PHẠM HOÀI ANH PHÂN TÍCH LỄ HỘI CHỌI TRÂU ĐỒ SƠN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS... Đó chính là l
Trang 1PHẠM HOÀI ANH
PHÂN TÍCH LỄ HỘI CHỌI TRÂU ĐỒ SƠN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO TỒN DI SẢN VÀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI HOÀI SƠN
HÀ NỘI – 2009
Trang 2Mục lục Mục lục
Mở đầu 2
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản vμ phát triển du lịch 7
1.1 Mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội 7
1.2 Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý lễ hội 11
1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và phát triển 16
1.4 Về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch 20
1.5 Vấn đề khai thác di sản văn hoá như là một tài nguyên du lịch 23
1.6 Những yếu tố tác động đến bảo tồn di sản và phát triển du lịch 26
CHƯƠNG 2 Lễ hội chọi trâu trong việc phát triển du lịch ở Đồ Sơn 30
2.1 Vài nét sơ lược về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn 30
2.2 Phân tích SWOT việc sử dụng lễ hội chọi trâu Đồ Sơn để phát triển du lịch 45
CHƯƠNG 3 Những giải pháp nhằm gắn kết bảo tồn di sản vμ phát triển du lịch thông qua trường hợp lễ hội chọi trâu Đồ Sơn 63
3.1 Những nguyên tắc đề xuất giải pháp 63
3.2 Những giải pháp chung 66
3.3 Những giải pháp từ phía thành phố Hải Phòng và Quận Đồ Sơn 71
Kết luận 75
Tμi liệu tham khảo 77
Trang 3Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, du lịch được xem là một ngành công nghiệp mang lại nhiều lợi ích, không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả ở các khía cạnh xã hội và văn hoá Du lịch Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển, bởi lẽ, Việt Nam là đất nước có nhiều phong cảnh tự nhiên đặc biệt do
điều kiện thiên nhiên tương đối đặc thù đem lại, và quan trọng hơn thế là một nền văn hoá truyền thống, đa dạng và giàu bản sắc Trong rất nhiều những giá trị văn hoá đó, lễ hội truyền thống – với tư cách là một di sản của cộng đồng -
là một trong những nét văn hoá tiêu biểu, góp phần vào việc hình thành sản phẩm thu hút khách du lịch
Tuy nhiên, nhiều người lo ngại rằng, du lịch không đem lại lợi ích nào
đáng kể cho việc bảo tồn di sản, thậm chí lại có tác động tiêu cực đối với các
di sản văn hóa của mỗi dân tộc Đối với các di sản văn hoá vật thể, đó là sự huỷ hoại di sản do sự quá tải của các địa điểm di tích Đối với các di sản văn hoá phi vật thể, đó là sự biến dạng các truyền thống để phục vụ ý thích của du khách Song thực tế cho thấy rằng, nếu chúng ta biết cách khai thác du lịch phục vụ bảo tồn di sản, chúng ta sẽ đạt được cả hai mục đích Phát triển du lịch và bảo tồn di sản có thể là giải pháp đôi bên cùng có lợi do du khách có thể trải nghiệm văn hoá, người dân địa phương có thể tăng thu nhập, địa điểm
Trang 4Trường hợp Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (LHCTĐS) có thể là một ví dụ tốt để nghiên cứu mối quan hệ giữa di sản và du lịch Sự phát triển du lịch là quan trọng đối với sự phát triển của Đồ Sơn cũng như của LHCTĐS Đối với LHCTĐS, có thể không quá khi nói rằng, du lịch đã giúp người dân địa phương phục hồi lại một di sản văn hóa của chính họ
Xem xét trong mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch, rõ ràng, sẽ rất lý tưởng nếu LHCTĐS kết hợp được hai mục tiêu: phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa Để thực hiện được mong muốn trên, lôgíc giải quyết
rõ ràng là, mọi điểm mạnh cần được duy trì, phát huy; mọi điểm yếu cần phải
được cải thiện; mọi cơ hội nên được nắm bắt; và mọi thách thức cần được làm
rõ Đó chính là lý do tại sao tôi lựa chọn chủ đề "Phân tích lễ hội chọi trâu
Đồ Sơn, Hải Phòng trong mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch" làm đề tài nghiên cứu của luận văn này
2 Đối tượng nghiên cứu
- Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn di sản, phân tích những mặt mạnh và mặt yếu, thuận lợi và khó khăn của mối quan hệ này, từ đó đưa
ra những giải pháp khả thi
- Việc tổ chức lễ hội chọi trâu Đồ Sơn như là một ví dụ nghiên cứu để làm
rõ mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch
3 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng)
- Về mặt thời gian: Nghiên cứu hoạt động lễ hội chọi trâu Đồ Sơn giai
đoạn 1990 đến nay (2008)
4 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu bối cảnh kinh tế - xã hội - văn hoá liên quan đến sự phục hồi và tổ chức lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, Hải Phòng
Trang 5- Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong việc
tổ chức lễ hội chọi trâu Đồ Sơn hướng đến 2 mục đích: bảo tồn di sản và phát triển du lịch
- Thử vận dụng một số luận điểm quản lý di sản và phát triển du lịch để tìm ra các giải pháp mới nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá gắn liền với phát triển du lịch cho lễ hội chọi trâu Đồ Sơn nói riêng, và lễ hội truyền thống Việt Nam nói chung
5 Tình hình nghiên cứu
Đã có khá nhiều những bài viết, tham luận khoa học đề cập đến mối quan
hệ giữa du lịch và truyền thống như “Lễ hội Việt Nam đáp ứng nhu cầu du lịch của con người xưa và nay” của tác giả Phan Đăng Nhật, “Lễ hội và du lịch ở Việt Nam của Trương Thìn, “Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Phương Thảo, “Lễ hội đạo mẫu và triển vọng
du lịch” của Đặng Văn Lung Các bài viết này chủ yếu đã gợi mở vấn đề bảo tồn các lễ hội truyền thống qua hoạt động du lịch Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa du lịch và các di sản văn hóa truyền thống như: “Du lịch lễ hội” của Nguyễn Phương Loan - Viện Văn hóa, năm 1997; “Lễ hội dân gian ở Nam Bộ - khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc” của Huỳnh Quốc Thắng; “Lễ hội và danh nhân lịch sử văn hóa” của
Hà Hùng Tiến; “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa nghệ thuật ở nước ta hiện nay” của Đàm Hoàng Thụ; “Những tương đồng giữa các lễ hội thuộc vùng
Đông Nam á” của Trần Bình Minh Các nghiên cứu này đều có điểm chung trong việc khẳng định bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống, bằng hoạt
động du lịch là một biện pháp thích hợp và cần thiết Tuy nhiên, các nghiên cứu đó vẫn chưa đi sâu vào mối quan hệ gắn bó giữa phát triển du lịch và bảo tồn di sản, mà những nghiên cứu này mới chỉ mở ra vấn để khai thác các giá
Trang 6trị của di tích để phục vụ việc phát triển du lịch Còn ngành du lịch phải làm gì
để đóng góp việc bảo tồn di tích thì chưa được bàn sâu
Nghiên cứu về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn cũng được nhiều tác giả đề cập tới Tác giả Bùi Hoài Sơn đã thực hiện một luận văn thạc sỹ về chủ đề “Lễ hội chọi trâu và khả năng thu hút khách du lịch nước ngoài”, luận văn này đã sử dụng lý thuyết quản lý di sản, để lý giải mối quan hệ giữa phát triển du lịch (chủ yếu là nhấn mạnh đến khách du lịch nước ngoài) và quản lý di sản… Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết và nghiên cứu khác như của Nguyễn Phương và Phạm Văn Lợi “Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn”, Ngô Đăng Lợi “Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, nguồn gốc, ý nghĩa”, Trịnh Cao Tưởng “Non nước Đồ Sơn”… Nhìn chung, các nghiên cứu này hoặc chưa bàn sâu về mối quan hệ giữa di sản và phát triển du lịch, hoặc chỉ mang tính chất thiên về miêu tả, phân tích những yếu tố khác nhau trong việc tổ chức lễ hội, mà chưa đề cập
đến những yếu tố bảo tồn di sản và phát triển du lịch
Luận văn này một mặt kế thừa những đóng góp của các tác giả đi trước, mặt khác đi sâu nghiên cứu hơn về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch trong trường hợp LHCTĐS Những phân tích của luận văn này góp thêm một cách nhìn đối với một hiện tượng văn hóa cụ thể trong mối tương quan với phát triển du lịch, nhằm mục đích tìm ra hướng giải quyết đạt lợi ích cho cả hai yếu tố: bảo tồn di sản và phát triển du lịch
Trang 7Giả thuyết 1 Phát triển du lịch có thể mang lại lợi ích cho việc bảo tồn di
sản (trong đó có lễ hội truyền thống) nếu chúng ta biết cách quản lý hoạt động
du lịch một cách thích hợp
Giả thuyết 2 LHCTĐS được tổ chức để tôn vinh văn hóa địa phương và
phục vụ khách du lịch Cả hai mục đích này được kết hợp hài hòa với nhau Việc tổ chức LHCTĐS có thể được xem là một ví dụ tốt cho việc sử dụng di sản để khai thác du lịch
8 Đóng góp của luận văn
- Tổng hợp và hệ thống hoá các quan điểm về bảo tồn di sản và phát triển
du lịch, cũng như xác định mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn di sản để tìm ra những yếu tố hấp dẫn thu hút du khách của lễ hội, đóng góp cho
