BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI MAYHEUANG XEUNHUNG QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC MÔNG Ở HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG NƯ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
MAYHEUANG XEUNHUNG
QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC MÔNG
Ở HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦNHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành: QUẢN LÝ VĂN HÓA
Mã số: 60310642
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN DUY THIỆU
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Duy Thiệu Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG (CHDCNDL) 12
1.1 Những vấn đề lý luận về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống 12
1.1.1 Khái niệm về lễ hội 12
1.1.2 Quản lý lễ hội 15
1.1.3 Nội dung quản lý lễ hội truyền thống 16
1.2 Tổng quan về huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng 20
1.2.1 Đặc điểm về tự nhiên 20
1.2.2 Đặc điểm xã hội 22
1.2.3 Đặc điểm về văn hóa 30
Chương 2: CÁC LỄ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG (CHDCNDL) 33
2.1 Phân loại các lễ hội chính ở Nỏng Hét 33
2.1.1 Lễ hội gắn liền với nông nghiệp 34
2.1.2 Lễ hội liên quan đến đời người 47
2.1.3 Một số lễ hội khác 62
2.2 Thực trạng của công tác quản lý lễ hội ở Nỏng Hét 70
2.2.1 Tình trạng quản lý hoạt động lễ hội Nỏng Hét theo truyền thống do cộng đồng thực hiện (cấp độ gia đình, dòng họ, bản/làng) 70
2.2.2 Thực trạng quản lý lễ hội theo hành chính hiệu nay 72
2.3 Thực hành công tác quản lý 79
2.3.1 Quản lý chuyên môn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị lễ hội 79
2.3.2 Quản lý các nguồn lực cho tổ chức lễ hội 80
Trang 42.3.3 Quản lý các hoạt động dịch vụ - du lịch trong lễ hội 81
2.3.4 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và khen thưởng 83
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG 85
3.1 Đánh giá công tác quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng 85
3.1.1 Thành tựu đạt được 85
3.1.2 Những mặt hạn chế 87
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Nỏng Hét 90
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách quản lý lễ hội truyên thống ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng 90
3.2.2 Giải pháp bảo tồn và pháp huy các giá trị của lễ hội truyền thống 95
3.2.3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn nghiệp vụ 97
3.2.4 Tăng cường đầu tư các nguồn lực về con người, tài chính, cơ sở vật chất cho tổ chức lễ hội 99
3.2.5 Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng 100
3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động lễ hội 102
3.2.7 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong tổ chức và quản lý lễ hội 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 110
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội là sinh hoạt văn hóa chung của một cộng đồng người, đó có thể là một làng, một xã, một dân tộc, thậm chí là của một quốc gia Hiện nay, lễ hội tồn tại dưới nhiều dạng thức và tên gọi khác nhau như: Lễ hội dân gian; lễ hội lịch sử cách mạng; lễ hội tôn giáo… Trong đó, có những lễ hội vốn được khởi nguồn từ văn hóa truyền thống của tộc người bản địa nhưng cũng có những lễ hội đã được
du nhập từ nơi khác đến, thậm chí là sự du nhập từ quốc gia này tới quốc gia khác
Phần lớn các lễ hội đã có lịch sử hình thành từ lâu đời nhưng cùng với quá trình phát triển của kinh tế - xã hội đã dẫn tới những quan niệm, mục đích
và cách thức tổ chức lễ hội phần nào bị thay đổi Trước đây, các lễ thường được cộng đồng tổ chức một cách tôn nghiêm, với các mục đích nhằm tạ ơn các vị thần linh và cầu mong thần linh phù hộ, che chở cho toàn thể cộng đồng Trong lễ hội, bên cạnh các lễ nghi gắn liền với yếu tố linh thiêng thì nó còn có một không gian riêng dành cho phần hội, nơi sẽ diễn ra các cuộc vui chơi tập thể, cùng với đó là các trò chơi, trò diễn vốn đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của từng cộng đồng tộc người Tuy nhiên, trong thời gian gần đây mục đích tổ chức lễ hội cũng đã ít nhiều bị đổi thay
Có thể người ta sẽ tổ chức lễ hội nặng về phần hội hơn là phần lễ nhằm mục đích thương mại hay du lịch Hoặc trước đây các lễ hội do cộng đồng tự tổ chức thì ngày nay lễ hội có thể do các cơ quan quản lí tại địa phương hay tổ chức kinh tế đứng ra tổ chức nhằm hướng đến nhiều mục đích khác nhau Điều này có thể làm cho tính chất của lễ hội phần nào bị thay đổi, làm cho những giá trị văn hóa truyền thống vốn có của lễ hội dần bị mai một Để khắc phục tình trạng trên đây thì các cơ quan quản lý văn hóa của nhà nước thường phải đề cao vai trò quản lý của mình trong các hoạt động lễ hội, một mặt lưu
Trang 7giữ các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời phát triển hơn nữa những giá trị văn hóa tốt đẹp của cộng đồng cư dân địa phương nơi lễ hội tồn tại
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCNDL) là một đất nước
đa tộc người (49 dân tộc), đa văn hóa và đa dạng về lễ hội Ở mỗi vùng miền của đất nước lại có một hoặc một số tộc người cùng sinh sống bởi thế mà lễ hội
có những sắc màu riêng biệt Đây chính là một kho tàng di sản văn hóa quý báu vừa phục vụ cho đời sống tinh thần của người dân lại vừa có thể khai thác để phát triển du lịch, đưa lại nguồn lợi lớn cho đất nước Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay việc tổ chức lễ hội cũng đặt ra rất nhiều vấn đề nổi cộm, thách thức cần phải được quản lý định hướng Đặc biệt khi đất nước mở cửa, đổi mới
và hội nhập, phát triển kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Văn hóa truyền thống của các tộc người đang có sự thay đổi một cách nhanh chóng
Lễ hội của các tộc người nói chung và người Mông ở Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng hiện đang đứng trước nhiều thách thức lớn Biến đổi, thích ứng, tồn tại, phát triển hay mai một và biến mất Làm thế nào để bảo tồn, phát huy được những lễ hội truyền thống mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp đó trong bối cảnh hiện nay? Điều này đòi hỏi cần phải có sự khảo sát, điều tra, nghiên cứu một cách có hệ thống về lễ hội của người Mông ở Nỏng Hét (Xiêng Khoảng) nhằm lưu giữ và khơi dậy những giá trị văn hóa, những giá trị nghệ thuật truyền thống tộc người, đồng thời góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của người Mông ở nước CHDCND Lào.Vì những lí do trên, tôi
đã chọn đề tài: “Quản lý lễ hội dân gian của dân tộc Mông ở huyện Nỏng
Hét, tỉnh Xiêng Khoảng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” làm luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí văn hóa của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Lào nói chung và văn hoá dân tộc Mông ở huyện Nỏng Hét nói riêng đã được nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà
Trang 8nước Lào quân tâm Tiêu biểu là các ý kiến của Đồng chí Kay Sỏn Phôm Vi Hản trong cuốn sách: “Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở địa bàn và chính sách của Đảng đối với các dân tộc của Lào” do nhà xuất bản quốc gia Lào xuất bản Ngoài công trình này, còn có một số công trình đề cập tới văn hóa ở miền núi như tác phẩm “Văn hóa và lễ hội của các dân tộc vùng Xay sổm Bun của đồng chí Noi Chăn Sa Mon (1998) và công trình nghiên cứu về vùng dân tộc của của Koong Kẹo (1999) Bênh cạnh những công trình trên còn có một số công trình nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội quốc gia Lào bàn về việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong những năm gần đây như: Vấn đề dân tộc ở Long Chạnh của Cha Leun Hia Pao Hơ; Lễ hội truyền thống của các dân tộc Mương Xay Sổm Bun của Nọi Súc Ma La; Đời sống kinh tế của nhân dân Xay Sổm Bun của Noi Súc Ma La; Lịch sử chiến tranh Phả Thi (1945- 1975); Dân ca Sảo Long Chạnh
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập tới những lĩnh vực khác nhau của đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của Xay Sổm Bun, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống vấn đề quản lý lễ hội truyền thống của dân tộc Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới
Đề tài nghiên cứu của tôi sẽ tiếp tục bổ sung những thành quả nghiên cứu trên đây Các công trình nghiên cứu của những người đi trước vừa đề cập
sẽ là những gợi mở hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn để tôi tiến hành nghiên cứu về đời sống văn hoá của dân tộc Mông ở hụyện Nỏng Hét trong những năm gần đây Tuy nhiên, do công tác nghiên cứu khoa học ở Lào chưa phát triển, nên ngoài các chủ trương, đường lối của Đảng và chính quyền các cấp, ít có các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề Quản lý lễ hội truyền thống Đặc biệt là đối với một đề tài cụ thể về vấn đề quản lý lễ hội truyền thống ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thì chưa hề có công trình nghiên cứu đề cập tới dưới góc
Trang 9độ quản lý Bởi thế khi nghiên cứu về đề tài này, tôi sẽ sử dụng nguồn tài liệu văn bản ở Việt Nam về lý thuyết và dựa theo đó để khai thác nguồn tài liệu trên thực địa ở Lào: bao gồm các tài liệu văn bản và tài liệu điền dã để hoàn thành luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu hệ thống lễ hội dân gian của người Mông ở Nỏng Hét
- Tìm hiểu hiện trạng công tác quản lý lễ hội trong vùng người Mông ở Nỏng Hét
- Đề xuất các giải pháp nhằm giúp cho các cơ quan quản lý văn hóa thực hiện công tác quản lý lễ hội được tốt hơn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống lễ hội dân gian của người Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng
- Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quản lý lễ hội truyền thống tỉnh Xiêng Khoảng từ năm 2000 đến nay
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống
ở huyện Nỏng Hét trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội và hiện trạng quản lý lễ hội ở cộng đồng người Mông tại Nỏng Hét
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng
-Thời gian: Luận văn đi sâu nghiên cứu công tác quản lý lễ hội truyền thống của các dân tộc nói chung và dân tộc Mông nói riêng ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng từ năm 2000 đến nay
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước CHDCNDL về văn hóa và văn hóa tộc người… Là nền tảng tư tưởng chủ đạo được áp dụng trong quá trình tiếp cận, thực hiện luận văn
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, Điền dã Dân tộc học được tác
giả áp dụng như là phương pháp nghiên cứu chủ đạo Việc lựa chọn Nỏng Hét (Xiêng Khoảng) để khảo sát là bởi: Đây là nơi các thành tố của lễ hội của người Mông ở Nỏng Hét đang biến đổi nhanh chóng, theo hướng mai một vai trò trong đời sống xã hội Khi tiến hành nghiên cứu ở thực địa, các kỹ thuật: Quan sát, phỏng vấn, tham dự, ghi chép, chụp ảnh, ghi âm, vẽ sơ đồ… đã được áp dụng thông qua các đợt cùng ăn ở, sinh hoạt và làm việc với các cơ quan quản lý, cán
bộ và người Mông ở Nỏng Hét (Xiêng Khoảng) nhằm thu thập tư liệu thực địa
Để bổ sung tư liệu, có cơ sở phân tích, so sánh… tác giả còn nghiên cứu, tham khảo các công trình đã công bố của các cơ quan nghiên cứu ở Trung ương, Xiêng Khoảng và ở Nỏng Hét; các tài liệu về người Mông ở Việt Nam
Để xử lý tư liệu phục vụ biên soạn luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả, phân tích, so sánh và tổng hợp
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát tác giả luôn luôn coi trọng việc tham khảo ý kiến các chuyên gia, các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm Những định hướng, ý kiến tư vấn của họ giúp tìm ra các nhận xét, kết luận và có giá trị định hướng nghiên cứu rất lớn đối với luận văn
6 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
Luận văn nhằm bổ sung thêm hệ thống tư liệu về: lễ hội truyền thống của các dân tộc, chủ yếu là của dân tộc Mông ở Nỏng Hét (Xiêng Khoảng), về
Trang 11thực trạng của công tác quản lý lễ hội ở Nỏng Hét cho mục đích bảo tồn di sản văn hóa và định hướng phát triển kinh tế - xã hội ở nước CHDCNDL
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các
cơ quan, cá nhân đang tham gia quản lý và phát triển văn hóa ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng Có thêm cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc thực thi công tác bảo tồn và phát huy vốn văn hóa, lễ hội truyền thống tại địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Khái quát về lễ hội và tổng quan về huyện Nỏng Hét, tỉnh
Xiêng Khoảng (Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
Chương 2: Các lễ hội và công tác quản lý lễ hội dân gian của người
Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng (Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội truyền thống
ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng (Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG (Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
1.1 Những vấn đề lý luận về lễ hội, quản lý lễ hội truyền thống
1.1.1 Khái niệm về lễ hội
Lễ hội là thuật ngữ dân gian được sử dụng một cách khá rộng rãi trong
xã hội Tuy nhiên để triển khai nghiên cứu khoa học về lễ hội, cần thống nhất nội hàm của khái niệm lễ hội
Lễ là khái niệm đạo đức của Khổng tử Nghĩa ban đầu của lễ là hình thức cúng khấn, cầu ban phúc Nghĩa rộng của lễ là những quy tắc, hành vi ứng xử trong đời sống mang tính nghi lễ của cộng đồng như trong cưới xin,
ma chay, cũng như trong sinh hoạt đời thường như nói năng, chào hỏi…
Theo Nho giáo, lễ là trật tự của Trời Trời đất có trên có dưới, vật có loài khác nhau, xã hội con người cần có lễ để phân biệt tôn ti trật tự Lễ được coi là cơ
sở của xã hội có tổ chức; với cá nhân, lễ quy định chi tiết về thái độ, cử chỉ bên ngoài, đồng thời tạo điều kiện hình thành một trạng thái tinh thần tương ứng bên trong; với xã hội, lễ là phương tiện đắc lực để điều chỉnh quan hệ trong cộng đồng
Hội là cuộc vui chung được tổ chức cho đông đảo người cùng dự Hội được tổ chức theo phong tục, hoặc nhân dịp mừng một sự kiện nào đó có ý nghĩa đối với cộng đồng và được tổ chức tại cộng đồng
Khi nghiên cứu về quản lý lễ hội dân gian dân tộc Mông ở Xiêng Khoảng, tác giả nhận thấy rằng lễ hội được tổ chức theo hai phạm trù cơ bản,
đó là nghi lễ được tổ chức tại gia đình (lễ hội gia đình) có sự tham dự của các thành viên khác trong cộng đồng và lễ hội được tổ chức theo quy mô cộng đồng làng bản (lễ hội cộng đồng) Lễ hội gia đình thường được tổ chức gắn
Trang 13với tục lệ thờ cúng tổ tiên trên ban thờ của gia đình và các nội dung cầu khấn chỉ liên quan đến sức khỏe của các thành viên cũng như sự hưng thịnh, phồn vinh của gia đình Lễ hội gia đình có những giá trị lớn mang tính xã hội khi nó được các thành viên trong cộng đồng đánh giá cao và mọi thành viên trong gia đình khi đi xa đều muốn về tham dự Lễ hội cộng đồng thường được tổ chức gắn với các tục lệ thờ cúng thần linh ở các làng bản, ở chùa hoặc nơi công cộng khác; công việc tổ chức cũng như nội dung cầu khấn của lễ hội cộng đồng lúc nào cũng nhằm mục đích hướng đến sự ổn định, mọi công việc làm
ăn đều được thuận lợi, bệnh dịch sẽ được tiêu trừ chứ lễ hội không phải của riêng một gia đình cụ thể nào cả
Quan hệ giữa lễ và hội: lễ và hội là hai khái niệm, cho nên có sự khác nhau trên một số nét cơ bản về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của lễ là các nghi thức cúng bái, cùng với các loại đồ lễ và lời cầu khấn của người thầy cúng với tổ tiên hoặc thần linh để tổ tiên và thần linh phù hộ, ban phước lành cho con cháu, cho cộng đồng và nhân vật chính trong lễ là thầy cúng, đây là người có sức mạnh khác thường và có khả năng thay thế cho gia đình giao tiếp với thế giới của thần linh, gửi gắm những ước nguyện của con người đến với tổ tiên, ông bà hay thần linh Đối tượng của hội
là các trò chơi, trò diễn, vui chơi giải trí, gặp gỡ kết bạn, mở rộng quan hệ cộng đồng, xây dựng quan hệ láng giềng tốt đẹp và ngày càng chặt chẽ hơn Nhân vật chính trong hội là toàn bộ cộng đồng, không phân biệt tuổi tác, nam,
nữ, giàu nghèo… Mục đích của hội là gây được sự hưng phấn, thăng hoa về mặt tinh thần cho cả cộng đồng Tuy có nét khác nhau, nhưng giữa lễ và hội lại có quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau Quan hệ giữa lễ và hội trong cuộc sống có thể hiểu là quan hệ giữa cuộc sống tâm linh và cuộc sống đời thường Khi tâm linh được giải tỏa thì đời thường được thoải mái và khi
