Việc đổi mới phương pháp dạy - học, chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và kiên trì mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
- -
NGUYỄN THỊ MAI
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Chuyên ngành : Khoa học Thông tin - Thư viện
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN-THƯ VIỆN VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 10
1.1 Những vấn đề lý luận chung 10
1.1.1 Khái niệm hoạt động thông tin - thư viện 10
1.1.2 Học chế tín chỉ 12
1.2.2 Nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo của trường ĐHCNHN trong giai đoạn chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ 20
1.3 Trung tâm Thư viện trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trong đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ 27
1.3.1 Khái quát về Trung tâm Thông tin Thư viện 27
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 28
1.3.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ 29
1.3.4 Cơ sở vật chất 33
1.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 40
1.4.1 Đặc điểm người dùng tin 40
1.4.2 Đặc điểm nhu cầu tin 45
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 53
2.1 Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin 53
2.1.1 Cơ cấu vốn tài liệu 53
2.1.2 Công tác bổ sung vốn tài liệu 59
2.1.3 Chia sẻ nguồn lực thông tin 63
2.2 Công tác xử lí nghiệp vụ 64
2.2.1 Xử lí hình thức tài liệu 65
2.2.2 Xử lí nội dung tài liệu 66
2.3 Công tác tổ chức và bảo quản vốn tài liệu 67
2.3.1 Công tác tổ chức kho 67
2.3.2 Bảo quản vốn tài liệu 75
Trang 32.4 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 78
2.4.1 Các sản phẩm thông tin - thư viện 78
2.4.2 Các dịch vụ thông tin thư viện 82
2.5 Đánh giá chung về hoạt động thông tin - thư viện trong đáp ứng yêu cầu phục vụ theo học chế tín chỉ 87
2.5.1 Vốn tài liệu 88
2.5.2 Công tác xử lí nghiệp vụ 89
2.5.3 Tổ chức và bảo quản vốn tài liệu 90
2.5.4 Các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện 91
2.5.5 Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ 93
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 95 3.1 Tăng cường nguồn lực thông tin đáp ứng yêu câu theo học chế tín chỉ 95
3.1.1 Điều chỉnh chính sách bổ sung 95
3.1.2 Phát triển nguồn thông tin điện tử 100
3.1.3 Nâng cao khả năng chia sẻ nguồn lực thông tin 101
3.2 Xây dựng và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 103
3.2.1 Tạo lập các sản phẩm thông tin - thư viện bám sát chương trình học tập theo học chế tín chỉ 103
3.2.2 Đa dạng hóa các dịch vụ thông tin - thư viện phục vụ chương trình học tập theo học chế tín chỉ 109
3.3 Giải pháp về con người 115
3.3.1 Nâng cao trình độ của cán bộ 115
3.3.2 Đào tạo người dùng tin 116
3.4 Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị cho Thư viện 117
3.5 Đẩy mạnh marketing trong hoạt động thông tin - thư viện 119
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC……….……….…… 126
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Lĩnh vực đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội……….16
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHCNHN……… 19
Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức của TTTT-TV trường ĐHCNHN 30
Bảng 1.2: Cơ cấu nhân sự theo độ tuổi và trình độ tại TTTT-TV 32
Bảng 1.3: Cơ cấu người dùng tin tại TTTT-TV trường ĐHCNHN 40
Bảng 1.4: Các cơ quan thông tin - thư viện khác ngoài Thư viện Trường được bạn đọc sử dụng 47
Bảng 1.5: Tình hình khai thác thông tin theo lĩnh vực chuyên môn 48
Bảng 1.6: Ngôn ngữ tài liệu bạn đọc thường sử dụng 50
Bảng 1.7: Loại hình tài liệu bạn đọc hay sử dụng 51
Bảng 2.1: Loại hình tài liệu in của TTTT-TV trường ĐHCNHN 54
Bảng 2.2: Thống kê tài liệu theo lĩnh vực chuyên môn 58
Bảng 2.3: Tình hình kinh phí và số lượng tài liệu được bổ sung từ năm 2008 đến nay 61
Bảng 2.4: Thống kê tài liệu theo địa điểm lưu giữ 68
Hình 2.1: Thống kê tài liệu theo điểm lưu giữ 68
Bảng 2.5: Tình hình sử dụng các sản phẩm thông tin - thư viện 78
Bảng 2.6 : Ý kiến đánh giá của người dùng tin về các sản phẩm thông tin - thư viện tại ĐHCNHN 81 Bảng 2.7: Tình hình sử dụng dịch vụ thông tin - thư viện trường ĐHCNHN 82 Bảng 2.8: Ý kiến đánh giá về các dịch vụ thông tin - thư viện tại ĐHCNHN 87
Trang 5Nhu cầu tin Người dùng tin
Số lượng Thông tin - Thư viện Trung tâm Thông tin - Thư viện
2 Các từ viết tắt tiếng Anh
Dewey Decimal Classification Library of Congress
Machine Readable Cataloguing Radio Fequency Identification
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước ta coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ đang diễn
ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới hiện nay, khoa học và công nghệ đã trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", trong đó tri thức và thông tin trở thành yếu tố quan trọng và nguồn tài nguyên đặc biệt, có giá trị cao
Hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học Trong đó, một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng và đóng vai trò quyết định chất lượng chuyển giao tri thức & nghiên cứu khoa học là khả năng cung cấp nguồn thông tin tri thức của các thư viện đại học để phục vụ tốt hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, thúc đẩy việc
tự học, tự nghiên cứu của người dạy, người học Đây chính là sứ mệnh của các thư viện đại học
Việc đổi mới phương pháp dạy - học, chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ và kiên trì mục tiêu không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong nhà trường đại học đã và đang đặt
ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới cho hoạt động thông tin - thư viện trong hệ thống thư viện các trường đại học hiện nay
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội (ĐHCNHN) là trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước Thực hiện Nghị quyết 14 của Chính phủ về đổi mới cơ bản giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 và qui chế đào tạo theo học chế tín chỉ của trường, trường ĐHCNHN đã bắt đầu chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ năm học 2008 -
2009 Đến nay, về cơ bản phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ đã bước đầu thực hiện thành công Từ sự chuyển đổi phương thức đào tạo này Trung
Trang 7tâm Thông tin - Thư viện (TTTT-TV) trường ĐHCNHN đóng vai trò ngày càng lớn hơn trong quá trình đào tạo khi chuyển sang học chế tín chỉ vì giảng viên và sinh viên sẽ được tạo điều kiện tốt hơn trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu tham khảo theo yêu cầu môn học, giúp hình thành tính tích cực trong học tập của sinh viên cũng như khả năng cập nhật thông tin trong bài giảng của giáo viên - yếu tố hàng đầu đảm bảo chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ
Đứng trước sự đổi mới về phương thức đào tạo của Nhà trường,
TTTT-TV cần phải cung cấp nguồn tài liệu đầy đủ, cập nhật, nhanh chóng và phù hợp cho học sinh - sinh viên (HS-SV), cán bộ trong trường; phát triển vốn tài liệu thư viện đa dạng và phong phú; đặc biệt phát triển dạng tài liệu điện tử, cải tiến phương thức phục vụ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong tất cả các hoạt động thông tin - thư viện (HĐTT-TV).v.v Tuy
đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, song bên cạnh những thành tựu đạt được thì nâng cao hiệu quả và chất lượng HĐTT-TV đáp ứng nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của trường ĐHCNHN cũng có những hạn chế nhất định và chưa thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu tin (NCT) của người dùng tin (NDT) Từ thực trạng nói trên đòi hỏi HĐTT-TV cần phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng yêu cầu phục vụ thông tin - tri thức, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo như: phát triển vốn tài liệu thư viện đa dạng và phong phú bám sát vào chương trình đào tạo của Nhà trường; tập trung phát triển dạng tài liệu điện tử; cải tiến phương thức phục vụ; nâng cao trình độ của cán bộ thông tin - thư viện; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất
cả mọi HĐTT-TV Đó là những yêu cầu cấp bách đặt ra cho TTTT-TV Nhận thấy được tầm quan trọng của HĐTT-TV đối với quá trình đào tạo của Nhà trường tôi đã chọn đề tài: “Hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” làm đề tài tốt nghiệp thạc sĩ khoa học thông tin - thư viện (TT-TV) của mình
Trang 82 Tình hình nghiên cứu
Hoạt động thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tiêu biểu như: luận văn Thạc sĩ khoa học thư viện của Nguyễn Thị Phương Thảo “Đổi mới hoạt động thông tin thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại Đại học Quốc gia Hà Nội”; PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt trong bài báo: “Đổi mới hoạt động thông tin - thư viện tại các trường đại học phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ”; PGS.TSKH Bùi Loan Thùy trong bài viết: “Thư viện đại học phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đáp ứng các yêu cầu của học chế tín chỉ”.v.v các tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp rất thiết thực với các thư viện trường đại học như: Phát triển nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ; Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện; Nâng cao trình độ của cán bộ thư viện; Đầu tư vào
cơ sở vật chất và trang thiết bị.v.v Tuy nhiên các đề tài trên chỉ đề cập đến các khía cạnh mang tính đặc thù trong khi đó mỗi cơ quan thông tin - thư viện đều có những nét đặc thù điều kiện và ảnh hưởng riêng
Liên quan tới HĐTT-TV tại trường ĐHCNHN cũng có một số luận văn cao học đề cập tới ở các khía cạnh khác nhau như: Công tác đảm bảo thông tin tại TTTT-TV trường ĐHCNHN của Nguyễn Thị Thanh Lương (2010); Xây dựng và phát triển Thư viện trường ĐHCNHN trong giai đoạn đổi mới đất nước của Lê Ngọc Diệp (2006) Các tác giả cũng đưa ra một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin - thư viện như: Đổi mới
cơ cấu tổ chức và quản lí; Phát triển nguồn lực thông tin; Hoàn thiện và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện; Tăng cường cơ sở vật chất
và nâng cao trình độ của cán bộ thư viện Tuy nhiên các giải pháp mà luận văn đưa ra có khác so với luận văn của các tác giả đi trước Theo đó, các giải pháp của luận văn hướng tới một mô hình thư viện hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Trang 9Thực tế, từ trước tới nay khi đào tạo theo niên chế, sinh viên vẫn được cung cấp giáo trình để học, nhưng không mang tính bắt buộc, thậm chí sinh viên chỉ cần học theo bài ghi ở trên lớp là có thể đạt kết quả qua các kỳ thi Song, với đào tạo theo tín chỉ thì việc đọc tài liệu mang tính bắt buộc bởi yêu cầu của phương pháp dạy và học mới (theo các nhiệm vụ của sinh viên khi hoàn thành giờ tín chỉ như đã nêu ở phần trên) Nguồn học liệu sẽ được phát triển rộng hơn, bao gồm cả các bài giảng của giảng viên ở dạng giấy và dạng file điện tử.v.v Do vậy, hoạt động thư viện tất yếu phải thay đổi trong phương thức hoạt động để thích ứng với yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động thông tin - thư viện nhằm đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả và chất lượng trong đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường ĐHCNHN
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo của trường ĐHCNHN trong giai đoạn chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ
- Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin và nhu cầu thông tin tại
TTTT-TV trường ĐHCNHN
- Phân tích đánh giá thực trạng HĐTT-TV trước yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường ĐHCNHN
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng
HĐTT-TV trong đáp ứng yêu cầu học chế tín chỉ của trường ĐHCNHN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thông tin - thư viện phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng HĐTT-TV tại trường ĐHCNHN trong giai đoạn chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ (từ 2008 đến nay, chỉ áp dụng cho các đối tượng cao đẳng, đại học)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở sử dụng phương pháp nhận thức khoa học chung duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đề tài được sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phân tích, tổng hợp tài liệu;
- Quan sát, đối chiếu, so sánh;
- Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp;
- Điều tra bằng phiếu hỏi
6 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về HĐTT-TV tại các trường đại học phục vụ phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ
- Những kết quả nghiên cứu, các đề xuất giải pháp và khuyến nghị của luận văn có thể được sử dụng làm căn cứ khoa học để nâng cao hiệu quả và chất lượng HĐTT-TV tại trường ĐHCNHN, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Ngoài ra, luận văn còn có thể là tài liệu tham khảo cho hoàn thiện HĐTT-TV ở các trường đại học nói chung trong xu thế đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hoạt động thông tin - thư viện với yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Trang 11Chương 1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
1.1 Những vấn đề lý luận chung
1.1.1 Khái niệm hoạt động thông tin - thư viện
* Khái niệm hoạt động
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm “hoạt động” được hiểu là tiến hành các việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đạt được một mục đích nhất định [22, tr.341]
Tâm lý học lại cho rằng “hoạt động” là một chuỗi các hành động kế tiếp nhau, tác động vào một đối tượng nhất định nhằm một mục đích nhất định và có một ý nghĩa nhất định [20, tr.1]
Như vậy, với tư cách là đơn vị cấu thành đời sống xã hội nói chung, đời sống của mỗi con người nói riêng, hoạt động có thể được coi là tổng hợp các hành động của con người, tác động vào một đối tượng nhất định nhằm đạt một mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội nhất định [20, tr.1]
Thư viện với chức năng cơ bản của mình, vừa là thiết chế văn hóa - giáo dục, vừa là cơ quan truyền bá thông tin, phổ biến kiến thức cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trên cơ
sở này, có thể xác định khái niệm “hoạt động” trong lĩnh vực TT-TV là tiến hành toàn bộ các công việc nghiệp vụ thuộc chức năng và nhiệm vụ của một
cơ quan TT-TV
* Khái niệm hoạt động thông tin - thư viện
“Thông tin” là một khái niệm phức tạp được biểu đạt khác nhau, tùy theo góc độ tiếp cận Tiếp cận dưới góc độ triết học theo nghĩa rộng, có thể coi thông tin là thuộc tính phản ánh của vật chất Theo nghĩa hẹp, dưới góc độ
Trang 12xã hội, thông tin là các tin tức, sự kiện, tri thức được thông báo, được truyền
đi, được tiếp nhận và sử dụng bởi con người Tin tức, dữ kiện chỉ thực sự trở thành thông tin khi nó được truyền đi và được tiếp nhận, sử dụng [20, tr.4]
Theo nghĩa đó, “hoạt động thông tin” là một quá trình tác động, cải biến thông tin, tri thức theo cách nào đó để nó có thể được truyền đi, được tiếp nhận và sử dụng không ngừng với hiệu quả cao Và như vậy, hoạt động thông tin sẽ bao gồm các hành động sáng tạo, thu thập, xử lí, lưu trữ và phổ biến thông tin nhằm đáp ứng NCT của người sử dụng và duy trì hoạt động sống của con người [20, tr.4]
Xuất hiện từ khi loài người có chữ viết và tồn tại để đáp ứng nhu cầu đọc của con người, “Thư viện” có thể hiểu một cách khái quát là nơi tàng trữ