sự phát triển của Đồ Sơn nói riêng và cả nước nói chung
- Nghiên cứu lễ hội chọi trâu Đồ Sơn như một ví dụ điển hình, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc bảo tồn di sản và phát triển du lịch
- áp dụng phân tích SWOT (Strengths: điểm mạnh, Weaknesses: điểm yếu, Opportunities: thuận lợi và Threats: khó khăn) đối với mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch ở lễ hội chọi trâu Đồ Sơn
Trang 8Chương 1:
Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa bảo tồn di
sản vμ phát triển du lịch 1.1 Mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội
Mối quan hệ giữa du lịch và di sản đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập
đến, đặc biệt là các nhà nhân học, tâm lý học và xã hội học Smith (2001) cho
rằng “Du khách rời khỏi nhà của mình bởi vì những lý do nhất định nào đó, và
họ lựa chọn đến một địa điểm nào đó bởi họ tin rằng mình sẽ được trải nghiệm những điều gì đó tích cực hơn, những thứ mà họ không thể có được nếu họ ở nhà” [61, tr 42-43] MacCannell (1999) cũng cho rằng “Mọi du khách mong muốn tham dự sâu hơn vào xã hội và văn hóa ở một mức độ nào
đó; đây là yếu tố cơ bản trong động cơ đi du lịch của họ” [49, tr.10] và “Mọi
điểm du lịch đều là những trải nghiệm văn hóa” [49, tr 23) Như vậy, du lịch
có nhiều tiềm năng trong việc thu hút, và LHCTĐS rõ ràng có khả năng để thực hiện tốt điều này
Uysal và Gitleson (1994) nhấn mạnh hơn nữa vào mối quan hệ giữa lễ hội và
du lịch bằng phân tích “Các lễ hội là những sự kiện truyền thống được tổ chức
để tăng nhu cầu du lịch của những du khách tiềm năng” (trích của Formica,
1998, [63 tr 136] Và Getz (1990) cũng thừa nhận rằng :
Lễ hội và những sự kiện đặc biệt là những nguồn lực văn hóa của một địa phương, có thể tạo nên thành công cho việc tổ chức một sự kiện nào đó Những sự kiện này thường được tổ chức để tạo ra một hình ảnh tích cực cho một địa điểm và đem lại tiền bạc cho nền kinh tế địa phương Những
sự kiện di sản và văn hóa như vậy cũng được xem như một phần của trào lưu du lịch mới - du lịch thay thế” [38, tr 75]
Trang 9LHCTĐS là một ví dụ như thế theo nhận định của mối quan hệ này Một trong những mục đích chính của chính quyền địa phương khi phục hồi LHCTĐS là nhằm tới việc thu hút khách du lịch cho năm du lịch quốc tế
1990 Những người tổ chức hy vọng rằng, thông qua việc quảng bá hình ảnh lễ hội như một loại hình hoạt động mới, bổ sung vào những ưu điểm vốn có của
Đồ Sơn, du khách sẽ chú ý nhiều hơn đến mảnh đất này Lễ hội là một mục
đích và lý do để người dân đến du lịch Đồ Sơn sẽ có lợi ích cả về tiền bạc và thời gian của du khách từ việc tổ chức lễ hội và các loại hình dịch vụ đi kèm với nó
Nói về mối quan hệ giữa chủ và khách, Valene L Smiths (1989) đi tìm
đáp án trả lời cho câu hỏi “tại sao và như thế nào mà du lịch rất quan trọng với một địa điểm cũng như các phương diện mà khách du lịch và người dân
địa phương nghĩ về nhau” [60, tr 55] Thông qua nhiều nghiên cứu thực tế, rõ
ràng nhận thấy rằng nhận thức về du lịch, du khách cũng như dân địa phương
đã và đang thay đổi Vì thế, mối quan hệ giữa chủ và khách qua thời gian đã không còn như cũ Greenwood (1989) đã đóng góp ý kiến của mình về văn hóa và tính cộng đồng của nó, sự sụp đổ của ý nghĩa văn hóa và ông coi đó là
“văn hóa chạy theo đồng tiền” [41, tr 87] Theo một nghĩa nào đó thì nó đúng
với khu nghỉ dưỡng Đồ Sơn (dẫn theo Smith 1989)
Theo nghĩa lễ hội là một di sản, Hitchcock (1997) cho rằng “cộng đồng
địa phương chính là người chủ của di sản và chính họ sở hữu tri thức bản địa, những gì tạo nên sự sống động cũng như sự bền vững lâu dài của địa điểm du lịch đó” [44, tr 201] Bổ sung thêm vào đó, Boissevan (1979), người xem xét
mối quan hệ giữa di sản với du lịch đã nhắc đến trường hợp của Malta, và tin
rằng “du lịch giúp con người tái phát hiện ra di sản văn hóa của chính bản thân họ” (theo Getz 1990) [29, tr 76] Tuy nhiên, sử dụng lễ hội như là một di
Trang 10sản cho mục đích du lịch thì không hề đơn giản và dễ dàng Getz (1990) nhấn mạnh rằng:
“Lợi ích xã hội và văn hóa của những lễ hội và sự kiện liên quan đến việc chúng khuyến khích phát triển cộng đồng và truyền thống văn hóa cũng như cung cấp cơ hội nghỉ ngơi thư giãn Các lợi ích kinh tế của sự kiện du lịch có những hiệu quả tích cực nhất định đối với cộng đồng đó và các hình thức mà con người làm việc cũng như vui chơi Nhưng nó cũng gây
ra những vấn đề và tổn thất đáng kể” [38, tr 59]
Hơn thế nữa, McLaren cho rằng “sự toàn cầu hóa du lịch đang đe dọa các giá trị bản địa, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, tôn giáo, các di tích thiêng liêng, mối quan hệ và cấu trúc xã hội, đời sống thiên nhiên, hệ sinh thái
và các quyền cơ bản, đơn giản chỉ vì các sản phẩm tiêu dùng khác mà chúng
có thể nhanh chóng trở nên cạn kiệt” (McLaren 1999, trang 3 theo Smith
2001, trang 200) [61, tr 200] Cùng đặc điểm như vậy, Getz (1990) lưu ý rằng, rất nhiều tác giả đã lo lắng về những ảnh hưởng tiêu cực của du lịch với văn hóa truyền thống Những hậu quả này thường vô hình trong đối với các sản phẩm văn hóa như nghi lễ, âm nhạc, vũ điệu, lễ hội, và đặc biệt là trang phục truyền thống Người dân địa phương thường nhanh chóng rút ra bài học rằng, văn hóa mà du khách có thể mua bằng một khoản tiền lớn thì sẽ để lại hậu quả thông qua sự biến đổi các lễ hội truyền thống Một điều nữa cũng sẽ xảy ra là sự biến thể của các nghi lễ thành các hình thức giải trí để cho dễ biểu
diễn hơn, hoặc dễ làm hài lòng khán giả hơn “Trong cả hai trường hợp, các giải thưởng trở nên vật chất đã làm mất đi ý nghĩa văn hóa của chúng” [38, tr
Trang 11giảm giá trị của các sự kiện văn hóa khác với sự thành công của con người trong việc áp dụng các chiến lược nhằm duy trì các giá trị nguyên bản trong khi đó khai thác chúng một cách có chọn lựa trên thị trường cùng một thời điểm Noronha (1979) tin rằng, người dân Bali của nước Indonesia có khả năng giữ cho ý nghĩa của các cuộc biểu diễn long trọng tách bạch với các buổi trình diễn cho du khách, và vì thế mà họ trở nên nổi tiếng Tờ báo Canada (1989) đưa ra các ban nhạc Alberta ấn Độ làm thế nào để lên kế hoạch cho một lễ hội văn hoá bản địa có thề giữ nghi lễ tôn giáo tách ra khỏi cách nhìn của cộng đồng (Getz 1990, tr 60 – 61) Hơn thế nữa, Shackley cố gắng để thảo luận về tính chân thực thông qua nghiên cứu thực tế về huyền thoại Robin Hood Bà cho rằng hình ảnh của
điểm đến có ảnh hưởng mạnh đến cách ứng xử của du khách và mang tính quyết định trong quá trình lựa chọn điểm đến du lịch (theo Smith và Brent, 2001) Về khía cạnh thu hút khách du lịch, với những gì chúng ta biết về lễ hội và những truyền thuyết liên quan đến LHCTĐS cũng như vùng đất này,
Đồ Sơn nên xây dựng một hình ảnh như thế và LHCTĐS có thể là một phần trong bức tranh đó
Hitchcock, M và King, V T (1993) đã cung cấp một quan điểm toàn diện
về du lịch ở vùng Đông Nam á, vì thế nó đã giúp so sánh những thuận lợi và bất lợi giữa du lịch Việt Nam và du lịch của các nước khác trong khu vực Đặc biệt là trong bối cảnh du lịch Việt Nam phát triển tương đối muộn hơn so với các nước khác, và chúng ta nên rút ra bài học từ các nước đó Tác giả cũng chỉ
ra điểm mạnh và điểm yếu, cũng như cơ hội và thách thức của du lịch vùng miền Nó cũng thật có ích khi thấy được những thay đổi văn hóa vì phát triển
du lịch thông qua các nghiên cứu thực tế trong cuốn sách này Tóm lại, nó tốt cho phương pháp nghiên cứu so sánh
Trang 12Tất cả những thảo luận này rất đáng lưu tâm vì LHCTĐS thực sự đang chịu ảnh hưởng của sự thương mại hóa thông qua du lịch Tất cả những tranh luận trên cũng là những tranh luận cho vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của LHCTĐS trong bối cảnh phát triển du lịch
1.2 Mối quan hệ giữa du lịch và quản lý lễ hội
McDonnel, Allen, và O’Toole chỉ ra những ảnh hưởng có thể có đối với
lễ hội trong bối cảnh xã hội, kinh tế và văn hóa hiện nay Đó là một nghiên cứu toàn diện về lễ hội và nó cũng hữu ích trong việc am hiểu công tác quản
lý, khái niệm, phạm vi hoạt động, vv liên quan tới lễ hội và sự kiện Theo
họ, các sự kiện đặc biệt (và lễ hội) đóng một vai trò hết sức quan trọng trong xã hội Giá trị kinh tế và quảng bá của chúng được thừa nhận (Mc Donnel, Allen, và O’Toole 1999, trang 15) [27, tr 15] Về mặt quản lý các lễ hội, các tác giả cũng thảo luận một mục tiêu SMART (S – cụ thể, M – có thể tính toán
