1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý khu di tích lịch sử lam kinh huyện thọ xuân tỉnh thanh hóa

132 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, với đường lối bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đảng, Lam Kinh đã được Nhà nước xếp hạng là một trong những di tích lịch sử - văn hóa đặc bi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN TẠO

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

+ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa;

+ Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa;

+ Ban quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh;

+ Ban quản lý Dự án các công trình văn hóa;

+ Cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn này

Tuy đã có nhiều cố gắng, song do công việc nghiên cứu tài liệu và sự hiểu biết còn hạn chế, Chắc chắn Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong được sự góp ý và chỉ dẫn, để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn !

Thanh Hóa, tháng 5 năm 2012

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Vân

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ; TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH 12

1.1 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh 12

1.1.1 Cơ sở khoa học 12

1.1.2 Cơ sở pháp lý 16

1.2 Tổng quan về khu di tích lịch sử Lam Kinh 20

1.2.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành huyện Thọ Xuân 20

1.2.2 Lịch sử hình thành di tích lịch sử Lam Kinh 22

1.2.3 Hiện trạng danh thắng, di tích, di vật và lễ hội ở Lam Kinh 24

1.3 Những giá trị lịch sử - văn hóa của khu di tích Lam Kinh 39

1.3.1 Giá trị lịch sử 39

1.3.2 Giá trị văn hóa 40

1.3.3 Giá trị nghệ thuật 41

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH 43

2.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Ban quản lý di tích lịch sử Lam Kinh 43

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý di tích Lam Kinh 45

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ hoạt động của ban quản lý di tích Lam Kinh 46

2.2 Các mặt hoạt động trong công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh 47

2.2.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích 47

2.2.2 Tổ chức tuyên truyền quảng bá, giới thiệu về di tích 49

2.2.3 Tổ chức kiểm kê, bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích 52

2.2.4 Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, hội thảo khoa học và tọa đàm tìm hiểu về giá trị của di tích 59

Trang 4

2.2.5 Phối hợp với địa phương quản lý di tích, tổ chức lễ hội, bảo vệ trật tự

an toàn xã hội 70

2.2.6 Công tác bảo vệ và phục hồi rừng 73

2.2.7 Tổ chức hoạt động dịch vụ và vệ sinh môi trường 74

2.2.8 Quản lý, đào tạo nguồn nhân lực 75

2.2.9 Huy động nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho bảo tồn và phát huy giá trị di tích 76

2.2.10 Công tác thi đua khen thưởng, thanh kiểm tra và xử lý vi phạm tại di tích 78

CHƯƠNG 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH 80

3.1 Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh 80

3.1.1 Ưu điểm 80

3.1.3 Nguyên nhân 83

3.2 Định hướng phát triển của khu di tích lịch sử Lam kinh 84

3.2.1 Định hướng của Chính phủ về công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh 84

3.2.2 Định hướng của UBND tỉnh Thanh Hóa 86

3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và phát huy giá trị khu di tích lịch sử Lam Kinh 88

3.3.1 Giải pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và công tác cán bộ 88

3.3.2 Giải pháp về công tác phát triển toàn diện tại khu di tích 91

3.3.3 Giải pháp về tổ chức quản lý các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích 93

3.3.4 Giải pháp về quy hoạch các dịch vụ phục vụ khách tham quan và vệ sinh môi trường 99

3.3.5 Giải pháp phát triển hoạt động du lịch theo hướng bền vững 101

3.3.6 Giải pháp thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm 103

3.3.7 Xã hội hóa trong công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh 105

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 113

Trang 5

- PGS TS : Phó giáo sư tiến sỹ

- TT- BVHTTDL : Thông tư - Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch

- VHTT&DL : Văn hóa Thể thao và Du lịch

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng khách du lịch đến tham quan khu di tích lịch

Bảng 2.2: Tổng hợp các dự án trùng tu tôn tạo đã được thực hiện trong giai

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Tỉnh Thanh Hóa, đặc biệt là vùng đất Lam Sơn nơi diễn ra sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, nơi sinh thành và hun đúc nên người Anh hùng dân tộc Bình định vương Lê Lợi, nơi tìm về và tụ nghĩa của các danh nhân, danh tướng lừng lẫy của đất nước trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược (Thế kỷ XV), nơi thờ cúng tổ tiên và cũng là nơi mai táng các

vị Hoàng đế, Hoàng Thái hậu nhà Lê Vùng đất này đã lưu giữ rất nhiều di sản văn hóa đặc sắc,

là vốn quý, nguồn nội lực to lớn của tỉnh trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Bảo tồn và phát huy có hiệu quả di sản văn hóa này không chỉ là trách nhiệm của chúng ta đối với lịch sử dân tộc, mà còn góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1.2 Vùng đất thiêng Lam Kinh, quê hương và cũng là căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do người anh hùng áo vải Lê Lợi lãnh đạo, sau 10 năm trường kỳ kháng chiến chống giặc Minh xâm lược (1418-1428) giành lại nền độc lập dân tộc, ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long) và cho xây dựng Sơn Lăng tại quê hương Lam Sơn tức Lam Kinh

Khởi xướng từ vị vua đầu triều Lê sơ, Lam Kinh liên tục được dựng xây, tu bổ trở thành đất Tổ, thờ cúng tổ tiên nhà Lê sơ và nhiều thế kỷ sau này của nhà Lê trung hưng Lam Kinh thực sự trở thành một tâm điểm của không gian văn hóa Lam Sơn, là một trung tâm tín ngưỡng, văn hóa quan trọng của vùng đất và dân tộc

Gần 600 năm qua, sự tàn phá của thời gian và chiến tranh đã làm những công trình kiến trúc ở Lam Kinh bị hủy hoại Tuy vậy , vẫn còn nhiều di vật kiến trúc và điêu khắc còn sót lại như: lăng mộ, bia ký, tượng rồng, nền móng kiến trúc, chân tảng, thành lũy, hào nước, vật liệu xây dựng…Đây là những cứ liệu, hiện vật lịch sử quan trọng trong khảo cứu, bảo tồn, phát huy

di sản văn hóa đặc biệt

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, với đường lối bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của Đảng, Lam Kinh đã được Nhà nước xếp hạng là một trong những di tích lịch sử - văn hóa đặc biệt quan trọng ngay trong đợt đầu tiên năm 1962 Hàng chục cuộc khảo sát và khai quật khảo cổ được tiến hành để tìm lại quy mô kiến trúc các công trình ở Lam Kinh Năm 1961, Bộ

Trang 8

Văn hóa đã cho xây dựng lại nhà bia Vĩnh Lăng Năm 1985, tỉnh Thanh Hóa đã cho phục chế đôi rồng ở thềm trước Chính Điện, dựng lại bia ở lăng Khôn Nguyên và tu sửa một số lăng mộ

1.3 Căn cứ vào giá trị lịch sử - văn hóa và nghệ thuật của khu di tích Lam Kinh, ngày 22 tháng 10 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 609/TTg phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể về tu bổ, phục hồi và tôn tạo khu di tích lịch sử Lam Kinh Để thực hiện chương

trình quốc gia về “Bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa ở Lam Kinh”, tháng 10 năm

1994 UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định thành lập Ban quản lý di tích Lam Kinh, trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa, qua nhiều lần tách, nhập đến ngày 20 tháng 10 năm

2009, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa ra quyết định số 3728/QĐ- UBND thành lập Ban quản

lý khu di tích lịch sử Lam Kinh, trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin, đúng với tinh thần của văn bản Luật di sản văn hóa

Từ khi thành lập cho tới nay Ban quản lý di tích đã tổ chức có hiệu quả như: phối kết hợp với Viện khảo cổ học Việt Nam, Bảo tàng lịch sử Việt Nam khai quật làm rõ giá trị lịch sử của di tích, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học tìm hiểu thêm về triều Lê sơ và một số địa danh liên quan đến khởi nghĩa Lam Sơn, tổ chức phòng trưng bày giới thiệu về di tích và các hiện vật khai quật được tại di tích, hàng năm tổ chức lễ hội vào ngày 21 đến 23 tháng Tám Âm lịch, nhiều dự

án, hạng mục công trình được tu bổ và đưa vào phát huy giá trị phục vụ phát triển kinh tế văn hóa - xã hội

1.4 Tuy nhiên, ngoài những việc đã làm được, công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh hiện nay vẫn còn nhiều mặt hạn chế như: chưa sử dụng một cách hiệu quả nguồn đầu tư và thu hút các nguồn lực khác cho việc bảo tồn tôn tạo khu di tích; chưa định hướng phát triển khu

di tích Lam Kinh trở thành tâm điểm của không gian văn hóa Lam Sơn; chưa tích cực đẩy mạnh công tác giáo dục, quảng bá giá trị lịch sử, văn hóa của khu di tích

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa tuy được sự quan tâm của các cấp, các ngành và các tổ chức quốc tế nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn bất cập Đó là tình trạng di tích xuống cấp, một số khu Lăng mộ còn bị xâm hại , nạn lấy cắp cổ vật, tình trạng mất an ninh, trật tự trong các dịp tế lễ, hội hè và việc ứng dụng công nghệ cao trong công tác trưng bày, bảo quản, nội thất, trang thiết bị trưng bày chưa xứng tầm với di tích

Trang 9

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa, học viên

đã chọn đề tài “Quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa” làm

luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Văn hóa của mình

Nhất thống chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, và đã có nhiều công trình, bài viết của các học

giả nghiên cứu, tìm hiểuvề di tích danh thắng và lịch sử khu di tích Lam Kinh như: Di tích lịch

sử Lam Kinh do Trịnh Ngữ biên soạn (Nxb Thanh Hóa, năm 2001); Thanh Hóa Di tích và danh thắng tập II do Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa biên soạn; Lịch sử Thanh Hóa tập III của Ban nghiên

cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (Nxb Khoa học và xã hội, năm 2002); Khu di tích lịch sử

Lam Kinh của tác giả Nguyễn Văn Hảo (Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2007); Địa chí huyện Thọ Xuân của nhóm tác giả Phạm Tấn, Phạm Tuấn, Hoàng Tuấn Phổ (Nxb Khoa học xã hội, năm

2005); Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử của Nguyễn Văn Đoàn về Khu di tích trung tâm Lam

Kinh Thanh Hóa (năm 2004); Luận văn Thạc sỹ khoa học văn hóa của Lê Văn Tạo về Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc các lăng mộ triều Lê sơ Lam Kinh (năm 2001); Có một Lam Kinh dưới lòng đất của Tiến sỹ Phạm Quốc Quân, Tiến sỹ Nguyễn Văn Đoàn; Xứ Thanh vài nét về lịch sử - văn hóa của cố Giáo sư Trần Quốc Vượng (Nxb VHDT và tạp chí VHNT – Hà Nội,

năm 1998); Thanh Hóa thời Lê Kỷ yếu hội thảo của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (năm 2008); Lam Sơn thực lục do Nguyễn Diên Niên khảo chứng, Lê Văn Uông chú dịch (Nxb Khoa học xã hội, năm 2006); Lê Thái Tổ và các công thần thời Lê của Hoàng Hùng (Nxb Thanh Hóa, năm 2001); Các vua và hoàng hậu táng ở Lam Kinh của Lê Văn Viện (Nxb Thanh Hóa, năm 2008); Xác định rõ hơn nguồn gốc của Lê Lợi và một số địa danh liên quan đến Khởi

nghĩa Lam Sơn của Phạm Tấn Ấn phẩm Di tích lịch sử Lam Kinh của Ban Quản lý di tích và

danh thắng Thanh Hóa Ngoài ra còn có một vài học giả người Pháp như Cadière, Parmentier,