và sử dụng tài liệu có tính chất tập thể và xã hội Như vậy “hoạt động thư viện” sẽ phải đảm bảo hai mặt có mối quan hệ hữu cơ là tàng trữ tài liệu và tạo mọi điều kiện cho người đọc sử dụng tài liệu đó Nói cách khác, “hoạt động thư viện” là quá trình thu thập, xử lí, lưu trữ và phổ biến tài liệu cho người đọc [20, tr.5]
Hai khái niệm trên có cùng hoạt động thu thập, xử lí, lưu trữ và phổ biến song trong mỗi khái niệm thì các bước thực hiện lại khác nhau: trong khái niệm “hoạt động thư viện” là tập hợp các hoạt động đan xen nhau bắt đầu từ quá trình thu thập tài liệu đến khi đáp ứng nhu cầu về tài liệu “Hoạt động thông tin” là quá trình tác động, cải biến thông tin, tri thức để đáp ứng nhu cầu tin của NDT, nhưng kết quả cuối cùng thì giống nhau Do vậy, thật khó có thể tách bạch giữa “hoạt động thư viện” và “hoạt động thông tin” trong thực hiện nhiệm vụ của các thư viện, giữa chúng có mối quan hệ khăng khít, đan xen, gắn kết và tương tác hữu cơ với nhau, đồng thời đã trở thành khái niệm chung “hoạt động thông tin - thư viện”
Xu thế phát triển trong kỷ nguyên thông tin hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới là hình thành các TTTT-TV với chức năng kép - vừa phục vụ thư viện vừa phục vụ thông tin Xu hướng này thể hiện khá rõ nét ở hệ thống các
Trang 13thư viện chuyên ngành Theo đó, khái niệm “hoạt động thư viện” và “hoạt động thông tin” gần như hòa quyện vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong một khối thống nhất, đồng thời là lý do tồn tại của nhau [12, tr.310]
Nếu tiếp cận từ góc độ thông tin tư liệu, thì HĐTT-TV chính là khái niệm hoạt động thông tin khoa học, được trình bày trong Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 31-8-2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, đó là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử
lí, lưu trữ và phổ biến thông tin Những hoạt động này chính là sự cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ được giao cho cơ quan thư viện hoặc TTTT-TV
1.1.2 Khái niệm học chế tín chỉ
Tín chỉ là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học 1 môn học, bao gồm: 1) thời gian học tập trên lớp; 2) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được qui định ở đề cương môn học; 3) thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.v.v… Tín chỉ được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học
mà người học cần phải tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định [16, tr.181]
Điều kiện để đào tạo theo tín chỉ: ngay trong QĐ số 31/2001 của Bộ
GD&ĐT đã nêu, ngoài những điều kiện về chương trình đào tạo, đội ngũ
giảng viên, các cơ sở đào tạo phải có điều kiện về học liệu: “có đủ sách tham
khảo, tài liệu học tập” Các đơn vị đào tạo có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện
về học liệu trong các hướng dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình
Có thể tham khảo việc cụ thể hóa điều kiện trên trong “Hướng dẫn sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ của Đại học Quốc gia Hà Nội” [9] Tài liệu này chỉ rõ nhiệm vụ của giảng viên, của sinh viên trong thực hiện giờ tín chỉ, xem bảng dưới đây:
Trang 14Giờ tín chỉ Nhiệm vụ của Giảng viên Nhiệm vụ của Sinh viên
- Làm bài thực hành, thực tập; viết báo cáo thực hành, thực tập
2 Giờ thảo
luận
- Lựa chọn và giao các nội dung, các vấn đề, yêu cầu, tài liệu tham khảo để từng nhóm hoặc từng sinh viên chuẩn
bị và trình bày Chỉ rõ các địa chỉ thông tin để sinh viên có thể tìm được
và hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Nhận nội dung, vấn đề nghiên
cứu, mở rộng, đi sâu vào bản chất,
vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, chuẩn bị bài trình bày theo sự phân công.v.v
3 Giờ lý
thuyết
- Xác định các nội dung tự học và cách học cho sinh viên, các vấn đề, các câu hỏi, bài tập, các loại tài liệu phải đọc, phải tìm kiếm bổ sung để sinh viên chuẩn bị cho thảo luận trên lớp
- Xây dựng, thu thập, phân loại, hướng dẫn sử dụng các học liệu/ tài liệu phục vụ cho việc tự học, tự nghiên cứu của SV
- Lập kế hoạch chi tiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ đối với từng giờ học mà giảng viên giao: tìm, đọc, ghi chép những tài liệu liên quan.v.v
Giờ tín chỉ Nhiệm vụ của Giảng viên Nhiệm vụ của Sinh viên
4 Giờ tự học,
tự nghiên cứu
- Cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu tối thiểu sinh viên cần đọc, nghiên cứu Hướng dẫn cách thức tìm kiếm, xử lí thông tin khi tự học, tự nghiên cứu (chỉ rõ cách tìm kiếm theo cấu trúc kiến thức bài học, cụ thể đến từng chương, mục.v.v của các học liệu)
- Nhận và xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu mà giảng viên giao
- Nhóm trưởng lên kế hoạch phân công cho từng thành viên với nhiệm vụ, thời gian hoàn thành, nguồn tài liệu tham khảo.v.v…
Trang 15Ưu điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ so với phương thức đào tạo truyền thống:
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo kích thích phương pháp tự học của sinh viên
- Tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình
- Sinh viên được chủ động rút ngắn thời gian theo học đại học
- Gắn việc học tập của sinh viên với nhu cầu của xã hội
- Tạo sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài nước
- Trong trường hợp kinh tế không cho phép, sinh viên hoàn toàn có thể được phép kéo dài chương trình học
- Sinh viên còn có quyền chuyển đổi chuyên ngành mình đang học Phương thức đào tạo tín chỉ không những có lợi cho giáo viên và sinh viên mà còn có lợi cho các nhà quản lí ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên
Thứ hai, là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực
Thứ ba, cung cấp số liệu của cơ sở đào tạo cho xã hội như là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lí hành chính
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, giảng viên phải chuẩn bị tập tài liệu, học liệu bổ trợ cho môn học đã thu thập được hoặc có minh chứng là sinh viên có thể tiếp cận được, ví dụ như chỉ ra địa chỉ lưu trữ các tài liệu này Như
Trang 16vậy, nguồn tài liệu hay học liệu là rất cần thiết cho phương pháp đào tạo theo tín chỉ Vấn đề là ở chỗ, các thư viện đại học cần phải đảm bảo nguồn tài liệu/ học liệu đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp đào tạo đại học theo tín chỉ 1.2 Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội trước yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo
1.2.1 Khái quát về trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội là trường đại học trực thuộc Bộ Công Thương được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 2005 trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội được thành lập năm 1999 trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Công nghiệp I Năm 1997, sát nhập 2 trường: Công nhân Kỹ thuật I và Kỹ nghệ Thực hành Hà Nội lấy tên là Trường Trung học Công nghiệp I
* Công tác đào tạo của Nhà trường
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ bắt đầu từ năm học 2008 - 2009, với qui mô đào tạo: Trên 50.000 học sinh, sinh viên Các lĩnh vực đào tạo: Công nghệ, kỹ thuật; kinh tế; may, thời trang; sư phạm; du lịch Các loại hình đào tạo: chính qui; vừa học vừa làm; liên thông; liên kết nước ngoài; nâng bậc thợ; đào tạo lao động xuất khẩu; bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn theo nhu cầu xã hội quan tâm
Về ngành, nghề đào tạo: Trong những năm qua Nhà trường đã xây dựng được chương trình và triển khai đào tạo 19 chuyên ngành đại học chính qui, 19 chuyên ngành đào tạo cao đẳng chính qui, nhiều chương trình đào tạo trình độ khác nhau và được thể hiện trong các bảng sau:
Trang 17Bảng 1.1: Lĩnh vực đào tạo tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
