1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động nhà văn hóa thôn tổ dân phố ở thành phố bắc giang

154 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Hoạt Động Nhà Văn Hóa Thôn, Tổ Dân Phố Ở Thành Phố Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Quách Hải
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Văn Hóa
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, cụ thể về quản lý hoạt động nhà văn hoá trong giai đoạn hiện nay cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, cụ thể thông qua một số t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

NGUYỄN QUÁCH HẢI

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA THÔN,TỔ DÂN PHỐ Ở THÁNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN LÝ VĂN HÓA

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ VĂN HÓA Ở

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

1.1 Hệ thống lý luận chung về quản lý văn hóa

1.1.1 Khái niệm về văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa

1.1.2 Quản lý Nhà nước về văn hóa

1.1.3 Khái niệm về thiết chế văn hóa

1.2 Tổng quan về thành phố Bắc Giang

1.2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

1.2.2 Lịch sử hình thành

1.2.3 Thành phần cư dân và đời sống kinh tế

1.2.4 Đời sống văn hóa

1.3.Vai trò của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố đối với đời sống xã hội ở

thành phố Bắc Giang

1.3.1 Khái niệm về nhà văn hóa; nhà văn hóa thôn, tổ dân phố

1.3.2 Chức năng của nhà văn hóa

1.3.3 Nhiệm vụ của nhà văn hóa

1.3.4 Đóng góp của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố với đời sống xã hội

Tiểu kết chương 1

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA

THÔN, TỔ DÂN PHỐ Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG

2.1 Cơ chế quản lý

2.1.1 Phòng Văn hóa & Thông tin

2.1.2 Trung tâm Văn hoá - Thể thao

2.1.3 Ban văn hoá xã hội phường, xã

2.1.4 Chủ nhiệm nhà văn hóa

2.2 Thực trạng quản lý hoạt động

0304

12121618

20212223

29313334

38424546

Trang 3

2.2.1 Tình hình chung về các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố ở thành phố Bắc Giang

2.2.2 Thực trạng quản lý họat động nhà văn hóa

2.3 Một số nhận xét đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của quản

lý họat động nhà văn hóa

2.3.1 Ưu điểm

2.3.2 Hạn chế

2.3.3 Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến hạn chế

Tiểu kết chương 2

Chương 3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN

HÓA THÔN, TỔ DÂN PHỐ Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG

3.1 Định hướng quản lý hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố

3.1.1 Quản lý hoạt động nhà văn hóa trong điều kiện hiện nay

3.1.2 Cơ chế quản lý nhà văn hoá trong điều kiện kinh tế thị trường

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động nhà văn hóa

3.2.1 Đổi mới về cơ chế quản lý phù hợp với đường lối của Đảng

3.2.2 Nghiên cứu, đề xuất, hoàn thiện cơ chế và chính sách văn hóa

3.2.3 Đối với công tác quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ cơ sở

3.3 Các biện pháp cụ thể

3.3.1 Đầu tư trang bị cơ sở vật chất và mở rộng các hình thức hoạt động của các nhà văn hóa

3.3.2 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ và chính quyền

3.3.3 Quan tâm chú trọng đối với công tác cán bộ và đào tạo cán bộ

707172

7778

808385

879092

97100106

Trang 4

Nhà văn hóa Nhà xuất bản

Ủy ban nhân dân

United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

Xã hội chủ nghĩa Quản lý nhà nước Lịch sử văn hóa Khoa học kỹ thuật Văn hóa và thông tin Hội đồng nhân dân

An toàn giao thông Vận động viên Kinh tế - xã hội Mặt trận tổ quốc Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Gia đình văn hóa

Nghị định - Chính phủ Tiểu thủ công nghiệp

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố là một thiết chế nằm trong hệ thống thiết chế văn hóa cấp cuối cùng ở cơ sở, nó gắn liền với cộng đồng dân cư Đây chính là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng phục vụ cho các lứa tuổi và là nơi hoạt động của các phong trào văn hoá văn nghệ, TDTT Nơi hội họp, tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước, của các thôn, tổ dân phố Nhà Văn hóa thôn, tổ dân phố có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội của địa phương và nằm trong chuỗi liên hoàn của

hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở Nhà văn hoá thôn, tổ dân phố gắn liền với sinh hoạt của người dân và có điều kiện thuận lợi cho hoạt động của mọi tổ chức chính trị xã hội ở thôn, tổ dân phố Đồng thời đây cũng là điểm vui chơi thanh thiếu niên là cầu nối với các hoạt động của trung tâm Văn hóa-Thể thao cấp huyện, thành phố tới trung tâm Văn hoá cấp tỉnh, cấp cao nhất là cục Văn hoá thông tin cơ sở - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

1.2 Thành phố Bắc Giang được thành lập tháng 6 năm 2005 theo Nghị định 75/NĐ-CP của Chính phủ; Trên cơ sở toàn bộ địa giới hành chính thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang gồm 7 phường 4 xã, với tổng diện tích 32,2 Km2 Dân số : 126.810 người Hiện nay thành phố Bắc Giang có 99 thôn, tổ dân phố có nhà sinh hoạt văn hoá trên tổng số 107 thôn, tổ dân phố Các nhà sinh hoạt văn hoá đã, đang hoạt động tích cực và phát huy có hiệu quả, tuy nhiên trong thực tế ngoài những nhà sinh hoạt văn hoá hoạt động có hiệu quả thì một số không nhỏ nhà sinh hoạt văn hoá cuả thôn, tổ dân phố còn hoạt động mang tính hình thức, khiên cưỡng, hiệu quả hoạt động không cao Điều này

còn phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân (cả khách quan, chủ quan) một trong

Trang 6

những nguyên nhân cơ bản ®ược xác định mang tính then chốt đó là vấn đề quản lý, chỉ đạo hoạt động của các nhà văn hoá

1.3 Để đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc, cụ thể về quản lý hoạt động nhà văn hoá trong giai đoạn hiện nay cần có những nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, cụ thể thông qua một số trường hợp lựa chọn tiêu biểu

để từ đó có như những nhận xét, đánh giá hiệu quả của quản lý hoạt động, công tác chỉ đạo chuyên môn của các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố Đồng thời tìm ra những giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động các nhà sinh hoạt văn hóa, thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

1.4 Là một cán bộ đang tham gia trực tiếp vào hoạt động Văn hoá thông tin tại thành phố Bắc Giang, mong muốn được mang những kiến thức tiếp thu được trong học tập để trực tiếp khảo sát, nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý hoạt động thiết chế văn hoá cơ sở, cụ thể là các nhà sinh hoạt văn hóa thôn, tổ dân phố Trên cơ sở đó thấy được những điểm mạnh, những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý hoạt động của các nhà văn hoá; nghiên cứu đề xuất ra những giải pháp tăng cường quản lý hoạt động của các nhà sinh hoạt văn hoá cơ sở

Để đạt được những nội dung cơ bản trên, được sự đồng ý của cơ sở

đào tạo tôi chọn đề tài “QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA THÔN, TỔ DÂN PHỐ Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Văn hoá khoá 2009-2011

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan về Thành phố Bắc Giang Đặc điểm hệ thống thiết chế nhà văn hóa thôn, tổ dân phố của thành phố Bắc Giang

Trang 7

Nghiên cứu cơ sở lý luận, tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp quy định về chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố Về vai trò, chức năng, nhiệm vụ cuả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở

(cụ thể là các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố) Nghiên cứu hệ thống quản lý

văn hóa, quản lý hoạt động văn hóa ở thành phố Bắc Giang

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động của các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố ở 03 phường, 02 xã tại thành phố Bắc Giang thông qua một số trường hợp lựa chọn

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Bắc Giang

3 Tình hình nghiên cứu

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII của Đảng, quản lý văn hóa nói chung, quản lý thiết chế văn hóa ở cơ sở nói riêng đối với từng cấp, từng địa phương cụ thể có nhiều vấn đề cả lý luận

và thực tiễn cần được nghiên cứu làm sáng tỏ Chính vì thế vấn đề này đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, những nhà lãnh đạo quản lý các cấp Có thể khái quát về phương diện lý luận cũng như thực tiễn chỉ đạo hoạt động có liên quan đến đề tài như sau:

3.1.Nhóm thứ nhất

Nghiên cứu quan điểm chỉ đạo của Đảng, nhà nước đối với công tác quản lý văn hóa và quản lý thiết chế văn hóa cơ sở trong giai đoạn hiện nay Với những văn bản pháp quy, các Luật, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư, Các đề án…về phát triển Văn hóa - Xã hội có nội dung liên quan tới công tác quản lý văn hóa cũng như phát triển thiết chế văn hóa cơ sở Điều này được thể hiện trong các văn kiện của Đảng:

Trang 8

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII; IX; X, Nghị quyết trung ương V khóa VIII, kết luận hội nghị trung ương X khóa IX…

Thực hiện chủ trương của Đảng, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, các Luật, nghị định hướng dẫn thi hành Các Chỉ thị, Thông tư về phát triển Kinh tế - Xã hội, phát triển văn hóa có nội dung liên quan đến vấn

đề quản lý văn hóa và phát triển thiết chế văn hóa cơ sở

Các luật có liên quan: Luật Di sản văn hóa, Luật Xuất bản, Luật điện ảnh, Luật thư viện, Luật Báo chí, Luật sở hữu trí tuệ…

Quyết định số: 271/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hoá thông tin cơ sở đến năm 2010

Quyết định số: 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của thủ tướng chính phủ về chiến lược phát triển Văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010-2020

Nghị quyết của chính phủ Số: 05/2005/NQ-CP, ngày18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao…

Có thể nhận thấy trong quá trình đổi mới đất nước, Nhà nước đã ban hành khá nhiều chế định về văn hóa để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước trong việc định hướng, quản lý và phát triển văn hóa nói chung, các thiết chế văn hóa ở cơ sở nói riêng Hệ thống chính sách đó thể hiện từ nhận thức về vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước đồng thời khẳng định vai trò của các thiết chế văn hóa trong việc phát triển Kinh tế - Xã hội của mỗi địa phương Khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu nhưng đồng thời cũng là động lực để phát triển KT-XH

Trang 9

lý thuyết về nhà văn hóa (trung tâm văn hóa) thời kỳ này đã tạo điều kiện để

những nhà nghiên cứu ở Việt Nam nghiên cứu về thực tiễn quản lý và hoạt động nhà văn hóa trong bối cảnh và điều kiện ở nước ta hiện nay Có thể nhắc đến với các tác giả và tài liệu như:

Quản lý hoạt động văn hóa của tập thể tác giả Phan Văn Tú-Nguyễn Văn Hy-Hoàng Sơn Cường-Lê Thị Hiền-Trần Thị Diên (1998) Cơ sở lý luận của quản lý văn hóa của tác giả Phan Văn Tú, tác giả Trần Văn Ánh (2002)

Công tác quản lý nhà văn hóa huyện, tác giả Nguyễn Văn Hy (1994); Đại cương nhà văn hóa - Câu lạc bộ, tác giả Bùi Quý (1988), “Phương pháp quản lý nhà văn hóa với quan điểm tổng hợp” (Tài liệu nghiệp vụ nhà văn hóa trung ương) Đại cương Nhà văn hoá - Câu lạc bộ, tác giả Nguyễn Văn Hy

(2010)

Đặc biệt giáo trình Đại cương về khoa học quản lý của PGS-TS Phan

Văn Tú (1999) nêu khá rõ về khoa học quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý Các tác giả trên đã trình bày khá nghiêm túc và sâu sắc về phương pháp quản lý nói chung và quản lý thiết chế văn hóa nói riêng trong đó có quản lý nhà văn hóa Đồng thời các tác giả đã chú ý và trình bày những quan điểm chung về nhà văn hóa, hoặc lồng ghép tổ chức hoạt động nhà văn hóa trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở mà chưa tìm hiểu sâu về đặc điểm của các đối tượng phục vụ của nhà văn hóa cũng như cách thức quản lý

Trang 10

hoạt động nhà văn hóa đặc biệt là nhà văn hóa thôn, tổ dân phố mà đây lại là vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc tổ chức quản lý hoạt động nhà văn hóa các cấp, trong đó có nhà văn hóa thôn, tổ dân phố ở mỗi địa phương

3.3 Nhóm thứ ba

Một số luận văn Thạc sỹ quản lý văn hóa của trường Đại học Văn hóa

Hà Nội và các đề tài khoa học liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động cũng như tổ chức thực hiện của những thiết chế văn hóa cơ sở:

- Luận văn thạc sỹ quản lý văn hóa của tác giả Đinh Công Tuấn (Khóa 2006-2009) “Quản lý hoạt động của các trung tâm Văn hóa -Thể thao cấp

quận trên địa bàn Hà Nội”

- Luận văn thạc sỹ quản lý văn hóa của tác giả Lê Thanh Trung (Khóa 2006-2009) “Quản lý nhà nước trên địa bàn quận Cầu Giấy-thành phố Hà Nội

hiện nay”

- Đề án số 10/2007/ĐA-UBND ngày 03 tháng 5 năm 2007 của UBND

tỉnh Bắc Giang về: Xây dựng, củng cố và nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa thông tin tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2006-2010

- Đề án số 02, xây dựng và phát triển đời sống Văn hóa, xây dựng nếp

sống Văn minh đô thị thành phố Bắc Giang giai đoạn 2006 – 2010 (Theo Nghị quyết số 29-NQ/TU ngày 23/5/2006 của thành uỷ Bắc Giang)

- Đề án số 27/ĐA-UB ngày 02/01/1999 của UBND thành phố Bắc

Giang về xây dựng nhà sinh hoạt văn hoá thôn, cụm dân cư ở thành phố Bắc Giang

Ngoài ra còn có số lượng những bài viết đã đăng trên tạp chí văn hóa

cơ sở của Cục văn hóa thông tin cơ sở Trên các báo chuyên ngành liên quan đến quản lý văn hóa và quản lý thiết chế văn hóa cơ sở với nhiều cách đánh giá cũng như cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề quản lý nhà văn hóa cấp thôn, tổ dân

Trang 11

phố với đóng góp của nhà văn hóa và những mặt mạnh yếu cuả nó vì vậy việc nghiên cứu đề tài:

“QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA THÔN, TỔ DÂN PHỐ Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG” là một đề tài mới không trùng với bất

kỳ công trình nào đã từng được công bố

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã có ý thức nghiên cứu kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó cả lý luận và thực tiễn của hoạt động thiết chế văn hóa cơ sở Đồng thời thận trọng trong tiếp cận, nghiên cứu hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố để có cái nhìn đầy đủ cũng như giải quyết những yêu cầu cơ bản đặt ra của đề tài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố tại thành phố Bắc Giang

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

Phương pháp điều tra, khảo sát (chọn mẫu để nghiên cứu) Phương

pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp Đặc biệt luận văn chú trọng sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khoa học quản lý văn hóa, xã hội học, chính trị học để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra của đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác quản lý

thiết chế văn hóa cơ sở và hoạt động quản lý nhà văn hóa

Kết quả điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà văn hóa ở thành phố Bắc Giang và những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động nhà văn hóa sẽ là cơ sở để vận dụng cho việc đổi mới công tác quản lý thiết chế văn hóa cơ sở ở thành phố Bắc Giang nói riêng cũng như ở các địa phương khác nói chung

Những kết quả mà luận văn đạt được có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy, là bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý hoạt động văn hóa trong quá trình đổi mới và phát triển Kinh tế - Xã hội của mỗi địa phương

7 Bố cục của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý nhà văn hóa ở thành phố Bắc Giang

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố ở thành phố Bắc Giang.

Chương 3: Nâng cao chất lượng quản lý hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố ở thành phố Bắc Giang

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ VĂN HÓA

Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG

1.1 Hệ thống lý luận chung về quản lý văn hóa

1.1.1 Khái niệm về văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa

Khái niệm về văn hóa

Văn hóa là khái niệm rộng khắp đối với mọi mặt của đời sống xã hội Trong cuộc sống người ta thường nhìn nhận với những khái niệm dựa theo cách tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu Vì thế có nhiều quan điểm và quan niệm về văn hóa Một số nhà nghiên cứu Macxit cho rằng văn hóa là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội được thể hiện ở trình độ phát triển năng lực bản chất của con người mà cốt lõi là hoạt động lao động sáng tạo trong chinh phục tự nhiên, cải tạo và xây dựng xã hội cũng như hoàn thiện nhân cách con người để vươn tới cái đúng, cái đẹp, cái cao cả Những năng lực bản chất người đó được khách quan và chuẩn mực hóa thành những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà con người đó sáng tạo ra trong lịch sử Được đo bằng trình

độ học vấn tức là trình độ tiếp thu và vận dụng những kiến thức khoa học Trong văn hóa, nhân tố hàng đầu chính là sự hiểu biết Sự hiểu biết trong thời đại ngày nay vì thế có nhiều cách định nghĩa và khái niệm về văn hóa nhưng theo Federico Mayor nguyên tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cả cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ

và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên

hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu- đặc trưng riêng của mỗi dân tộc”

Theo quan niệm của UNESCO, Văn hóa là những gì đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc và mỗi quốc gia được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, là những cái có giá trị nhất Văn hóa bao

Trang 14

gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; có thể nêu tại đây định nghĩa về văn hóa của UNESCO được thông qua trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì tại Mêhicô ngày 26 tháng 7 đến ngày 06 tháng 8 năm 1982:

Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ

và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đó làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có

óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân[38, tr.7]

Cũng trong Nghị quyết hội nghị lần thứ năm, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (Khóa VIII) đề cập tới khái niệm về văn hóa:

Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam

đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ

lịch sử vẻ vang của dân tộc

…Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là

động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội [23, tr 55-56].