Goloubew, Bezacier cũng đã nghiên cứu về Lam Kinh Các công trình nghiên cứu này chủ yếu

giới thiệu về lịch sử di tích, về thân thế sự nghiệp của vua Lê và các công thần thời Lê trong khởi nghĩa Lam Sơn, về các vua và hoàng hậu thời Lê được thờ cúng tại đây và nghiên cứu sâu về giá trị lịch sử, giá trị văn hóa, nghệ thuật của khu di tích

Trang 10

Qua những tác phẩm và công trình nghiên cứu khoa học trên cho thấy, ngoài Luận văn, Luận án của tác giả Lê Văn Tạo đã đưa ra một số kiến nghị về bảo tồn và phát huy giá trị di tích, thì cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào đề cập tới công tác quản lý khu di

tích lịch sử Lam Kinh Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu triển khai đề tài “Quản lý khu di tích

lịch sử Lam Kinh huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa”, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa một số tài

liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước; Kết hợp với khảo sát thực địa về tình hình quản lý di tích, học viên góp phần đưa ra những nhận định đánh giá về thực trạng, đề ra giải pháp quản lý để di tích ngày càng phát huy tác dụng và hiệu quả

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động quản lý

khu di tích lịch sử Lam Kinh nhằm nhận diện mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản lý di tích Luận văn đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao

hiệu quả công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan và đặc trưng giá trị khu di tích lịch sử Lam Kinh

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý di tích lịch sử văn hóa

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động và công tác quản lý khu di tích lịch

sử Lam Kinh từ năm 1994 đến nay

- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý khu di tích lịch

sử Lam Kinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các nội dung hoạt động quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh Trong điều kiện có thể mở rộng nghiên cứu đến các hoạt động quản lý các khu di tích khác để so sánh như: Khu di tích Đền Hùng (Phú Thọ); khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh; nghiên cứu quần thể khu di tích lịch sử Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; nghiên cứu hiệu quả hoạt động của Ban quản lý di tích lịch sử Lam Kinh

Trang 11

Thời gian: Từ khi có quyết định thành lập Ban quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh (1994) đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật biện

chứng và đường lối văn hóa, chính sách của Đảng và nhà nước, đồng thời xuất phát từ thực trạng quản lý di tích để nhìn nhận, xem xét, đánh giá vấn đề trong quá trình nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành và vận dụng những lý luận của khoa học quản lý, quản lý di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, bảo tàng học, văn hóa học, giáo dục học, xã hội học

Sử dụng phương pháp khảo sát thực tế tại khu di tích, áp dụng các kỹ năng phỏng vấn, thống kê, quan sát, miêu tả Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đồng thời phân tích, tổng hợp những tư liệu về khu di tích lịch sử Lam Kinh để đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong quản lý khu di tích Lam Kinh, đưa ra những giải pháp quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả phát huy giá trị di tích

Sử dụng phương pháp so sánh để tìm hiểu và rút ra nhận xét làm sáng tỏ vấn đề quản lý, tạo khả năng áp dụng các mô hình quản lý hiệu quả ở các di tích khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Về mặt khoa học

- Đề tài cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng công tác quản lý di tích

- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, góp phần làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu trong chuyên ngành Quản lý văn hóa

6.2 Về mặt thực tiễn

Đề tài góp phần hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh, là tài liệu tham khảo hữu ích cho các di tích trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và các địa phương ngoài tỉnh về di tích đặc biệt quan trọng tương tự khu di tích Lam Kinh

7 Bố cục luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý và tổng quan về khu di tích lịch sử Lam

Kinh

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh

Trang 12

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam

Kinh

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ;

TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH LỊCH SỬ LAM KINH

1.1 Cơ sở khoa học và pháp lý cho công tác quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh

Cơ sở khoa học và pháp lý là những điều kiện cần và đủ trong bất kỳ một hoạt động quản lý nào Công tác quản lý di tích lịch sử văn hoá được tiến hành trên cơ sở khoa học và pháp

lý là thể hiện tính đặc thù của đối tượng quản lý (di tích lịch sử văn hoá)

1.1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1.1 Khái niệm về quản lý

Về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có nhiều cách diễn đạt khác nhau Đây là một thuật ngữ Hán – Việt, theo nghĩa thông thường là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo

dõi… Tiếng Anh, Pháp thuật ngữ chỉ quản lý, trông nom đều có chung gốc từ Manage

Theo Các Mác thì: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [15, tr.29] Nhấn mạnh cho nội dung này ông viết:

Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng [16, tr.480]

Thông qua một số quan điểm trên, chúng ta nhận thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn

ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội càng cao, yêu cầu quản lý càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng Với ý nghĩa thông thường,

Trang 13

phổ biến thì quản lý được hiểu là: Hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định

hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội

và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những

mục tiêu đã định [32, tr.03]

Vì vậy, quản lý bao gồm các yếu tố sau:

Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn là con người

hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những

phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định Đối tượng quản lý tiếp nhận trực

tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳ theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta

chia thành các dạng quản lý khác nhau Khách thể quản lý chịu sự tác động hay sự điều

chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội

Mục tiêu của quản lý là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể

quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng

như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu

quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc

1.1.1.2 Khái niệm về di tích lịch sử - văn hóa

Chương IV, điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định về di tích lịch sử - văn hóa phải là:

a- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng

nước và giữ nước

b- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,

danh nhân của đất nước

c- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách

mạng kháng chiến

d- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc,

nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [37, tr 22]

Di tích lịch sử văn hoá được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của

hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hoá của con người Văn hoá ở đây bao gồm cả văn hoá vật chất

và văn hoá tinh thần

Trang 14

Nhiều nước trên thế giới đều đặt chung cho DTLS – VH là dấu tích, vết tích còn lại Tiếng Pháp viết Vestige, tiếng Anh cũng viết là Vestige, tiếng Nga viết Pomiatnik, Trung Quốc gọi là “Cổ tích” Mỗi nước trên thế giới đều đưa ra những khái niệm, quy định về DTLS – VH của dân tộc mình Trong điều I của hiến chương Venice – Italia quy định:

DTLS - VH bao gồm những công trình xây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hoá có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử [29, tr 12] Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về DTLS –

VH, thông thường theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, đối tượng nghiên cứu của Khảo cổ học, Sử học… Di tích là sản phẩm văn hoá - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tuỳ tiện dịch chuyển, thay đổi, phá huỷ” [44, tr 667]

Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã ra nghị quyết số 03 – NQ/TƯ ngày 16/7/1998 về việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhấn mạnh: Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hóa dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học, dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hóa phi vật thể Di tích lịch sử

văn hoá là một bộ phận quan trọng của Di sản văn hóa Ở nước ta theo pháp lệnh: “Bảo vệ và sử

dụng đi tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh” công bố ngày 4/4/1984 quy định như sau:

“Di tích lịch sử văn hóa là những công trình, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử,

quá trình phát triển văn hoá, xã hội” [31, tr.03]

Trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập, giao lưu quốc tế Pháp lệnh năm 1984 đã trở nên lạc hậu cần được điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới hiện nay

Ngày 22/7/2001, Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số: 09/2001/L.CTN công bố Luật Di sản văn hóa, được thông qua tại kỳ họp thứ IX, quốc hội khoá X ngày 29/6/2001 Ngày 11/11/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 92/2002 NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa Theo quy định của Luật Di sản văn hóa và Nghị định 92 của Chính phủ thì di tích lịch sử văn hóa được hiểu như sau: “Di tích lịch sử văn hoá là công trình xây dựng, địa

Trang 15

điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn

hóa, khoa học” [37, tr.13]

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về DTLS-VH nhưng tất cả đều có chung một nội dung là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng các giá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử để lại [33, tr 17] Căn cứ vào khái niệm lịch sử văn hóa mà Luật Di sản đã quy định thì khu di tích lịch sử Lam Kinh đã đáp ứng được các tiêu chuẩn trên

1.1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Quản lý DTLS – VH là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức điều hành việc bảo vệ, giữ gìn các DTLS – VH, làm cho các giá trị của di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Di tích lịch sử văn hoá và danh thắng là một bộ phận quan trọng cấu thành nên di sản văn hoá, chính vì vậy việc quản lý di tích lịch sử văn hoá cũng cần theo nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hoá được đề cập trong Luật Di sản văn hoá

Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hoá bao gồm:

1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DSVH;

3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;

4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ chuyên môn về di sản văn hoá;

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

7 Tổ chức, quản lý hợp tác quốc tế về việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH;

8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hàmh pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý

vi phạm pháp luật về di sản văn hoá [37, tr 35-36]

Trang 16

Ở trên là 8 nội dung cơ bản quản lý nhà nước về di sản văn hoá, Lam Kinh là một di sản văn hoá quốc gia đặc biệt được xác định bởi các giá trị tiêu biểu về lịch sử văn hoá Tuy nhiên, vấn đề vận dụng những nội dung cơ bản nêu trên vào từng di sản văn hoá có thể có những nội dung phù hợp với từng đối tượng quản lý Vì vậy, khi nghiên cứu thực trạng quản lý di sản văn hoá khu di tích lịch sử Lam Kinh cần thiết phải vận dụng giữa những nội dung cơ bản đã được quy định trong Luật Di sản văn hoá và những vấn đề có tính đặc thù của khu di tích này sẽ được nêu trong quyết định của UBND tỉnh Thanh Hoá

1.1.2 Cơ sở pháp lý

Pháp luật là công cụ, phương tiện để Nhà nước quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội; nó ra đời và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nước Trong quản lý xã hội, ở bất kỳ một lĩnh vực nào cũng cần đến pháp luật

Việt Nam là một quốc gia văn hiến lâu đời, trong quá trình dựng nước và giữ nước, các thế hệ đi trước đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng quý giá Kho tàng di sản văn hóa đó được vật chất hoá, cô đọng lại ở các di tích lịch sử- văn hóa với nhiều giá trị Việc giữ gìn các di sản văn hóa truyền lại cho muôn đời sau là một công việc cần thiết Để bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa không gì khác hơn là phải bảo vệ theo pháp luật Nhìn lại hệ thống pháp luật

về lĩnh vực văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng, chúng ta có thể thấy Nhà nước Việt Nam đã xây dựng, ban hành từ rất sớm và ngày càng được hoàn thiện Ngày 23/11/1945 Chủ tịch

Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 65- SL, gồm 6 điều trong đó nội dung chính ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác Cổ học viện Sắc lệnh đã nhấn mạnh đến việc bảo tồn cổ tích là việc làm cần thiết của Nhà nước Việt Nam Sắc lệnh coi toàn bộ DTLS – VH là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá huỷ đình, chùa, miếu và các di tích khác chưa được bảo tồn Cấm phá huỷ bia ký, văn bằng có ích cho lịch sử Sắc lệnh quy định Nhà nước chi ngân sách cho việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp cho Viện Đông Phương bác cổ

Ngày 28/6/1956, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tư số 38 – TT/TW về việc bảo

vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Trong đó đề cập đến việc nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trong các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân Đình chỉ ngay những hoạt động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến các di tích Tiến hành phân loại và có kế hoạch để tu bổ các di tích