Trang 14cuộc sống đời thường vui vẻ thì trong tâm linh cũng nhẹ nhàng Do đó, lễ hội
là hoạt động vừa có ý nghĩa làm thỏa mãn nhu cầu về cuộc sống tâm linh lại vừa có ý nghĩa tạo nên không khí vui vẻ cho cộng đồng trong cuộc sông đời thường, cho nên dân tộc nào cũng có lễ hội, vùng nào cũng có lễ hội, người dân nào cũng nhớ tới ngày lễ hội của vùng mình và cả vùng khác Lễ hội trong vùng được tổ chức vào những ngày khác nhau, cho nên thu hút người dân từ nhiều làng bản khác nhau cùng tham gia tạo nên một không khí từng bừng, náo nhiệt đồng thời là cơ hội để củng cố hơn nữa tình đoàn kết và gắn
bó giữa các thành viên trong cộng đồng lại với nhau
Lễ hội truyền thống được các nhà nghiên cứu khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau Một số tác giả khai thác lễ hội dưới hình thức các sinh hoạt văn hóa cộng đồng hay một hình thức trình diễn dân gian; một số tác giả khác lại quan tâm đến vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại… Trên thực tế, chúng ta thấy rằng lễ hội là một hiện tượng xã hội tổng thể trong đó một số các đặc trưng chủ yếu của lễ hội như: Lễ hội là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh; là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương nhằm đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng Là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác; là một dịp tổ chức các sinh hoạt nghệ thuật, các trò chơi giải trí, thể thao; là địa điểm hành hương, du lịch
Tất cả những đặc trưng trên của lễ hội truyền thống nói chung và lễ hội truyền thống của người Mông nói riêng đều gắn với một đặc điểm cụ thể: lễ hội
là một sản phẩm của quá khứ, được gìn giữ cho hiện tại và mai sau Nhìn chung, mọi người đều thống nhất với nhau rằng lễ hội truyền thống là một di sản văn hóa của cộng đồng người Lào, nói cụ thể hơn là các cộng đồng làng bản trong
đó có những lễ hội truyền thống của cộng đông người Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng Nhiều học giả cho rằng lễ hội truyền thống là một bảo tàng
Trang 15sống về văn hóa dân tộc, nhờ đó mà nền văn hóa ấy được hồi sinh, tái tạo và trao truyền lại qua các thế hệ Quan niệm này chứng tỏ rằng, lễ hội truyền thống không phải là một thứ gì đó tĩnh tại mà ngược lại, nó vận động và biến đổi trong không gian cũng như thời gian Một mặt, sự biến đổi của lễ hội truyền thống chịu sự chi phối của ý thức hệ hay quan niệm của mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau trong việc chuyển giao các di sản văn hóa của mình cho các thế hệ tiếp nối; mặt khác, lễ hội cũng là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa - xã hội bất biến của một cộng đồng đối với cả không gian cũng như thời gian nhờ đó mà các xã hội về sau này có thể tìm hiểu về các xã hội đã tồn tại từ trước đó thông qua những dấu vết còn để lại trong từng lễ hội Bên cạnh đó, với quan niệm lễ hội truyền thống
là một di sản văn hóa thích ứng với thời gian và không gian cụ thể, chúng ta cần phải có những biện pháp quản lý thích hợp để bảo vệ những lễ hội truyền thống trước nhiều nguy cơ mới những đồng thời cũng cần phải bảo đảm sự phát triển hài hòa của lễ hội trong điều kiện lịch sử mới để lễ hội vừa có thể lưu giữ được những giá trị tinh hoa văn hóa cộng đồng trong quá khứ nhưng đồng thời đó cũng là nơi tích hợp và sản sinh ra các giá trị văn hóa mới phản ánh ý thức hệ của cộng đồng trong giai đoạn phát triển hiện nay
1.1.2 Quản lý lễ hội
Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Đồng thời, quản
lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội tự nhiên và quy luật xã hội… những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt
Theo khái niệm trên, quản lý có hai nhiệm vụ cơ bản: một là việc xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan; hai là tham gia
Trang 16tổ chức điều hành công việc theo một quy trình đã định trước Chính vì vậy quản
lý là nhằm tạo nên sự phối hợp đồng bộ để có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động cụ thể nhất định
Quản lý lễ hội là công việc cụ thể của những người làm công tác quản lý văn hóa Bên cạnh niệm vụ quản lý văn hóa thì quản lý lễ hội còn là công việc khoa học do vậy mà công tác quản lý lễ hội cần được tiếp cận một cách bài bản, cần xác định rõ hệ thống các khái niệm, mục tiêu của công việc; xây dựng rõ nội dung công việc được quản lý; đồng thời gợi mở được nhiều giải pháp nhằm phát triển lễ hội, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của đồng bào
1.1.3 Nội dung quản lý lễ hội truyền thống
Nắm vững và hiểu rõ bản chất của từng lễ hội là công việc đầu tiên mà những người làm công tác quản lý lễ hội phải nắm vững Muốn quản lý được
lễ hội thì ngay từ đầu phải hiểu rõ nội dung của từng lễ hội cũng như mục đích tổ chức lễ hội Tùy từng loại lễ hội cụ thể mà mục tiêu được đặt ra có thể khác nhau Tuy nhiên, mục tiêu cụ thể cần đạt được của lễ hội đó là bám sát vào các chủ đề tư tưởng của sự tích của các nhân vật hoặc hiện tượng được thờ phụng trong lễ hội, được cộng đồng tôn sùng và trên cơ sở của chủ đề tư tưởng sự tích đó, mà cộng đồng đã tổ chức thành một lễ hội dân gian Đồng thời cần nắm vững và bám sát vào định hướng chỉ đạo của chính quyền, theo sát sự phát triển của thời đại, mở hướng mới trong phát huy truyền thống song hành cùng
sự phát triển của lễ hội trong thời kì mới
* Về chủ đề tư tưởng của sự tích lễ hội
Mỗi lễ hội có một sự tích được truyền kể từ đời này sang đời khác, lưu truyền mãi trong dân gian, là tiếng nói của người dân, là ý chí nguyện vọng của cộng đồng mang bản sắc dân tộc đậm đà Sự tích của lễ hội nào cũng ly kỳ, mang những nét riêng thể hiện ở nội dung chủ đề sự việc, ở tính cách của nhân vật, ở
Trang 17cách ứng xử, giải quyết những điều cầu mong, ước muốn của cộng đồng dân bản, thông qua các nhân vật thần thánh được người dân tin tưởng và tôn sùng Trong những lễ hội dân gian được tổ chức ở cộng đồng, ta thấy những nhân vật thần thánh được cộng đồng tôn sùng có thể là nàng tiên - con trời, thần rắn… Mỗi vị thần thánh có nguồn gốc xuất xứ khác nhau nhưng tựu trung lại thì họ đều là những người có quyền năng siêu nhiên, có khả năng cứu giúp con người trong những lúc gặp khó khăn, cho dù vị thần thánh đó được khởi nguồn từ nguồn gốc nào đi chăng nữa thì đó họ vẫn thuộc về thế giới của siêu nhiên, là lực lượng mà con người phải tin tưởng để cầu mong nhận được sự che chở và bảo vệ của thần linh tới toàn thể cộng đồng cũng như là từng cá nhân trong cộng đồng đó
* Về định hướng chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước
Bên cạnh việc bám sát chủ đề tư tưởng của lễ hội Nội dung lễ hội còn phải có tính sáng tạo trên cơ sở bám sát định hướng chỉ đạo của cơ quan quản
lý nhà nước về lễ hội và phải phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội Tổ chức lễ hội dân gian không chỉ đơn thuần là sự hoài cổ, mà còn phải tính đến sự phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại hiện nay Đây chính
là hai mặt đối lập biện chứng trong việc tổ chức lễ hội dân gian, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý là tạo điều kiện cho lễ hội dân gian phát triển
đi cùng thời đại nhưng đồng thời cũng phải dựa trên nền tảng sự tích lễ hội xưa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Lễ hội mà không phản ánh được xu thế phát triển của thời đại là kịch bản đi vào ngõ cụt, không đáp ứng được việc mở hướng phát triển cho lễ hội dân gian và nó sẽ nhanh chóng bị cộng đồng quên lãng và thay vào đó là một lễ hội mới đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng và phù hợp với xu hướng phát triển chung của thời đại
Xu hướng phát triển của lễ hội dân gian của người Mông ở tỉnh Xiêng Khoảng cần phải được xác định rõ những vấn đề như sau: một mặt về xã hội,
lễ hội dân gian các dân tộc trong tương lai sẽ phải hòa nhập vào lễ hội quốc
Trang 18gia, trở thành một bộ phận của lễ hội quốc gia, góp phần làm phong phú cho
