LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Hoạt động thông tin – thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu của riê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
-
DƯƠNG THỦY ANH
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN-THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
DƯỢC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện
Mã số: 60320203
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Vũ Văn Nhật
Năm,2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Hoạt động thông tin – thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, được thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Nhật Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng Nếu có điều gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Dương Thủy Anh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Chương 1: HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN VỚI NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN 14
1.1 Những vấn đề chung về hoạt động thông tin - thư viện 14
1.1.1 Khái niệm hoạt động thông tin - thư viện 14 1.1.2 Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện với nhiệm vụ đào tạo theo học
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện 17 1.1.4 Tiêu chí đánh giá hoạt động thông tin - thư viện 21
1.2 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên trước nhiệm vụ đào tạo theo tín chỉ 21
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên 21 1.2.2 Quá trình đổi mới phương thức đào tạo của Trường 26
1.3 Khái quát về Thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên 29
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện 29
2.3.1 Kho đọc, phòng đọc dành cho sinh viên 61 2.3.2 Kho đọc, phòng đọc dành cho cán bộ, giảng viên, học viên 62 2.3.3 Kho mượn, phòng mượn dành cho sinh viên 62 2.3.4 Kho mượn, phòng mượn dành cho cán bộ, giảng viên 62
2.3.6 Bảo quản và thanh lọc nguồn lực thông tin 62
Trang 42.4.1 Hệ thống mục lục truyền thống 65
2.6 Nhận xét đánh giá thực trạng hoạt động thông tin - thư viện của Thư viện Trường 74
2.6.1 Nhận xét đánh giá nguồn lực thông tin 75 2.6.2 Nhận xét đánh giá mức độ xử lý thông tin 77 2.6.3 Nhận xét đánh giá về tổ chức lưu trữ và bảo quản 78 2.6.4 Nhận xét đánh giá các sản phẩm và dịch vụ 78 2.6.5 Nhận xét đánh giá về cơ sở vật chất - kỹ thuật và đội ngũ cán bộ của Thư viện 80
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI THƯ
3.1.1 Nhận thức về chuẩn hóa hoạt động thông tin - thư viện 83
3.1.3 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng xử lý thông tin 90 3.1.4 Hoàn thiện, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và
3.1.5 Chú trọng công tác tổ chức bảo quản và thanh lý tài liệu 98 3.1.6 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Thư viện Trường 99 3.1.7 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thông tin - thư viện 100
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
I Các từ viết tắt tiếng Việt
Trường ĐHYDTN Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
II Các từ viết tắt tiếng nước ngoài
AACR2 Ango American Cataloging Rules, 2nd ed: Bộ quy tắc
biên mục Anh- Mỹ ấn bản 2 CD-ROM Compact Disk-Read Only Memory: Đĩa quang chứa dữ
liệu chỉ đọc INTERNET Mạng thông tin toàn cầu
ISBD Internatinal Standard Bibliographic Description: Mô tả
thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế LAN Local Area Network: mạng nội bộ
MARC21 Machine Readable Catalogues 21: Khổ mẫu biên mục
đọc máy 21 OPAC Online Public Access Catalogues: Mục lục trực tuyến
Wifi Wireless Fidelity: hệ thống mạng không dây sử dụng
sóng vô tuyến
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
1 1.1 Diện tích phòng đọc Thư viện Trường ĐHYDTN 33
2 1.2 Cơ cấu người dùng tin tại Thư viện Trường ĐHYDTN 34
3 1.3 Các cơ quan thông tin-thư viện khác ngoài Thư viện
Trường được bạn đọc sử dụng
37
4 1.4 Thời gian nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin của
người dùng tin tại Thư viện Trường ĐHYDTN
38
5 1.5 Tình hình khai thác thông tin theo các lĩnh vực chuyên
môn
39
6 1.6 Ngôn ngữ tài liệu bạn đọc thường sử dụng 40
7 1.7 Nhu cầu về loại hình tài liệu của người dùng tin tại Thư
viện Trường ĐHYDTN
42
8 2.1 Số lượng tài liệu bổ sung hàng năm (Từ năm 2010 đến
năm 2014)
44
9 2.2 Cơ cấu nội dung vốn tài liệu của Thư viện 46
10 2.3 Cơ cấu ngôn ngữ vốn tài liệu của Thư viện 48
11 2.4 Cơ cấu loại hình tài liệu của Thư viện 49
12 2.5 Cơ cấu thời gian xuất bản tài liệu của Thư viện 51
13 2.6 Tình hình sử dụng các sản phẩm thông tin – thư viện
Trường ĐHYDTN
64
14 2.7 Ý kiến đánh giá của người dùng tin về các sản phẩm
thông tin - thư viện Trường ĐHYDTN
68
15 2.8 Tình hình sử dụng các dịch vụ thông tin – thư viện
Trường ĐHYDTN
69
16 2.9 Ý kiến đánh giá của người dùng tin về các dịch vụ thông
tin - thư viện Trường ĐHYDTN
74
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 2.1 Cơ cấu nội dung vốn tài liệu của Thư viện 47
2 2.2 Cơ cấu ngôn ngữ vốn tài liệu của Thư viện 48
3 2.3 Cơ cấu loại hình tài liệu của Thư viện 49
4 2.4 Cơ cấu thời gian xuất bản tài liệu của Thư viện 51
DANH MỤC SƠ ĐỒ
1 1.1 Cơ cấu tổ chức Trường ĐH Y Dược Thái Nguyên 21
2 1.2 Phòng Công nghệ thông tin – thư viện Trường ĐH Y
Dược Thái Nguyên
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thư viện ra đời với sứ mệnh gắn liền với tri thức Thư viện luôn đồng hành cùng con người với sự tiến hóa của nhận thức mở mang tầm nhìn phát triển của khoa học, bảo tồn và phát huy văn hóa Sức mạnh của thư viện là khả năng tổ chức
và cung cấp thông tin, là cầu nối giữa giá trị nguồn lực thông tin và người dùng tin
Trong những năm qua sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) đã tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động thư viện nói chung và hoạt động của các thư viện đại học nói riêng Các thư viện và trung tâm thông tin khoa học và công nghệ đã và đang từng bước đổi mới phương thức hoạt động của mình, từng bước hiện đại hóa thư viện và đó cũng là xu hướng tất yếu để các thư viện Việt Nam có thể hòa nhập với các thư viện trên thế giới
Việt Nam chính thức gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại thế giới) năm
2006, mở ra cơ hội mới cho đất nước ta, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mà chúng ta phải đối mặt Riêng với giáo dục đại học, đó là hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” Với tinh thần đó, nền giáo dục Đại học, Cao đẳng nước ta đang chuyển mình đổi mới phương thức đào tạo, từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ Hình thức đào tạo này được áp dụng lần đầu tiên ở trường Đại học Havard (Mỹ) năm 1972 sau đó lan rộng ra khắp thế giới Ở nước ta hình thức này được Vụ đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất năm 1993 và đi đầu là Trường đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đến nay đã được phát triển ra các trường đại học trên toàn quốc Bản chất của hình thức đào tạo này là cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo dục đại học cho số đông, giúp sinh viên học tập theo mục đích, năng lực, điều kiện của mình, đó là “Giáo dục hướng về người học”, “Giáo dục đại học đại chúng”
Trang 9Không nằm ngoài quỹ đạo đó, Trường đại học Y Dược Thái Nguyên cũng đã chuyển đổi mình từ phương thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2008 – 2009 Với phương thức này đòi hỏi sinh viên phải chủ động tìm kiếm tài liệu, tích lũy học trình cho môn học họ đăng ký, giảng viên luôn cần phải tìm kiếm các tài liệu để làm mới các bài giảng của mình Trước nhu cầu đó Thư viện Trường đại học Y Dược Thái Nguyên đã có những đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường Tuy nhiên để trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho quá trình học tập, nghiên cứu của giảng viên, cán
bộ, học viên, sinh viên Nhà trường và làm đúng nghĩa là một trong 3 bộ phận cấu thành nên một trường đại học (Giảng viên + sinh viên + thư viện) thì Thư viện phải
có những bước đột phá trong tất cả các khâu như: phát triển vốn tài liệu đa dạng và phong phú bám sát vào chương trình đào tạo của trường, tập trung phát triển dạng tài liệu điện tử, cải tiến phương thức phục vụ, nâng cao trình độ cán bộ thông tin - thư viện, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả mọi hoạt động thông tin - thư viện Đó
