1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng ở nước ta hiện nay

110 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 605,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nằm trong hệ thống di sản văn hoá, Bảo tàng là thiết chế văn hoá quan trọng của đất nước, với chức năng lưu giữ và phát huy giá trị di sản văn hoá; nghiên cứu, phục vụ nghiên cứu khoa họ

Trang 1

Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o Bé V¨n ho¸, ThÓ thao vµ Du lÞch

Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi

Ph¹m Thu Hμ

§éi ngò c¸n bé qu¶n lý trong c¸c

B¶o tμng ë n−íc ta hiÖn nay

(Qua kh¶o s¸t hÖ thèng b¶o tμng c¸c tØnh phÝa B¾c

Do ngμnh v¨n ho¸, thÓ thao vμ du lÞch qu¶n lý)

ChuyÖn ngµnh: Qu¶n lý V¨n ho¸

M· sè: 60 31 73

LuËn v¨n th¹c sÜ qu¶n lý v¨n ho¸

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS.TS Ph¹m Duy §øc

Hμ Néi – 2009

Trang 2

Lời cảm ơn

Tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Duy Đức, người đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tác giả những vấn đề trọng tâm của đề tài ngay từ khi nghiên cứu xây dung đề cương cho đến lúc hoàn thiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ- những người đã trực tiếp giảng dạy; cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Sau đại học - Trường Đại học Văn hoá Hà Nội, các bạn bè và đồng nghiệp đã góp ý, động viên, khích lệ

và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn Cục Di sản văn hoá, các anh chị ở các Bảo tàng

Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam và 27 bảo tàng các tỉnh phía Bắc và bạn bè – những người đã giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Đề tài đã được hoàn thành với tinh thần làm việc nghiêm túc và nỗ lực nghiên cứu của bản thân tác giả, có sự kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước Tuy nhiên, do trình độ bản thân còn hạn chế, nên luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được sự giúp đỡ và góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2009

Tác giả luận văn

Phạm Thu Hà

Trang 3

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan luËn v¨n nµy lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña t«i C¸c t− liÖu vµ tµi liÖu trÝch dÉn trong luËn v¨n lµ hoµn toµn trung thùc, nÕu

cã ®iÒu g× tr¸i víi lêi cam ®oan t«i xin hoµn toµn chÞu tr¸ch nhiÖm

T¸c gi¶ luËn v¨n

Ph¹m Thu Hµ

Trang 4

Mục lục

Mở đầu

bảo tàng hiện nay

1.1 Khái niệm bảo tàng và cán bộ quản lý bảo tàng

1.1.1 Khái niệm về bảo tàng

1.1.2 Cán bộ quản lý bảo tàng

1.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng trong sự nghiệp phát triển

nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.2.1 Tầm quan trọng của bảo tàng đối với việc phát triển nền

văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

1.2.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng đối với sự nghiệp

phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng

2.1 Tổng quan hệ thống bảo tàng khu vực phía Bắc

2.1.1 Hệ thống các bảo tàng khu vực phía Bắc

2.1.2 Phân cấp quản lý trong hệ thống bảo tàng

2.2 Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý Bảo tàng

2.2.1.Bảng phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng

2.2.2 Những đánh giá chung về thực trạng đội ngũ cán bộ quản

lý Bảo tàng hiện nay

2.2.3 Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý của

Ngành bảo tàng trong những năm qua

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ quản lý Bảo tàng hiện nay

Trang 5

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng hiện nay

3.1 Quan điểm của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý,

phát triển nguồn nhân lực đất nước hiện nay

3.2 Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong các

Bảo tàng

3.2.1 Quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng

3.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng các lĩnh vực còn thiếu và yếu (lịch sử, luật

pháp, ngoại ngữ, công nghệ thông tin)

3.2.3 Xây dựng các kế hoạch và chương trình đào tạo, bồi dưỡng

phù hợp với yêu cầu phát triển và công tác quản lý

3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng

3.3.1 Đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng

3.3.2 Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, bồi

dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng

3.3.3 Hợp tác giữa các cơ sở đào tạo bồi dưỡng trong và ngoài nước

3.3.4 Cơ chế chính sách cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

quản lý trong các bảo tàng

3.3.5 Về quản lý và sử dụng cán bộ

3.4 Đề xuất chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý

bảo tàng trong thời gian tới

3.4.1 Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho bảo tàng

3.4.2 Chương trình các khoá bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý

76

78

81

Trang 6

B¶ng ch÷ viÕt t¾t

GS : Gi¸o s−

Nxb : Nhµ xuÊt b¶n PGS : Phã Gi¸o s−

Trang 7

Di sản văn hoá là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong

sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Nằm trong hệ thống di sản văn hoá, Bảo tàng là thiết chế văn hoá quan trọng của đất nước, với chức năng lưu giữ và phát huy giá trị di sản văn hoá; nghiên cứu, phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục, bảo tàng trở thành trung tâm thông tin về lịch sử, về di sản văn hoá, ngày càng giữ vai trò to lớn trong công tác giáo dục truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước và góp phần bảo vệ, giữ gìn và phát huy những di sản văn hoá quý báu cho lớp lớp thế hệ con người Việt Nam

Trong những năm gần đây, cùng với sự biến đổi sâu sắc của đất nước, với đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, ngành văn hoá nói chung và ngành bảo tàng nói riêng đã thực sự khởi sắc Hệ thống Bảo tàng ở nước ta phát triển nhanh về số lượng và quy mô, về nội dung

và hình thức, ngày càng phát huy vai trò quan trọng phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học, học tập, giảng dạy, phổ biến tri thức về lịch sử, văn hoá, khoa học và hưởng thụ văn hoá của công chúng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Thông qua các hoạt động của mình, hệ thống bảo tàng Việt Nam đã từng bước khẳng định được vị thế của mình, khả năng phục vụ xã hội và ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần của công chúng, đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn di sản văn hoá của dân tộc, góp phần giáo dục lịch sử, văn hoá, giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông; xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Các Bảo tàng đã tìm cách tiếp cận nghiên cứu những vấn đề mới, đổi mới về trưng bày, về giáo dục, đặc biệt là công tác quản lý Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi về kinh

tế, văn hoá, kỹ thuật công nghệ, các bảo tàng cũng đang phải đối mặt với những thử thách chung Bảo tàng nước ta cũng bộc lộ những hạn chế về tính

Trang 8

đa dạng của loại hình, sự trùng lặp nội dung trưng bày giữa các bảo tàng, sự lạc hậu về cơ sở vật chất kỹ thuật và chậm đổi mới về phương thức hoạt động, thiếu sự hấp dẫn để thu hút đông đảo công chúng đến với Bảo tàng Yêu cầu của khách tham quan ngày càng cao đòi hỏi bảo tàng phải phát huy đúng chức năng và nâng cao sự cạnh tranh thu hút công chúng đến với Bảo tàng, khắc phục những bất cập trong vấn đề quản lý

Việt Nam là một trong những quốc gia có bảo tàng sớm và có số lượng bảo tàng khá nhiều trong các nước Đông Nam á Mặc dù đã có gần một thế

kỷ hoạt động bảo tàng, có hơn 100 cơ sở thiết chế bảo tàng, song Việt Nam có rất ít bảo tàng có danh tiếng trong khu vực và quốc tế Cố GS Sử học Trần Quốc Vượng từng bình luận: “Ngành bảo tàng Việt Nam vừa yếu, vừa thiếu và còn phải phấn đấu nhiều để vươn lên trong thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá” [22,tr.47] Vấn đề nói trên đã trở thành sự trăn trở đối với những người làm bảo tàng và những ai quan tâm đến sự nghiệp bảo tàng Bước vào thế kỷ XXI, để thực hiện nhiệm vụ chiến lược nêu trên và để hội nhập với sự phát triển của thế giới và trước xu thế toàn cầu hoá mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, các quốc gia ngày càng đề cao tính đặc thù, tính đa dạng văn hoá và bản sắc của mỗi dân tộc; đấu tranh chống khuynh hướng đồng nhất, đồng hoá

về văn hoá Trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết này, bảo tàng được coi là thiết chế văn hoá đặc biệt làm nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc và tính đa dạng văn hoá dân tộc; trực tiếp đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Muốn vậy, hệ thống bảo tàng phải có những bước đi mạnh dạn, những bước “nhảy vọt” cần thiết, có sự đổi mới căn bản,

đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

và phù hợp với xu thế phát triển của bảo tàng

Để đạt được điều đó, trước hết đòi hỏi phải có sự đổi mới Đổi mới là yêu cầu từ chính bảo tàng, là yêu cầu của xã hội và yêu cầu của thời đại Nếu

Trang 9

không có những chuyển đổi về hoạt động và kiện toàn cơ cấu một cách đồng

bộ thì ngành Bảo tàng Việt Nam còn tụt hậu, do đó hoạt động bảo tàng sẽ không còn đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội Hơn nữa cần có một

đội ngũ cán bộ bảo tàng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý trong các Bảo tàng

có phẩm chất chính trị, có năng lực và kỹ năng quản lý, có chuyên môn - nghiệp vụ cao, am hiểu về quản lý bảo tàng, có trình độ ngoại ngữ, tin học nhất định để có thể lãnh đạo, quản lý xây dựng sự nghiệp bảo tàng ngày một phát triển

Nhiều năm qua, ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã quan tâm đến phát triển đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá trong đó có đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng, nâng cấp chất lượng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cũng như khuyến khích cán bộ học tập, nâng cao trình độ của mình Mặc dù Ngành cũng đã thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, nâng cao năng lực chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ đến kỹ năng quản lý lãnh đạo cho đội ngũ này nhưng nhìn chung vẫn còn chung chung, chưa đi sâu vào từng lĩnh vực

cụ thể, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Với những yêu cầu về tiêu chuẩn của người lãnh đạo quản lý, cũng như về quản lý bảo tàng và thực trạng hoạt động trong các bảo tàng hiện nay, có thể nói nâng cao chất lượng chuyên môn, năng lực quản lý và phẩm chất chính trị cho đội ngũ những người quản lý các Bảo tàng ngang tầm nhiệm vụ là yêu cầu vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược cần phải có những giải pháp đồng bộ, nhất quán và thiết thực Đây cũng là một trong những nhiệm vụ vô cùng cần thiết mà ngành Di sản văn hoá nói riêng

và ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch nói chung đã đề ra

Để có những cơ sở bước đầu làm nền tảng cho việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý trong các bảo tàng,

chúng tôi chọn đề tài "Đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng ở nước ta

hiện nay" (Qua khảo sát hệ thống bảo tàng ở các tỉnh phía Bắc - do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý) cho luận văn thạc sĩ khoa học Quản

Trang 10

lý văn hoá của mình

2 Tình hình nghiêncứu

Từ trước đến nay, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học

về vấn đề bảo tàng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tàng và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá

Tiêu biểu cho các công trình này là:

2.1 Về bảo tàng có các tài liệu “Vai trò của bảo tàng với việc phát huy

bản sắc văn hoá dân tộc”- PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (1998); “Lược sử sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng Việt Nam từ năm 1945 đến nay” (2005) - PGS.TS

Nguyễn Thị Huệ; “Quản lý bảo tàng”– Nguyễn Thịnh; “Nguyên lý thiết kế

bảo tàng”– Tạ Trường Xuân (NXB Xây dựng - 2006); “Bảo tàng cho tương lai

và tương lai của bảo tàng – Một con đường tiếp cận di sản văn hoá” - Đặng

Văn Bài (NXB Hà Nội – 2005); “Bảo tàng Việt Nam, thực trạng và giải pháp

chính nhằm kiện toàn hệ thống bảo tàng trong phạm vi cả nước” – Lê Thị

Minh Lý (Luận án Tiến sĩ Văn hoá học năm 2006)

2.2 Về một số bài viết, bài tham luận trong các hội thảo, hội nghị đề

cập đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ bảo tàng nói chung: “Đổi mới mục

tiêu và nội dung đào tạo cán bộ bảo tàng”- Diêm Thị Đường (đăng trên Tạp

chí văn hoá nghệ thuật số 6/2003); “Công tác đào tạo cán bộ bảo tàng - Thực

trạng và giải pháp chính hiện nay” - Đề tài nghiên cứu khoa học của Thạc sĩ

Nguyễn Văn Toản; “Hội thảo đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo khoa Bảo

tàng”- Trường Đại học Văn hoá Hà Nội (1999); “Hội thảo đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo Bảo tàng học ở Việt Nam” (2003) của Trường Đại học Văn

hoá Hà Nội

2.3 Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý có các tài liệu như: “Nghiên

cứu xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý Ngành Văn hoá -

Trang 11

Thông tin giai đoạn 2001 - 2010” – Vũ Hoà (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Bộ – Trường Cán bộ quản lý Văn hoá - Thông tin, 2002); “Đào tạo cán bộ

quản lý văn hoá bậc đại học cho các vùng dân tộc thiểu số miền núi”- PGS-TS

Trịnh Thị Minh Đức (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - 2008.); “Kỷ yếu hội

thảo khoa học về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Văn hoá - Thông tin”- Trường Cán bộ quản lý Văn hoá - Thông tin (2002)

Các công trình, tư liệu trên mới chỉ chủ yếu tập trung vào các vấn đề như hệ thống bảo tàng Việt Nam; thực trạng về các hoạt động bảo tàng; về việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ làm công tác bảo tàng; về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá, xong cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên biệt về đội ngũ cán bộ quản lý trong các Bảo tàng ở nước ta hiện nay, nhưng những tài liệu trên đã cung cấp cho tác giả khá nhiều nguồn tư liệu quý giá cũng như phương pháp tiếp cận nghiên cứu Vì vậy, đề tài đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên đây và tiếp tục đi sâu tìm hiểu thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng hiện nay

3 Mục đích vμ nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý trong các Bảo tàng đối với việc phát triển sự nghiệp bảo tàng Việt Nam trong thời kỳ

đổi mới hiện nay, đề tài đi sâu tìm hiểu thực trạng đội ngũ này, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng trong thời gian tới

Để thực hiện được mục đích trên đây, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý đối với việc phát triển Bảo tàng hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý Bảo tàng ở

Trang 12

nước ta hiện nay, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế và những vấn đề cần

đặt ra hiện nay

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Bảo tàng trong thời gian tới

4 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý trong các Bảo tàng (gồm đội ngũ cán bộ quản lý chuyên môn và đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước từ cấp phó phòng/ban trở lên) đang làm việc tại hệ thống bảo tàng thuộc khu vực phía Bắc (Do Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý) gồm:

- Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng

Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam

- Các bảo tàng tổng hợp tại 27 tỉnh thuộc khu vực phía Bắc (từ Thanh Hoá trở ra)

Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ quản

lý trong các Bảo tàng về giới tính, độ tuổi, thâm niên công tác, chuyên ngành

đào tạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chính trị, năng lực quản lý ,

đề tài đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này, đồng thời đưa ra những kiến nghị, đề xuất xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng trong thời gian sắp tới

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp xã hội học (điều tra phiếu và phỏng vấn sâu)

Trang 13

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

- Về lý luận: Luận văn làm rõ các khái niệm bảo tàng, khái niệm cán bộ

quản lý, cán bộ quản lý trong các bảo tàng, từ đó làm rõ vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng đối với việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay

- Về thực tiễn: Luận văn đưa ra được các con số thống kê, phân tích cụ

thể thực trạng cán bộ quản lý trong các Bảo tàng nói chung và tình hình đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ này nói riêng, chỉ ra những đóng góp của cán bộ quản lý đối với sự phát triển của sự nghiệp Bảo tàng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; đề xuất, xây dựng một chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tới nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện

đội ngũ cán bộ quản lý theo chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước

7 nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trong các Bảo tàng hiện nay

Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trong các Bảo tàng hiện

nay (qua khảo sát đội ngũ cán bộ quản lý tại hệ thống Bảo tàng khu vực phía Bắc do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý)

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ quản lý trong các bảo tàng trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Trang 14

Chương 1 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tμng hiện nay

1.1 Khái niệm bảo tμng vμ cán bộ quản lý bảo tμng

1.1.1 Khái niệm về bảo tàng

Từ bảo tàng (museum) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là mouseion Năm