lễ hội quốc gia Mặt khác, về kỹ thuật, lễ hội dân gian cần ứng dụng các tiến
bộ khoa học công nghệ vào việc nâng cấp tổ chức thực hiện các mục tiêu mà
lễ hội dân gian có nhu cầu Hai mặt này cần phải được tiến hành song song, không được khinh xuất vì chỉ có như vậy mới tạo nên được sức sống lâu bền cho lễ hội gắn liền với đời sống văn hóa của cả cộng đồng
Sau khi nắm vững bản chất của lễ hội thì việc tổ chức lễ hội trong thực
tế sẽ đóng vai trò quan trọng Nếu như lễ hội là tư tưởng được thể hiện trong ý chí của các cá nhân trong cộng đồng thì việc tổ chức thực hiện lễ hội là quá trình thực hiện hóa những mong muốn trong cộng đồng, để đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của cộng đồng trong việc tổ chức lễ hội Đồng thời, trong việc tổ chức thực hiện một lễ hội, có hai nội dung cơ bản đó là: tổ chức
bộ máy nhân sự và phân công nhiệm vụ điều hành cụ thể cho từng cá nhân trong ban tổ chức
- Về tổ chức bộ máy nhân sự
Thông thường để tổ chức lễ hội được diễn ra một cách bài bản và chu đáo thì cần phải thành lập ra ban chỉ đạo và ban tổ chức lễ hội Nhìn chung, ban chỉ đạo gồm: đại diện chính quyền, đại diện cơ quan văn hóa và đại diện của dân làng bản Khi thành lập được ban điều hành tổ chức lễ hội thì mọi công tác của lễ hội sẽ được đưa chung về một mối, chỉ có như vậy thì việc tổ chức lễ hội mới được diễn ra theo đúng kế hoạch, đúng yêu cầu, tránh tình trạng lộn xộn gây mất trật tự an ninh và an toàn cho các lễ hội
- Về điều hành lễ hội
Khi đã thành lập được ban tổ chức và điều hành lẽ hội thì ban tổ chức phải phân công nhiệm vụ cho từng thành viên phụ trách điều hành các nhiệm vụ cụ thể trong lễ hội như: phụ trách việc tế lễ, phụ trách trật tự lễ hội, phụ trách trò
Trang 19diễn của các trò chơi, phụ trách dịch vụ trong lễ hội… chỉ khi phân công một cách đầy đủ và chi tiết nhiệm vụ cho từng thành viên trong việc tổ chức lễ hội thì
lễ hội đó mới có thể diễn ra một cách cẩn thận và chu đáo
tế lễ Phần đông người đến dự lễ hội chủ yếu quan tâm đến phần hội
* Về phần trật tự trong lễ hội
Lễ hội thường diễn ra ở một địa điểm nhất định, có thể trên một mảnh đất rộng của làng bản, thông thường là trên đất ruộng hoặc đất nương, cũng có thể ở một ngôi chùa của làng bản vì thế mà mang tính ổn định và trật tự
* Về dịch vụ ăn uống trong lễ hội
Do lễ hội thường diễn ra suốt cả ngày từ sáng sớm đến chiều tối, lại có đông người tham gia, cho nên trong lễ hội xuất hiện một số hàng dịch vụ ăn uống, giải khát… phục vị nhu cầu của những người tham dự lễ hội Nếu như không có sự quản lý, kiểm tra một cách cẩn thận hoạt động dịch vụ tại các sẽ hội thì rất có thể dẫn đến nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm, tình trạng chèo kéo khách gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý khách dự hội, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của lễ hội đối với người dân địa phương nói chung và du khách thập phương nói riêng
Công tác kiểm tra thực hiện lễ hội là một khâu rất quan trọng trong quá trình tổ chức lễ hội Mục đích kiểm tra là nhằm điều chỉnh những nhận thức cũng như những hành vi sai trái trong quá trình tổ chức lễ hội Công tác kiểm
Trang 20tra thường được tập trung vào hai nội dung cơ bản: một là kiểm tra việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương đối với lễ hội; hai là kiểm tra việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức lễ hội
1.2 Tổng quan về huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng
1.2.1 Đặc điểm về tự nhiên
Tỉnh Xiêng Khoảng đơn vị hành chính hiện nay gồm có 7 huyện trong
đó Nỏng Hét là huyện miền núi nằm ở phía đông của tỉnh; phía Bắc giáp với tỉnh Hủa Phan; phía Đông giáp giáp với cửa khẩu Quốc tế Năn Căn và tỉnh Nghệ An (Việt Nam) Huyện Nỏng Hét có diện tích tự nhiên là 233.569,25
ha Trung tâm huyện Nỏng Hét cách trung tâm tỉnh khoảng 150 km Ngoài ra huyện Nỏng Hét còn là đầu nối giao thông đường bộ với tỉnh Nghệ An của Việt Nam thông qua cửa khẩu quốc tế Năn Căn Đây chính là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa giữa huyện Nỏng Hét và các khu vực khác cũng như là các tỉnh thành của Việt Nam
* Về địa hình
Với tính chất là một huyện miền núi cho nên địa hình nổi bật của huyện Nỏng Hét bị chia cắt tương đối nhiều Trong huyện có rất nhiều đồi núi cao nằm tiếp giáp với khu vực dãy Trường Sơn của Việt Nam Xen giữa khu vực đồi núi là những thung lũng nhỏ cùng với đó là một hệ thống sông suối dày đặc với lượng nước tương đối dồi dào Địa hình bị chia cắt bởi nhiều dãy núi lớn gây ra nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng của địa phương nhưng chính điều này cũng là một nguồn lợi quan trọng có thể khai thác về mặt lâm thổ sản và thủy điện phục vụ phát triển kinh tế và dân sinh cho người dân ở Xiêng Khoảng nói chung và Nỏng Hét nói riêng Bên cạnh những giá trị về mặt lâm thổ sản mang lại thì chính vì địa hình chia cắt đã dẫn
Trang 21tới việc phân bố dân cư không đồng đều, mỗi khu vực lại là địa bàn định cư của một cộng đồng tộc người riêng biệt hoặc đó cũng có thể là địa bàn cư trú của các cộng đồng tộc người khác nhau tạo nên những nét văn hóa vừa riêng biệt lại vừa có tính pha trộn giữa các tộc người nơi đây
* Về khí hậu, thủy văn
Nhờ vào độ cao, vĩ độ và sự ảnh hưởng của gió mùa mà Lào có nhiệt
độ từ nhiệt đới đến cận nhiệt đới Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng
5 đến tháng 11, tiếp theo đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Mùa mưa ở đây kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với nhiệt độ từ 30oC trở lên Ở những vùng núi như Xiêng Khoảng thì nhiệt độ có thể xuống đến độ
âm vào tháng 12 và tháng 1 Tháng 3 và tháng 4 là những tháng nóng nhất khi nhiệt độ lên đến 34oC Những tháng mát mẻ nhất là từ tháng 11 đến tháng 2, tức là nửa đầu của mùa khô Do địa hình bị chia cắt bởi các dãy núi tiếp giáp với khu vực dãy trường Sơn của Việt Nam đã dẫn đến sự hình thành một hệ thống sông suối khá dày đặc Tuy nhiên, đây đều là những sông suối tương đối hẹp với độ dốc lớn với lưu lượng nước dồi dào phục vụ tốt cho kinh tế nông nghiệp đặc biệt là việc phát triển thủy điện cung cấp cho địa phương
* Về tài nguyên khoáng sản
Với diện tích đất tự nhiên tương đối rộng lớn trong đó hơn nửa là diện tích đất rừng phát triển cây lâm nghiệp thì huyện Nỏng Hét có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế dựa vào tiềm năng từ rừng Khu vực rừng núi của tỉnh Xiêng Khoảng với nhiều loài động thực vật phong phú và quý hiếm Riêng thực vật đã phát hiện rất nhiều họ và chi loài khác nhau trong đó có nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao, nhiều loại gỗ có giá trị kinh tế lớn như đinh, lim, sến, táu, mật gội, nếp, lát… mọc xen kẽ thành những quần thể có diện tích rộng, trữ
Trang 22lượng gỗ lớn Ngoài ra, rừng còn cho nhiều loại nứa, mét, song, giang… đặc biệt là cây quế và cánh kiến Bên cạnh đó, các loại dược liệu quý mọc tự nhiên như: ngũ da bì, đẳng sâm, sa nhân… đã tạo nên giá trị lớn cho các loại lâm sản phi gỗ Nọng Hét còn là khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, dào dào về chủng loại và trữ lượng với nhiều loại khác nhau như
đá vôi, cao lanh, nước khoáng… có thể được khai thác và sử dụng theo kế hoạch lâu dài của địa phương, phát huy tốt hiệu quả kinh tế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương nói chung và của tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng
1.2.2 Đặc điểm xã hội
1.2.2.1 Dân số và sự phân bố dân cư
Nỏng Hét có 107 bản, với dân số khoảng 37,564 người (số liệu thống
kê 2013) Nỏng Hét có 4 dân tộc anh em như: dân tộc Lào Lùm, Khơ Mú, Phón (nói ngôn ngữ Môn - Khmer) và dân tộc Mông chiếm số lượng đông nhất với 23.096 người Theo như nhiều tài liệu nghiên cứu và ghi chép thì người Mông ở huyện Nỏng Hét có xuất xứ từ các tỉnh Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc), họ đã di cư sang Lào vào khoảng thế
kỷ XIII - XIX Hiện nay, người Mông ở Lào sống tập trung ở các tỉnh Xiêng Khoảng, Hua Phan, Thủ đô Viêng Chăn ngoài ra họ còn định cư ở một số khu vực khác Người Mông ở Lào và người Mông ở Việt Nam có nhiều nét tương đồng về nhiều mặt như lịch sử cư trú, phong tục tập quán… Trong sách “Lịch
