía sau và vuông góc với Tiền đường là toà Thiêu hương Toà nhà này nối Tiền đường với Thượng điện, tạo cho khu thờ chính có kết cấu hình chữ Công ( ) Nhà gồm hai gian dọc, hai bên xây tường bao với ba bộ vì nóc
có kết cấu đơn giản kiểu "kèo cầu quá giang" Kẻ chính ăn mộng qua trụ trốn
để đỡ thượng lương, dưới kẻ có các ván gỗ dày tạo thành bức cốn trang trí Thượng điện được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc Bộ khung nhà có kết cấu chồng rường, các đầu dư được chạm lộng đầu rồng Các hàng cột đỡ đều đứng trên các chân tảng tròn, nền Thượng điện được tôn cao hơn so với Thiêu hương, tạo sự trang nghiêm, thành kính cho di tích Đây là khu đặt tượng chính của chùa và các pho tượng thờ được đặt theo thứ tự: Trên cùng là bộ Tam thế; các hàng tiếp theo là tượng Di Đà tam tôn, Thích Ca niêm hoa , tượng Từ Đạo Hạnh ở hàng thứ tư, ngồi chính giữa, tượng thánh Phụ (bên trái) và tượng thánh Mẫu (bên phải)
Qua nhiều năm loạn lạc, các di vật có giá trị trong chùa không còn nhiều Ngoài hệ thống tượng có niên đại thế kỷ XIX, chùa còn quả chuông “ Hoa
Trang 35Lăng tự chung” đúc năm 1890, trên chuông có minh văn ca ngợi ngôi chùa :
Nam thiên cứu tích tự hiệu Ba Lăng Nhất phương thắng cảnh thiên cổ lam
( Dưới trời Nam có chùa Ba lăng
Đệ nhất thắng cảnh của một phương) Ngoài 3 ngôi chùa trên, còn có chùa Tam Huyền và lăng mộ thân phụ Từ Vinh cũng là di tích có sự liên quan tới Thánh Từ Đạo Hạnh Tuy chùa không nằm trong hệ thống Chùa Tam Huyền thuộc xã Khương Đình - một trong 26 xã thuộc huyện Thanh Trì nay thuộc quận Thanh Xuân Tương truyền: sau khi Đô sát Từ Vinh bị pháp sư Đại Điên chém thành ba khúc thả xuống sông Tô, xác trôi về khu vực này được nhân dân đem chôn cất trong đất chùa Tam Huyền, lập am và thờ tự ông tại đây Cổng am thờ xây kiểu hai tầng tám mái Hiện tại phía ngoài cùng là hai cột trụ xây bằng gạch, ở giữa cổng có ghi bốn chữ Hán lớn: "Đế Đỉnh Từ Sơn" Phía trong am nhỏ thờ Từ Đạo Vinh, am được xây theo kiểu hai tầng tám mái trong đó cơ tượng Từ Đạo Vinh trong trong trong khám Tượng tạc theo tư thế ngồi, nét mặt nhân từ đôn hậu, tượng mặc áo vàng, đầu đội mũ cánh chuồn Phía ngoài ở chính giữa am thờ ghi bốn chữ Hán lớn: "Thâm Huyền Hiển Thánh" Tiếp đến là ngôi mộ Từ Vinh được xây bằng gạch cuốn, mộ có kích thước 2,8m x 1,7m Hàng năm, trước khi tổ chức lễ hội làng Láng phải sang xin phép “cha” cho “ con” được mở hội Và trong lễ hội, làng Khương Đình thường mang kiệu bài vị của Từ Vinh tham gia đám rước, ngụ ý “cha và con cùng đi về thăm mẹ” tại chùa Tam Huyền
Hệ thống các di tích thờ Thánh Từ Đạo Hạnh tại Hà Nội tập trung trong một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, có quan hệ gắn bó chặt chẽ với kinh thành Thăng Long Tuy giữa các di tích có sự khác nhau về
Trang 36quy mô, niên đại khởi dựng, đối tượng phối thờ (trên cơ sở chung là liên quan đến Từ Đạo Hạnh) Song, cả ba di tích đều có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh đời sống tâm linh của nhân dân vùng Láng nói riêng, cũng như của nhân dân vùng kinh thành Thăng Long qua các thời kỳ lịch
sử Với "tư cách" là một vị Thánh sư, Từ Đạo Hạnh đã đi vào thế giới tâm linh của nhân dân như một người bảo trợ, một chỗ dựa tinh thần vững trãi giúp họ có niềm tin, hy vọng vào một cuộc sống thanh bình Bên cạnh đó, những di vật, kiến trúc, phong tục lễ hội vẫn đang được bảo tồn trong các