Trang 17

Ngày 29/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 519/TTg quy định về thể lệ bảo tồn cổ tích Đây là văn bản pháp lý quan trọng của Chính phủ có giá trị thiết thực trong công việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa trong hai thập kỷ chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta Nghị định là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công tác quản lý di sản văn hóa từ năm 1957 đến năm 1984 Nghị định gồm 7 mục, 32 điều trong đó đề cập đến công tác quản lý DTLS – VH ở các góc độ như liệt hạng di sản văn hoá, quy định những tiêu chuẩn của các công trình được liệt hạng là DTLS- VH; việc trùng tu, tôn tạo di tích; chế độ khen thưởng và kỷ luật đối với các tổ chức và cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy tác dụng di sản văn hoá dân tộc Nghị định 519/TTg đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong đời sống xã hội, đặc biệt Nghị định có giá trị lớn trong việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy di sản văn hóa Việt Nam phục vụ tích cực cho

sự nghiệp cách mạng do Đảng ta lãnh đạo

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho con đường chủ nghĩa xã hội Đảng và nhà nước luôn đánh giá đúng vai trò công tác quản lý di sản văn hóa, tiếp tục đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể thích ứng với thời kỳ mới của đất nước nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý các DTLS – VH và danh lam thắng cảnh Ngày 31/3/1984, Hội đồng Nhà nước đã ban hành và công bố pháp lệnh 14 LCT/HĐNN về việc: “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh” Pháp lệnh gồm 5 chương và 27 điều; trong lời mở đầu Pháp lệnh khẳng định: “DTLS –VH và danh lam thắng cảnh là tài sản có giá trị trong kho tàng văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam”

và cần sử dụng những di tích ấy nhằm: “Giáo dục truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam phục công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hóa của nhân dân… làm giàu, đẹp kho tàng văn hóa dân tộc và góp phần làm phong phú văn hóa thế giới” [31, tr.01]

Pháp lệnh đã xác định rõ biện pháp quản lý nhà nước đối với DSVH gồm 3 việc:

1 Kiểm kê, đăng ký công nhận và xác định loại hình di tích và danh thắng;

2 Quy định chế độ bảo vệ sử dụng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và tổ chức thực hiện;

3 Thanh tra thi hành những quy định của pháp luật về bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử

và danh lam thắng cảnh [31, tr 03]

Trang 18

Pháp lệnh cũng quy định rõ chức năng của các cơ quan trong việc quản lý DTLS – VH và danh lam thắng cảnh theo đó:

Hội đồng Bộ trưởng thực hiện việc quản lý nhà nước đối với các DTLS – VH và danh lam thắng cảnh trong cả nước UBND các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước đối với các DTLS- VH và danh lam thắng cảnh theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng Bộ văn hóa và các cơ quan văn hóa thuộc hệ thống bộ này tại các địa phương là những cơ quan giúp Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp thực hiện việc bảo vệ và sử dụng DTLS-

VH và danh lam thắng cảnh [31, tr.3-4]

Pháp lệnh 14- LCT/HĐNN ra đời trên cơ sở kế thừa tinh thần của Nghị định 519/TTg đã tập trung thống nhất quản lý, sử dụng DTLS – VH và danh lam thắng cảnh trên phạm vi cả nước, đưa công tác kiểm kê, lập hồ sơ xếp hạng di tích quy chuẩn hơn Quy định về cổ vật, xuất nhập khẩu cổ vật, việc tu bổ, tôn tạo và hoạt động bảo vệ di tích rõ ràng và chặt chẽ, Pháp lệnh ra đời

có ý nghĩa to lớn, là một bước tiến về mặt pháp lý với mục đích làm cho công tác quản lý di sản văn hóa của dân tộc toàn diện hơn

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, điều 34 đã xác định:

Nhà nước và xã hội bảo tồn - bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng các

di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh [30, tr 11]

Trong thời kỳ đất nước đổi mới và hội nhập, để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác quản lý di sản văn hóa Năm 2001 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 đã ban hành và thông qua Luật Di sản văn hóa Đây là lần đầu tiên ở nước ta có một văn bản luật cao nhất tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý DTLS – VH trong cả nước Luật Di sản văn hóa gồm 7 chương với 74 điều trong đó quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa, phân định trách nhiệm của các cấp đối với việc quản lý di sản văn hóa:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa: Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quyền quản lý nhà nước về di sản văn hóa; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo sự phân công của

Trang 19

Chính phủ; UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện quản lý di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [37, tr.37]

Luật Di sản văn hóa đã cụ thể hoá đường lối, chính sách pháp luật, tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa và xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Luật điều chỉnh những vấn đề hoàn toàn mới và hoàn thiện nâng cao những vấn đề đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đây cho phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế

Những nội dung được cụ thể hóa qua các quy định của Luật di sản văn hóa đã tạo động lực giúp cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc có những bước phát triển mới theo hướng: Bảo tồn và tôn vinh những di sản văn hóa dân tộc có giá trị cao nhất; tạo điều kiện thuận lợi nhằm thu hút nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là các chủ sở hữu di sản văn hóa đóng góp cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích; phát huy di sản văn hóa phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm góp phần thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đồng thời phải biết vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng XHCN để được tạo nguồn thu đáng kể từ hoạt động dịch vụ văn hóa tại di tích, tái đầu tư cho công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích Để thực thi Luật Di sản văn hóa, Chính phủ, Bộ Văn hoá Thông tin (nay Bộ Văn hoá, Thể thao &

Du lịch) cũng ban hành một số văn bản dưới Luật nhằm hướng dẫn thi hành

Ngày 11/11/2002, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa

Ngày 24/7/2001, Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin ( Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) ra quyết định số 1709/2001/QĐ – BVHTT phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị DTLS – VH và danh lam thắng cảnh

Ngày 18/2/2002, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 05/2002/CT – TTg về việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới, trục vớt trái phép

di chỉ khảo cổ học

Ngày 06/2/2002, Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin ( Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch) ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi DTLS – VH và danh lam thắng cảnh

Trang 20

Các văn bản pháp lý trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa được nhà nước Việt Nam ban hành là cơ sở để Cơ quan quản lý khu di tích lịch sử Lam Kinh thực hiện quản lý khu di tích

1.2 Tổng quan về khu di tích lịch sử Lam Kinh

1.2.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành huyện Thọ Xuân

Huyện Thọ Xuân nằm về phía tây bắc thành phố Thanh Hoá với tọa độ địa lý 19o50’ -

20o00’ vĩ độ bắc và 105o25’ - 105o30’kinh độ đông, là một trong số hai huyện lớn của khu vực đồng bằng Thanh Hoá

Phía bắc – tây bắc, giáp huyện Ngọc Lặc và một phần nhỏ huyện Cẩm Thuỷ, phía nam giáp huyện Triệu Sơn, phía tây giáp huyện Thường Xuân, phía đông – đông bắc giáp huyện Yên Định, đông – đông nam giáp với huyện Thiệu Hoá Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 30.035,58 ha, toàn huyện có 38 xã và 3 thị trấn Dân số là 235.392 người, thuộc ba dân tộc Kinh, Mường, Thái

Ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miền núi, lại có dòng sông Chu – con sông lớn thứ hai của tỉnh đi qua từ đầu huyện đến cuối huyện, sân bay quân sự Sao Vàng, đường

Hồ Chí Minh và quốc lộ 47 chạy qua, Thọ Xuân đã thực sự trở thành một vùng đất mở thuận lợi cho việc hội nhập, giao lưu với tất cả các vùng miền trong, ngoài tỉnh

Đặc biệt, Thọ Xuân là vùng tâm điểm của khởi nghĩa Lam Sơn, đây là vùng đất in đậm các

sự kiện lịch sử trong thời kỳ 1414-1422 một giai đoạn cực kỳ gian khổ gây dựng lực lượng của nghĩa quân “nếm mật, nằm gai, suốt chục năm trời” Trong thời gian này nghĩa quân đã bị vây khốn 3 lần trên núi Chí Linh, cũng chính nhờ sự đùm bọc, che chở của đồng bào Mường, Thái vùng Chí Linh, nghĩa quân đã thoát khỏi hiểm nghèo Những địa danh vẫn còn lưu lại sau hơn

600 năm như: Khả Lam, Mục Sơn, Núi Chủ, Núi Dầu, Núi Mục, Núi Rồng, Núi Voi, Rừng Lim, Làng Cham, Lương Giang; xa hơn, lên phía tả ngạn với các địa danh: Sông Khao, Bát Mọt; Phía hữu ngạn có sông Lường, Yên Trường, Long Linh, Chẩn Xuyên, Ba Cồn; Ngược lên Quan Hóa

là Sóp Về mặt đường thủy, nghĩa quân đã kết nối Lương Giang (sông Mã) với sông Lường, sông

Âm, sông Khao, sông Chùy Nam (Cầu Chầy), Tề Giang (sông Bưởi) Trong quá trình biến thiên của lịch sử hơn 600 năm các địa danh: Lam Sơn hương, Hào Lương hương, Đại Lại thôn, Nguyễn Xá xã, Đàm Thị xã, Thủy Cối sách, Lại Thương sách, Cao Trĩ sách là địa phận của huyện Lương Giang

Trang 21

Với địa lý đặc biệt như vậy đã tạo ra cho Thọ Xuân nhiều thế mạnh và sắc thái riêng của

vùng đất Từ trong suốt trường kỳ lịch sử vùng đất “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” này đã trở

thành điểm hẹn lý tưởng để các dòng người từ các nơi đổ về khai phá, lập nghiệp, sinh tồn và phát triển

Khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thọ Xuân đã đóng góp cho xứ Thanh và đất nước một kho truyện dân gian quý giá Mở đầu bằng huyền thoại trao gươm, kết thúc bằng huyền thoại trả gươm và đã khắc họa được hình tượng người Anh hùng Lê Lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc một cách đậm nét

Cùng với văn học dân gian, nhiều tác phẩm văn học lớn ra đời như “Lam Sơn thực lục” của Lê Lợi thể theo hồi ký, “Quỳnh Uyển ca”, “Minh Lương cẩm tú”, Hồng Đức quốc âm thi tập”, “Thánh Tông di thảo”…Đặc biệt là bài “Lam Sơn lương thuỷ phú” dài gần 400 câu và Bộ Luật Hồng Đức của vua Lê Thánh Tông, ngoài ra còn có các tác giả Lê Hoàng Dục (Thọ Hải),

Lê Quyển (Lam Sơn) cũng để lại một số bài thơ trong Toàn Việt thi lục

Thời Lê Sơ ngoài kiến trúc Lam Kinh đồ sộ, số lượng đền, nghè, lăng mộ để thờ các vị công thần nhà Lê Đó là đền thờ Lê Văn An (Thọ Lâm), lăng Trần Lựu, Lê Sao (Xuân Thiên), Lê Văn Linh (Thọ Hải), đền thờ tướng quân Nguyễn Nhữ Lãm (Thọ Diên)…Đặc biệt là bia hộp ở lăng mộ quận công phu nhân Lê Thị (là vợ Đỗ Khuyển – khai quốc công thần thời Lê)

Thời Lê trung Hưng, kinh đô Vạn Lại Yên Trường đã để lại dấu tích một xu thế văn hóa tìm về cội nguồn dân tộc Đó là nghệ thuật khắc trên gỗ, đá, đồng, đất nung…

Năm 1626 đền thờ Lê Hoàn (Xuân Lập) do Thanh Đô vương Trịnh Tráng ra chỉ lệnh mở rộng tu bổ gồm 13 gian, kiến trúc kiểu chữ công là công trình kiến trúc thế kỷ XVII còn tương đối hoàn chỉnh với hình tượng “rồng ổ” là biểu tượng đặc sắc của tính dân gian trong nghệ thuật trang trí

