Các tư liệu viết về đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh – huyện Vĩnh Lộc – tỉnh Thanh Hóa như: Thanh Hóa di tích và danh thắng [7,8] của Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa đã viết về c
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hóa thông tin
Trường đại học văn hóa hμ nội
……… F G………
Nguyễn Thị trúc quỳnh
Giá trị lịch sử – văn hóa nghệ thuật
đền thờ trần khát chân (x∙ vĩnh thịnh – huyện vĩnh lộc – tỉnh thanh hóa)
Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 60 31 70
Trang 2Mục lục
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài………
2 Tình hình nghiên cứu………
3 Mục đích nghiên cứu………
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………
5 Phương pháp nghiên cứu………
6 Đóng góp của luận văn………
7 Bố cục luận văn………
Chương 1: Tổng quan về x∙ Vĩnh Thịnh vμ lịch sử đền Trần Khát Chân……….
1.1 Tổng quan về xã Vĩnh Thịnh………
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên………
1.1.2 Dân cư………
1.1.3 Kinh tế………
1.1.4 Văn hóa xã hội………
1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đền Trần Khát Chân
1.2.1 Lịch sử nhân vật được thờ………
1.2.2 Lịch sử xây dựng, quá trình tồn tại của đền thờ Trần Khát Chân và hệ thống đền thờ………
1.2.2.1 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đền thờ Trần Khát Chân………
1.2.2.2 Đền thờ Trần Khát Chân – một tín ngưỡng dân gian vùng………
Chương 2: Giá trị văn hóa vật thể đền thờ Trần Khát Chân………
2.1 Giá trị kiến trúc………
2.1.1 Không gian cảnh quan kiến trúc………
2.1.2 Bố cục tổng thể mặt bằng kiến trúc………
2.1.3 Kết cầu các đơn nguyên kiến trúc………
2.1.4 Trang trí trên kiến trúc………
2.2 Các di vật trong di tích………
2.2.1 Di vật bằng giấy………
2.2.2 Di vật bằng đồng………
1
1
3
5
5
6
6
7
8
8
8
12
14
16
20
20
29
29
33
46
46
46
49
51
63
78
78
79
Trang 32.2.3 Di vật bằng đá………
2.2.4 Di vật bằng gỗ………
Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể đền thờ Trần Khát Chân………
3.1 Phản ánh giá trị lịch sử qua nhân vật được thờ………
3.1.1 Bối cảnh lịch sử cuối triều đại nhà Trần………
3.1.2 Những chính sách cải cách của Hồ Qúy Lý………
3.2 Lễ hội đền Trần Khát Chân xưa ở xã Vĩnh Thịnh………
3.2.1 Lịch lễ hội………
3.2.2 Không gian của lễ hội………
3.2.3 Chuẩn bị lễ hội………
3.2.4 Các nghi lễ chính của lễ hội………
3.2.5 Những trò diễn dân gian trong lễ hội………
3.3 Lễ hội đền Trần Khát Chân ở Vĩnh Thịnh trong mối quan hệ với lễ hội ở nơi khác cùng thờ ………
Chương 4: Bảo tồn vμ phát huy giá trị lịch sử văn hóa – nghệ thuật đền thờ Trần Khát Chân………
4.1 Thực trạng di tích và lễ hội đền Trần Khát Chân………
4.1.1 Thực trạng di tích………
4.1.2 Thực trạng lễ hội………
4.2 Giải pháp bảo tồn di tích và lễ hội đền thờ Trần Khát Chân…
4.2.1 Giải pháp bảo tồn di tích, di vật………
4.2.2 Giải pháp bảo tồn lễ hội đền thờ Trần Khát Chân…………
4.3 Phát huy các giá trị di tích và lễ hội đền Trần Khát Chân……
Kết luận………
Danh mục tμi liệu tham khảo………
Phụ lục
79
80
86
86
86
89
90
90
93
94
95 103 106
111 111 111 118 120 120 129 130 137 140
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tμi
1.1 Thượng tướng quân Trần Khát Chân sinh năm Bính Tuất (1366) Theo sử ghi chép thì Ông là dòng dõi Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng – một anh hùng đời Trần có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Khi Ông lớn lên triều đại nhà Trần không còn lớn mạnh như trước mà bắt đầu đi vào con đường suy thoái Các vua Trần thời này đều bất tài, chỉ lo ăn chơi, sống trụy lạc, bỏ mặc mọi công việc triều chính cho kẻ dưới lo liệu Đất nước đi vào rối loạn, thù trong giặc ngoài nổi lên, dân tình khổ cực trăm bề Năm Quang Thái thứ hai (1389) Vua Chế Bồng Nga đem quân xâm lược Đại Việt, Hồ Quý Ly cùng các tướng lĩnh khác
được vua cử đi cự chiến, song bị thua trận phải rút chạy về Thăng Long Trước tình hình đó, Thượng hoàng đã sai Trần Khát Chân, khi đó giữ chức đô tướng, đem quân
đi chống giặc; Trần Khát Chân đã khảng khái ra đi, trước khi lên đường Người nói
“Nếu không đuổi được giặc xâm lăng thì không có ngày về”, Vua Nghệ Tông cảm
động đến rơi nước mắt Tháng Giêng năm Canh Ngọ (1390), Ông đã giết vua Chiêm là Chế Bồng Nga và đập tan cuộc xâm lấn nước ta của quân Chiêm với trận
chiến Hải Triều Sau chiến thắng này Ông được phong hầu là Vũ Tiết quan nội hầu,
và được ban cho vùng Kẻ Mơ làm thái ấp
Mùa hạ năm Kỷ Mão (tháng 4 năm 1399), thế lực Trần triều hầu như không còn, mọi quyền hành thực chất đều nằm trong tay Hồ Quý Ly, các quan lại và tôn thất nhà Trần rất lo sợ Hồ Quý Ly chiếm đoạt ngôi báu Họ đã ngầm cố kết với nhau để diệt nhà Hồ và bảo vệ nhà Trần Sử sách có ghi lại dường như Trần Khát Chân cũng có tham gia vào âm mưu này, nhưng kế hoạch đã bị thất bại, Trần Khát Chân và những tướng khác đã bị Hồ Quý Ly bắt và chém trên núi Đốn Sơn (đó là ngày 24 tháng 4 năm 1399)
1.2 Với công lao như vậy, Trần Khát Chân được coi là một trung thần có công lớn trong việc đánh đuổi giặc Chiêm bảo vệ ngôi báu và sự an nguy cho xã tắc trong giai đoạn cuối thế kỷ XIV Công lao của ông được chính sử nhắc tới nhiều, triều đình ban sắc văn cho 29 xã, thôn thuộc tỉnh Thanh Hóa thờ phụng Ông Các
Trang 5triều đại phong kiến sau này đã tôn vinh Ông như một vị Thánh và sắc phong cho
ông là Trần Triều, Trần Kim Ngô Long Hổ Lưỡng Vệ thượng tướng quân Qua
điều tra sơ bộ cho đến nay ở Thanh Hóa đã có 7 đền thờ Trần Khát Chân Trong đó, huyện Vĩnh Lộc có 4 đền thờ ở xã Vĩnh Thịnh, xã Vĩnh Tiến và xã Vĩnh Thành; huyện Hoằng Hóa có 1 đền thờ ở xã Hoằng Phượng; huyện Triệu Sơn có 1 đền thờ
ở xã Tân Ninh; thành phố Thanh Hóa có 1 đền thờ ở phường Hàm Rồng Ngoài ra,
Ông còn được thờ ở làng Hoàng Mai, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai (Hà Nội) và đền thờ họ Đỗ gốc Trần, ở tỉnh Nam Định
1.3 Đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh là di tích tưởng niệm anh hùng dân tộc, chứa đựng những giá trị lịch sử văn hóa của các thời đại ngưng đọng trong đó Đây là công trình kiến trúc nghệ thuật mà giá trị của nó được bộc lộ qua các đơn nguyên kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc Những giá trị đó đã được Nhà nước công nhận là di sản quốc gia ở các đền khác thờ Ngài, ngoài những giá trị kiến trúc nghệ thuật thì hàng năm còn diễn ra lễ hội tưởng niệm Ngài ở di tích xã Vĩnh Thành (nơi hiện còn mộ của Ngài) hiện tồn tại một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian cổ truyền mang giá trị văn hóa cao đó là lễ hội dân gian tưởng nhớ công lao của Ngài
Trong những năm gần đây, lễ hội đền Trần Khát Chân vẫn thường được tổ chức Lễ hội này cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống để bảo tồn
và phát huy cho các thế hệ mai sau
1.4 Về đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh đã có một số tác giả, tác phẩm đề cập đến (chúng ta sẽ điểm qua trong mục tình hình nghiên cứu của đề tài) Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về các mặt giá trị lịch sử, văn hóa nghệ thuật cũng như lễ hội Bản thân tôi là một người dân xứ Thanh, việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản văn hóa địa phương, góp phần bảo vệ nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc và tăng thêm vốn hiểu biết cho cá nhân là việc làm rất có ích
Trang 6Đây chính là lý do để tôi chọn “Giá trị lịch sử – văn hóa nghệ thuật đền
Trần Khát Chân x∙ Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp Cao học của mình
2.1 Các tài liệu về tiểu sử, sự nghiệp và chiến công của Trần Khát Chân, gồm
có các cuốn: Giai thoại lịch sử Việt Nam tập 1 [64], Danh tướng Việt Nam [62], Thuyết Trần – sử nhà Trần[52], Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần[14], Các triều đại phong kiến Việt Nam [17], Danh nhân Hà Nội tập 1 [19], Võ tướng Thanh Hóa qua các thời kỳ [61], Danh nhân Thanh Hóa [5] Những tài liệu trên ghi chép về công lao và chiến công của Trần Khát Chân trong cuộc chiến với quân Chiêm Thành và việc Ông mất tại núi Đốn Sơn – Vĩnh Thành – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa Đồng thời, những tư liệu trên cũng đề cập đến Trần Khát Chân dưới góc độ lịch
sử, cho biết quê quán, họ hàng, tính cách, nơi được phong điền, thái ấp và những chiến công của Ông
2.2 Các tư liệu viết về đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh – huyện Vĩnh
Lộc – tỉnh Thanh Hóa như: Thanh Hóa di tích và danh thắng [7,8] của Bảo tàng tổng
hợp tỉnh Thanh Hóa đã viết về các di tích đền thờ Trần Khát Chân khái quát sơ lược giá trị lịch sử - văn hóa của di tích cũng như ảnh hưởng của di tích đối với đời sống dân
cư nơi đây Hồ sơ khoa học di tích đền Trần Khát Chân [27; 28] của Sở Văn hóa thông
tin và Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hóa đề cập về niên đại của di tích, về lịch sử nhân vật được thờ, về kiến trúc và các di vật trong di tích và xác định giá trị lịch sử văn hóa của đền thờ Trần Khát Chân, nhằm mục đích chủ yếu đề nghị Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Tú trong “Một số kết quả nghiên cứu khoa học về di tích và công tác bảo tồn di tích số 2” của Viện Bảo tồn
di tích với tiêu đề Đền thờ Trần Khát Chân (Vĩnh Thịnh – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa) đã
Trang 7bước đầu giới thiệu về kiến trúc của đền thờ Trần Khát Chân Điều cơ bản ở đây là, tác giả đã xác định phong cách rất đặc trưng của công trình và niên đại của nó
Khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Bảo tàng của Bùi Khắc Duy [21] là công trình tương đối hệ thống về nhân vật lịch sử Trần Khát Chân ở đây tác giả tập trung giới thiệu tiểu sử sự nghiệp của Trần Khát Chân, giới thiệu về di tích và di vật cổ trong di tích đồng thời nêu ra các phương pháp bảo tồn và thực trạng di tích đền thờ Trần Khát Chân Bài khóa luận viết từ góc độ bảo tàng học, vì vậy tác giả không đi sâu khai thác về lễ hội của di tích, đồng thời không mở rộng nghiên cứu so sánh với các di tích khác cùng thời Trần Khát Chân
Những nguồn tư liệu trên đây cho chúng ta thấy, đã có nhiều học giả tập trung nghiên cứu về tiểu sử và sự nghiệp của Trần Khát Chân hơn là khai thác những giá trị lịch sử - văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với di tích Những tư liệu trên sẽ là những tài liệu bước đầu giúp cho tác giả tham khảo, kế thừa và tiếp thu để triển khai đề tài của mình Mục tiêu chính của đề tài là giá trị kiến trúc nơi thờ tự và
lễ hội dân gian gắn với nơi thờ tự; qua đó, nhằm bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị của di tích một cách hiệu quả, nhất là trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là
đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
3 Mục đích nghiên cứu
Với tiêu đề “Giá trị lịch sử – văn hóa nghệ thuật đền thờ Trần Khát Chân
x∙ Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa”, luận văn của tôi hướng vào