1683, khái niệm museum được sử dụng lần đầu tiên ở Anh khi khánh thành bảo tàng Ashmolean, bảo tàng đầu tiên trên thế giới mở cửa phục vụ công chúng Từ đó museum trở thành tên thông dụng của bảo tàng cho đến ngày nay Tuy không rộng về phạm vi quan niệm và về nội hàm như khái niệm văn hoá, nhưng cũng có khá nhiều định nghĩa khác nhau về bảo tàng Ngành bảo tàng học ở mỗi quốc gia đều có định nghĩa riêng, được đưa vào luật các văn bản quy phạm pháp luật

Theo tác giả Timothy Ambrose và CripinDaine thì “Bảo tàng có lịch

sử từ lâu đời, các bảo tàng là những ngôi nhà cất giữ những báu vật của loài người Nó lưu giữ ký ức của các dân tộc, các nền văn hoá, những mơ ước và

hy vọng của con người trên thế giới” [30, tr.106] Nhưng bảo tàng với nghĩa hiện đại đã phát triển ở Châu Âu vào thế kỷ XVIII Thuật ngữ bảo tàng

“Museum” được sử dụng lần đầu tiên ở Anh khi Bảo tàng Ashmolean được khánh thành và mở cửa phục vụ công chúng Từ đó đến nay trên thế giới bảo tàng ngày càng phát triển không ngừng về số lượng, chất lượng với nhiều loại hình phong phú, đa dạng kiểu, loại khác nhau Bảo tàng ngày càng có vai trò quan trọng trong hệ thống các khoa học văn hoá, có ảnh hưởng to lớn đến công tác giáo dục, nâng cao dân trí cho cộng đồng và xã hội Ngày nay, bảo tàng có sự biến đổi lớn cả về quy mô, về mục đích, về chức năng và nhiệm vụ để phục vụ cho sự phát triển xã hội và phục vụ nhu cầu văn hoá của con người

Trang 15

ở mỗi quốc gia, với sự phát triển của ngành bảo tàng học đã đưa ra những khái niệm riêng về bảo tàng Các khái niệm bảo tàng đều được ghi trong các văn bản luật hoặc các văn bản pháp quy

Các nước Đông Âu: “Bảo tàng là cơ quan nghiên cứu, giáo dục, tiến hành nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày những tài liệu hiện vật gốc tiêu biểu của lịch sử, tự nhiên và xã hội, phù hợp với nội dung và loại hình bảo tàng Bảo tàng dành để phục vụ cho công chúng vì những mục đích nghiên cứu và sưu tầm”

ở Pháp, giới học tàng học khẳng định: “Bảo tàng là cơ quan không thay

đổi được xây dựng vì quyền lợi của xã hội để gìn giữ, quản lý và tổ chức hội thảo khoa học, tuyên truyền phát triển không ngừng những nhân tố quý báu của văn hoá” [14, tr.36]

ở Nhật Bản, dùng thuật ngữ “Bác vật quán” để chỉ bảo tàng “Bác vật quán là nơi gìn giữ duy trì tất cả các tài liệu hiện vật về lịch sử, nghệ thuật, dân tộc, sản nghiệp, khoa học tự nhiên, đồng thời là nơi tổ chức các cuộc trưng bày triển lãm các ngành văn học nghệ thuật, học thuật, điều tra và nghiên cứu” [14, tr.107]

ở Nga, có ý kiến về bảo tàng như sau: “Bảo tàng là thể chế đa chức năng được hình thành một cách lịch sử của ký ức xã hội, nhờ đó thực hiện

được nhu cầu xã hội về tuyển chọn, bảo quản và miêu tả nhóm đặc biệt các

đối tượng văn hoá và tự nhiên, được xã hội công nhận là một giá trị được kế truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [14, tr.108]

Định nghĩa của Hiệp hội Bảo tàng Anh (Museum Association): “Bảo tàng là một cơ quan thu thập tư liệu hoá, giữ gìn, trưng bày và giới thiệu những bằng chứng vật chất và những thông tin liên quan vì lợi ích của công chúng” [14, tr.15] Định nghĩa này ra đời cách đây hơn 20 năm (năm 1984), là

định nghĩa khái quát được nhiều nhà nghiên cứu chấp thuận bởi vì nội hàm

Trang 16

của từng thuật ngữ được giải thích trong định nghĩa này xác định một cách rõ ràng chức năng nhiệm vụ của bảo tàng như thiết chế, thu thập, tư liệu hoá, giữ gìn, trưng bày, giới thiệu, vật chất, thông tin liên kết, vì lợi ích công chúng Từ

định nghĩa này, Uỷ ban Bảo tàng và Phòng trưng bày của Anh (The Museum and Galleries Commission) đã xây dựng các tiêu chí xem xét để phân loại và

đưa vào danh sách hệ thống bảo tàng được nhà nước bảo trợ

Định nghĩa của Hiệp hội Bảo tàng Mỹ nhấn mạnh đến tính tập thể vì công chúng của bảo tàng và sự phát triển đa dạng của bảo tàng:

“Bảo tàng là một thiết chế (cơ quan) được thành lập hoạt động lâu dài và không có lợi nhuận, được miễn thuế thu nhập quốc gia, không chỉ tồn tại vì mục tiêu tiến hành các trưng bày nhất thời,

mà mở cửa phục vụ công chúng và hoạt động theo hướng quan tâm của công chúng, vì mục đích bảo quản và gìn giữ, nghiên cứu, thu thập, trưng bày và giới thiệu vì nhu cầu thưởng thức của công chúng Hiện vật trưng bày phải là hiện vật, mẫu vật có giá trị văn hoá và giáo dục, những hiện vật về nghệ thuật và khoa học (cả những hiện vật sống và vô tri), tư liệu lịch sử và kỹ thuật Do vậy các bảo tàng còn bao gồm cả các vườn thực vật, các vườn thú,

bể cá, đài thiên văn, cung điện, di tích lịch sử và các di chỉ mà

đáp ứng yêu cầu nêu ra ở trên” [14, tr.16]

Định nghĩa mới nhất về Bảo tàng của ICOM được thông qua kỳ họp thứ 20 tại Seoul (Hàn Quốc) tháng 10/2004 như sau: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên, mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức” [14, tr.110]

Trang 17

Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì: “Bảo tàng là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hoá của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó, mục đích của bảo tàng là học tập giáo dục và thoả mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ”

ở Việt Nam, nhiều năm trước đây, chủ yếu vận dụng khái niệm bảo tàng và tri thức bảo tàng học của Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu vào thực tiễn sự nghiệp bảo tàng Cho đến trước khi Luật Di sản văn hoá (năm 2001)

được ban hành, ở Việt Nam chưa có định nghĩa về bảo tàng, mặc dù Quy chế

về Tổ chức và hoạt động của các bảo tàng (ban hành theo quyết định số 1998/QĐ - BVHTT ngày 6 - 02 - 1998 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin)

132-có đưa ra quy định chung về bảo tàng song khái niệm này chỉ được coi là công

cụ để hướng dẫn hoạt động, chưa phải là định nghĩa có tính pháp lý Nhưng

đến nay khái niệm về bảo tàng ở nước ta lần đầu tiên được khẳng định và ghi trong Luật Di sản văn hoá như sau: “Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội (sau đây gọi là sưu tập) nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân” [22, tr.33] Và gần đây nhất Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá có đưa ra khái niệm về bảo tàng như sau: “Bảo tàng là một thiết chế văn hoá có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sản văn hoá, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trường sống của con người, nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hoá của công chúng” Đây là một định nghĩa bảo tàng ngắn gọn, nhưng nó đã phản ánh đầy đủ bản chất và nhiệm vụ của bảo tàng Định nghĩa bảo tàng tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá của Việt Nam: “Là một cố gắng, một thành công, một nét mới trong nhận thức

về bảo tàng và bảo tàng học ở nước ta Nó là cơ sở để chúng ta xem xét kiện toàn hệ thống bảo tàng đã có và định hướng cho sự phát triển của bảo tàng Việt Nam từ nay về sau” [23 tr.29]

Trang 18

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo tàng, nhưng các nhà bảo tàng học đều khẳng định:

- Bảo tàng là một thiết chế văn hoá đặc thù, một cơ quan văn hoá, khoa học và giáo dục

- Đối tượng nghiên cứu, giới thiệu của bảo tàng là những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cùng môi trường tồn tại xung quanh con người

- Các hoạt động của bảo tàng là nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, bảo quản, gìn giữ và trưng bày giới thiệu các sưu tập hiện vật về lịch sử xã hội, tự nhiên và thông tin phục vụ cho công chúng

- Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, bao giờ cũng ưu tiên mục tiêu phục vụ lợi ích công chúng

- Bảo tàng là một thiết chế văn hoá đặc thù, bao gồm các không gian đó là: + Không gian trưng bày trong và ngoài bảo tàng

+ Không gian bảo quản và xử lý hiện vật

+ Không gian dành cho các thiết bị kỹ thuật

+ Không gian dành cho cán bộ chuyên môn, hành chính làm việc

+ Không gian cho các loại dịch vụ phục vụ khách tham quan, đó là các cửa hàng (shop) và các khu bán hàng lưu niệm, hàng ăn

+ Không gian dành cho các hoạt động tự thân, các hoạt động giao tiếp mang tới cộng đồng, không gian dành cho tuổi trẻ học đường, cho người khuyết tật

Trang 19

Nếu lao động quản lý là nội dung khách quan thì cán bộ quản lý là mặt chủ quan của hoạt động quản lý Cùng những chức năng quản lý như nhau nhưng mỗi cá nhân đảm trách lại có phương pháp thi hành và hiệu quả khác nhau Cái làm nên sự khác biệt đó chính là tri thức, tài năng, phong cách, đạo

đức và uy tín của cá nhân cán bộ quản lý Do vậy, nghiên cứu hoạt động quản

lý không thể không xem xét khía cạnh cá nhân của chủ thể quản lý

Về mặt lý thuyết, các cán bộ đảm nhiệm trong bộ máy quản lý phân biệt với nhau bởi hai tiêu chí: chức năng và cương vị

Căn cứ vào chức năng mà cán bộ đảm nhiệm trong bộ máy quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý phân thành ba loại chính: cán bộ lãnh đạo, cán bộ tham mưu, nhân viên điều hành nghiệp vụ

Cán bộ lãnh đạo là những người đứng đầu một tổ chức, một phân hệ, một bộ phận Họ có quyền ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp có thẩm quyền

Cán bộ tham mưu là những người có trình độ và thông thạo về một lĩnh cực chuyên môn nào đó Họ không có quyền ra quyết định mà chỉ giúp cán bộ lãnh đạo soạn thảo các quyết định quản lý và chịu trách nhiệm về mặt chuyên môn

Nhân viên điều hành nghiệp vụ: là những người thành thạo và tinh thông nghiệp vụ thông tin, điều hành, kiểm tra, giám sát Họ không có quyền

ra quyết định nhưng giúp cán bộ lãnh đạo trong việc bảo đảm cho cả hệ thống vận hành theo kế hoạch đã định

Căn cứ theo cương vị quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý được chia thành

ba loại: Cán bộ cấp cao, cán bộ trung gian và cán bộ cơ sở

Cán bộ quản lý cấp cao là những người đứng đầu và đại diện cho tổ chức trong quan hệ với bên ngoài Họ là người quyết định những vấn đề quan trọng nhất và chịu trách nhiệm về hoạt động của mọi thành viên trong tổ chức

Trang 20

Cán bộ quản lý cấp trung gian là những người đứng đầu những phân hệ lớn của tổ chức mà trong phân hệ đó còn bao gồm các phân hệ nhỏ Họ giữ vị trí trung gian giữa cán bộ quản lý cơ sở và cán bộ quản lý cấp cao

Cán bộ quản lý cơ sở là những người quản lý phân hệ nhỏ nhất của hệ thống quản lý Dưới cán bộ quản lý cơ sở không còn hệ thống nhỏ nào nữa

1.1.2.2 Cán bộ quản lý trong các bảo tàng

Là cán bộ quản lý nói chung mang đầy đủ tiêu chuẩn và nhiệm vụ của một người cán bộ quản lý

Cán bộ quản lý trong các bảo tàng là những người đảm nhiệm việc thực hiện một số chức năng nhất định trong bộ máy quản lý của một bảo tàng Cũng như cán bộ quản lý các ngành khác, cán bộ quản lý bảo tàng trước hết là:

Là cán bộ công chức trong cơ quan Nhà nước và trong hệ thống chính trị, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước

Là những người được bổ nhiệm vào một vị trí hoạt động trong lĩnh vực bảo tàng hoặc trong một bảo tàng

Cán bộ quản lý bảo tàng bao gồm:

- Nhóm cán bộ lãnh đạo (Giám đốc, Phó Giám đốc các bảo tàng): là những người có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống quản lý của một bảo tàng, là người đứng đầu, phụ trách bảo tàng do bổ nhiệm hoặc bầu cử, có trách nhiệm đề ra những phương hướng, chủ trương, quyết định, trước hết là những quyết định quản lý có tính chiến lược về đơn vị hoặc công việc mình phụ trách, tổ chức thực hiện kiểm tra việc thực hiện quyết định Ngoài ra, đội ngũ cán bộ lãnh đạo này còn là người dẫn dắt, tổ chức các hoạt động của bảo tàng mình theo một hướng đi cụ thể, là người điều hành, chỉ đạo bằng “quyền lực hành chính”, điều chỉnh những quyết định cho phù hợp với sự thay đổi của

điều kiện, hoàn cảnh khách quan Cán bộ quản lý bảo tàng là đại biểu cho lợi ích của tập thể mà họ đứng đầu Hoạt động của đội ngũ cán bộ này là giải

Trang 21

quyết những vấn đề chung cho cả hệ thống bảo tàng mà họ quản lý Là những người theo dõi và giám sát các hoạt động của bảo tàng mình Sự phát triển của từng bảo tàng và cả hệ thống bảo tàng của đất nước phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý này

Bảo tàng làm việc theo chế độ thủ trưởng Giám đốc bảo tàng là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của bảo tàng theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao Giám đốc hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc quản lý,

điều hành của mình trước pháp luật và cơ quan quản lý cấp trên

Phó giám đốc bảo tàng là người giúp việc cho giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về các lĩnh vực công tác được phân công; thay mặt giám đốc quản lý, điều hành các hoạt động của bảo tàng khi được giám đốc uỷ quyền

- Nhóm cán bộ quản lý hành chính (Trưởng, phó phòng làm công tác hành chính, quản trị trong bảo tàng): Là những người đứng đầu phụ trách phần việc mang tính chất hành chính trong các bảo tàng như công tác tổng hợp, tổ chức, nhân sự, an ninh trật tự, thi đua- khen thưởng, quản lý cơ sở vật chất, thiết bị, quản trị, y tế, về sinh môi trường, các công tác hậu cầu, lễ tân trong bảo tàng

- Nhóm cán bộ quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ (Trưởng, phó phòng phụ trách các phòng nghiệp vụ trong các Bảo tàng): Là những người am hiểu sâu về từng lĩnh vực chuyên môn của bảo tàng, tham gia hoạt động trong bộ máy quản lý, có nhiệm vụ về mặt chuyên môn, nghiệp vụ Đây là những người trực tiếp điều hành hoạt động các đơn vị, các tổ chức, các chương trình trong lĩnh vực bảo tàng

Trưởng phòng là người quản lý, điều hành mọi hoạt động và mọi vấn đề

về con người, tài sản của phòng theo nhiệm vụ được giám đốc bảo tàng giao cho và quyền hạn được phân cấp; chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật về việc quản lý, điều hành của mình

Trang 22

Phó trưởng phòng là người giúp việc cho trưởng phòng, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước trưởng phòng và pháp luật về lĩnh vực công tác

được phân công; thay mặt trưởng phòng điều hành công việc của phòng khi

được trưởng phòng uỷ quyền

1.2 vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý Bảo tμng trong sự nghiệp phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đμ bản sắc dân tộc

1.2.1 Tầm quan trọng của bảo tàng đối với việc phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Bảo tàng là một thiết chế văn hoá quan trọng của đất nước Với chức năng lưu giữ và phát huy giá trị di sản văn hoá; nghiên cứu, phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục, bảo tàng trở thành trung tâm thông tin về lịch sử, di sản văn hoá, ngày càng giữ vai trò to lớn trong công tác giáo dục truyền thống, góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước

Bàn về vị trí, ý nghĩa quan trọng của bảo tàng đối với quốc gia, dân tộc trong bài phát biểu “Các bảo tàng và bản sắc văn hoá”, tại Đại hội toàn quốc - Hội Bảo tàng Anh, GS Patrick J Boylan, Chủ tịch Uỷ ban quốc tế Bảo tàng học của Hội đồng bảo tàng quốc tế - ICOM, đã khẳng định “Có bốn biểu tượng sống động nhất của một dân tộc độc lập và bốn công cụ có sức sống nhất để liên kết mọi người, để xây dựng một quốc gia thực sự, được sắp xếp trong thứ tự ưu tiên như sau: 1- Lực lượng quốc phòng hùng mạnh; 2- Phương tiện truyền thông quốc gia; 3- Bảo tàng quốc gia và 4 - trường đại học quốc gia Các bảo tàng nhất định sẽ, và trong nhiều trường hợp đã là hiện thân và là biểu lộ sâu sắc nhất bản sắc văn hoá của mọi dân tộc, quốc gia.[18, tr 205]

Xét ở góc độ quản lý và hoạt động, bảo tàng vừa là một thiết chế văn hoá có tính đặc thù, lại vừa là một cơ quan khoa học dưới góc độ tích luỹ và

hệ thống hoá tri thức Hoạt động bảo tàng vừa có tính chuyên ngành sâu sắc

Trang 23

lại vừa có tính xã hội rộng khắp Bảo tàng bao gồm tất cả những hoạt động có tính phổ quát trong ứng xử của con người đối với tự nhiên, xã hội và với con người, nhưng bảo tàng lại có những chức năng xã hội riêng biệt, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hoá

Sự nghiệp bảo tồn bảo tàng ở Việt Nam ra đời muộn, song với quan

điểm xây dựng nền văn hoá Việt Nam “dân tộc, hiện đại, đại chúng”, Đảng Cộng sản Việt Nam xem “công tác bảo tồn bảo tàng có tác dụng sâu sắc đến thế hệ trẻ về lòng yêu nước” và “công tác bảo vệ di tích lịch sử văn hoá và bảo tàng là một bộ phận không thể thiếu được trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”

Ngày nay, trước xu thế toàn cầu hoá trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội, các quốc gia ngày càng đề cao tính đặc thù, tính đa dạng văn hoá và bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc; đấu tranh chống khuynh hướng đồng nhất,

đồng hoá về văn hoá Trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng cấp thiết này, bảo tàng được coi là thiết chế văn hoá đặc biệt làm nhiệm vụ bảo tồn và phát huy bản sắc và tính đa dạng văn hoá dân tộc; trực tiếp đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Muốn vậy, hệ thống bảo tàng Việt Nam phải có sự đổi mới căn bản, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phù hợp với xu thế phát triển của bảo tàng thế giới ở đầu thế kỷ XXI

Mạng lưới bảo tàng ở nước ta hiện nay với nhiều loại hình phong phú,

đa dạng với hơn một trăm bảo tàng từ Trung ương đến địa phương có quy mô khác nhau đã hợp thành một hệ thống nhất

Chính sự phát triển đó đã phản ánh trình độ văn hoá của cả nước và nhu cầu của xã hội đối với hoạt động bảo tàng Nó thực sự trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong nền văn hoá giáo dục ở nước ta và đang vươn tới sự hoà nhập giữa hoạt động của bảo tàng với những nhu cầu của xã hội hiện đại

Trang 24

Trước đây, các hoạt động của bảo tàng đã giành được những vị trí xứng

đáng trong việc khám phá để khai thác truyền bá tri thức xã hội, tự nhiên và

đặc biệt là giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, cách mạng trong quảng đại quần chúng nhân dân Phải khẳng định rằng trong những năm tháng chiến đấu vì nền độc lập và thống nhất của tổ quốc, các bảo tàng đã góp phần không nhỏ của mình vào việc giáo dục lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, tình yêu tự

do và chủ nghĩa xã hội cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ Bước vào thời kỳ

đổi mới, đất nước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, đã và đang tác

động mạnh mẽ tới mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là tới thanh niên - chủ nhân tương lai của đất nước Bên cạnh những mặt tích cực, có những tác động tiêu cực đang ngày đêm làm cho một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ đã và đang dần dần quên đi quá khứ, chạy theo các giá trị xa lạ với truyền thống của dân tộc

Trước tình hình đó, bảo tàng lại càng phải phát huy vai trò quan trọng trong việc giáo dục kiến thức lịch sử truyền thống dân tộc cho thế hệ thanh niên nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử văn hoá Việt Nam

Bảo tàng bằng ngôn ngữ đặc thù của mình là những hiện vật gốc đã từng chứng kiến những sự kiện lịch sử, được trưng bày giới thiệu với người xem góp phần giáo dục truyền thống cho thanh niên, chuẩn bị tốt cho sự phát triển tri thức, nhân cách tạo ra một động lực thúc đẩy kinh tế, xã hội của đất nước Do nhu cầu hưởng thụ văn hoá của con người ngày càng cao nên hoạt

động của bảo tàng cũng cần phải năng động tìm tòi các hình thức và phương pháp tiến hành mà vẫn không thay đổi mục đích và chức năng giáo dục truyền thống của mình Một đòi hỏi cấp bách đặt ra đầu tiên đối với các bảo tàng là phải đổi mới toàn diện hoạt động, trước hết là đổi mới trưng bày Trưng bày là ngôn ngữ của bảo tàng, hiện vật là cơ sở của toàn bộ hoạt động trưng bày Vì thế, cần làm tăng hàm lượng trí tuệ trong các khâu nghiên cứu, tạo ra nguồn năng lượng cần thiết để đổi mới các khâu trưng bày của bảo tàng Nội dung trưng bày của bảo tàng (thường trực, chuyên đề, lưu động) cần phải hấp dẫn,

Trang 25

chứa đựng những lượng thông tin mới về lịch sử và phong phú về loại hình hiện vật Các bảo tàng phải tìm ra những giải pháp trưng bày mới có sáng tạo, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại

Với quan niệm như vậy, vai trò của bảo tàng đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tiên tiến và bản sắc ở những điểm sau:

- Bảo tàng là kho báu lưu giữ và phát huy những di sản là giá trị truyền thống của quốc gia, dân tộc Lịch sử đã minh chứng sự tồn vong của mỗi quốc gia, dân tộc tuỳ thuộc rất lớn vào khả năng gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của mình Bởi vì, truyền thống là tất cả những giá trị tinh thần được đúc rút lại trong suốt quá trình sống, lao động và sáng tạo của con người từ thế này sang thế hệ khác Quá trình đó ngày càng được bồi đắp để hoàn thiện, củng cố và phát triển ở trình độ cao hơn trong đấu tranh, sinh tồn,

đấu tranh xã hội và đấu tranh tự nhiên

- Bảo tàng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các tri thức, các thông tin “gốc” phục vụ cho nghiên cứu khoa học và phát triển văn hoá của

đất nước Lịch sử phát triển của khoa học đã chỉ ra rằng mọi nghiên cứu khoa học đều phải tiếp thu thành quả của những nghiên cứu khoa học của người xưa Lao động khoa học là sự kế thừa, một phần của lao động này lấy sự hiệp tác của hiện tại làm điều kiện, một phần lại lấy việc sử dụng lao động của người xưa làm điều kiện Tư liệu hiện vật gốc của bảo tàng là sự kết tinh lao

động của người xưa, được trải qua sự thu thập, tu sửa, giám định, nghiên cứu của những người làm công tác bảo tàng mới trở thành hệ thống những hiện vật

có giá trị ý nghĩa đó thể hiện ở những thông tin, những tri thức từ hiện vật mà chúng ta có hiểu biết về mọi sự kiện, một lĩnh vực hay một thời đại nào đó Những thông tin đó đa dạng và bí ẩn, có thể bao gồm nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực phức hợp nhưng cũng có thể chỉ hàm chứa một nội dung thuộc về một lĩnh vực cụ thể nào đó về không gian, thời gian, xã hội, thậm chí là một sự kiện nào đó Vai trò, vị trí của bảo tàng trong việc cung cấp những thông tin,

Trang 26

những tri thức qua hoạt động bảo tàng bằng việc tạo ra cơ chế thuận lợi nhất

để con người được tiếp cận trực tiếp với di tích - hiện vật bảo tàng sẽ là điều kiện để tạo ra môi trường tương đồng hoặc kế thừa, hỗ trợ lẫn nhau trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau Đó chính là giá trị của di tích trên con đường vươn tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ - một hằng số của văn hoá