Mỗi tên đất, tên làng, mỗi ngọn núi, dòng sông Thọ Xuân đều gắn liền với những truyền thuyết thần kỳ, sự tích anh hùng và những con người làm nên lịch sử cùng những danh nhân chính trị, quân sự chung sức lãnh đạo nhân dân đánh đuổi các đội quân xâm lược phương Bắc bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc, đem lại thái bình cho muôn dân, sáng lập nên những triều đại

Trang 22

phong kiến Việt Nam Triều Hậu Lê đã tồn tại trong lịch sử dân tộc hơn 300 năm cùng với những thành tựu huy hoàng

1.2.2 Lịch sử hình thành di tích lịch sử Lam Kinh

Lam Kinh vốn là đất Lam Sơn quê hương của anh hùng dân tộc Lê Lợi, nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vĩ đại Chính vì vậy Lam Sơn – Lam Kinh là vùng đất được sự quan tâm đặc biệt Lê Năm của các vua triều 1430, sau khi giành lại nền độc lập, đất nước có những phát triển mới, Lê Thái Tổ đã cho đổi vùng đất Lam Sơn là Lam Kinh hay Tây Kinh (để phân biệt với Đông Kinh – Hà Nội) [35, tr 61 - 74] ; [28, tr 86] Đây là mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của khu di tích lịch sử Lam Kinh sau đó Từ đây, Lam Kinh trở thành một vùng đất “căn bản” của nước Đại Việt thời Lê [17] ; [38]

Năm 1433, sau khi vua Lê Thái Tổ mất đưa về an táng ở Lam Kinh, các điện miếu cũng bắt đầu được xây dựng [35, tr 76 - 78] Lam Kinh đã trở thành nơi an táng các vua và Hoàng

Hậu thời Lê sơ Qua ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư được biết hàng năm các vua đầu Lê về

Lam Kinh bái yết Sơn Lăng [35]

Đại Việt sử ký toàn thư nói rõ Lam Kinh được xây dựng vào năm 1433, năm sau 1434

vua sai Hữu bộc xạ Lê Như Lãng đến Lam Kinh dựng miếu Cung Từ Thái Mẫu Trong năm này, điện Lam Kinh bị cháy

Năm 1448 và 1450, Lam Kinh lại tiếp tục được xây dựng và trùng tu Năm 1448, vua Lê Nhân Tông xuống chiếu cho Thái uý Lê Khả và cục Bách Tác làm lại điện miếu ở Lam Kinh Chưa đầy một năm, công việc xây dựng hoàn thành và được triều đình bảo vệ Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 toà nhà của Chính Điện là Quang Sùng, Sùng Hiếu và Diễn (Diên) Khánh [35]

Nói chung việc phản ánh quá trình xây dựng di tích Lam Kinh chỉ thấy được ghi chép

trong thời Lê sơ Các tài liệu như: Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn [28]; Lịch triều hiến

chương loại chí, Hoàng Việt dư địa toàn đồ của Phan Huy Chú [17]; [18]; Đại Nam Nhất thống chí của Quốc sử Quán triều Nguyễn [38] có nhắc tới Lam Kinh, song lại không cho thông tin về

việc xây dựng Lam Kinh cũng như vị trí, qui mô công trình kiến trúc nơi đây

Trang 23

Ghi chép về khu điện Lam Kinh của Phan Huy Chú cho biết Lam Kinh khá to lớn, nằm trên địa thế đẹp:

Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên non xanh nước biếc, rừng rậm um tùm Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng của Lê Thái Tông và lăng các vua nhà Lê đều ở đây cả Lăng nào cũng có bia Sau điện, lấy Tây

hồ làm não, giống như hồ Kim Ngưu Hồ rất rộng lớn, nước các ngả đều chảy cả vào

đó Có con sông phát nguyên từ hồ ấy, chạy vòng trước mặt, lòng sông có những viên đá nhỏ, nhẵn và trông rất thích mắt nhưng không ai dám lấy trộm Lại có lạch nước nhỏ, chảy từ bên phải qua trước điện, ôm vòng lai như cánh cung Trên lạch có cầu giống như Bạch Kiều ở giảng đình điện Vạn Thọ Đông Kinh, đi qua cầu mới tới điện Nền điện rất cao, hai bên mở rộng, dưới chân điện có làn nước phẳng, giống như trước điện nhà vua coi chầu Ngoài cửa Nghi Môn có hai con chó ngao bằng đá,

tục truyền là rất thiêng Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ Công, mẫu mực theo

đúng kiểu các miếu ở kinh sư Theo từng bậc mà lên, rồi từ đó trông xuống thì thấy núi khe hai bên Tả, Hữu, cái nọ, cái kia vòng quanh thật là một chỗ để xây dựng cơ nghiệp” [17, tr 40]

Năm 1805, nhà Nguyễn đã cho tháo dỡ ngói và gỗ ở Thăng Long, sẵn với gỗ miếu các vua ở Lam Kinh đem về làm ở đền Bố Vệ (Điện Hoằng Đức nay thuộc thành phố Thanh Hoá) [39] Cũng vào khoảng thời gian này, ở vùng Lam Sơn, đền thờ Lê Lợi cũng được xây dựng tại phía đông nam của khu trung tâm di tích Lam Kinh Vào khoảng đầu thế kỷ 20 đến những năm

1940, nói đến Lam Kinh, người đương thời chỉ còn biết đến mộ Lê Thái Tổ và ngôi đền mới được xây dựng, khu điện miếu trung tâm đã trở nên hoang phế [47]

Suốt từ đó cho đến những năm 1995, di tích Lam Kinh vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng, cả khu trung tâm đã bị thảm thực vật che lấp Thời kỳ này di tích bị xuống cấp nghiêm trọng, nhiều cuộc đào bới các ngôi mộ để tìm báu vật đã diễn ra, duy chỉ có nhà bia Vĩnh Lăng được phục hồi để bảo vệ Ngoài ra, một số đơn nguyên kiến trúc cũng được các cơ quan trung ương và địa phương tiến hành bảo tồn và sửa chữa, song dường như không có ảnh hưởng đáng

kể đối với diện mạo của di tích

Năm 1995, trước tình trạng xuống cấp của di tích, nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa lịch sử, văn hoá của Lam Kinh, Chính phủ đã phê duyệt dự án tổng thể, trùng tu tôn tạo và phục hồi khu di tích Lam Kinh, trong đó khu trung tâm di tích được đặt hàng đầu [46]

Trang 24

Khu trung tâm di tích Lam Kinh hiện nay nằm ở toạ độ 19055’ 565” vĩ Bắc, 105024’403” kinh Đông Theo quy hoạch năm 2002, khu di tích Lam Kinh thuộc địa phận xã Xuân Lam (Thọ Xuân) và Kiên Thọ (Ngọc Lặc) tỉnh Thanh Hóa Từ thành phố Thanh Hoá đi về phía Tây Bắc khoảng 60 km ta sẽ gặp di tích Lam Kinh nằm bên tả ngạn sông Chu, cách đập Bái Thượng 5km

về phía Nam

1.2.3 Hiện trạng danh thắng, di tích, di vật và lễ hội ở Lam Kinh

1.2.3.1 Danh thắng

Núi Lam Sơn

Núi Lam Sơn (còn gọi là núi Dầu), sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Núi Lam Sơn: lại

có tên nữa là Du Sơn, ở cách huyện Thụy Nguyên 52 dặm về phía tây; mạch núi từ phía tây - bắc qua sông Lương kéo đến, núi chỗ lên chỗ xuống vươn ra đất bằng, nổi vọt lên một ngọn núi đất, dưới núi là nhà cổ của vua Lê Thái Tổ Lê sử chép rằng ông tổ ba đời của Lê Thái Tổ tên huý là Hối, người huyện Nga Lạc từng đến Lam Sơn, thấy nhiều chim bay lượn, như dáng nhiều người

tụ họp, ông tự nói: “chỗ này tất là đất tốt” bèn rời nhà đến ở đấy Sau Thái Tổ làm vua, mới lấy đất này làm Lam Kinh; cách đấy khoảng 4,5 dặm, có một gò đất gọi là “Phật hoàng” là mộ tổ của

nhà Lê”

Ở ngọn núi này thời Lam Sơn dấy nghĩa bình Ngô đã để lại rất nhiều truyền thuyết về việc thu nạp các nghĩa sĩ từ các vùng miền trong nước về như chuyện Lê Lợi cho thắp đèn dầu ở trên núi để làm hiệu cho nghĩa quân tụ về, hoặc chuyện bà háng dầu vì bán dầu cho nghĩa quân

đã bị giặc Minh giết hại, nên sau khi giành được thắng lợi, mở ra vương triều Lê, Lê Lợi đã cho làm giỗ bà hàng dầu Vì vậy qua nhiều thế kỷ, ở trong, ngoài vùng Lam Sơn và cả xứ Thanh rộng lớn vẫn còn truyền nhau câu ngạn ngữ “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, hăm ba giỗ mụ hàng dầu” là vì thế Cũng theo truyền thuyết vì ý nghĩa này mà Lê Lợi đã đặt tên cho núi Lam Sơn là núi Dầu Trong dân gian lại có cách giải thích khác, núi Dầu có nghĩa là núi “giàu” vì ngày Lam Sơn khởi nghĩa, dân chúng nhiều nơi mang rất nhiều của cải, lương thực đến đây để ủng hộ nghĩa quân

Ở núi Dầu xưa kia có rất nhiều cây chàm dùng để nhuộm vải vóc, quần áo thành màu xanh lam, có nhẽ vì lẽ đó mà dân gian đặt tên cho núi này là núi Lam chăng ? Ngoài ra còn cách giải thích khác, “lam” là phiên âm từ “cham” mà ra Ở dưới chân núi, hiện vẫn còn một làng mang tên làng Cham

Trang 25

Nhưng dù giải thích như thế nào, tên núi Lam Sơn hay núi Dầu đều vô cùng ý nghĩa, đúng như lời thơ của Dương Trực Nguyên: “Núi Lam Sơn gang tấc là danh sơn của nước Nam,

công đức gây dựng cơ nghiệp vòi vọi trải muôn đời” [25, tr.59, 60 ]

Còn ở thời Lê, nhiều danh sĩ và văn thân nổi tiếng trong cả nước như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lý Tử Tấn, Ngô Thì Sĩ,v.v… đã có nhiều dòng văn, dòng thơ ca ngợi núi và đất Lam Sơn

Núi Lam Sơn (tức núi Dầu) có chiều cao gần 200m, hiện tại đang được trồng cây lâm nghiệp theo dự án 327 và dự án bảo tồn di tích Lam Kinh để nhằm mục đích tái tạo lại rừng Lam Sơn xưa Ngày nay đến với Lam Kinh chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng rừng lim xanh mướt và hít thở không khí trong lành do rừng mang lại

Núi Mục

Núi Mục là một ngọn núi đá sót đứng độc lập sát bên bờ sông Chu- đối diện với khu di tích Lam Kinh Núi Mục còn có tên núi Nghiên, hay núi Nghèo, núi có chiều cao 167m, hình dáng giống con voi, các chiều rộng, hẹp đều trên dưới 500m Theo tương truyền thì thời Lam Sơn dấy nghĩa để bình Ngô, Núi Mục được sử dụng như một trạm tiền tiêu của nghĩa quân Lam Sơn và là nơi huấn luyện chim đưa tin tức cho Bình định vương Lê Lợi