Trang 15

Đây là thể hiện nhận thức, quan điểm cũng như tư tưởng của Đảng ta

về văn hóa Với quan niệm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, khái niệm văn hóa được mở rộng hơn, phong phú hơn về nội dung Văn hóa không chỉ bao gồm các hoạt động về nghệ thuật, thông tin, báo chí… là những hoạt động thuộc sự quản lý của bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch mà văn hóa cũng bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau về đạo đức, tư tưởng, dân trí, lối sống, tập quán tín ngưỡng hay là khoa học công nghệ…của dân tộc Việt Nam Nhìn nhận về văn hóa chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [27, tr 431]

Như vậy, văn hóa trước hết là những giá trị do con người sáng tạo ra, nhưng văn hóa được biểu hiện không những là phương thức ứng xử với việc giáo dục, đào tạo con người ở mô hình thiết chế xã hội mà văn hóa cũng biểu hiện ở trình độ tổ chức quản lý xã hội Trong đời sống xã hội, con người với

tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa nhưng con người cũng đồng thời là sản phẩm của chính quá trình sáng tạo ra văn hóa Hoạt động quản lý văn hóa mang ý nghĩa sáng tạo giá trị và hệ giá trị xã hội đó cũng chỉ trình độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử

Khái niệm quản lý hoạt động văn hóa

Quản lý là một khoa học dựa trên những cơ sở vận dụng những quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau nhưng đồng thời quản lý cũng là

Trang 16

một nghệ thuật Ở các nước phương tây theo như ngôn ngữ La tinh cổ đại, khái niệm Quản lý “Manus” có nghĩa là bàn tay, cũng thực hiện quản lý là

“Nắm trong bàn tay” Đối với chữ Hán thư quản lý là sắp xếp, xử lý và chỉ đạo Vì thế quản lý xã hội là sự tác động đến xã hội nhằm mục đích để duy trì những đặc điểm về chất để điều chỉnh, hoàn thiện cũng như phát triển các đặc điểm đó Nhưng các hình thức quản lý luôn có ý thức gắn liền với những hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người thực hiện thông qua thể chế xã hội và mục đích, nội dung, cơ chế quản lý và phương pháp quản lý các hiện tượng xã hội tùy thuộc vào thể chế chính trị và chế độ chính trị Theo giáo sư Mai Hữu Khuê:

Quản lý hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành

vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định [29, tr 61]

Nhưng xét về phương diện thao tác thực hành thì trong quản lý hoạt động văn hóa cũng phân biệt hai hình thức quản lý khác nhau đó là quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệp đối với các hoạt động văn hóa Quản lý nhà

nước thuộc chức trách của nhà nước (Chính phủ, Bộ, UBND các cấp, Sở, Phòng) thông qua các thể chế, Luật, chính sách và kế hoạch nhà nước…Quản

lý sự nghiệp văn hóa là quản lý về phương diện chuyên môn theo từng chuyên ngành của hoạt động văn hóa Phương diện quản lý này thuộc trách nhiệm, chức trách của từng hệ thống thiết chế chuyên ngành thông qua việc xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động, các biện pháp chỉ đạo, hướng dẫn của hệ thống thiết chế văn hóa ở các cấp Với tư cách là một mặt của hoạt động quản lý trên các lĩnh vực, công cụ quản lý nhà nước đối với văn hóa, trong điều kiện

xã hội ở nước ta quản lý nhà nước đối với văn hóa cũng có cả bộ phận chuyên trách trực thuộc các cơ quan theo sự phân cấp của Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch

Trang 17

Với cách nhân rộng đó và đơn giản có thể hiểu khái niệm Quản lý hoạt động văn hóa Là sự huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực để đạt được mục tiêu văn hóa đã xác định trước

1.1.2 Quản lý Nhà nước về văn hóa

Về mặt lý luận, văn hóa là khái niệm đa nghĩa, thẩm thấu trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của đời sống xã hội, khó thống nhất được một định nghĩa bao quát song ở góc độ quản lý nhà nước lại cần một cách nhận thức thực hành thực tiễn với văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa đòi hỏi cần giới hạn văn hóa ở một phạm vi hẹp và ở những hoạt động cụ thể Quản lý Nhà nước về văn hóa, về bản chất chính là sự định hướng và tạo điều kiện, tổ chức và điều hành của Nhà nước để cho văn hóa phát triển theo hướng có ích cho con người giúp cho xã hội phát triển Trong quản lý văn hóa, ngoài việc quản lý của nhà nước cũng có các hình thức tự quản của nhân dân trong việc bảo vệ và phát triển nền văn hóa của mỗi dân tộc Xây dựng cơ chế quản lý văn hóa trên cơ sở nguyên tắc chặt chẽ nhưng rộng rãi, không gò bó đảm bảo quyền tự do, dân chủ của mỗi công dân Vì thế quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa là một tất yếu khách quan Do hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, là hoạt động tư tưởng đồng thời cũng là hoạt động kinh tế, cho nên quản lý văn hóa là hoạt động xã hội mang tính đặc thù Việc quản lý văn hóa được thực hiện bởi hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến phát triển văn hóa

Vì vậy ta có thể hiểu quản lý nhà nước về văn hóa với những khái niệm chính, cơ bản là:

Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của một nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc [49, tr 18]

Trang 18

Quản lý nhà nước về văn hóa cốt lõi chính là việc hoạch định phương hướng, chính sách về phát triển văn hóa Quản lý văn hóa không chỉ ngăn chặn đẩy lùi các hủ tục và tệ nạn xã hội mà cần xây dựng đổi mới hay thay đổi tốt đẹp để tạo cơ sở và điều kiện cho xã hội phát triển Quản lý nhà nước

về văn hóa là thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực văn hóa bởi cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về văn hóa là cơ quan quản lý thẩm quyền riêng thống nhất từ trung ương xuống địa phương Quản lý các tổ chức điều hành các thiết chế, các tổ chức văn hóa hoạt động theo chương trình, kế hoạch quốc gia Xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa, tổ chức thanh tra và kiểm tra về văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa cũng có những đặc điểm riêng nhất định của nó

- Quản lý nhà nước luôn mang tính quyền lực Nhà nước có tính tổ chức chặt chẽ Mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý đều mang tính một chiều bắt buộc thực hiện và khi cần thiết chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành Mọi mệnh lệnh và quyết định quản lý phải được chấp hành nghiêm và triệt để, xác định từ trách nhiệm của tập thể, trách nhiệm cá nhân, biện pháp xử lý và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm

- Trên cơ sở của pháp luật, quản lý nhà nước chính là hoạt động có tính chủ động cao, linh hoạt và sáng tạo trong thực tiễn quản lý và điều hành Trên những cơ sở pháp luật và mục tiêu định hướng thực hiện kế hoạch của cấp trên Đồng thời đối với những cơ sở mục tiêu, chiến lược, định hướng lâu dài

đó được xác định, các cơ quan quản lý các cấp cần phát huy tính chủ động sáng tạo trong quản lý điều hành nhằm động viên, phát huy tiềm năng sáng tạo để tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện có hiệu lực và hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình

- Quản lý nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ công khai, biết lắng nghe và tôn trọng nhân dân, quản lý tốt sẽ góp phần tích cực trong việc

Trang 19

phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, dân tộc đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay Cơ chế quản lý văn hóa là hệ thống nguyên tắc, hình thức và phương thức quản lý trong từng giai đoạn nhất định của phát triển văn hóa Cơ chế quản lý văn hóa bao gồm các

cơ sở pháp lý như Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, các thể chế văn hóa và hệ thống chính sách gắn liền với xây dựng chiến lược phát triển văn hóa và các thiết chế văn hóa tương ứng cho các hoạt động văn hóa Đây cũng chính là công cụ cơ bản để thông qua đó nhà nước và ngành văn hóa quản lý tốt đối với các hoạt động văn hóa nói chung và hoạt động của các thiết chế văn hóa nói riêng