là nhiệm vụ đặt ra cấp bách hiện nay và là hướng đi phù hợp nhất đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của Nhà trường đã giao phó Tuy đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động thông tin - thư viện để đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường, nhưng hiện nay trong tất cả các hoạt động của Thư viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên còn nhiều bất cập: cơ sở trang thiết bị đã được đầu tư nâng cấp, nhưng chưa đồng bộ; thiếu cán bộ thư viện và cán bộ công nghệ thông tin, vì vậy hoạt động của Thư viện chủ yếu thiên về tính truyền thống và thụ động Việc ứng dụng CNTT và các khâu hoạt động đã được triển khai, nhưng còn hạn chế Phần lớn nguồn tin chỉ được truy cập và sử dụng tại chỗ, các dịch vụ thư viện mang tính khép kín, hoạt động của Thư viện chỉ đáp ứng được
một phần nhu cầu tin của người dùng tin Vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Hoạt
động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên” làm luận văn của mình với mong muốn đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động thông tin – thư viện nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của nhà trường
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 10Đề tài về “Hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” thu hút được rất nhiều sự quan tâm của những người làm công tác quản
lý, các nhà khoa học và những người làm trong lĩnh vực thông tin - thư viện và cho đến nay vấn đề này đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu cụ thể
như: trong bài báo “Hoạt động thông tin Thư viện các trường đại học phục vụ học tín chỉ" (Tạp chí nghiên cứu văn hóa, Số 1.) của PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt; PGS.TS Bùi Loan Thùy với bài viết “ Thư viện đại học phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ” ( Tạp chí Thông tin – Tư liệu, Số 4; 2008) “ Thư viện trường đại học với công tác phát triển học liệu phục vụ đào tạo theo tín chỉ” của Nguyễn Văn Hành “Đổi mới hoạt động phục vụ người dùng tin để hội nhập với yêu cầu đào tạo theo tín chỉ tại các trung tâm thông tin – thư viện đại học” của Trần Thị Thanh Vân
Bên cạnh đó còn có một số luận văn thạc sĩ khoa học thông tin - thư viện như:
- Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo bảo vệ năm 2010 tại trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, với đề tài “Đổi mới hoạt động thông tin – thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Đại học Quốc gia
Hà Nội”
- Luận văn của tác giả Phan Cúc Phương bảo vệ năm 2010 tại trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, với đề tài “Hiện đại hóa hoạt động thông tin và thư viện tại trường Đại học Dân lập Phương Đông đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ”
- Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Mai bảo vệ năm 2013 tại trường Đại học
Văn hóa Hà Nội, với đề tài “Hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”
Các tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp rất thiết thực với các trường đại học như: phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ, đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin – thư viện, nâng cao trình độ cán bộ thư viện, đầu tư và cơ sở vật chất và trang thiết bị…
Mặc dù các công trình nghiên trên được khảo sát và nghiên cứu ở nhiều góc
độ khác nhau, nhiều địa bàn khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có đề tài nào
Trang 11nghiên cứu về hoạt động thông tin thư viện tại Thư viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Để giải quyết vấn đề này tác giả luận văn sẽ kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và những kinh nghiệm của bản thân để làm rõ sự cần thiết phải thay đổi phương thức hoạt động trong Thư viện dựa trên khảo sát thực trạng và từ đó đề xuất các giải pháp cho phù hợp với yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận khoa học thư viện học và phân tích thực trạng hoạt động thông tin – thư viện tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, chúng tôi đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng
yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường đại học Y Dược Thái Nguyên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu nhiệm vụ đào tạo theo học chế tín chỉ áp dụng tại trường Đại học
Y Dược Thái Nguyên
- Hệ thống hóa về lý luận và thực tiễn hoạt động thông tin – thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên:
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động thông tin – thư viện trước yêu
cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đổi mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thông tin – thư viện tại trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thông tin – thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trang 12- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến nay Trong thời gian này Nhà trường
có những thay đổi lớn đó là năm học 2008-2009 chuyển phương thức đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo tín chỉ Vì vậy đây là mốc thời gian cần nghiên cứu để đánh giá và nhận xét đầy đủ, chính xác nhất
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở nắm vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm chỉ đạo, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
về công tác phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo và công tác thư viện
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp tài liệu: phân tích nội dung tài liệu thu tập được để tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận, chủ trương, chính sách liên quan đến đề tài, kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp với cán bộ thư viện và người dùng tin
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: về nội dung bám sát nội dung nghiên cứu, về số lượng và thành phần điều tra 80% là sinh viên (đối tượng người dùng tin chủ yếu), 20% dành cho cán bộ quản lý và giảng viên, cán bộ thư viện
- Phương pháp quan sát các quy trình, phương thức, kết quả, các chuẩn nghiệp vụ, tổ chức quản lý và hoạt động thư viện
- Phương pháp thống kê đối chiếu và so sánh số liệu
6 Đóng góp của luận văn
Trang 13Trường, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin – thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý trong công tác chỉ đạo tổ chức hoạt động thông tin - thư viện và cho các cán bộ chuyên môn thư viện của Trường nắm bắt kịp thời về phương thức tổ chức hoạt động của thư viện để xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin, sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện phù hợp với nhu cầu người dùng tin góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thông tin thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của nhà trường
7 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Tác giả dự kiến sau khi luận văn hoàn thành sẽ góp phần hoàn chỉnh các quy trình hoạt động, xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá tổ chức hoạt động thông tin - thư viện của Trường, điều chỉnh kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và kinh phí bổ sung tài liệu, tổ chức lao động khoa học và phù hợp với năng lực của từng cán bộ, nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Hoạt động thông tin - thư viện với nhiệm vụ đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin - thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ tại Thư viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Thư viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trang 14Chương 1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN VỚI NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN 1.1 Những vấn đề chung về hoạt động thông tin - thư viện
1.1.1 Khái niệm hoạt động thông tin - thư viện
* Khái niệm hoạt động:
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động: Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người khi tác
động vào hiện thực khách quan, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình Theo từ
điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm “Hoạt động” được hiểu là tiến hành các việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đạt được mục đích nhất định [15, tr.341]
Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con người (chủ thể) Họat động là phương thức tồn tại của con người thể hiện hai cấp độ:
- Cấp độ vi mô: là cấp độ hoạt động của cơ thể, các giác quan, các bộ phận tuân theo quy luật sinh học Nhờ có họat động mà con người tồn tại và phát triển, nhưng họat động ở cấp độ này không phải là đối tượng của tâm lý học
- Cấp độ vĩ mô: là hoạt động có đối tượng của con người với tư cách là một chủ thể của hoạt động có mục đích Đây chính là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài- thế giới tự nhiên và xã hội giữa mình với người khác, giữa mình với bản thân Trong quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau
* Khái niệm hoạt động thông tin – thư viện
Cơ quan thông tin - thư viện với chức năng cơ bản của mình, vừa là thiết chế văn hóa - giáo dục, vừa là cơ quan truyền bá thông tin, được nêu rõ trong Pháp lệnh
Trang 15thư viện ở chương 1, điều 1, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số 31/2000PL – UBTVQH10, ngày 28 tháng 12 năm 2000 về thư viện:
Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong
xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [36]
Hoạt động thông tin – thư viện là một dạng hoạt động nghiệp vụ diễn ra theo một chu trình công nghệ bao gồm nhiều quá trình khác nhau: xây dựng nguồn lực thông tin; xử lý phân tích tổng hợp; lưu trữ, bảo quản; tra cứu tìm kiếm và phổ biến thông tin Các quá trình này diễn ra một cách tuần tự, liên tục và chặt chẽ theo quy trình nhất định, có quan hệ hữu cơ và logic với nhau để cùng hướng đến mục tiêu chung của cả chu trình, đó là đào tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin
Nếu tiếp cận từ góc độ thông tin tư liệu, thì hoạt động thông tin – thư viện chính là một dạng hoạt động thông tin khoa học, được trình bày trong nghị định số 159/2004/NĐ-CP của chính phủ, ngày 31-8-2004 về hoạt động thông tin khoa học
và công nghệ, đó là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin Những hoạt động này chính là sự cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ
về chuyên môn nghiệp vụ được giao cho cơ quan thư viện hoặc trung tâm thông tin – thư viện [19]
1.1.2 Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện với nhiệm vụ đào tạo theo học chế tín chỉ
Trong quy chế tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học được Bộ
Đại học và Trung học chuyên nghiệp ban hành theo quyết định số 688/QĐ ngày 14/7/1986 đã chỉ rõ: “Thư viện trường đại học là một bộ phận trong cơ cấu của trường đại học Thư viện trường đại học có chức năng tổ chức, xây dựng và quản lý vốn tư liệu, văn hóa, khoa học, kỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giáo viên và sinh viên trong toàn trường”.[24]
Trang 16Trong quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động thư viện trường Đại học ban hành theo
Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL cũng đã nêu “Thư viện trường đại học là một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của trường đại học” [5]
Hoạt động thông tin – thư viện là không thể thiếu của bất kỳ một trường đạị học nào Tất cả các trung tâm thông tin – thư viện đều ra đời gần như cùng lúc trường được thành lập Thư viện trường đại học có vai trò không nhỏ trong sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học Thư viện chính là giảng đường thứ hai, nếu không nói là bắt buộc phải có đối với bất cứ một trường đại học nào trong việc đảm bảo đào tạo một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao cho đất nước Thư viện trường đại học chính là môi trường lý tưởng để sinh viên tự học, tự tìm tòi nghiên cứu…để tích lũy vốn tri thức về các lĩnh vực khoa học
và đời sống xã hội Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới giáo dục, đào tạo phát huy tính tích cực của người học…
Trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên (ĐHYDTN) nhận thấy cần đổi mới phương pháp dạy và học trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Bắt đầu từ năm học 2008-2009, nhà trường đã đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ và đang dần hoàn thiện chương trình bằng cách đổi mới mô hình quản lý đào tạo và cơ
sở vật chất phục vụ học tập Một trong những điều kiện cơ sở vật chất có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng đào tạo là nguồn học liệu Bởi nguồn học liệu có phong phú
và dồi dào sẽ giúp giảng viên cập nhật bài giảng đầy đủ, sinh viên có thể tự học, tự nghiên cứu các tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo do giảng viên cung cấp
Với phương pháp đổi mới giáo dục hiện nay và yêu cầu của phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ thể hiện rõ ở việc đổi mới phương pháp dạy và học, cho thấy mối tương tác giữa người thầy là giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy sinh tri thức ở người học, người học phải chủ động và tự nguyện tự học, tự tìm kiếm thông tin liên quan đến việc học để khẳng định hay phản bác kiến thức cũ, đề xuất kiến thức mới Vì vậy trong quá trình tự học đó vai trò của thư viện ngày càng được tăng lên với việc cung cấp thông tin liên quan đến việc học đa dạng và đã
Trang 17được chọn lọc Thư viện là nơi sinh viên tự mình thực hành, phát triển kiến thức đã được học Việc sử dụng thư viện giúp sinh viên có khả năng học tập độc lập, lý giải các thông tin sau đó biến thành kiến thức của bản thân mình Các kỹ năng tin học, giao tiếp cũng được hình thành trong quá trình sử dụng thư viện Mặt khác, giảng viên cũng là người sử dụng thư viện để giới thiệu nguồn học liệu cũng như học tập nâng cao trình độ, bổ sung kiến thức mới
Trước yêu cầu đổi mới phương thức đào tạo, thư viện trường cần phải được tăng cường về mọi mặt để nâng cao vị trí, vai trò của mình và phát huy những thế mạnh tiềm năng vốn có của nó nhằm đáp ứng đầy đủ nguồn thông tin có chất lượng phục vụ đắc lực cho cán bộ, giảng viên và sinh viên của trường trong quá trình đổi mới phương thức đào tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy, tự học tập và nghiên cứu khoa học
Ngày nay, việc học được quan niệm là sự tiếp nhận kiến thức từ quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin của học sinh, sinh viên dưới sự hướng dẫn của các giáo viên, nên vị thế , vai trò của thư viện trường đại học đã tăng lên rất nhiều Ở một số nước phát triển, trong những năm gần đây đã có những cố gắng nhằm hợp nhất tất
cả những người tham gia vào quá trình sư phạm vào làm một: giáo viên- cán bộ thư viện- học sinh, sinh viên chính ngay trong thư viện Trong các trung tâm thông tin – thư viện đại học hiện nay đã và đang hợp nhất hai khuynh hướng giáo dục: cách tiếp cận cá nhân, tự học và việc đưa thông tin đến gần nhất với người sử dụng Chính điều đó đã giải thích tại sao thư viện trường đại học được coi là “nòng cốt” trong quá trình hoàn thiện toàn bộ hệ thống giáo dục của các nước công nghiệp tiên tiến
Với vai trò là đơn vị thông tin, thư viện cần phải đổi mới phương thức hoạt động, tài liệu phải được chọn lọc và việc cung cấp thông tin phải liên quan đến học phần đã có trong trường; liên kết chia sẻ nguồn lực thông tin; đa dạng hóa phương thức phục vụ, đảm bảo cho việc sử dụng, khai thác các nguồn tài nguyên thông tin
và các nguồn lực khác một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất đáp ứng mô hình đào tạo mới của nhà trường
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện
1.1.3.1 Yếu tố chủ quan
Trang 18- Chất lượng cán bộ quản lý (CBQL) và cán bộ thư viên (CBTV): đội ngũ
CBQL và CBTV giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động của thư viện, vì vậy CBQL và CBTV phải thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân Mục 3 điều 24 Pháp lệnh thư viện đã nêu: “Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác thư viện”[36] Chỉ khi nào đội ngũ CBQL và CBTV có đầy đủ những phẩm chất, năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm quản lý thì việc giải quyết nhiệm vụ của hoạt động quản lý và chất lượng hoạt động của thư viện mới đạt hiệu quả cao Do đó công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, bồi dưỡng trình độ chính trị cho đội ngũ CBQL và CBTV cần được quan tâm và tiến hành thường xuyên