những mục đích sau đây :
- Tìm hiểu về tiểu sử và sự nghiệp của danh tướng Trần Khát Chân, qua đó xác định vai trò lịch sử của Trần Khát Chân trong lịch sử dân tộc
- Xác định niên đại xây dựng và tìm hiểu giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
ở di tích đền thờ Trần Khát Chân xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
- Tìm hiểu quá trình thiêng hóa nhân vật và hệ thống đền thờ Trần Khát Chân
ở Thanh Hóa và một số nơi khác
Trang 8- Tìm hiểu thực trạng di tích, lễ hội và đề xuất một số giải pháp trong bảo tồn, khai thác và phát huy di tích lịch sử văn hóa trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt
là đưa di tích lịch sử Trần Khát Chân vào hoạt động phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Thanh Hóa
4 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh hóa Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay còn một số ngôi đền ở các nơi khác cũng thờ Trần Khát Chân Vì vậy, chúng tôi sẽ xác
định thêm đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: đền thờ ở xã Vĩnh Thành, đền thờ ở xã Vĩnh Tiến, đình - đền làng Hà Lương, đền thờ Trần Khát Chân ở huyện Triệu Sơn, Hoằng Hóa, Thành phố Thanh Hóa và đền thờ Ông ở Hoàng Mai (Hà Nội)
+ Trong không gian tồn tại của đền thờ tại xã Vĩnh Thịnh còn có một ngôi chùa với tên gọi Hoa Long Tự (Chùa Hoa Long) Vì vậy, trong điều kiện cần thiết ngôi chùa cũng có thể mở rộng như một đối tượng nghiên cứu của đề tài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh, xã Vĩnh Thành, xã Vĩnh Tiến (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) Tìm hiểu phạm vi ảnh hưởng của việc thờ cúng Trần Khát Chân thuộc các huyện Triệu Sơn, Hoằng Hóa, thành phố Thanh Hóa và đình Hoàng Mai (quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội)
- Về thời gian:
+ Di tích: nghiên cứu di tích từ khi hình thành cho đến nay
+ Lễ hội: nghiên cứu lễ hội xưa Vì lý do, cho đến nay lễ hội chưa được khôi phục lại, còn trước năm 1945 nó vẫn diễn ra
5 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp liên ngành trong văn hóa học như: lịch sử, dân tộc học, văn hóa học, khảo cổ học, văn hóa dân gian, bào tàng học, mỹ thuật học
Trang 9- Phương pháp khảo sát điền dã để quan sát, miêu tả, ghi hình, phỏng vấn, thống kê,…nghiên cứu thực trạng đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến di tích
hệ thống các di tích thờ Ông ở tỉnh Thanh Hóa
- Luận văn là công trình khoa học, nghiên cứu đầy đủ, hệ thống những giá trị lịch sử – văn hóa nghệ thuật của đền thờ Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh Kết quả nghiên cứu của luận văn góp thêm vào hệ thống tư liệu nghiên cứu về danh tướng Trần Khát Chân – Một anh hùng dân tộc
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, đề xuất một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di tích đền Trần Khát Chân trong tình hình hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn bố cục thành bốn chương :
Chương 1: Tổng quan về x∙ Vĩnh Thịnh và lịch sử đền Trần Khát Chân
Chương 2: Giá trị văn hóa vật thể đền Trần Khát Chân
Chương 3: Giá trị văn hóa phi vật thể đền Trần Khát Chân
Chương 4: Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể ở đền thờ Trần Khát Chân
Trang 10Chương 1 Tổng quan về x∙ Vĩnh Thịnh vμ lịch sử
Đền trần Khát chân 1.1 Tổng quan về x∙ Vĩnh Thịnh
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
Xã Vĩnh Thịnh có diện tích tự nhiên là 2.200ha [36, tr.1] Vĩnh Thịnh hiện nay
là một trong 16 xã, thị trấn của huyện Vĩnh Lộc- một huyện bán sơn địa nằm cạnh dòng sông Mã, mảnh đất xưa từng được Hồ Quý Ly chọn làm kinh đô để kinh bang
tế thế Địa hình huyện Vĩnh Lộc phần lớn là bán sơn địa nhưng ít bãi bồi, phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy và Thạch Thành, phía Nam giáp huyện Yên Định, phía Tây giáp huyện Cẩm Thủy và Yên Định, phía Đông giáp huyện Hà Trung [36, tr.1] Thời thuộc Hán- Lưỡng Tấn- Nam Bắc triều là miền đất thuộc huyện Dư Phát Sau đó nhập huyện Dư Phát vào huyện Tư phố cho nên đất Vĩnh Lộc có lúc thuộc huyện Tư Phố[23, tr 459] Trải qua các triều đại phong kiến khác nhau, địa giới hành chính cũng như tên gọi của huyện có những thay đổi nhất định và tên huyện Vĩnh Lộc bây giờ đã có từ thời Tây Sơn Đến năm 1982, sau một số lần nhập, tách với các huyện lân cận, huyện Vĩnh Lộc ngày nay được chính thức thành lập Đặc điểm về điều kiện
tự nhiên, vị trí địa lý và địa giới hành chính của huyện Vĩnh Lộc như vậy cũng đã ảnh hưởng không ít đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của xã Vĩnh Thịnh
So với các xã trong huyện, Vĩnh Thịnh nằm ở phía đông nam cuối huyện
trong vùng “đất cấm” quê hương của Chúa Trịnh ngày xưa và tiếp cận ngoại vi của
đất Tây Đô một thời lịch sử; phía Tây giáp với huyện Thạch Thành, phía Bắc giáp với xã Hà Lĩnh (huyện Hà Trung), phía Đông giáp với xã Vĩnh Minh và phía Nam giáp với xã Vĩnh Tân, nơi có di chỉ khảo cổ Đa Bút lâu đời, nơi phát sinh cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân chống Pháp Vĩnh Thịnh là cửa ngõ đầu tiên của huyện gần với đường giao thông chiến lược Bắc Nam[36, tr.2]
Xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, xưa từng được gọi là vùng
đất Kinh Xuyên, Kinh Thủy, Phú Thịnh sau đó được gọi là xã Bản Thủy, Thủy Lộc[4, tr.240]; đây vốn là vùng đất cổ, có cư dân sinh sống lâu đời, gắn với nhiều giai thoại
Trang 11lịch sử Năm Chính Hòa thứ 5 (1684) đất Vĩnh Thịnh có tên là xã Kinh Thủy thuộc huyện Vĩnh Phúc, sau đổi thành xã Bản Thủy thuộc tổng Phùng Thượng, phủ Thiệu Thiên; đến niên hiệu Khải Định năm 1925 thuộc phủ Quảng Hóa Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Bản Thủy gồm 4 thôn ngày trước được bổ sung thêm 1 thôn (thôn Thọ Lộc thuộc huyện Hà Trung) thành xã Thủy Lộc, thuộc huyện Hà Trung Tiếp đó, vào những năm 50 của thế kỷ XX, theo quyết định của Nhà nước, thôn Thọ Lộc lại được sát nhập vào huyện Hà Trung, xã Bản Thủy- tức Vĩnh Thịnh, lại gồm 4 thôn và có địa giới hành chính như ngày nay, gồm: thôn Đoài, thôn Trung, thôn Đông, thôn Sanh[36]
Làng Đoài, còn gọi là làng Cả, được thành lập đầu tiên của xã Vĩnh Thịnh; nằm ở vùng đất thấp, có đồi núi bao quanh, có đồng chiêm trũng Thuở xa xưa, Làng được lập nên ở ven sườn núi, dọc chân núi có Hón Bầu chảy qua theo hướng
từ Bắc xuống Nam, tạo ra cảnh quan “sơn thủy hữu tình” Trước làng là những cánh
đồng rộng, nước sâu, được tạo ra do con sông Mã đổ vào, có độ dốc thoai thoải từ Tây xuống phía Đông, tạo điều kiện cho cư dân vừa khai thác tiềm năng trên núi vừa khai thác tiềm năng dưới sông Hàng ngàn năm trước đây, qua những bước thăng trầm của lịch sử và những biến cố đổi thay của tạo hóa, nhất là khi Hón Bầu
đổi dòng chảy thẳng về núi Ngọc (còn gọi là núi Tiến Sỹ, địa phận làng Đa Bút, thuộc xã Vĩnh Tân ngày nay), cảnh quan sơn thủy hữu tình không còn nữa, cư dân trong làng đi tìm cho mình nơi sống thích hợp, một bộ phận chuyển đi nơi khác, một bộ phận chuyển về địa đầu của xã Bản Thủy lập ra “Ngư võng phường” và đặt tên là làng Đoài (vì vậy mới có câu: “Rú Hến long cốt dấu son Trở nên cơ nghiệp xã thôn huy hoàng) Đây là làng đầu tiên, còn gọi là làng Cả, là cái nôi của con người Bản Thủy sau này[53, tr3]
Làng Đông nằm trong địa bàn xã Vĩnh Thịnh, là một vùng bán sơn cước, có nhiều hang động và núi rừng bao quanh Phía trước làng có núi Cò và hang Bền án ngữ; phía Đông có núi Cô Sơn, có động hang Tròn, hang Dài mỏ phượng, cảnh chó mèo ngồi; vòng ngoài được bao bọc bởi cánh rừng làng Thọ Lộc nối liền sang bờ Bắc là núi Kẹm; nhìn lên Tây Bắc có núi Báo, núi Mông Cù, núi Bót và con Hón Bầu chảy nước về cánh
đồng chiêm Giữa đồng chiêm trũng một vùng nước trắng gọi là Lở Mường, phía Tây Lở
Trang 12Mường mọc lên một ngọn núi mà nhìn xa giống như một con rùa khổng lồ, nên ông cha
đã đặt tên là núi Quy Sơn Con sông được đào qua cầu Nhấp Nhở tiêu nước ra sông Mã, cũng là đường vào ra của các loài tôm, cá Trèo lên án ngựa Cô Sơn nhìn ra tứ phía thì thật là vô cùng ngoạn mục, vẻ đẹp một vùng quê “sơn thủy hữu tình”[54, tr2]
Làng Trung, nằm ở trung tâm của xã Vĩnh Thịnh, tên gọi của nó vừa gợi tả nét
độc đáo, vừa thể hiện cho đức tính cao thượng, khiêm nhường, đoàn kết, dũng cảm, nhân ái, thủy chung của con người nơi đây Diện tích của làng tuy không lớn (gần 4
km2) nhưng địa hình đa dạng, phức tạp; phía Bắc là rừng núi tương đối cao (núi Bầu, núi Kẹm), thấp dần xuống đồng mùa xen vụ (đồng Bầu, đồng Bớn) và vùng chiêm trũng bao quanh (Lang Láng, Lở Mường), tiếp đến là vùng thổ cư cồn đất, cao dốc từ Bắc xuống Nam và liền đó là vùng lúa mùa 2 vụ rất thuận lợi cho trồng cây, cấy lúa.[56, tr4] Nằm ở miền trung du, với nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và huyền thoại, làng Trung cũng chứa đựng nhiều di tích, kỷ vật lâu đời với những công trình, địa danh đầy
ấn tượng như: Đức Bà Hón Bầu, Lở Mường, Lang Láng dài rộng uốn khúc quanh co như con rồng bạc tuôn nước không bao giờ khô cạn, gợi lên nguồn gốc sức mạnh tiềm năng và những đổi thay
Làng Sanh, hay còn gọi là làng San – san sẻ Người dân Bản Thủy, mà đầu tiên
là “Ngư võng phường”, là cư dân nhiều dòng họ với nghề nghiệp đánh cá, mò cua, bắt
ốc, sau đó trồng lúa lập nên làng xã[55, tr1] Ban đầu mới có làng Đoài (phía Bắc), sau
đó làng Trung, rồi làng Đông (phía Đông), đến khi dân số phát triển, thành lập làng mới sang phía bên kia “long mạch làng”, từ đó mới có tên gọi là làng San Dựa theo văn tế tiên hiền hàng năm của họ “Trần gia tiên tổ”, vào ngày 15 tháng 1 hằng năm và
sự di chuyển của chùa Hoa Long từ phía Bắc sang phía Nam (năm 1682), thì làng Sanh bây giờ được tách ra từ thế kỷ XVI
Sự hình thành, phát triển của mỗi làng có đặc thù riêng do nhiều yếu tố kết hợp lại mà thành Tuy nhiên, cũng với con người đó, thổ nhưỡng đó, lại có cùng
“long mạch”, nằm sát cạnh nhau trong một khu vực “sơn thuỷ hữu tình”, đã làm cho các làng ngày càng không còn ranh giới; sự giao thoa và phát triển, tính cộng đồng
đã làm cho các làng dần “hoà vào nhau”, tạo thành xã Vĩnh Thịnh với đầy đủ tính chất, đặc điểm và con người các làng nơi đây
Trang 13Về địa thế, qua truyền thuyết nhiều đời mà người trong làng kể lại thì Bản Thủy
là một vùng đồng trũng nước mênh mông, xung quanh là đồi núi, cây xanh và lèn đá tai mèo Duy chỉ có phía Tây Nam cách bờ sông Mã chừng 1,5 km là vùng đất liền bằng thổ, có bình độ cao từ Tây thấp dần về hướng Đông, là nơi lập cư của người Bản Thủy xưa; ở giữa là một con kênh bắt nguồn từ núi Báo (xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc) uốn khúc chảy qua như dấu tích con rồng lượn mà người dân gọi là “long mạch”
Xã Vĩnh Thịnh nay dốc từ Đông Bắc thấp dần xuống Tây Nam, địa hình hiểm trở “Sơn