sử người mèo” (bản dịch của Trương Thị Thọ, Viện dân tộc học ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, năm 1968) P.M Savina cho rằng: Dù sao đi nữa, có thể chắc chắn rằng người mèo ngày xưa đã sống ở phương Bắc Về điểm này truyền thuyết của họ rõ ràng và phổ biến khắp nơi, không có lý nào để không tin vào điều đó Nếu họ không ở những miền này thì tại sao học lại hiểu về xứ
sở ngày và đếm đều kéo dài đằng đẵng tới 6 tháng đó
Trang 23Vậy theo quan điểm đó có nghĩa là người Mông (người mèo) là người từ phương Bắc đã đến định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà vài ngàn năm trước Và
họ đã tổ chức các cuộc thiên di xuống phía Nam tới các khu vực của Việt Nam
và Lào hiện nay tạo nên một địa bàn phân bố dân cư tương đối rộng lớn và chia thành nhiều nhóm cộng đồng khác nhau Trong đó có nhiều nhóm cư dân ở khu vực biên giới Việt Lào có sự giao lưu mạnh mẽ về văn hóa, kinh tế tạo nên những sắc màu văn hóa đặc trưng cho khu vực này trong số đó có khu vực người Mông cư trú ở Nỏng Hét và huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An của Việt Nam
1.2.2.2 Nguồn gốc lịch sử
Theo cuốn “Haiv Hmoob liv xurm” (Lịch sử người Mông) của Mr
Wu – Rông – Zhen, Miao nationality, Lecturer in the Ethnology Resareh office of jishou University Hunan Province Member of the Asociation of the Aneient China in Hunam Province đã xuất bản năm 1997, tác giả là một người đứng về quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sự để nhìn nhận vấn đề, dựa vào khảo cổ học để nghiên cứu về lịch sử người Mông của Mr Wu - Rông – Zhen (Vụ zô Tshuj - tiếng Mông), dựa vào lễ tôn thờ
về “Phong tục của người Mông ở Trung Quốc bằng cách họ nấu thịt cá rồi
đổ vào một cái chậu gỗ dài, họ dùng thanh gỗ vừa băm vào vừa khóc nhớ
về “Phan Hu” “Phan Hu” là tổ tiên của họ, câu chuyện kể rằng: Vua Câu Xênh tìm người dũng cảm đi đánh với nước Xênh Dông, nếu thắng vua sẽ
gả con gái cho làm vợ Sau đó “Phan Hu” đã chém được đầu của Vua Vư - cha - chênh đưa về cho vua Câu Xênh [36 Tr, 45] Nhưng lúc này vua Câu Xênh lại nuốt lời không muốn gả con gái cho “Phong Hu” nữa, nhưng người con gái của vua đã biết lời cam kết đó từ đầu, nên nàng đã quyết định đi làm vợ của “Phan Hu” và họ đã cùng sống với nhau trong một cái hang đá Sau 3 năm, họ sinh ra được 12 đứa con, 6 nam và 6 nữ Khi “Phan Hu” qua đời, các con lớn lên lại lấy nhau thành từng cặp vợ chồng
Trang 24Ở các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Qúy Châu, vùng người Mông sinh sống cũng có lưu truyền những câu chuyện tương tự, nhưng chỉ khác là tên gọi “Phan Hu”đã đổi thành “Chi Lú” và câu chuyện kể tiếp rằng: các con 6 nam, 6 nữ đó không biết bố của mình và có một ngày các con lại giết nhầm bố của họ vì nghe lời con trâu bảo sai, rằng đó không phải là bố mình Sau khi người mẹ trở về, thấy người chồng đã chết, người mẹ rất đau lòng nhưng vẫn
đi gọi các anh em của mình đến để giết trâu làm lễ giỗ chồng
Mr Vui – Rong - Zhen cho rằng chi tiết của câu truyện về các con không biết bố của mình mà chỉ biết mẹ và mẹ thi hành việc gọi các bác đến để đâm trâu giỗ chồng, chứng tỏ đó là thời kỳ mẫu hệ (nữ quản gia đình) và đó
là câu truyện về thời xa xưa và quê hương của “Phan Hu” là ở một cái hang
đá của núi Vư- Xang bên bờ sông Vư - Si, huyện Lu Si Nhưng người dân vùng này (người Mông) nói rằng quê hương của “Phan Hu” là ở núi Lê Tông
Sa của huyện Po – chênh Núi Lê Tông Sa có hai quả đồi, người Mông gọi là
“Kawj Troo, Kawj see”, (Cơ – Xông, Cơ Xênh) tiếng Trung Quốc gọi là
“Koo Koo Saa và Phod Phod Saa” (Kong kong Sang và phot phot Sang) dịch
là núi Ông, núi Bà [36 Tr, 46]
Các nhà khảo cổ học đã đào được từ khu vực đất vùng Hu - Mu - Tử có tới 48 kiểu xương của súc vật, trong đó có một phần là xương của súc vật nuôi như xương chó, xương trâu, hạt lúa tẻ, hạt lúa nép và quả bầu Đó là những thứ có nguồn gốc xa xưa đặc biệt là của thời kì mà chế độ mẫu hệ còn đang tồn tại Như vậy có thể nói rằng, người Mông đã có mặt ở vùng đất Trung Quốc từ rất sớm và thời của “Phan Hu” tổ tiên của người Mông là thời
kì mà chế độ mẫu hệ lúc đó vẫn còn đang tồn tại Vào khoảng thời gian 6000 năm trươc đâ [36 Tr, 55] xuất hiện vương quốc Miến mà tiếng Trung Quốc gọi là Cửu Lê, người Mông gọi là “9 lig ntuj” (Vương Quốc 9 vùng đất) dưới
sự cai trị của Chiyou (xi vưu) mà người Mông gọi là “Txiv yang” (ông cha) trong đó có 9 bộ tộc và 81 thị tộc
Trang 25Quyển sách Zhang Guo Ce, wei ce viết rằng: Vương Quốc Cửu Lê có
hồ nước Pheng Li ở bên trái và hồ Tổng thênh ở bên phải, phía Bắc là dãy núi Heng Shan phía nam là dãy núi Wen Shan [36 Tr, 65]
Phạm Vếng viết rằng: trong thời “ông cha” (chiyou) thành lập vương quốc Cửu Lê thì Hoàng Đế còn sống chăm nuôi ở vùng thung lũng Thênh Lu
di dân đi lại chưa có làng mạ [36 Tr, 62] Sau đó có cuộc chiến giữa Chiyou
và Hoàng đế, cuộc chiến kéo dài nhiều năm có 9 trận Hoàng Đế toàn thua thời gian sau đó vì hàn hán khô cạn, dân thiếu lương thực, Chiyou thua trận cho Hoàng đế và Viêm Đế [36 Tr, 62] Sau khi vương quốc Cửu lê thất thủ khoảng 1000 năm sau xuất hiện vương quốc[36 Tr, 60] San miao (Peb Hmoob) và sau đó San miao cũng biến mất vì cuộc chiến với người Hán Cuộc chiến giữa người Hán và người Mông kéo dài từ thời Chiyou đến thời Tưởng giới Thạch [36 Tr, 62] và chấm dứt trong chế độ mới Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo Đó là cuộc chiến dài hàng ngàn năm mà sự kiện chiến tranh đã trở thành phong tục trong đời sống thông thường của từng gia đình người Mông cho đến ngày nay mà ít có dân tộc có như thế Cũng trong quá trình lịch sử đó, dưới nhiều tác động khác nhau như thiên tai, chiến tranh mà người Mông đã dần mở rộng địa bàn cư trú và di chuyển xuống Việt Nam và Lào trở thành một bộ phần tộc người trong các quốc gia này Tuy nhiên, khi thiên di từ Trung Quốc sang Việt Nam và Lào thì người Mông đã dần có những sự biến đổi nhất định cho phù hợp với tình hình thực tế khu vực họ sinh sống, tạo nên sự đa dạng sắc màu văn hóa giữa các nhóm người Mông Chúng ta có thể so sánh giữa lễ hội của người Mông Lào với người Mông ở Trung Quốc để rõ thêm về vấn đề đang được đề cập Người Mông ở Lào chỉ có 4 ngành Mông là Mông Trắng, Mông Hoa (Lào gọi là Mông Lênh - Mông xanh), Mông Si (Mông đỏ) và Mông Đu (Mông đen) Bốn ngành Mông này đều có
lễ hội như nhau Dưới đây là sự so sánh cụ thể số lễ hội người Mông Trung Quốc với người Mông ở Lào
Trang 26Bảng so sánh Lễ hội người Mông Trung Quốc và Lào STT Tên gọi
lễ hội
Mông
TQ
Thời gian làm lễ hội Mông Lào
Thời gian làm lễ hội Ý nghĩa
1 Tệt đặt
cột Có
Cùng ngày với tết người TQ
Thỉnh thoảng
Tết tháng 12, ngày 30 Đón năm mới
Ngày 30 tháng 12 của mỗi năm
Đón năm mới
Tết đặt cột và lễ hội tháng 12 (tết) đó là một những khác biệt về quy mô
tổ chức trong lễ hội ở hai nơi này, thường thì tết tháng 12 thông thường được chuyển thành tết đặt cột (đặt một cột cao như cột cờ) Theo bảng so sánh thấy rằng số lễ hội của người Mông Lào có ít hơn Lễ hội người Mông gốc Trung
Trang 27Quốc Vì điều kiện chạy trốn chiến tranh từ Trung Quốc sang Lào nên họ đã đánh mất 1 số lễ hội của mình, nhưng bộ phận người Mông hiện đang sinh sống tại Trung Quốc vẫn còn lưu giữ được
Cũng có những ý kiến cho rằng, một bộ phận người Mông ở Xiêng Khoảng trong quá trình thiên di đến Lào đã đi qua Việt Nam, hơn thế hiện tại
họ vẫn còn quan hệ gần gũi với những người đồng tộc sống ở Việt Nam nên
đời sống văn hóa lễ hội của họ có giao lưu và ảnh hưởng lẫn nhau
1.2.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, kinh tế huyện Nỏng Hét có nhiều khởi sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau Có được điều này một phần là nhờ những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước Lào trong việc khuyến khích đầu tư, phát triển kinh tế đặc biệt là kinh tế của các tỉnh khu vực biên giới, nơi mà cộng đồng các tộc người thiểu số chiếm số lượng đông, cơ sở hạ tầng còn có nhiều hạn chế Trong bối cảnh đó, các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền của huyện Nỏng Hét đã rất linh hoạt trong việc thực hiện các chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư phát triển kinh tế phù hợp với đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã được Đảng và nhà nước đề ra Bên cạnh