- Chiến lược xây dựng và phát triển của nhà trường: mỗi một trường đại học,
dù là trường có lịch sử phát triển lâu đời hay mới được thành lập, thì việc xây dựng chiến lược phát triển nhà trường có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành bại của nhà trường Để đảm bảo thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường, thì mỗi đơn vị trong trường phải xây dựng kế hoạch công tác trong từng năm và chiến lược phát triển của đơn vị phù hợp với chiến lược phát triển dài và ngắn hạn của nhà trường Thư viện trong trường đại học tương ứng như một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của nhà trường, với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, với thế mạnh của thư viện các trường đại học, thư viện các trường đại học đang phát huy một cách hiệu quả vai trò và nhiệm vụ, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, góp phần vào việc đảm bảo chất lượng giáo dục trong trường đại học
- Điều kiện cơ sở vật chất và việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện: để xây dựng điều kiện, cơ sở vật chất cho các hoạt động nghiệp vụ
và hoạt động quản lý thư viện, chúng ta cần phải biết huy động mọi nguồn lực phục
vụ cho công tác quản lý, thực hiện quá trình chuẩn hóa, hiện đại hóa thư viện Từng bước chúng ta phải tiến hành trang bị đồng bộ và đầy đủ các phương tiện vật chất và
kỹ thuật bố trí hợp lý các yếu tố của cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác
Trang 19nghiệp vụ và quản lý Các cơ sở vật chất, kỹ thuật đó được coi là tài sản quý phục
vụ hiệu quả cho các hoạt động nghiệp vụ và quản lý thư viện
Công nghệ thông tin ngày càng phát triển mạnh, nó mang lại thông tin có giá trị cao cho hoạt động quản lý, và các hoạt động nghiệp vụ Do vậy việc ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin vào tổ chức, theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình cũng như kết quả hoạt động là một yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng thư viện Có được cơ sở vật chất tốt là điều kiện thuận lợi để hoạt động quản lý đạt hiệu quả theo đúng mục tiêu đã đề ra của chủ thể quản lý
- Vốn tài liệu của thư viện: vốn tài liệu thư viện là bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu phù hợp với chức năng, loại hình và đặc điểm của từng thư viện, nhằm phục
vụ cho người đọc của chính thư viện hoặc các thư viện khác, được phản ánh toàn diện trong bộ máy tra cứu, cũng như để bảo quản lâu dài trong suốt thời gian được người đọc quan tâm Tuỳ theo diện bổ sung có thể chia ra vốn tài liệu tổng hợp, đa ngành, chuyên ngành, chuyên biệt
Xu hướng xây dựng thư viện điện tử, thư viện số kết hợp với thư viện truyền thống là xu hướng quan trọng nhất trong việc phát triển hiện đại và tự động hóa thư
viện trong các trường đại học
1.1.3.2 Yếu tố khách quan
- Luật pháp chính sách: như các hoạt động xã hội khác, quản lý thư viện
bằng pháp luật là một đặc trưng chung của các quốc gia trên thế giới Quản lý hành chính nhà nước về thư viện được thực hiện khi chủ thể biết dựa vào nội dung của các văn bản pháp quy để giải quyết các nhiệm vụ quản lý Để phát triển sự nghiệp thư viện đòi hỏi phải có một quyền lực đủ mạnh tham gia vào tiến trình quản lý mới
có thể làm cho hoạt động đó có được sự phát triển bền vững, hợp quy luật và đạt tới mục tiêu đã định Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, phát triển sự nghiệp thư viện “để xây dựng, bảo tồn, khai thác và sử dụng vốn tài liệu của thư viện: đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu thông tin giải trí của nhân dân và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về thư viện”[12] Do vậy chủ thể quản lý cần có những khả năng
cơ bản như biết phát huy vai trò tích cực của yếu tố luật pháp, chính sách đồng thời
Trang 20biết làm hạn chế mọi sự vận dụng sai lệch luật pháp, chính sách vào hoạt động quản
lý trong thực tiễn, tạo ra đầy đủ những cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và định hướng mục tiêu phát triển của thư viện
- Cơ chế quản lý: cơ chế quản lý được coi là nhân tố khách quan quy định
nội dung của các mối quan hệ giữa các cấp quản lý hành chính nhà nước về thư viện Theo cơ chế quản lý thư viện thì phân cấp quản lý được thực hiện là nhằm mục đích làm cho hoạt động quản lý đạt hiệu quả tối đa và có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm cho chính người quản lý Trong quản lý thư viện các trường đại
học hiện nay vẫn còn tồn tại những yếu kém và bất cập (thư viện một số trường đại học vẫn trực thuộc phòng đào tạo hoặc phòng nghiên cứu khoa học…) Chúng ta
cần phải tiến hành đổi mới cơ chế quản lý mà đặc biệt phải biết chú trọng chỉ đạo việc nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với thư viện Đổi mới cơ chế quản lý nhằm mục đích phát huy tác dụng tích cực, đồng thời tháo gỡ được mặt kìm hãm của cơ chế quản lý cũ, tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện mọi nhiệm vụ của hoạt động quản lý, nâng cao tinh thần trách nhiệm của CBQL, phát huy sức mạnh của tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể cũng như đối tượng trong quản lý thư viện
- Môi trường tự nhiên xã hội: sự phát triển bền vững của môi trường có tác
dụng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thư viện phát triển Đồng thời, khi thư viện phát triển bền vững góp phần mạnh mẽ vào việc nâng cao chất lượng đào tạo trong mỗi nhà trường, sẽ trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của môi trường Môi trường thực sự đã trở thành một yếu tố quan trọng không thể tách rời quá trình quản lý thư viện Chủ thể quản lý của thư viện cần phải phối hợp với các bộ phận chức năng trong trường học, với địa phương để kịp thời ngăn chặn những tác động và ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường, phát huy những tác động tích cực từ môi trường để phát triển sự nghiệp thư viện
- Sự phát triển của khoa học và công nghệ: khoa học và công nghệ được coi
là yếu tố quan trọng góp phần không ngừng đảm bảo chất lượng của thư viện Việc ứng dụng được những thành tựu của khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi
để từng bước đảm bảo chất lượng hoạt động của thư viện Muốn có được hiệu suất
Trang 21cao trong quản lý thì chủ thể cần phải có năng lực tư duy sáng tạo và biết vận dụng thành tựu của khoa học – công nghệ vào quá trình quản lý Mục 4 Điều 24 Pháp
lệnh thư viện đã nêu: “Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thư viện”[36] Việc hiện đại hóa được thư
viện sẽ giúp cho việc xây dựng vốn tài liệu (tài liệu truyền thống, tài liệu số), và việc cung cấp thông tin đạt hiệu quả cao góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học Vì vậy cần tăng cường hơn nữa khả năng làm chủ, tiếp thu, cải tiến các công nghệ, rút ngắn thời gian chuyển giao công nghệ, sớm đưa thành tựu của nó vào ứng dụng trong các lĩnh vực quản lý nói chung và quản lý thư viện nói riêng
1.1.4 Tiêu chí đánh giá hoạt động thông tin - thư viện
Dựa vào định nghĩa hoạt động thông tin – thư viện có thể đưa ra những tiêu chí cụ thể sau để có thể đánh giá được hoạt động thông tin – thư viện:
- Xây dựng nguồn lực thông tin phù hợp với nhu cầu của người dùng tin, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, với chiến lược phát triển của thư viện
- Xử lý thông tin theo các chuẩn nghiệp vụ
- Tổ chức lưu trữ và bảo quản thông tin một cách khoa học, có hệ thống giúp thư viện quản lý tài liệu dễ dàng và thuận lợi
- Tra cứu tìm kiếm thông tin dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả
- Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ đầy đủ, chất lượng
1.2 Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên trước nhiệm vụ đào tạo theo tín chỉ
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trên cơ sở sẵn có của Trường Y sĩ Việt Bắc, ngày 23 tháng 7 năm 1968, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 116/CP thành lập phân hiệu Đại học Y Khoa Miền núi của trường Đại học Y Hà Nội Ngày 24/1/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 33/ CP chuyển phân hiệu Đại học Y khoa miền núi thành Trường Đại học Y Bắc Thái Năm 1994, theo Nghị định 31/ CP ngày 4/4/1994 của Chính phủ về