- Hoạt động của bảo tàng có tác động tích cực đến các hoạt động văn hoá xã hội và kinh tế khác như một động lực của văn hoá Nghị quyết Đại hội

VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa

là động lực của phát triển” Hoạt động bảo tồn, bảo tàng trước hết đã có tác

động tích cực ngay trong các hoạt động văn hoá khác Có lẽ chưa bao giờ nhu cầu về xã hội, nhu cầu về khôi phục di tích, nhu cầu xây dựng bảo tàng lại cần thiết như hiện nay Điều này đã trở thành yêu cầu lớn đối với các cơ quan quản lý văn hoá, nghiên cứu và hoạch định phát triển văn hoá của đất nước Trừ yếu tố tâm linh ra, hoạt động bảo tàng đã có những tác động trực tiếp đến cuộc sống của con người Do đó, các ngành văn hoá hay các thiết chế văn hoá

có khả năng tạo các cảm xúc trực tiếp như thư viện, bảo tàng, sẽ trở nên có ưu thế rất lớn đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của con người

Lịch sử bảo tàng đã chứng minh hoạt động bảo tàng là hoạt động văn hoá không thể thiếu được trong đời sống con người và của công chúng Bảo tàng có vị thế và vai trò trong sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Xã hội ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng

có những bước tiến bộ và nhảy vọt, cuộc sống vật chất của con người ngày càng lớn Hoạt động văn hoá nói chung và hoạt động bảo tàng nói riêng sẽ ngày càng phải mở rộng, đa dạng về hình thức và số lượng đồng thời không ngừng nâng cao về chất lượng cả về sản phẩm, phương tiện và phương pháp

Điều đó phải được xem là một tất yếu khách quan trong sự phát triển để có thái độ đúng, cách nhìn đúng và ứng xử đúng trong quá trình xây dựng chiến lược quốc gia và hoạch định chính sách từ vĩ mô cho đến vi mô, bởi vì toàn

Trang 27

cầu hoá đang là một thách thức trực tiếp đối với tất cả các ngành, các lĩnh vực của văn hoá nói chung và bảo tồn bảo tàng nói riêng

Hệ thống bảo tàng Việt Nam hôm nay đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”

Theo luật di sản văn hoá thì bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân Bảo tàng có các nhiệm vụ

và quyền hạn sau:

- Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật

- Nghiên cứu khoa học phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

- Tổ chức phát huy giá trị di sản văn hoá phục vụ xã hội

- Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của bảo tàng

- Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật

- Thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật

- Tổ chức hoạt động dịch vụ phục vụ khách tham quan phù hợp với nhiệm vụ của bảo tàng

- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào di sản văn hoá thế giới Vì vậy, mỗi một bảo tàng cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhất định và

đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ duy trì các hoạt động của bảo tàng

1.2.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng đối với sự nghiệp phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Đất nước bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, chúng ta

Trang 28

ngày càng có nhiều cơ hội giao lưu và tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới Nhìn lại nền văn hoá nước nhà, trong những năm qua, kể từ khi Đảng, Nhà nước và nhân dân có những nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của văn hoá đối với sự phát triển đất nước, thực sự coi văn hoá là mục tiêu, động lực phát triển đất nước thì sự nghiệp văn hoá nước nhà đã ngày một phát triển hơn và các lĩnh vực hoạt động văn hoá được các cấp, các ngành quan tâm nhiều hơn

Trong những thành tựu góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phải kể đến sự đóng góp lớn lao của ngành Di sản văn hoá mà trực tiếp là ngành Bảo tồn, Bảo tàng đem lại Đó là thành quả của công tác sưu tầm, gìn giữ, bảo tồn và phát huy được các giá trị lịch sử, văn hoá của dân tộc, là những đóng góp vào sự nghiệp giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống quý báu cho lớp lớp các thế hệ con người Việt Nam Thực hiện nhiệm vụ cao cả ấy, có công lao to lớn của đội ngũ những người làm công tác quản lý trong các bảo tàng Đó là những người đang trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện các gìn giữ, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hoá, các di sản văn hoá của dân tộc

Đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng là những người giữ vị trí quan trọng trong các bảo tàng, là những người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động

để bộ máy bảo tàng hoạt động

Theo chức năng và nhiệm vụ của ngành bảo tàng, thì đội ngũ cán bộ quản lý trong mỗi bảo tàng được bố trí như sau:

- Ban lãnh đạo: Giám đốc và các phó giám đốc

- Trưởng, phó trưởng các Phòng, Ban (Phòng Nghiên cứu và sưu tầm hiện vật; Phòng Kiểm kê - bảo quản (Phòng kỹ thuật bảo quản); Phòng Trưng bày; Phòng giáo dục tuyên truyền; Phòng Tổ chức hành chính, Ban Quản lý di tích)

Trang 29

Cán bộ quản lý trong các bảo tàng có nhiệm vụ:

- Tham mưu cho Sở Văn hoá, Thể thao & Du lịch và Cục Di sản văn

hoá về việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch quản lý và tổ chức hoạt động bảo

tàng và đề xuất các biện pháp triển khai khi đã được thông qua

- Tổ chức triển khai các văn bản qui định của Nhà nước về lĩnh vực bảo

tàng mình, tổ chức kiểm tra và thực hiện, đề xuất các biện pháp xử lý khi thấy

có biểu hiện vi phạm

- Tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn các hoạt động bảo tàng như:

+ Tổ chức nghiên cứu khoa học về nội dung trưng bày của bảo tàng và

về các tài liệu, hiện vật lưu giữ tại bảo tàng

+ Chỉ đạo việc sưu tầm các tài liệu, hiện vật phù hợp với nội dung trưng bày của bảo tàng

+ Chỉ đạo việc thực hiện công tác kiểm kê khoa học đối với các tài liệu, hiện vật của bảo tàng

+ Chỉ đạo việc tổ chức công tác kho và và chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo quản đối với các tài liệu, hiện vật

+ Chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức trưng bày tạo các bảo tàng, chỉ đạo tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các cuộc trưng bày, triển lãm lưu động tại các địa phương trong nước và nước ngoài theo nội dung và kế hoạch đã phê duyệt

+ Chỉ đạo việc tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục tại bảo tàng và

di tích Tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, biên soạn, xuất bản các tài liệu nghiệp vụ, các ấn phẩm, các hình thức thông tin tuyên truyền khác phù hợp với nội dung nghiên cứu, giáo dục của bảo tàng

- Giúp Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý và sử dụng cơ sở vật chất, hiện vật, cán bộ công chức - viên chức tại bảo tàng, các di tích, tượng đài

ở địa phương theo đúng pháp luật và các chính sách của Nhà nước

Trang 30

- Thường xuyên cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý cấp trên và Cục Di sản văn hoá tình hình bảo tàng ở địa phương

- Tổ chức và chỉ đạo việc nghiên cứu và xây dựng các kế hoạch, dự án,

đề án công tác ngắn hạn, dài hạn về các mặt hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng; tổ chức thực hiện các kế hoạch, dự án, đề án công tác khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ khoa học, cán bộ quản lý về chuyên môn ngành bảo tàng và các ngành khoa học có liên quan nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động và phát triển của bảo tàng

- Cán bộ quản lý bảo tàng Trung ương có nhiệm vụ hướng dẫn nghiệp

vụ cho các chi nhánh và các bảo tàng thuộc hệ thống, đồng thời có trách nhiệm giúp đỡ các bảo tàng tỉnh, thành phố về các lĩnh vực chuyên môn thuộc nội dung và loại hình của bảo tàng trung ương

- Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không thành lập Ban quản lý di tích thì cán bộ quản lý bảo tàng tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc tiến hành đăng ký kiểm kê, xây dựng hồ sơ khoa học và quản lý các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh thuộc địa phương; nghiên cứu và xây dựng các kế hoạch, dự án về tu bổ, tôn tạo các di tích, tham mưu cho Giám

đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý cổ vật trên địa bàn

- Cán bộ quản lý trong các bảo tàng là những người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá dân tộc

- Cán bộ quản lý bảo tàng là những người lãnh đạo, chỉ đạo mọi hoạt

động của bảo tàng, tổ chức điều hành thực hiện, kiểm tra các kế hoạch công tác của bảo tàng

- Cán bộ quản lý bảo tàng là những người xác định phương hướng hoạt

động của bảo tàng trong từng thời kỳ, tổ chức xây dựng kế hoạch hàng năm theo sự chỉ đạo của các cơ quan cấp trên