đó, các cấp lãnh đạo cũng đã tích cực trong việc khai thác những tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương như nguồn tài nguyên rừng phong phú, khoáng sản dồi dào… hay sự thuận lợi trong giao thông đi lại với khu vực cửa khẩu tiếp giáp với tỉnh Nghệ An của Việt Nam để phục vụ những mục tiêu phát triển kinh tế hàng năm Trong năm 2013 ngành nông nghiệp của huyện
đã có nhiều thành tựu khởi sắc đóng góp trong phát triển kinh tế chung của địa phương như: diện tích nương rẫy có 4000ha, sản xuất lúa đạt 7000 nghìn tấn/ha, diện tích ruộng 360ha sản xuất lúa 750 tấn, diện tích trồng dâu 145
ha, sản xuất rau được 1595 tấn, diện tích trồng ngô 8500 ha
Trang 28Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đầu người tăng bình quân 8,7% Chính vì vậy mà huyện Nỏng Hét có sự phát triển kinh tế đứng thứ 2 trong số các huyện ở miền núi của tỉnh Xiêng Khoảng
Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện Nỏng Hét tiếp tục ổn định và có phát triển đồng đều ở tất cả các ngành, các lĩnh vực: trong đó có sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của nhiều ngành nghề khác có sản lượng tăng cao Đời sống của đại bộ phận người dân được cải thiện
Hạ tầng giao thông phân bố tương đối hợp lý, thuận tiện cho việc giao thông đi lại, trao đổi hàng hóa nội – ngoại huyện với tổng chiều dài 11,483km, đường bộ, đảm bảo 95% số làng bản có tuyến đường nối liền với đường trung tâm huyện Đường quốc lộ có 100km là đường nhựa, đường tỉnh
lộ 50 km được dải nhựa, còn lại là đường đất, đường đá gạch (nguồn Cục thống kê Huyện Nỏng Hét tỉnh xiêng Khoảng số ngày 14.7.2013) Hạ tầng Thương mại – Du lịch phát triển rộng khắp đến các tận các làng, các bản trong huyện
Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ổn định và phát triển, mạng lưới trường lớp được quy hoạch hợp lý từ nhiều nguồn đầu tư khác nhau như nhà nước đã đầu tư 22 công trình có trị giá 5.627 triệu 833.271 Kip Nhờ đó mà con em người Mông cũng như nhiều dân tộc khác có cơ hội được cắp sách đến trường góp phần nâng cao trình độ dân trí cho người dân địa phương
Mạng lưới y tế từ huyện đến các làng bản được củng cố, tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men Đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo trình độ cao và không ngừng học hỏi để có thể phục vụ người dân một cách nhanh chóng và kịp thời nhất tới từng thôn bản kể cả các địa bàn còn có
sự khó khăn trong việc giao thông đi lại Nhờ đó mà các dịch vụ khám chữa bệnh được đảm bảo phục vụ người dân một cách tốt nhất góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển chung của địa phương
Trang 291.2.2.4 Truyền thống lịch sử - văn hóa
Tỉnh Xiêng Khoảng nói chung và huyện Nỏng Hét nói riêng là một trong những cái nôi của văn hóa dân tộc Mông nơi đây Trên mảnh đất này còn lưu giữ và bảo tồn rất nhiều di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa gắn với thời kỳ đấu tranh giải phóng đất nước Tạo nên diện mạo văn hóa riêng của vùng Di sản văn hóa vật thể tồn tại ở khắp các làng bản trên địa bàn huyện với nhiều loại hình như: Di tích lịch sử cách mạng kháng chiến đã khẳng định giá trị sâu sắc, to lớn về lịch sử văn hóa của huyện Nỏng Hét, di tích tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với niềm tin tâm linh của cả cộng đồng Trải qua bao biến thiên của lịch sử, nhân dân các dân tộc huyện Nỏng Hét luôn luôn nêu cao truyền thống lao động cần cù, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh bảo vệ quê hương, bảo vệ các thành quả văn hóa của ông cha để lại nhằm gìn giữ và lưu truyền lại cho những thế hệ mai sau
Mặc dù điều kiện kinh tế của huyện còn có nhiều khó khăn, nhưng huyện Nỏng Hét đã quan tâm đến việc xây dựng các thiết chế văn hóa từ huyện đến cơ sở, các thiết chế văn hóa này đã và đang được xây dựng hiện đại với quy mô mang tầm cỡ quốc gia Khu dân cư được xây dựng nhà văn hóa, hội trường và đài phát thanh nhằm phục vụ tốt nhất đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho cộng đồng cư dân địa phương Bên cạnh đó, huyện Nỏng Hét còn là cái nôi của văn nghệ kháng chiến, với nhiều người con đã anh dũng đứng lên bảo vệ quê hương, đất nước khi có giặc xâm lăng, đồng thời cũng có rất nhiều người trong số đó trở thành những nhạc sĩ, ca sĩ chiến trường mà tên tuổi của họ vẫn còn được nhắc tới cho đến tận ngày nay Dưới
sự chỉ đạo của tỉnh Xiêng Khoảng trong những năm qua huyện đã đạt được một số kết quả nhất định: Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vức văn hóa được tăng cường, chất lượng các hoạt động văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được nâng lên rõ rệt, cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, khu dân
Trang 30cư văn hóa ở các làng, thị trấn đã có bước chuyển biến mới về chất, thu hút sự quan tâm của các cấp ủy Đảng chính quyền và sự đồng thuận trong nhân dân, các di tích lịch sử - văn hóa, cách mạng được tôn tạo, phong trào văn nghệ quần chúng được đẩy mạnh rộng khắp ở hầu hết các làng bản và địa phương Nhìn chung huyện Nỏng Hét là một huyện rất quan tâm đến phát triển văn hóa, coi văn hóa là tiềm năng và là thế mạnh để phát triển kinh tế xã hội của huyện trong những năm sắp tới
1.2.3 Đặc điểm về văn hóa
Cũng như người Mông ở các nới khác, trước đây người Mông ở Nỏng Hét tỉnh Xiêng Khoảng canh tác nương rẫy trồng ngô trồng lúa để sinh tồn Chiếc cày chìa vôi để canh tác trên nương đá vùng sườn dốc của họ rất nổi tiếng Cây trồng lương thực chính là ngô Trên nương họ cũng trồng các loại rau như: cải, bầu, bí, xu xu, dưa và các loại cây gia vị như ớt, gừng Bên cạnh trồng trọt người Mông ở Nỏng Hét tỉnh Xiêng Khoảng cũng rất chú trọng về chăn nuôi Người Mông ở đây nuôi rất nhiều lợn, dê, bò, trâu đặc biệt là nuôi nhiều ngựa Ngựa không chỉ nuôi để ăn thịt mà còn được nuôi để làm phương tiện vận chuyển Về gia cầm, người Mông nuôi rất nhiều gà, vịt, ngan ngỗng Thành phẩm của nghề chăn nuôi không chỉ cung cấp khẩu phần thức ăn đạm hàng ngày
mà còn nhằm mục đích phục vụ cho lễ hội được tổ chức rất thường xuyên của tộc người này Bên cạnh chăn nuôi và trồng trọt săn bắt, hái lượm còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Mông ở Nỏng Hét tỉnh Xiêng Khoảng Nam giới người Mông rất thành thạo với cung tên còn phụ nữ Mông ngoài việc nổi tiếng về thêu, dệt vải họ cũng rất thành thạo trong việc xúc cá, hái rau, nấm
và các loại thảo quả trong rừng để làm thuốc dân gian
Trong nền nông nghiệp nương rẫy của người Mông gắn liền với trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm có rất nhiều nghi lễ Mỗi một khâu canh
Trang 31tác trong trồng trọt đều có các nghi lễ kèm theo, nhất là ở các khâu canh tác chính như mở đầu một chu kỳ sản xuất (tết), chuẩn bị thu hoạch (ăn cơm mới) Người Mông cũng có các nghi lễ để bảo vệ vật nuôi của mình, tôn thờ các vị thần thuốc nam
Ngoài các nghi lễ nông nghiệp, là cộng đồng cư dân theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, người Mông tin mọi thứ như con người, chim muông, cỏ cây, công cụ sản xuất, đồ dùng, vật đựng đều có linh hồn Và họ đã có rất nhiều nghi lễ để cầu mong các linh hồn phù họ cho họ có một cuộc sống yên bình Trong đời sống xã hội, dòng họ có một vai trò rất quan trọng đối với người Mông Là một cư dân gắn liền với thiên di nên việc cũng cố các mối quan hệ trong dòng họ có ý nghĩa to lớn với người Mông Nỏng Hét tỉnh Xiêng Khoáng Để dễ dàng trong việc nhận biết quan hệ họ hàng khi thiên di,
người Mông đã có tập quán làm ma bò, mỗi dòng họ có một cách làm khác
nhau, khi nhận biết cùng một cách làm ma bò thì người Mông nhận biết ngay đấy là người cùng họ Sống ở vùng núi rừng ít được tiếp cận với các dịch vụ
y tế, do đó người Mông thường chữa bệnh bằng thuốc nam, theo đó các tín ngưỡng về các vị thần dược trong tự nhiên và trong cộng đồng cũng biểu hiện rất rõ nét Người Mông cũng có nhiều nghi lễ về lĩnh vực này