Trang 22việc thành lập Đại học Thái Nguyên – Trường Đại học Y Bắc Thái trở thành trường thành viên của Đại học Thái Nguyên, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Đến tháng 9/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị Chính phủ đổi tên trường thành Trường Đại học Y Dược thuộc Đại học Thái Nguyên
1.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên có sứ mạng đào tạo cán bộ Y Dược có trình độ đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
y dược, hỗ trợ phát triển hệ thống y tế, cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu chăm
sóc sức khỏe cho nhân dân các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam và cả nước
Trải qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHYDTN ngày nay đã trở thành một trong những cơ sở đào tạo nhân lực y tế lớn, phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân các dân tộc khu vực trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam Quy mô đào tạo hiện nay đạt 8487 sinh viên, học viên sau đại học đang theo học 2 mã ngành cao đẳng, 5 mã ngành đại học, 23 mã ngành sau đại học (Tiến
sỹ, Thạc sỹ, Chuyên khoa cấp 1, cấp 2 và Bác sỹ nội trú) Hàng năm tuyển từ
1500-1800 thí sinh thuộc các bậc học Cao Đẳng, Đại học, Sau Đại học Trường có mối quan hệ hợp tác mật thiết với các viện, trường của các nước Thái Lan, Đài Loan, Hà Lan, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Bước vào giai đoạn mới, Trường Đại học Y dược – Đại học Thái Nguyên tập trung vào những mục tiêu cơ bản sau:
- Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên đáp ứng với chuẩn mực của khu vực và thế giới
- Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học
- Tăng cường, mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức chính phủ, phi
chính phủ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học
1.2.1.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động
Hiện nay nhà trường có 6 khoa chuyên môn, 4 bộ môn trực thuộc trường và
8 phòng chức năng
Trang 23Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Lĩnh vực đào tạo
Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội, trong những năm qua Trường ĐHYDTN đã chủ động, tích cực đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, kiểm tra, đánh giá, chuẩn bị
cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo theo tín chỉ Quy mô đào tạo được mở rộng, đa dạng hóa các bậc đào tạo: đại học, sau đại học Nhà trường chấp hành nghiêm các quy chế đào tạo của Bộ GD & ĐT ban hành Kế hoạch đào tạo được xây dựng hàng năm cho từng khóa học, lớp học, kịp thời bổ sung chương trình, điều chỉnh lịch giảng dạy phù hợp từng đối tượng đào tạo
Công tác nghiên cứu khoa học
Trang 24Công tác nghiên cứu khoa học được gắn liền với mục tiêu đào tạo và phục
vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, cả hai cùng hỗ trợ và phát triển Từ năm 2008 đến nay nhà trường đã triển khai 32 đề tài cấp bộ (3 đề tài cấp bộ trọng điểm), 33 đề tài cấp đại học, 510 đề tài cấp cơ sở, đã có 34 giải thưởng về nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, Bộ giáo dục và Đào tạo, giải thưởng Vifotex, Hội nghị khoa học tuổi trẻ các trường Đại học Y Dược toàn quốc Hàng năm trường triển khai từ 40 đến 50 đề tài cấp cơ sở, 10 đề tài cấp Bộ Đề tài cấp cơ sở có ý nghĩa rất lớn đối với cán bộ trẻ và sinh viên làm quen với nghiên cứu khoa học Số sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học ngày càng tăng Các đề tài tập trung vào nghiên cứu các bệnh đặc thù của miền núi, nghiên cứu cây thuốc và chuyển giao công nghệ
Công tác học sinh sinh viên
Công tác học sinh sinh viên được nhà trường đặc biệt quan tâm, hàng năm có trên 70% sinh viên đạt điểm rèn luyện mức độ khá, có 63 sinh viên nhận học bổng VIFOTEX, Odon – Vallets, Báo Tiền phong, Prudential, Kova, Vòng tay nhân ái Nhà trường đã phối hợp tốt với các cấp chính quyền trên địa bàn để quản lý ngoại trú; tổ chức tốt công tác giáo dục chấp hành Luật an toàn giao thông, đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội khác Hàng nghìn sinh viên đã tham gia hội thi Tin học, Ngoại ngữ, thể dục thể thao, hiến máu tình nguyện, “tiếp sức mùa thi”, “sinh viên tình nguyện khám chữa bệnh cho nhân dân các dân tộc miền núi, vùng xa, vùng sâu” Thông qua các hoạt động này rất nhiều sinh viên đã trưởng thành và được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng
Quan hệ quốc tế
Mỗi năm nhà trường có khoảng 40 lượt cán bộ ra nước ngoài tham quan, học tập; có 35 - 40 khách quốc tế đến thăm và làm việc với nhà trường Cho đến nay nhà trường đã ký kết hợp tác với các Đại học Y khoa Côn Minh (Trung Quốc), Burapha, Naresuan (Thái Lan), Zhusen (Đài Loan), Maastricht (Hà Lan), Đại học Y khoa Quế Lâm (Trung Quốc), Đại học Kon Khoen( Thái Lan) Với sự giúp đỡ đặc biệt của AP, EU, Pathfinder International, SEAMEO, Helpage mỗi năm nhà trường có hàng chục cán bộ được thăm quan, học tập ở nước ngoài; bên cạnh đó các tổ chức này đã hỗ trợ cho nhà trường hàng trăm ngàn USD mua sắm
Trang 25trang thiết bị, đồ dụng học tập Bên cạnh đó trong những năm qua nhà trường đã đón nhận 84 sinh viên nước ngoài ở các quốc gia như: Hoa Kỳ, Israel, Thái Lan đến học tập từ 1 đến 3 tháng; hiện nay nhà trường có 11 sinh viên Lào đang học tập dài hạn tại trường
Xây dựng cơ sở vật chất
Với mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, những năm qua nhà trường tăng cường đầu tư ngân sách cho việc củng cố và nâng cấp, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho đào tạo Được sự quan tâm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Đại học Thái Nguyên, nhà trường được tiếp nhận nhà điều hành 11 tầng với tổng diện tích sàn sử dụng là 7087m2
, tổng kinh phí gần 50 tỷ đồng, ký túc xá sinh viên 6 tầng với kinh phí gần 20 tỷ đồng Trong 5 năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đầu tư cho Trường Dự án Huyết học truyền máu, Chẩn đoán hình ảnh với tổng kinh phí 47,95 tỷ đồng phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu và khám, chữa bệnh Đặc biệt từ năm 2010 được sự quan tâm của Bộ Y tế, nhà trường
được hưởng dự án “Chương trình phát triển nguồn nhân lực y tế” với tổng kinh phí
là 4 triệu USD để đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo
Xây dựng đội ngũ cán bộ
Trường hiện có 45 bộ môn, gồm khối Khoa học cơ bản (5 bộ môn), khối
Y học cơ sở (9 bộ môn), khoa Điều dưỡng (4 bộ môn), khối Y tế công cộng (4 bộ môn), khối Dược (5 bộ môn), Lâm sàng (4 bộ môn), khối Chuyên khoa lẻ (12 bộ môn), có 3 khoa, 9 phòng ban Đội ngũ cán bộ trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, trường hiện có 469 cán bộ viên chức trong đó có 311 giảng viên cơ hữu, 2 Giáo sư, 8 Phó Giáo sư, 42 Tiến sĩ và Bác sĩ chuyên khoa II, 142 Thạc sĩ, Bác sĩ chuyên khoa I và 130 Nghiên cứu sinh cao học, tiến sĩ đang học tập, nghiên cứu ở trong và ngoài nước Hiện nay trường có 32 Nghiên cứu sinh, 25 Học viên cao học, 7 đang học ở nước ngoài, 66 cán bộ đang học đại học ngoại ngữ Trường luôn chú trọng phát triển đội ngũ, bồi dưỡng cán bộ có trình độ chuyên sâu, hàng năm cử hơn 20 cán bộ đi học Nghiên cứu sinh, cao học trong
và ngoài nước
Trang 261.2.2 Quá trình đổi mới phương thức đào tạo của Trường
1.2.2.1 Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
Theo tác giả James Quann (Đại học Quốc gia Washington) tín chỉ học tập
là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường
để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1 Thời gian lên lớp; 2 thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; 3 Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài ; đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị bài ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm – ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà); đối với việc tự nghiên cứu – ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần
Quyết định số 31/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu, ngoài những điều kiện về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, các cơ sở đào tạo phải có điều kiện về học liệu: “có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập” Các đơn vị đào tạo
có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện về học liệu trong các hướng dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình
Trong “Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giao đoạn 2010" được Thủ tướng chính phủ phê duyệt theo Quyết định 47/2001/QĐ-Ttg:
2001-các trường cần “thực hiện quy trình đào tạo linh hoạt, từng bước chuyển việc tổ chức quy trình đào tạo theo niên chế sang học tín chỉ” [25] Trong “ Báo cáo về tình hình Giáo dục” của chính phủ trước kỳ họp Quốc hội tháng 10 năm 2004 lại khẳng định mạnh mẽ hơn: “Chỉ đạo đẩy nhanh việc mở rộng học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng, TCCN và dạy nghề từ năm học 2005-2006, phấn đấu đến năm 2010 hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này” Như vậy để thực hiện các chủ trương này cần khẩn trương xây dựng lộ trình chuyển đổi từ học chế học phần sang học chế tín chỉ trong toàn
hệ thống giáo dục
Học chế tín chỉ là biện pháp học phần hóa kiến thức để thực hiện cá nhân hóa việc học tập trong khung cảnh một nền giáo dục đại chúng, nhằm giúp đỡ
Trang 27mỗi sinh viên học tập theo mục đích, năng lực, điều kiện của mình Thực chất của lộ trình phát triển này không phải thay đổi một học chế hiện có bằng một học chế khác hẳn, bởi vì học chế học phần ở Việt Nam đã mang một số nhân tố của học chế tín chỉ, mà phải tăng sự mềm dẻo của quy trình đào tạo, tăng số lượng đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp dạy và học ở trường đại học, phương pháp đánh giá nhằm đảm bảo và khuyến khích sự chủ động của sinh viên, đặc biệt tăng cường điều kiện vật chất, trước hết là học liệu, để đảm bảo điều kiện cho sinh viên tự học
1.2.2.2 Lộ trình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường
Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quyết định Ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy
theo hệ thống tín chỉ [3], Đại học Thái Nguyên yêu cầu Trường ĐHYDTN và các trường thành viên tiến hành chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ Từ năm học 2008-2009 nhà trường bắt đầu bước vào đào tạo theo hệ thống tín chỉ, có thể chia quá trình chuẩn bị và đào tạo theo tín chỉ của Trường thành 3 giai đoạn
* Bước 1: Chuẩn bị bước vào đào tạo theo tín chỉ
Là một trường Đại học nằm trong Đại học vùng, theo chủ trương chung của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Thái Nguyên đã yêu cầu các trường đại học thành viên chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ Ngay từ năm 2006 trường đã cử các đoàn cán bộ tham gia các cuộc hội thảo, hội nghị, học tập, tham quan về đào tạo theo tín chỉ Nhà trường đã thành lập Ban chỉ đạo về đào tạo theo tín chỉ do đồng chí Bí thư Đảng ủy kiêm hiệu trưởng Nhà trường làm trưởng ban Tuy vậy trong giai đoạn này
sự chuyển biến về tư tưởng đào tạo tín chỉ mới chỉ diễn ra ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo và một số phòng như Phòng Đào tạo, Phòng Công tác học sinh sinh viên , Nhà trường vẫn đào tạo theo niên chế, tín chỉ là gì, cách tổ chức đào tạo như thế nào vẫn còn là vấn đề rất xa lạ đối với đại đa số cán bộ, học sinh sinh viên Trước tình hình đó Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường đã quyết định trong năm học 2008-
2009 chuyển hai mã ngành đào tạo Bác sĩ Y học dự phòng khóa 2 và Bác sĩ Răng hàm mặt khóa 1 sang đào tạo theo tín chỉ để rút kinh nghiệm về tổ chức đào tạo
Trang 28* Bước 2: Thí điểm đào tạo theo tín chỉ
Ngày 15/09/2008 năm thứ nhất của hai ngành Bác sĩ Y học dự phòng khóa 2, Bác sĩ Răng hàm mặt khóa 1 được nhà trường đưa vào đào tạo theo tín chỉ Khi thực
sự bước vào đào tạo theo tín chỉ nhiều vấn đề mới được đặt ra:
Thứ nhất, phải làm thông suốt trong tư tưởng cán bộ, công chức và học sinh sinh viên về việc cần thiết phải chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ
Thứ hai, phải chuyển đổi chương trình đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa việc học tập của học sinh sinh viên, không truyền đạt một chiều, giảng viên và sinh viên cùng nhau xây dựng bài giảng, bài học
Thứ tư, quản lý đào tạo bằng phần mềm chuyên dụng, phần mềm đào tạo theo tín chỉ Sinh viên tự chọn lịch học, tự đăng ký lịch học trên phần mềm Hoàn thiện và nâng cao nghiệp vụ của đội ngũ cố vấn học tập, của cán bộ phòng ban
Thứ năm, phải quản lý học sinh sinh viên trong việc đào tạo theo tín chỉ, chỉ định ban cán sự các lớp, tiến hành điểm danh đột xuất để kiểm tra sĩ số các lớp học phần, tạo ra tính kỷ luật cao, tính chủ động sáng tạo trong học tập theo tín chỉ
Thứ sáu, củng cố cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin trong trường Xây dựng thư viện điện tử, trang bị các giảng đường đa phương tiện, biến đổi tổ chức, củng cố
bộ máy cho phù hợp với đào tạo theo tín chỉ, tuyển dụng các kỹ sư công nghệ thông tin về làm việc tại các phòng ban quan trọng của Nhà trường
Thứ bảy, hoàn thiện quy chế về đào tạo tín chỉ Phải cụ thể hóa quy chế 43/2007/BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 về đào tạo theo tín chỉ của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo thành quy trình thực hiện quy chế đào tạo của nhà trường
Việc tổ chức đào tạo thí điểm là hết sức quan trọng, đây chính là giai đoạn rà soát quy chế, xây dựng mô hình đào tạo chuẩn, rút kinh nghiệm đào tạo để triển khai trên diện rộng việc đào tạo theo tín chỉ cho các năm tiếp theo
* Bước 3: Năm học 2009-2010 chuyển đổi 7 mã ngành sang đào tạo theo tín chỉ
Trang 29Năm học 2009-2010, Nhà trường chuyển 7 mã ngành vào học năm thứ nhất đào tạo theo hệ thống tín chỉ (trong đó co 5 mã ngành Đại học và 2 mã ngành Cao đẳng) Để làm được việc đó phải hoàn thành sổ tay sinh viên và lịch học để phát cho mỗi sinh viên một bộ tài liệu ngay sau khi vào nhập học Căn cứ vào tài liệu được phát sinh viên nghiên cứu nội quy, quy chế, chương trình đào tạo, lịch đào tạo để tự chọn cho một mình một lịch học phù hợp dưới sự hướng dẫn của Cố vấn học tập
Để tổ chức đào tạo theo tín chỉ tốt cần chú ý đến đội ngũ cán bộ trong nhà trường, phải thành thạo về nghiệp vụ quản lý và giảng dạy Các phòng ban phải sử dụng triệt để các ứng dụng tin học vào quản lý đào tạo Các khoa, bộ môn phải đổi mới phương pháp giảng dạy, giảng dạy theo phương pháp tích cực, sử dụng lượng giá thường xuyên như một công cụ sắc bén kích thích vấn đề tự học
Thường xuyên quan tâm và hoàn chỉnh các văn bản pháp quy về đào tạo tín chỉ như các quy trình thực hiện, các quy định đào tạo đều phải được chuẩn hóa bằng văn bản Các công việc, các dự định phải được thực hiện đúng thời hạn để đạt được tiến độ đào tạo Phải có tính chế tài cao trong quản lý đào tạo
1.3 Khái quát về Thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện
Thư viện Trường ĐHYDTN thuộc Phòng Công nghệ Thông tin – Thư viện của Trường, Thư viện được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Trường ĐHYDTN, theo thời gian Thư viện trực thuộc các phòng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và QHQT đến ngày 9/12/2008 theo Quyết định số 1106/ĐHTN Phòng Công Nghệ Thông Tin – Thư viện ra đời, sự ra đời của Phòng là kết hợp tất yếu giữa Công nghệ thông tin và Thư viện để từng bước điện
tử hóa và số hóa Thư viện truyền thống
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ
1.3.2.1 Chức năng
Là đơn vị tham mưu cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin, thư viện phục
vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của nhà Trường Tổ chức thực
Trang 30hiện các hoạt động nhằm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên
- Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu; xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp; thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm kiếm thông tin tự động hóa; xây dựng các cơ sở dữ liệu
- Tổ chức phục vụ, hướng dẫn khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các dịch vụ thông tin – thư viện thông qua các hình thức phục vụ của thư viện phù hợp với quy định của pháp luật
- Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác thông tin thư viện
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện nhằm nâng cao hiệu quả công tác
- Tổ chức, quản lý tài sản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản khác của thư viện, tiến hành thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Lập kế hoạch mua sắm các loại sách, báo, tạp chí theo yêu cầu hàng năm của các đơn vị