Tuy không phải là một ngọn núi lớn, nhưng ở vào vị trí này, núi Mục đã trở thành một danh thắng và tham quan du lịch khá hấp dẫn Ở đây cũng có nhiều hang động nhỏ ăn sâu vào trong lòng núi mà thạch nhũ đã miệt mài tạo ra những sắc hình kỳ thú Đi trên dòng sông Chu để

ngắm “núi Mục con voi” trong những lúc hoàng hôn, chiều tà hay trăng mọc thì bất kể ai cũng

đều phải say tình, mến cảnh đến mức không thể nào quên được [25, tr.63]

Trang 26

Có thể nói, từ xưa đến nay, sông Chu luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng về rất nhiều mặt đối với vùng đất huyện Thọ Xuân Chính sông Chu đã tạo ra cho Thọ Xuân một khu vực đồng bằng phù sa mới tiêu biểu và rộng lớn vào bậc nhất của xứ Thanh trong suốt hàng ngàn năm lịch sử Trong bề dày thời gian, trong chiều sâu lịch sử dòng sông đã trở thành con đường đưa các người từ các phương trời trong và ngoài xứ Thanh về đây khai phá, lập nghiệp dựng nên làng, nên xóm ở khắp các vùng địa hình từ lúc còn rất hoang sơ Chính dòng sông này cũng tạo ra sự giao lưu, hội nhập với các vùng miền khác một cách thuận lợi, tạo cho vùng đất này đời nối đời phát triển liên tục, nhanh chóng thành một vùng quê giàu, đẹp của xứ Thanh và

là con đường đưa các nghĩa sĩ từ các phương, miền đổ về để “tụ nghĩa Bình Ngô” trên đất Lam Sơn

Cái tên Lương Giang (sông Chu) đã được các dang sĩ nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phan Huy Chú…nhắc đến một cách đậm nét trong các tác phẩm lịch sử và văn thơ của mình [25]

Đập nhà Lê, hồ Như Áng, hồ Tây, Sông Ngọc

Đập nhà Lê, hồ Như Áng hiện nay thuộc địa phận thôn Như Áng, xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc Trải qua thời gian, hệ thống này đã bị bồi lấp gần hết, chỉ còn lại các vết tích Kết quả khai quật khảo cổ học cho biết xưa kia hồ Như Áng là một vùng trũng, nằm giữa các quả đồi, có

nhiều khe suối chảy qua để vào suối chính mà ngày nay vẫn gọi “Hón Hướng” (chảy ra sông

Chu), lợi dụng địa hình tự nhiên, nhà Lê đã tiến hành đắp đập ngăn nước để tạo thành hồ Hồ nằm ở làng Như Áng nên có tên gọi là hồ Như Áng

Từ hồ Như Áng theo kênh dẫn nước chảy về Hồ Tây, Hồ Tây là hồ trung gían chuyển nước về sông Ngọc, theo thuyết phong thuỷ được coi là “Đại não” của Điện Lam Kinh

Năm 2004 hồ Như Áng, đập nhà Lê, Hồ Tây được nhà nước đầu tư kinh phí nạo vét lòng

hồ, khơi thông dòng chảy Công trình Hồ Tây, sông Ngọc được coi là “hệ thuỷ” của di tích Lam Kinh, một công trình mang tính chất đặc biệt quan trọng về “phong thuỷ” mà cha ông ta đã dày công cải tạo, xây đắp phù hợp với nguyên tắc quy hoạch kiến trúc truyền thống Việt Nam Việc khôi phục lại lòng hồ, khơi thông dòng chảy đã trả lại cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái trong sạch đặc sắc cho quần thể khu di tích Lam Kinh

Cây Đa Thị

Trang 27

Nằm ngay phía Tây Nam sân Rồng của khu di tích Lam Kinh Cây đa thị cao chừng 50m,

cành gốc xum xuê, phủ bóng rợp một góc sân, gốc đa to, bạc phếch phải vài chục người ôm mới

đủ vòng Tại sao gọi là cây đa thị, bởi đây vốn là 2 loại cây khác nhau gồm cây đa và cây thị,

nhưng đa và thị xoắn xuýt với nhau tạo thành một khối thống nhất Theo truyền ngôn cây đa ước

tính chừng 300 tuổi, đây là một trong những thắng cảnh đẹp của di tích Lam Kinh

1.2.3.2 Di tích kiến trúc

Qua các kiến trúc hiện còn, cho thấy bố cục tổng thể của khu Miếu điện và lăng mộ ở

Lam Kinh hoàn toàn được người xưa lợi dụng vào địa hình có sẵn trong tự nhiên và sử dụng

thuyết phong thuỷ để xác định vị trí từng công trình xây dựng, nhằm tận dụng ưu thế của thiên

nhiên Phía Đông có núi Bạch Hổ, ở giữa có núi Dầu làm điểm tựa, phía Tây có núi Thanh Long,

phía Nam có dòng sông Chu chảy trước mặt khu Miếu Điện, từ Miếu Điện nhìn sang hướng tây

Nam, bên hữu ngạn sông Chu có núi Mục Sơn làm Hữu tiền án; hướng Đông Nam có núi Chủ

làm Tả tiền án Các công trình Miếu Điện được xây dựng trong một không gian rộng giống như

một chiếc ngai Tất cả các bia mộ đều được bố cục chung trong một không gian hình chiếc ngai,

đều tuân theo một hướng Bắc – Nam Mộ đều được để sau bia làm tăng thêm tính thẩm mỹ, tạo

không gian mộ thêm sâu và uy nghiêm hơn Việc dựng bia khắc chữ để trước mộ nêu cao công

đức, sự nghiệp của người đã khuất, là sự sáng tạo trong thành tựu văn hóa Việt Nam mà triều Lê

Sơ đã mở đầu

Các công trình điện miếu

Thành điện Lam Kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu (Du Sơn) mặt Nam nhìn ra sông Chu,

qua sông Chu khoảng 900m đường chim bay là núi Chúa (Chủ Sơn) làm tiền án; bên tả là dải núi

rừng Phú Lâm và núi Ngọc Giăng Đèn uốn lượn thành hình cánh cung che chắn phía Đông, bên

hữu là giặng núi Hướng và núi Hàm Rồng cũng uốn thành hình cánh cung che chắn phía Tây

Khu hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam Bắc,

trên một khoảng đất đồi gò có hình chữ Vương trong chữ Hán Bốn mặt xây thành có chiều dài

314m, bề ngang 254m, thành phía Bắc xây phình ra thành hình cánh cung với bán kính 164,

thành dầy trên 1m

Mặt trước, ngoài hoàng thành khoảng 100m còn lại dấu vết của cổng vào rộng trên 6m,

hai bên cổng có xây 2 bức tường thành hình cánh cung kéo dài đến sát bờ sông Ngọc, móng

Trang 28

tường thành còn lại dầy 1,80m, qua cổng thành khoảng 10m đến một con sông đào có tên là sông Ngọc, rộng khoảng 19m Sông này bắt nguồn từ Tây Hồ, chạy vòng qua trước thành và điện Lam Kinh Theo sách “Hoàng Việt địa dư chí” xưa kia, nước sông trong veo, đáy sông có nhiều sỏi tròn đẹp, trông rất đáng yêu, không ai dám lấy

Trên sông có bắc một cây cầu với tên gọi Tiên Loan Kiều, cầu có hình cánh cung, còn có tên gọi là cầu Bạch, trên cầu có nhà, kiểu thượng gia hạ kiều, qua cầu khoảng 50m thì đến một giếng cổ, hình chữ nhật, dài 37,50m, rộng 30m góc tròn, thành giếng 4 bên đều kè đá, giếng đào trúng mạch nước ngầm, xưa kia giếng quanh năm đầy nước và còn được thả sen để giữ cho nước mát Bề giếng phía Bắc có lát bậc đá lên xuống, gọi là bến nước Trên bến nước một sân rộng trước Ngọ môn, hai bên lối vào chính giữa trước sân, có đặt hai con giống đá huyền thoại giống như hai con nghê dựng cách nhau 5,10m canh phòng trước Ngọ Môn trong tư thế ngồi Mỗi con đều đặt trên một chiếc đế xây gạch và đá hình chữ nhật, trước đế có một tấm đá tạc hình tròn có đường kính 70cm, gắn liền với một tấm đá tạc hình chữ nhật, biểu trưng cho hai vầng nhật nguyệt Hai con nghê đá có hình thù giống nhau, nhưng kích thước khác nhau, theo tài liệu khảo sát năm 1942 của nhà nghiên cứu người Pháp tên là Louis Bezacier thì con bên trái có đáy 54cm, cao 55cm con bên phải có đáy 59cm, cao 72cm (Hiện 2 con nghê đá này đã bị vỡ nhiều mảnh)

Sân rồng

Qua Ngọ môn vào đến sân rồng trước điện Lam Kinh Sân trải rộng khắp bề ngang chính điện, hai bên còn trải rộng đến sát thềm hai nhà tả vu và hữu vu Vì vậy sân có chiều rộng ngang 58,5m sâu 60,5m Với diện tích là 3.539,25m2, sân rồng còn có tên gọi là sân chầu, xưa kia lát gạch, lớp gạch bị huỷ hoại , nay đã được tôn tạo lại như xưa

Chính điện Lam Kinh

Trang 29

Khu chính điện gồm 3 toà điện lớn được xây trên nền đất rộng, cao 1,80m so với sân

rồng, bề ngang 38m, chiều sâu 46m Mặt bằng của điện được bố trí theo hình chữ công (I)

Ngày 21 tháng 2 năm Bính Tý (1456) vua Lê Nhân Tông đích thân đem các quan về bái yết sơn lăng ở Lam Kinh, nhà vua đã lệnh cho các đại thần đặt tên các điện, điện phía trước gọi

là điện Quang Đức; điện dọc ở giữa gọi là điện Sùng Hiếu, điện phía sau gọi là điện Diên Khánh (theo Đại Việt sử ký toàn thư) Hai điện Quang Đức và Diên Khánh đều 9 gian, gian giữa rộng nhất, hai gian đầu hồi chỉ rộng 2m tạo thành hành lang bao quanh cả 3 điện Theo kết quả khai quật khảo cổ đầu năm 2000, điện Quang Đức và điện Diên Khánh có nền dài 38m6, rộng 18,60m với diện tích mỗi điện 707,777m2 Điện Sùng Hiếu có chiều dài 13,50m, rộng 17m, với diện tích

là 229,50m2 Tổng diện tích của 3 cung điện hợp nhất là 1.645,04m2

Đây là kiến trúc gỗ có quy mô lớn, hàng cột cái của cả 3 điện có đường kính 62cm Căn

cứ vào chiều rộng của nền điện, khoảng cách của 2 hàng cột cái thì cung điện này có 2 tầng mái Kiến trúc ba toà chính điện Lam Kinh có giá trị đặc biệt quan trọng về nghệ thuật kiến trúc thời

Lê Sơ

Hiện khu Chính Điện chỉ còn lại các chân tảng kê cột bằng đá, nằm rải rác trên nền một khu đất rộng, hầu như vẫn còn nằm nguyên vị trí ban đầu Năm 2010 chào mừng đại Lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội Khu Chính Điện di tích Lam Kinh đã được phê duyệt Dự án phỏng dựng lại Chính Điện, theo quyết định số 3232/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Từ sân rồng lên Chính Điện là Thềm Rồng rộng 5m có 9 bậc với 3 lối lên, xuống, lối đi giữa rộng 1,80m, được ngăn cách với hai lối đi hai bên bởi đôi rồng đá tạc theo phong cách thời

