1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý khu di tích lịch sử văn hóa nhà trần tại huyện đông triều tỉnh quảng ninh

143 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí của Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh trong tổng thể các di tích lịch sử nhà Trần ở Việt Nam .... Đánh giá chung về thực trạng công tác qu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO & DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

NGUYỄN DUY CƯỜNG

QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA NHÀ TRẦN TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ĐỨC NGÔN

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Đức Ngôn Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Cường

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA NHÀ TRẦN TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 15

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa 15

1.1.1 Một số khái niệm 15

1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 18

1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 19

1.2 Tổng quan về Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 20

1.2.1 Lược sử về huyện Đông Triều 20

1.2.2 Các di tích trong Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 24

1.2.3 Giá trị của Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 37

1.2.4 Vị trí của Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh trong tổng thể các di tích lịch sử nhà Trần ở Việt Nam 41

Tiểu kết 42

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA NHÀ TRẦN TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 43 2.1 Bộ máy và mô hình quản lý 43

2.1.1 Bộ máy quản lý 43

2.1.2 Mô hình quản lý 44

2.2 Các văn bản quản lý 49

2.2.1 Văn bản luật 49

2.2.2 Văn bản dưới luật 53

2.2.3 Đề án quy hoạch 54

2.3 Các hoạt động quản lý 57

2.3.1 Tổ chức nghiên cứu khoa học 57

2.3.2 Tổ chức các hoạt động bảo tồn di tích 65

2.3.3 Tổ chức các hoạt động phát huy giá trị của khu di tích 73

2.3.4 Tổ chức quản lý thu chi tại khu di tích 75

2.3.5 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý di tích 76

Trang 4

2.3.6 Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm 78

2.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với Khu di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 80

2.4.1 Những thành công 80

2.4.2 Những hạn chế và khó khăn 82

Tiểu kết 84

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA NHÀ TRẦN TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 85

3.1 Định hướng và nhiệm vụ của công tác quản lý Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 85

3.1.1 Định hướng chung của Chính phủ về công tác quy hoạch Khu di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 85

3.1.2 Định hướng và nhiệm vụ của tỉnh Quảng Ninh 86

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 87

3.2.1 Nhóm giải pháp xây dựng bộ máy, mô hình và cơ chế quản lý 87

3.2.2 Nhóm giải pháp đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học 91

3.2.3 Nhóm giải pháp đẩy mạnh công tác tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích 93

3.2.4 Nhóm giải pháp về phát huy giá trị của di tích 98

3.2.5 Nhóm giải pháp về phát triển du lịch 101

3.2.6 Nhóm giải pháp về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ 103

3.2.7 Nhóm giải pháp về kết nối không gian văn hóa nhà Trần tại Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh với di sản văn hóa nhà Trần ở các nơi khác 104

3.2.8 Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và khắc phục tình trạng xây dựng tự phát của người dân tại các điểm di tích 105

Tiểu kết 108

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 116

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCHTW Ban Chấp hành Trung ương

BQLCDTTĐQN Ban quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh BVH,TT&DL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

DTLSVH Di tích lịch sử văn hóa

DTLSVH&DT Di tích Lịch sử Văn hóa và Danh thắng

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

KDTLSVH Khu Di tích lịch sử văn hóa

KDTLSVHNTTĐT Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông

Triều, tỉnh Quảng Ninh

SVH,TT&DLQN Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong chiều sâu văn hóa và chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam, vương triều Trần là triều đại phát triển rực rỡ và hùng mạnh nhất, đã trị vì đất nước 175 năm (1225 - 1400) Đây là triều đại lập được nhiều chiến công hiển hách trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước với ba lần đại thắng quân xâm lược tàn bạo Nguyên - Mông ở phía bắc (1258, 1285, 1288), bình được Chiêm Thành ở phía nam Ở thời đại nhà Trần, khoa học quân sự đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân; các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa phát triển rực rỡ tạo nên giá trị văn hóa đặc sắc mang tinh thần “hào khí Đông A” của nước Đại Việt thế kỷ XIII, XIV

Ngoài ra, nhà Trần còn là triều đại khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên

Tử, làm nền tảng tư tưởng cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam Đây cũng

là triều đại để lại cho hậu thế nhiều di sản văn hóa, tiêu biểu là các trung tâm văn hóa ở Thăng Long, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh

Đông Triều là địa danh gắn liền với triều đại nhà Trần, được sử sách

ghi là quê gốc của nhà Trần:”Bia thần đạo ở Yên Sinh nói rằng tổ tiên nhà

Trần vốn là người Yên Sinh, huyện Đông Triều, sau dời đến Tức Mặc, phủ Thiên Trường, cho nên các vua Trần đều táng ở Yên Sinh, mà khi nhường ngôi xuất gia cũng lấy Yên Sinh làm nơi tu ẩn” [7, tr.5]

Đông Triều không chỉ là quê gốc mà còn là trung tâm văn hóa tâm linh tiêu biểu, đặc sắc của vương triều Trần Do vậy, nhà Trần đã chọn vùng đất này để an táng và chuyển “thần tượng” (các bậc tiên đế) từ Nam Định, Thái Bình về xây dựng lăng mộ và các công trình tôn giáo linh thiêng khác như:

đền, miếu, chùa, am, tháp Đại Việt sử ký toàn thư ghi “Tân Dậu, năm thứ 5

(1381), Minh Hồng Vũ thứ 14, tháng 6, rước thần tượng ở các lăng Giác

Trang 7

Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương đem về lăng lớn ở Yên Sinh, để tránh người Chiêm Thành” [26, tr.408]

KDTLSVHNTTĐT tọa lạc trên vùng đất có non bình thủy tụ với diện tích khoảng 15km2 từ núi Đạm Thủy đến núi Ngọa Vân thuộc các xã Thủy

An, Tràng An, An Sinh, Bình Khê huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Đây

là khu di tích còn lưu giữ nhiều dấu ấn văn hóa quan trọng của triều đại nhà Trần và có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa của dân tộc

KDTLSVHNTTĐT hiện nay bao gồm đền An Sinh, đền Thái, lăng Tư Phúc, lăng Đồng Thái, lăng Đồng Mục, lăng Ngải Sơn, lăng Phụ Sơn, Nguyên lăng, lăng Đồng Hy Cùng với hệ thống lăng mộ, đền miếu, khu di tích còn có

sự hiện diện của các ngôi chùa và am tháp như: chùa Quỳnh Lâm, am - chùa Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên, chùa Trung Tiết

Đã hơn 7 thế kỷ trôi qua, cùng với bao thăng trầm của lịch sử, đất nước luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm, sự khắc nghiệt của thiên nhiên cùng với sự tác động vô thức của con người đã làm cho các công trình này bị hủy hoại nghiêm trọng, phần lớn chỉ còn lại phế tích Mặc dù, các di tích đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia đặc biệt, song do một số di tích nằm sâu trong rừng núi, một số chùa, am tháp lại do nhà chùa trực tiếp quản lý nên công tác bảo tồn, tôn tạo chưa theo phương pháp khoa học, chưa quan tâm tới yếu tố gốc của di tích Do đó, công tác quản lý, bảo tồn KDTLSVHNTTĐT đang là vấn đề cấp bách đặt ra cho huyện Đông Triều và tỉnh Quảng Ninh

Trong những năm qua, công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện nói chung và KDTLSVHNTTĐT nói riêng đã được quan tâm

và đạt được những kết quả cụ thể Tuy nhiên, công tác này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, việc đầu tư chống xuống cấp di tích chưa đáp ứng được yêu cầu; việc lấn chiếm đất đai, cảnh quan, không gian di tích vẫn còn xảy ra; công tác

Trang 8

bảo tồn, trùng tu tôn tạo di tích ở một số điểm còn thiếu cơ sở khoa học Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý di sản văn hóa chưa đạt hiệu quả Sự hưởng ứng và vai trò của người dân trong việc phát huy giá trị lịch sử văn hóa của di tích đang là vấn đề đặt ra trong công tác quản lý hiện nay Mặt khác, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của KDTLSVHNTTĐT còn là cơ

sở quan trọng để giáo dục truyền thống tốt đẹp, đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc, cũng là cơ sở để phát triển các loại hình du lịch như: du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch khám phá, từng bước phát huy được lợi thế của khu di tích cho sự phát triển kinh tế xã hội

Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất địa linh, nhân kiệt, giàu truyền thống cách mạng, với mục đích góp phần vào việc nghiên cứu, tìm hiểu và phát

huy giá trị KDTLSVHNTTĐT trong thời gian tới, tôi đã chọn đề tài “Quản lý

Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lý văn hóa

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

KDTLSVHNTTĐT, đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vào tháng 12 năm 2013, theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Với những giá trị mang trong mình, khu di tích này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm đầu tư nghiên cứu với các công trình sau:

2.1 Những công trình khảo cổ học

Kỷ yếu Hội thảo khoa học”Về di tích lịch sử văn hóa chùa Quỳnh

Lâm”: gồm 14 bài viết của các nhà nghiên cứu Hội thảo được tổ chức ngày

26/2/1992, trong đó có một số bài tiêu biểu:

Chùa Quỳnh Lâm trong tiến trình lịch sử của tác giả Nguyễn Du Chi

Tác giả cho biết đây là ngôi chùa lớn có niên đại gần nghìn năm, ra đời vào thời Lý, sang thời Trần, chùa được mở rộng trở thành trung tâm Phật giáo lớn