cao thủy thâm” và chia làm 2 vùng rõ rệt: Vùng núi trung du và Vùng đồng bằng
chiêm trũng[36, tr1]
Nằm ở miền bán sơn địa, với nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và huyền thoại, Vĩnh Thịnh
có nhiều địa danh ấn tượng như: Đức bà Hón Bầu, Lở Mường, Lang Láng dài, rộng, uốn khúc quanh co như con rồng bạc tuôn nước không bao giờ khô cạn, gợi lên nguồn sức mạnh tiềm năng và những biến đổi thay dòng Đá Chẹt Voi, núi đá thiên tạo, đồ sộ, hùng vĩ, với mái hàm ếch, trống chiêng, mỏ đá ghi dấu của một thời hoang sơ, cổ đại
Đồng Kẹm, rú Bàu, cồn Trúc, với những di tích và truyền thuyết làng Phú Thịnh, cùng những trầm tích, cổ vật như: nền đình bát đĩa, chụm vai và tiền đồng,…nổi danh được nhiều người biết đến, đánh dấu dự chuyển giao và kế thừa đầy sức sống của các bậc tiền bối cha ông
Xa xưa, người dân làng Đoài cũng như cư dân Bản Thủy ngày nay là con cháu của những dòng tộc đã từng sinh cơ lập nghiệp lâu đời và lập nên những làng như: Kẻ Lừ, làng Mòi, Kẻ Kẹm trên núi Lừ, núi Bầu, núi Kẹm Do những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, thổ nhưỡng, như đã nói ở trên, nên từ rất sớm đời sống cư dân
ở đây đều phát triển cả về kinh tế, văn hóa Trong số các làng, có làng Kẻ Kẹm, đời
Trang 14sống kinh tế, văn hóa phát triển mạnh nhất, trình độ dân trí nâng cao không ngừng Một làng vừa giàu có, vừa phú quý, trong làng có nhiều người đỗ đạt cao (theo truyền thuyết có 18 ông nghè) Từ đó, làng Kẻ Kẹm gọi là làng Phú Thịnh (tiền thân của xã Vĩnh Thịnh ngày nay), thể hiện sự “phú quý”, “hưng thịnh” của cư dân
Để chứng minh cho truyền thuyết này, ngày nay tại làng Mòi vẫn còn Đền thờ 4 vị quan: Tư Không, Tư Khấu, Tư Mã và Tư Đồ; trên địa phận làng Đông, dưới chân núi Hang Quân, còn đền thờ 2 vị tiến sỹ là Nguyễn Phóng, Nguyễn Ngự và sự tích cây đa quận công (ông nghè thứ 18) Trải qua những thăng trầm của lịch sử, cảnh quan “sơn thủy hữu tình” không còn nữa, dân các làng bắt đầu đi tìm những nơi khác thuận lợi hơn để sinh cơ lập nghiệp và bộ phận chuyển về địa đầu xã Bản Thuỷ lập nên Ngư võng phường – tiền thân của làng Đoài ngày nay[53, tr3]
Ban đầu dân ở theo từng xuộng (ngõ) và ở cả về phía đông con rọc, phía tây con rọc không có người ở vì đó là vùng đất cấm, vì có miếu thờ Thành Hoàng và sau này là đền thờ phủ chúa Trịnh Thị Ngọc Nguyên Đây là một quần cư thuộc nhiều dòng tộc, sống xen kẽ, thương yêu nhau, đoàn kết gắn bó xây dựng xóm làng, quê hương Trải những giai đoạn lịch sử, người dân ở đây không còn “thuần” nữa,
có sự di chuyển đi nơi khác và ở nơi khác đến, “pha trộn” lẫn nhau, cư dân ngày một đông đúc hơn Tuy vậy, họ vẫn mang trong mình những nét văn hoá, sinh hoạt
đặc thù từ xa xưa
Đặc biệt, khi giao tiếp với nhau người dân của xã Vĩnh Thịnh vẫn còn duy trì một thứ ngôn ngữ thánh thót, êm dịu, nhẹ nhàng như tiếng chim ca của người kinh, pha trộn thổ âm thổ ngữ của người Mường Hiện vẫn chưa có kết luận chính thức từ các công trình nghiên cứu, nhưng theo một số nhà nghiên cứu đã từng đến đây thông qua nghiên cứu các di chỉ làng Còng (xã Vĩnh Hưng), làng Đa Bút (xã Vĩnh Tân), Rú Hến (xã Vĩnh Thịnh), thì cư dân ở đây là chủ nhân của nền văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn đang tiến về đồng bằng khoảng 50 ngàn năm trước đây Chính điều
đó, đã tạo ra sự giao lưu giữa người Kinh và người dân tộc, cùng với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, tạo ra sự giao thoa trong nét văn hoá- ngôn ngữ Nếu lần đầu
đến Vĩnh Thịnh, nghe những người dân bản địa giao tiếp với nhau, chúng ta sẽ rất khó mà hiểu được, nó vừa giống tiếng dân tộc thiểu số, nhưng lại mang nhiều âm
Trang 15tiết của người kinh; kể cả những đứa trẻ sinh ra ở đây hiện nay vẫn tiếp tục có được thứ ngôn ngữ đó Và điều đặc biệt là, ngay những xã bên cạnh Vĩnh Thịnh cũng không có đặc điểm này
Người dân xã Bản Thuỷ xưa và Vĩnh Thịnh ngày nay, mặc dù còn phải vất vả trong cuộc mưu sinh, nhưng rất trọng sự học Trong các khoa thi của triều đình phong kiến, ngoài câu chuyện lưu truyền, nổi tiếng về làng Phú Thịnh xa xưa có 18
ông Nghè, còn có nhiều người thi cử đỗ đạt ở chức sắc cao, điển hình là tiến sỹ Nguyễn Cao Tiêu, làm tới chức Thị lang bộ hộ dưới triều vua Khải Định Vào thời
Tự Đức, có cử văn Hoàng Văn Giới, cử võ Hoàng Văn Khiết Đến những năm trước Cách mạng Tháng Tám và trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, người dân trong làng luôn một lòng yêu nước, đi theo cách mạng Mảnh đất này từng là nơi được cụ Nghè Tống Duy Tân (cháu ngoại của dòng họ Trịnh) chọn làm nơi dấy binh khởi nghĩa[36, tr3]
1.1.3 Kinh tế
Đã bao đời nay người dân xã Vĩnh Thịnh sống bằng nghề đốn củi, đốt than, trồng cây lâm nghiệp, làm ruộng và phát triển một số nghề thủ công Mặc dù rất siêng năng, cần cù, chịu khó trong lao động, sản xuất, nhưng vốn là cư dân nông nghiệp, lại nằm trong vùng canh tác có “đồng chiêm trũng”, nên cuộc sống của người dân nơi dây vẫn còn gặp nhiều khó khăn Cuộc sống và vạn vật vẫn sinh sôi, phát triển, nhưng không có sự đột phá; chúng ta vẫn thấy phảng phất nhiều tính chất “ngư võng phường” trong lao động, sản xuất của cư dân xã Vĩnh Thịnh Điều
đó, một mặt có thể không phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội ngày nay, nhưng mặt khác nó lại có tác dụng trong việc giữ gìn những giá trị văn hoá lịch sử truyền thống đến ngày hôm nay Con người luôn phải đấu tranh với thiên nhiên để cùng với thiên nhiên tồn tại, nên dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người dân vẫn cần cù lao động, sáng tạo ra nhiều sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho cuộc sống
và xây dựng quê hương đất nước Vì thế khi nhắc đến vùng đất này, người ta thường nhớ đến những sản vật mà không đâu có được, nó đã đi vào tục ngữ ca dao:
ốc cồn Âm (ngon nổi tiếng)
Trang 16Hầm mã vọ (cọp nhiều và dữ đáng quý nhưng cũng rất đáng sợ)
Lọ đồng Bàu (lúa tốt, đất nông phì nhiêu)
Cau hàng xã (nhiều và trồng có quy hoạch tượng trưng cho tục ăn trầu)
Mã ông Sen (rừng rậm nhiều gỗ lắn than củi)
Kèn Bố Tú (nghệ nhân lừng danh biểu tượng cho lễ tế ma chay)
Khoai xá thuốc lá đồng Nhày (vùng đặc sản cây lương thực và cây lâm nghiệp)
Trong sản xuất trước đây, ruộng đất phân phối không đều, phần lớn tập trung vào nhà giàu, nhưng đại bộ phận nhân dân đều sống bằng nghề làm ruộng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, có đan xen nghề thủ công đan lát, Một số hộ không có, hoặc ít ruộng phải nhận ruộng công, ruộng quan hoặc thuê mướn ruộng để canh tác, đánh bắt thuỷ sản, đốt than Khi có nhu cầu, địa phương còn tổ chức công trường thủ công ở cồn
Lò Vôi để sản xuất vật liệu, xây dựng đền chùa, đình miếu thờ cúng, tế lễ, hội họp và
đóng góp cho xã Vì vậy từ chỗ nhà tranh, vách đất, nhiều hộ gia đình đã xây dựng
được nhà gỗ, lợp ngói khang trang
Cuộc sống phát triển, nhu cầu giao lưu trao đổi những sản vật làm ra từ lao
động của người dân cũng phát triển theo Các hộ dân, trước hết là dân ở làng Đoài,
đã biết khai thác và sản xuất những sản phẩm độc đáo và nổi tiếng như: khoai xá, cam đường, thuốc lá, thuốc lào, các loại thuỷ sản khác, một phần được tiêu dùng, một phần được đưa ra trao đổi tại chợ Hôm, đây là chợ đầu tiên của xã, sau này có thêm chợ Chùa, tiền thân của chợ Vĩnh Thịnh ngày nay Do địa thế của xã nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam gần với trục giao thông Bắc Nam, cư dân ở Bản Thuỷ có
điều kiện giao lưu, trao đổi với các xã, các vùng trong tỉnh và cả nước Một bộ phận
đã vượt qua “luỹ tre làng” đi đến các vùng khác để lao động, buôn bán, sinh cơ lập nghiệp, mở mang ngành nghề, tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho bản thân
Trang 17khởi nghĩa chống thực dân Pháp và Triều đình nhà Nguyễn, nhiều người dân ra nhập nghĩa quân, dựng lên những hào luỹ để chống giặc, đời sống của nhân, vì thế không khỏi bị ảnh hưởng Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống thực dân, phong kiến và đế quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Vĩnh Thịnh vừa là nơi cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến, vừa là địa điểm chôn vùi quân xâm lược
Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với cả tỉnh, cả huyện, nhân dân xã Vĩnh Thịnh đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng của quê hương, tập trung phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân Tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã bình quân trong 5 năm 2001 – 2006 là 11% Cơ cấu kinh tế của xã có chuyển biến tích cực, bên cạnh việc thâm canh, tăng năng suất cây trồng, phát triển kinh tế lâm nghiệp, đảm bảo lương thực tại chỗ cho nhân dân, người dân trong xã đã đưa vào trồng cây thuốc lá, cây ớt để xuất khẩu Cuộc sống của người dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người của xã hiện nay là 6,4 triệu
đồng/người/năm[6] Ngày nay, về Vĩnh Thịnh, đời sống kinh tế của người dân, mặc dù
so với nhiều nơi còn những khó khăn, nhưng so với chính mình trước đây, người dân trong xã đã khá lên rất nhiều Các công trình hạ tầng cơ sở như: điện, đường, trường, trạm, công sở xã đã được đầu tư, cải tạo, nâng cấp và làm mới, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc
1.1.4 Văn hóa – xã hội
Là mảnh đất được hình thành từ “Ngư võng phường” ban đầu, qua nhiều biến
cố, chúng ta thấy đâu đó thấp thoáng sự gắn kết cộng đồng dân cư nơi đây với đời sống sông nước; và điều đó cũng không nằm ngoài quy luật tồn tại và phát triển của làng quê Việt Nam, vốn là cư dân sông nước Vì vậy, các dấu ấn và hoạt động văn hóa- xã hội của Vĩnh Thịnh cũng có những điểm chung tương đồng với các làng quê khác ở nông thôn nước ta, đồng thời nó lại có những nét đặc thù riêng ở mảnh đất đã và đang tôn thờ Thượng tướng Trần Khát Chân này
Theo các cụ trong làng kể lại, trước đây, vào ngày 15 tháng giêng (âm lịch) hằng năm, đầy đủ các dòng tộc trong làng, trong xã đều tập trung về đình làng mình
để tế lễ tổ tiên – lễ tế “Tiên hiền” Trong phạm vi phe, giáp, dân đinh, tề tựu tập trung dưới sự chỉ dẫn của quan viên chức sắc làng họp bàn và quyết định công việc theo
Trang 18hương ước của làng như: từ việc con nít vô (vào) làng, người lớn vô (vào) phe,….Dưới xã là làng và dưới làng là phe giáp, sau nữa đến dòng họ, gia đình[54, tr4]
Tổ chức của làng tuy còn giản đơn, nhưng đã sớm có lệ làng, kỷ cương, nếp sống phong tục để mọi người tự giác tuân thủ thi hành Tùy theo tình hình tổ chức
và thời gian cụ thể, có lúc đứng đầu làng là lý trưởng hoặc phó lý, thứ đến là các thôn hương (hương bạ, hương bản, hương kiểm, hương dịch,…); đều do dân bầu trực tiếp hoặc đại diện “đầu trầu” và hưởng thù lao bằng ruộng quan điền Là người
đại diện cho dân, khi thực thi nhiệm vụ quan trọng trong làng, ngoài xã, lý hương phải mời họp dân đinh tại đình làng để bàn định