Lê Sơ Thân rồng tạc tròn, uốn lượn và được trang trí hoa văn hình đao mác Đầu Rồng có bờm dài, cằm có râu xoắn hình vặn thừng, tay rồng giống như bàn tay người: một tay đang nắm lấy râu, tay kia đang nắm viên ngọc gọi là long hí châu (rồng vờn ngọc)

Do nhiều biến cố của lịch sử hai đầu rồng ở thềm rồng đã bị vỡ một số mảnh, dựa trên các tài liệu thư tịch cổ, dựa trên kết quả nghiên cứu khảo cổ học, hiện thềm rồng và những phần

vỡ, mất mảnh đầu và thân rồng đã được tôn tạo lại

Hai lan can phía ngoài của lối lên hai bên tạc cả một tấm đá lớn nguyên khối, trên hai mặt trong và ngoài của lan can này trang trí hình vân mây, giữa vân mây có hình ngọn lửa rất đẹp Nét chạm nổi thấp, đều, uốn hình cánh hoa, kết thúc bằng hai xoắn mây, tạo cho phần trên của

Trang 30

lan can dáng lượn sóng uyển chuyển, độc đáo Bức chạm này có tên gọi vân hóa long nghĩa là mây hóa rồng Dải viền trang trí ở phần dưới lan can chạm thành một đường thẳng dốc xuống, trang trí hoa văn hoạ tiết hình hoa chanh Đây là một mô típ hoa văn xuất hiện sớm từ thời Lý, Trần trong các công trình điêu khắc nghệ thuật kiến trúc ở Việt Nam được ưa chuộng Dải hoa văn này phân chia phần trên và phần dưới tạo cho bố cục bề mặt lan can trở nên cân đối đẹp đẽ Niên đại của tác phẩm trang trí nghệ thuật này đã được xác định từ năm 1428 đến năm 1433

Khu Thái Miếu triều Lê sơ

Khu Thái Miếu là dãy nhà gồm 9 ngôi, các tòa Thái Miếu có diện tích gần vuông dài từ

16 đến 17m, rộng 12-13m xây nối tiếp nhau theo chiều Đông-Tây dài 177m hình vòng cung ôm lấy Chính Điện Lam Kinh Nền nhà lát gạch vuông 400 x 400, màu đỏ gạch, xám xanh, xám tro, lát chéo khít mạch Phía trước mỗi tòa đều có lối lên xuống, có 5 bậc và hai lan can hai bên trang trí đôi rồng thời Lê theo mẫu rồng trang trí bậc thềm lên Chính Điện Mỗi tòa Miếu đều có sân diện tích khoảng 50 – 60m2, lát gạch bát 400 x 400, màu đỏ nâu, xám tro, xám xanh Thái Miếu

là nơi thờ cúng các bậc tổ tiên nhà Lê, Thái hoàng Thái hậu, các Vua và Hoàng hậu nhà Hậu Lê

Sau khu Thái miếu khoảng 50m là tường thành phía Bắc, xây theo hình vòng cung, có đường kính 165m, ôm bao bọc phía Bắc, toàn khu cung điện và Thái miếu Các Thái miếu hầu như bị phá hủy hoàn toàn chỉ còn lại dấu tích nền móng, dựa vào kết quả khai quật khảo cổ học

và qua các tài liệu lịch sử ghi chép lại, hiện nay một số hạng mục các tòa Thái Miếu trong khu di tích đã được bảo tồn và tôn tạo lại được 5 tòa

Trang 31

Hựu Đại Vương Lê Trừ, anh cả thứ hai của Thái Tổ Các điện thờ ở đây hiện nay chỉ còn lại dấu vết nền móng

Phía Đông khu Chính điện là khu cư xá của các quan và quân lính trông coi khu kinh thành Trong khu vực phía Đông còn một khu bếp núc Theo kết quả khảo sát khảo cổ học, phát hiện được nhiều đồ gốm sứ ở khu vực này, trên đồ gốm sứ ở đây đều có chữ “Trù” nghĩa

là đồ đựng sử dụng trong bếp núc Các công trình kiến trúc ở phía Đông đều còn dấu vết nền và các chân tảng cột bằng đá

Các kiến trúc lăng mộ

Lăng vua Lê Thái Tổ - Vĩnh Lăng

Vua Lê Thái Tổ sau mười năm chỉ huy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1428) giành hoàn toàn thắng lợi, đến tháng Giêng mùa Xuân năm Mậu Thân thống nhất thiên hạ, lên ngôi Hoàng Đế lấy hiệu là Thuận thiên năm thứ nhất (1428)

Trong 6 năm ở ngôi vua cho thi thố chính sự sáng suốt như định luật lệnh, chế lễ nhạc,

mở khoa thi, đặt cấm quân vệ, đặt quan chức, lập phủ huyện, thu thập sách vở dựng trường học,

có thể nói là quy mô sáng nghiệp rộng lớn, công lao có thể đổi vận bĩ sang vận thái, chuyển thế nguy sang thế yên, đổi cuộc loạn làm cuộc trị Câu nói “người có nhân, thiên hạ không ai địch nổi” chính là hợp với vua, cho nên lấy được thiên hạ, làm vua trong 6 năm mà đất nước thịnh trị, truyền cơ nghiệp đến muôn đời về sau (Theo Đại Việt Sử ký toàn thư)

Năm Thuận Thiên thứ 6, tức năm Quý Sửu tháng 8 nhuận, ngày 22 Thái Tổ Cao Hoàng

đế chầu trời Cùng năm ấy ngày 23 tháng 10 táng ở Vĩnh Lăng, Lam sơn

Vĩnh Lăng được xây dựng trên giải đất bằng phẳng ở chân núi Dầu phía Nam, cách thành Bắc điện Lam Kinh 50m, nằm trên tuyến trục bắc nam giữa núi Dầu và núi Chúa, tạo thành thế hậu chẩm bắc sơn, tiền án nam sơn; bên trái có núi Phú Lâm và núi Hổ, bên phải có núi Hướng

và núi Hàm Rồng tạo thành hai cánh tay ngai với thế long chầu hổ phục; phía chính diện của Vĩnh Lăng, cách trên 1000m là dòng sông Chu uốn cong hình vòng khuyên, ôm lấy mặt tiền Vĩnh Lăng, chiều dòng chảy từ phải sang trái tạo thành thế tụ thuỷ Theo cách nhìn tinh tế của nhiều người am hiểu thuyết phong thuỷ xưa và nay thì Vĩnh Lăng được chọn đặt ở một thế đất rất đẹp, phía ttrước có minh đường rộng rãi và tiền án là núi Chúa; phía sau có gối tựa là núi Dầu Hai bên tả, hữu có hai dãy núi tạo thế hổ phục long chầu Đối diện gần lại có sông làm bạch

Trang 32

hổ Quả là một vùng đất có vượng khí tốt tươi, núi sông kỳ tú, là điểm huyệt quan trọng và thần diệu nhất trong khu sơn lăng Lam Sơn

Bố cục và phong cách mai táng của Vĩnh Lăng đơn giản nhưng tôn nghiêm và trang nhã Lăng đắp đất hình lập phương, xung quanh trước kia xây chèn bằng gạch thường, bị sụt lở do sự xâm thực phá huỷ của thảo mộc, nay xây thêm bằng đá đục ở bên ngoài, có cạnh 4,40m cao 1m

Trước lăng có hai hàng tượng người và tượng các con giống tạc bằng đá, dựng ở đây để trấn trạch, nghĩa là làm cho khu lăng luôn luôn được yên lành, không bị tà ma quấy nhiễu và cũng là để tôn quang cảnh tôn nghiêm kính cẩn của lăng tẩm vua chúa

Đứng đầu hai hàng tượng, ở vị trí gần lăng là hai pho tượng quan hầu, bên trái là quan văn, bên phải là quan võ Đây là cách sắp đặt theo phép bố trí quan chức thời vua Lê thái Tổ, đặt hai chức quan đại thần đứng hàng đầu triều gồm quan Thị trung bộc xạ trông coi việc then chốt

về chính trị và quan thái uý nắm quyền tối cao trong quân đội Kế tiếp hàng tượng quan hầu là tượng bốn đôi con giống đối nhau theo thứ tự hai sư tử, hai ngựa, hai tê giác, hai hổ Trước lăng 70cm có một hương án bằng đá để đặt bát hương và lễ vật Giữa hai hàng tượng chầu vào là một lối đi rộng 20,35m gọi là thần đạo

Nhìn toàn cảnh lăng vua Lê Thái Tổ thật là giản dị, gần gũi mà tôn nghiêm trang trọng [5] [6]

Hoa văn trang trí trên bia và niên đại đã được xác minh cụ thể là vào tháng 10 âm lịch năm Thuận Thiên thứ 6 tháng 11 đến tháng 12 năm Quý Sửu, tức năm 1433 Đây là một cứ liệu quý giá để nghiên cứu về nghệ thuật trang trí Việt Nam thời Lê sơ Trán bia trang trí một hình

Trang 33

vuông, trong hình vuông điêu khắc một hình tròn biểu trưng cho trời và đất, chính giữa khắc một đầu rồng nhìn thẳng, thân rồng uốn khúc uyển chuyển quanh hình mặt trời, biểu trưng là thiên tử (con trời) do sự giao hoà của trời đất sinh ra Ở cánh cung hai bên của hình vuông và hình tròn chạm hai hình rồng vươn mình đối nhau chầu vào, cùng một phong cách, trên nền, trang trí loáng thoáng hình áng mây… riềm 2 bên tính từ đỉnh xuống đến đáy bia, mỗi bên trang trí 9 hoa văn hình nửa lá đề, trong mỗi nửa lá đề khắc hình một con rồng uốn theo lá, đầu vươn lên trên, nối tiếp nhau Khoảng không nền nửa lá đề chạm hình hoa cúc dây với nghệ thuật tinh xảo Phong cách chạm khắc hình lá đề biểu trưng cho phong cách nghệ thuật trang trí trong các ngôi chùa thờ Phật, phù hợp với nội dung văn bia do Vinh lộc đại phu nhập nội hành khiển, tri tam quán sự Nguyễn Trãi phụng soạn Văn bia ngắn gọn, cô đọng, mô thuật hết được gia tộc, thân thế sự nghiệp công lao của vua Lê Thái Tổ, đặc biệt nhấn mạnh lòng khoan dung từ thiện đối với quân thù khi đã đầu hàng vì chiến bại; lòng nhân ái đối với dân chúng của Vua Lê Thái Tổ [5] [6]

Bia Vĩnh Lăng là một công trình nghệ thuật quý giá, có ý nghĩa lớn lao trong kho tàng di sản văn hoá Việt Nam thời Lê Sơ, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Ngoài Lăng vua Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng, ở Lam Kinh còn một hệ thống các lăng

mộ và bia ký của các vua đầu triều Lê Sơ được an táng tại đây như: Thái Tông (Hựu Lăng), Thánh Tông (Chiêu Lăng), Hiến Tông (Dụ Lăng), Túc Tông (Kính Lăng), Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (Lăng khôn Nguyên Chí Đức)

Về địa hình, không gian lăng mộ đều được nằm trên các quả đồi thấp, kề các quả đồi thấp

là hệ thống sông suối cổ từ thượng nguồn đổ ra sông Chu, đây là hai yếu tố lý tưởng dành cho việc an táng các bậc đế vương Cấu trúc và qui mô lăng mộ khá ổn định, mỗi lăng mộ gồm có 3 thành phần: Mộ, trước mộ có 2 hàng tượng đá chầu ở vị trí hai bên đường thần đạo một tấm bia