được, A – có thể đạt được, R – thích hợp, T – thời gian cụ thể) và phân tích SWOT (S – điểm mạnh, W – điểm yếu, O – cơ hội, T – thách thức) Sẽ rất có ích nếu áp dụng phương pháp này vào trường hợp lễ hội trọi trâu Đồ Sơn
Getz (1990) cung cấp cho chúng ta kiến thức và thông tin chủ yếu của mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch trong cuốn sách của mình “Lễ hội, các sự kiện đặc biệt và du lịch” Ông phát triển định nghĩa đó với các quan niệm và phương thức cần thiết để nâng tầm sự kiện du lịch trong phạm vi quy hoạch du lịch Tuy nhiên, ông cũng nhận ra rằng :
Không phải tất cả các sự kiện đều có thể đóng một vai trò quan trọng trong du lịch Rất nhiều các sự kiện truyền thống tốt hơn hết là không nên khai thác để bảo tồn tính toàn vẹn của văn hóa Bên cạnh đó, cùng với bất
kỳ một hình thức phát triển nào khác, người lên kế hoạch du lịch phải
được cảnh báo về rất nhiều hậu quả tiềm tàng mà các sự kiện đó có thể gây ra [38, tr 12]
Trang 13LHCTĐS cũng không nằm ngoài tình huống đó Có nhiều người muốn thương mại hóa lễ hội nhưng cũng có nhiều người khác cố gắng để giữ nó cho bản thân cộng đồng
Kim, Uysal, và Chen (2002) dường như ủng hộ vai trò của lễ hội và bàn luận nhiều hơn về điều đó bằng việc phát biểu rằng:
Lễ hội và các sự kiện đặc biệt cũng đóng góp một phần quan trọng như là
sự cuốn hút của điểm đến và cung cấp kinh nghiệm độc đáo cho người tham gia Những sự kiện này cũng có khả năng cung cấp cả lợi ích hữu hình, như thu nhập phụ và doanh thu thuế, và các giá trị vô hình như khôi phục lại lòng tự hào của cộng đồng và tăng cường hình ảnh của địa điểm
đời sống cộng đồng địa phương như một sản phẩm phục vụ du lịch hay thể thao thuần túy Quản lý du lịch nói chung và quản lý lễ hội nói riêng nên dựa vào những thuộc tính của lễ hội, nhu cầu và yêu cầu của du khách - những
Trang 14người rất thích thú với việc khám phá văn hóa địa phương Điều này lại đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến tính chân thực của di sản khi có tác động của du lịch Khai thác tính chân thực và sự bảo tồn di sản cũng là vấn đề cần được thảo luận Getz (1990) lập luận rằng :
Về khía cạnh áp lực để thương mại hóa truyền thống và để làm cho các lễ hội cộng đồng thêm gần gũi với quần chúng, các sự kiện đặc biệt (như lễ hội chẳng hạn) phải giúp duy trì những ý nghĩa chân thực tới ban tổ chức
và các sự kiện xác thực, chứ không phải những sự kiện trọn gói và bị thương mại hóa, sẽ được tổ chức lôi cuốn hơn với du khách có khả năng phá hủy ít nhất và mang lại tác động tích cực nhiều nhất [38, tr 20, 21] Liên quan đến tính chân thực của di sản và việc khai thác nó cho du lịch, các nhà khoa học gần đây đã bàn nhiều đến khái niệm di sản như một sự thật
mang tính lịch sử Như vậy, khi chúng ta nói về "di sản như là một sự thực mang tính lịch sử", chúng ta cũng cần lưu ý đến một quan điểm khoa học là,
chân lý khách quan phụ thuộc vào hoàn cảnh (không gian - thời gian - cách tiếp cận), và quan điểm về sự tồn tại của một vài chân lý khách quan ý tưởng này dẫn chúng ta đến một nghi ngờ khoa học về tính “chân lý khách quan” của một sự vật hay hiện tượng Trong trường hợp di sản, các di sản tồn tại như một sự thực khách quan, được biện giải bởi những chứng cứ khoa học và lịch
sử Tuy nhiên, chúng ta cũng đồng ý rằng khi lịch sử được xử lý thành di sản,
bằng chứng khoa học đã mất đi giá trị của nó, để "di sản tạo ra hiện thực riêng cho nó" [42, tr 22]
Selwy (1996) nhận định rằng “nếu chúng ta đồng ý với Mac Cannel và một số người khác rằng, du khách thích tìm kiếm những giá trị chân thực, chúng ta cần phải thêm vào rằng những giá trị chân thực đó có hai mặt, một phải đi cùng với nhận thức và một với tri thức” [57, tr 7] Cohen (1988) lại nghĩ hơi khác một chút Ông cho là “tất cả du khách đang tìm kiếm sự chân
Trang 15thực trong khía cạnh dân tộc học và rằng sự giải trí của du khách nói chung
ít liên quan đến tính chân thực hơn và có thể được chấp nhận như là một sản phẩm văn hóa hay sự thu hút mà các du khách văn hóa có liên quan lại tưởng
là không chân thực” [31, tr 375] Trong nghiên cứu thực tế của Nottingham
và huyền thoại Robin Hood, Shackley (theo Smith và Brent, 2001) đồng ý rằng trong trường hợp nghiên cứu của bà ở Nottingham, một vài khách du lịch muốn xem các bằng chứng thỏa đáng để xác nhận huyền thoại đó nhưng số
đông vẫn không quan tâm Bà nói rằng :
Khách tham quan có thể được cảnh báo rằng, địa điểm đó không có thật nhưng họ có thể có được những trải nghiệm có giá trị bằng việc tưởng tượng Vấn đề với các du khách đến Nottinghamshire không phải là liệu Robin Hood có phải là nhân vật có thật mà họ có thể có một thời gian tốt
để tìm ra điều đó Và họ có thể [58, tr 322]
Trong phát triển du lịch, việc tạo ra cảm nhận chân thực của du khách về nguồn gốc của LHCTĐS và những di tích đi liền với nó có thể giúp bảo tồn lễ hội tốt hơn và việc khái thác du lịch bền vững hơn
Câu hỏi thực tế Di sản cho ai được rất nhiều nhà khoa học xã hội đi tìm
câu trả lời Tác giả luận văn đồng ý rằng : Di sản là một sản phẩm của thời hiện tại, phát triển nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại đối với nó, và được định hình bởi những yêu cầu ấy Nó tạo ra hai loại liên kết liên thế hệ theo đó cả hai đều được xác định bởi thời hiện tại Thời hiện tại lựa chọn một di sản từ một quá khứ được mường tượng ra cho mục đích hiện tại
và quyết định những gì nên được chuyển giao cho một tương lai mà xã hội ấy
mong chờ Đây chỉ là một sự mở rộng của ý tưởng rằng "tất cả lịch sử đều là lịch sử đương đại"; "quá khứ thông qua con mắt của thời hiện tại" Chính vì
vậy, cả lịch sử và di sản sử dụng quá khứ một cách có lựa chọn cho mục đích hiện thời và biến đổi nó thông qua sự giải thích Lịch sử là những gì mà một
Trang 16nhà lịch sử xem rằng có giá trị để ghi chép lại và di sản là những gì mà xã hội
đương đại lựa chọn để kế thừa và chuyển giao cho các thế hệ tương lai [62, tr.6] Michael Hitchcock cho rằng di sản không đơn thuần chỉ là quá khứ Quá khứ là nguyên liệu ban đầu để cho mỗi thế hệ phát hiện lại di sản cho chính mình [4344, tr.201]
Ngày nay, người ta cho rằng di sản là một dạng sản phẩm văn hóa, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện tại Với tư cách là một sản phẩm văn hóa, di sản nói chung, lễ hội nói riêng, có những lôgíc vận hành phù hợp với vai trò của
nó trong xã hội hiện tại Theo Getz, các lễ hội có vai trò quan trọng đặc biệt như kích thích nhu cầu thăm quan của khách du lịch, tạo tính hấp dẫn cho
điểm thăm quan, xây dựng hình ảnh cho một vùng đất cũng như là tác nhân kích thích phát triển đô thị, xã hội, hình thành du lịch thay thế và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững [38, tr.5] Còn Ringer cho rằng, thứ nhất di sản được xem như một nguồn lực về văn hóa có giá trị trong tự bản thân nó; thứ hai, di sản được xem như một nguồn lực về chính trị trong việc tạo nên sự ủng hộ của người dân đối với chính quyền; thứ ba, di sản được xem như một nguồn lực về kinh tế thông qua các hỗ trợ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho các hoạt động kinh tế ấy [55, tr.63]
Tóm lại, lễ hội truyền thống được xem là một phần di sản của một cộng
đồng Là một di sản, lễ hội được coi là một nguồn lực văn hóa, kinh tế và chính trị Hiển nhiên là tất cả những nhân tố đó không đồng hành cùng với nhau Từ quan điểm văn hóa, người dân địa phương muốn giữ lễ hội như bản thân nó vẫn thế; từ quan điểm kinh tế, con người muốn đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (du khách); và từ viễn cảnh chính trị, họ hi vọng được thấy lễ hội đóng vai trò phục vụ xã hội giống như các lĩnh vực xã hội khác Hơn thế nữa, LHCTĐS có tất cả các đặc điểm để giúp hình thành nên những giá trị văn hóa cho một địa điểm du lịch Tunbridge and Ashworth (1996) đã sàng lọc
Trang 17những xung đột có thể xảy ra giữa quá khú và hiện tại trong việc sử dụng di sản Họ cho rằng :
Một điều hiển nhiên là quá khứ ít áp đặt nhất những hạn chế thông qua các di sản vật chất của nó, và chúng ta đã trở nên quen với việc công nhận sự tồn tại của các giá trị chính trị và xã hội mà trong suốt một thời gian dài chúng ta đã ủy thác vào một chiếc hộp vô định được đánh dấu là
“phức tạp” [28, tr 9]
Tác giả cho di sản là nguồn lục văn hóa, chính trị và cả kinh tế Những
điều này tạo nên sự khác biệt trong việc quản lý di sản và phát triển du lịch, và
trong trường hợp LHCTĐS, chúng đã mang lại hiệu quả
1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và phát triển
Như chúng ta biết, du lịch luôn được xem là động lực hoặc là ý nghĩa của sự phát triển Rất nhiều tác giả nhìn nhận rằng du lịch và phát triển luôn
đồng hành và tác động qua lại lẫn nhau Về cơ bản, tất cả các tác giả đồng ý với Reime và Hawkins (1979) rằng :
Sự phát triển du lịch thành công được đo bởi lợi ích của cả người dân và
du khách Sự phát triển du lịch được lên kế hoạch một cách cẩn thận, lâu dài sẽ điều tiết được nguyện vọng của du khách - nó sử dụng những đặc tính tự nhiên của địa điểm du lịch, cho dù mang tính xã hội hay tự nhiên,
để đáp ứng các nhu cầu rõ ràng của những khách hàng chọn lọc (Reime
và Hawkins, 1979, tr 68)
Trong cuốn sách của mình, Smith và Brent (2001) thảo luận về một địa điểm
thông qua nhiều nghiên cứu thực tế Từ “du lịch hoang dã ở Zinbabwe” đến
“Du lịch ở Maya Periphery” và đến “Du lịch tới nhà của Anne Frank” hay “ Bài học của sự phát triển du lịch Philippine”,vv Các tác giả muốn gửi đi một
thông điệp rằng, du lịch và sự phát triển có thể có chung một ý nghĩa Điều đó
Trang 18nghĩa là, du lịch có thể giúp phát triển và ngược lại Nhưng xu hướng đó không hiển nhiên đúng trong nhiều trường hợp Sự phát triển du lịch cũng không phải luôn là sự phát triển xã hội Sự phát triển du lịch bền vững nên là mục tiêu của tất cả các điểm du lịch, bao gồm cả Đồ Sơn và LHCTĐS
Murphy (1998) nhận ra sự phát triển du lịch bền vững này như là “dẫn đến việc quản lý tất cả các nguồn lực theo cách chúng ta lấp đầy các nhu cầu kinh
tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì sự toàn vẹn của văn hóa, các quá trình sinh thái cần thiết, sự đa dạng sinh học và hệ thống hỗ trợ cuộc sống"
[61, tr 188]
“Học cách sống với du lịch”, Craig Smith, S., và French, C., (1985) là
một cuốn sách có ích khác để hiểu them về vai trò quan trọng của du lịch trong sự phát triển đất nước Cuốn sách cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về những thuận lợi và khó khăn của việc phát triển du lịch với nhiều nghiên cứu thực tế, và gợi ý việc làm thế nào du lịch có thể phát triển và được
điều chỉnh trong tương lai Ông nói :
Mặc dù công việc và thu nhập thường là nhân tố quan trọng trong việc mọi người ủng hộ cho du lịch nhưng chúng ta cũng có các lợi ích khác nữa Nhu cầu của du khách có thể đảm bảo an toàn cho các cấu trúc lịch
sử, môi trường và truyền thống cổ xưa Du lịch thường được sử dụng như
là một lời bào chữa cho việc hạn chế hình thức công nghiệp ở các vùng nông thôn [34, tr 39]
Trang 19Ringer (1998) cũng bàn về mối quan hệ giữa du lịch và sự phát triển, và nhận
định rằng “nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phát triển du lịch trong mối quan hệ với phát triển đất nước đã đưa ra một cách nhìn tiêu cực, trong đó chủ yếu nói đến sự lệ thuộc vào tự nhiên và du lịch theo mùa, địa vị thấp của
địa điểm du lịch và việc kiếm tiền phi pháp trong ngành du lịch" [55, tr 76) Tuy nhiên, với việc nghiên cứu thực tế ở Bali, ông gợi ý rằng : “Nói chung, quan hệ kinh tế là tích cực, thông qua việc tăng mức thu nhập cá nhân, các tầng lớp lao động trong các ngành công nghiệp liên kết với ngành du lịch (ví
dụ như ngành thủ công, may mặc) và việc cải thiện cơ sở hạ tầng nói chung” Tuy nhiên, nó không rõ ràng lắm trong việc liệu mức tăng thu nhập cộng đồng
có nên góp phần vào việc cải thiện phúc lợi cộng đồng Theo Geriya (1993),
để đảm bảo phúc lợi cộng đồng được cải thiện, thu nhập từ du lịch nên đóng góp nhiều hơn vào việc nâng cao giáo dục, giữ gìn môi trường và sự duy trì các nghi lễ tôn giáo” [55, tr 74), và ông cũng đồng ý rằng :
Lao động trong ngành du lịch là tiềm năng để tạo được thay đổi hiệu quả trong một cộng đồng, cũng như tạo ra một sự thay đổi trong vị trí xã hội cho nguồn lao động đó Nó có thể làm thay đổi các tổ chức xã hội và gây
ra sự thay đổi trong các giá trị văn hóa mà nói cách khác có thể có những tác động cho việc xác định vị trí xã hội (Culier-Snow và Wall 1993 theo Ringer, 1998, trang 63)
Tất cả những nhân tố này sẽ được thể hiện trong LHCTĐS
Về khía cạnh lễ hội, Delamere cho rằng điểm quan trọng của du lịch và phát triển là :
Chính quyền địa phương, người dân và nhà tổ chức lễ hội - nắm bắt được
ý nghĩa lễ hội như là một lợi ích đối với nền kinh tế địa phương - đã tìm kiếm cách để tối đa hóa hiệu quả kinh tế bằng việc thu hút càng nhiều khách du lịch càng tốt Điều này đã được thực hiện mà ít có những đánh
Trang 20giá về các thay đổi xã hội và những vấn đề mang tính xã hội có thể xảy ra (Crandall, 1994)
Để tránh được những hậu quả này, và phản ứng của người dân với những hậu quả đó, có thể dẫn đến sự giảm thiểu sự đổ vỡ không mong muốn của cuộc sống cộng đồng địa phương (mà có thể liên quan tới lễ hội đó), chúng ta
có thể phải khuyến khích sự cân bằng giữa động lực phát triển xã hội và kinh
tế trong cộng động (Delamere 2001, trang 25) Hay như Kim, Uysal và Chen
cho rằng “lễ hội và các sự kiện đặc biệt có thể giảm thiểu được các hậu quả tiêu cực, đóng góp vào sự phát triển bền vững, khuyến khích mối quan hệ chủ
- khách và giúp bảo tồn được môi trường tự nhiên nhạy cảm và văn hóa xã hội” [45,tr 128) Tất cả những vấn đề này có thể xảy ra ở khu nghỉ dưỡng Đồ
Sơn và LHCTĐS
Liên quan đến lễ hội, du lịch và phát triển, Getz gợi ý rằng : Các mục tiêu của sự kiện du lịch (trong đó có lễ hội như LHCTĐS) phải mang tính đại chúng, không chỉ trong phạm vi kinh tế Dựa trên tiền đề mà ngành du lịch đặt
ra, phương pháp lập kế hoạch phải thống nhất để mục tiêu du lịch được phát triển bền vững trong sự xem xét đầy đủ các quan điểm khác Mục tiêu toàn diện của sự kiện du lịch phải giải quyết được các vấn đề sau:
- Mức độ mà các sự kiện (lễ hội) hiện tại có thể được phát triển và quảng bá như là điểm thu hút khách du lịch;
- Mức độ sẽ hỗ trợ để phát triển hoặc giúp việc tạo ra các sự kiện (lễ hội) mới và đấu thầu các sự kiện lưu động được thiết lập;
- Những sự kiện (lễ hội) chính sẽ được tiến hành nối dài mùa du lịch và mở rộng địa điểm;
- Những sự kiện (lễ hội) chính sẽ được tiến hành nhằm tạo ra và nâng cao hình ảnh của khu du lịch;
Trang 21- Những sự kiện (lễ hội) chính sẽ được tiến hành nhằm khuyến khích nghệ thuật, mục tiêu văn hóa, thể thao, giải trí, sự bảo tồn tự nhiên và di sản, và
Tóm lại, rõ ràng rằng các lễ hội, du lịch, phát triển, những hiệu quả kinh
tế xã hội,vv, có mối liên hệ với nhau Sử dụng lễ hội như là một chủ đề để thu hút du khách không phải là một nhiệm vụ dễ dàng Nó yêu cầu rất nhiều đầu tư và ý tưởng không chỉ bởi chính quyền địa phương, các nhà quản lý mà còn bởi chính người dân và khách du lịch nữa
1.4 Về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch
Giữa văn hoá và du lịch luôn luôn có mối quan hệ biện chứng Mối quan
hệ này càng thể hiện rõ trong sự liên hệ giữa việc bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử và văn hoá - một bộ phận yếu nhất của nguồn tài nguyên du lịch Giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hoá và được biểu hiện sinh động trong các di sản văn hoá mà du lịch đã, đang và sẽ góp phần không nhỏ để thực hiện sự giao lưu văn hoá Du lịch là cầu nối giữa các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, đồng thời tạo lập mối quan
hệ trực tiếp giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi dân tộc Trong nhiều năm trở lại đây, với sự phát triển kinh tế không ngừng, cũng như là đời sống vật chất của người dân cải thiện rất nhiều đã khiến cho số lượng khách du lịch trên thế giới tăng lên một cách rõ rệt Với nguồn thu nhập tăng nhanh và ý
Trang 22nghĩa quan trọng về mặt xã hội như vậy nên nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã coi du lịch như một ngành công nghiệp không khói mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế không nhỏ Đồng thời, trên bình diện quốc tế, du lịch đã
và đang thực sự trở thành một ngành công nghiệp với những mối liên hệ trực tiếp và hữu cơ với các ngành khác, đặc biệt là ngành văn hoá Sự phát triển của
du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo tồn các di sản văn hoá Doanh thu từ các hoạt động du lịch được sử dụng một phần cho việc
tu bổ di tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể, đặc biệt là các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, ca múa nhạc truyền thống phục vụ du lịch Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực không thể phủ nhận của du lịch đối với đời sống kinh tế văn hoá, các hoạt động du lịch cũng đem lại những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến công cuộc bảo tồn các di sản văn hoá nói riêng và nếp sống văn hoá nói chung Dẫn chứng mà chúng ta thấy rõ nhất là đối với các di sản văn hoá được UNESCO công nhận hay các di tích cấp quốc gia, số lượng khách tham quan đã và đang trở thành mối nguy cơ đe doạ việc bảo vệ các di sản này Sự có mặt quá đông của các du khách trong một thời điểm ở một di sản đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học, cùng với những yếu tố khí hậu nhiệt đới gây nên những huỷ hoại đối với
di sản và động sản phụ thuộc như các vật dụng trang trí, đồ thờ tự Đồng thời, sự phát triển của các dịch vụ du lịch thiếu sự kiểm soát và sự bùng nổ du khách còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hoá và môi trường sinh thái tại các khu di tích Tại nhiều khu di tích, du khách đã viết, khắc tên lên vách
đá, lên các bộ phận của di tích một cách bừa bãi Sự ô nhiễm bởi các loại bụi bặm, xăng dầu của các phương tiện vận tải, bởi các loại rác thải
Du lịch tạo nên sự tiếp xúc giữa các bộ phận cư dân xuất thân từ các nền văn hoá khác nhau, có tập tục sinh hoạt, tín ngưỡng khác nhau Do nhiều du khách đã ăn mặc và ứng xử tuỳ tiện ở những nơi được coi là trang nghiêm đặc biệt là những di tích có ý nghĩa tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân sở tại, gây
Trang 23nên sự bất hoà và thậm chí là xung đột về mặt tâm lý, tín ngưỡng, tôn giáo và tinh thần Đồng thời sự bùng nổ số lượng lớn du khách nước ngoài còn tác
động đến tập quán sinh hoạt và truyền thống văn hoá của người địa phương, thậm chí cả mại dâm trẻ vị thành niên là một trong những tệ nạn xã hội đã và
đang bị lên án, bài trừ Những tác động tiêu cực nói trên còn có nguyên nhân
từ việc quản lý các hoạt động du lịch Tình trạng hướng dẫn viên không chuyên phát triển một cách bừa bãi đã tạo nên tình trạng những nội dung lịch
sử văn hoá bị giới thiệu sai lệch và thậm chí nhiều khi còn bị bóp méo
Một nhân tố nữa cũng tác động mạnh mẽ đến du lịch, đó chính là các hoạt động kinh tế xã hội, chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau và có liên quan đến nhiều hoạt động của số đông người Bên cạnh đó, du lịch không thể
đơn phương tồn tại và không thể đơn phương phát triển, như vậy quản lý du lịch cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các ngành văn hoá, kinh tế trong chiến lược phát triển du lịch bền vững Các yếu tố cơ bản tạo
điều kiện để xây dựng du lịch bền vững là: môi trường, di sản, lối sống văn hoá, các dịch vụ du lịch như ăn ở, đi lại, chúng tác động qua lại lẫn nhau và bổ sung cho nhau Tuy nhiên trong sự phát triển bền vững của du lịch, điều cốt lõi nhất là sự cân bằng, giới hạn và kiểm soát Và trung tâm điểm của du lịch văn hoá là con người và những di sản văn hoá Cần thừa nhận một thực tế khách quan là: Du lịch là một ngành công nghệ nhằm phục vụ cũng như chịu
ảnh hưởng của mức sống và khả năng thẩm mỹ của con người, mà những yếu
tố này là thường xuyên thay đổi vì một điều văn hoá luon thay đổi và phát triển
Di sản văn hoá là cơ sở quan trọng của du lịch văn hoá Ngoài những di tích và di vật- những bằng chứng vật chất và tinh thần của quá khứ, lối sống của cộng đồng và môi trường thiên nhiên cũng là những khía cạnh văn hoá quan trọng của di sản Để đạt được sự bền vững, du lịch phải duy trì được khả năng thu hút và về lâu dài phải hấp dẫn đối với khách Khi những yếu tố của
Trang 24di sản văn hoá được khuyến khích bởi du lịch thì chúng sẽ mang những ý nghĩa và giá trị mới do được xem xét và đánh giá bởi du khách, chúng trở thành sản phẩm của du lịch, là một phần của công nghệ du lịch Khách phải trả giá để được thưởng thức những sản phẩm đó Ngược lại ngành du lịch với tư cách là những đại lý của du khách đòi hỏi một sự thay đổi đối với điều kiện
về cơ sở vật chất: phương tiện, cơ sở hạ tầng và các điều kiện thuận lợi cho khách du lịch tới thăm các di sản văn hoá Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc cải tạo cơ sở hạ tầng sẽ góp phần tạo nên sự thay đổi đa dạng và nếu không được nghiên cứu cẩn trọng sẽ dẫn đến sự vi phạm đến tính nguyên gốc và tính toàn vẹn của các di sản Tại các khu di tích, du khách cần được giải thích đơn giản, xúc tích để hiểu được những giá trị và nội dung của di sản, hết sức trãnh việc giải thích một cách trừu tượng, phức tạp Vì thế các hướng dẫn viên du lịch cần phải nắm vững những nội dung chủ đạo của di sản và quá trình tu sửa, tô tạo với những thông tin chuẩn xác do ngành văn hoá cung cấp Dưới góc độ tâm lý, một trong những yêu cầu của du khách là muốn được đáp ứng tính hoài cổ cho nên cần kết hợp tuyên truyền giới thiệu những cảnh tượng lịch sử kết hợp với những nơi giải trí để hấp dẫn và thu hút khách Một trong những biện pháp cơ bản góp phần vào việc thu hút khách du lịch là tăng cường tính
đa dạng và phong phú của các sản phẩm du lịch, kể cả trang phục và văn hoá
ẩm thực truyền thống Đồng thời, đẩy mạnh kết hợp giới thiệu các di sản vật thể với các di sản phi vật thể
1.5 Vấn đề khai thác di sản văn hoá như là một tài nguyên du lịch
Mỗi di sản, dù là di sản văn hoá thiên nhiên, vật thể hay phi vật thể đều
có những đặc thù khác nhau Sự khác nhau có thể là ở các nội dung giá trị của mỗi di sản, có thể là ở phân bố vị trí địa lý, tổ chức quản lý, hoạt động sử dụng hay phát huy giá trị di sản Không những thế, ngay chính trong từng loại hình
di sản lại có những nét khác nhau, chẳng hạn như: cùng là di sản thiên nhiên nhưng Vịnh Hạ Long ở vùng Biển Đông Bắc của Tổ quốc, Vườn Quốc gia
Trang 25Phong Nha – Kẻ Bàng toạ lạc trên vùng núi Trung Bộ Do vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị mỗi di sản cũng có những yêu cầu riêng rất khó khăn, phức tạp Để bảo tồn vững chắc, phát huy bền vững các di sản văn hoá và thiên nhiên của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước trong đó có yếu tố du lịch Trong những thập kỷ qua, chúng ta đã phải nỗ lực rất nhiều để ngăn chặn sự xuống cấp của rất nhiều di sản, bảo vệ tính toàn vẹn
và nguyên gốc của từng di sản trước sự xâm phạm từ các hoạt động có ý thức hay vô ý thức của con người và các tác động của thiên nhiên Việt Nam đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt kinh tế, văn hoá - xã hội Theo thống kê, Việt Nam đã đón hơn 4 triệu lượt khách quốc tế riêng trong năm 2007, và nó sẽ còn tiếp tục tăng lên qua từng năm Như vậy, ta có thể thấy tầm quan trọng của sự kết hợp giữa di sản và du lịch Việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, đưa di sản hoà vào guồng quay kinh tế một cách hợp lý và có chọn lọc, chúng ta cũng sẽ phải đối mặt nhiều hơn với các cơ hội
đạt được nhiều kết quả khả quan Chúng ta đã có những bước tiến vững chắc trên hành trình của công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản ngày càng hoàn thiện, đội ngũ cán bộ chuyên gia được đào tạo cơ bản đã và đang dần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn Công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di sản mà Nhà nước đang chủ động triển khai mang tính xã hội cao, pjù hợp với truyền thống bảo tồn di sản văn hoá của cha ông, nên đã nhận được sự ủng hộ ngày càng nhiệt tình, tích cực của cộng đồng Khi cộng đồng thấy được lợi ích
Trang 26đích thực, trực tiếp do các dịch vụ, du lịch từ di sản mang lại Di sản giúp cải thiện đời sống của cộng đồng, đồng thời góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương thì sự tham gia của cộng đồng trong sự nghiệp này lại càng mạnh mẽ hơn
Chúng ta đang sống trong thời kỳ hầu hết các địa phương đã và đang triển khai lập quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội địa phương Đây chính là thời cơ để cải thiện tình hình bảo tồn và phát huy giá trị di sản, nếu biết nắm bắt
điều chỉnh các quy hoạch này kịp thời, phạm vi di sản có thể được mở rộng, việc tái định cư cho những người sống trong các khu di sản, hoặc di chuyển các công trình xây dựng không phù hợp trong các khu di sản có thể trở nên dễ dàng hơn
Tuy nhiên khai thác những giá trị di sản văn hoá đặc sắc như thế nào để tôn vinh truyền thống dân tộc của địa phương và đất nước mà không làm sai lệch hình ảnh của các loại hình văn hoá dân tộc không phải là dễ Thực tiễn đã không ít trường hợp đã lợi dụng các hoạt động du lịch để kinh doanh, kiếm lời, thậm chí làm méo mó và đánh mất đi vẻ đẹp đích thực mà nó tiềm ẩn Để
có thể kiểm soát và quản lý là một điều hoàn toàn khó Chính vì vậy, vấn đề nổi cộm cần đặc biệt quan tâm trong việc khai thác, sử dụng, bảo tồn các di sản văn hoá trong hoạt động du lịch ở nước ta hiện nay chính là việc tổ chức quản lý các tài nguyên du lịch này Trong thời gian đầu của ngành du lịch, diễn ra khá dài, chúng ta thường thấy một hiện tượng là: các di sản văn hoá - lịch sử – kiến trúc, các danh lam thắng cảnh được quan niệm như là “của trời cho”, hoạt động du lịch đương nhiên có quyền khai thác, và chỉ có khai thác là
để thu lời mà thôi Người ta chỉ có việc đưa các đoàn tham quan đến rồi đi, còn việc bảo vệ, tôn tạo và tu bổ các di tích là nhiệm vụ của các ban ngành khác, không phải của ngành du lịch, dẫn đến tình trạng “người người, ngành ngành khai thác nhưng cố tình quên tái đầu tư, dẫn đến tình trạng môi trưởng
bị ô nhiễm, xâm hại di tích, danh lam, tài nguyên thiên nhiên Chúng ta đã
Trang 27chứng kiến sự thật đau lòng trên ở nhiều di tích quý giá của dân tộc, một số trong đó biến từ di tích sang phế tích, ngay cả những di sản văn hoá nổi tiếng như Cố đô Huế, Khu di tích Mỹ Sơn, Thành Cổ Loa cũng chưa được bảo vệ,
tu bổ đúng với tầm cỡ giá trị của nó Nhiều di tích cách mạng, khánh chiến cũng bị xâm hại và xuống cấp nghiêm trọng Tuy nhiên, sau những năm khó khăn, khoảng 15 năm trở lại đây, do sự thay đổi quan niệm và việc nâng cao nhận thức, trình độ khoa học quản lý của ngành du lịch và ngành văn hoá, hiện tượng trên đã được khắc phục phần cơ bản, song sự không cân đối giữa khai thác và tu bổ, tái đầu tư vẫn còn khá phổ biến Những chính sách cho việc bảo tồn tính toàn vẹn giá trị của các di tích văn hoá cho thế hệ tương lai trong quá trình hoạt động kinh tế du lịch vẫn không theo kịp với nhu cầu và vì vậy, các chính sách đó chưa là nhân tố đảm bảo cho sư phát triển bền vững của du lịch Việt Nam trong những năm tới Mặt khác, những hạn chế trong quản lý tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên văn hoá còn bộc lộ ở việc phân công
quản lý “Hầu hết tài nguyên du lịch ở nước ta do ngành khác quản lý, mà thường trong tình trạng chồng chéo Vườn quốc gia do ngành nông nghiệp hoặc chính quyền địa phương quản lý, nhưng trong vườn quốc gia đó mà có các di tích lịch sử văn hoá thì lại do ngành văn hoá quản lý” [11, tr 24]
1.6 Những yếu tố tác động đến bảo tồn di sản và phát triển du lịch
1.6.1 Những tác động tích cực của Du lịch - Văn hoá
Trong mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá, chúng ta thường có ý kiến cho rằng du lịch thường phá huỷ văn hoá truyền thống Tuy vậy, có những ý kiến ngược lại coi du lịch đã thực sự làm sống lại văn hoá truyền thống chứ không phải là phá hoại nó
Thứ nhất: Du lịch – văn hoá làm tăng thu nhập của nhân dân địa phương sống gần di tích thông qua các hoạt động kinh doanh khác nhau như các cửa hàng bán đồ lưu niệm, khách sạn, giao thông…
Trang 28Thứ hai: Tăng cường sự hiểu biết giữa nhân dân địa phương và các du khách, đặc biệt về hình ảnh đất nước Du khách đã bắt đầu hiểu lối sống nơi
mình đến du lịch theo phương châm của Liên hiệp quốc: “Du lịch – passport
đến hoà bình”
Thứ ba: Những người có trách nhiệm và cả nhân dân sẽ nhận ra sâu sắc
về giá trị của di sản ở địa phương mình, họ sẽ nỗ lực nhiều hơn để góp phần giữ gìn, bảo tồn và bảo vệ các di sản văn hoá - lịch sử của quê hương đất nước mình
Thứ tư: Cộng đồng địa phương sẽ có sự hiểu biết nhiều hơn, tốt hơn sự khác nhau về văn hoá của các cộng đồng đến du lịch tại địa phương mình Tuy vậy, những tác động tiêu cực của mối quan hệ giữa văn hoá - du lịch cũng không phải là nhỏ
1.6.2 Những tác động tiêu cực của mối quan hệ giữa văn hoá - du lịch
Thứ nhất: Nó có sự xung đột giữa các giá trị văn hoá bản địa và văn hoá của du khách, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ Nhiều nơi đã và đang diễn ra những thay đổi từ lối sống truyền thống sang lối sống hiện đại được du nhập thông qua khách du lịch
Thứ hai: Nhiều giá trị truyền thống của dân tộc thay đổi Những giá trị cũ thiên về tinh thần bị mất đi, thay thế bằng những giá trị hiện đại thiên về vật chất
Thứ ba: Văn hoá đã bị thương mại hoá, hàng hoá hoá, điều này không thể tránh khỏi, nạn buôn đồ cổ, đồ tế lễ, đồ gia bảo, quốc bảo đã trở thành những hiện tượng tương đối phổ biến: nạn ăn cắp tượng ở đình, chùa, miếu, mạo không còn là hi hữu
Có người đã ví du lịch như một ngọn lửa: nó có thể nấu chín thức ăn cho
ta hoặc thiêu cháy nhà ta, tuỳ thuộc vào ta sử dụng nó như thế nào Những ảnh
Trang 29hưởng tích cực hay tiêu cực của du lịch đối với việc bảo tồn di sản văn hoá càng phải được giám sát thông qua việc lập kế hoạch cẩn thận, cụ thể là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức chính phủ Có thể bằng cách này, chúng ta sẽ điều tiết được số lượng và chất lượng của ngành du lịch Trên phạm vi toàn thế giới, nhất là ở những nước đang phát triển, khi mà cuộc sống vật chất, văn hoá tinh thàn của người dân đã đạt ở mức cao thì du lịch đã trở thành nhu cầu không thiếu trong đời sống văn hoá xã hội Chế độ làm việc
5 ngày một tuần đã và đang tạo điều kiện cho người dân có nhiều thời gian rỗi
để đi du lịch Nhu cầu của khách du lịch ngày càng tăng đòi hỏi các cơ sở kinh doanh du lịch phải tiếp cận thị trường kịp thời để thoả mãn mọi nhu cầu cho khách Trên thực tế, hoạt động du lịch đang được phát triển khá mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia trênt hế giới và nó sẽ
là ngành kinh tế lớn vào bậc nhất trong thế kỷ tới Bởi vì, cùng với sự tăng nhanh về số lượng, sự thay đổi về cơ cấu của khách du lịch, với sự gia tăng của tổng doanh thu trong ngành du lịch, đã ra đời và phát triển nhiều loại hình
du lịch Du lịch ngày nay không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay nhóm người nào đó Nó mang tính phổ biến và tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, củng cố hoà bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc Bên cạnh đó, cộng đồng người Việt Nam với 54 dân tộc anh em còn gìn giữ được tương đối nguyên vẹn những phong tục tập quán, những hoạt động văn hoá - văn nghệ đặc sắc và nhiều ký năng độc đáo ở Việt Nam chúng ta còn có hàng trăm làng nghề truyền thống với những sản phẩm nổi tiếng mang tính nghệ thuật và truyền thống, đặc biệt là các nghề chạm khắc, đúc đồng, dệt tơ lụa, sơn mài, gốm… các món ăn dân tộc độc đáo Tất cả những cái đó là tiềm năng du lịch vô cùng phong phú, đa dạng và có sức hấp dẫn lớn không những đối với khách du lịch trong nước mà còn đối với du khách nước ngoài và bà con Việt Kiều ở xa Tổ
Trang 30quốc: có khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhiều loại hình du lịch với các loại
đối tượng khác nhau và khả năng tiếp nhận số lượng lớn khách du lịch
Tiểu kết
Có thể nói, bảo tồn di sản văn hóa giúp cho du lịch phát triển bền vững Khu du lịch Đồ Sơn biết rằng LHCTĐS đã tạo cho họ một lợi thế mà nhiều khu du lịch khác không có Sự kết hợp này đã đem lại những mặt tích cực cho
đời sống xã hội và lan toả mạnh mẽ trên một phạm vi lớn Lễ hội truyền thống thực sự đang tồn tại và có những vai trò nhất định trong sinh hoạt văn hóa của người dân cũng như có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - chính trị của cả nước
Trong chương này, tác giả luận án đã điểm qua các quan điểm của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội,
du lịch và quản lý lễ hội, du lịch và phát triển, vấn đề khai thác di sản như một sản phẩm du lịch, những tác động tiêu cực, tích cực khi chúng ta sử dụng di sản như một sản phẩm để thu hút du lịch Tất cả những vấn đề, bàn luận trên,
đều ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc sử dụng LHCTĐS vào việc phát triển du lịch Những bàn luận ở chương 1 sẽ là cơ sở lý luận cho chương 2 và chương 3 của luận văn này
Trang 31CHƯƠNG 2 Lễ hội chọi trâu trong việc phát triển
du lịch ở Đồ Sơn 2.1 Vài nét sơ lược về lễ hội chọi trâu Đồ Sơn
2.1.1 Khái quát về Đồ Sơn
Đồ Sơn được hình thành từ hàng triệu năm với nhiều lần biển tiến, lùi Trải qua những quá trình biến động, tạo sơn thì biển lùi vĩ đại ấy còn được ghi lại ở các tầng đá cổ chạy dài 22,5 km ven biển từ cửa sông Cấm đến sông Văn
úc, trải dài hàng triệu vận động, vùng đất Đồ Sơn đã được ổn định về địa mạo, với địa hình khá đa dạng: đồi núi, đồng bằng, biển nằm liền kề với nhau.Theo
lịch chiều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì: "Đồ Sơn ở huyện Nghi Dương Các ngọn núi cao sững, giáp liền với biển Triều Lý xây tháp Tường Long trên đỉnh núi từ lâu năm” [tr 25.]
Địa danh Đồ Sơn theo hán tự: Đồ là bùn, Sơn là núi, nghĩa là núi mọc trên bãi bùn lầy Cũng có những thuyết cho rằng vùng đất này xưa có tên là
“Đầu Sơn” nghĩa là núi ở địa đầu giữa biển cả với đất liền, sau gọi chệch là Đồ Sơn Nhưng một điều khẳng định cụm từ Đồ Sơn xuất hiện muộn nhất là vào thời Lý Thánh Tông, cho tới ngày nay vẫn không thay đổi Tất cả những đặc
điểm tự nhiên đó ảnh hưởng đến văn hóa của vùng đất này, trong đó có LHCTĐS mà chúng ta sẽ đề cập đến
Đồ Sơn nằm ở phía nam thành phố Hải Phòng, phía tây nam đảo Cát Bà,
Đông Bắc của Lạch Tray Trải qua những thăng trầm trong lịch sử, với nhiều lần thay đôỉ về mặt địa giới hành chính đến năm 1813 tổng Đồ Sơn gồm ba xã
Đồ Sơn, Ngọc Tuyền, Đồ Hải Ngày 1-10-1888, Đồng Khánh phải giao Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng thành nhượng địa của Pháp Chỉ dụ ghi rõ “Chính phủ Nam triều từ bỏ mọi quyền hành trên đất nhượng địa” Năm 1898, tổng
Đồ Sơn thuộc huyện Nghi Dương, tỉnh Kiến An Ngày 31-12-1902 dụ của Khải Định được toàn quyền Pháp phê chuẩn tách Đồ Sơn ra khỏi Kiến An
Trang 32đem nhập vào thành phố Hải Phòng Ngày 17-2-1906 Đồ Sơn lại thuộc tỉnh Kiến An Ngày 18-5-1909 nghị định của chính quyền thực dân Pháp thành lập thị trấn Đồ Sơn, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Kiến An, còn xã Ngọc Xuyên ghép vào tỉnh Nãi Sơn, phủ Kiến An Ngày 31-12-1921, Pháp mở rộng phạm vi thành phố Hải Phòng Ngày 20-10-1923 Đồ Sơn được cắt trả về tỉnh Kiến An Theo danh bạ làng xã năm 1927, Đồ Sơn là một làng xã thuộc tổng Tư Thủy, lúc này không còn tổng Đồ Sơn Tháng 2-1950, chính quyền cách mạng tách Đồ Sơn khỏi Hải Phòng nhập vào huỵên Kiến Thụy Ngày 14-3-1963 thành lập thị trấn Đồ Sơn và hai xã Vạn Sơn và Ngọc Hải, ngày 4-7-
1966 chuyển xã Bằng La vào thị xã Đồ Sơn Ngày 26-12-1970 giải thể xã Bằng La và các thôn xã này thành các tiểu khu thuộc thị xã Đồ Sơn Ngày 5-3-
1980 điều chỉnh địa giời huyện An Thụy, thành lập huyện Đồ Sơn và huyện Kiến An Huyện Đồ Sơn có thị trấn Đồ sơn và xã Bằng La và 21 xã huyện Kiến Thụy cũ Huyện Đồ Sơn tồn tại đến ngày 6-6-1988, trong thời gian này khu nội thị , thị xã Đồ Sơn, trên cơ sở thị trấn Đồ Sơn và xã Bằng La, đổi tên huyện Đồ Sơn thành huyện Kiến Thụy Khi tái lập, thị xã Đồ Sơn có diện tích 3.094 hécta, dân số 30.865 người Một điều đặc biệt là trong suốt quãng
đường dài ấy với sự thay đổi địa danh hành chính nhiều lần, nhưng cái tên Đồ Sơn không bao giờ thay đổi, lịch sử đã chứng minh và cho tới ngày nay cái tên
Đồ Sơn vẫn tồn tại và ăn sâu trong tâm trí mỗi người dân Đồ Sơn nói riêng và của mỗi người con đất Việt nói chung
- Về tiềm năng của vùng:
Quận Đồ Sơn nằm trong xu thế phát triển của Thành phố Hải Phòng nói riêng và của cả nước nói chung Đồng hành cùng với quá trình lịch sử, địa danh Đồ Sơn để lại ấn tượng khó quên trong lòng mỗi người con đất Việt
ở đây, tiềm năng và tài nguyên du lịch được chia làm hai: tài nguyên du lịch
tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng
Trang 33tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch
- Tài nguyên du lịch tự nhiên của vùng
Đồ Sơn có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên cho phát triển du lịch, tiêu biểu như bãi biển Đồ Sơn:
+ Bãi biển Đồ Sơn nằm ở thị xã Đồ Sơn, là khu nghỉ mát và tắm biển nổi tiếng ở miền Bắc Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển, với hành chục mỏm cao từ 25 m đến 130m, nơi đây có bãi cát mịn, bên
bờ biển rợp bóng phi lao sau những ngọn núi và đồi thông Trước đây Đồ Sơn
là nơi lui tới nghỉ ngơi, hưởng thụ của vua chúa và quan lại đô hộ Nơi đây còn
có ngôi chùa bát giác kiên cố của Bảo Đại- ông vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam
Bãi tắm Đồ Sơn chia thành 3 khu chính: Khu một nằm ngay đầu thị xã
Đồ Sơn, khu hai với nhiều khách sạn hiện đại, khu ba yên tĩnh và kín đáo Vào những ngày hè Đồ Sơn thật sôi động
+ Hòn Dáu:
Hòn Dáu là do tiếng của địa phương đọc chệch đi thành Hòn Dấu Đảo như là điểm đánh dấu để tàu thuyền ra khơi đánh cá quay trở về Đó là một hòn đảo nhỏ cuối cùng tách ra khỏi dãy núi, cách bán đảo Đồ Sơn chứng 1
km Người ta ví như chín con rồng đang chầu về viên ngọc Cũng thật hiếm có hòn đảo nào gần đất liền mà lại có đựơc những ưu đãi cả về thiên nhiên lẫn truyền thuyết như nơi đây Một khoảng không gian tĩnh mịch cho những ai muốn thăm quan nghỉ dưỡng yên tĩnh tại đây
- Tài nguyên du lịch nhân văn của vùng
+ Bến Nghiêng:
Hiện là bến đỗ của nhiều tàu ra thăm đảo Hòn Dáu Nơi đây cũng là cảng xuất phát của tàu du lịch Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Móng Cái Nhưng quay
Trang 34lại với thời kỳ xa xưa thì địa danh trên, chính là nơi tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi miền Bắc theo hiệp định Giơnevơ, hiệp định đình chiến giữa chính phủ thực dân pháp và nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau chín năm kháng chiến gian khổ
+ Bến tàu không số
ở chân đồi Vạn Hoa cạnh thung lũng xanh, hiện có khách sạn 100 phòng của công ty du lịch quốc tế Đồ Sơn Dấu tích cầu cảng K15 xưa nay chỉ còn lại là những cột bê tông Cầu cảng này được xây dựng và bảo vệ bí mật,
là nơi đỗ của những chiếc tàu không số, chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam Ngày 11/10/1962, chiếc tàu gỗ chở 30 tấn vũ khí đầu tiên đã xuất hiện tại nơi đây Con đường tàu đi ngược là con đường Hồ Chí Minh trên biển
mà cầu cảng k15 là nơi xuất phát Tại cầu cảng K15 năm xưa đã xây dựng
tượng đài “Di tích bến tàu không số”
+ Tháp Tường Long
Tháp được xây dựng trên đỉnh núi Ngọc Sơn Tháp Tường Long trông giống như cây bút tháp vẽ lên trời xanh và biển rộng là thiên nhiên vô tận Qua những thư tịch cổ và những dấu vết còn để lại, tháp Tường Long gần như
là khu tượng đài hoành tráng thờ Phật, một trạm quan sát tiền tiêu và là hành cung của nhà vua ở miền biển đông bắc của quốc gia Đại Việt Ngọn tháp này
đã đựơc liệt vào hạng đại danh lam cùng với chùa Long Đọi (Duy Tiên- Nam Hà), Chùa Một Cột, Tháp Báo Thiên (Hà Nội), dưới triều nhà Lý Ngoài gạch xây, còn có loại gạch ốp vào vỏ tháp với nghệ thuật trang trí độc đáo như hoa sen, hoa cúc, hoa chanh và các loài chim thú quý hiếm khác Tháp Tường Long là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật sáng tạo của con người với nghệ thuật vô thức của tạo hóa, giữa chúng có sự bổ sung, tô điểm cho nhau
+ Đền Bà Đế:
Trang 35Đền Bà Đế nằm ở chân núi Độc, thuộc phường Ngọc Hải, quận Đồ Sơn
Đền Bà Đế là một trong những đền nổi tiếng về danh thắng và linh thiêng
Đền Bà Đế vợ chúa Trịnh Giang, đền bà đựơc vua Tự Đức về thăm và ban sắc phong “Đông Nhạc Đế Bà- Trịnh chúa phu nhân” Đền có cấu trúc giản dị nhưng thanh thoát và trang nhã, nép mình vào lưng núi, trước mặt là biển khơi bao la
2.1.2 Một số nét chính về Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn
Lễ hội Chọi trõu Đồ Sơn là lễ hội truyền thống của người dõn quận Đồ Sơn – TP Hải Phũng, được tổ chức vào 9/8 õm lịch hàng năm, đõy khụng chỉ là một ngày hội gắn với tục thờ cỳng thuỷ thần và tục hiến sinh mà cũn thể hiện tinh thần thượng vừ của người dõn miền biển, Hải Phũng
Từ bao đời nay, cõu ca dao cổ của người dõn Đồ Sơn núi về Hội chọi trõu quờ mỡnh như một biểu tượng để nhớ về quờ hương, như một tiếng gọi về nguồn tha thiết:
"Dự ai buụn đõu, bỏn đõu Mựng 9 thang 8 chọi trõu thỡ về
Dự ai buụn bỏn trăm bề Mựng 9 thỏng 8 thỡ về chọi trõu"
Theo truyền thuyết và thần tớch rằng, từ rất lõu, một số ngư dõn ở bể Thần Húa bị bóo làm trụi dạt vào chõn nỳi Thỏp Nhưng khi đú Đồ Sơn cũn hoang vu, con người bất lực trước thiờn nhiờn, họ chỉ biết cầu xin thần linh phự hộ Đỳng vào dịp rằm thỏng tỏm, chợt nhỡn thấy trờn biển cú vũng hào quang lớn, giữa hào quang là một cụ già đầu túc bạc phơ, đang ngắm nhỡn một đụi trõu đang chọi nhau trờn súng Người Đồ Sơn thủa ấy tin rằng thần linh phự hộ nờn lập đền thờ theo duệ hiệu thần là "Điểm tước Đại vương" (vốn do một con chim sẻ đậu vào khi người dõn cầu cỳng xin chữ của thần)
Trang 36Họ đi mua trâu về mổ để tế thần, qua đình, hai con trâu quay vào nhau chọi nhau quyết liệt Người dân cho rằng thần thích xem trâu chọi nên hàng năm
tổ chức chọi trâu để tế thần và hội chọi trâu bắt nguồn từ đó Bên cạnh đó, còn nhiều truyền thuyết có liên quan đến tục chọi trâu khác như liên quan đến việc luyện quân của Quận He Nguyễn Hữu Cầu, việc thờ cúng cá ông (hiện vẫn còn dấu vết lưu truyền ở gò mả cá ông)… Tựu trung, theo đánh giá của riêng tác giả, tục lệ này có thể xuất phát từ việc hiến tế thờ thần biển của cư dân Đồ Sơn, vốn sống bằng nghề đánh bắt cá, vì kết thúc của lễ hội chọi trâu, người dân ở đây thường có lễ tế mao huyết, đưa toàn bộ đỗ lễ (máu và ít lông trâu đoạt giải), ra cuối song sông, giáp biển để dâng thần Theo truyền thống, từ cuối tháng giêng âm lịch, ăn Tết xong là người Đồ Sơn đã ngược lên mạn Tây Bắc, hay xuôi vào Nghệ An, Hà Tĩnh để tìm cho được những con trâu tốt với những đặc điểm: " ức rộng, háng to, cổ cò, đuôi trai, đít nhót, lưng tôm bà, sừng cánh cung ", độ tuổi từ 7 -8 năm tuổi Người được chọn đi mua và nuôi trâu cũng có những tiêu chuẩn nhất định như nhà không có “bụi” (tức là không có tang), gia đình song toàn (vợ chồng đều còn sống), không có cãi cọ hay xung đột với hàng xóm láng giềng…
Mua được con trâu vừa ý là điều đáng mừng, nhưng để con trâu chọi được thì còn phải luyện, luyện có hay thì mới mong trâu phường mình chiến thắng Khi mới đưa về, trâu thường được tẩm bổ cho có đủ sức lực, tập chạy, lội bùn, leo núi, thích nghi với những biến đổi thời tiết nhằm nâng sức chịu đựng, dẻo dai Tùy từng trường hợp, có thể vót sừng nhọn hoặc múi khế Tập cho trâu bạo dạn trước đông người và âm thanh huyên náo, mầu sắc rực rỡ trong hội Trước khi vào vòng chung kết, vòng loại thường được
tổ chức vào ngày 8-6 âm lịch, trâu được vào vòng trong sẽ tiếp tục được luyện tập với cường độ cao hơn, học những ngón đòn hiểm hơn nữa
Trang 37Lễ hội chọi trâu cũng như nhiều lễ hội khác có hai phần, phần lễ và phần hội đan xen Từ ngày mùng một đầu tháng, các vị cao niên trong làng đã ra làm lễ tế thần Điểm Tước (trước kia tiến hành ở đình Tổng (nay đã bị phá mất), sau này tiến hành ở đền Nghè) xuất phát của lễ hội Lúc này, các làng có trâu chọi đều phải ra làm lễ Sau đó là lễ rước nước (có gắn với tục tế Thuỷ Thần) Lọ nước thần mỗi năm thay một lần được từng làng (phường) mang về đình riêng Tại đình làng, các chủ trâu được cho trâu ra làm lễ Thành Hoàng Sau khi làm lễ tế thần, trâu chọi đã chính thức được gọi là "Ông trâu", là biểu tượng của tâm linh, là niềm tin, và là ước vọng của người dân nơi đây Sáng ngày chính hội, 9/8 âm lịch, dân cư trong phường đều kéo ra đình Từ đây, lễ rước các "Ông trâu" ra sới đấu với kiệu bát cống, long đình bát biểu, cờ thần bay phấp phới, rộn rã trong tiếng nhạc bát âm
Phần hội diễn ra vào chính hội (9/8) với nhiều hoạt động mang đậm bản sắc dân tộc Điệu múa khai hội được 24 tráng niên của làng chia thành hai hàng trình diễn vừa uyển chuyển, vừa mạnh mẽ, màu sắc biến hoá linh hoạt
và huyền ảo trong những âm thanh của trống, thanh la Theo cách nói của các lão làng, tiếng trống, tiếng thanh la có tác dụng tạo không khí trong sân bãi thúc giục các “ông trâu” thi đấu thêm phần quyết liệt Với màn múa cờ, những lá cờ vung lên quật xuống mạnh mẽ, dứt khoát, nhịp nhàng, có lúc đan chéo vào nhau như hai đội quân đang giao chiến, thể hiện sự dũng cảm của con người chống chọi với biển khơi
Đúng 8 giờ, tiếng trống, tiếng chiêng khai hội, dịch loa gọi các “ông trâu” vào trận vang lên Từ hai cổng bắc - nam của sới đấu, từng đôi trâu được dắt ra đứng dưới chân cột cờ Ngũ Phụng (ở hai bên) Hiệu lệnh phát ra thì hai trâu từ hai phía di chuyển lại gần nhau hơn, cách nhau chừng 20 m Hiệu lệnh tiếp theo người dắt trâu đột nhiên rút dây mũi, hai trâu liền lao vào nhau Thường thì các chú trâu đâm phập vào nhau, một tiếng động khô khốc của sọ
Trang 38trâu, sừng trâu va chạm Cú đánh này có tên là miếng "hổ lao" Sau miếng hổ lao có khi làm nổ mắt, long sừng, vỡ sọ, hai đấu thủ hăng tiết choãi chân lấy tấn, cổ đẩy lùi hoặc lật ngửa đối phương bằng cặp sừng khóa chặt vào nhau Nhiều cặp trâu vào trận cứ ung dung, cứ nhởn nhơ gặm cỏ, hít hít, nghênh nghênh, người am hiểu biết rằng đây là lúc trâu đang thăm dò nhau để tìm ra ngón đòn quyết định Sau một cú "cáng" hoặc "càm", khi con trâu thua trận bỏ chạy, là lúc người có trâu thắng phải thực hiện "thu trâu" rất nguy hiểm vì con trâu thắng đang hăng máu
Năm 2008 có 16 "Ông Trâu" của 7 phường tại quận Đồ Sơn vào chung kết, chia thành 8 cặp đấu loại trực tiếp Sau 15 "kháp đấu" quyết liệt, chức vô địch và phần thưởng trị giá 25 triệu đồng đã thuộc về trâu số 28 của ông Nguyễn Khắc Thơ (phường Ngọc Xuyên) Sau trận đấu, dù thắng hay thua, trâu chọi đều được xẻ thịt Những ông trâu được giải được các làng, phường rước, đưa về đình, nghề của mình, sau đó bị giết để lễ tạ Thành Hoàng Một ít máu huyết và nhúm lông sau gáy trâu được đặt trang trọng trong một đĩa, sau
đó được rước và đổ xuống cửa sông Thịt trâu chọi còn được đem bán, người mua với ý nghĩa lấy lộc cho cả năm
Theo quan niệm cổ xưa, nếu trâu làng nào thắng trận trong lễ hội, năm ấy
cả làng sẽ gặp nhiều may mắn, mưa thuận gió hoà, mọi người bình yên trong suốt hành trình đi biển Nhưng có lẽ ý nghĩa hơn cả, lễ hội chọi trâu mang đậm nét văn hoá tâm linh của người dân miền biển đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách, góp phần tạo nên phong cách rất riêng cho một vùng duyên hải
2.1.2.1 Gi¸ trÞ vÒ mÆt v¨n hãa
LÔ héi chäi tr©u §å S¬n lµ mét b¶o tån v¨n hãa tÝn ng−ìng cña nh©n d©n §å S¬n Qua ph©n tÝch c¸c thÇn tÝch c¸ K×nh, §iÓm T−íc §¹i V−¬ng,
Trang 39huyền tích Bà Đế, ta đều thấy sự hiện diện của các thần Thần thì xuất hiện dưới hình hài chim thần, thần thì xuất hiện dưới hình hài của con người…
Tuy dáng vẻ bề ngoài không giống nhau nhưng tất cả đều xuất phát từ biển cả Như vậy, theo suy luận lôgic, thần là đối tượng được lễ hội chọi trâu hướng tới, ở đây là lực lượng tự nhiên được thần linh hóa mà cụ thể là thần biển Chúng ta biết rằng, thần biển có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, sinh hoạt, tâm linh của người Đồ Sơn thời đó Điều này chứng tỏ rằng cư dân xa xưa của Đồ Sơn là làm nghề ngư nghiệp, cuộc sống ban đầu của con người gặp nhiều khó khăn, bão gió ngăn trở, cá giữ phá hoại, trong khi đó con người không thể giải thích được những sự vật đang diễn ra quanh mình, chưa biết cách chinh phục thiên nhiên Con người chỉ còn một cách là cầu nguyện và trông chờ sự bảo hộ của các vị thần Hội chọi trâu đựơc tổ chức gắn liền với sự phụng thờ các vị thần biển, vì lý do đó mà việc chăm sóc trâu lại đựơc tiến hành đặc biệt khác thường Trâu phải được thường xuyên tắm rửa sạch sẽ, không được ngồi lên lưng trâu, không nhốt chung với trâu cày Trước khi thi
đấu, và sau khi thi đấu trâu đều phải vào đền làm lễ thần Trâu còn đựơc gọi trân trọng là “Ông Trâu” Việc đem trâu ra chọi là để cho thần chọn con trâu
ưng ý nhất Như vậy hội chọi trâu là một ngày hội độc đáo của người dân Đồ Sơn, độc đáo vì nó gắn liền với việc thờ cúng thủy thần, với nghi lễ chọi trâu,
và với chính người cư dân vùng biển này
Dân Đồ Sơn làm nghề ngư là chủ yếu, sao không chọn cá là sản phẩm của họ làm ra mà lại lấy trâu để tế thần Trở lại với thần tích, ta thấy con trâu xuất hiện cùng với các thần linh Sau khi thần ứng mộng, thì thần được lập đền thờ, con trâu trở thành vật thiêng để cúng tế thần
Nói đến trâu người ta nghĩ ngay đến đời sống nông nghiệp, con trâu là
đầu cơ nghiệp của nhà nông Như vậy, chọi trâu đáng nhẽ phải gắn với hệ thống phong tục của cư dân nông nghiệp Nó gắn với hội làng, hội mùa và
Trang 40nhằm mục đích cầu mưa thuận gió hòa Điều tưởng trừng rất phi lý này lại là
điều rất hợp lý với tư duy của người dân Đồ Sơn xưa
Chúng ta đều biết rằng cư dân cổ đại của Đông Nam á từ lâu đã xây dựng nên một hệ thống thần thọai độc đáo Hệ thần thoại này dựa trên quan niệm vũ trụ lưỡng phân, lưỡng hợp, trong đó có núi và biển, miền cao và miền thấp, nước và lửa, sinh vật trên không và sinh vật dưới nước, chim và cá Tổ chức xã hội cũng dựa trên quan điểm này, do đó phương thức sinh hoạt của con người cũng phải phù hợp với đặc điểm địa lý
Vì vậy mà người Đồ Sơn cũng xây dựng hệ thức hai nửa, một nửa là lấy trâu nước làm biểu tượng, một nửa lấy trâu thần Nhưng tư duy ấy bị khúc xạ khiến cả đặc điểm này bị nhập làm một Song dù là thần núi hay thần biển, dù
là chim thần hay trâu nước, hội chọi trâu vẫn thể hiện khát vọng cao đẹp về một cuộc sống no đủ, yên lành của nhân dân Đồ Sơn
Với việc phân tích huyền tích Bà Đế, đây có thể là chìa khóa giải mã thêm các hiện tượng văn hóa của lễ hội chọi trâu Huyền tích Bà Đế kể về người con gái bị bức tử tại hòn Độc Chúng ta đều biết rằng trong thời kỳ mông muội, ở rất nhiều dân tộc ở Đông Nam á còn tồn tại một tập tục dã man Đó là tục hiến sinh, sự hiến sinh này dùng con người làm vật dâng hiến cho thần linh Ban đầu chính là con người của cộng đồng, sau là các tù binh Khi đời sống văn minh hơn, người ta không còn dùng con người nữa mà là dùng con vật để thay thế Theo những tư liệu cổ thời xa xưa của lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, sau khi hết hội, người ta ném con trâu thắng cuộc xuống dưới vực thẳm của biển cả Như vậy huyền tích Bà Đế và hội chọi trâu Đồ Sơn có thể là di dấu của tục hiến sinh cổ xưa Tất nhiên, người cư trú tại Đồ Sơn khó lòng có thể có tuổi đủ để trải qua một nền văn hóa lâu đời đến như vậy Các thần tích đều nói về cuộc đi bộ của người từ nơi khác đến Đồ Sơn lập nghiệp Khi tới đây họ mang theo dấu ấn tập tục cổ và điểu đó được tiếp tục nối tiếp ở mức độ thấp hơn là dùng con vật để tế