Dưới làng là các phe giáp Mỗi làng thường có nhiều phe, chẳng hạn như làng Trung có ba phe: Thượng, Hữu, Thuận; làng Đông có các phe: An, Thịnh, Trung, Chính, Quý;… Ngoài chức năng quản lý, phe còn động viên, giáo dục và xây dựng tình cảm thân ái, tương trợ giữa các thành viên trong phe, và nhất là lo tang lễ chôn cất người quá cổ, tổ chức tế lễ[56, tr5]
Tiếp đến là các dòng họ Dòng họ không có chức năng quản lý nhà nước như phe giáp nhưng có tính cố kết, giáo dục rất lớn Hiện chưa có thống kê chính thức
số họ trong xã, nhưng ở từng làng đã có thống kê sơ bộ; chẳng hạn làng Đoài có 14 dòng họ, làng Đông có 21 dòng họ,…Đặc biệt, các dòng họ đã tham gia tích cực vào công tác khuyến học, khuyến tài; thi đua lẫn nhau xem họ nào có nhiều người học hành đỗ đạt
Xã Vĩnh Thịnh xưa vốn nghèo, nhưng người dân ở đây rất quan tâm chăm lo đến
sự học hành của con cháu Nhiều nhà giàu có trong xã đã hợp tác mở trường tư, mời thầy
về dạy học cho con cháu mình cùng con cháu các gia đình trong làng, xã; xã còn có lệ miền đóng góp phu sai, tạp dịch cho học sinh, sĩ tử, môn đồ, để khuyến khích động viên học hành đỗ đạt Trong các khoa thi cử của triều đình phong kiến, đến bây giờ ở địa phương còn lưu truyền về làng Phú Thịnh xưa có 18 ông Nghè (như đã nói trên phần Dân cư); tiến sỹ Nguyễn Cao Tiêu được làm việc cận kề bên Vua Khải Định tới chức Thị lang bộ hộ; ông Nguyễn Đình Chấn, là một danh y nổi tiếng được vua mời về cung
để chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh và được phong chức Hàn lâm đãi chiếu Vào thời Tự
Trang 19Đức có 2 cửu phẩm Trần Văn Vẩy, Trần Văn Giai, thất phẩm Trần Công Nga, bát phẩm Nguyễn Văn Vinh, thất phẩm Nguyễn Văn Lai,…Từ xa xưa có nhiều người học rộng, biết nhiều nhưng chẳng ra thi cử, làm quan mà có tâm đức với tình nghĩa xóm làng, ở lại quê hương dạy dỗ con cháu trong làng như: cụ Hương Sư, cụ Từ Lãm, Từ Luyện, Nguyễn Chí Cấn,…Hiện nay, tại làng Đông, dưới chân núi Hang Quân còn đền thờ hai
vị tiến sỹ là Nguyễn Phóng và Nguyễn Ngự.[54, tr6] Chẳng thế mà ở đây còn lưu truyền:
“Lọc nước nuôi người ngoài sáu chục chưa long nanh tể tướng
Của đồng đãi khách trong bốn mùa đã có ốc công khanh”
Điều đó cũng đủ thấy sự vất vả của cuộc mưu sinh để chăm lo cho sự học hành của cư dân vùng bán sơn địa này
Những sinh hoạt văn hóa lễ hội của người dân nơi đây, ngoài tín ngưỡng thờ tổ tiên, ông bà cha mẹ, chủ yếu đều hướng về vị thánh mà họ tôn kính là Trần Khát Chân
Là địa phương nằm trong vùng đất Vĩnh Lộc in đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc, người dân xã Vĩnh Thịnh cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của nét văn hóa nơi đây Hiện ở xã, ngoài đền thờ Trần Khát Chân, còn có các công trình di tích lịch sử văn hóa như: di tích mộ bà Chúa (Trịnh Thị Ngọc Nguyên), miếu Phủ Lăng, bia Văn chỉ và Chùa Hoa Long Tự Mặc dù đời sống còn nghèo, nhưng các công trình đó đều được nhân dân
đóng góp, xây dựng với một niềm tin mãnh liệt, muốn giữ lại và cầu phúc cho những con người đã hy sinh vì Tổ quốc, đồng thời muốn gửi gắm vào thế giới tâm linh một cái gì đó đề cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, phù hộ cho cuộc sống còn nhiều vất vả của họ
Bên cạnh tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ thần, thờ phật, ở đây còn có thờ Đạo Khổng ở làng Trung, có Văn chỉ thờ đức Khổng Tử và các danh nhân địa phương như: Trịnh Kiên, Trịnh Truyền, Nguyễn Trường Cấp, Hoàng Phúc và sau đó làng còn xây Võ chỉ thờ Quan Vũ và các võ quan trong làng
Chùa, nghè được xây dựng và trùng tu bằng những nguyên vật liệu đặc biệt như: gạch vồ, ngói mắt, hồ vôi mật, tự sản xuất được cùng với gỗ đu đương, lim sến khai thác từ rừng của địa phương Chùa nghè ở đây, theo người dân kể lại, có kiến trúc độc
đáo, hình tượng đường nét chạm trổ tinh vi Diện mạo bên ngoài nhiều mối liên kết,
Trang 20uốn cong, đầy vẻ cổ kính và đậm nét dân tộc Bên trong thoáng rộng, thất sự đồ thờ bày trang hoàng, lộng lẫy, uy nghi
Các lễ hội ở đây đều được thực hiện chu đáo với tấm lòng thành kính của nhân dân Theo các cụ kể lại, sau Tết cổ truyền dân tộc, vào ngày tế lễ “Tiên hiền”- tức ngày rằm tháng giêng, ở tất cả các làng trong xã, từ tráng đinh đến quan viên, chức sắc, áo
mũ chỉnh tề cùng dân làng ra đình làm tế lễ Đêm đến, khi nghe trống chầu giục giã, già, trẻ, gái, trai, vội vã tấp nập đua nhau ra đình xem hát hội, hát chèo[56, tr5]
Trước 2 lễ hội trên, hằng năm vào rằm tháng chạp, các dòng họ đều tổ chức viếng mộ và bồi đắp mồ mả tổ tiên để tỏ lòng thành kính, tri ân đến tổ tiên
ở xã còn có lễ phật Đản được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 ở Hoa Long Tự và
lễ kỵ – ngày mất của Trần Khát Chân vào ngày 24 tháng 4 tại Đền thờ
Nằm ở vị trí thuận lợi trong giao lưu với các vùng, miền trong cả nước, cùng tồn tại với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần, một bộ phận người dân ở xã Vĩnh Thịnh theo đạo Công giáo Xã có một họ đạo với 106 hộ, 514 nhân khẩu Đồng bào giáo dân giữ gìn mối quan hệ lương giáo, sống đoàn kết, “tốt đời đẹp đạo”; không
có hiện tượng bài bác, kỳ thị hoặc chống đối nhau
Như vậy, chỉ trong không gian một xã, với phạm vi hẹp, chúng ta có thể thấy dấu ấn văn hóa và các hoạt động văn hóa in dấu rất sâu đậm, vừa trải dài ra không gian, vừa phát triển theo thời gian Không gian văn hóa đó chứa đựng trong mình
đầy đủ các đặc điểm của văn hóa truyền thống Việt Nam, đồng thời, cũng mang đặc
điểm riêng có của địa phương mà không nơi nào có thể có được Với cái nhìn biện chứng, chỉ có khai thác những nét văn hóa truyền thống chúng ta mới có thể cắt nghĩa, giải thích các hoạt động lễ hội tại địa phương, từ đó có cái nhìn tổng thể,
đánh giá khái quát, góp phần đưa ra những kiến giải hữu ích trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị lịch sử- văn hóa đền Trần Khát Chân trong giai đoạn mới
1.2 Lịch sử xây dựng vμ quá trình tồn tại đền trần khát chân
1.2.1 Lịch sử nhân vật được thờ
Trang 21Tín ngưỡng thờ thần là tín ngưỡng bản địa của người Việt sẵn có từ trước, người Việt thờ là biểu thị lòng Sợ và Kính của người nông dân trong một xã hội nông nghiệp đối với cái Kính trọng, Thiêng liêng nhằm mục đích cầu mong đời sống no ấm, yên ổn[40, tr14] Người dân ta tin rằng: đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, cảnh thổ nào phải có thành hoàng ấy, vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì dân thế mỗi ngày việc sự thần một tịnh [12 tr 74] Chính vì điều này làng nào cũng có một vị thần để thờ, vị thần này là chủ tế cho làng và thỏa mãn mọi vấn
đề tâm linh cho làng
Sang đến thế kỷ XV, khi nhà nước phong kiến toàn thịnh, triều đình đã thể hiện sự thống nhất về uy quyền đến tận làng xã nên đã phong cho các thần làng theo các cấp bậc nhất định Triều đình phong kiến căn cứ vào các vị thần được thờ ở các làng, theo đề nghị của các quan sở tại để phong cho thần Điều này đã làm cho nguồn gốc của các thần làng khá phức tạp Có thể đó là những thần phò vua bảo vệ vương triều, giúp dân làm ăn được phát đạt và qua khỏi các tai họa Hay có thể là những thần, mà nhiều nhà nghiên cứu quen gọi là nhân thần, tức là vị thần vốn là các nhân vật lịch sử có thật như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… có công lao phò vua giúp nước Chính vì vậy việc tìm ra nguồn gốc các vị thần được thờ đòi hỏi phải có một sự phân tích chu đáo
Để tìm hiều về vị thần được thờ tại Đền, chúng tôi căn cứ vào chính sử được ghi chép trong các cuốn sử biên niên và thần tích về Ngài hiện còn lưu giữ tại Đền; bởi vị thần được thờ nơi đây là một con người có thật – một vị tướng triều Trần đã
có công giúp dân, giúp nước
Trần Khát Chân sinh năm 1370 và mất năm 1399, là con ông Trần Hữu Nhân và
bà Đặng Thị Ngọc Thục, quê ở làng Nột, xã Kim Động, phủ Kiến Xương, trấn Nam Sơn (nay thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình) Về gốc tích, có rất nhiều về giả
thuyết quê hương của Ngài Thế nhưng chính sử nước ta như Đại Việt sử ký toàn thư,
Đại Nam nhất thống chí, Việt Nam sử lược, Việt sử thông giám cương mục đều ghi
Trần Khát Chân quê ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc), trấn Thanh Đô (Thanh Hóa); gia thế ba đời đều làm quan triều Trần đến chức thượng tướng quân, Ngài là dòng dõi của
Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng Một vị tướng triều Trần bất tử với câu nói: “Ninh vi
Trang 22Nam quỉ bất vi Bắc vương” ( Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc) Và sử cũ cũng chép Trần Bình Trọng là dòng dõi của vua Lê Đại Hành, mới
được ban quốc tính họ Trần từ đời cha Tuy nhiên, theo bản thần tích tại đền thờ Trần Khát Chân ở quận Hoàng Mai (Hà Nội) thì Ông quê ở xã Nhuế Dương, huyện Kim
Động, tỉnh Hưng Yên
Vấn đề quê hương của ông cần phải tìm hiểu thêm, có thể trải qua nhiều đời
họ đã dịch chuyển chỗ ở, ngoài ra, còn chưa kể đến quê cha, quê mẹ, quê vợ cả, vợ thứ…Nhưng có một điều ta có thể chắc chắn rằng từ Lê Đại Hành đến Lê Phụ Tần, Trần Bình Trọng rồi đến Trần Khát Chân, là một sự tiếp nối truyền thống thượng
võ, trung nghĩa, mưu lược của một dòng tộc, một gia tộc
Trần Khát Chân được sử sách nhắc đến đầu tiên với cương vị là Đô tướng triều Trần Thuận Tông, khi ông được vua sai đi đánh giặc Chiêm Thành vua mới chỉ 12 tuổi, chính quyền vẫn do Thượng hoàng Nghệ Tông nắm giữ Nhưng thực chất quyền hành lại ở trong tay Hồ Quý Ly Tháng 10 năm đó, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga đem quân đánh ra Bắc, lấn đến Thanh Hóa, Hồ Quý Ly đem quân đi kháng cự
và mắc mưu quân Chiêm nên đại bại Quý Lý thua to, bỏ chạy về Thăng Long Quân Chiêm tiến ra Bắc, khoảng giữa tháng 11 tới đóng trên sông Hoàng Giang (Nam
Định) Cả kinh thành Thăng Long xôn xao, ai nấy chuẩn bị đi lánh nạn Thượng hoàng rất lo sợ mới sai Trần Khát Chân, khi đó đang giữ chức đô tướng, đem quân đi
chống giặc “Trần Khát Chân vâng mệnh khảng khái nhỏ nước mắt lạy tạ ra đi
Thượng hoàng cũng khóc lấy nước mắt tiễn đưa”[37, tr 282] Ông cầm quân xuôi
theo sông Hồng, tới Hoàng Giang xem địa thế khúc sông này không có thế bày trận, nên lui về và đóng ở ngã ba sông Luộc Lúc ấy, tôn thất Trần Nguyên Diệu, em của phế đế Nghiễm bị Nghệ Tông, theo gợi ý của Hồ Quý Ly, giết năm trước (năm 1388), muốn báo thù mới đem cả gia quyến đầu hàng quân Chiêm Tháng giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga cùng Nguyên Diệu đem hơn 100 chiến thuyền tiến lên sông Luộc để quan sát tình thế của quan quân nhà Trần (còn đại quân Chiêm sẽ tiến theo sau) Khi đó, một bề tôi của Chế Bồng Nga là Ba Lậu Khê, có tội bị Bồng Nga trách phạt, lo sợ bị giết liền chạy trốn sang hàng bên quân Trần và hắn đã chỉ thuyền của Chế Bồng Nga- sơn màu xanh cho Trần Khát Chân biết Khát Chân lập