Trang 9

Quỳnh Lâm - Thiền Viện - Thi Xã của nhà nghiên cứu Nguyễn Duy

Hinh đã khẳng định chùa Quỳnh Lâm gắn liền với pho tượng nổi tiếng trong

An Nam tứ đại khí

Quỳnh Lâm trong lịch sử Phật giáo Việt Nam của tác giả Hà Văn Tấn

Tác giả cho rằng chùa Quỳnh Lâm gắn liền với những giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam Đó là từ thời Lý (thế kỷ XI) đến thời Trần (thế kỷ XIV)

Sưu tập di vật thời Trần trưng bày tại đền An Sinh: Qua công tác khảo

cổ, sưu tầm và trưng bày các di vật thời Trần tại đền An Sinh người xem có thể thấy, sau gần bảy trăm năm, nhà Trần đã làm nên những giá trị lịch sử văn hóa rực rỡ đóng góp vào kho tàng văn hóa của dân tộc

Am Ngọa Vân qua các bằng chứng khảo cổ học, Nguyễn Văn Anh

(2008): Nội dung cơ bản của cuốn sách này nhằm làm sáng tỏ Ngọa Vân là nơi tu hành và hóa phật của vị vua sáng, văn võ toàn tài, anh hùng dân tộc, đó

là Trần Nhân Tông - tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm

Kỷ yếu Hội thảo khoa học”Đông Triều với lịch sử nhà Trần” do

BQLCDTTĐQN tổ chức năm 2008 Kỉ yếu đã tập hợp các bài viết bao gồm:

14 chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu của nhiều nhà khoa học và kết luận hội thảo của GS Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam

Báo cáo kết quả khai quật thăm dò khảo cổ học di tích chùa Quỳnh Lâm (2009), đã làm rõ mặt bằng tổng thể, quy mô kiến trúc của chùa Quỳnh

Lâm xuất hiện vào thời Lý - Trần, toàn bộ mặt bằng tổng thể kiến trúc chùa Quỳnh Lâm thời Lê Trung hưng nằm chồng xếp lên hệ thống kiến trúc thời

Lý - Trần, sang các thời Lê, Nguyễn đều có tu bổ, xây dựng

Báo cáo kết quả khai quật thăm dò khảo cổ học di tích chùa Hồ Thiên

(2010): cho thấy được mặt bằng tổng thể khu chùa chính, vườn tháp, nhà tăng, nhà bia, am đá, di vật tìm được là gạch, ngói, đồ sành, gốm, các hệ thống chân

Trang 10

tảng đá, đá bó nền, về niên đại các công trình chủ yếu được xây dựng thời Trần, thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Di tích đền Thái trong hệ thống di tích lăng

mộ, đền miếu nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” do

BQLCDTTĐQN tổ chức năm 2011 Cuốn sách là tập hợp 17 bài viết của các nhà nghiên cứu tại hội thảo ngày 12/8/2011 trên cơ sở tiến hành khai quật thám sát khảo cổ học từ năm 2008 đến 2010 Quá đó chúng ta thấy được vai trò quan trọng của di tích đền Thái trong hệ thống lăng tẩm, đền miếu nhà Trần ở An Sinh

Kỷ yếu Hội thảo khoa học Giá trị khu di tích quốc gia đặc biệt - Khu Di tích lịch sử nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh): do UBND huyện Đông Triều tổ chức tháng 9/2014 Cuốn sách tập hợp 15 bài viết của các giáo sư, các nhà nghiên cứu trên 2 phương diện: giá trị của khu di tích nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ Chùa Quỳnh Lâm qua tư liệu lịch sử và khảo cổ học của

Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2013: Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về giá trị lịch sử, văn hóa chùa Quỳnh Lâm qua tư liệu khảo cổ học

Luận văn thạc sĩ Phát triển du lịch văn hóa tại huyện Đông Triều của

Phạm Minh Thắng năm 2013: Đây là công trình nghiên cứu về tiềm năng và

thực trạng và giải pháp phát triển du lịch ở huyện Đông Triều hiện nay

2.2 Những công trình nghiên cứu về di tích

Di tích và danh thắng Quảng Ninh, Ban quan lý di tích và Danh thắng

Quảng Ninh (2002): Cuốn sách giới thiệu gần 50 di tích và danh lam thắng cảnh của Quảng Ninh, trong đó từ trang 21 đến trang 29 giới thiệu lăng miếu

Trang 11

các vua Trần và cụm kiến trúc phật giáo thời Trần; từ trang 112 đến trang 121 giới thiệu di tích chùa Quỳnh Lâm thuộc KDTLSVHNTTĐT

Lý lịch di tích chùa Hồ Thiên, xã Bình Khê, huyện Đông Triều Quảng Ninh, Kiều Đình Sơn (2006) và Lý lịch di tích chùa Ngọa Vân, xã Bình Khê, huyện Đông Triều Quảng Ninh, Vũ Khánh Duyên (2008): Cả hai cuốn sách

này đều khảo tả về di tích chùa Hồ Thiên và chùa Ngọa Vân làm căn cứ để nghiên cứu, khảo cổ và lập quy hoạch cho công tác quản lý, trùng tu, tôn tạo

Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh của BQLCDTTĐQN (2010): Đây là một trong những cuốn sách viết đầy

đủ nhất về KDTLSVHNTTĐT, bao gồm hai phần: phần thứ nhất giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của vương triều Trần và các di tích nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; phần thứ hai giới thiệu một số tư liệu Hán Nôm trong các di tích

UBND huyện Đông Triều (2011), Lịch sử Đảng bộ huyện Đông triều,

tập I,II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Cuốn sách nêu quá trình hình thành

và phát triển của Đảng bộ huyện Đông Triều từ năm 1930 đến năm 2011 với các thành tựu phát triển kinh tế xã hội

Quần thể lăng tẩm nhà Trần ở Đông Triều, Nguyễn Văn Anh (2013),

Nxb Văn hóa - Thông tin: Cuốn sách giới thiệu khái quát về vị trí, tên gọi, lịch sử hình thành, cấu trúc mặt bằng lăng tẩm của các vua Trần tại An Sinh xưa và Đông Triều ngày nay

Am Ngọa Vân, Nguyễn Văn Anh (2013), Nxb Văn hóa - Thông tin: Cuốn

sách giới thiệu khái quát cuộc đời, sự nghiệp của đức vua Trần Nhân Tông qua các nguồn tư liệu và quá trình điều tra, nghiên cứu khảo cổ học, cho thấy được vị trí của Ngọa Vân trong hệ thống các di tích nhà Trần ở Đông Triều

Trang 12

2.3 Những công trình nghiên cứu về lễ hội

Lễ hội truyền thống tiêu biểu Quảng Ninh - Giáo trình điện tử Nguyễn

Thị Hà (2008): Cuốn sách giới thiệu một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở Quảng Ninh, trong đó có một số lễ hội của KDTLSVHNTTĐT

2.4 Những công trình nghiên cứu về danh nhân

Cuốn Kể chuyện các vị vua và hoàng tộc Triều Trần - Phạm Trường

Khang: Nội dung cuốn sách miêu tả chân dung các vị vua và các nhân vật trong hoàng tộc nhà Trần dựa trên các sự kiện lịch sử

Cuốn Kể chuyện các tướng lĩnh Triều Trần - Phạm Trường Khang: đã

giới thiệu gần 20 tướng lĩnh tiêu biểu nhất của nhà Trần trong suốt 175 năm trị vì của triều đại này

Từ những tài liệu trên, chúng tôi nhận thấy, các nhà khoa học đã nghiên cứu KDTLSVHNTTĐT ở nhiều góc độ khác nhau và có những nhận định, đánh giá khá sâu sắc về giá trị trị lịch sử, văn hóa của khu di tích này Trong

đó, cuốn Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng

Ninh của BQLCDTTĐQN (2010) đã đề cập một cách tổng thể về khu di tích

nhằm giới thiệu lịch sử, văn hóa nhà Trần hơn 700 năm tồn tại và phát triển ở Đông Triều

Như vậy, hiện nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về công tác QLNN đối với KDTLSVHNTTĐT Có lẽ tài liệu duy nhất đề cập đến công tác quản lý khu di tích này là các báo cáo tổng kết công tác văn hóa của phòng VHTT huyện Đông Triều, báo cáo tổng kết công tác quản lý di tích của BQLCDTTĐQN và báo cáo của SVH,TT&DL về QLNN về văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Nhưng vì đây là những báo cáo kết quả các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nói chung, hoặc báo cáo kết quả quản lý các di tích trọng điểm nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, nên các nội dung liên

Trang 13

quan đến công tác quản lý KDTLSVHNTTĐT chỉ được đề cập một cách có mức độ Tuy nhiên, đây lại là nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả luận văn

có cái nhìn chính xác hơn về thực trạng công tác QLNN đối với KDTLSVHNTTĐT, từ đó gợi mở nhiều ý tưởng và giải pháp để nâng cao công tác quản lý khu di tích này trong thời gian tới

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn làm rõ thực trạng công tác QLNN đối với KDTLSVHNTTĐT trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2014, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung vào các vấn đề sau:

- Tập hợp, thống kê và phân tích các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về KDTLSVHNTTĐT;

- Trình bày cơ sở khoa học của công tác quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử văn hóa nói riêng;

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý KDTLSVHNTTĐT từ năm 2009 đến năm 2014 để chỉ ra những ưu điểm và tồn tại trong công tác quản lý;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khu di tích đặc biệt này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý nhà nước đối với KDTLSVHNTTĐT

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác QLNN đối với KDTLSVHNTTĐT, tập trung ở 4 xã (An Sinh, Tràng

An, Bình Khê, Thủy An) của huyện Đông Triều

- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác QLNN đối với KDTLSVHNTTĐT từ năm 2009 đến năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: quản lý văn hóa, lịch sử, văn hóa học, khảo cổ học, điều tra xã hội học

- Phương pháp khảo sát điền dã: điều tra, phỏng vấn, thống kê, ghi chép, chụp ảnh, phân tích và tổng hợp tài liệu

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa và tổng

quan về Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với Khu Di tích

lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công

tác quản lý Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA NHÀ TRẦN

TẠI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử văn hóa

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm quản lý

Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” Theo cách hiểu

thông thường được ghi trong từ điển tiếng Việt, quản lý có nghĩa là trông nom, giữ gìn

Theo quan điểm của một số nhà triết học:

Các Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản

chất xã hội của quá trình lao động” [19, tr.29]

Còn theo F.Anghgen thì: “Quản lý là một trạng thái tất yếu phải có khi

nhiều người cùng hoạt động chung với nhau; khi có sự hợp tác của một số đông người; khi có sự phối hợp của nhiều người” [20, tr.435]

Dưới góc độ khoa học quản lý: “Quản lý là một phương thức làm cho

những hoạt động được hoàn thành với hiệu suất cao Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau nhằm đạt được những mục tiêu chung” [46, tr.3]

Hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý, tác động vào một đối tượng nhất định một cách có mục đích để duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng đó theo những mục tiêu đã định

Những quan điểm trên cho thấy, bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, do đó quản lý là một hoạt động khách quan để đảm bảo mục tiêu chung

Trang 16

Như vậy, có thể hiểu bản chất của quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các hoạt động quản lý, chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương pháp thích hợp dựa trên các nguyên tắc nhất định

Đối tượng quản lý: là tất cả những gì chịu sự tác động của chủ thể quản lý trên cơ sở nguyên tắc và phương pháp nhằm đạt được mục tiêu và ý chí của chủ thể Mục tiêu của quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định theo kế hoạch, nguyên tắc và phương pháp của chủ thể quản lý

1.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa

Văn hóa đối với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay đang đặt ra vấn đề cần được quản lý theo định hướng của Đảng và Nhà nước Quản lý văn hóa là một công việc khó khăn, phức tạp và

vô cùng nhạy bén Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII chỉ rõ: “Củng cố, hoàn thiện các thể chế văn hóa, đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân và lực lượng những người hoạt động văn hóa, tạo nhiều sản phẩm và sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[62] Quản lý nhà nước về văn hóa vừa đảm bảo cho văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí phát triển theo đúng hướng mà Đảng đã chỉ ra, vừa đảm bảo quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo, hưởng thụ văn hóa

Tác giả luận văn đồng tình với khái niệm:

QLNN về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hoá, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn

Trang 17

và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân [55, tr.58]

1.1.1.3 Khái niệm di tích lịch sử văn hóa

Trong một số ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt, DTLSVH đều có nghĩa là dấu tích, vết tích còn lại Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [47, tr.667]

Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật Di sản văn hóa sửa đổi bổ sung năm 2009 tại chương I, điều 4, mục 3 có ghi: Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có di tích lịch sử văn hóa, khoa học Cũng tại chương

IV, điều 28, mục 1 của Luật Di sản văn hóa năm 2001 quy định: Di tích lịch

sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;

b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước;

c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn sự kiện lịch sử tiêu biểu của của các thời kỳ cánh mạng, kháng chiến;

d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;

đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc các công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử [35, tr.19] Như vậy, DTLSVH là kết quả hoạt động lao động sáng tạo của con người

Trang 18

1.1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Từ các khái niệm QLNN về văn hóa và khái niệm về DTLSVH, chúng tôi khái quát khái niệm QLNN về DTLSVH như sau: QLNN về DTLSVH là

sự định hướng, quản lý, điều hành của Nhà nước nhằm bảo vệ giữ gìn các DTLSVH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực và ngày càng có sức sống mãnh liệt trong đời sống xã hội DTLSVH là bộ phận cấu thành nên hệ thống DSVH

Sau đây là một số khái niệm liên quan đến QLNN về DTLSVH:

Bảo quản di tích: Là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những tác

nhân huỷ hoại di tích mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích

Bảo tồn di tích: Là những hoạt động nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài,

ổn định của di tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó

Tu bổ di tích: Là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử -

văn hoá, danh lam thắng cảnh

Tôn tạo di tích: Là hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng, khai

thác và phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích

Phục hồi di tích: Là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử - văn

hoá, danh lam thắng cảnh đã bị huỷ hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh đó

1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

DTLSVH là bộ phận quan trọng cấu thành nên DSVH Chính vì vậy, nội dung QLNN về DTLSVH cũng chính là nội dung QLNN về DSVH và được đề

cập tại chương V, điều 54 của Luật Di sản văn hóa bao gồm [35, tr 33-34]:

Trang 19

- Xây dựng bộ máy quản lý, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch và phát huy di sản văn hóa và di tích lịch sử văn hóa

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di tích

- Tổ chức các hoạt động bảo tồn, trùng tu, tôn tạo DTLSVH

- Tổ chức và phát huy các giá trị của di tích

- Xây dựng, quản lý và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách

- Tổ chức và quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học, khảo cổ

- Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm

Theo tinh thần của Luật Di sản văn hóa, tựu trung lại có mấy phương diện quản lý sau đây:

Thứ nhất: Bộ máy và mô hình quản lý

Thứ hai: Các văn bản quản lý

Thứ ba: Các hoạt động quản lý

1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Từ nội dung QLNN về DTLSVH, có thể thấy, QLNN về DTLSVH có những vai trò sau đây:

- Vai trò xác lập chủ thể quản lý, xác lập hình thức sở hữu DTLSVH theo quy định của pháp luật

- Vai trò bảo vệ và phát huy giá trị của DTLSVH

- Vai trò sử dụng các DTLSVH để tạo động lực cho phát triển KTXH

- Vai trò định hướng công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo DTLSVH

- Vai trò phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm hại DTLSVH

- Vai trò xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý DTLSVH

Trang 20

1.2 Tổng quan về Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

1.2.1 Lược sử về huyện Đông Triều

1.2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Đông Triều là huyện cửa ngõ phía tây của tỉnh Quảng Ninh Theo sách

Đại Nam nhất thống chí, địa giới của Đông Triều cổ gồm phía Tây đến Chí

Linh, phía Bắc đến Lục Ngạn, phía Đông đến Hoành Bồ, phía Nam đến Giáp Sơn Như vậy, Đông Triều cổ xưa bao gồm các vùng đất Uông Bí, Đông Triều, một phần đất của huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng) và một phần đất của huyện Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dương) ngày nay

Huyện Đông Triều hiện nay bao gồm 21 đơn vị hành chính (19 xã và 2 thị trấn), dân số gần 156.959 người Thị trấn Đông Triều (đô thị loại IV) là trung tâm hành chính của huyện với diện tích gần 1 km2, dân số trên 5.000 người Thị trấn Mạo Khê (đô thị loại IV) cách thị trấn Đông Triều 8 km về phía đông 19 xã thuộc huyện Đông Triều bao gồm: Bình Dương, Nguyễn Huệ, Thủy An, Việt Dân, Tân Việt, Anh Sinh, Bình Khê, Trang Lương, Tràng

An, Đức Chính, Hồng Phong, Hưng Đạo, Xuân Sơn, Kim Sơn, Yên Thọ, Yên Đức, Hoàng Quế, Hồng Thái Đông, Hồng Thái Tây

Điều kiện tự nhiên

Khí hậu: Khí hậu Đông Triều mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa

Nhiệt độ trung bình năm 24,40C, độ ẩm 81%, lượng mưa trong năm là 1.809mm, thấp hơn nhiều huyện trong tỉnh Nhìn chung, khí hậu Đông Triều tương đối ôn hoà, thuận lợi cho đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân Địa hình: Là một vùng trung du có diện tích đất tự nhiên 397,2km2, Đông Triều có địa hình dốc dần từ bắc xuống nam Phía Bắc là vòng cung núi

Trang 21

Đông Triều Vùng phía Đông có các núi Cao Băng, Đông Sơn, Bảo Quan cao trên dưới 500m

Thuỷ văn: Đông Triều là một huyện có nhiều sông ngòi chảy qua: sông Kinh Thầy, sông Đạm Thủy, sông Cầm Hệ thống sông ngòi như vậy rất thuận tiện cho giao thông vận tải thủy Những dòng sông này không chỉ mang nặng phù sa mà còn là nơi tử trận của nhiều tướng giặc Ngoài ra, huyện có 14

hồ đập như hồ Bến Châu, hồ Khe Chè, hồ Trại Lốc đáp ứng được nhu cầu cho sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp của huyện