1.1.3 Khái niệm về thiết chế văn hóa

Hệ thống thiết chế văn hóa là một bộ phận của thể chế văn hóa nước ta Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII đã xác định 10 nhiệm vụ cơ bản để xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong đó đã xác định rõ: Nhà văn hóa, các câu lạc

bộ, bảo tàng, thư viện, cửa hàng sách báo, khu vui chơi giải trí gần đây đã có những phương thức, hoạt động mới có hiệu quả Thiết chế văn hóa là hệ thống của các cơ quan đơn vị sự nghiệp về văn hóa tiến hành các hoạt động

văn hóa (cả đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập) Các thiết chế văn

hóa công lập chính là các đơn vị sự nghiệp văn hóa do các cấp có thẩm quyền quyết định thành lập Những thiết chế văn hóa ngoài công lập do các tổ chức,

cá nhân lập ra để kinh doanh phục vụ nhu cầu giải trí của nhân dân

Qua nghiên cứu và tìm hiểu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ chính của các thiết chế văn hóa trên cơ sở các văn bản hướng dẫn hoạt động của những

cơ quan quản lý văn hóa thì thiết chế văn hóa được hiểu gồm các bộ phận cơ bản hợp thành:

- Là cơ sở vật chất kỹ thuật, những điều kiện cần có tối thiểu cho hoạt động văn hóa: Diện tích đất quy hoạch, trụ sở làm việc, hội trường, trang thiết

bị máy móc phục vụ cho hoạt động

Trang 20

- Là một tổ chức bộ máy do con người tiến hành quản lý: Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do doanh nghiệp quyết định thành lập, hay do nhân dân cử ra để vận hành, phát huy vai trò của thiết chế trong đời sống như nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, khu vui chơi giải trí…

- Bộ máy quản lý vận hành đó có cơ chế hoạt động nội tại do các cơ quan chức năng có thẩm quyền quy định với những quy tắc, quy chế, những quy định hoạt động của thiết chế đối với bên ngoài Các cơ chế vận hành với những nguyên lý quy định của cá nhân, tổ chức vận hành trong thiết chế đó Một điều rất quan trọng quyết định thành công của thiết chế đó là cần có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, của cộng đồng vào hoạt động của các thiết chế đó

- Nguồn kinh phí để thiết chế văn hóa hoạt động do nhà nước cấp cho các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập Ngoài ra còn do nhân dân hay các tổ chức, cá nhân đóng góp.Vì vậy để hiểu một cách khái quát nhất thì trong từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4, trang 230 đã nêu khái niệm về thiết chế văn hóa:

“ Thiết chế văn hóa là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 (thế kỷ XX) Là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí Chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa thì chưa đủ gọi là thiết chế văn hóa”

Có thể hiểu thiết chế văn hóa là một tổ chức sự nghiệp công lập (phi công lập) tiến hành các hoạt động văn hóa: Hoạt động sáng tạo văn hóa, hoạt động bảo quản lưu giữ các giá trị, các sản phẩm văn hóa, hoạt động truyền bá

tư tưởng văn hóa cũng như tiêu thụ, tiêu dùng văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thỏa mãn văn hóa của con người cũng như hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của đông đảo quần chúng nhân dân

Trang 21

1.2 Tổng quan về thành phố Bắc Giang

1.2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

Thành phố Bắc Giang nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa trung du và đồng bằng Bắc bộ bao quanh vĩ độ 2116’ bắc và kinh độ 106 26’ đông, cách Hà Nội 51 km về phía bắc, có vị trí trọng yếu về quân sự, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Bắc Giang Nơi đây đã từng là phủ lỵ của Phủ

Lạng Giang (Thành Xương Giang, thành Châu Xuyên) huyện lỵ Bảo Lộc (Thành Nam Xương, thành Thọ Xương), huyện lỵ Phượng Nhãn (thành Dĩnh Kế) [6, tr.9]. Nhân dân địa phương đã đổ nhiều xương máu đánh đuổi giặc Tống, giặc Nguyên, giặc Minh, giặc Thanh để bảo vệ nền độc lập của đất nước Nhờ đó mà từng tên đất, tên người đều gắn với những địa danh và sống mãi với non sông đất nước Thành phố Bắc Giang là tỉnh lỵ củatỉnh Bắc Giang được thành lập tháng 10 năm 1895 đến tháng 3 năm 1963 Là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Bắc từ tháng 4 năm 1963 đến tháng 12 năm 1996 Là tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Giang được tái lập từ tháng 01 năm 1997 đến nay [20, tr.19]

Thành phố Bắc Giang được thành lập tháng 6 năm 2005 theo Nghị định 75/NĐ-CP của Chính phủ; Trên cơ sở toàn bộ địa giới hành chính thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, gồm 7 phường 4 xã, với tổng diện tích 32,2 Km2 Dân

số : 102.352 người Phía bắc giáp xã Xuân Hương (Lạng Giang), Quế Nham (Tân Yên), phía nam Giáp xã Đồng Sơn, Tân Tiến (Yên Dũng), phía đông giáp

xã Tân Dĩnh, Dĩnh Trì (Lạng Giang), và phía tây giáp xã Nghĩa Trung (Việt Yên), xã Tân Mỹ (Yên Dũng) Là tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Giang, nằm ở gần biên

giới phía Bắc Việt Nam Địa giới tỉnh Bắc Giang chạy dài theo hướng tây đông Địa hình dốc, nghiêng từ đông bắc xuống tây nam Vùng núi ở phía bắc

và phía đông chiếm khoảng 3-4 diện tích gồm các huyện Yên Thế, Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn Vùng đồi thấp có thành phố Bắc Giang và một phần của các huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Phần còn

Trang 22

lại là vùng đất phù sa ở ven sông Cầu và sông Thương Nhìn chung đặc điểm địa lý của thành phố Bắc Giang khá đa dạng thể hiện trên hai điểm:Vừa nằm trong khung cảnh vị trí địa lý che khuất cả về phía bắc lẫn phía đông nam và mức độ chia cắt của địa hình diễn ra không đều qua các vùng

1.2.2 Lịch sử hình thành

Hình thành từ đầu công nguyên, thành phố Bắc Giang vốn là cửa ngõ

từ đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi phía Bắc Địa thế này thực sự là phên dậu của kinh kỳ, là tấm giáp chắn che chở cho cả vùng đồng bằng châu thổ Bắc

Bộ Những tên đất, tên làng Thành, Vẽ, Dền, Xương Giang, Vĩnh Ninh, Dĩnh Kế… đó thực sự là niềm kiêu hãnh cho cả quê hương đặc biệt là vùng đất nổi danh với chiến thắng Xương Giang lịch sử chống quân Minh của dân tộc Ở đây từ xưa vốn là nơi đô hội, thủ phủ của một vùng đất rộng lớn, là phên dậu phía bắc của kinh thành Thăng Long Thành phố Bắc Giang qua các triều đại phong kiến đã từng là huyện lỵ Phượng Nhẫn phủ lỵ Lạng Giang, huyện lỵ Bảo Lộc Mùa xuân năm 1884 đã xuất hiện địa danh phủ Lạng Thương, ngày

11 tháng 7 năm 1888 đơn vị hành chính phủ Lạng Thương đã được thành lập Đến ngày 10 tháng 10 năm 1895 phủ Lạng Thương trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Giang và đến ngày 01 tháng 10 năm 1959 được đổi tên thành thị xã Bắc Giang Từ năm 1963 đến năm 1996 thị xã Bắc Giang là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Bắc Ngày 10/01/1997 tỉnh Bắc Giang được tái lập và thị xã Bắc Giang tiếp tục là tỉnh lỵ Ngày 07/6/2005 chính phủ có nghị định thành lập thành phố Bắc Giang thuộc tỉnh Bắc Giang

Trải qua từng giai đoạn lịch sử, nhân dân thị xã Bắc Giang luôn phát huy, tô thắm những truyền thống hào hùng của quê hương đất nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ thị xã Bắc Giang đã hai lần bị chiến tranh hủy diệt vẫn anh dũng, ngoan cường trong chiến đấu, chiến thắng và từng bước trưởng thành Thị xã Bắc

Trang 23

Giang đã ba lần vinh dự được đón Bác Hồ về thăm, được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hựng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ cứu nước, được chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì

Quá trình hình thành và phát triển đến nay, thành phố Bắc Giang có

diện tích 3.221 ha với 11 đơn vị hành chính (7 phường, 4 xã) dân số 126.810

người và hơn 200 cơ quan đơn vị của trung ương và tỉnh có trụ sở trên địa bàn thành phố Trong thời kỳ đổi mới, thành phố tiếp tục phấn đấu đạt nhiều thành tích nổi bật trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng

an ninh, xứng đáng là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa- xã hội, khoa học

kỹ thuật của tỉnh Bắc Giang Thành phố đã đóng góp quan trọng đối với phát triển trung tâm chuyên ngành và thế mạnh của vùng Đông Bắc tổ quốc Giữ vị trí chiến lược trong vành đai khu vực kinh tế trọng điểm Đông Bắc Bộ và hệ thống các đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội góp phần thúc đẩy phát triển kinh

tế và văn hóa các đô thị trong tỉnh và trong vùng

1.2.3 Thành phần cư dân và đời sống kinh tế

Cùng với sự phát triển nhanh của đô thị, dân cư, dân số ở thành phố Bắc Giang cũng không ngừng phát triển Theo số liệu thống kê năm 1931 trong Bắc Giang địa chí của Trịnh Như Tấu, xuất bản năm 1937, toàn tỉnh Bắc Giang lúc đó chưa đến 30 vạn dân Năm 1959 thị xã Bắc Giang có 12 tiểu khu với dân số 10.330 người Năm 1994, có 5 phường và 4 xã với dân số thị

xã là 91.417 người trên tổng diện tích là 30,5km2, mật độ dân số là 2.997,5 người/km2

Năm 2004, dân số là 102.140 người, trong đó nữ 51.639 người, thành thị là 70.153 người, nông thôn 31.987 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số 9,58% với mật độ dân số là 3172 người/km2 Tính đến năm 2009, diện tích thành phố Bắc Giang là 32,2 Km2 với tổng số dân là: 126.810 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ở mức dưới 0,95% [20, tr 31]

Trang 24

Thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Bắc Giang Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm (2005-2009) đạt 15,6%/ năm với cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực với thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế đạt 57,49%; Công nghiệp – TTCN và xây dựng chiếm 40,72%; Nông nghiệp thủy sản phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa để tăng giá trị sản xuất, giảm tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế chiếm 1,79% Giá trị sản xuất tăng thêm bình quân đầu người năm

2009 đạt 30 triệu đồng Thành phố đã tăng cường quản lý khai thác các nguồn

thu ngân sách, hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch giao (năm 2009 đạt 296 tỷ đồng, năm 2010 đạt 732 tỷ đồng ) Thành phố đã tự cân đối thu chi ngân sách

và có đóng góp vào ngân sách của tỉnh Bắc Giang

1.2.4 Đời sống văn hóa

Thực hiện nghị quyết trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng bộ thành phố Bắc Giang lần thứ XIX, đời sống văn hóa tinh

thần và nếp sống văn minh đô thị của nhân dân thành phố có chuyển biến tích cực trên hầu hết các lĩnh vực: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ trên địa bàn thành phố

Quản lý và thực hiện tốt công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị trong việc cưới, việc tang và các lễ nghi khác Quản lý và thực hiện quản lý nhà nước trên địa bàn có nhiều cố gắng và đạt được kết quả trên các lĩnh vực

- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào TDĐKXDĐSVH

Phong trào TDĐKXDĐSVH được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm và chỉ đạo sát sao, nhân dân thành phố tích cực hưởng ứng; trong những năm qua thành phố đã đạt được kết quả tốt qua 7 phong trào: Xây dựng gia

Trang 25

đình văn hóa, xây dựng thôn, tổ dân phố văn hóa, phong trào TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường học văn hóa Phong trào toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác

Hồ vĩ đại, phong trào lao động sáng tạo Phong trào xây dựng người tốt, việc tốt, xây dựng điển hình tiên tiến Năm 2006 tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 86,7%; Năm 2007 là 89%; Năm 2008 là 89%; Năm 2009 tỷ lệ GĐVH của thành phố đạt 90,2%; năm 2010 đạt 91,4% Số thôn, khu phố đạt danh hiệu thôn, tổ dân phố văn hóa năm 2006 là: 67,3%; Năm 2007 là: 58,1%; Năm

2008 là 68,2%; Năm 2009 là 84/107 đạt 78,5%, năm 2010 đạt 80% Tỷ lệ cơ quan văn hóa năm 2006 đạt 46%, năm 2007 đạt 54,8%, năm 2008 đạt 58%, năm 2009 đạt 70,2%, năm 2010 đạt 75%

Toàn thành phố hiện có 03 phường xã đạt đủ các tiêu chí của xã văn hóa và được UBND tỉnh Bắc Giang công nhận là xã Song Mai, xã Đa Mai và phường Trần Nguyên Hãn 100% thôn, tổ dân phố duy trì tốt phong trào khuyến học, khuyến tài cùng giúp nhau phát triển kinh tế Tỷ lệ hộ nghèo của thành phố giảm từ 0,79% năm 2006 xuống còn 0,41% năm 2009

Cuộc vận động TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư được các cấp ủy, chính quyền MTTQ và các đoàn thể phát động có hiệu quả Hàng năm 100% các thôn, tổ dân phố tổ chức tốt ngày hội đại đoàn kết toàn dân (18/11) Phong trào xây dựng cơ quan văn hóa có nhiều chuyển biến cả về số lượng và chất lượng, năm 2009 có 70,2% cơ quan đạt danh hiệu cơ quan văn hóa tăng 24,2% so với năm 2005 và đó trở thành động lực tích cực cũng như sức lan tỏa trong mỗi cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp Phong trào “ Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được nhân dân thành phố tích cực hưởng ứng thu hút 38,5% tỷ lệ dân số thành phố tham gia luyện tập TDTT thường xuyên, 80% cơ quan, đơn vị, phường xã có sân luyện tập TDTT Toàn thành phố có 126 CLB TDTT, 5320 gia đình được công nhận gia đình thể thao [55, tr 6]

Trang 26

- Hoạt động của các thiết chế văn hóa

Thành phố Bắc Giang đã chú trọng và từng bước quan tâm đầu tư cho

cơ sở vật chất để phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin Các thiết chế văn hóa

đã được quan tâm đầu tư xây dựng Hiện nay thành phố có 99/107 các thôn, tổ dân phố có nhà sinh hoạt văn hóa với tổng mức đầu tư xây dựng là

13.440.000.000 đ Trong đó ngân sách thành phố đầu tư là: 2.784.400.000 đ,

ngân sách của phường xã và nhân dân đóng góp là: 8.927.000.000 đ Kinh phí

xã hội hóa là: 1.728.600.000 đ Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa có nhiều tiến bộ ngoài đầu tư cho xây dựng thiết chế văn hóa thì trong các chương trình hội diễn và các giải thể dục thể thao hàng năm cũng được doanh nghiệp tài trợ hàng chục triệu đồng Việc huy động xã hội hóa đầu tư xây dựng nhà văn hóa và các thiết chế văn hóa ở thành phố Bắc Giang trong 5 năm, qua đó đã góp phần thúc đẩy và phát triển đời sống văn hóa của nhân dân thành phố Các điểm vui chơi cho thanh thiếu nhi đều được tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện

Đến nay thành phố có 06 điểm vui chơi, phường Hoàng Văn Thụ có sân bóng và khu vui chơi diện tích 3.150m2, phường Mỹ Độ, xã Song Mai đang quy hoạch diện tích vui chơi Xã Đa Mai với diện tích sân bóng đá gần 2000m2, xã Xương Giang và xã Dĩnh Kế đều có diện tích sân bóng đạt 2500m2

Thư viện thiếu nhi thành phố được cải tạo và đưa vào sử dụng cuối năm

2008 với diện tích phòng đọc cho các cháu thiếu nhi đạt 42m2 Hiện thư viện

có hơn 8400 bản sách, 08 loại báo và tạp chí phục vụ các cháu thiếu nhi trên địa bàn Toàn thành phố hiện có 4 thư viện cấp xã, phường là thư viện phường Trần Nguyên Hãn, Mỹ Độ, thư viện xã Đa Mai, Song Mai 93 nhà văn hóa có

tủ sách với tổng số sách hiện có ở các tủ sách cơ sở đạt 8725 bản sách, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và đọc sách báo trong cộng đồng dân cư 100% các

Trang 27

nhà sinh hoạt văn hóa đều có trang thiết bị cơ bản như bàn ghế, tăng âm loa máy để hội họp Một số nơi đã từng bước trang bị được tivi, đặc biệt tại xã Đa Mai các nhà văn hóa đều được trang bị ti vi phục vụ hoạt động

- Công tác tuyên truyền

Công tác thông tin tuyên truyền được chú trọng, chất lượng hoạt động của

hệ thống truyền thanh ngày càng được nâng cao bám sát và phục vụ có hiệu quả, dần đi vào nề nếp, chất lượng được nâng lên đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị trên địa bàn của thành phố Triển khai và thực hiện có

hiệu quả Đề án “ Phát triển sự nghiệp truyền thanh, truyền hình, thông tin tuyên truyền và báo chí thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của thành phố Bắc Giang giai đoạn 2007 – 2010” hàng năm đài truyền thanh thành phố biên

tập 159 chương trình với 1.386 tin bài, xây dựng 42 phóng sự trên “Trang truyền hình thành phố” phát sóng trên đài truyền hình tỉnh, 122 tin, bài, ảnh trên báo Bắc Giang

Hệ thống thông tin cổ động trực quan từ thành phố xuống xã, phường được đầu tư và nâng cấp Thành phố hiện nay có 02 cổng trào điện tử lớn đặt tại đầu đường Hùng Vương – quốc lộ 1A mới và đầu đường Trần Nguyên Hãn vào công ty đạm và hóa chất Hà Bắc; 08 cụm pa nô cỡ lớn đặt tại các cửa ngõ ra vào thành phố và các khu vực đông dân cư Hàng ngàn pa nô được lắp dựng trên các tuyến phố, tuyến đường chính của thành phố là: Đường Xương

Giang, đường 398 (Song Mai), đường Bảo Ngọc (Đa Mai), đường Nguyễn

Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Hoàng Văn Thụ, Xương Giang, Minh Khai, Hùng Vương, Đường Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn…

- Giữ gìn truyền thống văn hóa, bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đã

có nhiều cố gắng Hiện thành phố có 53 di tích lịch sử đình, chùa, miếu, nghè trong đó có 14 di tích được xếp hạng với 10 di tích cấp quốc gia, 04 di tích

Trang 28

cấp tỉnh, các di tích lịch sử được quan tâm đầu tư và tu bổ Đến nay, qua 5 năm số di tích được tôn tạo là 09 di tích gồm: Chùa Vẽ - phường Thọ Xương, chùa Thành - xã Xương Giang, đình Tiền Môn, nhà thờ Đạo Đường – phường

Lê Lợi, đình Đa Mai – xã Đa Mai; chùa Mỹ Độ - phường Mỹ Độ, khán đài B sân vận động – phường Ngô Quyền với tổng kinh phí đầu tư tôn tạo di tích ở thành phố là 4.459.000.000đ Thành phố Bắc Giang có tổng số 34 lễ hội các

cấp (Trong đó có 01 lễ hội cấp thành phố, 06 lễ hội cấp phường, xã, 27 lễ hội cấp thôn, tổ dân phố) Hàng năm các lễ hội đều được tổ chức trang trọng, đúng quy chế của bộ Văn hóa thông tin, (nay là bộ VH-TT&DL) đảm bảo vui

tươi, lành mạnh, an toàn và tiết kiệm, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và hưởng thụ văn hóa của người dân thành phố thu hút ngày càng đông đảo nhân dân tham gia góp phần bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, dân tộc

- Đội ngũ cán bộ

Đội ngũ cán bộ văn hóa thông tin từ thành phố đến phường xã được kiện toàn đủ về số lượng và chất lượng, từng bước được bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa cấp thành phố có 26 đồng chí trong đó có 16 đ/c có trình

độ đại học; 4 đồng chí có trình độ cao đẳng; 6 đồng chí có trình độ trung cấp

(Có 01 đồng chí có trình độ cao cấp và 03 đồng chí có trình độ trung cấp lý luận chính trị) Cán bộ văn hóa phường xã có 5/11 cán bộ có trình độ đại học

Công tác bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ được quan tâm hiện có 01 đồng chí đang hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành Quản

lý văn hóa; 04 đồng chí đang được bố trí học đại học chuyên ngành quản lý xã hội và quản lý văn hóa hệ tại chức Hàng năm mỗi cán bộ văn hóa ở cơ sở đều được cử tham gia bồi dưỡng tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ phục vụ công tác

Trang 29

- Công tác quản lý văn hóa

Thành phố Bắc Giang làm tốt công tác quản lý văn hóa trên địa bàn góp phần giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng môi trường văn hóa, quản lý và nắm chắc địa bàn, quan tâm và thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật Công tác quản lý văn hóa, dịch vụ văn hóa và hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa thường xuyên kiểm tra và xử lý nghiêm túc Trong 5 năm từ năm 2006 đến năm 2010 đã thu giữ được 8972 băng đĩa ca nhạc, sân khấu, 04 kg tài liệu tử

vi, 2181 đầu sách không được phép lưu hành, thành phố đã tiến hành xử phạt hành chính trên 60 trường hợp vi phạm với số tiền trên 100 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước Ngoài ra trong 02 năm 2009-2010 thành phố triển khai

thực hiện kế hoạch “ Nâng cao chất lượng đô thị và quản lý đô thị” và đã đạt

được những kết quả tích cực Vai trò quản lý nhà nước về trật tự đô thị được tăng cường, công tác quy hoạch và chỉnh trang đô thị, quản lý sử dụng đất đai,

vệ sinh môi trường, trật tự an toàn giao thông đã thu được kết quả tốt Việc cấm uống rượu và sử dụng thuốc lá trong giờ làm việc, nơi công sở được nhân dân và cán bộ đồng tình, tích cực hưởng ứng Công tác quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo, in ấn, internet có nhiều chuyển biến

rõ rệt

Có thể nhận thấy thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Bắc Giang, trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội ngoài những thuận lợi thì những khó khăn thách thức đặt ra đối với những người làm công tác văn hóa, quản lý văn hóa là hết sức cấp thiết Vừa đảm bảo xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tạo những sân chơi lành mạnh trong cộng đồng dân cư đối với các hoạt động văn hóa Đồng thời nêu cao vai trò quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thành phố đảm bảo định hướng tuyên truyền trong nhân dân hướng tới một môi trường phát triển văn hóa bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trang 30

1.3 Vai trò của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố đối với đời sống xã hội ở thành phố Bắc Giang

1.3.1 Khái niệm về nhà văn hóa; nhà văn hóa thôn, tổ dân phố

Khái niệm về nhà văn hóa

Nhà văn hóa là một thiết chế văn hóa nằm trong hệ thống của thiết chế văn hóa phục vụ nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa của nhân dân Có nhiều cách gọi và hiểu khác nhau về nhà văn hóa như: Nhà văn hóa, Cung văn hóa, (nhà) CLB, nhà văn hóa hoặc Trung tâm văn hóa Ngoài ra cũng có thể kể đến một số loại hình thiết chế văn hóa khác có cùng hàm nghĩa như Trung tâm văn hóa thanh thiếu nhi, cung thiếu nhi Do có nhiều cách gọi, tên gọi khác nhau nhưng nếu hiểu đúng bản chất và ý nghĩa của nó thì:

Nhà văn hóa là thiết chế văn hóa của lĩnh vực công tác văn hóa quần chúng ở từng cấp Là nơi diễn ra các hoạt động tổng hợp của nhiều loại hình hoạt động văn hóa quần chúng Tùy theo chu kỳ thời gian

và nhu cầu sở thích văn hóa, nghệ thuật, thể thao vui chơi giải trí của quần chúng nhân dân trên từng địa bàn [12, tr 46 ]

Vì vậy, nếu xét về nội hàm của khái niệm thì nhà văn hóa là một thiết chế cần được tìm hiểu và làm rõ ở các góc độ:

Nhà văn hóa như một tên gọi rất chung cơ bản đại diện cho lĩnh vực hoạt động văn hóa mang tính quần chúng với sự tham gia trực tiếp của quần chúng Tên gọi nhà văn hoá được hiểu và thay đổi thành nhiều cách gọi khác nhau như: Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa, câu lạc bộ…Nhưng hiểu đơn giản nhà văn hóa chính là địa điểm để tập trung sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi vui chơi giải trí, là nơi để mọi người giao lưu, tiếp xúc với nhau vì một nhu cầu sở thích nào đó

Nhà văn hóa là một thiết chế văn hóa quần chúng và đại chúng được ra đời sớm cùng với thư viện, bảo tàng, nhà hát, nhà trường, báo chí…và đều

Trang 31

được xếp nằm chung trong phạm trù lĩnh vực công tác giáo dục văn hóa XHCN Loại hình nhà văn hóa ở Việt Nam có nguồn gốc và ra đời vào nửa đầu thế kỷ XX, ở Liên Xô, Pháp trong điều kiện và hoàn cảnh phát triển xã hội, trình độ dân trí cao Có văn minh công nghiệp, có nhiều thời gian rảnh rỗi đồng thời với nhu cầu quần chúng phát triển ngày càng đòi hỏi cao Do có nhiều cách gọi hay tên gọi khác nhau nhưng về mặt bản chất nhà văn hóa là thiết chế văn hóa mang sắc thái riêng của mỗi vùng miền, là nơi sinh hoạt văn

hóa cộng đồng ( Điều này khiến ta liên tưởng tới những ngôi Đình được xuất hiện ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI, vì đây cũng chính là trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng xã) Vì thế ở nhà văn hóa cũng đều có nội dung

và phương pháp hoạt động chuyên môn khác nhau và trên cơ sở đều nằm chung với phạm vi công tác văn hóa đại chúng, văn hóa giáo dục trong cộng đồng dân cư và chính bản thân nó cũng mang chung một khái niệm:

Là cơ quan giáo dục xã hội ngoài nhà trường, nhà văn hóa tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí với hệ thống biện pháp chuyên môn, công tác văn hóa quần chúng phong phú, năng động và đầy hấp dẫn Cùng với những biện pháp, phương pháp hoạt động, hướng dẫn và tổ chức các dịch vụ nhà văn hóa

sẽ đáp ứng nhu cầu hoạt động xã hội trong thời gian rảnh rỗi của người dân Thông qua các hoạt động sẽ phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo các nhân tố có khả năng, năng khiếu trong hoạt động văn hóa, văn nghệ TDTT, tiêu chí cuối cùng để hoàn thiện nhân cách con người cả về Đức, Trí, Thể, Mỹ và năng lực hành vi thực tế của con người trong cuộc sống để hướng tới giá trị của Chân – Thiện – Mỹ

Nhà văn hoá thôn, tổ dân phố

Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố là một thiết chế nằm trong hệ thống thiết chế văn hóa cấp cuối cùng ở cơ sở, nó gắn liền với cộng đồng dân cư của mỗi địa phương Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố chính là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng phục vụ cho các lứa tuổi và là nơi hoạt động của các phong trào văn hóa

Trang 32

văn nghệ, TDTT Đồng thời đây cũng là nơi hội họp, tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước của các thôn, tổ dân phố Là địa điểm thuận lợi để chuyển giao khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh đối với các khu dân cư

Nhà Văn hóa thôn, tổ dân phố chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của ngành văn hóa thông tin và sự quản lý trực tiếp của lãnh đạo thôn, tổ dân phố Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển Kinh

tế - Xã hội của từng địa phương nó nằm trong chuỗi liên hoàn của hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố gắn liền với sinh hoạt của người dân và có nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động của mọi tổ chức chính trị xã hội ở thôn, tổ dân phố đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và hưởng thụ văn hóa tinh thần của quần chúng, góp phần vào công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Nhà văn hóa cũng là điểm vui chơi cho thanh thiếu niên, là nơi tổ chức các hoạt động Văn hóa-Thể thao tập trung theo chủ trương của cấp ủy chính quyền địa phương là cầu nối với các hoạt động của trung tâm VH-TT cấp xã, huyện, thành phố tới trung tâm văn hóa; trung tâm thể dục thể

thao cấp tỉnh

1.3.2 Chức năng của nhà văn hóa

Trong hoạt động nhà văn hóa có thể nhận thấy một số chức năng cơ bản

đó là: Chức năng giáo dục xã hội chủ nghĩa, giáo dục chính trị, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, của chính quyền các cấp Chức năng tuyên truyền giáo dục của nhà văn hóa được thực hiện với nhiều cách sử dụng khác nhau Là cơ quan tổ chức hoạt động giáo dục văn hóa ngoài nhà trường trong thời gian rỗi, phục vụ các nhu cầu đa dạng của xã hội Thông qua các buổi hội họp, các chương trình giao lưu văn hóa, văn nghệ tạo ra nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục với những nội dung khác nhau Nhà văn hóa có khả năng tác động nhiều mặt đến đời sống, nhân cách con người cả Đức, Trí, Thể, Mỹ

Trang 33

Nhưng về cơ bản vẫn là giáo dục chính trị tư tưởng với nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước Giáo dục lý tưởng XHCN, xây dựng lối sống, đạo đức thẩm mỹ trong từng cá nhân trong cộng đồng dân cư

1.3.2.1 Chức năng giáo dục XHCN

Giáo dục là chức năng cơ bản, bao trùm, là thuộc tính bản chất của các hoạt động diễn ra ở các nhà văn hóa Trong hoạt động của nhà văn hóa đều sử dụng tối đa những điều kiện, phương tiện đặc thù của mình để tiến hành các hoạt động văn hóa, giáo dục phục vụ cho lợi ích chung của xã hội là tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Nội dung giáo dục tại đây mang tính tòan diện bao gồm Đức-Trí-Thể-Mỹ đó

là giáo dục XHCN đối với nhân dân lao động

1.3.2.2 Chức năng giao tiếp, tuyên truyền

Đây được xem như là chức năng đặc thù, chủ yếu vì ở nhà văn hóa có điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện giao tiếp Đặc biệt là hình thức giao tiếp nhóm sở thích thông qua hoạt động của các CLB Trong nhà văn hóa sẽ bao gồm nhiều CLB khác nhau cùng hoạt động, từ đó các CLB sẽ khởi xướng

ra các hình thức giao tiếp phong phú như diễn đàn, hội thảo, tọa đàm, đối thoại và giải đáp thắc mắc hay là tổ chức liên hoan văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao Qua các hoạt động đó sẽ góp phần tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; các kiến thức

về khoa học kỹ thuật Đồng thời nhà văn hóa cũng là nơi tổ chức hội họp, học tập cộng đồng, giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống văn hóa lành mạnh ở địa bàn thôn, tổ dân phố

1.3.2.3 Chức năng phát triển năng lực sáng tạo của quần chúng

Những hoạt động sáng tạo ở nhà văn hóa chủ yếu mang tính nghiệp dư không chuyên nghiệp Tại đây có thể cùng lúc có hoạt động sáng tạo ở nhiều

Trang 34

lĩnh vực cả chính trị - xã hội, khoa học kỹ thuật, văn hóa - thể thao Tuy nhiên nếu xét về thuận lợi hay là phổ biến nhất chính là những sáng tạo trong văn học nghệ thuật để phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí; sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, TDTT, từng bước nâng cao hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở mỗi thôn, tổ dân phố Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay nếu tổ chức hoạt động tốt tại các nhà văn hóa thì cũng có thể có những thu nhập tăng thêm để bù đắp những chi phí hành chính Mục đích hướng tới trong hoạt động sáng tạo là để phát huy; kích thích tiềm năng sáng tạo của mỗi người dân trong cộng đồng

1.3.2.4 Chức năng đáp ứng các nhu cầu về vui chơi giải trí và nghỉ ngơi

Nhà văn hóa là nơi có điều kiện thuận lợi nhất để tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí và nghỉ ngơi của nhân dân trong địa bàn, các hoạt động mang tính tập trung theo chủ trương chung của chính quyền các cấp Nhà văn hóa cũng là nơi khởi xướng, dàn dựng nên nhiều loại hình bổ ích đối với các hoạt động nhóm, các trò chơi dân gian truyền thống Đặc biệt nơi đây sẽ là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi địa phương trong xu hướng và

bối cảnh các đô thị phát triển nhanh chóng, (nhiều làng đã trở thành tổ dân phố) góp phần xây dựng môi trường văn hóa trong lành; xây dựng, định

hướng tư tưởng và dư luận xã hội trong nhân dân; từng bước giảm đi những tệ nạn xã hội trong cuộc sống Với thanh thiếu nhi nhà văn hóa cũng từng bước giảm dần các trò chơi mang tính bạo lực do ảnh hưởng của internet vì ở đây chính là nơi tuyên truyền giáo dục gần, trực tiếp đối với thanh thiếu nhi và mỗi người dân trong cộng đồng dân cư

1.3.3 Nhiệm vụ của nhà văn hóa

Với những chức năng cơ bản được trình bày ở phần trên và để thực hiện có hiệu quả các chức năng đó, nhà văn hóa cần tiến hành một số nhiệm

vụ công tác cụ thể và thiết thực đối với các thôn, tổ dân phố cụ thể là:

Trang 35

- Với không gian hiện có được đầu tư xây dựng, nhà văn hóa chính là nơi tổ chức những hoạt động văn hóa, văn nghệ, nghệ thuật thông tin cổ động

và hoạt động thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần và phát triển thể chất của nhân dân Tham mưu cho cấp ủy địa phương đối với thực hiện công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT tại địa phương

- Nhà văn hóa tổ chức các hoạt động câu lạc bộ theo ngành nghề và sở thích đối với các đối tượng trong cộng đồng Nhà văn hóa cũng là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi địa phương đồng thời tổ chức tuyên truyền phổ biến thời sự, chính sách pháp luật của nhà nước, kịp thời thông tin phổ biến, chuyển giao khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao dân trí trong các tầng lớp nhân dân

- Trong nhà văn hóa thường tổ chức trưng bày tranh, ảnh thời sự và những hình ảnh về thành tích thi đua trong lao động sản xuất, thành tích và công tác khuyến học của mỗi thôn, tổ dân phố Xây dựng gia đình văn hóa, thôn làng, bản, khu phố văn hóa Là nơi hưởng ứng tích cực và có hiệu quả với phong trào TDĐKXDĐSVH ở khu dân cư

- Nhà văn hóa sẽ là nơi tổ chức những hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động văn hóa tập trung theo chủ trương của cấp ủy và chính quyền địa phương, đồng thời tổ chức sơ kết, tổng kết công tác khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc Là một thiết chế văn hóa cơ bản dung hội được nhiều nội dung hoạt động của các thiết chế văn hóa như: Nhà hát, rạp chiếu phim, nhà thi đấu TDTT, hội trường, thư viện, trường học…

1.3.4 Đóng góp của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố với đời sống xã hội

Nhà văn hóa thôn tổ dân phố là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống thiết chế văn hóa thông tin, là nơi tuyên truyền, vận động sắc bén, sâu rộng tại cơ sở về đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước Đồng thời cũng chính là nơi hưởng thụ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn

Trang 36

hóa của từng địa phương Việc xây dựng và phát triển hệ thống nhà văn hóa của tỉnh Bắc Giang nói chung, thành phố Bắc Giang nói riêng là hết sức cần thiết đáp ứng yêu cầu của phát triển văn hóa xã hội ở mỗi địa phương đồng thời phù hợp với quyết định quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số: 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 về chiến lược phát triển Văn hóa Việt Nam giai đoạn (2010-2020)

Thành phố Bắc Giang đã nhận thức rõ được vai trò của các thiết chế văn hóa (cả truyền thống và hiện đại) trong đó nhà văn hóa là một thành tố cần

thiết và quan trọng của thiết chế văn hóa cơ sở đặc biệt là vai trò đóng góp

của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố đối với đời sống xã hội Thành phố đã từng

bước quy hoạch và phát triển đồng bộ các thiết chế văn hóa từ thành phố tới thôn, tổ đồng thời nhận thức được vai trò nhà văn hóa thôn, tổ dân phố để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đòi hỏi thực tiễn đặt ra Từng bước đầu tư

từ cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, các cán bộ thực hiện hoạt động chuyên môn nghiệp vụ từ thành phố tới các xã phường Có thể nhận thấy những đóng góp của các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố được thể hiện qua các nội dung cơ bản đó là:

- Đóng góp của nhà văn hóa đối với công tác tuyên truyền định hướng tư tưởng, giáo dục và phổ biến kiến thức pháp luật của mỗi địa phương Đồng thời chính là nơi chuyển tải các nội dung chính sách của Nhà nước tới cơ sở,

là nơi nhân dân tiếp cận và tiếp nhận thông tin thông qua tivi, đài và sách báo tạp chí, internet…Trong giai đoạn hiện nay nhận thức của các cấp ủy, chính quyền là hệ thống thông tin đại chúng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển văn hoá của đất nước Thông tin đại chúng là phương tiện chuyển tải các giá trị văn hoá đến công chúng, đồng thời, bản thân thông tin cũng là một dạng thức văn hoá đặc thù, có tác động mạnh mẽ, sâu rộng đối với cộng đồng

Trang 37

- Nhà văn hóa đã đáp ứng cơ bản các nhu cầu vui chơi, giải trí của mọi tầng lớp nhân dân tại các thôn, tổ dân phố; từ các cụ cao tuổi tới các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng góp phần tạo ra môi trường văn hóa trong sáng, lành mạnh, hạn chế các tiêu cực và tệ nạn xã hội

- Hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật tại các nhà văn hóa góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế, giúp cho bà con giao lưu giúp đỡ nhau xóa đói, giảm nghèo Đối với một số nhà văn hóa đa năng, có vị trí thuận lợi đã thực hiện các dịch vụ công ích tăng nguồn thu để đầu tư lại đối với các cơ sở vật chất cho nhà văn hóa phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân trong cộng đồng dân

cư Nhiều hoạt động nhà văn hóa là điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao lưu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương thông qua hoạt động của các CLB nghệ thuật dân gian như: Chèo, hát Quan

họ, hát Chầu văn, múa dân tộc và các CLB võ cổ truyền dân tộc…Có thể khẳng định nhà văn hóa thôn, tổ dân phố là một thiết chế văn hóa hoạt động

có nhiều ưu điểm và không thể thiếu đối với cơ sở Nhà văn hóa đóng vai trò như một ngôi nhà đa năng phục vụ hội họp, sinh hoạt chính trị và nâng cao đời sống tinh thần cho quần chúng nhân dân ở mỗi địa phương Là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa chung cơ bản của mỗi địa phương Nhà văn hóa góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, đóng góp trong việc xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Quản lý văn hóa nói chung; quản lý hoạt động văn hóa có vai trò rất quan

trọng đặc biệt là quản lý hoạt động các thiết chế văn hóa mà ở đó nhà văn hóa thôn, tổ dân phố có nhiều điều kiện trong việc chuyển tải đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước tới mọi người dân trong cộng đồng Nhà văn hóa cũng là nơi người dân tiếp cận thông tin, vui chơi giải trí, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Để góp phần nâng cao chất lượng quản lý hoạt động nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trước hết cần có những nghiên cứu, đánh giá cả lý luận cũng như tìm hiểu thực tiễn công tác quản lý hoạt động văn hóa; đặc biệt là cần có khảo sát thực tế đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nhà văn hóa ở cơ sở

Thành phố Bắc Giang là trung tâm Kinh tế-Chính trị của tỉnh Bắc Giang, nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố sẽ góp phần trong việc xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa của thành phố cũng như tỉnh Bắc Giang Điều này cần có nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động các nhà văn hóa thôn, tổ dân phố trên địa bàn thành phố Bắc Giang

để qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản

lý hoạt động nhà văn hóa ở thành phố Bắc Giang

Trang 39

Chương 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NHÀ VĂN HÓA THÔN, TỔ DÂN PHỐ Ở THÀNH PHỐ BẮC GIANG

2.1 Bộ máy tổ chức quản lý

2.1.1 Phòng Văn hóa và Thông tin

2.1.1.1 Vị trí, chức năng nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của phòng

Văn hóa và thông tin

Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính

phủ quy định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy định:

Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Giang có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân thành phố quản lý nhà nước về các lĩnh vực: văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch; báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng, thông tin; phát thanh và các dịch

vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND thành phố và theo quy định của pháp luật, đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương

Phòng văn hóa & thông tin có nhiệm vụ xây dựng tổng hợp kế hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin trên địa bàn thành phố, đồng thời theo dõi và kiểm tra thực hiện kế hoạch đó Giúp UBND thành phố Bắc Giang trong việc quản lý, phối hợp, điều hành, hướng dẫn và kiểm tra nội dung các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao trên địa bàn thành phố

và các hoạt động của công tác xuất bản và gia đình, các điểm kinh doanh dịch

vụ lưu trú lữ hành, hoạt động du lịch của thành phố Kiểm tra việc thực hiện

Trang 40

lắp dựng trạm phát sóng BTS trên địa bàn Tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ làm công tác văn hóa, văn nghệ, gia đình, hạ tầng internet, báo chí xuất bản, TDTT ở thành phố và xã, phường

Đồng thời phòng Văn hóa, thông tin được thành phố giao làm nhiệm vụ

thường trực ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cùng các đoàn thể vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh

trong việc cưới, việc tang và lễ hội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phòng chống các hủ tục lạc hậu và mê tín dị đoan

Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn thành phố Bắc Giang thực hiện pháp luật nhà nước và những quy định của ngành văn hóa thông tin đối với các hoạt động thuộc chức năng nhiệm vụ của ngành Qua kiểm tra, hướng dẫn phát hiện những vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động văn hóa thông tin ở địa phương báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang, sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sở Thông tin và Truyền thông

Tuỳ theo tính chất cụ thể của công việc, phòng văn hóa,thông tin chủ động triệu tập các cuộc họp với đại diện của các phòng ngành, đơn vị của thành phố, các xã, phường, các đơn vị của tỉnh và trung ương có trụ sở ở thành phố có liên quan đến hoạt động thuộc lĩnh vực phòng văn hóa thông tin phụ trách để triển khai, hướng dẫn chủ trương chính sách của nhà nước thuộc lĩnh vực được giao Phát hành các văn bản quản lý nhà nước thẩm quyền riêng do phòng phụ trách và văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ thuộc chức năng nhiệm vụ của phòng Giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền do UBND thành phố phân công và do pháp luật quy định đồng thời là nơi thẩm định hồ sơ, đề xuất với UBND thành phố để cấp mới, đổi giấy phép hành nghề cho các hoạt động và kinh doanh dịch vụ văn hóa theo quy định Tham gia các ban chỉ đạo theo quyết định của UBND thành phố, tham dự những

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w