Trang 23tức ra lệnh cho tất cả hỏa pháo tập trung bắn vào thuyền đó Bồng Nga bị trúng đạn
và chết ngay Nguyên Diệu nhân lúc ấy muốn thoát chết, liền cắt đầu Chế Bồng Nga chạy về với quân ta Nhưng Đại đội phó Thượng đô quân Long Tiệp là Phạm Ngũ Lặc và đầu ngũ Dương Ngang đã giết Nguyên Diệu, đoạt đầu Chế Bồng Nga đem nộp cho Khát Trân Trần Khát Chân sai Lê Khát Khiêm đem bỏ đầu giặc vào hòm và
đi thuyền suốt ngày đêm đến bến Bình Than, là chỗ Thượng Hoàng đang lánh nạn, để báo tin thắng Bấy giờ giọt đồng hồ đã điểm canh ba, Thượng hoàng đang ngủ say, bị
đánh thức tưởng là giặc kéo đến, rất hoảng sợ Đến khi nghe tin thắng trận, mới cả mừng, liền cho triệu tập các quan tới để xem cho kỹ Các quan mặc triều phục, hô
“muôn năm” Nhìn thủ cấp của vua Chiêm, Thượng Hoàng phấn khởi nói : “Ta với
Chế Bồng Nga chống nhau đ∙ lâu, nay mới thấy mặt, khác gì Hán cao tổ thấy đầu Hạng Võ Từ nay thiên hạ sẽ được yên” [39, tr 283] Đó là ngày 23 tháng giêng
Chiến công này có tác dụng đập tan một đạo quân xâm lược khá mạnh, đồng thời đã giải thoát cho Thăng Long khỏi tai họa bị tàn phá Quân Chiêm mất vua, phải rút về nước không dám gây sự nữa Sang tháng hai, Trần Khát Chân được phong hầu (Vũ tiết quan nội hầu), được kiến ấp (tức được thưởng cho một vùng làm thái ấp riêng) đó
là vùng Kẻ Mơ, nay thuộc phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Thế hệ sau, khi bàn về chiến công của vị tướng này đã có rất nhiều ý kiến, trong đó họ cho rằng chiến công của Trần Khát Chân là một sự may mắn Nhưng căn cứ vào những ghi chép cho dù hết sức vắn tắt của lịch sử về chiến tích của Ông,
rồi qua thái độ "khảng khái ra đi" khi được vua cử đi thì chúng ta phải công nhận
Trần Khát Chân là một vị tướng mưu trí và dũng cảm, thực sự là người yêu nước thương dân Chiến công của Ngài vẫn mãi được lịch sử ghi nhận như một chiến tích lẫy lừng của dân tộc, và nhân dân vẫn nhớ đến ông như một người tường lĩnh giỏi
và xuất chúng của họ, Người đã có công đem lại sự bình yên cho đất nước
+ Hội thề Đốn Sơn
Đến năm 1394, Thượng hoàng Nghệ Tông băng hà, vua Thuận Tông đã 17 tuổi nhưng quyền hành vẫn ở trong tay Hồ Quý Ly Từ đây Quý Ly ngày càng thao túng Năm 1379, Quý Lý bắt đầu lập kinh đô mới ở Thanh Hóa (Ngày nay Thành
Trang 24đó vẫn còn, nhân dân quen gọi là Thành Tây Giai hay Đông Môn của huyện Vĩnh Lộc) Tương truyền, Trần khát Chân vì là người vùng này nên cũng được giao cùng Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi vào đó chỉ đạo việc dựng thành, đào hào, xây tôn miếu…Dù không muốn tham gia vào công việc này, những vì trung thành với vương triều Trần, Trần Khát Chân phải tham gia vào việc xây thành Trần Khát Chân và Thái sử Đỗ Tỉnh được giao cho xây dựng con được đi vào thành đó là con
đường Hoa Nhai Chuyện kể rằng: Hồ Quý Ly bắt Khát Chân chỉ huy việc làm con
đường này, đá thì phải tới các núi trong vùng như Thọ Vực, núi Hồ Công mà lấy, phu phục dịch thì trung dụng dân ba tổng Cao Mật, Bình Bút, Nam Cai và phải hòan thành trong thời hạn 15 ngày Thật là gay go! Chỉ mỗi việc đắp đất làm nền đường cũng phải mất bao nhiêu ngày rồi, chứ nói gì đến chuyện xẻ đá thành phiến, di chuyển và xếp đặt! ý Quý Ly là định hại Khát Chân chăng ? Nên mới quy định một thời gian ngắn như vậy Trần Khát Chân tuy không ưa Quý Ly, nhưng xây thành lại
là lệnh vua, mà Khát Chân lại là một bề tôi trung thành Ông đành phải thực hiện
Ông vốn có phép thuật nên đã tự mình lo việc này mà không phiền đến dân Sau khi nhận lệnh, chỉ có một lần dân thấy ông sai lính hậu cần đi dăng một sợi dây từ chính giữa cửa Nam đến chính giữa chân núi Đốn Sơn Còn thì suốt từ ngày này qua ngày khác chỉ thấy ông dạo quanh vùng hỏi mua rất nhiều giấy mà không thấy
Ông huy động dân chúng làm lụng gì Đến ngày thứ mười bốn cũng vẫn thế, Hồ Quý Ly chắc mẩm là hại được Ông Biết đâu tối hôm đó, Ông cho gọi toán lính hầu cần, bảo gánh giấy đem đi trải ra hai bên sợi dây đã giăng hôm nọ Toán lính làm theo nhưng vẫn không hiểu sao cả Sáng mai, lạ chưa, một con đường đá hiện ra mồn một trước mắt mọi người, thẳng một vạch từ cửa Nam đến chân núi Đốn Sơn, toàn là đá vuông vắn phẳng lì như giấy xếp Thì ra, Trần Khát Chân có phép biến giấy thành đá! Hồ Quý Ly đã không hại được Ông mà dân ba tổng lại không phải khó nhọc Chính vì vậy, khi Ông mất, dân vùng này đã lập đền thờ Ông và được gọi
là đền Tam Tổng (nay thuộc xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc); tức là cả ba tổng cùng góp phần hưng công và thờ phụng
Câu chuyện cổ là như vậy Gạt bỏ phần huyền thoại đi, có lẽ cái lõi hiện thực
là như thế này: Trần Khát Chân ngoài tài quân sự còn có tài về kiến trúc; Ông là
Trang 25người thực sự thương dân và lo cho dân, là một bề tôi trung thành của Trần triều Do
đó, Ông rất không tán thành việc xây dựng kinh thành mới, tốn sức người sức của,
ảnh hưởng cả đến Trần Triều Có lẽ mâu thuẫn giữa Ông và Hồ Quý Ly đã bộc lộ từ
đó, điều này dẫn tới vụ mưu sát ở hội thề Đốn Sơn xảy ra sau đấy hai năm, năm
1399
Số là xây dựng xong kinh đô mới thì Hồ Quý Ly ép vua Trần Thuận Tông dời kinh thành Thăng Long, đem cả triều đình vào đóng tại Tây Đô (vào tháng 10 năm 1397) Năm sau, Hồ Quý Lý lại bắt Thuận Tông truyền ngôi cho thái tử An, mới lên ba tuổi Tháng 4 năm 1399, Quý Ly bức vua phải xuất gia thờ Đạo giáo, ra ở quán Ngọc Thanh, thôn Đạm Thủy (thuộc huyện Đông Triều, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) và mật sai người giết luôn Thuận Tông (tháng 04 năm Mão – 1399) Những sự việc này làm
cho những quan lại Trần triều “chính thống” trung thành với Trần triều càng thêm bất
mãn Thêm vào đó, những cải cách (phát hành giấy bạc, hạn nô, hạn điền…) của Hồ Quy Lý vào thời điểm nước nhà như vậy khiến cho thiệt hại nhiều về kinh tế Trước tình hình đó, những trung thần của Trần triều đã liên kết với nhau và tìm cách hạ bệ Hồ Quý Ly, trong đó có Trần Khát Chân Họ chờ đợi và cơ hội đã đến Sau khi giết Thuận Tông, Quý Ly tổ chức hội thề trên núi Đốn Sơn vào tháng 5 Đây là hội thề có từ thời nhà Lý nay nhà Trần vẫn theo tục lệ làm theo ở hội thề này, trăm quan thề trung thành với vua Nhân cơ hội này một số đại thần trong đó có Trần Khát Chân, Thái Bảo (hàm vua phong thường ở cạnh vua) Trần Hãng, Hành Khiển (chức quan đứng đầu cơ quan bộ) Hà Đức Lân, các quan Lương Nguyên Bửu, Phạm Ông Thiện…, đã cùng nhau mật bàn nhân hội thề này sẽ sai thích khách là Phạm Ngưu Tất và Phạm Tổ Thu,
là con tướng quốc Phạm Khả Vĩnh, hai đại thần đương chức trong triều ám sát Hồ Quý
Ly Với danh nghĩa là Thái Sư nhiếp chính (người đứng đầu triều đình), Hồ Quý Ly đã thay vua còn nhỏ làm người chủ trì lễ hội Sự kiện này được chính sử chép như sau:
“Hồ Quý Ly khi ngồi trên lầu nhà Khát Chân để xem, theo lệ xưa thiên tử ngự đền
miếu, đến, chùa Lúc đó Phạm Tố Thu là cháu gọi Khả Vĩnh bằng chú bác và thích khách Phạm Ngưu Tất cầm gươm lên lầu Khát Chân trừng mắt ngăn lại, rồi thôi Quý
Lý thấy, chột dạ đứng dậy, vệ sĩ ủng hộ xuống lầu Ngưu Tất vứt gươm xuống đất mà
nói “cả lũ chết thôi” Việc tiết lộ, bọn Tôn Thất Hãng, Trụ quốc Nhật Đôn, Thượng
Trang 26tướng quân Trần Khát Chân, Phảm Khả Vĩnh, hành khiển Hà Đức Lân, Lương Nhữ Bưu, Phạm Ông Thiện, Phạm Ngưu Tất và các liên thuộc thân tổng cộng 370 người
đều bị giết cả, tịch thu gia sản, con gái bắt làm tỳ, con trai từ một tuổi lên bị chôn sống hoặc dìm nước Lùng bắt dư đảng mấy năm không thôi”[38, tr 256]
Truyền thuyết dân gian có kể lại rằng, trước khi bị hành hình ở Đốn Sơn, Ông
đã gào to ba tiếng, trời đất đang nắng bỗng nhiên tối sầm lại, u ám, rồi đổ mưa Và sau khi chết ba ngày sắc mặt Ngài vẫn còn tươi nguyên không hề thay đổi, ruồi nhặng không đám đến gần
Cái chết của Trần Khát Chân cùng gia quyến được nhân dân thương tiếc, mai táng tại núi Đốn Sơn và thờ phụng Ông được tôn làm Đức Thánh Lưỡng và được
thờ ở rất nhiều nơi Riêng ở Thanh Hóa có “Thất thập nhị niên” (bảy mươi hai nơi
thờ) Nhiều địa phương đã lấy tên Ông đặt tên cho các trường học, đường phố ở Hà Nội hiện nay cũng có con đường mang tên ông đó là đường Trần Khát Chân, dài 2000m, đi từ phố Nguyễn Khoái đến Ô Cầu Dền, giáp với phố Bạch Mai, thuộc quận Hai Bà Trưng
Có thể nói, mặc dù sử sách nói về Trần Khát Chân không nhiều, có lẽ do đây
là giai đoạn mà Trần triều đã bước vào thời kỳ suy vi, mục ruỗng, nhưng với người dân thì dù ở thời nào, hoàn cảnh nào, người có công đánh đuổi giặc xâm lăng, giải phóng cho nhân dân khỏi họa ngoại xâm, thì đó vẫn là những anh hùng được tôn thờ và ghi nhớ Chính vì vậy, trong lòng nhân dân, hình ảnh về người anh hùng
đánh Chiêm này vẫn chiếm một vị trí và ý nghĩa vô cùng lớn lao Họ tôn Ngài là Thần và thờ phụng Ngài, coi Ngài là vị thần bảo hộ cho làng của mình
Hiện nay, tại Đền còn lưu giữ 26 đạo sắc phong của các triều vua phong tặng cho Thần là Kim Ngô long hổ lưỡng vệ thượng tướng quân, với các mỹ tự được ban: Quan nội Trung mẫn, nghĩa liệt hiển ứng hộ nước phù vận, tế thế trạch dân, phổ hóa tuy lục, hậu đức hoằng hưu, bảo hữu dương võ… Có 10 sắc phong thời Lê, 16 sắc phong thời Nguyễn (trong đó có 4 bản sắc sao) Sắc phong sớm nhất là sắc phong ngày
10 tháng 8 năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1711), đời Lê Dụ Tông Sắc phong muộn nhất vào
Trang 27ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1925) Đạo sắc cổ nhất ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1711) đã ban:
“Sắc thần Kim Ngô long hổ lưỡng vệ thượng tướng quân với các mỹ tự
được ban: Quan nội Trung mẫm, nghĩa liệt hiển ứng hộ nước phù vận, tế thế trạch dân, phổ hóa tuy lục, hậu đức hoằng hưu, bảo hự dương võ, phù tộ phổ hóa, diễn phúc tuy lục, an dân hòa chúng, uy dũng vũ dũng, hùng lược trợ thắng, tập khách ứng thụy, trung nghĩa toàn tiết, cương đoán anh linh, khải tường tập phúc, tán trị khai bình, hộ sĩ bức quan, uy đoán hoằng tế, công đại vương, giao cảm cùng mây, chuyển dời đất đá, gắng sức trong công việc, công đức lớn lao vững bền, phù giúp cơ đồ lớn lao vững như thái bàn, bậc thần quý sống trên dương thế Cơ qua cảm ứng cho nên xét theo điển cất nhắc bao phong là bậc giúp dập sự tiếp nối, Vua tiến phong vương vị tới phủ chính giúp đỡ tông xã xây dựng cơ đồ lớn lao, có lễ thăng lên một bậc, thích ứng gia phong đánh gia phong mỹ tự, Kim Ngô long hổ lưỡng vệ thượng tướng quân, Quan nội trung mẫn, nghĩa liệt hiển ứng, hộ quốc phù vận, tế thế trách dân, phổ hóa tuy lục, hậu đức hoằng hựu, bảo hựu dương võ, phù tộ phổ hóa, diễm phúc tuy lộc, an dân hòa chúng, uy dũng vũ dũng, hùng lược trợ thắng, tập khách ứng thụy, trung nghĩa toàn tiết, cương đoán anh linh, khải trường tập phúc, tán trị khai bình, hộ sĩ phúc quang, uy đoán hoằng tế, tuyên hệ phát tường, Lưu ân công Đại vương Sắc xưa.”