Tài nguyên: Tài nguyên lớn nhất là đất đai Đất nông nghiệp rộng tới 9.701 ha Đất lâm nghiệp cũng rộng tới 20.409 ha Đông Triều có khá nhiều tài nguyên trong lòng đất như than đá, đất sét, cát Với những đặc điểm tự nhiên phong phú, Đông Triều có cơ cấu kinh tế đa dạng gồm nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, công nghiệp, thủ công nghiệp, du lịch [49, tr 28-33]

1.2.1.2 Lịch sử hình thành

“Đông Triều là một vùng đất cổ Theo Đông Triều phong thổ ký (sách

chữ Hán chép tay), Đông Triều vốn là của phủ Nam Sách, thời cổ thuộc Tượng quận có tên là An Sinh hay Yên Sinh” [7 tr.5]

Thời thập nhị sứ quân (năm 966 – 968) có tên là An Sinh

Theo Đại việt sử ký toàn thư: Mùa xuân năm Đinh Dậu (1237), Trần

Thái Tông lấy đất vùng đất Yên Phụ (nay thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương), Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang (nay là huyện Đông Triều, Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh) phong cho Trần Liễu làm đất thang mộc và phong làm Yên Sinh Vương; đời vua Trần Dụ Tông (1341- 1369), An Sinh được đổi tên là Đông Triều [26, tr 273]

Thời Lê Thánh Tông (1460-1472) đổi thành huyện Đông Triều, xứ Hải Dương, đến thời Nguyễn, huyện Đông Triều vẫn thuộc trấn Hải Dương

Trang 22

Thời Pháp thuộc, Toàn quyền Pháp đã cho lập Đạo Đông Triều 1890) sau đó Đông Triều thuộc khu quân sự Phả Lại (24-8-1891), tiếp đến thuộc về tỉnh Hải Dương (10-10- 1895) Xưa, huyện Đông Triều rất rộng, bao gồm cả một phần huyện Kinh Môn và tổng Bí Giàng Năm 1896, tổng Bí Giàng cắt về huyện Yên Hưng

(10-11-Sau cách mạng Tháng Tám, đến năm 1947, Đông Triều thuộc khu Hồng Quảng Năm 1959, Đông Triều thuộc về Hải Dương Từ năm 1961, Đông Triều nhập lại vào khu Hồng Quảng (từ 30-10-1963, Hồng Quảng hợp nhất với Hải Ninh thành Quảng Ninh)

Sự kiện lịch sử sớm nhất trên đất này sử sách còn ghi được là cuộc khởi nghĩa của nữ tướng Lê Chân Bà quê ở An Biên nay thuộc xã Thuỷ An Năm

39, được tin Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa, Lê Chân đã triệu tập nhân dân Đông Triều, Kinh Môn, Thuỷ Nguyên đứng lên đánh giặc, lập căn cứ bên sông Cửa Cấm Lê Chân đã lập nhiều chiến công và trở thành nữ tướng tâm phúc của Hai Bà Trưng

Ở thời Trần, Đông Triều cũng là mảnh đất có nhiều chiến công vang dội Trong trận Bạch Đằng năm 1288, hai vua Trần đã phục binh ở vùng Yên Đức đánh dồn quân Nguyên - Mông xuống trận địa cọc, dân Đông Triều đã phá các cầu chặn đường hộ tống của giặc

Đầu thế kỷ XIX, Đông Triều là nơi hưởng ứng mạnh mẽ phong trào Cần Vương chống Pháp như các cuộc khởi nghĩa của Đốc Tít (1884-1892), Lãnh Pha (1892), Đốc Thu (1893-1895)… Tiếp đến là phong trào đấu tranh của công nhân mỏ Mạo Khê

Tháng 3-1929, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội được thành lập Ngày 23-2-1930, chi bộ ĐCSVN ở Mạo Khê ra đời Đây là chi bộ ĐCSVN đầu tiên ở Quảng Ninh Đông Triều là quê hương của một chiến khu

Trang 23

oanh liệt trong cách mạng tháng Tám năm 1945 (sau được gọi là Đệ tứ chiến khu) Trong kháng chiến chống Pháp, Đông Triều là vùng chiến tranh du kích nổi tiếng Trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân Đông Triều đã chiến đấu anh dũng, góp phần vào sự nghiệp thống nhất nước nhà

Tóm lại, Đông Triều là vùng đất địa linh nhân kiệt, có bề dày truyền thống cách mạng với những trang sử vẻ vang, hào hùng, gắn liền với chiều dài lịch sử của dân tộc đồng thời đây cũng là nơi có nhiều di sản văn hóa đặc sắc của thời Lý - Trần như chùa Quỳnh Lâm, đền An Sinh, đền An Biên

1.2.1.3 Đặc điểm dân cư và văn hóa huyện Đông Triều

Đặc điểm dân cư: Về dân cư, Đông Triều có số dân là 156.959 người

(theo kết quả điều tra năm 2013) đứng thứ 3 trong tỉnh sau thành phố Hạ Long và Cẩm Phả với 9 dân tộc sinh sống chủ yếu là người Kinh tiếp đến là người Tày, người Hoa, người Sán Dìu, Sán Chỉ, Nùng, Dao, Mường, Thái Đặc điểm văn hóa: Đông Triều có nhiều tài năng kiệt xuất, nhất là thời Trần như: Danh nhân Trần Thì Kiến, Bảng nhãn Lê Hiếu, Thám hoa Trần Đình Sâm Các Triều đại sau đó Đông Triều cũng có nhiều người đỗ đạc thành danh và làm quan giúp dân, giúp nước

Nhân dân Đông Triều theo hai tôn giáo chính: Phật giáo và Thiên chúa giáo Đông nhất vẫn là tín đồ Phật giáo, số người theo đạo Thiên chúa ở Đông Triều chiếm khoảng 5% dân số Toàn huyện có 3 xứ đạo là Đông Khê, Mạo Khê và Đạo Dương

Theo khảo sát thực tại địa bàn huyện, hiện có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ các anh hùng dân tộc, thờ những người có công với dân với nước

Toàn huyện Đông Triều có tất cả 56 lễ hội tiêu biểu như lễ hội Chùa Quỳnh Lâm diễn ra từ ngày 1-4/2 âm lịch hàng năm; lễ hội Đền An Sinh diễn

Trang 24

ra từ ngày 20-22/8 âm lịch hàng năm; lễ hội Đền An Biên diễn ra từ ngày 10/1 âm lịch hàng năm

8-1.2.1.4 Các loại hình di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Đông Triều

Theo Quyết định số 2459/QĐ-UBND ngày 14/8/2009 của UBND tỉnh Quảng Ninh, hiện nay, trên địa bàn toàn huyện có 133 DTLSVH&DT

được kiểm kê, phân loại nhưng chưa được xếp hạng

1.2.2 Các di tích trong Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Đông Triều là vùng đất gắn bó mật thiết với lịch sử, văn hoá nhà Trần - một vương triều nổi tiếng trong lịch sử phong kiến Việt Nam Đây không chỉ

là quê gốc của nhà Trần, là đất thang mộc của An Sinh Vương Trần Liễu, mà còn là một trung tâm văn hoá tâm linh tiêu biểu, nơi xây dựng lăng mộ, đền thờ của các vị hoàng đế và nhiều công trình tôn giáo linh thiêng khác như am, chùa, tháp liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm do Trần Nhân Tông sáng lập Trong nền cảnh không gian đó, Đông Triều - Yên Tử còn được xem như là Kinh đô Phật giáo của nước Đại Việt thế kỷ 13,14

KDTLSVHNTTĐT bao gồm 3 hệ thống các di tích như sau:

Trang 25

1.2.2.1 Lăng mộ các vị vua Trần

Lăng Tư Phúc: lăng Tư Phúc tọa trên một quả đồi thấp thuộc thôn Trại Lốc, xã An Sinh Đây là nơi thờ thần vị của hai vua đầu triều là Trần Thái Tông và Trần Thành Tông

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1381 để tránh quân Chiêm Thành tàn phá lăng tẩm, nhà Trần đã cho chuyển thần tượng của các lăng ở Quắc Hương (Mỹ Lộc, Nam Định), Thái Đường, Hưng Long, Kiến Xương (Thái Bình) đưa về lăng lớn ở Yên Sinh Lăng lớn này chính là lăng Tư Phúc Theo sử sách, Trần Thái Tông tên thật là Trần Cảnh, ông là con thứ của Trần Thừa - một người nhiều mưu lược, giữ chức Nội thị khán thủ dưới triều Lý Trần Thái Tông sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần (1218), nhờ sự giúp đỡ của chú là Trần Thủ Độ, Trần Cảnh vào làm Chi Hậu chính triều Lý rồi kết hôn với vua Lý Chiêu Hoàng Năm 1225, ông được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, đánh dấu sự chuyển giao quyền lực từ tay nhà Lý (1009-1225) sang nhà Trần Trần Thái Tông ở ngôi 32 năm (1225-1259), làm Thái Thượng hoàng 19 năm, ông mất ngày 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (1277) tại cung Vạn Thọ, thọ 60 tuổi

Trần Thái Tông là vị vua khởi nghiệp nhà Trần, triều đại cực thịnh trong lịch sử dân tộc Ông đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất năm 1258