di tích là những sử liệu vô cùng quý giá phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử, thông qua những cứ liệu còn lại về những lần trùng tu, sửa chữa di tích ta có thể thấy rõ sự biến thiên về văn hoá - xã hội của các thời kỳ Nhà nước phong kiến, cuộc sống của nhân dân trong vùng Với những giá trị to lớn ấy, cụm di tích liên quan đến Từ Đạo Hạnh tại làng Láng xứng đáng được coi là một trung tâm Phật giáo phía Tây Kinh thành Thăng Long Trong thời kỳ hiện nay, các di tích liên quan đến Từ Đạo Hạnh tại Hà Nội vẫn còn nguyên những giá trị, đặc biệt, việc nghiên cứu, khai thác hệ thống
di tích này rất phù hợp và có ý nghĩa lớn trong công cuộc xây dựng nền văn hoá nước ta Tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời nó cũng góp phần khẳng định truyền thống văn hoá lâu đời và phong phú của Kinh thành Thăng Long ngàn năm văn hiến
Trang 37Lễ hội của các di tích liên quan tới Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội nói riêng và
ở cả vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung đều có những điểm tương đồng và khác biệt Thời gian mở hội của các di tích các di tích thờ Từ Đạo Hạnh đều vào tháng 3 âm lịch Mặc dù ngày chính hội là ngày 7/3 âm lịch nhưng hội bao giờ cũng kéo dài hết tháng (tương truyền 7/3 là ngày hóa của Thánh nên nhân dân lấy đó làm ngày hội để tưởng nhớ ngài)
Trong kho tàng ngạn ngữ dân gian vẫn truyền miệng câu “nắng ông
Từa, mưa ông Gióng” Câu ngạn ngữ có nghĩa : khi nào mở hội thánh Gióng
(9/4 âm lịch) trời sẽ có mưa, khi nào mở hội Thánh Từ (Thánh Láng) trời sẽ
có nắng Lễ hội Thánh Từ được mở vào tháng 3 âm lịch, lúc này thời tiết bắt đầu ấm áp khô ráo, thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội Đồng thời đây cũng chính là một hội lễ mùa xuân, một dịp vui chơi mà dân ta thường tổ chức vào thời gian công việc đồng áng tương đối rỗi rãi Tham gia lễ hội không chỉ có
cư dân vùng Láng mà còn có cư dân của các làng kết chạ và dân từ các địa phương khác Vì vậy, có thể xem lễ hội này là những lễ hội “ liên làng” có khả năng ảnh hưởng và lan tỏa các giá trị văn hóa đến một số lượng lớn cộng đồng dân cư
Trang 38Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội cũng nằm trong quy luật ấy Ở những ngôi chùa này,
còn tổ chức các ngày lễ liên quan tới Thánh Từ Đạo Hạnh như:
Ngày 10 tháng 1: Ngày kỵ nhật Đức tổ phụ (chùa Nền, chùa Tam Huyền)
Ngày 20 tháng 1: Ngày Thánh Đản và Lễ tạ hạ cờ (chùa Láng, chùa Nền)
Ngày 1 tháng 3: Ngày treo cờ lễ hội, chuyển nước hoa đi các nơi để chuẩn bị bao sái (chùa Tam Huyền, chùa Hoa Lăng)
Ngày 2 tháng 3: Duyệt tế ( chùa Láng)
Ngày 5 tháng 3: Ngày hội lễ và tế (chùa Nền)
Ngày 6 tháng 3: Ngày hội lễ (chùa Hoa Lăng)
Ngày 7 tháng 3: Ngày hội lễ và tế (chùa Láng, chùa Nền, chùa Hoa Lăng)
Ngày 15 tháng 3: Lễ giải phục, lễ tạ, lễ hạ cờ (chùa Láng, chùa Nền)
Ngày 10 tháng 4: Kỵ nhật Tổ Mẫu (chùa Nền, chùa Hoa Lăng)
Ngày 22 tháng 9: Duyệt tế ( chùa Láng)
Ngày 26 tháng 9: Kỵ nhật Đức Thánh (chùa Láng, chùa Nền)
Trang 392.1.2 Chuẩn bị lễ hội
Việc chuẩn bị cho lễ hội có ý nghĩa to lớn, quyết định sự thành công của lễ hội Chính vì vậy để chuẩn bị cho lễ hội làng mình diễn ra chu đáo, thuận lợi, nhân dân trong làng tiến hành chuẩn bị rất công phu và cẩn trọng Đây là một lễ hội khá đặc biệt của vùng đất Kinh thành Thăng Long xưa Các ngôi chùa này có mối quan hệ mật thiết: thờ các thành viên trong một gia đình, lịch tổ chức lễ hội nối tiếp nhau Vì vậy, lễ hội của từng ngôi chùa khi tổng hợp lại thành một lễ hội lớn của cả vùng Việc chuẩn bị lễ hội cũng vì vậy mà được được đông đảo người dân quan tâm và góp sức