Như vậy, thần phả và hệ thống sắc phong đều thống nhất là vị thần được thờ ở Đền là Trần Khát Chân – một tướng của Trần triều, có công giúp nước
đánh giặc Chiêm Thành; các triều đại phong kiến đều phong cho Ngài là Kim Ngô long hổ lưỡng vệ thượng tướng quân chức Thượng Đẳng Thần ở Đền cũng còn lưu giữ rất nhiều câu đối ca ngợi về Ngài
Ngoài ra, ở gian Trung Đường của Đền, chúng ta còn thấy hai bài vị được phối thờ tại đây, một thánh vị là của Thành hoàng bản thổ và một thánh vị là của một vị Trung đẳng Thần Theo như người dân ở đây kể lại, đây là hai bài vị được
đưa về từ nghè làng Sanh; khi nghè bị hỏng nhân dân đã đưa bài vị của các ngài cùng một số hiện vật ở nghè về đây thờ cùng với Trần Khát Chân Nhưng khi chúng tôi nghiên cứu hệ thống sắc phong và những tư liệu cổ còn lưu giữ tại Đền thì nhận
Trang 28thấy trong Bản kê khai xã Bản Thủy (Bảo Đại năm thứ 10 (1939), ngày 10 tháng 4) nhân dân xã có đề nghị triều đình một lần nữa gia phong cho hai vị thần của làng nữa là Bảo An Chính Trực Hựu thiện đôn ngưng Thành Hoàng thổ địa Đại vương và Bảo Hựu tuyên hữu chính thủ đôn ngưng, để dân làng được thờ phụng Có một sắc phong ban ngày 1 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) có sắc cho cả ba vị thần là Trần Khát Chân, Bảo An Chính Trực Hựu thiện đôn ngưng Thành Hoàng và Bảo Hựu tuyên hữu chính thủ đôn ngưng Lý vực chân quan
Như vậy, việc đưa hai vị thần cùng vào thờ tại đền không chỉ là sự phối thờ cơ học đơn thuần, do Nghè hỏng nên nhân dân chuyển thần ra đây, mà là một sự chấp nhận cùng thờ nhiều vị thần ở một nơi Điều này cũng có thể giải tích rằng: theo quan niệm của người dân thì thần luôn là người phù trợ cho làng, cho xã, đem lại cuộc sống bình yên cho làng, thỏa mãn được những ước vọng của nhân dân; làng
có nhiều thần thì sự phù trợ của các thần cho làng càng nhiều Nên nhân dân dễ dàng chấp nhận việc phối thờ các vị thần tại đây
Tuy nhiên, tại Đền vị thần đóng vai trò chủ yếu và quan trọng vẫn là Trần Khát Chân, bởi tất các các sắc phong và văn tự cổ nơi đây đều ghi nhận công đức của Ngài và đánh giá cao công đức của Ngài với nhân dân Vị trí thờ ngài là vị trí trung tâm của Đền
1.2.2 Lịch sử xây dựng, quá trình tồn tại của Đền thờ Trần Khát Chân
và hệ thống đền thờ
1.2.2.1 Lịch sử xây dựng, quá trình tồn tại của Đền thờ Trần Khát Chân
Đền Trần Khát Chân là di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, còn gọi là đền thờ đức Thánh Cẩn, đền thờ Kim Ngô Long Hổ Thượng Tướng quân, đền thờ Trần Kim Ngô, đền Trần Đại Vương, nằm trên địa bàn thôn Trung, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Về thời gian khởi dựng của Đền, thì hiện nay duy chỉ có tòa Tiền Đường là có thể xác định được thời gian khởi dựng một cách chính xác và các lần trùng tu thông
qua dòng niên đại ghi trên thượng lương của tòa Tiền Đường: “Hoàng triều Minh
Mệnh nguyên niên Canh Thìn khởi tạo, Thành Thái nhị niên Canh dần trùng tu, Bảo
Trang 29Đại ngũ niên Canh Ngọ thập nhị nguyệt sơ cửu nhật Nhâm Ngọ đại tu thụ trụ thượng lương đại cát…” Như vậy, tòa Tiền đường được khởi tạo vào năm Minh Mệnh nguyên
niên, tức là năm 1820 Đến đời vua Thành Thái, vào năm Canh Dần, tức năm 1890, thì tiến hành sửa chữa lớn Đến năm Bảo Đại ngũ niên, tức là năm 1930, lại tiến hành trùng tu một lần nữa
Tòa Trung Đường và Hậu Cung không ghi rõ niên đại khởi dựng cũng như thời gian các lần trùng tu Để xác định niên đại khởi dựng và những lần trùng tu sửa chữa của tòa Trung đường và Hậu cung của đền Trần Khát Chân cần phải căn cứ vào một số tư liệu: sắc phong, phong cách và đặc trưng mỹ thuật của công trình kiến trúc hiện tồn tại Ngoài ra, còn căn cứ vào các nguồn tư liệu là thần phả, tư liệu thu được qua những câu chuyện trong dân gian, trong ký ức của các thế hệ người dân địa phương
Theo truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xưa, các làng trong xã thường tự nhiên bị bốc cháy, nhà cửa của dân trong vùng bị cháy hết, không sao cứu được Dân làng không biết nguyên nhân do đâu Đi xem thì thấy nói làng bị bọn quỷ đêm đêm về phá hoại nên làng mới bị nạn như vậy Nghe vậy, dân làng vô cùng lo lắng không biết làm thế nào để có thể khắc phục được đại họa này Nghe nói trên xã Vĩnh Thành có vị thần rất linh thiêng, Ngài có khả năng diệt trừ được ma quỷ Thấy vậy, dân làng bàn nhau
đem lễ vật lên đền Ngài cầu khấn và xin ngài cứu giúp Sau khi cầu khấn, thì thấy ứng nghiệm ngay, người ta không thấy nhà trong làng bị bốc cháy nữa Sau sự kiện ấy, vì
sự linh thiêng của Ngài và cũng để tỏ lòng biết ơn và kính phục Ngài, nhân dân trong làng đã lên đền thờ chính của Ngài và xin rút chân nhang nơi đây về làng mình thờ
Không chỉ vậy, khi nói tới sự linh thiêng của Ngài, dân gian còn truyền nhau những tích khác đó là: Ngài còn có khả năng hô mưa gọi gió, đem lại nguồn nước cho người dân trồng trọt Người dân ở đây kể rằng, hàng năm, mỗi khi trời hạn hán hán kéo dài, không có mưa, nhân dân quanh vùng thường đem lễ vật ra Đền làm lễ cầu đảo; sau khi làm lễ, ngay ngày hôm sau trời thế nào cũng mưa to, đem lại nguồn nước cho dân, giúp dân làng tránh khỏi nạn hạn hán.Với sự linh thiêng của Ngài như vậy, nên nhân dân các làng trong xã đã xây dựng đền để thờ Ngài
Trang 30Tài liệu về truyền thống văn hóa các làng tại xã Vĩnh Thịnh có ghi lại: vào thế kỷ XVI, Làng Trung đã nhường đất làng mình để cùng làng Đoài và làng Đông xây chùa Hoa Long thờ Phật và dựng nghè Hàng Xã thờ thượng tướng quân Trần Khát Chân - một trung thần nghĩa sĩ thời Trần, đã có công tiêu diệt đạo quân xâm lược Chiêm Thành, cứu dân khỏi họa xâm lăng, và luôn phù trợ cho dân làng từ trước đến nay.[56, tr6] Như vậy, ban đầu khi mới xây dựng Đền có tên là nghè Hàng Xã Nghè được xây dựng bởi sự đóng góp của cư dân ba làng là Làng Đoài, làng Đông và làng Trung Không biết, cái tên Nghè Hàng Xã được đổi tên thành
đền thờ Trần Khát Chân từ khi nào? (không thấy nói đến), nhưng căn cứ theo sắc phong và tư liệu còn lưu dữ tại Đền, chúng tôi cho rằng nghè Hàng Xã được đổi tên
từ năm 1711 (năm Vĩnh Thịnh thứ 6 đời Lê Dụ Tông), khi vị thần được thờ nơi đây chính thức được nhà nước phong kiến công nhận bằng sắc phong phong cho vị thần
Căn cứ từ dữ liệu trên, chúng tôi mở rộng khảo sát sang Chùa Hoa Long – ngôi chùa nằm trong quần thể kiến trúc của Đền thì thấy trên trụ chạm nổi của gian thứ hai trong chùa có ghi dòng chữ:
“Hoàng thượng Chính hòa tam niên, Nhâm Tuất tạo Thử Thiên cổ tích danh lam Hoa Long tự”
Nghĩa là:
Năm Chính Hòa thứ 3 (1683) đời của Lê Hy Tông, tức năm Nhâm Tuất tạo lập kiến trúc chùa.[44, tr3]
Theo nguồn tư liệu đây, có nhiều khả năng tòa Trung đường và Hậu cung của
Đền được khởi tạo xây dựng cùng giai đoạn với chùa Hoa Long
Trong Đại việt sử ký toàn thư chép “Ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ niên hiệu
Hồng Đức thứ 5 (1474)”:
“Đinh lệnh khuyến khích trung nghĩa:
Trung thần nghĩa sĩ, như Lê Phụ Tần, Trần Khát Chân triều trước, Đào Biểu triều nay, quan cai quản và quan phủ huyện phải tìm lấy cháu gọi bằng ông hay cháu gọi bằng chú, bác lấy một người, xét thực làm bản tấu lên, sẽ cho một chức nhàn tản;
Trang 31nếu không có cháu thì cho một người thân thuộc được miễn lính và thuế coi việc thờ cúng”[ 39, tr 252]
Từ những nguồn từ liệu trên ta có thể phần nào xác định được niên đại khởi dựng tòa Trung đường và Hậu cung Tuy nhiên, qua thời gian, biết bao thăng trầm của lịch sử và biến đổi của tự nhiên, đã làm cho ngôi đền có nhiều thay đổi, có thể ngôi đền ban đầu không còn được giữ lại nguyên vẹn mà nó đã được xây lại hay trùng tu qua các triều đại Để góp phần xác định đúng niên đại khởi dựng của Đền chúng ta có thể căn cứ vào những thông tin khác ở đây, chúng tôi căn cứ vào kiến trúc và những mảng
điêu khắc trang trí hiện đang còn tại Đền để xác định niên đại của tòa Trung Đường và Hậu Cung
Thông qua kết cấu kiến trúc và các mảng trang trí hoa văn tại đây, cũng như các di vật còn lại trong di tích, Giáo sư Trần Lâm Biền đánh giá, đây là một công trình kiến trúc có niên đại khởi dựng vào thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII, còn tương đối nguyên vẹn Trong các đợt trùng tu ở thời Nguyễn, thì Trung Đường và Hậu Cung cũng được trùng tu, dấu vết còn lại ở hai công trình này là tường xây bao toàn bộ bằng gạch giống như Tiền đường Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, hiện tượng này chỉ diễn ra sớm nhất vào thời Nguyễn Theo chúng tôi, qua khảo sát và nghiên cứu di tích, cũng cho rằng công trình có niên đại của thế kỷ XVII
Như vậy, ban đầu quy mô của ngôi đền chỉ bao gồm tòa Trung Đường và Hậu Cung, còn tòa Tiền Đường được xây dựng về sau này nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân Bởi trước kia, theo các cụ trong làng kể lại, khi chưa có Tòa Tiền đường, mọi công việc tế lễ và cúng bái được diễn ra trước Tòa Trung đường,
điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc tế lễ và thờ cúng của nhân dân Vì thế, việc xây dựng Tòa Tiền đường đã đáp ứng được yêu cầu của người dân trong việc tế lễ
và phụng thờ Ngài Như vậy, chỉ từ năm 1820, Đền mới có đầy đủ các công trình: Tiền Đường, Trung Đường và Hậu Cung, tất cả các đơn nguyên ngày tạo cho Đền