/người
Tỷ lệ
%
Đại học /người
Tỷ lệ
%
CĐ /người
Tỷ lệ
%
TH /người
Tỷ lệ
%
ĐTN /người
Tỷ lệ
%
CNTT 2250 5,0 1500 3,3 250 0,6
Điện tử 1950 4,3 950 2,1 230 0,5
Cơ khí 200 0,4 3230 7,2 2380 5,2 150 0,3 2900 6,4 Động lực Ô tô 1100 2,4 750 2,0
Điện 2400 5,3 1200 3,0 330 0,7 1000 2,2 Kinh tế 8550 19 2500 6,0 440 1,0
Công nghệ Hóa 1100 2,4 560 1,2
Công nghệ May 500 1,0 350 1,0
Du lịch 820 2,0
Tiếng Anh 3100 7,0 3810 8,4 Tổng 200 0,4 25000 55,6 14000 32,2 1900 3,1 3900 8,6
* Chức năng nhiệm vụ chính của Trường
1 Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao học, đại học và các trình
độ thấp hơn thuộc các ngành: Cơ khí, động lực, điện, nhiệt, điện tử, công nghiệp thực phẩm, hoá, may thời trang, công nghệ thông tin, kinh tế, ngoại ngữ, sinh học, môi trường, khách sạn du lịch, sư phạm kỹ thuật và các ngành nghề khác theo qui định của pháp luật
2 Đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí kỹ thuật - kinh tế chuyên ngành, công nhân kỹ thuật bậc cao đạt tiêu chuẩn qui định của Nhà nước
3 Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập đối với các ngành nghề được phép đào tạo theo qui đinh của Nhà nước
4 Tổ chức và thực hiện công tác tuyển sinh, quản lí người học, tổ chức các hoạt động đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp theo qui định của luật giáo dục
Trang 185 Xây dựng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên bảo đảm đủ về
số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, ngành nghề theo tiêu chuẩn qui định của Nhà nước
6 Tổ chức nghiên cứu, triển khai khoa học - công nghệ
7 Thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm, xuất khẩu lao động và chuyên gia làm việc có thời hạn ở nước ngoài, dịch vụ khoa học - công nghệ, thực nghiệm sản xuất, sản xuất - kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo
8 Tổ chức các hoạt động thông tin, in ấn các ấn phẩm, tài liệu, giáo trình phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học theo qui định của Nhà nước
9 Thực hiện hợp tác quốc tế, liên kết, liên thông về đào tạo - bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, triển khai khoa học - công nghệ với các
cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước
10 Quản lí, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả cơ sở vật chất, tài sản, các nguồn vốn được Nhà nước, Bộ Công thương giao và các nguồn huy động khác
11 Quản lí tổ chức, biên chế theo phân cấp quản lí của Bộ Công thương
12 Giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong Trường; bảo vệ tài sản, bí mật quốc gia; xây dựng và thực hiện các qui chế, biện pháp bảo hộ, an toàn lao động
13 Thực hiện báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của Bộ Công thương và các cơ quan quản lí nhà nước có liên quan
15 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật
* Định hướng phát triển của Nhà trường
- Tầm nhìn đến năm 2020: Đại học Công nghiệp Hà Nội sẽ trở thành
cơ sở giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học của nền kinh tế tri thức, đẳng
Trang 19cấp quốc tế, liên thông và công nhận lẫn nhau với một số trường đại học trên thế giới
- Sứ mạng đến năm 2015: Đại học Công nghiệp Hà Nội cung cấp dịch
vụ giáo dục - đào tạo nhiều ngành, nhiều trình độ, chất lượng cao, đáp ứng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xuất khẩu lao động, tạo cơ hội học tập thuận lợi cho mọi đối tượng
- Chính sách chất lượng:
1 Xây dựng Trường trở thành cơ sở đào tạo mở, hướng tới người học
và các bên quan tâm Đào tạo nguồn nhân lực nhiều trình độ phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
2 Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy, lấy người học làm trung tâm; triệt để áp dụng công nghệ thông tin vào quản lí, giảng dạy và học tập; tổ chức đào tạo hoàn toàn theo tín chỉ
3 Mở rộng liên kết đào tạo với các trường, với các cơ sở kỹ thuật - kinh tế trong và ngoài nước
4 Khuyến khích sáng tạo, khuyến khích học tập
5 Cam kết xây dựng, thực hiện, duy trì các hệ thống quản lí tiên tiến (ISO 9000, TMQ) để đạt được kiểm định công nhận chất lượng của Việt Nam, của SEAMEO
* Cơ cấu tổ chức của Nhà trường
Cơ cấu của trường ĐHCNHN khá lớn Dưới Ban giám hiệu có khối hiệu bộ gồm 13 phòng ban chức năng phục vụ cho công tác quản lí, đào tạo
và nghiên cứu khoa học của Trường Bên cạnh bộ phận chịu trách nhiệm quản
lí chung, Trường còn có bộ phận đào tạo với nhiệm vụ chính là giảng dạy và đào tạo chuyên ngành bao gồm: 15 khoa và 05 trung tâm:
Trang 20Trung tâm Thông tin Thư viện Trung tâm Ký túc xá Trung tâm Y tế Trung tâm Dịch vụ Nhà
Phòng Thanh tra Giáo dục
Trung tâm Quản lí Chất
lượng
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trường ĐHCNHN
Trang 21Trường có 03 cơ sở đào tạo với tổng diện tích gần 50 ha Tại các cơ sở, Nhà trường đã xây dựng kiên cố hơn 300 phòng học lí thuyết, 200 phòng thực hành, thí nghiệm với đầy đủ máy móc, thiết bị Hơn 2500 máy vi tính, hệ thống mạng nội bộ toàn trường kết nối Internet phục vụ công tác quản lí điều hành, dạy, học và nghiên cứu khoa học Gần 500 phòng ở đủ chỗ ở cho khoảng 5000 HS-SV nội trú TTTT-TV với trên 88902 cuốn sách các loại, với gần 100 máy tính kết nối Internet Sân vận động, khu vui chơi thể thao, ký túc xá hiện đại, nhà ăn phục vụ cán bộ, giáo viên, HS-SV
1.2.2 Nhiệm vụ và yêu cầu đào tạo của trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội trong giai đoạn chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ là hình thức đào tạo mới, đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, có nhiều ưu điểm trong quá trình tổ chức quản lí đào tạo, triển khai đào tạo và đặc biệt là thuận lợi cho người học có thể chủ động chọn lựa kế hoạch học tập cho phù hợp với bản thân
Tuy nhiên, tại thời điểm Nhà trường quyết định chuyển đổi sang hình thức đào tạo theo tín chỉ chưa có nhiều trường đại học tại Việt Nam tổ chức hình thức đào tạo này Đây có thể coi là một trong những khó khăn, thách thức lớn nhất mà Nhà trường sẽ gặp phải trong quá trình tổ chức đào tạo, làm thế nào để đào tạo tín chỉ phát huy được ưu điểm nhưng cũng phải phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trường
Năm 2007, Nhà trường đã thành lập các tiểu ban chuẩn bị cho công tác
tổ chức đào tạo với các chức năng cụ thể sau:
- Tiểu ban chuẩn bị đội ngũ và cơ sở vật chất: lập và thực hiện kế hoạch chuẩn bị đội ngũ cán bộ giáo viên, đội ngũ cố vấn học tập Chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ
- Tiểu ban soạn thảo văn bản hướng dẫn: soạn thảo kế hoạch, các văn bản hướng dẫn, các biểu mẫu chuyển đổi từ niên chế sang tín chỉ Tổ chức các
Trang 22hội thảo khoa học về đào tạo tín chỉ Mời chuyên gia tư vấn và các nhà cung cấp phần mềm quản lí đào tạo Tổ chức biên tập, in ấn phát hành niên lịch đào tạo, sổ tay sinh viên.v.v
- Tiểu ban chương trình giáo trình: lập, triển khai kế hoạch để các khoa, trung tâm đào tạo thực hiện chuyển đổi chương trình đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ, xây dựng tiến độ, kế hoạch đào tạo, biên soạn đề cương chi tiết các môn học, giáo trình và tài liệu tham khảo
Sau khi các nguồn lực phục vụ đào tạo được rà soát, bổ sung, nâng cấp
đủ điều kiện bước đầu cho tổ chức đào tạo Năm 2008 - 2009 nhà trường bắt đầu tổ chức đào tạo theo hình thức tín chỉ cho sinh viên trình độ đại học và cao đẳng chính qui
Các khóa đào tạo theo học chế tín chỉ được thực hiện theo Qui chế đào tạo đại học, cao đẳng ở trường ĐHCNHN được áp dụng theo Quyết định của Hiệu trưởng trường ĐHCNHN, ban hành ngày 10 tháng 08 năm 2009 Trong
đó, ban hành qui chế đào tạo về: hình thức dạy - học; chương trình nội dung môn học
Theo đó, có ba hình thức dạy - học được áp dụng:
a Lên lớp: sinh viên học tập trên lớp thông qua bài giảng, hướng dẫn của giảng viên tại lớp
b.Thực hành: sinh viên học tập thông qua thực hành, thực tập, làm thí nghiệm, làm bài tập, đọc và nghiên cứu tài liệu, dưới sự trợ giúp trực tiếp của giảng viên
c Tự học: sinh viên tự học tập, nghiên cứu theo hình thức cá nhân hoặc tổ/nhóm ở nhà, ở thư viện, trong phòng thí nghiệm, theo kế hoạch, nhiệm vụ, nội dung do giảng viên giao, được kiểm tra - đánh giá và tích luỹ vào kết quả học tập cuối cùng
Trang 23Chương trình đào tạo được qui định như sau:
1 Chương trình đào tạo (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, qui định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học
2 Chương trình được các khoa trực thuộc trường ĐHCNHN xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu ngành chính - ngành phụ)
3 Chương trình được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp
4 Hiệu trưởng trường ĐHCNHN ký ban hành các chương trình để triển khai thực hiện trong trường
Từ công tác chuẩn bị cho chương trình đào tạo học chế tín chỉ Nhà trường đã thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xây dựng hoàn chỉnh chương trình đào tạo: cùng với việc hoàn thiện mục tiêu, chuyển đổi học chế, phát triển qui mô đào tạo, từ năm 2008 Nhà trường đã tích cực hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo các ngành theo chủ trương “mềm hóa” chương trình hai giai đoạn và xây dựng chương trình khung các ngành đào tạo đại học, cao đẳng theo chủ trương của Bộ Ngoài việc tuân thủ khung chương trình và phần “cứng” gồm một số học phần bắt buộc chung của Bộ và qui định của Trường, các khoa, ban chuyên môn được chủ động trong việc sắp xếp, điều chỉnh, xây dựng lại nội dung chương trình đào tạo của khoa sao cho đúng yêu cầu ngành đào tạo, có lưu ý đến đặc thù của đối tượng đào tạo và địa bàn tuyển sinh (nơi sẽ tiếp nhận và sử dụng sinh viên khi ra trường) đồng thời phải bám sát và đảm bảo được mục tiêu đào tạo
Trang 24của khoa và của Trường Ngoài ra Nhà trường triển khai đến các khoa ban trong Trường
- Biên soạn giáo trình, đề cương chi tiết học phần phục vụ dạy - học: tổ chức tốt công tác đào tạo theo học chế tín chỉ cần biên soạn bộ đề cương chi tiết các học phần trong đó ghi đầy đủ nội dung của học phần với các chương mục, mục đích, yêu cầu của môn học, hình thức thi, cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên, giáo trình chính và các tài liệu tham khảo.v.v… Các đề cương chi tiết học phần này được công bố cho sinh viên vào đầu mỗi học kỳ, giúp cho sinh viên chủ động rất nhiều trong việc tham khảo tài liệu, chuẩn bị lên lớp, tự học và thi v.v…; về phía Trường thì thông qua các đề cương này
có thể quản lí nội dung giảng dạy, nhất là đối với môn học có nhiều giảng viên cùng tham gia giảng dạy
- Cải tiến, đổi mới phương pháp dạy - học, phương pháp đánh giá: đi đôi với việc đổi mới chương trình, giáo trình là yêu cầu đổi mới cơ bản phương pháp dạy - học Chuyển từ hướng đào tạo tinh hoa sang hướng đào tạo đại chúng đòi hỏi phương pháp dạy - học mới; từ chỗ người học là người tiếp nhận kiến thức thụ động trong lớp học, theo quan niệm hiện nay, người học được xem là trung tâm của hoạt động đào tạo; phương pháp giáo dục đại học mới phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành.v.v…Với quan niệm ấy, trong xây dựng nội dung chương trình giảng dạy cần chú ý xu hướng giảm bớt tính hàn lâm và tăng kỹ năng thực hành (tăng số giờ thực hành, thảo luận, xêmina, tự học của sinh viên hoặc tự nghiên cứu tài liệu.v.v…) Điều này giúp sinh viên đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của công việc sau khi ra trường Đặc biệt với các ngành liên quan đến công nghệ thông tin (máy tính, tin học, điện tử.v.v…) Các ngành Khoa học xã hội - nhân văn thì tăng thêm giờ tham quan thực tế, thực tập điền dã, mở rộng quan hệ, tiếp
Trang 25nhận thông tin mới từ các ngành khoa học liên quan ngoài trường (qua hình thức mời giảng, tổ chức các cuộc nói chuyện, trao đổi học thuật, thông tin khoa học với các chuyên gia đầu ngành.v.v…)
Để có thể tiến tới việc giảm bớt giờ lên lớp lí thuyết và tăng giờ tự học, tăng tính chủ động cho sinh viên, giúp sinh viên phát triển tư duy sáng tạo trong học tập, được sự khuyến khích của lãnh đạo Nhà trường, giáo viên một
số ngành đã cố gắng đầu tư để thay đổi phương pháp giảng dạy, áp dụng các phần mềm dạy học, sử dụng các trang thiết bị trong hiện đại trong giảng dạy, các phương tiện nghe nhìn.v.v…), tăng cường thảo luận, cung cấp đầy đủ giáo trình, đề cương chi tiết môn học, giới thiệu tài liệu tham khảo để sinh viên có thể tự học ngoài giờ lên lớp.v.v…
Biện pháp thống kê, điều tra xã hội học thăm dò môn học cũng đã được Trường chuẩn bị Việc thống kê, xử lí những phiếu thăm dò này giúp cho các cấp quản lí đào tạo nắm bắt được tình hình tiếp thu môn học của sinh viên, mức độ hữu ích của môn học, qua đó khoa quản lí hoặc tự thân giảng viên có thể tự điều chỉnh phương pháp giảng dạy, nội dung bài giảng, thậm chí tác phong lên lớp cho phù hợp hơn với yêu cầu học tập của sinh viên
Ngoài những hình thức thi, kiểm tra truyền thống như thi tự luận, vấn đáp.v.v… Nhà trường còn áp dụng nhiều hình thức thi cử khác giúp đánh giá được khả năng tự học hỏi, sự phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của sinh viên trong học tập như: cho viết tiểu luận, làm xêmina chuyên đề, giải quyết tình huống, làm bài thi trắc nghiệm khách quan.v.v…
Để có hiệu quả đào tạo cao, ngoài các giải pháp được thực hiện để quản
lí đầu ra, Trường cũng rất chú trọng đến việc quản lí đầu vào, đặc biệt là khâu tuyển sinh Điểm xét tuyển vào Trường cao cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình và chất lượng học tập ở bậc đại học của sinh viên
Trang 26- Tăng cường cơ sở vật chất để đảm bảo quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ: thông qua các chương trình mục tiêu và từ các nguồn vốn khác nhau (kinh phí Nhà nước, kinh phí từ quỹ học phí, kinh phí các dự án.v.v…) trong vài năm gần đây, Nhà trường đã tăng cường mạnh khâu cơ sở vật chất phục
vụ yêu cầu dạy - học ngày một phát triển và đổi mới
Việc tăng cường cơ sở vật chất là điều kiện cần thiết để tổ chức đào tạo
theo học chế tín chỉ vì tổ chức lớp học của học chế tín chỉ là lớp học phần Tổ
chức đào tạo theo niên chế thì lớp học là lớp sinh viên được tổ chức theo từng khoa và khoá đào tạo, có tính tương đối ổn định để phục vụ công tác quản lí sinh viên và để tổ chức, duy trì các sinh hoạt đoàn thể, phong trào thi đua còn lớp học phần là lớp gồm các sinh viên đăng kí học cùng một học phần trong một học kì để phục vụ cho việc tổ chức giảng dạy, xếp thời khoá biểu, học và thi.v.v… Nhà trường qui định số sinh viên tối thiểu cho từng lớp, nếu số sinh viên đăng kí học ít hơn số qui định (25 sinh viên) thì học phần không được tổ chức giảng dạy, sinh viên sẽ được đăng kí lại học phần khác Thời khoá biểu của việc đào tạo theo học chế tín chỉ được xếp theo các học phần, từ 7 giờ đến
21 giờ hàng ngày nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của sinh viên đăng kí chọn lựa các học phần khác nhau
- Áp dụng công nghệ thông tin trong hệ thống quản lí: nếu việc ứng dụng những phát triển CNTT được xem là một công cụ và động lực quan trọng trong việc đổi mới nội dung, phương pháp, phương thức dạy - học đại học, thì vai trò của CNTT cũng không thể thiếu trong việc đổi mới hệ thống quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ
Từ năm 2008, ngay khi chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, Nhà trường đã đầu tư trang bị một phần mềm tin học gồm 10 phân hệ để quản lí đào tạo (tuyển sinh, quản lí sinh viên, chương trình đào tạo, đăng kí học phần, thời khóa biểu, quản lí điểm, học bổng học phí, khen thưởng kỷ luật.v.v…)