Hàng năm lễ hội chính diễn ra vào tháng 3 âm lịch nhưng công việc chuẩn bị đã được tiến hành từ trước đó. Hễ năm nào mở hội thì từ cuối tháng
2 làng xóm đều náo nức, nhộn nhịp Chức dịch thì lo bổ bán các chân ông lệnh, thủ hiệu, đô tuỳ dân đinh thì lo sửa sang quét dọn đền chùa Hàng giáp thì lo sao cho đủ các loại pháo lệnh, pháo thăng thiên, pháo chuột trong khi diễn ra cuộc đấu thần Các bô lão thì lo biện lễ sao cho thành kính, còn các cô gái thì lo nữ hành, nữ trang để đi chơi hội…
- Chuẩn bị thành phần ban tế lễ: Việc tuyển chọn những người nằm
trong thành phần tế lễ là việc làm rất quan trọng Người ta bầu ra một ban tế bao gồm những người đạt những tiêu chuẩn nhất định về vị trí xã hội, về hoàn cảnh gia đình, về tư cách cá nhân và phải trong sạch (không có tang) mới đem lại may mắn cho dân làng Khi được cử họ phải sống chay tịnh hàng tuần trước ngày làng mở đám Khi đã bầu chọn được ra ban tế thì điều hết sức quan trọng là việc chọn lựa ra người làm chủ tế Những người làm chủ tế phải
là người có chức, có quyền (thường là người đứng đầu làng, đầu tổng) Tất cả những người trong ban tế đều phải được sinh ra và lớn lên ở làng, có ngôi thứ,
có vai vế nhất định trong làng Ngoài ra, họ còn phải có uy tín, được cả dân
Trang 40làng tin cậy và có trách nhiệm lo toan mọi công việc trong những ngày diễn ra
lễ hội Chủ tế có trách nhiệm lễ thần Ai mà được làm chủ tế thì không những gia đình mà cả dòng họ đều coi đấy là một niềm vinh dự, họ hàng cử người đến phục dịch và giúp đỡ chủ tế Chế độ ăn của chủ tế cũng được quy định chặt chẽ, ăn uống lấy chất làm chính để hạn chế việc tiêu hoá, chủ động được trong thời gian làm lễ ở mấy ngày hội Ngoài việc tập trung sinh hoạt, chủ tế
và các thành viên trong đội tế phải tập các nghi lễ chính, cách thức đi đứng, vái lạy… Thành phần trong đội tế bao gồm:
Bồi tế (4 người) có nhiệm vụ giúp chủ tế, đứng sau và hành lễ theo chủ tế Đông xướng, Tây xướng phụ trách xướng nghi thức trong lúc tế, đứng đối diện với nhau bên cạnh hương án
Nội tán (2 người) đứng đợi bên chủ tế, đưa chủ tế ra vào và đi xuống Chấp sự (6 người) là những người đứng trong lúc tế, phụ trách việc dâng hương, dâng rượu, chuyển chúc, đọc chúc
-Chuẩn bị đám rước: từ cuối tháng 2 âm lịch, ông lệch (còn gọi là ông
lịnh) tức là người sẽ điều khiển đám rước đã phải tập hợp xong 2 bộ đô tuỳ nội và ngoại (người khiêng kiệu) Bộ ngoại gồm 18 người, tất cả phải là đang
có tang (ngụ ý là để tang Thánh phụ là Từ Vinh) Bộ này sẽ khiêng kiệu từ chùa Cả lên tới cầu Cót và “độ hà” qua sông Tô Tới bờ bên kia thì sang vai cho bộ nội Bộ nội sẽ khiêng kiệu tiếp lên chùa Hoa Lăng làm lễ rồi quay về Đường khá xa nên bộ nội gồm 36 đô tuỳ (18 chính, 18 phụ) [29, tr.633]
Ngoài ra, dân làng còn phải lo chuẩn bị lễ vật dâng Thánh Việc chuẩn bị
lễ vật dâng Thánh thể hiện lòng thành kính của dân làng, mong Thánh chứng dám lòng thành và phù hộ cho con dân của Ngài Vào những năm đại hội, làng mổ trâu hoặc mổ bò để tế Thánh; còn các năm thường chỉ mổ lợn, gà làm
cỗ dâng Thánh cùng với những mâm cỗ chay cao từ 4 đến 5 tầng gồm xôi