có kết cấu hình chữ Đinh (T)
Trang 32Trải qua năm tháng biết bao nhiêu biến động của môi trường tự nhiên và xã hội,
Đền thờ không tránh khỏi sự xuống cấp Để bảo vệ ngôi đền, nhân dân và chính quyền nơi đây đã đóng góp và xây dựng hệ thống tường rào bao quanh và hệ thống cửa ra vào khu vực đền thờ Trần Khát Chân và chùa Hoa Long
Để tưởng nhớ tới công đức của Ngài và có cơ sở pháp lý để gìn giữ đền thờ Trần Khát Chân, năm 2003, Sở Văn hóa – Thông tin Thanh Hóa và Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hóa đã hoàn thành thủ tục pháp lý và hồ sơ khoa học đề nghị Bộ Văn hóa – Thông tin xét duyệt và công nhận di tích Ngày 10/8/2004, Bộ Văn hóa – Thông tin đã ra quyết định xếp hạng công nhận di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật đối với đền thờ Trần Khát Chân Như vậy, đền Trần Khát Chân được khởi dựng vào thế kỷ XVII và đã qua ba lần tôn tạo và tu sửa, trong đó đợt lớn nhất vào thời Nguyễn, đời vua Thành Thái
1.2.2.2 Đền thờ Trần Khát Chân – một tín ngưỡng dân gian vùng
PGS TS Nguyễn Quốc Phẩm trong Góp bàn về tín ngưỡng dân gian và mê tín
dị đoan có đoạn viết: theo nghĩa hẹp tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con
người và thường gắn với niềm tin tôn giáo Theo nghĩa rộng tín ngưỡng có nội hàm
và ngoại diên rộng hơn tôn giáo, thuộc ý thức xã hội, phản ánh niềm tin, sự ngưỡng
mộ của quần chúng nhân dân vào các lực lượng siêu nhiên ít nhiều mang màu sắc tôn giáo[47, tr11]
Đền Trần Khát Chân ở xã Vĩnh Thịnh chỉ là một trong những nơi thờ Trần Khát Chân trong phạm vi toàn quốc Cũng giống như đền thờ Trần Hưng Đạo ở Kiếp Bạc Hải Dương, đền thời Lý Thường Kiệt, đền thờ Lê Lợi, đền thờ Lê Lai ở Thanh Hóa,… là những ngôi đền thờ các anh hùng dân tộc, và đều bắt nguồn từ tục thờ Thần của người Việt Theo các nhà nghiên cứu, thì hệ thống đền, bao gồm cả miếu, theo chữ Hán cũng gọi là “đền” là nơi thờ Thần – các vị Thần đều do trí tưởng tượng của người dân, nhưng chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số thống kê các đền, miếu ở Việt Nam, là đền thờ các anh hùng và những nhân vật lịch sử dân tộc - đó là những con người thực được nhân dân suy tôn lên thành Thần Thánh Đây chính là bằng chứng thể hiện tấm lòng biết ơn sâu sắc, vô tận của nhân dân qua các thế hệ đối với những người có công với dân, với nước và được nhân dân xem như là vị Thần ngang
Trang 33tầm với Thần Thánh Vị thần đó là niềm tự hào của dân tộc, họ có những đức tính quý báu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đất nước như: Trần Khát Chân, Lê Lai, Trần Hưng Đạo,…Trần Khát Chân đã trở thành vị Thánh của cả nước, việc thờ Trần Khát Chân và lễ hội chính là dịp để nhân dân tưởng niệm vị anh hùng dân tộc
Khi sống Trần Khát Chân không những là một vị tướng bảo vệ đất nước, đem lại bình yên cho nhân dân, mà còn là một tôi trung của Trần triều và một vị quan hết lòng vì dân Khi thác đi Ông đã trở thành vị Thánh trong lòng dân, không những
đối với nhân dân huyện Vĩnh Lộc mà nhiều nơi ở tỉnh Thanh Hóa và những nơi
khác Theo truyền thuyết để lại đến ngày nay, chỉ riêng Thanh Hóa đã có thất thập
nhị từ (72 nơi thời) Ngoài ra, ông còn được thờ ở Đình Hoàng Mai, phường Hoàng
Văn Thụ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, người dân nơi đây xem Ông như một vị Thành Hoàng làng
Khi đi vào khảo sát thực tế bước đầu chúng tôi đã phát hiện được 8 nơi thờ
ông, trong đó ở Vĩnh Lộc có 4 nơi thờ, Thành phố Thanh Hóa có 1 nơi thời, huyện Hoằng Hóa có 1 nơi thờ, huyện Triệu Sơn có 1 nơi thờ và ở Hà Nội có 1 nơi thờ
+ Đình Hoàng Mai: Thời Lê Sơ (thế kỷ XV), Đình Hoàng Mai thuộc xã
Hoàng Mai, huyện Thanh Đàm Thế kỷ XVII, Đình thuộc xã Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín Đầu thế kỷ XIX, xã Hoàng Mai thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam hạ Đầu thế kỷ XX, xã Hoàng Mai thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông Sau cách mạng, Hoàng Mai thuộc huyện Thanh Trì, năm 1989 trở thành phường Hoàng Văn Thụ, quận Hai
Bà Trưng Đình thờ Thượng tướng quân Trần Khát Chân – người có công khai phá
và gắn bó mật thiết với lịch sử phát triển của khu vực này[29,tr1]
Sau khi chiến thắng quân Chiêm Thành, Trần Khát Chân được vua Trần phong Thượng tướng quân, tước vũ tiết quan Nội hầu (đứng đầu hàng quan võ) và lấy đất Hoàng Mai làm thái ấp Khi đó, đất ở đây còn là một vùng đầm lầy, lau sậy chưa khai phá, lại có một dải rừng mơ kéo dài suốt từ sông Kim Ngưu đến Mai
Động Nhận đất phong, Trần Khát Chân bèn chiêu thêm dân khai phá đất hoang xây dựng một thái ấp trù phú; dân số ban đầu chỉ khoảng 1.000 người, sau mấy năm đã lên tới vài nghìn Thái ấp của Trần Khát Chân có qui mô rộng lớn và được phân chia
Trang 34thành những khu vực sản xuất cụ thể: bộ phận trồng lúa do Trần Nhật Tôn chỉ huy;
bộ phận thứ hai chuyên đánh bắt cá do Phạm Tổ Thu phụ trách, nhóm này nằm trên
bờ sông Kim Ngưu (bến Lừ); nhóm thứ ba chuyên nấu rượu phục vụ dân trong ấp và Kinh thành, vì thế nên có câu ca dao :
“ Em là cô gái Kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh Rượu ngon không quản be sành
áo rách khéo vá hơn lành vụng may”
Nhóm thứ tư chuyên chế biến thực phẩm (làm tương), khu vực này ở Yên Duyên và
Sở Trường, do Phạm Ngưu Tất trông coi
Trông coi toàn bộ thái ấp lúc đó là Vũ Toản – người bà con với vợ Trần Khát Chân và là người thân tín của ông Hàng năm, số hoa lợi thu được, trừ số chi dùng cho dân ấp, còn lại đều cất vào kho chung
Sau khi danh tướng Trần Khát Chân và các gia tướng, liên thuộc, thân thích
bị sát hại, thái ấp Hoàng Mai cũng bị triệt phá, suy tàn Đầu thế kỷ XV, khi cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vương triều Lê Sơ đã biểu dương công tích của tướng quân Trần Khát Chân và cho phép các làng trong khu vực thái ấp cũ lập
đền thờ ông và gia tướng liên thuộc Đầu thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII), hòa cùng sự nở rộ của kiến trúc đình làng, nhân dân Hoàng Mai đã góp tiền của dựng lên ngôi đình bề thế thờ danh tướng Trần Khát Chân, làm người bảo hộ cho cuộc sống dân làng Từ đó về sau, các vương triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn thường ban sắc phong phong tặng Trần Khát Chân làm “Thượng đẳng phúc thần” [29, tr4] Cuối năm 1943, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đình bị quân đội viễn chinh Pháp
đốt phá Năm sau, dân làng Hoàng Mai đã đóng góp tiền của để tu bổ ngôi đình
Đến năm 2005, Đình đã được trùng tu và xây dựng lại Hiện nay Đình đã hoàn tất
và rất bề thế
Hiện nay trong Đình vẫn còn những câu đối ca ngợi công lao to lớn của Thượng tướng Trần Khát Chân:
Trang 35“Phù Trần chúa, bình Chiêm binh, triều đại kỷ canh công bất hủ
Phỏng Mai thôn, vọng núi Đốn lĩnh, giang sơn ngưu miền trung quang”
giám cương mục đã từng bàn rằng: Sau Gia Cát Vũ Hầu chỉ có người này mà thôi”
Vị thần thứ ba được thờ là Kim Ngô Long Hổ Thượng Tướng quân Trần Khát Chân Là vị thần có công đánh thắng giặc Chiêm Thành đem lại bình yên cho đất nước và nhân dân, Ngài đã bị Hồ Quý Ly giết tại núi Đốn Sơn
Việc Trần Khát Chân được thờ nơi đây, theo như người dân kể lại là khi Ông
bị Hồ Quý Ly chém đầu tại núi Đốn, máu của Ông đã theo dòng sông Mã chảy xuôi
về và nhân dân đã đưa Ông vào đây thờ phụng vì lòng ngưỡng mộ một vị tướng tài
ba, một vị quan trung thành với Trần triều, luôn hết lòng vì dân Hàng năm đến ngày mất của Ông, dân làng đã tổ chức cúng tế
Ngôi đền (Nghè) trước kia là một quần thể kiến trúc rộng lớn với Hậu Cung, Trung Đường, nhà dải vũ, Tiền Đường và Nghi Môn Nhưng đáng tiếc ngôi đền này đã
bị phá hủy hoàn toàn do chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ những năm 1965 – 1970 (Vì vị trí của đền nằm ngay bên bờ sông Mã, gần với Cầu Hàm Rồng – một ví trí được coi như là túi bom trong những năm kháng chiến chống Mỹ) Hiện nay, với truyền thống uống nước nhớ nguồn, nhân dân làng Vĩnh Gia nói riêng và xã Hoàng Phượng
nó chung, đã kêu gọi và đóng góp để khôi phục lại ngôi đền này Ngày 20 tháng 4 năm
Trang 361994 nhân dân xã Hoàng Phượng đã xây dựng xong một phần của toàn bộ công trình của đền, đó là khu chính tẩm để rước các thần về thờ
+ Đền thờ Trần Khát Chân, ở x∙ Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa còn được gọi là Nghè Giáp Cũng như những nơi khác ở Thanh Hóa, nhân dân xã
Tân Ninh huyện Triệu Sơn đã chọn đức thánh lưỡng – thượng tướng quân Trần Khát Chân là một trong những vị thần của làng mình, là người bảo hộ cho cộng đồng
Nghè Giáp thờ Trần Khát Chân ở Triệu Sơn có niên đại vào đầu thời Nguyễn (Năm Hồng Đức thứ 5) Nghè nằm hướng nam, được bố cục theo kiểu chữ Công (I) bao gồm 3 đơn nguyên kiến trúc nối tiếp liền mạch nhau là Tiền Đường, Trung Đường
và Hậu Cung Tiền Đường là ngôi nhà 1 tầng 4 mái nằm ngang, rộng 5 gian Trung
Đường là một đơn nguyên kiến trúc dọc gồm 3 gian, 4 vì kiểu giá chiêng tiếp nối với kiến trúc nhà Tiền Đường bằng hệ thống xà bắt quyết có chiều rộng bằng chính bước gian giữa nhà Tiền Đường Hậu Cung là một kiến trúc đặc biệt có 2 vì 4 mái, mỗi vì có