Năm 1277, sau khi vua băng ở cung Vạn Thọ được táng ở Chiêu Lăng (nay thuộc Tam Đường, Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình) Năm 1381, thần tượng được rước về lăng Tư Phúc ở An Sinh

Trần Thánh Tông là vị vua thứ hai của triều Trần, tên húy là Trần Hoảng, ông là con trưởng của Thượng hoàng Trần Thái Tông, sinh ngày 25 tháng 9 năm Canh Tí (1240) Năm 1258, sau khi đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông lần thứ nhất, Trần Thánh Tông được vua cha Trần Thái Tông

Trang 26

nhường ngôi, đổi niên hiệu là Thiệu Phong, xưng làm Nhân Hoàng, tôn vua cha là Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng hoàng Vua ở ngôi 21 năm, làm Thái Thượng hoàng 12 năm, mất ngày 25 tháng 5 năm Trùng Hưng thứ 6 (1290) tại cung Nhân Thọ, thọ 51 tuổi

Trần Thánh Tông là vị vua văn võ song toàn, người đã lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Nguyên-Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288), làm nên một chiến thắng Bạch Đằng nổi tiếng trong lịch sử Năm 1290, sau khi vua băng được táng vào Dụ Lăng ở Tam Đường (Thái Bình) Năm 1381, thần tượng được rước về lăng Tư Phúc ở An Sinh Hiện nay, Lăng Tư Phúc chỉ còn là phế tích, người dân địa phương xây tạm một ngôi nhà nhỏ để thờ cúng [ PL 2, Ả 16, tr.137]

Lăng Đồng Thái: lăng Đồng Thái hay còn gọi Thái lăng là lăng vua Trần

Anh Tông (1276-1320), vị vua thứ tư của nhà Trần Lăng được xây dựng trên quả đồi thấp có tên là đồi Trán Quỷ, 3 mặt Bắc, Đông, Tây được bao bọc bởi núi non trùng điệp, phía Nam có dòng suối uốn lượn tạo thành minh đường thủy tụ

Vị trí ngày nay ở giữa lòng hồ Trại Lốc, xã An Sinh Những năm 70 của thế kỷ trước, khi đắp đập Trại Lốc đã làm thay đổi cảnh quan khu lăng, biến đồi Trán Quỷ thành ốc đảo nằm giữa lòng hồ, từ đó dân địa phương gọi là Đảo Vua Trần Anh Tông tên húy là Trần Thuyên, sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276), con trai vua Trần Nhân Tông Năm 17 tuổi (1293) Trần Anh Tông được vua truyền ngôi, ông ở ngôi 21 năm, làm Thái Thượng hoàng 6 năm Ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320) băng ở cung Trùng Hoa, phủ Thiên Trường thọ 47 tuổi Ngày 12 tháng 12 năm ấy được táng tại Thái Lăng Trần Anh Tông được sử sách ca ngời là người có tính tình đôn hậu, đức

độ và quyết đoán trong công việc Nhờ “khéo nối chí giữ nghiệp, cho nên bấy giờ đất nước thái bình, chính trị tốt đẹp, văn vật chế độ dần dần thịnh lên”

Trang 27

Nhà Trần dưới thời Trần Anh Tông, đất nước thái bình, thịnh trị, bờ cõi được

mở rộng, các mặt kinh tế, văn hóa đều phát triển

Hiện nay, lăng Đồng Thái chỉ còn là phế tích, chính quyền địa phương

đã xây dựng từ đường để thờ vua Trần Anh Tông [PL 2, Ả 13, tr 134]

Lăng Đồng Mục: lăng Đồng Mục hay còn gọi là Mục lăng là lăng vua Trần Minh Tông (1300-1357) Ông là vị vua thứ 5 của nhà Trần, tên húy là Trần Mạnh Ông sinh ngày 21 tháng 8 năm Canh Tý (1300) lê ngôi năm 14 tuổi, ở ngôi 15 năm Làm Thái Thượng hoàng 28 năm Vua là người đức độ, tài năng đem văn minh sửa sang đạo trị nước, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ sâu xa, giữ nghiêm kỷ cương, trong yên ngoài phục, làm rạng rỡ cho cơ nghiệp nhà Trần, đất nước yên bình Ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (1358) băng tại cung Bảo Nguyên, thọ 58 tuổi Ngày 11 tháng 11 năm đó táng tại Mục lăng ở An Sinh Năm 1970, khi đắp đập Trại Lốc, Mục lăng đã bị phá hủy hoàn toàn [PL 2, Ả 19, tr 136]

Lăng Ngải Sơn: Ngải lăng hay An lăng hoặc Xương An lăng là những tên gọi khác nhau của lăng mộ vua Trần Hiến Tông, vị vua thứ 6 của nhà Trần Lăng tọa lạc tại chân đồi thuộc khu Ao Bèo, thôn Trại Lốc, xã An Sinh Trần Hiến Tông tên húy là Trần Vượng, con thứ của vua Trần Minh Tông, sinh ngày 17 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1319) Năm 10 tuổi được cha truyền ngôi,

ở ngôi 13 năm, mất ngày 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (1341) thọ 23 tuổi Vua lên ngôi khi còn nhỏ lại mất sớm nên việc điều hành triều chính, dẹp loạn và giữ yên bờ cõi do Thượng hoàng Trần Minh Tông đảm nhiệm

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trần Hiến Tông sau khi băng được táng ở

An lăng, phủ Kiến Xương Tuy nhiên, các sách khác như Lịch triều hiến chương loại chí, hoặc Trần triều thánh tổ các sứ thổ địa chép, Trần Hiến Tông được táng ở Ngải lăng, xã An Sinh Thực tế lịch sử, từ năm 1320, các lăng tẩm nhà Trần đều được xây dựng tập trung ở An Sinh Bằng chứng điều tra khảo cổ

Trang 28

học cho thấy, Ngải Sơn lăng là một khu mộ có quy mô rất lớn Tại khu di tích hiện còn có các tượng quan hầu, nhiều tượng động vật và các đế bia tạo hình rùa lớn bằng đá Bằng chứng này cho thấy, dọc đường thần đạo của khu lăng xưa vốn có tượng thú và tượng quan chầu cùng những tấm bia đá rất lớn

Năm 2002, Công ty Than Mạo Khê đã đầu tư kinh phí xây dựng lại lăng Ngải Sơn với diện tích khoảng 64m2 Công trình gồm có lăng mộ, miếu thờ, trụ biểu, vườn tượng người và một số chó đá, dê đá… được xây dựng theo lối hiện đại [PL 2, Ả 15, tr 135]

Lăng Phụ Sơn: Phụ Sơn lăng hay Phụ Xứ lăng là tên gọi khác nhau của lăng mộ vua Trần Dụ Tông (1336-1369), vị vua thứ 7 của nhà Trần Lăng tọa trên một bãi đất rộng, bằng phẳng tại khu Đống Tròn, xóm Mới, thôn Bãi Dài,

xã An Sinh

Trần Dụ Tông tên húy là Trần Hạo, sinh ngày 19 tháng 10 năm Bính

Tý (1336), lên ngôi năm 6 tuổi (1341), ở ngôi 28 năm Vua tính rất thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, các di thần đều phục Mùa hạ, ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1369) băng ở chính tẩm, thọ 34 tuổi Tháng 11 năm ấy táng vào Phụ Sơn lăng ở An Sinh

Đến nay, các kiến trúc trên mặt đất của Phụ Sơn lăng chỉ còn là phế tích Trải qua hàng trăm năm tồn tại với nhiều biến đổi của thiên nhiên và lịch sử, hiện trên bề mặt khu vực lăng chỉ còn một số hiện vật như: gạch, ngói, chân tảng… Hầu hết các hiện vật của lăng đã bị vùi trong lòng đất Để có chỗ hương khói, thờ tự phục vụ tín ngưỡng của nhân dân địa phương, huyện Đông Triều

đã cho đặt tại lăng một cây hương đá và một bàn thờ đá [PL 2, Ả 18, tr 136]

Nguyên lăng: Nguyên lăng, Đồng Hỷ lăng hay Chiêu lăng là các tên gọi

khác nhau của lăng vua Trần Nghệ Tông, vị vua thứ 8 nhà Trần Lăng tọa trên một quả đồi thấp tại thung lũng Khe Nghệ, xóm Bãi Đá, thôn Bãi Dài, An Sinh

Trang 29

Trần Nghệ Tông tên húy là Trần Phủ, sinh tháng 12 năm Tân Dậu (1321)

là con thứ 3 của Minh Tông Hoàng đế Trước khi làm vua, ông được phong tước Cung Định vương, khi Dương Nhật Lễ chiếm ngôi, ông đứng đầu hàng tôn thất, cầm quân tiến về kinh thành Thăng Long giành lại ngôi báu năm 1370, ở ngôi 3 năm (1370-1372) sau đó nhường ngôi cho em là Trần Kính tức vua Trần Duệ Tông để làm Thái Thượng hoàng, 21 năm sau ngày 15 tháng 2 năm Giáp Tuất (1394) ông băng, thọ 74 tuổi được táng tại Nguyên lăng ở An Sinh