Như vừa sơ lược trình bày trong cộng đồng người Mông ở Nỏng Hét, Xiêng Khoảng tồn tại rất nhiều các lễ, hội trong đời sống thường nhật Có thể nói người Mông quanh năm tắm mình trong lễ, hội Phần lớn lễ, hội được tổ chức trong không gian gia đình, dòng họ, số lễ hội do cộng đồng làng (Luzo) đứng ra tổ chức không nhiều Đương nhiên, các lễ được tổ chức theo gia đình
và dòng họ cũng là dịp để dân trong làng, nhiều trường hợp là dân trong cả khu vực rộng lớn tham gia Đặc biệt, ở khía cạnh làm công tác bảo tồn văn hóa, chúng ta cũng cần biết rằng trong các dịp, lễ, hội của người Mông có rất nhiều loại hình nghệ thuật dân gian được trình diễn (thổi khèn, múa khèn, thổi
Trang 32đàn môi (lá cây), các múa nghi lễ của thầy cúng, các loại trang phục rất phong phú của thầy cúng và của người dân đều được trình diễn), các trò chơi dân gian như: ném pao, đánh cù, hát giao duyên, đánh cầu đều được trình diễn thu hút rất nhiều người dân tham gia Từ góc nhìn quản lý văn hóa, chúng ta cần nghiên cứu có hiểu biết tốt về văn hóa nói chung và cụ thể về lễ hội của người Mông để có các chủ trương chính sách đúng trong việc phát huy và bảo tồn các giá trị này
Trang 33Chương 2 CÁC LỄ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ LỄ HỘI DÂN GIAN CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN NỎNG HÉT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG
(Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào)
2.1 Phân loại các lễ hội chính ở Nỏng Hét
Các lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng rất phong phú về mặt nội dung và đa dạng về mặt hình thức Chính vì vậy, để việc tiếp cận và nghiên cứu về lễ hội đạt được hiệu quả cao nhất thì cần phải có một cái nhìn khái quát về hệ thống các lễ hội tại địa phương thông qua việc phân loại lễ hội
Hàng năm, người dân tộc Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng lại tổ chức rất nhiều lễ và lễ hội khác nhau Trong đó, có nhiều lễ hội được chú trọng về phần nghi lễ, có lễ hội là sự kết hợp một cách hài hòa giữa phần lễ và phần hội, cũng có những lễ hội lại mang nặng về phần hội Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì các lễ hội của người Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng diễn ra trong một năm có thể được thống kê như sau:
+ Lễ gọi hồn và đặt tên cho trẻ mới sinh (Hu Pig Me nhua yu chia) + Lễ gọi hồn cho người ốm (Hu Pig nang mo)
+ Lễ cúng chữa bệnh (ua nang)
+ Lễ cưới (chông ko)
+ Lễ đổi tên cho những người có cháu (hu phỳ bê lau)
+ Lễ tang (phả tùa)
+ Lễ mời linh hồn người chết trở về (Xi)
+ Lễ tiễn biệt linh hồn chết (cho pỳ)
+ Lễ cầu siêu cho tổ tiên (Lày Đá)
+ Giỗ tổ bằng bò (ua nhu đá)
Trang 34+ Lễ cầu phúc ( phi yênh)
+ Lễ giải hạn (Tu xú )
+ Lễ ăn cơm mới (No mo mê chia)
+ Lễ tảo mộ (Kho cha)
+ Lễ cầu an (thó đá Tỉ chứ)
+ Lễ bảo vệ súc vật (bua dab chông)
+ Lễ thờ thần thuốc nam (tăng tha da chua)
+ Lễ hội tết (Nỏ bê chào)
Trong hệ thống lễ, hội như thống kê trên đây có một số lễ, hội gắn với nông nghiệp, một số lễ hội gắn với tang ma và các tập tục thờ phụng tổ tiên… Trong phạm vi luận văn này tôi chỉ xin trình bày một số lễ hội tiêu biểu liên quan tới 3 mảng nội dung như vừa đề cập
2.1.1 Lễ hội gắn liền với nông nghiệp
2.1.1.1 Lễ ăn cơm mới
Khi những vạt lúa nương chuyển sang đỏ đuôi, báo hiệu mùa thu hoạch
đã tới, là thời gian các gia đình trong bản người Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng chuẩn bị tổ chức lễ mừng cơm mới Ðây là lễ thức cúng tế nhằm cảm ơn trời đất cho mưa thuận gió hòa, tránh được dịch bệnh, gia đình
có được vụ mùa bội thu, cả năm no đủ, mọi người khỏe mạnh Việc chọn ngày tổ chức lễ cơm mới của người Mông ở Nỏng Hét là loại lễ hội về tín ngưỡng nông nghiệp, được thực hiện vào thời điểm lúa chín ở mảnh nương của gia đình, cũng như thời tiết đẹp, thuận tiện cho việc đi nương lấy lúa mới
về làm lễ và mời anh em, họ hàng về chung vui dự lễ Việc tổ chức lễ cúng cơm mới diễn ra đơn giản hay phức tạp tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình, những gia đình có nhiều ruộng, nhiều gia súc trong lễ mừng cơm mới người ta có thể giết trâu, mổ gà, mổ lợn, gia đình nào có cuộc sống vừa đủ ăn
Trang 35thì lễ cúng cơm mới thật đơn giản, chỉ cần bát cơm, con gà để tỏ lòng thành kính với tổ tiên, ông bà cha mẹ
Khi chủ nhà đã định được ngày làm lễ cúng cơm mới thì những người anh em và bà con trong bản cũng đến phụ giúp cho gia đình tổ chức lễ mừng cơm mới, người thì lo lên nương gặt lúa kịp mang về chế biến lấy gạo nấu cơm, người lo phụ giúp công việc bếp núc, người lo tiếp đón khách Tại gian thờ của nhà chủ lễ các con vật hiến tế lần lượt được mổ thịt, việc này nhất thiết phải được làm tại đây để cho các ma chứng kiến Lúc này, gia chủ cùng một số bà con họ hàng chuẩn bị các dụng cụ cắt lúa để đi lên nương cắt những bông lúa đầu tiên về làm lễ cơm mới
Khi những bông lúa mới trên nương đã được cắt đủ, người chủ nhà gùi những bó lúa tốt nhất về nhà và đặt tại chân cột chính gian giữa nhà vì người Mông quan niệm rằng, làm như vậy để báo với ma cột nhà biết về mùa lúa bội thu và xin ma cột nhà hãy gìn giữ, bảo vệ hồn lúa mới Lúa cắt về được tách hạt
ra khỏi bông để chế biến thành gạo và được sàng sẩy thật sạch rồi mang đi rang lên trước khi giã Rang lúa là một công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm, lúa được đảo đều tay, lửa vừa phải, đến độ khô nhất định sao cho khi mang đi giã thành gạo, hạt không bị nát, cơm chín có mùi thơm của gạo mới Cùng lúc đó thì những người đàn ông trong gia đình và thầy cúng chuẩn bị làm lễ cúng tổ tiên và ma nhà để dâng lên tổ tiên, ma nhà những chén cơm đầu tiên của một mùa lúa mới Sau lễ cúng, mâm cơm khách được dọn ra, mọi người ăn uống vui vẻ bên mâm cơm cùng gia chủ Ðiều đặc biệt ở đây xôi và cơm được nấu từ gạo mới để chuẩn bị cho lễ cúng khi ăn nếu nhà ai chưa làm lễ cúng cơm mới thì xin phép gia chủ chỉ ăn cơm nấu từ gạo cũ của năm trước, bởi họ quan niệm rằng không bao giờ được phép ăn cơm mới của nhà khác trước khi nhà mình làm lễ cúng cơm mới Họ tin rằng nếu ăn cơm mới của gia đình khác thì gia đình mình năm sau sẽ mất mùa Trong lễ cúng cơm mới, những người khách và
Trang 36chủ cùng nâng những chén rượu nồng ấm tình cảm anh em họ hàng, tình cảm láng giềng bà con thôn, bản và chỉ sau lễ cúng cơm mới xong, người Mông mới
có thể sử dụng thóc vào những công việc khác Đây là một nghi lễ quan trọng trong đời sống của đồng bào Mông ở huyện Nỏng Hét, nó thể hiện nét văn hóa độc đáo của dân tộc, đạo lý làm người, hướng tới cội nguồn tổ tiên Tuy nhiên, ngày nay khi người Mông có thể canh tác được hai vụ lúa là vụ lúa chiêm và vụ lúa mùa trong cùng một năm thì việc các gia đình tổ chức lễ cúng cơm mới có phần bị thay đổi, có gia đình vẫn duy trì những lễ thức cúng cơm mới theo tập tục truyền thống vào cả hai mùa lúa nhưng có gia đình chỉ làm lễ cúng cơm mới trong một mùa vụ nhất định Bên cạnh đó, ở một số gia đình đã mua các sản phẩm bán ở chợ về để tổ chức lễ ăn cơm mới mà không nhất thiết phải lấy lúa trên nương về để làm lễ như trong truyền thống
2.1.1.2 Hội Tết
Hàng năm, cứ đến dịp hoa đào, hoa mai nở trắng trên các sườn núi thì cũng là lúc đồng bào người Mông ở khắp nơi tưng bừng đón tết Cũng giống như người Mông ở Trung Quốc hay người Mông ở Việt Nam, người Mông ở huyện Nỏng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng cũng sử dụng một hệ thống lịch riêng của họ mà theo đó một năm sẽ không có tháng thiếu và không có năm nhuận, mỗi tháng sẽ có 30 ngày đều đặn và ngày thứ 361 trong năm sẽ là ngày Tết Chính vì vậy, Tết truyền thống của đồng bào người Mông sẽ diễn ra vào khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 âm lịch (Việt Nam) Lúc ấy, trong mỗi nhà, thóc lúa, ngô khoai đã đầy bồ, lợn gà, trâu bò đầy sân người Mông lại
an tâm đón một cái Tết đoàn viên Tuy nhiên, ngày nay đại đa số người Mông