1.3.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
1.3.3.1 Cơ cấu tổ chức
Trang 31Phòng Công nghệ thông tin - Thư viện Trường ĐHYDTN hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nhà trường Hiện nay số lượng nhân sự là 10 cán bộ, trong đó 01 trưởng phòng, 02 phó trưởng phòng và 07 nhân viên, riêng tổ thư viện có 06 cán bộ trong đó 04 cán bộ tốt nghiệp chuyên ngành thư viện – thông tin, 01 cán bộ tốt nghiệp chuyên ngành ngoại ngữ, 01 cán bộ tốt nghiệp chuyên ngành sư phạm
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ phòng CNTT- Thư viện Trường ĐH Y Dược Thái Nguyên
1.3.3.2 Đội ngũ cán bộ
Hiện nay, đội ngũ cán bộ của Thư viện gồm 06 người:
- Trình độ chuyên môn: 04 cán bộ có trình độ Đại học, 01 cán bộ trình độ Cao đẳng, 01 cán bộ trình độ Trung cấp Trong đó 02 cán bộ tốt nghiệp đại học chính quy chuyên ngành thông tin thư viện, 01 người tốt nghiệp hệ tại chức ngành thông tin thư viện, 01 người tốt nghiệp đại học sư phạm, 01 người tốt nghiệp cao đẳng ngoại ngữ, 01 người tốt nghiệp trung cấp thông tin thư viện Giai đoạn 2013-
2015 đã cử 01 cán bộ đi học thạc sỹ chuyên ngành thông tin thư viện và 01 cán bộ
đi học đại học tại chức ngành thông tin thư viện
Trang 32- Trình độ tin học: cả 06 cán bộ thư viện có chứng chỉ tin học trình độ B, biết
sử dụng phần mềm Thư viện và các phần mềm ứng dụng khác
- Trình độ ngoại ngữ: các cán bộ trong Thư viện đều có trình độ B Anh văn,
01 cán bộ tốt nghiệp cao đẳng ngoại ngữ chuyên ngành Anh văn
- Về lứa tuổi và giới tính: Trong số 6 cán bộ của Thư viện, có 03 cán bộ độ tuổi 54 tuổi, còn lại từ 27 đến 41 Trong 03 cán bộ có 02 cán bộ chuẩn bị về hưu, vì vậy nguồn nhân lực của Thư viện hiện tại đã thiếu trong năm tới còn thiếu nhiều Tỷ
lệ giới tính của Thư viện rất chênh lệch có 01 cán bộ nam và 05 cán bộ nữ
- Về yếu tố tâm lý: Thu nhập của cán bộ Thư viện Trường gần như thấp nhất
so với mặt bằng thu nhập của phòng ban khác trong Trường, trong khi phải chấp hành giờ giấc làm việc một cách nghiêm túc nhất Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của cán bộ thư viện Một số cán bộ còn ngại khó, thụ động khi phải tiếp xúc những kiến thức mới, tiếp quản và sử dụng các thiết bị hiện đại như máy tính, phần mềm chuyên dụng Hầu hết cán bộ thư viện là nữ nên việc cố gắng đạt được tiêu chí giỏi việc nước, đảm việc nhà đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn
Đội ngũ cán bộ được phân công công việc cụ thể sau:
01 cán bộ đảm nhận công việc phụ trách chung, điều hành mọi hoạt động của Thư viện, chịu trách nhiệm về công tác thư viện trước phòng chủ quản và Ban Giám hiệu, đảm nhận công tác bổ sung, công tác nghiệp vụ và kiêm luôn công việc phục
vụ phòng đọc dành cho cán bộ, giảng viên, học viên cao học
05 cán bộ còn lại đảm nhận công tác tại phòng nghiệp vụ; phòng đọc sinh viên; phòng mượn dành cho cán bộ, giảng viên; phòng mượn dành cho sinh viên; phòng tra cứu Internet
Số thủ thư có chuyên môn được đào tạo cơ bản, sử dụng thành thạo các chuẩn nghiệp vụ trong các khâu xử lý Thái độ phục vụ nhiệt tình có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu sử dụng tài liệu của sinh viên tại thư viện
Trước những yêu cầu của xã hội và nhà trường, CNTT được áp dụng ở tất cả các lĩnh vực, thư viện đang từng bước chuyển đổi từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử, thư viện số 100% các cán bộ thư viện đã được tham gia các lớp tập
Trang 33huấn nghiệp vụ nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sử dụng phần mềm ứng dụng quản lý thư viện, 100% các cán bộ được cử đi tham dự các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và phát triển thư viện điện tử
Mặc dù vậy nhưng với thực trạng cán bộ hiện nay của thư viện thì việc chuyển đổi hồi cố CSDL và tạo lập các bộ sưu tập tài liệu số còn gặp nhiều khó khăn Chậm tiến trình hồi cố cơ sở dữ liệu do thiếu nhân lực (vì hồi cố 1 tài liệu rất lâu, gần như làm lại từ đầu như 1 tài liệu mới), hầu hết mỗi thủ thư đều phải kiêm nhiệm nhiều việc vừa làm nghiệp vụ vừa phục vụ độc giả tại các phòng được phân
Bước đầu thư viện thực hiện việc số hóa tài liệu để tạo tra các bộ sưu tập số luận án, luận văn phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học của nhà trường Nhưng trên thực tế hiện nay, đội ngũ cán bộ thư viện chưa có đủ kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển thư viện số, kỹ năng tìm kiếm và khai thác nguồn thuông tin
số còn hạn chế, trình độ ngoại ngữ còn yếu, thiếu cán bộ làm nhiệm vụ phát triển nguồn tài nguyên thông tin số (như xây dựng các chiến lược tìm tin, am hiểu các công nghệ số hóa và các vấn đề về quản lý các ấn phẩm điện tử )
Mặc dù còn một số hạn chế nhất định, nhưng nhìn chung cán bộ tại Thư viện đã có những đóng góp đáng kể trong thời gian qua Với lòng nhiệt tình, yêu nghề, cần cù và có trách nhiệm đối với công việc đội ngũ cán bộ đã cơ bản đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của bạn đọc, tự trau dồi học hỏi, ứng dụng góp phần xây dựng và phát triển thư viện trong giai đoạn đổi mới phương thức đào tạo tín chỉ trong Nhà trường
Để phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ cán bộ, cán bộ lãnh đạo Thư viện cần phải có những biện pháp và chính sách phù hợp nhằm tiến tới xây dựng đội ngũ cán bộ của Thư viện mạnh cả về số lượng và chất lượng
1.3.4 Cơ sở vật chất
Hiện tại, Thư viện Trường ĐHYDTN có 04 phòng làm việc với diện tích 360
m2 nằm ở trung tâm Trường, cạnh các giảng đường lớn tạo điều kiện thuận lợi cho
Trang 34cán bộ, giảng viên và sinh viên tiện liên hệ Diện tích các phòng đọc là 150 m2, diện tích này còn nhỏ hẹp chưa đáp ứng đủ nhu cầu của độc giả
Bảng 1.1: Diện tích phòng đọc Thư viện Trường ĐH Y Dược Thái Nguyên
- Trang thiết bị: Mạng Internet của Thư viện sử dụng gói F2 (45 Mb/s); Phần
mềm thư viện điện tử Ilib được trang bị đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2011, phần mềm cài đặt trên 1 máy chủ của phòng Công nghệ thông tin Năm 2013 thư viện được trang bị phần mềm thư viện số Dilib Bookeye từ nguồn vốn dự án ADB
- Nhiều trang thiết bị mới, hiện đại được trang bị: Máy chủ (02 cái); Máy scan (01 cái); Máy vi tính (45 cái); Network stone (01 bộ); Đầu đọc mã vạch (02cái); Cổng từ (01 cái); Hệ thống camera (01 hệ thống); Máy photocopy (01 cái); Máy in (02 cái); Máy in thẻ nhựa (01 cái); Máy đóng gáy (01 cái); Máy hút bụi (02 cái); Máy điều hòa nhiệt độ (06 cái); Máy ép thẻ (01 cái); Giá, kệ sách (68 cái); Bàn, ghế cho bạn đọc (170 cái); Bình chữa cháy (12 bình); Hệ thống mạng LAN và Internet, Wifi không dây với đường truyền cáp quang tốc độ cao
1.3.5 Vai trò của Thư viện Trường trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Là một bộ phận quan trọng đảm bảo thông tin cho quá trình giảng dạy và học tập ở Trường, Thư viện có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức đào tạo Hiệu quả hoạt động thông tin thư viện hiện đại có tác động trực tiếp đến chất lượng quản lý, giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Qua
đó mỗi người với trình độ và nhu cầu khác nhau có thể nhận được những thông tin, những tri thức phù hợp với mình trong quá trình công tác, học tập, nghiên cứu Quá trình đó giúp cho mỗi cá nhân phát huy hết khả năng tự học tập, tự hoàn thiện mình
để vươn lên đáp ứng nhu cầu của thời đại Vì vậy việc đầu tư cho công tác thông tin
Trang 35thư viện chính là đầu tư cho một trong những cơ sở vật chất có tính chất nền tảng,
có những tác động tích cực đến các hoạt động khác trong Trường
1.3.6 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin của Thư viện Trường
1.3.6.1 Đặc điểm người dùng tin
Tổng số cán bộ , giảng viên cơ hữu của trường hiện có 469 cán bộ viên chức trong đó có 2 Giáo sư, 8 Phó Giáo sư, 42 Tiến sĩ và Bác sĩ chuyên khoa II, 142 Thạc
sĩ, Bác sĩ chuyên khoa I, 193 đại học và 82 kỹ thuật viên Số lượng sinh viên của trường hiện nay là 8.000 sinh viên, được thể hiện trong bảng sau:
2 Nhóm các nhà nghiên cứu, khoa học, giảng viên,
cán bộ, chuyên viên, kỹ thuật viên, nhân viên
Bảng 1.2: Cơ cấu người dùng tin tại Thư viện Trường
Người dùng tin (NDT) của Thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhà khoa học, nghiên cứu, giảng viên, chuyên viên, kỹ thuật viên, nhân viên, học viên, sinh viên Họ chính là người tiếp nhận và