Trang 27Phần mềm quản lí đã giúp Trường quản lí sinh viên và quá trình học tập của sinh viên một cách xuyên suốt từ lúc bắt đầu tuyển sinh cho đến lúc ra trường
Phần mềm quản lí này ngày càng phát triển và được hoàn thiện thêm theo yêu cầu đào tạo; lúc đầu chỉ được nối mạng giữa các phòng chức năng của khu vực quản lí cấp Trường, nay đã được nối mạng từ Trường đến các khoa, ban, bộ môn và sinh viên có thể theo dõi kết quả học tập của mình qua trang web của Trường
Trang web của Trường bước đầu được hình thành và đang tiếp tục triển khai để đạt mục tiêu giới thiệu các thông tin liên quan đến hoạt động của Trường, cơ cấu tổ chức, các chương trình đào tạo, các đề cương chi tiết học phần, các bài giảng của giảng viên, các số liệu về sinh viên, tra cứu kết quả học tập.v.v…Với việc ứng dụng CNTT, công tác quản lí đào tạo của Trường đạt hiệu quả cao, được qui trình hóa và mang tính khoa học Các vấn đề được giải quyết đồng bộ, chính xác và nhanh gọn Tổ chức tốt công tác quản lí đào tạo là một tiêu chí quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ
Do nắm bắt được xu thế phát triển chung của giáo dục Việt Nam cũng như chủ trương, kế hoạch phát triển và những nhiệm vụ chính của trường ĐHCNHN, TTTT-TV trường ĐHCNHN trong thời gian vừa qua đã nhận thấy
để đáp ứng tốt cho chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ thư viện phải nâng cao hiệu quả, chất lượng HĐTT-TV: phát triển mạnh mẽ kho tài liệu cả
2 dạng giấy và điện tử, phấn đấu đạt đầy đủ số đầu sách giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt và ngoại văn để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng; đầu tư vào cơ sở vật chất - trang thiết bị kỹ thuật; nguồn nhân lực để góp phần giải quyết nhiệm vụ mà Trường đề ra
Trang 281.3 Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
1.3.1 Khái quát về Trung tâm Thông tin Thư viện
Lịch sử hình thành và phát triển của TTTT-TV gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của trường ĐHCNHN Trên cơ sở sát nhập từ trường Trung học Công nghiệp I (từ 2 trường Kỹ nghệ thực hành do Pháp thành lập,
do chiến tranh phải di chuyển địa điểm nhiều lần: Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phú, Lạng Giang, Hà Nội.v.v ), với đặc thù là Trường chuyên đào tạo công nhân, nghề cho ngành công nghiệp (cơ khí) nên thư viện và hoạt động thư viện chưa được coi trọng Thư viện chỉ có qui mô như tủ sách nhỏ, chưa
có cán bộ được đào tạo về chuyên môn thư viện, số lượng vốn tài liệu cũng không nhiều, chủ yếu là một số tập bài giảng viết tay, chương trình đào tạo công nhân kĩ thuật của Nhà nước, số còn lại là sách tiếng Nga, Pháp.v.v… Do phải di chuyển nhiều lần nên số sách nói trên cũng bị mất mát và hư hỏng một
số lượng đáng kể
Chính vì vậy, Thư viện của Trường chỉ thực sự đi vào hoạt động theo đúng nghĩa của nó khi Trường được nâng cấp lên cao đẳng vào năm 1999 Tuy nhiên, đến tháng 07/2007 Tổ Thư viện thuộc Phòng Đào tạo mới được thành lập Đây có thể coi là mốc phát triển quan trọng đối với Thư viện, thể hiện sự nhận thức quan tâm đúng đắn của lãnh đạo Nhà trường, sự đòi hỏi tất yếu phải có một thư viện thực sự để phục vụ cho hoạt động dạy và học của một trường đào tạo đa ngành, đa nghề, đa cấp
Sau khi Trường một lần nữa được nâng cấp lên đại học, Thư viện cũng được nâng cấp lên thành TTTT-TV Trung tâm Thông tin - Thư viện trường
Trang 29ĐHCNHN được thành lập theo quyết định số 2036/QĐ - ĐHCN ngày 22 tháng 12 năm 2005 của Hiệu trưởng trường ĐHCNHN Trung tâm kế thừa và phát triển những mô hình thư viện đại học hiện đại trong nước và quốc tế, với nhiều trang thiết bị tiên tiến, tạo điều kiện tiếp cận các thông tin một cách dễ dàng nhất cho độc giả là cán bộ, giáo viên, sinh viên trong toàn Trường và bạn đọc ngoài trường
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ
* Chức năng: TTTT-TV là đơn vị phục vụ, dịch vụ về TT-TV trong
trường ĐHCNHN, có chức năng tổ chức quản lí, khai thác, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất được Nhà trường trang bị phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập của giảng viên, cán bộ, nhân viên và HS-SV Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường
* Nhiệm vụ chủ yếu:
1 Xây dựng kế hoạch nhằm chủ động khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị, tư liệu được Nhà trường trang bị cho Trung tâm nhằm nâng cao chất lượng phục vụ Nghiên cứu đề xuất phương hướng phát triển và
kế hoạch phát triển NLTT đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của Nhà trường, đồng thời chịu trách nhiệm quản lí, bảo vệ vốn, nguồn tư liệu;
2 Phối hợp với các đơn vị trong Trường theo phân cấp của Hiệu trưởng tiến hành mua sắm, khai thác có hiệu quả các nguồn thông tin - tài liệu, sách báo, tạp chí, các tài liệu, giáo trình phục vụ hoạt động giảng dạy và học tập cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và HS-SV trong trường và các hoạt
Trang 30động dịch vụ khác Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác theo chức năng nhiệm vụ của Trung tâm;
3 Quản lí cán bộ, nhân viên thuộc Trung tâm, thực hiện các qui định thu nhận, lưu chiểu ấn phẩm do Trường xuất bản Xây dựng hệ thống tra cứu thông tin hiện đại, khoa học và thực hiện các nhiệm vụ khác được Nhà trường giao;
4 Nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, đặc biệt là CNTT để hiện đại hóa thư viện Phối hợp với các tổ chức khoa học
và công nghệ bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán
bộ, nhân viên thuộc Trung tâm nhằm nâng cao chất lượng phục vụ;
5 Tham gia các hội nghề nghiệp, trao đổi nghiệp vụ với hệ thống thư viện trong nước và quốc tế nhằm bổ sung, trao đổi tài liệu, chia sẻ NLTT, khai thác mạng thông tin từ bên ngoài.v.v… mở rộng giao lưu hợp tác về hoạt động đào tạo, tư vấn nghiệp vụ, tiếp nhận viện trợ, hội thảo khoa học về TT-
TV trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm;
6 Tổ chức các hoạt động dịch vụ và thu lệ phí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm và phù hợp với các qui định của pháp luật;
7 Tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao.v.v…và thực hiện các nhiệm vụ khác được Nhà trường giao
1.3.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
* Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu, tổ chức của TTTT-TV hiện tại được bố trí
tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận dưới sự chỉ đạo chung của Ban Giám đốc
Trang 31Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức của TTTT-TV trường ĐHCNHN
BAN GIÁM ĐỐC
THƯ VIỆN KHU A THƯ VIỆN KHU B THƯ VIỆN CƠ SỞ HÀ NAM
Phòng tổng hợp Phòng hội thảo
Trang 32Ban Giám đốc TTTT-TV có 02 người (Giám đốc và Phó Giám đốc) Giám đốc Trung tâm phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng và toàn bộ công tác của Trung tâm, trực tiếp lãnh đạo một số công tác cụ thể; xây dựng chủ trương, kế hoạch công tác, tổ chức thực hiện, phân công kiểm tra, bồi dưỡng nghiệp vụ, đánh giá cán bộ, phụ trách trực tiếp xưởng in Phó Giám đốc có thể thay mặt Giám đốc khi được ủy quyền và phụ trách chung
Hệ thống phòng ban của Trung tâm được chia làm 3 cơ sở: cơ sở I (Thư viện khu A): Thư viện khu A là cơ sở chính, tập trung đầy đủ các phòng chức năng bao gồm các phòng sau: Phòng nghiệp vụ, Phòng đọc sách tại chỗ, Phòng mượn sách về nhà, Phòng đọc tự chọn, Phòng ngoại văn, Phòng học nhóm, Phòng báo - tạp chí, Phòng đọc điện tử, Tổ in, Phòng hội thảo Cơ sở II (Thư viện khu B), cơ sở III (Thư viện cơ sở Hà Nam): mỗi cơ sở chỉ duy nhất