4 hàng cột gần vuông, cột cái đến cột quân kiểu kẻ suốt, phía trước dùng rường cụt và vì nách, ngoài ra ở đây còn có hệ thống kẻ góc Câu đầu ở đây khá đặc biệt, không gối lên trụ mà gối trực tiếp đè trên đầu cột qua đấu Hậu cung được đặt 1 kiệu thờ còn lọng che, còn bát bửu, phướn, đây là khu vực linh thiêng, trang trọng nhất của khu di tích
Nhìn chung kiến trúc nghệ thuật nghè Giáp là một công trình tương đối nguyên vẹn và hoàn chỉnh, các đơn nguyên kiến trúc có niên đại cùng nhau cả về kiến trúc và nghệ thuật trang trí, điêu khắc Kiến trúc mang đậm phong cách đầu thời Nguyễn
+ Đền thờ Lê Uy và Thượng tướng quân Trần Khát Chân ở phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa Khởi nguyên đây là đền thờ Đức thánh Lê Uy, một
vị tướng từ thời Lý, có công đánh quân Chiêm Thành và đã bị chết trong trận cuối cùng, khi mất xác Ngài đã trôi về đây và hóa thành nấm mồ; nhân dân đã xây dựng
đền thờ Ngài tại đây Ngài rất thiêng, đặc biệt là với những dân chài trên dòng sông Mã; truyền thuyết kể lại rằng: mọi khi thuyền chài khi đi qua đây đều phải vào thắp hương cho Ngài
Trang 37Việc Tướng quân Trần Khát Chân được thờ tại đây, theo người dân kể lại: Sau khi vụ ám sát Hồ Quý Lý không thành, Trần Khát Chân cùng những tướng liên quan và gia quyến đều bị giết Sau khi chém đầu Trần Khát Chân tại núi Đốn Sơn,
Hồ Quý Ly đã ném xác Ngài xuống sông Mã và xác của Ngài trôi về đây Khi dân chài vớt xác Ngài lên và chuẩn bị mai táng thì nhân dân vùng Vĩnh Lộc biết được
đã xuống và xin dân làng ở đây được đem xác ngài về núi Đốn để an táng, vì đó chính là nơi ngài bị chém Khi xác Trần Khát Chân được đem về núi Đốn, nhân dân Hàm Rồng lên núi Đốn cúng tế và xin được rước Ngài về thờ vọng Ngài cùng với tướng Lê Uy tại đền này
Việc người dân lựa chọn và đưa một vị thần vào thờ tại đền của làng mình nhằm mục đích vị thần đó sẽ phù trợ và đem lại cuộc sống ấm no cho dân làng mình Vị thần đó luôn là niềm tin linh thiêng, một chỗ dựa tinh thần cho cộng
đồng từ bao đời nay Trong tâm thức sâu kín của họ, Thần là biểu tượng quyền lực tinh thần tối cao của một làng, chi phối đời sống vật chất và tinh thần của người dân, được người dân tôn thờ với lòng thành kính và muốn gửi gắm vào Thần những niềm tin và hy vọng của mình là thần sẽ che chở và phù hộ cho cộng
đồng
Vì vậy, việc đưa Trần Khát Chân vào thờ cùng với Lê Uy, một vị thần đã
được người dân vùng này thờ từ trước đó, bởi họ hy vọng rằng với việc thờ thêm một vị thần nữa tại đền của làng mình thì sự phù trợ và bảo hộ cho dân làng từ các
vị thần sẽ cao hơn; nhất là với sự linh thiêng của Ngài
Đền thờ Lê Uy và Trần Khát Chân có niên đại vào thời Nguyễn, với kết cấu kiến trúc gồm: Tiền Đường, Trung Đường và Hậu Cung Tiền Đường là nơi tế lễ và
đặt kiệu rước dùng trong hội rước hàng năm, là tòa nhà vuông lớn với kết cấu 2 tầng, 8 mái, các cột của tiền đường cao khoảng 5m Hậu cung có hai ngai thờ và bài
vị Đó là bài vị của Lê Uy và Trần Khát Chân Tượng Lê Uy được đặt ở trong cùng
và ở vào vị trí trung tâm, phía ngoài là bài vị và tượng Trần Khát Chân
Hàng năm, đến ngày kỵ của Trần Khát Chân, nhân dân trong làng đều đến
đây cúng tế và về đền Đốn (ở Vĩnh Thành, Vĩnh Lộc) để tế Thần và tham dự lễ hội
Trang 38+ Các di tích thờ Trần Khát Chân ở huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
Hiện nay, Trần Khát Chân còn được nhân dân các xã huyện Vĩnh Lộc lập đền thờ, xem ông như là một vị thần bảo hộ cho nhân dân làng xã mình Ông là vị tướng
đóng góp nhiều công lao giúp nhân dân vùng Vĩnh Lộc trong thời gian Hồ Quý Ly cho xây dựng thành Tây Giai năm 1397 Về tấm lòng đức độ và tình thương yêu nhân dân của Ông đối với nhân dân vùng này được câu đối ở đền thờ chính – nơi
Chỉ riêng ở Vĩnh Lộc hiện đã có tới 4 nơi thờ Trần Khát Chân Đền thờ ở
núi Đốn Sơn, xã Vĩnh Thành Đây chính là nơi Ngài mất và nhân dân đã chôn cất và
lập đền thờ Ngài ngay tại chân núi Đốn
Theo tư liệu khảo sát tại thôn Cao Mật, xã Vĩnh Thành, thì thi thể của Trần Khát Chân đã được người dân đương thời (1399) do kính trọng và yêu mến Ông, đã chôn cất Ông ngay sau Hậu Cung của Đền thờ hiện nay Ban đầu, nơi thờ Ngài chỉ
là một ngôi miếu nhỏ (ngôi miếu được nhân dân dựng lên sau khi Ngài mất), nhưng sau đó đền Trần Khát Chân được khởi dựng có quy mô lớn hơn vào thời Lê thế kỷ XVI – XVII; ngôi đền đã được tu sửa nhiều lần Hiện nay công trình đã được tu sửa tương đối hoàn chỉnh gồm: Nghinh Môn, sân đền, ngôi Tiền Đường, ngôi Trung
Đường và Chính Tẩm Chính Tẩm rộng 8 – 9m, dưới nền chôn thi hài Trần Khát Chân cùng võ quan Phạm Ngưu Tất và văn quan Phạm Hổ Thu, là những người rất mực trung thành với lý tưởng của Trần Khát Chân Bên trên ngôi mộ ấy là một bệ thờ lớn Trên bàn thờ chính giữa đặt long ngai, bên trong có thánh thể, trên ngai khoác tấm áo gấm vàng, có bố tử màu đỏ, mũ và đai chầu cùng đôi hia nền đen viền
Trang 39vàng Trước ngai đặt bát hương, một bên đặt giá gác hai thanh kiếm, một bên đặt biển gỗ sơn son thiếp vàng, giữa biển có ba chữ “Thượng đẳng thần”[28, tr8]
Trung Đường gồm ba gian, được tạo bởi 4 bộ vì với tường hồi bít đốc; kết cấu cột gồm hai cột cái và hai cột quân Cột hiên bằng đá vuông phía trước, phía sau bẩy gác lên tường Đặc biệt, đầu bẩy trước chạm rồng chầu lượn ẩn hiện quanh theo
kẻ bẩy, trên có bức đại tự chữ vàng “Thiên Cổ như sơn”, nghĩa là nghìn năm nhớ về núi Đốn Sơn Trung Đường thờ nhị vị, tức là Phạm Ngưu Tất và Phạm Hổ Thu, trên hai bàn thờ đặt hai ngai sơn son thiếp vàng, bên trong có bài vị Trước ngai đặt bát hương, mũ, đai, hia đều đen diềm vàng, mỗi bên đều có giá gác kiếm Giữa Trung
Đường và tiền Đường là một khoảng sân rộng 4,8m, dài theo chiều dài nhà Trung
Đường Hai đầu sân là hai nhà tả hữu hướng đối diện nhau dài 4m, rộng 2,5m, kết cấu đơn giản
Tiền Đường, là ngôi nhà 5 gian dài 12m, rộng 8m với hai hồi xây tường bít
đốc Ngày xưa là ngôi nhà 3 gian kết cấu hai hồi là hai mái theo kiểu 4 mái, được dựng ván hai hồi, sau này do điều kiện khí hậu và sự xuống cấp của di tích nên xây bít đốc hai hồi và cuốn cót hai gian đầu cuối phía trước, trang trí hình chữ Thọ Tiền
Đường là nơi thực hành tế lễ của dân chúng, nơi đây đặt bát hương lớn thờ hội
đồng, hai gian bên đặt bát hương thờ “Bách linh quan” Trước các bàn thờ là đôi ngựa thờ, hạc thờ, các giá bát biểu, lộ bộ, giá treo trống, chuông đồng và đặt kiệu long đình rước, kiệu bát cống
Có rất nhiều sắc phong phong cho Trần Khát Chân, nhưng do thời gian có nhiều biến đổi, hiện nay tại đền chỉ còn lưu giữ được sắc phong của các triều Hồng
Đức, Khải Định, Thành Thái phong cho Trần Khát Chân là Thượng đẳng thần và là
Đức Thánh lưỡng
Ngày nay, mỗi khi đến đây chúng ta đều được nghe rất nhiều truyền thuyết
về Ông với lòng thành kính, ngưỡng mộ và có đôi chút sợ sệt của người dân nơi
đây Truyền thuyết dân gian có kể lại rằng, trước khi bị hành hình ở Đốn Sơn, Ông
đã gào to ba tiếng, trời đất đang nắng bỗng nhiên tối sầm lại, u ám, rồi đổ mưa Và sau khi chết ba ngày sắc mặt Ngài vẫn còn tươi nguyên không hề thay đổi, ruồi nhặng không đám đến gần Hay cũng có một truyền thuyết khác nói về cái chết của
Trang 40Ông: Người ta kể rằng “khi Trần Khát Chân bị chém, Ngài có ôm đầu mình rồi cùng chú ngựa chiến của mình phi lên đỉnh Đốn Sơn, khi đến chân núi thì Ngài có
gặp một bà cụ bán dầu, Ngài hỏi: Có bao giờ cụ thấy người bị chém đầu mà còn
sống hay không? Bà cụ trả lời: Lão sống đến bằng này tuổi rồi nhưng chưa bao giờ thấy người bị chém đầu mà còn sống cả Câu nói bà cụ vừa dứt thì Trần Khát Chân
ngã xuống, lúc đó trời đất bỗng mịt mù, mây đen kéo ùn ùn đến; chú ngựa chiến của Ngài chạy xuống sông Mã và trẫm mình ở đó Đầu ngựa ở giữa sông, thân ngựa hóa thành doi đất hướng về núi Đốn như dáng đang quỳ lạy chủ nhân của mình, và nhân dân đã gọi đó là gò Ngựa”
* Đền thờ Tam Tổng ở Vĩnh Tiến: Đền thờ ở đây được xây dựng do lòng
ngưỡng mộ và thành kính của nhân dân đối với Ngài, đồng thời lúc đương thời - khi ngài còn sống, Ngài đã có công giúp đỡ nhân dân nơi đây tránh khỏi họa phải đi làm phu dịch làm đường đá vào thành tây Giai
Như đã nói ở phần Lịch sử nhân vật được thờ, Trần Khát Chân có phép biến giấy thành đá, nên khi Hồ Quý Ly bắt dân làng Tam Tổng đi phu xây dựng thành Tây Giai, ông đã dùng phép thuật của mình để giúp dân không phải đi làm phu dịch Vì vậy, khi Ông mất, dân vùng này đã lập đền thờ Ông và gọi là đền Tam Tổng (nay thuộc xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc), tức là cả ba tổng cùng góp phần hưng công và thờ phụng Ngài
Đền thờ ngày trước đã bị thời gian phá hủy Ngôi đền ngày nay mới được xây dựng lại với kiến trúc đơn sơ bao gồm: nghi môn, sân đền, tiền đường, hai dãy nhà dải vũ, Trung Đường và Hậu Cung Ngai vị của Ngài được đặt trong Hậu Cung – nằm ở vị trí trung tâm, bên cạnh đó còn có bài vị thờ Trần Hưng Đạo và Quản gia; Trung Đường là nơi để bài vị của quan văn và quan võ, Tiền Đường có bài vị thờ Trần Thủ Độ Tất cả các đơn nguyên kiến trúc này đều mới làm trong thời gian gần
đây
Hàng năm, nhân dân vẫn tổ chức lễ kỵ của Ngài vào 24/4 âm lịch cùng với người dân xã Vĩnh Thành, nơi đền chính có mộ của Ngài Lễ hội hàng năm được tổ chức tại Đền, nhưng cứ năm năm một lần thì trên đền Đốn Sơn có tổ chức rước kiệu