sử dụng thông tin đồng thời cũng chính là người tạo ra thông tin Có thể phân chia thành 3 nhóm người dùng tin cơ bản sau:
Đặc điểm nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: Nhóm này chiếm 24,5% tổng số
lượng cán bộ công nhân viên, giảng viên của Trường (115/ 469) bao gồm Ban Giám hiệu, các cán bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể, các trưởng phó khoa, phòng ban, bộ môn… đây là nhóm đối tượng chiếm số ít trong tổng số người dùng tin của thư viện nhưng thông tin cho nhóm này mang tính tổng kết, dự báo Lượng thông tin ở diện rộng nhưng mang tính khái quát, nên họ cần những thông tin có chất lượng, có độ tin cậy lớn vừa phải đảm bảo sự nhanh chóng, kịp thời Nhóm NDT
Trang 36này yêu cầu thông tin mang diện rộng từ những vấn đề cơ bản nhất của Y, Dược học đến những vấn đề cụ thể, các thông tin về lâm sàng và cận lâm sàng
Vì bận rộn nên nhóm này có rất ít thời gian để đến thư viện (đến các nguồn tin), do vậy trong quá trình làm việc họ rất cần người trợ giúp và các phương tiện hỗ trợ khác Nhóm cán bộ quản lý rất năng động, tự tin, có khả năng tổ chức điều hành
và rất có uy tín Nhu cầu tin của họ không những cao mà còn rộng, đa dạng Nhu cầu tin (NCT) của họ cũng rất ít khi bị thay đổi và cần thông tin có tính bền vững
Đặc điểm nhóm này là cán bộ quản lý song thường tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học vì vậy ngoài thông tin về Y, Dược nói chung họ còn quan tâm đến các thông tin về chủ chương đường lối của Đảng, Nhà nước, các văn bản pháp quy quy định của ngành Y tế cũng như ngành Giáo dục, những thông tin về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đường lối phát triển và những thông tin có tính chất định hướng Thông tin phải cô đọng, vừa xúc tích, đầy đủ, chính xác, hệ thống và chọn lọc Hình thức phục vụ thông tin có tính chất hiện đại (dạng điện tử) và bằng các phương tiện nhanh nhất, thuận lợi nhất Các thông tin chuyên đề, tổng luận,ấn phẩm thông tin, bản tin,… là hình thức phục vụ thường được lựa chọn
Đặc điểm nhóm các nhà nghiên cứu, khoa học, giảng viên, cán bộ, chuyên viên, kỹ thuật viên, nhân viên:
- Các nhà nghiên cứu, khoa học, giảng viên: Nhóm này chiếm 64,6% tổng
số lượng cán bộ công nhân viên, giảng viên của Trường (303/469) Đây là nhóm đối tượng cần thông tin rất lớn để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, nhu cầu thông tin của họ có thực và rất cao Thông tin đảm bảo vừa chuyên sâu vừa tổng hợp, có tính logic và hệ thống Thông tin cần phải đảm bảo tính kịp thời Tuy nhiên mức độ kịp thời này phụ thuộc vào tính chất của từng lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu Họ là người thường xuyên cung cấp thông tin qua hệ thống bài giảng, các bài báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu được công bố, các đề xuất
dự án, đề tài, các kiến nghị đồng thời họ cũng là những NDT thường xuyên liên tục của các bộ phận thông tin trong ngành Y tế để phục vụ công tác giảng dạy và
Trang 37nghiên cứu khoa học Thông tin cho nhóm này mang tính chuyên sâu, chuyên ngành có tính thực tiễn cao
- Các chuyên viên, cán bộ, nhân viên, kỹ thuật viên: Nhóm này chiếm 35,39%
tổng số lượng cán bộ công nhân viên, giảng viên của Trường (166/469) Nhóm này
có đặc điểm là phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập Kỹ thuật viên quan tâm đến các tài liệu về y, dụng cụ, hướng dẫn thực hành, … Cán bộ nhân viên hầu như không có nhu cầu về tài liệu Y, Dược học, họ chỉ quan tâm tới các tài liệu chuyên môn theo lĩnh vực hoạt động của họ như đào tạo, công đoàn, tài chính kế toán, pháp chế,… Tuy nhiên nhóm này lại có nhu cầu cao về các vấn đề xã hội, các sách giải trí, các văn bản pháp quy luật lệ…
Nhóm học viên, sinh viên:
Đây là lực lượng NDT đông đảo nhất Nhóm này có đặc điểm là rất cần thông tin thiết thực phục vụ cho nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học trong một thời gian nhất định để làm luận án, luận văn, khóa luận, thi cử… Vì vậy, hình thức phục vụ nhóm này chủ yếu là thông tin về kiến thức cơ sở cơ bản dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành, tài liệu chuyên khảo trực tiếp cho từng môn học Riêng nhóm sinh viên chuyên tu ngoài các tài liệu giáo trình chung họ còn rất quan tâm đến các tài liệu nói về tuyến y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng…
1.3.6.2 Đặc điểm nhu cầu tin
Nhìn chung, nhu cầu sử dụng thông tin của NDT Trường ĐHYDTN là khá cao nhưng do không tập trung làm việc, học tập lại một nơi mà ở nhiều nơi tại các bệnh viện trong thành phố, trong tỉnh Do đặc điểm ngành nghề là 50% quỹ thời gian học và trực đêm tại bệnh viện nên NDT có ít thời gian đến Thư viện trường để nghiên cứu tài liệu tại chỗ Qua kết quả điều tra cho thấy, số lượng NDT thỉnh thoảng đến Thư viện Trường là 579 chiếm 53,84% trong số phiếu điều tra thu về
Tỷ lệ này khó có thể khẳng định được rằng NDT tại Trường ĐHYDTN ít có nhu cầu sử dụng thư viện cho đáp ứng nhu cầu thông tin của họ, bởi vì kết quả điều tra
Trang 38cho thấy có 573 người chiếm 53,23% (hơn một nửa) trong tổng số phiếu điều tra thu
về sử dụng các cơ quan thông tin – thư viện khác ngoài Thư viện Trường
Cơ quan thông tin
– thư viện
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
% Thư viện Trường
NDT là sinh viên sử dụng thời gian để học tập nghiên cứu, thu thập thông tin
là một yêu cầu khách quan của họ.Trong số 800 sinh viên được chúng tôi khảo sát,
số sinh viên sử dụng thời gian từ 1 – 4 tiếng lên Thư viện là 542 sinh viên chiếm 67,7 %, số này chủ yếu tập trung vào các đối tượng sinh viên học các môn cơ sở cơ bản tại Trường từ Y1 – Y3 và sinh viên Y6 đang chuẩn bị tài liệu để làm khóa luận tốt nghiệp Nhưng cũng trong số 800 sinh viên đã khảo sát thì có 128 sinh viên chưa
sử dụng Thư viện Trường, số này rơi vào sinh viên chuyên tu là chính
Trang 39Thời gian
Tổng số CBLĐ, QL CB, GV HV, SV
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
% Dưới 1 giờ 193 17,9 12 14,4 29 15 152 19
người dùng tin tại Thư viện Trường
NDT ở Trường ĐHYDTN đều là những người có trình độ học vấn cao, họ là cán bộ giảng dạy, là nghiên cứu viên và cán bộ quản lý, học viên, sinh viên vì vậy NCT của họ rất lớn, nhất là những thông tin phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu Bên cạnh đó, đa số NDT hiện nay ở Trường ĐHYDTN là sinh viên nên NCT của họ chủ yếu liên quan đến lĩnh vực Y, Dược nói chung Qua tình hình thực tế tại Thư viện trường, tôi nhận thấy sinh viên năm thứ nhất tới năm thứ 3 rất chăm đến thư viện, nội dung tài liệu họ đọc chủ yếu là tài liệu liên quan đến các môn học trên lớp như khoa học Mác-Lê, Giải phẫu, Mô phôi, Sinh vật, Di truyền, Ký sinh trùng…(các môn Khoa học Cơ bản và Y học cơ sở) Các sinh viên từ Y4 đến đến Y6 quan tâm nhiều đến các loại sách chuyên khoa như Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Răng -Hàm- Mặt, Tai-Mũi-Họng…
NDT ở Trường ĐHYDTN có nhu cầu rất phong phú và đa dạng, có xu hướng chuyên sâu về chuyên ngành đào tạo Theo kết quả điều tra, NDT ở đây ngoài đọc các tài liệu chuyên ngành cụ thể còn tham khảo những tài liệu về các ngành khoa học liên quan Việc phân chia NDT theo các lĩnh vực Trường đào tạo để cán bộ dễ nhận biết nhu cầu của NDT và qua đó có kế hoạch phát triển nguồn lực thông tin hợp lí, cân đối giữa các ngành đào tạo của Nhà trường
Lĩnh vực Tổng số CBLĐ, QL CB, GV HV, SV
Trang 40Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
SL Phiếu
Tỷ lệ
%
Các lĩnh vực chung
Chính trị - xã hội 218 20,24 36 3,34 72 6,7 110 10,2 Khoa học - xã hội 227 21,08 17 1,57 32 2,98 178 16,53 Khoa học Mác
Lênin
54 5,01 4 0,37 26 2,42 24 2,22
Khoa học tự nhiên 331 30,72 25 2,3 32 2,98 274 25,44 Giáo dục học 216 20,07 49 4,54 69 6,43 98 9,1
Xã hội học 99 9,19 10 0,92 33 3,07 56 5,2 Các lĩnh vực khác 278 25,82 8 0,74 44 4,1 226 20,98
Giáo trình chuyên ngành
Bác sĩ đa khoa 659 61,21 51 4,73 70 6,52 538 49,96 Bác sĩ Răng hàm
Bảng 1.5: Tình hình khai thác thông tin theo các lĩnh vực chuyên môn
Bên cạnh trình độ chuyên môn, NDT còn có khả năng ngoại ngữ Trong xu thế hội nhập và phát triển ngày nay, NDT thường xuyên phải học tập nâng cao trình
độ ngoại ngữ của mình Qua phiếu điều tra NCT của NDT trong Trường ĐHYDTN