đá đặt trên lưng rùa ở vị trí phía trước cách xa mộ, và có độ chệch hướng so với mộ Tượng ở các lăng (tính từ trong ra) có tượng quan hầu, lân, tê giác, ngựa, hổ Các tượng có kích thước nhỏ bé, tạo tác có phần sơ sài, cao nhất không quá 1,2m Bia Vĩnh Lăng được đặt cách xa lăng nhất (300m), các bia khác được đặt gần lăng hơn chỉ cách lăng từ 30 – 50m, trang trí trên bia chủ yếu

là hình rồng, hoa lá, mây lửa, sóng nước

Trang 34

Phong cách nghệ thuật thể hiện qua các tượng chầu trước lăng mộ Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông mang tính ước lệ, đậm chất dân gian, chỉ dừng lại ở tả khối, không tả chi tiết , tượng trông thô phác Các tượng về sau ở các lăng Lê Thánh Tông, Lê Thị Ngọc Dao, Lê Hiến tông, Lê Túc Tông phong cách nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao của phương pháp tả thực, sống động và điều đặc biệt là tượng hầu ở lăng mộ Bà Lê Thị Ngọc Dao là tượng nữ quan

Trong số các bia kể trên, hiện bia Lê Thái Tông không còn Sau thời kỳ xuống cấp, từ năm 1996 đến nay hầu hết các lăng mộ, bia ký ở Lam Kinh đều đã được trùng tu tôn tạo khang trang

1.2.3.3 Hiện vật qua các cuộc khai quật tại di tích

Hiện vật là vật liệu kiến trúc

Vật liệu đất nung: Qua các đợt khai quật tại di tích đã thu được các loại hình vật liệu có

niên đại từ thời Trần, Lê Sơ, Lê Trung Hưng bao gồm: gạch lát nền hình vuông, ngói mũi, ngói mũi hài, gạch vồ, gạch bìa, gạch thỏi, gạch múi bưởi, gạch ốp trang trí, ngói ống, ngói bò, ngói

lá, ngói liệt, ngói âm, đầu đao, chốt gạch, nệm, cối cửa, vật liệu trang trí khối tượng hình rồng, các loại riềm trang trí

Các hiện vật trên bao gồm gạch lát nền, gạch ốp trang trí, ngói ống, ngói bò, ngói âm, các loại riềm trang trí đều có hoa văn

Gạch lát nền hình vuông thời Trần được trang trí trên một mặt, đề tài trang trí thường là hoa lá cúc dây, hoa sen, cánh hoa chanh Gạch lát nền thời Lê Sơ và Lê Trung Hưng để trơn không trang trí, duy chỉ có một viên hiện Bảo tàng lịch sử đang lưu giữ là có trang trí hình rồng chạm nổi uốn lượn choán kín bề mặt viên gạch

Gạch ốp trang trí thời Lê sơ có màu đỏ tươi, hình chữ nhật, trang trí trên một mặt hoa văn hình rồng, hình sóng nước, hình quả lựu, hồi văn, hình cánh sen, hình bán viên lệch

Gạch ốp trang trí thời Lê Trung Hưng hình chữ nhật dẹt, màu đỏ gạch và xám đen trang trí trên một mặt gồm hoa văn cúc dây, hoa 4 cánh, nhũ đinh

Ngói ống thời Lê Sơ, Lê Trung Hưng đầu ngói thường được trang trí hoa văn hình rồng, hình hoa cúc, hoa 4 cánh và hoa cách điệu…

Vật liệu đá: Bao gồm đá lát nền, chân tảng, mốc chỉ giới, phiến đá kè, thành bậc, ngoàm

bậu cửa và cối cửa, được làm từ loại đá vôi màu xanh, xanh xám Chân tảng loại mặt trên được trang trí cánh sen 2 lớp đều, đầu tròn, mũi thấp cong hất lên và loại không trang trí chỉ có u nổi

Trang 35

tròn; mốc chỉ giới có chữ “Vĩnh Lăng tây thạch kiệt”; thành bậc có hình dáng và cách trang trí khác nhau bao gồm trang trí hình rồng, hình sóc, mây hóa rồng, hình mặt nguyệt

Vật liệu gỗ: Được làm từ loại gỗ lim, bao gồm cọc và các thanh gỗ giằng chân cầu Cọc

có một đầu nhọn cắm sâu vào lòng đất, chiều dài còn lại là 1m – 1,2m; thanh gỗ hình chữ nhật,

có nhiều lỗ mộng đục thủng để liên kết với các bộ phận kiến trúc cầu, dài 4m – 6,4m; rộng 0,3m – 0,4m; dày 0,3m

Vật liệu kim loại: Các vật liệu kiến trúc đều là đinh sắt, tìm được với số lượng lớn tới

hàng nghìn chiếc Đinh sắt có kích thước dài, ngắn khác nhau, tiết diện hình chữ nhật hoặc hình tròn, mũ đinh được tạo hình nấm hoặc tán dẹt đều sang hai bên hay lêch về một bên

Di vật, hiện vật đồ gốm sứ

Đồ gốm Việt Nam

Đồ gốm thời Trần: Kết quả khai quật cho thấy nhóm di vật này chủ yếu nằm trong các

tầng văn hóa có niên đại cuối thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15 Các di vật đều mang đặc trưng đồ gốm thời Trần như men phủ, hoa văn trang trí và kiểu dáng với kỹ thuật sử dụng con kê chống dính Bên cạnh đó còn có các di vật mang đặc điểm phổ biến ở đồ gốm Lê sơ sau đó như men trắng ngà, men nâu ngả màu vàng và kỹ thuật ve lòng Loại hình thu được là bát, đĩa, âu, chậu gốm hoa nâu, chậu sành, tượng người men nâu bóng đầu vấn khăn lệch về một phía, lon sành…

Đồ gốm thời Lê sơ: Rất phong phú về số lượng và các hoa văn trang trí, về loại hình vẫn

chủ yếu là các loại bát, đĩa, chậu, bình, nắp đậy và các loại hình sinh hoạt khác, tập trung ở 2 dòng men chính là men trắng và men trắng vẽ lam Các di vật tìm được với số lượng lớn tập trung ở tất cả các kiến trúc khu trung tâm Hoa văn trang trí trên di vật thường văn in hình rồng,

văn nổi hình rồng, văn vẽ lam hình rồng, băng cánh sen xoắn móc…, trong lòng có chữ Quan in

nổi, chữ viết lam hoặc bông hoa mai 6 cánh

Đồ gốm thời Mạc: Có số lượng ít , đều là đồ gốm hoa lam với hai loại hình bát và đĩa

Bát trong có dấu ve lòng, trang trí vẽ lam hoa lá và các đường chỉ, bên ngoài trang trí 2 rồng vờn nhau Đĩa trong có dấu con kê, trang trí vẽ lam hoa lá và các đường chỉ

Đồ gốm thời Lê Trung Hưng: Được chia 2 giai đoạn

Trang 36

Đồ gốm cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17: Bát, đĩa là hai loại hình chiếm tỷ lệ nhiều nhất, bên

cạnh đó còn có các loại hình khác như âu, bình vôi, bình sành, lon sành, trõ sành, nắp đậy đồ đựng

Bát, đĩa thường là men trắng vẽ lam, trong có dấu ve lòng, trang trí các đường chỉ lam, chữ Hán, ngoài trang trí hình rồng đơn giản và hoa 2 nhánh móc vào nhau

Đồ gốm thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18: Chủ yếu là bát, đĩa Bát, đĩa gồm men trắng vẽ lam

và men trắng ngả xám, trang trí đường chỉ lam đơn giản, trong có dấu ve lòng

Đồ sứ thế kỷ 17: tìm được với số lượng lớn, áp đảo gốm Việt Nam có cùng niên đại Sứ

Trung Quốc đều là men trắng xanh thiên thanh và men trắng vẽ lam, men trắng ngả xanh, men lam ngả tím Đề tài trang trí trên di vật, hiện vật thường trong và ngoài vẽ hoa lá hoặc chỉ trong lòng trang trí vẽ hoa lá, hình phượng, chim, lẵng hoa, cỏ hoặc trang trí bổ ô ở thành đĩa…

Bên cạnh đồ sứ, còn có các loại hình đồ đựng bằng sành phủ men Trung Quốc bao gồm các mảnh vỡ của bình lớn men nâu bóng hoặc men nâu ngả vàng, ngoài trang trí hoa lá xoắn móc với phong cách khắc lõm Xương xám, mịn, cứng đanh

Các loại di vật khác

Đồ đất nung: có tượng bùa, chỉ còn phần đầu và thân, đầu dẹt tư thế đứng chắp tay trước

ngực; lư hương tạo hình búp sen, phần miệng có các cánh nhô cao, thân rạo 2 lớp cánh sen kép, hai bên có tai hình vành khuyên Ngoài ra còn có các mảnh vỡ của nồi gốm, miệng loe, cổ thắt, thân cong, đáy hình cầu có khắc vạch và dấu vết sử dụng

Đồ đá: Gồm rìu tứ giác, rìu bôn có vai lệch, cuốc đá được làm từ loại đá màu xám trắng

Rìu bôn có vai lệch và cuốc đá tìm được trong tầng văn hóa thời trần, lưỡi được mài vát không đều (rìu bôn có vai lệch) và mài cong đều về hai bên (cuốc đá)

Trang 37

Kim loại: gồm chì lưới và tiền đồng, khóa đồng, chông sắt, dao sắt Chì lưới hình gần chữ

nhật, được tìm thấy trong tầng văn hóa nhà Tả Vu Tiền đồng gồm 145 đồng, trong đó 120 đồng

đã được xác định niên đại nguồn gốc, 24 đồng còn lại do bị vỡ, ôxy hóa nên không xác định được

Xương răng động vật: Theo kết quả giám định, xương răng động vật thu được gồm có

trâu, bò, hươu, lợn chim… trong đó, xương trâu chiếm tỷ lệ lớn, phản ánh những ghi chép của sử sách về việc chuẩn bị đồ tế lễ các điện miếu và lăng mộ ở Lam Kinh

1.2.3.4 Lễ hội Lam Kinh

Lễ hội Lam Kinh xưa được tổ chức theo nghi thức triều đình, “Lễ nghi chí” trong Lịch

triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú chỉ gọi là “Lễ” chứ không gọi là “Lễ hội” như: “Lễ

tế trời đất”, “Lễ thờ tôn miếu”, “Lễ kỵ nhật ở điện Thái miếu”, “Lễ tế bốn mùa”… Gọi là “Lễ hội Lam Kinh” bởi vì những kỳ nhật tế lễ ở điện Lam Kinh thực chất người dân vùng Lam Sơn

nói riêng, nhân dân tỉnh Thanh Hoá nói chung đã bị tham gia vào lễ hội trong suốt cả tháng

Xưa kia, các vua nhà Lê mỗi lần về bái yết Sơn lăng đều đi bằng thuyền Từ Thăng Long xuôi thuyền theo sông Đáy ra biển vào cửa Lạch Trường để vào sông Mã, hoặc ngược sông Mã

từ Ngã Ba Bông lên bến Đan Nãi (tức làng Đan Nê huyện Yên Định ngày nay) theo sông đào nhà Lê vào sông Chu để lên Lam Sơn, hoặc từ Ngã Ba Bông xuôi đến Ngã Ba Đầu để vào sông Chu ngược lên Lam Sơn Mỗi lần nhà vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Hiển Tông, Tương Dực… “về bái yết Sơn Lăng Lam Kinh” gồm thuyền rồng, thuyền lớn, thuyền quân hàng trăm chiếc, cờ quạt trống, chiêng rực rỡ sắc màu, là những ngày hội lớn của nhân dân Thanh Hóa Chợ họp đông đúc, hàng quà san sát, trai gái các làng trẩy hội mùa xuân tháng Hai, vui không kể xiết