Đến nay, các kiến trúc trên mặt đất của Nguyên lăng chỉ còn là phế tích Để có chỗ hương khói, thờ tự phục vụ tín ngưỡng của nhân dân địa phương, huyện Đông Triều đã cho đặt tại lăng một cây hương đá và một bàn thờ đá [PL 2, Ả 17, tr 136]

Đồng Hỷ lăng: Đồng Hỷ lăng hay Hy lăng là lăng mộ của vua Trần Duệ Tông và Trần Thuận Tông, tương truyền được xây dựng trên núi Đạm Thủy, gần Quán Ngọc Thanh, nay thuộc thôn Đạm Thủy, xã Thủy An

Trần Duệ Tông là vua thứ 9 của nhà Trần, tên húy là Trần Kính, là con thứ 11 của vua Trần Minh Tông, là em của 3 vị vua Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông Ông sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337), năm

1372 được vua anh là Trần Nghệ Tông nhường ngôi, ở ngôi 6 năm, ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1377) tử trận tại thành Đồ Bàn (Bình Định), thọ 41 tuổi Trần Duệ Tông là vị vua có cá tính mạnh mẽ, mang hoài bão chấn hưng quốc gia Năm 1372, sau khi được vua anh nhường ngôi, ông để tâm lo việc triều chính quốc gia, kén tướng luyện quân, đặt khoa thi lấy người tài, đồng thời đề cao ý thức dân tộc, bảo vệ thần phong mỹ tục, biểu hiện ý thức tự cường Tuy nhiên, quá nôn nóng trong việc tiêu diệt họa xâm lấn của người Chiêm, Trần Duệ Tông thân chinh đem quân đi đánh Chiêm Thành rồi tử nạn Năm 1377, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông thấy ông vì nước mà bỏ mạng

Trang 30

nên chiêu hồn về Hy lăng và cho lập con trưởng của Trần Duệ Tông là Kiến Đức tức Trần Phế Đế nối nghiệp nhà Trần

Trên núi Ngọc Thanh hiện còn rất nhiều chân tảng đá chạm khắc hoa sen, cùng các loại gạch, ngói khác nhau của thời Trần cho thấy đã từng tồn tại

ở đây các công trình kiến trúc của thời kỳ này Rất tiếc là khu vực Đồng Hỷ lăng hiện nay chỉ còn là phế tích

Dưới thời Lê, Nguyễn, nhân dân xã An Sinh là “dân hộ nhi” được trừ mọi khoản thuế phu dịch để phụng sự lăng tẩm bao gồm: chùa Ngọa Vân và chùa Tư Phúc Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, điện An Sinh

đã nhiều lần trùng tu, tôn tạo nên di tích không còn nguyên gốc

Từ năm 1958-1975, khu vực điện An Sinh trở thành trường học của học sinh miền Nam tập kết ra Bắc

Từ năm 1997-2000, để bảo tồn và phát huy giá trị di tích điện An Sinh, UBND huyện Đông Triều đã xây mới đền trên nền điện cũ gọi là đền An Sinh và đặt tượng thờ 8 vị vua nhà Trần gồm: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông

và Trần Giản Định ở hậu cung, khu vực trung đường đặt tượng thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn - vị tướng kiệt xuất thời Trần [PL 2, Ả 6, tr 132]

Trang 31

Lễ hội đền An Sinh lấy ngày 20 tháng 8 âm lịch (tức là ngày khánh thành đền mới và ngày giỗ của Trần Hưng Đạo) làm ngày tổ chức lễ hội Đền Thái: Đền Thái nằm trên khu đồi Đình thuộc là Trại Lốc, xã An Sinh Theo truyền thuyết và các tài liệu nghiên cứu, đền Thái được xây dựng vào thời Trần và là nơi thờ các vua đầu triều nhà Trần Thời Nguyễn khi người Hoa đến cư trú và thành lập làng Đốc Trại (làng Trại Lốc ngày nay) đã xây dựng tại đây một ngôi đình, gọi là đình Đốc Trại Đình thờ 8 vị vua Trần

và được triều đình ban sắc phong là Thành hoàng của làng Đốc Trại

Trải qua thời gian, đền Thái và đình Đốc Trại đã bị phá hủy hoàn toàn Căn cứ lý lịch di tích của BQLCDTTĐQN, kết quả khai quật đã phát hiện dấu tích nền móng của 39 công trình kiến trúc thời Trần gồm: mặt bằng công trình kiến trúc, sân vườn, bậc cấp và đường đi Các kiến trúc này được xây dựng qua 3 giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn đầu được xây dựng vào khoảng nửa đầu thế kỷ 13 gồm khu vực kiến trúc trung tâm và ngoại vi Khu vực trung tâm là tổ hợp của 12 công trình kiến trúc nối liên hoàn với nhau tạo thành một chỉnh thể có mặt bằng hình chữ Vương, trong đó 4 kiến trúc nằm ngang theo chiều Đông - Tây là các kiến trúc có quy mô lớn và quan trọng nhất Các kiến trúc này nối với nhau bằng ống muống ở giữa và hành lang ở hai bên Xen giữa các kiến trúc là các khoảng sân vườn tạo nên sự hài hòa về không gian kiến trúc Đây là các giếng trời để lấy ánh sáng và cũng là một khu vườn nhỏ tạo nên những sắc thái riêng biệt, độc đáo của công trình

Như vậy, dựa vào kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học tại đền Thái và các nguồn sử liệu khác đã cho phép các nhà khoa học đưa ra kết luận

về chức năng của di tích Đền Thái vốn là Tiên Miếu nhà Trần do An Sinh Vương Trần Liễu xây dựng vào nửa đầu thế kỷ 13 khi ông được ban ấp thang mộc ở An Sinh Ban đầu, Tiên Miếu chỉ thờ tổ tiên nhà Trần và Trần Thừa

Trang 32

(cha đẻ của Trần Liễu) và vua Trần Thái Tông Nhưng về sau, do Anh Sinh là quê gốc của nhà Trần nên sau khi băng hà, bài vị của các vua Trần được thờ cúng tại đây Vì thế, Tiên Miếu trở thành Thái Miếu

Trải qua thời gian, với những thăng trầm của lịch sử, đặc biệt sau 20 năm bị quân Minh tàn phá, Thái Miếu đã bị hoang phế Tuy vẫn được nhớ đến

là nơi thờ các vị vua Trần nhưng tên gọi đã biến đổi từ miếu thành đền như ngày nay Năm 1993, nhân dân xây một ngôi nhà nhỏ để thờ các vua

1.2.2.3 Am, chùa, tháp liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Am - chùa Ngọa Vân: Nằm trên núi Bảo Đài ở độ cao 500m so với mực nước biển Am - chùa Ngọa Vân thuộc thôn Tây Sơn, xã Bình Khê, nơi

có nhiều danh thắng đẹp và nhiều điểm di tích kiến trúc chùa, tháp được phân

bố trải dài từ suối Phủ Am Trà, xã An Sinh qua Đô Kiệu, Thông Đàn, Ngọa Vân, Đá Chồng và Ba Bậc Do nằm trên đỉnh núi cao quanh năm mây phủ, nên tên chùa có nghĩa là nằm trên mây

Am - chùa Ngọa Vân xưa kia là nơi đức vua Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông - Đệ nhất Tổ Thiền phái Trúc Lâm tu hành và hóa Phật Trần Nhân Tông (1258-1308) tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ, là Hoàng thái tử của vua Trần Thánh Tông Ông là vị vua thứ 3 của triều Trần, lên ngôi năm 21 tuổi, làm vua 14 năm, đến năm 35 tuổi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để làm Thái Thượng hoàng Ông được sử sách ca ngợi là vị vua anh minh, hiền tài nhất trong lịch sử Đại Việt Dưới sự dẫn dắt của ông, triều đại nhà Trần trở thành một trong những triều đại hiển hách nhất cả về võ trị và văn trị trong lịch sử dân tộc Cùng với vua cha là Trần Thánh Tông, ông đã trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông (đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ) giành thắng lợi vẻ vang Thắng lợi đó đã giúp nhà Trần giữ vững

Trang 33

được nền độc lập dân tộc, đặt nền móng cho việc mở mang bờ cõi, yên định biên cương và xây dựng nền văn hóa Đại Việt phát triển hưng thịnh

Sau 15 năm từ khi lên ngôi, vào thời điểm đang ở đỉnh cao của quyền lực, năm 1293, Trần Nhân Tông đã quyết định nhường lại ngôi báu cho con trai để sau đó một thời gian (1299), Ngài xuất gia trở thành một nhà tu hành Ngài đã để tâm vào Phật giáo, nghiên cứu những lẽ huyền vi để hệ thống hóa thành những quan điểm riêng của Thiền phái Trúc Lâm do Ngài sáng lập Nền tảng căn bản của Thiền phái này là không kêu gọi tín đồ lìa bỏ cuộc sống trần tục, không ép xác khổ hạnh, mà đề cao nhân nghĩa, giáo dục lòng nhân đạo, không phân biệt giàu sang, luôn nhớ đến cội nguồn Từ đây, Trần Nhân Tông

đã vượt lên khỏi tầm vóc của một vị vua anh minh, một nhà quân sự lỗi lạc để trở thành một nhà tư tưởng có tầm vóc vượt thời đại Tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông được giới khoa học ngày nay đánh giá là sự kết tinh những giá trị cao nhất của nhân loại: trí tuệ, lòng nhân ái và sự hòa giải