Trang 31

- Là những người quản lý điều hành mọi lĩnh vực công tác của bảo tàng theo quy định của pháp luật và của các cơ quan có thẩm quyền cấp trên

- Là những người đại diện cho bảo tàng tham gia các quan hệ pháp luật, quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tàng

- Là những người có quyền quyết định về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản

lý của bảo tàng, bố trí, phân công công tác, quản lý, khen thưởng và kỷ luật cán bộ theo quy định chung và quy định về phân cấp quản lý của các cơ quan cấp trên

- Định kỳ báo cáo công tác của bảo tàng đối với các cơ quan chức năng cấp trên

- Cán bộ quản lý trong các bảo tàng có nhiệm vụ chỉ đạo việc thực hiện các khâu công tác giáo dục và nâng cao nhận thức về di sản văn hoá, giữ lại những tin hoa văn hoá cho các thế hệ sau, góp phần bổ sung kiến thức về các nền văn hoá khác

- Xây dựng và phát triển nền văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Cán bộ quản lý trong các bảo tàng là một bộ phận của đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng trong việc góp phần cùng các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ do Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đề ra

- Cán bộ quản lý bảo tàng là những người đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá- những tài sản vô giá của dân tộc Nhiều di sản quý đã được sưu tầm, bảo vệ, giữ gìn và phát huy được các giá trị Vốn văn hoá phi vật thể của dân tộc được nghiên cứu bảo tồn và phát huy

- Cán bộ quản lý bảo tàng còn góp phần mở rộng giao lưu hợp tác quốc

tế về văn hoá trên cơ sở bảo vệ giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Hướng dẫn nhân dân tiếp thu văn hoá hiện đại của thế giới

Trang 32

Tóm lại: Trong sự nghiệp phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến

đậm đà bản sắc dân tộc, đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng có tác

động to lớn trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, là người trực tiếp chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hoá dân tộc Để tạo nên nguồn lực lớn cho sự nghiệp phát triển di sản văn hoá của đất nước, cần phải quan tâm hơn nữa đến đội ngũ cán bộ này

Trang 33

Chương 2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tμng

(Qua khảo sát các bảo tμng khu vực phía bắc

Do ngμnh văn hoá, thể thao vμ du lịch quản lý)

2.1 Tổng quan hệ thống bảo tμng khu vực phía Bắc

2.1.1 Hệ thống các Bảo tàng khu vực phía Bắc

Cho đến ngày nay, ở Việt Nam đã có một hệ thống bảo tàng tương đối phong phú và đa dạng, với nhiều loại hình khác nhau như bảo tàng lịch sử, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng lưu niệm, bảo tàng danh nhân, bảo tàng dân tộc học, bảo tàng tổng hợp Song so với các nước phát triển trên thế giới, số lượng bảo tàng Việt Nam chưa nhiều, hoạt động bảo tàng chưa mạnh và còn nhiều bất cập ở nước ta, hệ thống bào tàng đã có cơ cấu tổ chức thống nhất

được xây dựng trên khắp đất nước 63 tỉnh, thành phố và những bộ, ngành lớn

đều có những hoạt động bảo tàng với các hình thức và mức độ khác nhau Một

hệ thống bảo tàng từ trung ương đến địa phương đã hình thành và triển khai toàn diện các hoạt động nghiệp vụ như nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và công tác quần chúng, đồng thời góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở địa phương

Hoạt động bảo tàng trực tiếp và gián tiếp đã góp phần làm phong phú các hoạt động văn hoá, khoa học, giáo dục tuyên truyền về lịch sử, văn hoá của đất nước và con người Việt Nam cho đông đảo quần chúng nhân dân và bạn bè quốc tế Đặc biệt trong gần 20 năm trở lại đây, cùng với những biến

đổi sâu sắc của đất nước, với đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, ngành Văn hoá nói chung và ngành Bảo tàng nói riêng

đã thực sự khởi sắc về sự phát triển của hệ thống bảo tàng, về đầu tư kinh phí, về

mở rộng các hoạt động theo hướng xã hội hoá các hoạt động văn hoá Bảo tàng

Trang 34

Việt Nam đã từng bước khẳng định được vị thế của mình trong việc phục vụ xã hội và ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần của công chúng

Theo số liệu thống kê đến năm 2008, trên khắp nước ta có 127 bảo tàng lớn nhỏ, trong đó có 88 bảo tàng do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý bao gồm 5 bảo tàng trực tiếp Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý đó là:

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam

Và các bảo tàng tổng hợp tỉnh

Miền Bắc nước ta được tính từ Thanh Hoá trở về khu vực phía Bắc, tổng

số có 27 tỉnh, thành phố Mỗi tỉnh, thành phố có 01 bảo tàng tổng hợp tỉnh do các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý

Hệ thống bảo tàng do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý ở khu vực phía Bắc thuộc các loại hình như bảo tàng về văn hoá, bảo tàng về lịch sử, bảo tàng về mỹ thuật, bảo tàng tổng hợp và được phân thành hai cấp là bảo tàng cấp quốc gia và bảo tàng tổng hợp địa phương

2.1.2 Phân cấp quản lý trong hệ thống bảo tàng

Bảo tàng các tỉnh phía bắc do ngành Văn hoá Thể thao và Du lịch quản

lý bao gồm 5 bảo tàng trung ương trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý và 27 bảo tàng do các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh quản lý

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện quyền quản lý Nhà nước, chỉ

đạo và hướng dẫn các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đối với các bảo tàng

Trang 35

Cục Di sản văn hoá là cơ quan chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý Nhà nước về bảo tồn, bảo tàng; được Bộ giao trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn phát triển sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng trong phạm vi cả nước theo đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Cục Di sản văn hoá là đầu mối giúp Bộ tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, cán bộ quản lý trong các bảo tàng

từ trung ương đến địa phương

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm giúp Bộ, UBND các tỉnh, thành phố thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với bảo tàng tỉnh và chi nhánh của bảo tàng tỉnh, thành phố

Còn đối với mỗi bảo tàng, phân cấp quản lý theo cơ cấu tổ chức bộ máy của từng bảo tàng được xác định trên cơ sở chức năng, nội dung hoạt động của bảo tàng Phân cấp quản lý trong bảo tàng

Số lượng các phòng, biên chế công chức - viên chức của bảo tàng và của từng phòng phải phù hợp với thứ hạng của bảo tàng và do cơ quan ra quyết

định thành lập bảo tàng quyết định

Giám đốc

Các Phó Giám dốc

Các Trưởng phòng, Trưởng Ban

Các phó Trưởng phòng, Phó Trưởng ban

Trang 36

2.2 Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý Bảo tμng

(Qua khảo sát bảo tàng các tỉnh phía Bắc - do ngành Văn hoá, Thể

Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa hội nhập với các nước trên thế giới, đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng ở nước ta đã ngày một phát triển, lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; kiến thức và năng lực quản lý thực tiễn không ngừng được nâng lên, hầu hết có bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường, quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, có tâm huyết với nghề và hoài bão góp phần xây dựng và phát triển sự nghiệp bảo tàng nói riêng và sự nghiệp quản lý di sản văn hoá nói chung ngày càng phát triển

Theo kết quả thống kê đến năm 2008, cả nước có 127 bảo tàng các loại,

có 88 bảo tàng do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý, trong đó phía bắc có 32 bảo tàng do ngành Văn hoá Thể thao và Du lịch quản lý Mỗi bảo tàng đều có tổ chức bộ máy hoạt động và một đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của một bảo tàng Đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng này là lực lượng nòng cốt đối với mỗi bảo tàng giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, duy trì các hoạt động của bảo tàng và góp phần đưa sự nghiệp bảo tàng Việt Nam ngày một phát triển

Về thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng, qua khảo sát

về tình hình đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng thông qua các thư trao đổi và các phiếu nhận được từ các bảo tàng phía bắc do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý gửi về, kết quả tổng hợp như sau:

2.2.1.Bảng phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý bảo tàng

* Về số lượng, giới tính và dân tộc

Theo số liệu thống kê từ việc tổng hợp các phiếu khảo sát của 32 bảo tàng từ Trung ương và bảo tàng các tỉnh gửi về đến đầu năm 2009, tổng số đội

Trang 37

ngũ cán bộ quản lý hiện nay từ cấp Phó trưởng Phòng, Ban trở lên (trừ trưởng Ban bảo vệ) đang giữ vị trí nhất định trong các bảo tàng khu vực phía Bắc (do Ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý) gồm các bảo tàng trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý và các bảo tàng địa phương do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý có tổng số là 223 người

Trong đó: - Đội ngũ cán bộ lãnh đạo (Giám đốc và các phó giám đốc) là: 62 người chiếm tỷ lệ là 27,8%

- Đội ngũ cán bộ cấp Trưởng, Phó phòng, Ban là: 161 người chiếm

tỷ lệ 72,2%

- Số cán bộ nam là 126 người chiếm tỷ lệ 56,5 %

- Số cán bộ nữ là 79 người chiếm tỷ lệ 34,5 %

- Số cán bộ thuộc dân tộc kinh là 183 người chiếm tỷ lệ 72,2%

- Số cán bộ thuộc các dân tộc ít người khác là 40 người chiếm tỷ lệ 17,9% (Xem Phụ lục 1)

* Về cơ cấu độ tuổi, trình độ đào tạo, trình độ chuyên môn

Về độ tuổi: Được chia thành các nhóm sau:

- Nhóm tuổi từ 30- 40 tuổi là 71 người chiếm tỉ lệ 31,8%

- Nhóm tuổi từ 41- 50 tuổi là 95 người chiếm tỉ lệ là 42,6%

- Nhóm tuổi từ 51 – 60 tuổi là 57 người chiếm tỉ lệ 25,6%

Về trình độ:

- Số cán bộ quản lý có trình độ tiến sĩ là 9 người chiếm tỉ lệ 4,0%

- Số cán bộ quản lý có trình độ thạc sĩ là 32 người chiếm tỉ lệ 14,3%

- Số cán bộ quản lý có trình độ đại học là 180 người chiếm tỉ lệ 80,7%

- Số cán bộ có trình độ trung cấp là 2 người chiếm tỉ lệ 0,8%

(Xem Phụ lục 2)

Trang 38

* Về chuyên ngành đào tạo và thâm niên công tác

Theo số liệu thu thập được từ các phiếu khảo sát:

- Số lượng cán bộ quản lý tốt nghiệp đúng chuyên ngành bảo tàng là:

Như vậy, ta thấy hầu hết đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng này

đều được tốt nghiệp đúng chuyên ngành

- Số cán bộ quản lý có thâm niên công tác dưới 5 năm là 53 người chiếm tỉ lệ 23,8%

- Số cán bộ quản lý có thâm niên công tác từ 6 đến 15 năm là 89 người chiếm tỉ lệ 40 %

- Số cán bộ quản lý có thâm niên công tác từ 16 đến 30 năm là 81 người chiếm tỉ lệ 36,3%

(Xem Phụ lục 3)

* Về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước và lý luận chính trị

Theo số liệu thu thập được từ các phiếu khảo sát:

- Số lượng cán bộ quản lý đã qua các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý Nhà nước là 223 người, chiếm tỉ lệ 100% trong đó:

+ Số lượng cán bộ quản lý là chuyên viên cao cấp là: 05 người chiếm tỷ

lệ 2,2%

Trang 39

+ Số lượng cán bộ quản lý là chuyên viên chính: 33 người chiếm tỉ lệ 14,8% + Số lượng cán bộ quản lý là chuyên viên và bảo tàng viên là 121 người chiếm tỉ lệ 54,3%

+ Số lượng cán bộ quản lý là bảo tàng viên chính: 64 người chiếm tỉ

lệ 28,7%

(Xem Phụ lục 4)

Nhìn vào các bảng tổng hợp số liệu (các Phụ lục 1,2,3,4) ta thấy:

* Về số lượng: Theo con số thống kê thu thập được qua các phiếu khảo

sát tình hình đội ngũ cán bộ quản lý (từ cấp Phó phòng, Ban trở lên) trong các bảo tàng Trung ương và bảo tàng địa phương khu vực phía Bắc do ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý đến đầu năm 2009, có tổng số là 223 người (không kể trưởng Ban bảo vệ trong các bảo tàng) Nhìn từ bảng số liệu tổng hợp, chúng ta thấy đội ngũ cán bộ quản lý được bố trí trong các bảo tàng còn chưa đồng đều, tỷ lệ cán bộ nam vẫn nhiều hơn cán bộ nữ Số cán bộ quản lý nam là 126 người, chiếm tỷ lệ 56,4%, trong đó cán bộ quản lý nữ là 79 người chiếm tỷ lệ 44,5% Đội ngũ cán bộ quản lý thuộc các bảo tàng trung ương do

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quản lý có số lượng cán bộ được bố trí ở các

vị trí từ lãnh đạo cho đến các phòng ban là tương đối đầy đủ Số lượng cán bộ quản lý trong các bảo tàng tỉnh còn ít và thiếu nhiều vị trí, nhiều bảo tàng có Giám đốc nhưng chưa có phó giám đốc giúp việc Các phòng, ban chỉ có trưởng hoặc chỉ có phó chưa có trưởng phòng, nhiều cán bộ vẫn phải kiêm nhiệm nhiều vai trò khác nhau Nhiều bảo tàng tỉnh còn chưa có phòng,ban

mà mới chỉ có tổ trưởng phụ trách các phần việc khác nhau trong bảo tàng

* Về dân tộc: Qua bảng phân tích chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy số

lượng cán bộ quản lý là người dân tộc Kinh chiếm phần lớn (183 người, chiếm 82,1%), trong khi đó cán bộ là người dân tộc thiểu số (40 người chiếm tỷ lệ là 17,9%) Con số này cho thấy, đối với các bảo tàng nhất là các bảo tàng tại các

Trang 40

tỉnh miền núi, đội ngũ cán bộ quản lý thuộc dân tộc ít người là ít trong khi đó nhiều khâu nghiệp vụ của bảo tàng lại rất cần có những cán bộ quản lý biết tiếng dân tộc, hiểu phong tục tập quán của từng địa phương để thuận lợi cho quá trình thực hiện các công việc như công tác sưu tầm, công tác nghiên cứu

di tích, xếp hạng di tích, kiểm kê di tích tại

* Về độ tuổi: Theo bảng phân tích số liệu đã được khảo sát chia theo 3

nhóm tuổi (từ 30 đến 40 tuổi; từ 41 đến 50 tuổi; từ 51 đến 60 tuổi), kết quả cho thấy ở các độ tuổi, đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng không chênh lệch nhau là mấy Cán bộ quản lý ở độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi có số lượng là 71 người chiếm tỉ lệ 31,8%, đây là đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, nhiệt tình trong công tác Nhưng ở độ tuổi này, số lượng cán bộ quản lý là lãnh đạo chưa nhiều, mà chỉ tập trung ở một số bảo tàng địa phương Còn ở độ tuổi này chủ yếu vẫn là đội ngũ cán bộ quản lý cấp Phòng, Ban trong các bảo tàng Đối với đội ngũ cán bộ quản lý trong các bảo tàng ở độ tuổi này nếu

được quan tâm bồi dưỡng thường xuyên thì đây là đội ngũ đắc lực trong việc nâng cao chất lượng các hoạt động bảo tàng ở địa phương vì đây là đội ngũ cán bộ trẻ, có nhiều thời gian cống hiến, có khả năng sáng tạo và nhạy bén trong quá trình giải quyết công việc

Nhóm tuổi từ 41 đến 50 tuổi có 95 người, chiếm tỷ lệ 42,6%, đây là đội ngũ cán bộ tập trung nhiều tiềm lực nhất, vừa có sức khoẻ, vừa có kinh nghiệm trong quá trình công tác

ở nhóm tuổi từ 51 đến 60 tuổi là 57 người chiếm tỉ lệ 25,6%, đội ngũ cán bộ ở nhóm tuổi này được coi là lớn tuổi, đây là đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm lâu năm trong ngành bảo tàng, là những người am hiểu về trình độ chuyên môn cũng như kỹ năng quản lý trong quá trình công tác điều hành quản lý các hoạt động bảo tàng Tuy nhiên, đối với thời đại công nghệ điện tử, thông tin như ngày nay thì đội ngũ này sẽ bị hạn chế rất nhiều trong quá trình cập nhật cũng như quản lý các hoạt động của bảo tàng mình

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w