đã quen với việc sử dụng dương lịch, chỉ trừ một số ít vẫn sử dụng hệ thống cách tính lịch riêng của họ Tết của đồng bào người Mông ở huyện Nỏng Hét thường kéo dài trong nhiều ngày với những sinh hoạt cộng đồng hết sức đa dạng và phong phú mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Mông
Trang 37Mặc dù phải đến cuối tháng 11 đầu tháng 12 âm lịch mới là thời điểm chính thức người Mông đón Tết nhưng ngay từ những ngày đầu tháng 11 thì không khí chuẩn bị cho dịp Tết truyền thống của dân tộc Mông đã hết sức tưng bừng và nhộn nhịp Hầu hết các gia đình đều tích cực chăm sóc và vỗ béo cho đàn lợn, đàn gà để chuẩn bị làm nguồn thực phẩm cung cấp cho những ngày Tết Ngoài ra họ còn tu sửa, dọn dẹp lại nhà cửa… nam giới trong nhà thì lên núi, lên nương kiếm củi để có thể đủ dùng trong những ngày Tết Phụ nữ thì sửa soạn lại váy áo, ai cũng cố gắng chuẩn bị cho mình những bộ váy áo mới nhất, rực rỡ nhất cùng với nhiều loại trang sức đi kèm như vòng
cổ bằng bạc, vòng tay… để họ có thể mặc trên mình những bộ trang phục đẹp nhất trong những ngày Tết truyền thống Cho đến khoảng ngày 25, 26 tháng
11 âm lịch, người Mông bắt đầu nghỉ ngơi để chuẩn bị đón Tết Lúc này, họ
sẽ tiến hành niêm phong tất cả các công cụ sản xuất lại, ví dụ như cày, bừa thì phải được lau chùi sạch sẽ, các lò rèn phải làm lễ đóng lò, cối xay ngô thì phải được tháo ra… vì đối với người Mông ở huyện Nỏng Hét thì các vật dụng lao động trong gia đình cũng có linh hồn và được tôn trọng giống như các vị thần
đã giúp cho họ làm ra của cải vật chất, tạo nên sự ấm no cho gia đình Chính
vì vậy mà người ta sẽ chọn một ngày gần giáp Tết để tiến hành niêm phong các dụng cụ lao động, sản xuất Người phụ nữ trong gia đình sẽ thức dậy từ sáng sớm để lau chùi sạch sẽ các loại công cụ lao động và mang chúng tới gần ban thờ tổ tiên Người đàn ông lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ dùng những tờ giấy màu đỏ để dán lên trên những công cụ lao động đó vì người Mông cho rằng những loại vật dụng này cũng cần phải được nghỉ ngơi và đón Tết giống như con người
Vào những ngày cuối cùng của tháng 11 âm lịch thì mọi công tác chuẩn bị cho ngày Tết truyền thống của người Mông đã cơ bản được hoàn tất Các thành viên trong gia đình được quây quần và đoàn tụ bên nhau và
Trang 38cùng chế biến các món ăn truyền thống phục vụ cho những ngày Tết Trong những bữa cơm ngày Tết của người Mông ở Nỏng Hét thì không thể thiếu được thịt, rượu và bánh ngô bên cạnh đó họ còn chế biến cả món bánh dày, một món bánh được người Mông rất ưa thích Bánh dày thể hiện sự công phu của những con người quanh năm gắn bó với ruộng nương, gói ghém những ước vọng về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và trong dịp Tết, nhà nào cũng cố gắng gói thật nhiều bánh, vừa để gia đình ăn, vừa để tiếp khách
và biếu họ hàng Không khí cả gia đình quây quần cùng nhau sửa soạn gói bánh thật tưng bừng và náo nhiệt Ai ai cũng muốn chung tay để làm nên những chiếc bánh thơm ngon chào đón năm mới Gạo nếp dùng gói bánh được giã trực tiếp từ thóc mà không qua xay xát Thường phần giã gạo là do những thanh niên to khỏe đảm nhiệm Khi làm bánh, gạo được vò qua cho sạch rồi đồ chín bằng chõ gỗ Khi đồ lửa phải đều thì xôi mới dẻo thơm Khi xôi nếp chín đổ vào cối và giã ngay lúc còn nóng Họ giã xôi cho đến khi dẻo quánh thành một khối rồi chia nhau nhanh tay nặn thành từng chiếc nhỏ, tròn trịa Để tăng độ ngậy, bánh phải được thoa một chút mỡ và gói vào lá chuối đã hơ nóng Thông thường, trong những ngày Tết thì người Mông sẽ làm từ năm mươi đến một trăm chiếc bánh dày và số bánh này có thể để được trong nhiều ngày mà không bị hư hỏng, lúc cần thiết người ta chỉ việc nướng trên bếp than hồng là co thể sử dụng được Tuy nhiên, bánh dày không chỉ là loại bánh thông thường nó còn chứa đựng cả những triết lý sâu sắc Người Mông ở nơi đây thường quan niệm rằng trong lễ cúng ngày tết cũng như trong các bữa ăn vào những ngày này luôn phải có ít nhất là hai chiếc bánh dày tròn đều, một chiếc là tượng trưng cho mặt trăng còn chiếc còn lại tượng trưng cho mặt trời, là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên trái đất Chính vì vậy món bánh dày luôn hiện diện trong những dịp
lễ tết, hội hè của người Mông
Trang 39Trong nhà người Mông vào những ngày Tết thường không được trang trí quá cầu kì Từ nhiều ngày trước Tết, các gia đình người Mông sẽ mua về cho mình những tờ giấy bạc và đến chiều ngày 30 Tết thì người chủ nhà sẽ tự tay cắt những tờ giấy này thành những đồng tiền bạc để dán lên cửa nhà, lên cây cột chính cũng như là trên các loại vật dụng sinh hoạt hàng ngày trong gia đình… để cầu mong trong năm mới sẽ kiếm được nhiều tiền, nhiều bạc Riêng hai tờ giấy bạc dán trên cửa chính của ngôi nhà sẽ được giữ lại cho đến Tết năm sau mới được thay thế Gian chính giữa ngôi nhà người Mông là nơi đặt ban thờ tổ tiên để tất cả các thành viên trong gia đình cùng hướng về Vào những ngày tết thì họ sẽ thắp hương một cách đều đặn để cầu mong tạo nên cây cầu nối với thế giới của tổ tiên, ông bà, cầu mong nhận được sự che chở, bảo vệ của tổ tiên trong năm mới mọi việc đều được tốt lành Mỗi nhóm Mông lại có những phong tục khác nhau nhưng ngày 30 tết thì họ đều làm lễ cúng ma nhà hay lễ cúng tổ tiên với nhiều loại lễ vật khác nhau dâng lên tổ tiên, ông bà nhưng trong số lễ vật đó không thể thiếu được một con gà trống
vì người ta tin rằng đây là một loài vật thiêng không chỉ báo điềm lành dữ mà còn đoán định được cả tương lai Chính vì vậy, sau khi đã cúng tổ tiên xong thì người ta sẽ mang con gà sống đó đi mổ thịt, người chủ nhà sẽ lấy một ít lông của con gà nhúng vào tiết và dán lên trên ban thờ tổ tiên Ngoài ra máu của con gà trống đó sẽ được vảy xung quanh ban thờ, trên các loại vật dụng… với mong muốn xua đuổi tà ma và cầu chúc cho những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới
Người Mông không tổ chức đón giao thừa mà đối với họ, tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng một mới là cái mốc đánh dấu một năm mới bắt đầu Tối hoặc nửa đêm 30, người ta cúng ma nhà (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (và phải là gà trống, mà tốt nhất là gà trống tơ) Sau đó mới mang lợn và gà ấy đi giết thịt (nhà nào giàu có thì thịt một con
Trang 40lợn từ 28, 29 để ăn trước) Thịt xong đem cúng một mâm thịt chín, rồi ăn cơm uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên cũng là dấu hiệu cho một năm mới được bắt đầu Vào buổi sáng sớm, người chủ nhà phải rót một chén rượu, chuẩn bị một ít xôi và một ít muối mang ra trước cửa nhà để thay cho lời mời thổ công vào nhà mình Trong thời khắc đất trời chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, họ luôn cầu sức khỏe, cầu bình an, cầu cho những thửa ruộng bậc thang luôn trĩu hạt, cầu cho cây ngô ra bắp, trâu, bò, gà, lợn lớn nhanh, không đổ bệnh Người Mông cũng có phong tục đến chúc Tết hàng xóm và họ hàng, uống với nhau chén rượu, ăn với nhau miếng bánh dày, miếng thịt và cùng chúc nhau những điều tốt lành sẽ đến trong năm mới Người Mông ở Nỏng Hét cũng có những điều kiêng kị nhất định trong năm mới như vào ngày mùng một Tết, người phụ nữ trong gia đình được dậy muộn nhưng không nên đi xông nhà hoặc nếu vào nhà người khác phải vào bằng cửa phụ Họ không ưa thích những ai thổi vào bếp nhà mình bởi theo quan niệm nếu có người thổi vào bếp hoặc làm tắt lửa thì năm tới cả gia đình
họ sẽ gặp phải những điều không may mắn
Vào ngày mồng một và mồng hai Tết, người Mông ở Nỏng Hét thường chỉ sử dụng các loại thịt như thịt gà, thịt lợn trong các bữa ăn của gia đình cũng như khi tiếp khách vì người ta quan niệm rằng trong 2 ngày đầu tiên của năm mới không nên ăn rau vì nếu ăn rau thì cả năm đó nương rẫy sẽ có nhiều
cỏ dại và từ ngày mồng ba trở đi thì người ta mới bắt đầu chế biến các món ăn được làm từ rau củ quả
Trong những ngày tết, người Mông còn tổ chức nhiều trò chơi truyền thống để mọi người dân trong bản đều được tham gia và đây cũng là cơ hội để các thành viên trong cộng đồng có thể giao lưu, hiểu biết về nhau nhiều hơn, các đôi trai gái có cơ hội giao duyên và tìm hiểu lẫn nhau Một gia đình trong bản, nếu hay bị đau ốm hoặc chậm có con thì ngày mồng 2 họ sẽ đi dựng một