Trong lễ hội Lam Kinh xưa ínhự tham gia của một số yếu tố dân gian như tục hát rí ren

nhưng nhanh chóng bị loại bỏ Toàn thư chép sự kiện này “Dân Thanh Hóa thấy vua đến, trai,

gái đem nhau hát rí ren ở hành tại Tục hát rí ren một bên con trai, một bên con gái, dắt tay nhau hát, hoặc chéo chân chéo cổ nhau, gọi là cắm hoa kết hoa, thói là rất xấu Đài quan Đồng Hanh phát biểu với thái uý Khả rằng: “Lối hát ấy là thói dâm tục xấu, không nên cho người hát nhảm trước xa giá” Khả liền sai cấm hẳn” Để khánh thành mừng công xây dựng Điện miếu

Lam Kinh vua Lê Nhân Tông đã sai các quan tập điệu múa “Bình Ngô phá trận” Điệu múa này

Trang 38

được sáng tạo từ thời Thái Tông, tương truyền , Vua Thái Tông nhớ lại công trước của vua cha Thái Tổ dùng vũ công mà đánh thắng giặc Ngô, bình được thiên hạ cho nên sai quan hành khiển

Nguyễn Trãi chế ra hai khúc nhạc múa “Bình ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều” để múa

trong hành lễ ở Lam Kinh Điệu múa này, trải qua bao đời đã thất lạc, không có sách vở nào chép lại, trừ vài dòng ghi trong Toàn thư Các dịch giả cuốn Toàn thư có chú thích: “Có lẽ tàn tích của bản nhạc múa này là điệu múa Xuân Phả ở làng Xuân Phả (nay là làng Xuân Trường gần Lam Kinh) huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa”

Như vậy, lễ hội Lam Kinh được mở ra từ khi Lê thái Tổ lên ngôi trở về bái yết Sơn Lăng vào năm 1429, năm 1433 Lê Thái Tổ băng hà ở Đông đô (Hà Nội) được đưa về Lam Sơn an táng

và Điện Lam Kinh cũng được xây dựng Lễ hội Lam Kinh được tổ chức đầy đủ lễ và hội với các điệu múa “Bình Ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều” Thời Lê Thánh Tông đất nước thanh bình

có lẽ lễ hội Lam Kinh được tổ chức rầm rộ, đông vui nhất Sau đó, các vua Lê “về bái yết Sơn Lăng ngày càng thưa, lễ hội Lam Kinh kém phần rực rỡ và quy mô Cho đến đầu thế kỷ XVI, đất nước loạn lạc, Nam Bắc phân tranh, lễ hội Lam Kinh thu hẹp lại trong Đền Cham (Đền Cham, làng Cham là quê nội của vua Lê Thái Tổ) sát Lam Kinh, bởi vì Lam Kinh nhiều lần bị đốt cháy, cho đến lần cháy điện Lam Kinh thời Tây Sơn thì không thể khôi phục lại được nữa Nhà Nguyễn thống nhất đất nước đã cho xây đền Lê ở Bố Vệ (nay thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa) và lễ hội Lam Kinh được chuyển hẳn về đây

Do vậy, ở Lam Kinh chỉ còn lễ hội Đền Cham của làng Cham và các làng lân cận có quan

hệ thờ cúng vua Lê Lễ hội Lam Kinh thực chất tồn tại từ năm 1428 đến năm 1511 là lần cuối cùng Lê Tương Dực bái yết sơn Lăng

Trong thời gian tồn tại gần 100 năm Lễ hội Lam Kinh với các nghi thức triều đình rực

rỡ, trang nghiêm đã để lại trong lòng nhân dân Thanh Hóa những rung động sâu xa và tình cảm sâu sắc đối với nhà Lê, với những người có công mang lại tự do cho dân tộc Đại Việt thời bấy giờ [36, tr.498]

Năm 1933, tưởng nhớ đến công lao to lớn của vị vua đầu triều, nhân dân làng Cham (nay

là xã Xuân Lam, huyện Thọ xuân) đã góp công, góp sức xây dựng ngôi đền thờ vua Lê Thái Tổ tại đây và lễ hội cũng được mở ra có đủ phần lễ, phần hội Nhưng nó chỉ biểu hiện được một phần của lễ hội lam Kinh xưa mà thôi Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đền Cham bị bỏ hoang phế nhiều năm Từ năm 1985 đến nay, đền Cham đã được tu sửa khang trang đáp ứng

Trang 39

lòng ngưỡng mộ của nhân dân cả nước đối với vị anh hùng dân tộc Lê Lợi Từ năm 1994 khu di tích lịch sử Lam Kinh đã được Nhà nước đầu tư kinh phí để phục hồi, tu sửa tôn tạo theo qui mô diện mạo xưa Đồng thời lễ hội Lam Kinh được tổ chức hàng năm vào ngày giỗ Lê Lợi – Lê Lai

Từ năm 2000 đến nay cùng với sự phát triển của đất nước với truyền thống uống nước nhớ nguồn, hàng năm nhà nước và nhân dân đã lấy ngày mất của Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi

và ngày mất của Lê Lai, Bà hàng dầu là ngày 21,22,23 tháng 8 âm lịch để tổ chức lễ hội

1.3 Những giá trị lịch sử - văn hóa của khu di tích Lam Kinh

1.3.1 Giá trị lịch sử

Lam Sơn là nơi sinh ra và lớn lên của người anh hùng dân tộc áo vải Lê Lợi, đồng thời là nơi an táng các vua và hoàng hậu triều Lê Sơ, là nơi phát nguyên, căn cứ ban đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Dưới cái nhìn thao lược, tài cầm quân của mình cùng với 18 người anh em kết nghĩa Lê Lợi đã chọn Lam Sơn, núi Chí Linh và các vùng phụ cận phát huy tổng thế lực chiến tranh nhân dân, quân và dân Đại Việt đã trên dưới một lòng giúp sức và làm nên những chiến công vang dội, với những địa danh đi vào lịch sử Đa Căng, Chí Linh, Xương Giang, Chi Lăng…trận Chi Lăng Liễu Thăng nộp đầu, Mộc Thạch nhân lúc ban đêm chạy chốn… Với chiến công lẫy lừng Lê Lợi cùng các quần thần đánh tan âm mưu xâm lược của nhà Minh giành lại giang sơn cho Đại Việt

Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi đã từng gắn bó những năm tháng tuổi thơ, khi trưởng thành, lúc phất cờ khởi nghĩa, với mảnh đất Lam Sơn này và khi mất ông đã được vua triều sau

là Lê Thái Tông đưa về đây an táng, xây dựng Sơn Lăng, lập bia, dựng miếu để tưởng nhớ công lao to lớn đối với non sông đất nước của ông Với tính chất tôn nghiêm, vương triều nhà Lê luôn cắt cử chức quan cùng với một đội quân thường trực ở điện Lam Kinh để trông coi, bảo vệ kinh thành, khu Điện, miếu và Lăng mộ Xưa kia hàng năm vào mùa Xuân tháng Hai Âm lịch các Vua và Hoàng Hậu triều Lê Sơ về bái yết sơn lăng làm lễ tấu cáo, tế tổ Từ thời Nguyễn đến năm 1945 lễ hội Lam Kinh không được tổ chức tại khu di tích nữa mà chuyển về Đền Lê ở Bố

Vệ thành phố Thanh Hóa Sau năm 1945 do điều kiện chiến tranh (chống Pháp và chống Mỹ), lễ hội Lam Kinh chỉ được tổ chức trong không gian văn hóa vùng Từ năm 2000 đến nay cùng với

sự phát triển của đất nước với truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhà nước và nhân dân đã lấy ngày mất của Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi và ngày mất của Lê Lai, Bà hàng dầu là ngày 21,22,23 tháng 8 âm lịch hàng năm, tổ chức lễ hội để tưởng nhớ về vua Lê Thái Tổ và những

Trang 40

đóng góp to lớn của triều Lê sơ trong chiều dài lịch sử của dân tộc Từ đó lễ hội Lam Kinh trở thành lễ hội chung của dân tộc và được tổ chức thường niên

Lam Kinh hiện nay còn lưu giữ một nguồn sử liệu sống về kiến trúc bao gồm các lăng

mộ, bia, tượng hầu, con giống, nền cung điện… phản ánh lịch sử phát triển, nguồn gốc của một triều đại oai hùng

1.3.2 Giá trị văn hóa

Lam Kinh được xây dựng trên vùng đất cư trú lâu đời, có bề dày truyền thống văn hóa Khi nơi đây được chọn làm Tây Kinh, cùng với truyền thống vốn có, Lam Kinh đã hội tụ được nhiều yếu tố văn hóa của cả dân tộc, kết tinh trở thành một điểm nhấn đặc sắc, đại diện cho văn hóa dân tộc một thời kỳ lịch sử dài Những truyền thống văn hóa đó được thể hiện qua các phong tục, lễ hội, những công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc mang đặc trưng của thời đại sản sinh ra Lam Kinh với chức năng nổi trội là thờ cúng tổ tiên, truyền thống đó có từ ngàn xưa

và được phát huy trên vùng đất Thờ cúng, vinh danh tổ tiên truyền tinh thần yêu nước, yêu quê hương từ tổ tiên cho con cháu, như một lời nhắc nhở thế hệ sau tiếp nối tạo nên truyền thống yêu nước của dân tộc Đó là tinh thần dân tộc được kết tinh từ lịch sử và Lam Kinh là nơi thể hiện

Nằm trong vùng xen cư giữa hai tộc Việt – Mường, kế thừa văn hóa của hai tộc người chủ thể trên vùng đất, văn hóa Lam Kinh được xây dựng và phát triển trên bản sắc lâu đời, khi trở thành tây Kinh, nơi đây hội tụ nhiều tinh hoa văn hóa khác của dân tộc đã thăng hoa trở thành một truyền thống văn hóa địa phương đặc sắc Các lễ hội, phong tục tập quán văn hóa vùng miền

đã trở thành một bộ phận văn hóa dân tộc theo suốt chiều dài lịch sử và tồn tại cho đến ngày nay

đã làm nên giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc cần được bảo vệ, tôn vinh và phát huy trong đời sống văn hóa đương đại

Theo suốt chiều dài lịch sử nhà Lê, những công trình kiến trúc tại Lam Kinh được tạo dựng trong thời gian dài lịch sử, là nơi hội tụ những tinh hoa kiến trúc của dân tộc trên các lĩnh vực: mặt bằng xây dựng, vật liệu, kỹ thuật xây dựng, mỹ thuật trang trí kiến trúc Được xây dựng

là Tây Kinh- Sơn lăng, nơi song trùng chức năng, Lam Kinh vừa là nơi thể hiện quyền lực của triều đại vừa là nơi thờ cúng Tổ tiên Hoàng Gia, nơi đây được xây dựng với quy mô bề thế trang nghiêm, hội tụ những tinh hoa kiến trúc, đỉnh cao của vật liệu xây dựng tốt nhất, đẹp nhất, bền nhất, hội tụ tinh hoa kỹ thuật, nghệ thuật thời đại Có thể thấy mỗi công trình kiến trúc ở Lam Kinh là một đỉnh cao, mang giá trị văn hóa đặc trưng của thời kỳ dựng xây Bên cạnh đó, những

Ngày đăng: 25/06/2021, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w