Năm 1306, Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông vào tu tại am Ngọa Vân lấy pháp hiệu là Trúc Lâm đại sĩ, đến năm 1308, băng ở am Ngọa Vân, thọ 51 tuổi

Hiện nay, trên chùa Ngọa Vân tồn tại hai ngôi tháp đá trong đó có Phật Hoàng tháp - nơi đặt xá lị của Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Di tích này đã được Bộ Văn hóa, Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006 Tiếc rằng, nhiều hạng mục công trình của am - chùa Ngọa Vân xưa cho đến nay không còn nữa

Chùa Hồ Thiên: Chùa Hồ Thiên có tên chữ là Trù Phong tự, thuộc thôn Phú Ninh, xã Bình Khê, chùa được xây dựng trên núi Phật Sơn ở độ cao 580m so với mực nước biển

Pháp Loa, vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm là người khởi dựng chùa

Hồ Thiên Tại đây, ngài cho xây một số tháp bằng đất nung và một số tháp đá

Trang 34

Dưới thời Lê Trung Hưng, chùa Hồ Thiên cũng được triều đình nhà Lê cho trùng tu, tôn tạo vào các năm Vĩnh Thịnh (1705-1719), Vĩnh Khánh (1726-1732), Vĩnh Hựu (1735-1740) Để xây dựng lại chùa có quy mô lớn như những dấu vết vẫn còn đã khai quật được, triều đình đã huy động sức dân ở 5 huyện như: Giáp Sơn, Thủy Đường, Đông Triều, Kim Thành, Thanh Hà Đợt đại tu này các công trình đã được xây mới gồm: chùa chính, nhà tăng, nhà tổ, vườn tháp, nhà bia Trong đó, chùa chính có mặt bằng hình chữ công, diện tích 557m2 gồm tiền đường 5 gian, thêu hương 3 gian và thượng điện 5 gian Dựa vào dấu tích còn lại, đặc biệt là những chân tảng đá lớn cho thấy, kiến trúc Hồ Thiên xưa có quy mô đồ sộ, kết cấu khung gỗ, mái lợp ngói âm dương

Phía sau chùa là vườn tháp gồm có 6 tháp, trong đó, tòa tháp 7 tầng được xây bằng đá xanh đã được phục dựng năm 2009 Đặc biệt, trong khuôn viên chùa còn có nhà bia được xây dựng hoàn toàn bằng đá rất độc đáo, bên trong dựng một tấm bia lớn, được chạm khắc hoa văn rất tinh xảo Đây là bia “Trùng

tu Trù Phong tự bi kí” tạo năm Vĩnh Hựu thứ hai đời vua Lê Ý Tông (1736) Ngoài chùa, nhà bia, vườn tháp,… Hồ Thiên còn có khu tịnh thất lớn được xây dựng trên núi cao phía sau chùa, trong đó ở vị trí cao nhất là Am Hàm Long, các tịnh am còn lại sử dụng mái đá làm chỗ để ngồi thiền Tương truyền, dưới thời Trần, Hồ Thiên là chốn tu hành của các vị cao tăng Sau khi kết thúc khóa học ở Quỳnh Lâm viện, các cao tăng được chuyển về Hồ Thiên để tiếp tục tu hành Khu di tích này đã được Bộ Văn hóa, Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2006

Chùa Quỳnh Lâm: Được xây dựng trên quả đồi thấp thuộc núi Tiên Du, nằm giữa hai thôn Yên Sinh và Hà Lôi xã Tràng An

Theo tư tịch và các tài liệu văn bia, chùa Quỳnh Lâm được xây dựng vào thời Lý và nổi tiếng với sự hiện diện của Thiền sư Nguyễn Minh Không,

Trang 35

vị quốc sư danh tiếng dưới thời vua Lý Thần Tông Tại đây, Thiền sư đã cho đúc một pho tượng Phật tổ Di Lặc rất lớn, là một trong “An Nam tứ đại khí” Thời Trần, năm 1317, Pháp Loa đã cho mở mang và xây dựng chùa thành một trong những trung tâm đào tạo lớn của Thiền phái Trúc Lâm Bấy giờ, Quỳnh Lâm không đơn thuần là một ngôi chùa thờ Phật mà đã trở thành một tự viện lớn có khu học đường, thư viện Đồng thời, đây còn là nơi tổ chức các sự kiện Phật giáo lớn như vận động tăng nhân, phật tử trích máu để in

5000 cuốn kinh Đại tạng và lưu giữ tại chùa Quỳnh Lâm năm 1319, tổ chức lễ hội nghìn tượng Phật và cho xây dựng 02 tòa tháp để rước xá lị của vua Trần Nhân Tông năm 1325 Năm 1228, Pháp Loa cho đúc pho tượng Di Lặc cao 1 trượng 6 thước (khoảng 4,28m) Ngoài ra, Quỳnh Lâm cũng là nơi Pháp Loa giảng hội kinh Hoa Nghiêm Các vua Trần, vương hầu, quý tộc nhà Trần cũng thường xuyên tới đây thắp hương hướng Phật

Dưới thời Lê, thiền sư Chân Nguyên, người phục hưng Thiền phái Trúc Lâm đã tôn tạo và xây dựng lại chùa Quỳnh Lâm Đến thời Lê Trung hưng, triều đình đã cấp tiền và huy động nhân dân ba huyện Đông Triều, Chí Linh và Thủy Đường tham gia xây dựng chùa Việc trùng tu, tôn tạo kéo dài hơn 10 năm, tiêu tốn nhiều tiền của, vật lực nhưng công trình vẫn chưa hoàn thành Năm 1820, sau một thời gian dài xuống cấp, nhà Nguyễn đã cho trùng

tu, tôn tạo lại chùa Đến năm 1947, thực dân Pháp ném bom, chùa bị phá hủy hoàn toàn

Năm 1997, huyện Đông Triều đã huy động các nguồn lực, tổ chức trùng tu, tôn tạo chùa Quỳnh Lâm như ngày nay

Để khôi phục lại trung tâm Phật giáo Quỳnh Lâm xứng tầm với lịch sử, trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND huyện Đông Triểu đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật, nghiên cứu khảo cổ tại Quỳnh Lâm và đã thấy dấu vết kiến trúc của nhiều

Trang 36

thời kỳ từ thời Trần cho đến thời Nguyễn, cung cấp những cơ sở khoa học xác thực cho việc quy hoạch bảo tồn, tôn tạo chùa Quỳnh Lâm trong tương lai Chùa Trung Tiết: Chùa Trung Tiết hay còn gọi là chùa Tuyết, nằm ở thôn Nghĩa Hưng, xã An Sinh Chùa Trung Tiết là một di tích kiến trúc tôn giáo được xây dựng và tồn tại hơn 700 năm lịch sử, có mối quan hệ chặt chẽ với khu di tích đền thờ và lăng mộ các vua Trần ở Đông Triều, đặc biệt là di tích lăng Đồng Thái (lăng mộ vua Trần Anh Tông, vị vua thứ tư của triều Trần) Chùa là nơi thờ Phật và thờ hai vị bề tôi trung thành của vua Trần Anh Tông đó là Đặng Tảo và Lê Chung

Sau khi Thượng hoàng Trần Anh Tông băng năm Canh Thân (1320) ở cung Trùng Hoa, phủ Thiên Trường, ngày 12 tháng 12 năm ấy được táng tại Thái Lăng Đặng Tảo và Lê Chung đã tự nguyện về An Sinh dựng lều để trông coi Thái Lăng Để dồn hết tâm sức vào việc trông coi lăng tẩm, hai ông

đã dời cả gia đình, mồ mả tổ tiên về An Sinh Sau khi Lê Chung và Đặng Tảo qua đời, cảm động trước lòng trung nghĩa của hai vị, vua Trần Nghệ Tông đã sai Trần An xây dựng chùa và đặt tên là Trung Tiết nhằm ghi nhận tấm lòng trung hiếu, nghĩa tiết của các ông Đức hiếu trung của Đặng Tảo và Lê Chung

đã được chính sử dành cho 240 chữ ghi chép, được vua Trần Nghệ Tông thời Trần và Bảo Đại thời Nguyễn tôn vinh công trạng trong sử sách và bia đá Chùa hiện nay là những công trình được xây dựng dưới thời Nguyễn Các dấu vết kiến trúc thời Trần và các thời khác đều bị phá hủy, chôn vùi dưới lòng đất, song quanh khuôn viên chùa vẫn tìm thấy các di vật thời Trần, đặc biệt là các tượng đầu rồng có kích thước lớn dùng để trang trí trên mái kiến trúc cùng những chân tảng đá kê cột gỗ chạm cánh hoa sen phản ánh diện mạo và quy mô của chùa dưới thời Trần là khá lớn