có 1 phòng tổng hợp phục vụ đọc tại chỗ và mượn về nhà Tuy 3 cơ sở về cơ cấu các phòng có khác nhau nhưng có sự phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng nhằm thực hiện tốt công tác TT-TV phục vụ cho mục đích giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và HS-SV trong Nhà trường
Trang 33làm sao để với một đội ngũ cán bộ, cho dù không nhiều nhưng vẫn đáp ứng được tốt NCT của NDT tại một trường đại học lớn của cả nước
Hiện tại TTTT-TV có 21 cán bộ, trong đó có 02 nam (Chiếm tỷ lệ 0.95%) và 19 nữ (chiếm tỷ lệ chiếm 90.5%) Trong đó cơ sở I có 15 cán bộ (chiếm 71%), cơ sở II có 05 cán bộ (chiếm 24%), cơ sở III có 1 cán bộ (chiếm 5%)
-Về độ tuổi: Đội ngũ cán bộ tại Trung tâm hiện nay đang được trẻ hóa, với đa số là cán bộ trẻ, đầy năng động, nhiệt huyết và được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 1.2: Cơ cấu nhân sự theo độ tuổi và trình độ tại TTTT-TV
Qua bảng cơ cấu nhân sự theo độ tuổi ta thấy lực lượng cán bộ trẻ có
độ tuổi dưới 40 chiếm phần lớn trong Trung tâm (90%) đây là những cán bộ đang ở độ tuổi sung sức nhất, là lực lượng đi đầu trong công cuộc hiện đại hóa thông tin Đội ngũ này thường xuyên được đào tạo về trình độ chuyên môn, tin học và ngoại ngữ Họ nhanh chóng nắm bắt được những kiến thức mới và biết áp dụng trong thực tiễn công tác Đây chính là lực lượng kế cận
và là nòng cốt cho sự phát triển của Trung tâm trong đào tạo theo học chế tín chỉ của Nhà trường
Trang 34Các cán bộ ở độ tuổi trung niên chiếm số lượng nhỏ (10%) Đây là những người đã có bề dày kinh nghiệm và nền tảng kiến thức cơ bản vững chắc nhưng lại khó có thể thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường CNTT hiện đại, đặc biệt là việc học tập và nâng cao trình độ tin học và ngoại ngữ Họ là những người đáng tin cậy nhất trong việc duy trì mảng thư viện truyền thống của Trung tâm
-Về trình độ: cán bộ tại TTTT-TV trường ĐHCNHN có trình độ chuyên môn khác nhau nhưng phần lớn đều có trình độ nghiệp vụ TT-TV (điều này được thể hiện trong bảng 1.2 Hầu hết cán bộ Trung tâm có trình độ tin học cơ bản, biết sử dụng máy tính trong công việc chuyên môn của mình Một số cán bộ trẻ đã sử dụng thành thạo máy tính và phần mềm Libol cũng như kỹ năng tra cứu, khai thác thông tin trên Internet Ngoài ra, các cán bộ Trung tâm cũng không ngừng phấn đấu, học tập và rèn luyện về ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ của Trường Có 16/18 cán bộ có trình độ tiếng Anh từ B trở lên Đây là những nỗ lực rất lớn của cán bộ Trung tâm trong việc chuẩn bị không chỉ về kiến thức chuyên môn mà còn cả kiến thức về ngoại ngữ, tin học để có thể phục vụ tốt nhất NDT nhằm đưa Trung tâm phát triển theo đúng chức năng là một cơ quan cung cấp dịch vụ thông tin tới cho mọi người
1.3.4 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành của thư viện Với định hướng phát triển HĐTT-TV đào tạo theo học chế tín chỉ, trong những năm qua Nhà trường đã có sự quan tâm thích đáng về đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị cho thư viện Vì vậy, hiện nay về mặt cơ sở vật chất trang thiết bị của thư viện đã được nâng cấp và tương đối đồng bộ
Trung tâm có ba cơ sở (khu A, khu B và cơ sở Hà Nam) với tổng diện tích trên 6000m2 Cơ sở I với tổng diện tích là 4300m2,cơ sở II có tổng diện
Trang 35tích 1400m2, cơ sở III có tổng diện tích là 300m2 Cơ sở I được tổ chức thành
hệ thống các phòng: Phòng tổng hợp; Phòng đọc tại chỗ; Phòng mượn tài liệu
về nhà; Phòng đọc báo, tạp chí; Phòng đọc tài liệu điện tử; Phòng đọc tự chọn; Phòng thảo luận nhóm.v.v… Các phòng của Trung tâm đều được trang
bị đủ hệ thống ánh sáng, hệ thống điều hoà nhiệt độ tạo điều kiện thuận lợi cho bạn đọc trong quá trình sử dụng Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình, Trung tâm vẫn còn gặp những khó khăn sau:
- Về diện tích sử dụng: ở thư viện cơ sở I (khu A), cơ sở II (khu B) diện tích khang trang đủ để thư viện bố trí các phòng hợp lí Ở diện tích cơ sở III (Hà Nam) diện tích quá nhỏ so với yêu cầu về chỗ ngồi, khó khăn khi mở rộng thêm phòng phục vụ và bố trí kho khi tăng vốn tài liệu
- Hiện tại, thư viện cơ sở I đã có máy photocopy nhưng cơ sở II (khu B), và cơ sở III (Hà Nam) chưa có máy photocopy trong khi nhu cầu sao chụp tài liệu của bạn đọc lại rất lớn Khi cần bạn đọc vẫn phải đăng ký photo tài liệu qua thủ thư (thủ thư lại đặt photo với dịch vụ photo bên ngoài thư viện) dẫn đến mất nhiều thời gian và khó bảo quản tài liệu
1.3.5 Vai trò và yêu cầu của hoạt động thông tin - thư viện đối với quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ
* Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện đối với quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ
Việc áp dụng chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại trường ĐHCNHN là một bước chuyển biến ý nghĩa, một nỗ lực lớn trong việc thay đổi phương pháp dạy - học đại học hiện nay Một đặc điểm quan trọng của việc học tập theo học chế tín chỉ là sinh viên phải tự học nhiều còn giảng viên giảng ít giờ hơn so với cách học truyền thống và giảng viên chủ yếu đóng vai trò là người hướng dẫn, cố vấn, thúc đẩy việc tự học của sinh viên Như vậy
Trang 36ngoài tính chủ động, tự giác, sự say mê học hỏi của sinh viên và tinh thần trách nhiệm cao của giảng viên, giảng viên và sinh viên cũng cần được tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng yêu cầu của họ Việc trang bị một cách đồng
bộ những điều kiện, phương tiện thực hiện học chế tín chỉ là một trong những yêu cầu không thể thiếu được trong quá trình đào tạo với phương thức này Những điều kiện đặt ra ở đây như hệ thống giáo trình, tài liệu, thư viện điện
tử, hạ tầng mạng Internet.v.v… phải được đảm bảo nhằm phát huy cao độ tính chủ động của sinh viên trong quá trình học tập Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng ốc phải phù hợp cho mọi loại lớp học khác nhau, như vậy sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn cho người học và người dạy trong học chế tín chỉ
- Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện đối với học sinh, sinh viên: Trung tâm Thư viện trường ĐHCNHN là môi trường tốt nhất cho HS-
SV tự học, tự nghiên cứu, tham khảo tài liệu, tham khảo các mối quan tâm khoa học cụ thể ngoài giờ trên lớp, đặc biệt có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn tài nguyên phong phú đa dạng Thư viện là nơi mà học sinh có những cơ hội
để khám phá, thực hành và phát triển những kiến thức đã thu nhận được, nơi HS-SV có thể tự mình nêu ra những câu hỏi, vấn đề, tìm tòi và hình thành những câu trả lời cho họ
Đặc biệt, qua việc nghiên cứu tài liệu và tự học với nguồn tài nguyên phong phú, sinh viên có cơ hội phát triển nhiều kỹ năng quan trọng cần thiết cho tương lai nghề nghiệp và thích nghi với việc học suốt đời như kỹ năng thu thập, phân tích, tổng hợp, xử lí, và đánh giá thông tin; kỹ năng đọc và tóm tắt tài liệu, diễn đạt, trình bày, trao đổi thông tin.v.v… Việc sử dụng thư viện sẽ tạo lập cho HS-SV những phẩm chất học tập độc lập, có khả năng lý giải các thông tin và biến chúng thành kiến thức tự có của mình Các kỹ năng tin học, học tập, các phẩm chất nhân cách của học sinh được hình thành trong quá trình sử dụng thư viện
Trang 37- Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện đối với cán bộ giảng dạy, nghiên cứu:
Giảng viên phải đầu tư nhiều công sức hơn cho việc xây dựng đề cương môn học, phải tìm kiếm, khai thác tin, tài liệu tham khảo cho bài giảng của mình và giới thiệu cho sinh viên tìm đọc bắt buộc giảng viên phải tham khảo nhiều tài liệu hơn, cần nhiều thông tin hơn, tần suất sử dụng các tài liệu lớn hơn, đòi hỏi Thư viện phải đưa ra rất nhiều giải pháp khả thi trong việc cung cấp tài liệu cho người học một cách đầy đủ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất và chính xác nhất để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của NDT
Ngoài ra, theo quan điểm mới không chỉ có sinh viên là người học mà hiện nay cả thầy và trò phải cùng học Đôi khi giảng viên có thể học được rất nhiều không những qua việc chia sẻ thông tin của đồng nghiệp mà còn có thể qua các thông tin mà sinh viên tìm được qua các nguồn tài nguyên mà họ chưa có dịp tiếp cận
- Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện đối với cán bộ lãnh đạo, quản lí:
Trung tâm TT-TV có vai trò quan trọng trong việc giúp các cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lí có những thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời nhằm hỗ trợ kịp thời cho việc ra quyết định trong công tác lãnh đạo, quản lí và đổi mới các công tác giáo dục - đào tạo
* Yêu cầu của hoạt động thông tin - thư viện đối với quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ
Một trong những yếu tố quan trọng về cơ sở vật chất có ảnh hưởng lớn tới chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ chính là HĐTT-TV Các thư viện cần phải nắm bắt các yêu cầu của học chế tín chỉ đối với HĐTT-TV, hiểu rõ
sự khác biệt của HĐTT-TV trong phục vụ đào tạo theo niên chế và phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm trong hoạt động phục vụ nghiên cứu và đào tạo theo niên chế, các cán bộ thư viện phải trăn trở suy nghĩ, sáng tạo và áp dụng các biện pháp mới phù hợp với việc
Trang 38phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ Đó là điều kiện quan trọng để hình thành tính tích cực trong học tập của sinh viên, cũng như khả năng cập nhật thông tin trong bài giảng của giáo viên, yếu tố hàng đầu đảm bảo chất lượng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ một trong những điều kiện để chuyển đổi phương thức giáo dục từ niên chế sang học chế tín chỉ đó là “phải có đủ giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo cho từng môn học” Tuy nhiên để đáp ứng các yêu cầu của học chế tín chỉ, nhìn chung các thư viện phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau:
- Xây dựng nguồn lực thông tin chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của
chương trình dạy và học trong nhà trường:
Trong toàn bộ HĐTT-TV, nguồn lực thông tin (NLTT) có vai trò quan trọng, là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TT-TV, là căn cứ để hợp tác, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan TT-TV Đặc biệt trong đào tạo theo học chế tín chỉ vai trò của NLTT là rất quan trọng, nhất là NLTT chất lượng cao Khi học chế tín chỉ đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải đầu tư nhiều công sức hơn cho việc soạn bài giảng, chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn thảo luận, tăng cường thời gian nghiên cứu khoa học; sinh viên phải tham gia học tập với thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm và tham khảo các tài liệu thích hợp với từng môn học, từng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của mỗi tín chỉ
Để đạt được điều đó đòi hỏi TTTT-TV trường ĐHCNHN cần có một
bộ sưu tập tài liệu đầy đủ: gồm sách giáo khoa, tài liệu phê bình khảo cứu, băng hình, đĩa CD-ROM Các sưu tập này phải rất phong phú, bao gồm các lĩnh vực của giáo trình đại học với một tuyển tập sách tham khảo thật đầy đủ
và có tính cách bác học để giúp sinh viên tìm tòi, khảo cứu, đồng thời giúp ban giảng huấn cải tiến phương pháp giảng dạy ở đại học, nhằm chuyển phương pháp giảng dạy từ thuyết trình sang phương pháp dạy học nêu tình huống có vấn đề thảo luận
Trang 39Hơn nữa Khi thực hiện phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ thì, để đạt yêu cầu mỗi môn học, sinh viên cần tham khảo lượng tài liệu khá lớn, do điều kiện kinh phí có hạn mà thông tin khoa học đang trong quá trình gia tăng mạnh mẽ Trong khi đó, có rất nhiều môn học sẽ được giảng dạy trong nhiều trường đại học khác nhau và trong những thời điểm khác nhau Bởi vậy, sẽ tiết kiệm kinh phí chung, đồng thời sử dụng tối đa các NLTT của các trường đại học nếu có biện pháp hữu hiệu trong việc chia sẻ NLTT giữa các trường Đặc biệt việc chia sẻ NLTT với các cơ sở đào tạo có liên quan ngoài nước sẽ tạo cơ hội giao lưu và cập nhật kiến thức mới cho giảng viên và sinh viên nhanh nhất
Như vậy, bằng việc phát triển kho tài liệu cả hai dạng giấy và điện tử, phấn đấu đạt đầy đủ số đầu sách, giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng việt và tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của người dạy - người học có như thế mới đáp ứng nhu cầu cho sinh viên
- Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tin bằng nhiều phương thức khác nhau:
Đổi mới phương pháp dạy và học theo học chế tín chỉ bắt buộc giảng viên và sinh viên phải tham khảo nhiều tài liệu hơn, cần nhiều thông tin hơn, tần suất sử dụng các tài liệu lớn hơn, đòi hỏi các thư viện phải đưa ra rất nhiều giải pháp khả thi trong việc cung cấp tài liệu cho người học một cách đầy đủ nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất và chính xác nhất để đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của NDT Mỗi sinh viên phải dành nhiều thời gian để
tự học, tự nghiên cứu mới có thể hoàn thành có số tín chỉ đã qui định
Vì vậy, TTTT-TV cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và sản phẩm TT-TV Mở rộng các dịch vụ điện tử, chủ động giới thiệu và cung cấp thông tin cho người đọc, NDT Cần có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa các sản phẩm - dịch vụ truyền thống với các sản phẩm dịch vụ hiện đại để làm tăng
Trang 40chất lượng phục vụ bạn đọc Cần mở rộng và tăng cường bổ sung các tài liệu điện tử và các tài liệu ngoài sách vì đây là một bộ phận quan trọng trong thư viện hiện đại Phấn đấu nối mạng giữa các thư viện với nhau trong hệ thống
và thư viện bên ngoài nhằm làm phong phú thêm nguồn thông tin, tăng cường khả năng khai thác tài liệu phục vụ nhu cầu của cán bộ và sinh viên cung cấp thông tin phù hợp với nhu cầu, trình độ và tập quán của từng nhóm NDT tìm hiểu chương trình học tập của từng chuyên ngành nhỏ, từng nhóm NDT theo chương trình học tập để thiết kế các dịch vụ thông tin phù hợp với họ, lôi cuốn và hấp dẫn họ trước hết vì giá trị của thông tin và sự tiện lợi trong quá trình sử dụng dịch vụ đó NCT của họ cũng theo đó mà phát triển cao hơn, phong phú hơn Đó là điều kiện quan trọng hình thành và phát triển tính tích cực trong học tập và nghiên cứu của sinh viên
- Đảm bảo không gian thuận lợi cho người dùng tin:
Phương thức đào tạo theo tín chỉ đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy - học, tạo cho sinh viên thói quen tự học, tự nghiên cứu, tự khám phá kiến thức, có kỹ năng giải quyết vấn đề để chủ động thời gian hoàn thành một môn học Điều này sẽ làm xuất hiện nhiều thời gian rảnh rỗi không
có giáo viên trong quá trình dạy - học, sinh viên tìm đến thư viện để đọc tài liệu, tìm kiếm thông tin tư liệu trên sách, báo - tạp chí và trên Internet
Vì vậy, đòi hỏi thư viện phải mở rộng cả về hình thức phục vụ và qui
mô hoạt động Qui mô của thư viện phải đáp ứng một số lượng bạn đọc tăng lên gấp nhiều lần Thư viện phải hình thành nhiều khu vực học tập khác nhau đáp ứng nhu cầu sử dụng tối đa nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của thư viện và đáp ứng nhu cầu đa dạng của SV Đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi các TTTT-TV không chỉ có đầy đủ nguồn tài liệu mà còn là môi trường tốt và không gian tốt để học tập và nghiên cứu Mô hình đào tạo này đòi hỏi sinh viên tính tự giác, tự lập cao với thời lượng tự học, tự nghiên cứu tại thư viện