Năm 2012, UBND tỉnh Quảng Ninh đã công nhận chùa Trung Tiết là

Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh

Trang 37

Chùa quán Ngọc Thanh: chùa quán Ngọc Thanh nằm ở sườn núi phía

đông của dãy núi Đạm Thủy, cùng khu vực lăng Đồng Hy Tài liệu Đông Triều huyện chí, mục núi sông ghi: “Tổng Đạm Thủy có núi Đạm Thủy, trên núi có chùa Linh Khánh và quán Ngũ Thanh, cảnh vật ở đây u tịch thanh vắng”, mục chùa Phật lại ghi: “chùa Ngọc Thanh ở xã Đạm Thủy, tổng Đạm Thủy, thời Trần Nhân Tông xa giá của nhà vua thường đến nơi này, thật là thắng cảnh của một vùng” Như vậy, theo các tài liệu trên, núi Đạm Thủy đã có chùa từ trước, đời Xương Phù (tức là đời vua Trần Phế Đế - vua Trần Giản Hoàng (1377-1388) xây dựng quán Ngũ Thanh (sau này gọi chung là quán Ngọc Thanh)

Am Mộc Cảo: là nơi ở vào cuối đời của Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng

thái hậu, vợ của vua Trần Anh Tông, mẹ của vua Trần Minh Tông

Bà được sử sách ngợi ca là người có bản tính nhân từ, là bậc đứng đầu mẫu đức Từ khi rước linh cữu vua Trần Anh Tông về táng ở Thái lăng, bà đã rời bỏ Kinh thành về sinh sống ở am Mộc Cảo để phụng thờ và chăm sóc lăng

mộ của chồng Bà sống đạm bạc ở đây trong suốt 10 năm rồi mất vào mùa thu, tháng 7 năm 1330

1.2.3 Giá trị của Khu Di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

1.2.3.1 Giá trị lịch sử

Di sản văn hóa nhà Trần trải rộng trên phạm vi cả nước nhưng tập trung nhất và điển hình nhất ở 4 nơi, đó là:

Kinh thành Thăng Long (Hà Nội): Đây là nơi nhà Trần đặt các cơ quan

quyền lực cao nhất của Quốc gia Đại Việt để điều hành đất nước

Phủ Thiên Trường (Nam Định): Đây là hành cung, là kinh đô chính trị

thứ hai sau Thăng Long của nhà Trần Sau khi các vua Trần nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng hoàng đều lui về hành cung Thiên Trường để nghỉ ngơi nhưng cũng để giám sát vua con trong quá trình điều hành đất nước, tạo nên sự phát triển bền vững và thịnh vượng của quốc gia Đại Việt

Trang 38

Long Hưng (Thái Bình): Đây là Khu di tích đền thờ và lăng mộ các vua

Trần, xưa kia gọi là Thái Đường lăng, thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, Thái Bình Đây là nơi phát tích đế vương của nhà Trần và là nơi

an nghỉ vĩnh hằng của 3 vị vua đầu triều Trần là Trần Thái Tông (táng ở Chiêu lăng), Trần Thánh Tông (táng ở Dụ Lăng), Trần Nhân Tông (táng ở Đức Lăng)

Đông Triều, Quảng Ninh: Đây không chỉ là quê gốc của nhà Trần, là đất

thang mộc của An Sinh Vương Trần Liễu, mà còn là nơi có tới 14 di tích gốc có quy mô lớn, phân bố trong không gian rộng lớn thuộc phạm vi 4 xã của huyện Đông Triều Trong mỗi di tích đều chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa quan trọng của triều đại nhà Trần Vì vậy, trong số 14 di tích có 10 di tích được BVHTT&DL công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia vào các năm 1962, 1991,

2006, 01 di tích được xếp hạng là Di tích lịch sử câp tỉnh năm 2012 Toàn bộ 14

di tích trên đã được quy hoạch tổng thể thành KDTLSVHNTTĐT Để thuận lợi cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích cũng như tạo đà cho sự phát triển kinh tế xã hội và du lịch của huyện Đông Triều, năm 2012, tỉnh Quảng Ninh đã lập hồ sơ đệ trình lên BVHTT&DL và Thủ tướng Chính phủ đề nghị công nhận khu di tích này là di tích quốc gia đặc biệt Ngày 09/12/2013, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã ký Quyết định số 2383 QĐ/TTg về việc công nhận KDTLSVHNTTĐT là di tích quốc gia đặc biệt

Nói đến giá trị lịch sử văn hóa của KDTLSVHNTTĐT không thể không kể đến việc vì sao vua Trần Anh Tông - vị hoàng đế thứ tư của nhà Trần lại là người đầu tiên quyết định đặt lăng mộ của mình tại An Sinh, Đông Triều vào năm 1320 Điều này được lý giải như sau:

Thứ nhất, trong kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, các lăng

mộ của nhà Trần ở Thái Bình bị tàn phá nghiêm trọng Để tránh điều này một lần nữa xảy ra, từ đời vua Trần Anh Tông và các đời vua sau đó đều được an táng ở Đông Triều

Trang 39

Thứ hai, dưới thời Lý, thời Trần, thời Lê sơ, khu lăng mộ của hoàng đế

đều được tập trung ở vùng quê gốc như nhà Lý là vùng Đình Bảng, Bắc Ninh, nhà Lê ở Lam Kinh, Thanh Hóa, còn nhà Trần đầu tiên vốn ở vùng Long Hưng, Thái Bình sau đó tụ về nơi được sử sách ghi là quê gốc ở An Sinh, Đông Triều - đây là nơi có vị trí vừa đẹp vừa an toàn Điều đó thể hiện giá trị

và đạo lý “lá rụng về cội” của dân tộc Việt Nam ta

Thứ ba có thể thấy nhà Trần tuy không phải là triều đại có thời gian trị

vì đất nước dài nhất, song đây lại là triều đại có nhiều đóng góp nhất trong lịch sử dân tộc trên các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa xã hội Ở phương diện chính trị, nhà Trần đã khéo léo để chuyển giao quyền lực

từ tay nhà Lý mà không phải đổ máu; ở phương diện quân sự, “Hào khí Đông

A” của nhà Trần đã tỏa sáng với ba lần chiến thắng đế chế Nguyên - Mông

hùng mạnh; ở phương diện kinh tế và văn hóa xã hội, nhà Trần đã xây dựng

và phát triển nước Đại Việt ổn định và hưng thịnh ở thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV Chính sự tồn tại và quy mô lớn, nhỏ của các lăng mộ vua Trần ở An Sinh đã khẳng và minh chứng cho sự thịnh vượng đó

1.2.3.2 Giá trị văn hóa

- Giá trị tôn giáo

Ngoài giá trị về lịch sử, KDTLSVHNTTĐT còn mang giá trị tôn giáo Trong lịch sử, Đông Triều là một trung tâm tôn giáo lớn - trung tâm Phật giáo, trung tâm của chùa tháp thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Đây là Thiền phái do Thượng hoàng Trần Nhân Tông, nhà văn hóa lớn, nhà thơ, nhà văn, một đấng minh quân, một ông Vua Phật, sáng lập ra và phát triển mạnh

mẽ thành quốc giáo Tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng Thiền phái Trúc Lâm vẫn có giá trị và sức sống trường tồn trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt cho đến ngày nay

Trang 40

- Giá trị kiến trúc, nghệ thuật

Mặc dù hầu hết lăng mộ các vua Trần, điện thờ và chùa đều đã bị phá hủy nghiêm trọng, nhưng kết quả khai quật khảo cổ học tại các di tích đền Thái, Thái lăng, Phụ Sơn lăng, Nguyên lăng, lăng Tư Phúc, chùa Ngọa Vân, chùa Quỳnh Lâm…cho thấy, dấu tích nền móng các công trình kiến trúc có quy mô lớn Đơn cử, các lăng mộ gồm có hai phần chính là tẩm điện (nơi đặt

mộ, nhà bia, tượng người, tượng thú) và phần lăng (nơi có sân và các công trình kiến trúc để hành lễ, thờ cúng) với 3 không gian chính tương đương với

3 chức năng cơ bản gồm không gian phần mộ (an táng), không gian thờ cúng (tế tự) và không gian sinh hoạt chuẩn bị nghi lễ (quản lý, trông coi)

Tại các chùa, đền, lăng mộ còn có các văn bia, khu vườn tháp và các loại chân tảng đá kê cột gỗ, các loại ngói lợp diềm mái, ngói lợp nóc mái gắn lá đề trang trí hình rồng, phượng cùng các loại ngói lợp đầu hồi trang trí tượng đầu rồng, đầu phượng cho thấy sự phô bày vẻ đẹp rực rỡ mang tính vương quyền

và thần quyền của các công trình kiến trúc ở đây Điều này phản ánh sinh động rằng, kiến trúc nhà Trần ở An Sinh được thiết kế, xây dựng rất hoàng tráng thuộc dạng thức kiến trúc hoàng gia, phản ánh rõ thân thế quyền lực của các vị hoàng đế nhà Trần Nói cách khác, thế giới vương quyền luôn ngự trị không chỉ trong chốn hoàng cung ở Thăng Long mà cả trong thế giới tâm linh, nơi yên nghỉ vĩnh hằng của các vị đế vương Đây chính là nét độc đáo của kiến trúc, nghệ thuật các lăng mộ cũng như các chùa, tháp thời Trần ở Đông Triều Tóm lại, KDTLSVHNTTĐT mang trong mình giá trị lịch sử, văn hóa được xem là những minh chứng đầy sức thuyết phục và độc đáo cho một thời

kỳ lịch sử văn hóa rực rỡ, một thời kỳ văn hiến của Đại Việt Những giá trị ấy

là sự thể hiện ý chí tự lực, tự cường, không ngừng củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong việc dựng nước và giữ nước Sức

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm