1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị lịch sử văn hóa của sưu tập hiện vật thời hùng vương an dương vương ở bảo tàng hà nội

112 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 567,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành tựu nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian qua của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã chứng minh có một thời đại như vậy, không chỉ tồn tại trong truyền thuyết, thư tịch cổ

Trang 1

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ Văn hoá, thể thao vμ du lịch

Trường đại học văn hoá H À NỘI

luận văn thạc sĩ Văn hoá học

Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts tRịNH sINH

HÀ N ỘI – 2009

Trang 2

LAPTS, LATS : LuËn ¸n Phã tiÕn sÜ, LuËn ¸n tiÕn sÜ

NPH 86 : Nh÷ng ph¸t hiÖn míi vÒ kh¶o cæ häc n¨m 1986

Trang 3

Môc lôc

Trang 4

Chương 1 :Cảnh quan môi trường, lịch sử phát hiện và nghiên cứu sưu tập

hiện vật thời đại Hùng Vương – An Dương Vương tại bảo tàng Hà Nội

8

1.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu thời đại Hùng Vương- An Dương

Vương ở Việt Nam và nước ngoài

1.3.2 Những bài viết và tiểu luận tiêu biểu về thời đại Hùng Vương- An

2.1.2 Vài nét về giá trị lịch sử của sưu tập hiện vật lưu giữ tại Bảo tàng Hà

Nội nói riêng và các sưu tập thời đại Hùng Vương- An Dương Vương ở Hà

Nội nói chung

vật thời Hùng Vương - An Dương Vương lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội

90

3.1 Thực trạng về công tác bảo quản sưu tập hiện vật thời đại Hùng

Vương- An Dương Vương tại Bảo tàng Hà Nội

90

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác bảo quản và phát

huy giá trị của sưu tập

93

3.3 Phát huy giá trị lịch sử văn hoá của sưu tập hiện vật thời đại Hùng

Vương – An Dương Vương ở Bảo tàng Hà Nội

96

3.4 Một vài kiến nghị về giải pháp xây dựng Bảo tàng ngoài trời để phát

huy giá trị giáo dục truyền thống của nhóm di tích và hiện vật một cách

sinh động hơn

98

Trang 5

Mở đầu

1.Tính cấp thiết của đề tài:

Thời đại Hùng Vương-An Dương Vương là một trong những thời đại hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thành tựu nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian qua của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã chứng minh có một thời đại như vậy, không chỉ tồn tại trong truyền thuyết, thư tịch cổ mà còn hiện hữu ở những di vật khảo cổ tìm được hiện đang lưu giữ trong Bảo tàng

Bảo tàng Hà Nội hiện lưu giữ hàng ngàn hiện vật thuộc thời đại Hùng Vương và An Dương Vương Những hiện vật này bao gồm nhiều chất liệu:

đồng thau, sắt, đá, gốm, sừng… Hiện vật đồng khá phong phú, trong đó đáng chú ý là những chiếc trống đồng Đông Sơn, có chiếc đào được ngay trong lòng đất và nổi tiếng như trống đồng Cổ Loa Bên cạnh đó còn có các hiện vật đồng như rìu, giáo, lao, mũi tên, lưỡi cầy, lưỡi liềm, mảnh giáp che ngực Đồ sắt có một số vũ khí, công cụ Đồ đá có các loại vòng trang sức, một số rìu đá, bôn đá Đồ gốm có tượng tròn, đồ đựng, đồ đun nấu còn nguyên hoặc đã vỡ thành nhiều mảnh vụn Ngoài ra, ở Bảo tàng Hà Nội còn lưu giữ nhiều hiện vật với chất liệu khác Việc nghiên cứu, phân loại, khám phá giá trị lịch sử văn hoá của hiện vật thuộc thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở Bảo tàng Hà Nội là hết sức cấp thiết, góp phần thiết thực phục vụ cho công tác trưng bày giáo dục, phục vụ cho việc quản lý văn hoá vật thể, phục vụ cho việc phát huy truyền thống quý báu của Hà Nội

Lòng đất Hà Nội là một trong những nơi có vinh dự chứa đựng nhiều hiện vật của thời đại Hùng Vương-An Dương Vương, đã góp phần dựng nên bức tranh toàn cảnh về cuộc sống vật chất và tinh thần của người Hà Nội nói

Trang 6

riêng và tổ tiên người Việt nói chung trong giai đoạn lịch sử này Hiện vật thời đại này được khai quật nhiều ở các địa điểm khảo cổ học Một số được sưu tầm ngẫu nhiên Các hiện vật đó hiện tại được lưu giữ trong các Bảo tàng

ở Trung ương và Hà Nội Một số ít lưu giữ tại các sưu tập đồ cổ của một số cá nhân ở Hà Nội và một số địa phương khác Trong đó, số lượng hiện vật

đông đảo nhất phải kể đến là lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội

Việc nghiên cứu, đánh giá giá trị của sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương còn góp phần vào nghiên cứu khoa học khảo cổ nói chung Đây là đề tài được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm Hy vọng, qua nghiên cứu sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở Hà Nội sẽ có đóng góp mới cho khoa học trên khía cạnh: công bố, hệ thống hoá tư liệu, một số kiến giải khoa học

Cùng với các làng cổ có mặt ở Hà Nội vào thời Hùng Vương-An Dương Vương, những hiện vật khảo cổ này đào được ở Hà Nội đã góp phần dựng lại diện mạo lịch sử của Thủ đô cách đây hơn hai ngàn năm

Đề tài còn đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở Hà Nội, phục vụ cho việc giữ gìn lâu dài một trong những kho tàng văn hoá vật thể đậm đà bản sắc dân tộc

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: "Giá trị lịch sử Văn hoá của Sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương-An Dương Vương tại Bảo tàng Hà Nội" để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn hoá học

2 Tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu các hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương được khởi đầu từ cách đây hơn một thế kỷ với các công trình của các tác giả nước ngoài chuyên nghiên cứu về trống đồng và các hiện vật đồng thau, có những chiếc đã được nghiên cứu từ rất sớm như trống đồng Ngọc

Trang 7

Hà, Giao Tất trong một số tác phẩm của các tác giả nước ngoài thể hiện trong nhiều chuyên luận bàn về trống đồng của V Gô lu bép, H Pac măng chi ê

và các nhà khảo cổ học Trung Quốc

ở Việt Nam, các công trình điển hình nghiên cứu về trống đồng có thể

kể đến sách "Những trống Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam" (1975), Nguyễn Văn Huyên và Hoàng Vinh, " Trống Đông Sơn" (1987), Phạm Minh

Huyền, Nguyễn Văn Huyên và Trịnh Sinh Một số sách viết về thời đại đồng thau Việt Nam cũng có đề cập đến hiện vật thời đại Hùng Vương và An

Dương Vương như: “Những vết tích thời đại đồng thau ở Việt Nam” (1963)

của các tác giả Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh và Nguyễn Linh

Nghiên cứu về hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở

Hà Nội có một số công trình được công bố như: "Hà Nội thời đại đồng và sắt sớm" (1982), Trịnh Cao Tưởng và Trịnh Sinh" và một số bài tạp chí Khảo cổ

học, tạp chí Di sản văn hoá, tạp chí Văn hoá Nghệ thuật:

- Suy nghĩ về nông cụ thu hoạch thời Hùng Vương Ngô Thế Phong, Nguyễn Việt trong sách Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1978

- Thêm những dấu tích thóc gạo thời Hùng Vương của Nguyễn Việt, Nguyễn Xuân Hiền trong sách Những phát hiện về Khảo cổ học năm 1981

- Về những công cụ gặt lúa thời đại dựng nước đầu tiên của Tiểu ban nghiên cứu nông nghiệp thời Hùng Vương Viện Khảo cổ học trong sách Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1979

Tuy vậy, chưa có một công trình tổng hợp nào chuyên nghiên cứu, phân loại và đánh giá các hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương

được lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội một cách sâu sắc Bên cạnh đó, số lượng hiện vật thuộc thời đại này ngày càng nhiều thêm được lưu giữ ở Bảo tàng, cần có sự nghiên cứu mới, toàn diện hơn

Trang 8

Tuy vậy, những công trình nghiên cứu vừa kể trên và nhiều công trình nghiên cứu trước đây, sẽ là những tài liệu rất tốt giúp cho tác giả kế thừa, tiếp thu và hoàn thành đề tài luận văn của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Tập hợp, hệ thống hoá toàn bộ các tư liệu liên quan và các kết quả nghiên cứu về các hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương được lưu giữ ở Bảo tàng Hà Nội Xây dựng hồ sơ khoa học về bộ sưu tập hiện vật này nhằm cung cấp thông tin khoa học, chính xác, đầy đủ cho việc nghiên cứu sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương nằm trong Bảo tàng Hà Nội

Trên cơ sở tư liệu, thống kê, phân loại, khảo tả các hiện vật nói trên, tác giả bước đầu có nhận xét và từ đó rút ra những giá trị về đặc trưng của sưu tập hiện vật này

Đi sâu nghiên cứu các đặc trưng của sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương

và An Dương Vương lưu giữ ở Bảo tàng Hà Nội, tác giả hy vọng từ đó rút ra được các giá trị văn hoá nghệ thuật, lịch sử của chúng Bên cạnh đó, so sánh với các sưu tập hiện vật khác cùng thời đại, tìm được ở Hà Nội nhưng hiện không lưu giữ

ở Bảo tàng Hà Nội, so sánh với các sưu tập hiện vật ở các tỉnh quanh Hà Nội

Từ sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương lưu giữ trong Bảo tàng Hà Nội, tác giả có nhận xét về bối cảnh lịch sử Hà Nội mà những hiện vật này ra đời

Đề ra giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương tại Bảo tàng Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối t ượng nghiên cứu:

Trang 9

Đối tượng chính của luận văn là sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương

và An Dương Vương đang lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội

Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo thêm một số sưu tập hiện vật cùng thời nhưng lưu giữ tại các bảo tàng khác, cụ thể như: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Phú Thọ… để có nguồn tư liệu sử dụng trong công việc so sánh, đối chiếu

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian thời đại Hùng Vương và An Dương Vương, theo các nhà khoa học xác định là vào khoảng thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên đến thế kỷ 1 và 2 sau Công Nguyên Chúng tôi cũng mở rộng phạm vi thời gian của đề tài gồm cả những di tích thời kỳ Tiền Hùng Vương nữa để thấy rõ cội nguồn của thời Hùng Vương là bản địa Cũng như nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu thời này, để tiện cho việc nghiên cứu thường gọi chung là thời Hùng Vương-An Dương Vương một cách phổ quát,

dễ hiểu hơn

- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: Những hiện vật thuộc thời đại Hùng Vương và An Dương Vương được lưu giữ trong Bảo tàng Hà Nội Những hiện vật này được sưu tầm, thu thập được bằng nhiều hình thức khác nhau: như đào được ngẫu nhiên, lưu giữ trong các sưu tập đồ cổ cá nhân, công an thành phố Hà Nội bàn giao trong những cuộc mua bán đồ cổ trái phép trước đây

Cũng cần lưu ý là khi tác giả nhận đề tài để làm luận văn thì địa giới

Hà Nội chưa được mở rộng như hiện nay (bao gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, một phần tỉnh Hoà Bình, Vĩnh Phúc) Vì thế, phạm vi nghiên cứu của đề tài trong luận án của chúng tôi được trình bày vẫn là địa giới Hà Nội cũ, khi chưa sát nhập

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin để nghiên cứu quá trình hình thành các loại hình hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở Bảo tàng Hà Nội Phương pháp luận sử học nghiên cứu về thời đại Hùng Vương và An Dương Vương và mối liên hệ giữa những hiện vật này trong bối cảnh lịch sử nói chung

Phương pháp sử liệu học để nghiên cứu, khảo sát các hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội Phương pháp nghiên cứu văn hoá học, khảo cổ học, bảo tàng học, mỹ thuật học, đi sâu nghiên cứu các đặc trưng và giá trị lịch sử, văn hoá nghệ thuật của các sưu tập

Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả, chụp ảnh, thác bản, đồ hoạ Phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp tư liệu

6 Kết quả và những đóng góp của Luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên tập hợp, phân loại và khảo tả bộ sưu

tập, đánh giá thực trạng các hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương

Vương đang lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội

- Bước đầu xác định những giá trị lịch sử, văn hoá của bộ sưu tập các hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương; Góp phần xác định phong cách nghệ thuật và văn hoá của các hiện vật nói trên Đồng thời cung cấp cho các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá những cơ sở khoa học cho việc

đánh giá các thành tựu nghiên cứu thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo quản và phát huy giá trị của sưu tập

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cảnh quan môi trường, Lịch sử phát hiện, nghiên cứu sưu tập các

hiện vật thời đại Hùng Vương và An Dương Vương ở Bảo tàng Hà Nội

Chương 2: Giá trị lịch sử văn hoá của bộ sưu tập các hiện vật thời đại Hùng

Vương và An Dương Vương ở Bảo tàng Hà Nội

Chương 3: Bảo quản và phát huy giá trị lịch sử văn hoá của bộ sưu tập hiện vật

thời đại Hùng Vương và An Dương Vương lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội

Trang 12

là vào kỷ Cambri cách đây khoảng 450 triệu năm và phát triển liên tục đến ngày nay

Sự hình thành mảnh đất Hà Nội đương nhiên cũng gắn liền với sự hình thành đồng bằng Bắc Bộ Vấn đề này cũng chưa tìm được sự nhất trí trong các nhà địa chất Nhưng cũng đã có một quan điểm tương đối quen thuộc đối với chúng ta thì đây là đồng bằng a- lu- vi của sông Hồng và là một tam giác châu

mà đỉnh của nó là Hưng Yên Đồng bằng này đã trải qua một thời kỳ nâng lên bóc mòn để lại các mảnh ven rìa và sau đó nó bị lún chìm để tạo nên đồng bằng a- lu- vi mới ở trung tâm Bắc Bộ hiện nay

Gần đây trong khuôn khổ nghiên cứu khảo cổ học thời đại các Vua Hùng, một số nhà địa chất đã cố gắng trong việc sử dụng đồng bộ tài liệu khảo cổ học và địa chất học, đưa ra những quan điểm mới về sự hình thành Bắc Bộ nói chung và khu vực Hà Nội nói riêng

Có nhà địa chất đã cho rằng: từ xa lắm rồi, cách ngày nay khoảng 520-

1200 triệu năm, thời kỳ mà địa chất gọi là đại Nguyên Sinh (Pro- tê- rô- zôi)

Trang 13

toàn bộ vùng Hà Nội bị biển xanh bao phủ Biển tồn tại rất lâu trong suốt Đại Nguyên Sinh sang đến tận kỷ ốc- Đô- vic của Đại Cổ Sinh (Pa- lê- ô- zôi) cách đây chừng 360- 440 triệu năm mới chấm dứt Trong khoảng hơn 150 triệu năm tồn tại của biển, các vật liệu đất đá… đã bị bào xói từ các miền lục

địa cao hơn, được các dòng sông, con suối và mương rãnh mang ra biển cả và lắng đọng trong đáy biển tạo nên những lớp trầm tích khá dầy

Thời kỳ này cũng là thời kỳ có sự biến động mạnh của vỏ trái đất, tương ứng với chu kỳ kiến tạo Ca- lê- đô- ni của địa chất học Vào lúc đó trái đất của chúng ta thường xuyên xảy ra các trận động đất có cường độ cao Đất đá bị uốn nếp, oằn võng dữ dội nên có nơi bị sụt xuống thành những hố đất sâu thẳm, nơi thì lại mọc lên những ngọn núi chọc trời Đất đá bị chuyển dịch, nứt

vỡ Từ trong kẽ nứt đó, các dòng nham thạch nóng hàng triệu độ ở trong lòng trái đất của chúng ta phun trào lên mặt đất Dấu vết của hiện tượng này thể hiện ở mức độ mà theo danh từ địa chất gọi là biến chất và biến vị của các tầng và các giai đoạn địa tầng, các trái khớp góc và đá phun trào ở một số khu vực ven rìa Hà Nội hiện tại Và có lẽ ở chính thời kỳ này một nét đứt gẫy rất lớn đã tạo nên con sông Hồng đỏ nước phù sa ngày nay Các nhà địa lý đặt tên cho nét đứt gãy này là đứt gãy sông Hồng- vết đứt gẫy này theo hướng dòng chảy bây giờ của con sông từ Tây Bắc xuống Đông Nam, ở hai bên bờ của nó

có hai chế độ kiến tạo riêng biệt

Trở lại câu chuyện của các trầm tích Người ta thấy các lớp trầm tích lắng đọng hàng triệu năm xưa có những biến đổi khác biệt hẳn so với các trầm tích trẻ của vùng trũng Hà Nội Ngày nay người ta có thể bắt gặp chúng ở độ sâu 4000- 5000m ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Chúng còn lộ ra ở ven vùng trũng trên hải đảo Quảng Ninh, Quảng La- Móng Cái, tạo nên ranh giới tự nhiên phân chia vùng trũng với các vùng khác của miền Bắc Việt Nam mà ở

đó ta gặp các trầm tích đá Gơ- nai, Am- phi- bô- lit, Quắc- zit, Thạch anh Phủ

Trang 14

trên đó là những đá biến chất mạnh mẽ của Đại Cổ Sinh Hạ, đá diệp cát kết, cuội kết…Còn ranh giới phía Đông Bắc từ Quảng La tới Móng Cái cũng là trầm tích của Đại Cổ Sinh hạ, ranh giới phía Tây Bắc và Tây Nam biểu hiện bằng những dẫy đồi Vĩnh Phú, Tam Đảo, Hà Nam, cấu tạo bởi chất liệu cổ hơn thuộc cơ sở uốn nếp Ca- lê- đô- ni sớm

Sau chu kỳ uốn nếp, hoạt động mắc ma vào cuối thời kỳ ốc- đô- vic, một hệ thống uốn nếp phức tạp diễn ra trên một phạm vi rộng lớn Mặt đất có nơi vồng cao, có nơi võng xuống hướng gần vĩ tuyến, có nơi uốn thành hình vòng cung Lúc này vùng trũng Hà Nội được nâng lên cùng với các vùng khác tạo thành lục địa rộng lớn Chế độ lục địa của vùng trũng Hà Nội tồn tại suốt cả thời Đại Cồ Sinh, kéo dài tới Đại Trung Sinh và chấm dứt vào kỷ Tri- át cách ta khoảng 155- 185 triệu năm

Biển xanh từ giã lục địa nhưng còn lưu lại những vùng hẹp, có độ nông sâu riêng biệt như vùng trũng Hải Phòng với các trầm tích cát kết, Quắc zít, đá vôi, Bột kết, Cát kết, Thạch anh Tầng Kiến An có tuổi Si- lua muộn (cách ngày nay khoảng 320- 360 triệu năm) có các đá Cát kết, Diệp thạch, Bột kết xen kẽ nhau, đá vôi của tầng Tràng Kênh tuổi Đê- vôn trung (cách đây 265-

320 triệu năm) các trầm tích Đô- lô- mit, đá vôi có tuổi Các bon sớm (cách

đây 260- 265 triệu năm)… vào thời gian này, vùng Hà Nội chịu chế độ bóc mòn, cung cấp vật liệu cho các vùng trũng trên, bởi vậy địa hình trở nên dần dần bằng phẳng Trong thời kỳ này có những pha kiến tạo vào Đê- vôn sớm và

Đê- vôn muộn, những đứt gãy Kiến An, Thụy Anh, Vĩnh Ninh có thể phát sinh

Vào đầu kỷ Tri- át, Hà Nội bước vào một giai đoạn phát triển mới, ở

đầu kỷ này Hà Nội chưa bị lún nhiều, nó bám chắc vào khối lục địa Đông Bắc Việt Nam rộng lớn Đầu kỷ Tri- át trung thì ở phía Bắc, biển tràn từ Lạng Sơn

đổ vào lũng An Châu, còn ở phía Nam nó đã bò đến Nho Quan Thế nhưng

Trang 15

biển vẫn chưa vươn vào phủ lên mặt đất vùng Hà Nội Đến thế La- đi- ni của Tri- át trung Hà Nội bắt đầu bị nún chìm và biển xanh một lần nữa lại xâm nhập vào vùng trũng, nhưng lần này “ biển Hà Nội” không sâu lắm Chế độ biển tồn tại đến hết Tri- át muộn trong khoảng gần 30 triệu năm Dấu vết tồn tại của biển được các nhà địa chất chứng minh bằng sự có mặt của các trầm tích đá vôi, Cát kết dầy từ 500 đến 700m Tầng Đồng Giao tuổi Tri- át trung phân bổ ở Tây Nam thị trấn Lương Sơn, các trầm tích Cát kết hạt nhỏ, bột kết dầy 200- 600m, ở tầng sông Bôi tuổi Tri- át muộn phân bố ở Hòa Bình, chùa Thầy, chùa Trầm Các trầm tích Cát kết, Bột kết dầy 1.000- 1.100m của tầng Mẫu Sơn tuổi Tri- át muộn bậc La- đi- ni ở Đa Phúc

Sau kỷ Tri- át, toàn vùng được nâng lên thành lục địa phải chịu chế độ xâm thực và bào mòn Thời kỳ này kéo dài đến hết Đại Trung Sinh cho tới Đại Trung Sinh vào khoảng đầu Nê- ô- gen Tới đầu Nê- ô- gen, khoảng thời kỳ Mi- ô- xen cách đây khoảng 25 triệu năm, vùng đất Hà Nội bỗng nhiên lại võng xuống, đầu tiên ở giữa, sau đó kéo theo hai cánh hình thành mặt trũng chồng gối có dạng tam giác châu ngày nay, bị lấp đầy bởi đất đá lục nguyên dầy tới 2000m, giai đoạn này tồn tại ở đầu kỷ thứ tư Trầm tích Nê- ô- gen mặc dù không lộ ra ở vùng trũng này, nhưng ngay từ năm 1952, Xô- ranh phát hiện thấy Nê- ô- gen ở Bạch Long Vỹ và đã cho rằng đây là đoạn cuối của dải Nê- ô- gen Yên Bái, Việt Trì có chạy qua Hà Nội, ngày nay thì điều dự đoán của Xô- ranh đã được xác minh bằng các tài liệu Người ta đã tìm ra các dải sét vôi màu xám hơi phơn phớt xanh, có ba bốn lớp cuội Cát kết hạt mịn xen vào của tầng địa chất này

Vào đầu kỷ thứ tư, toàn vùng đất chịu chuyển động nâng lên rồi bị bóc mòn trôi xuống vùng trũng phủ lên bề mặt của vùng này những lớp đất của địa hình ngày nay [28, tr.10-15]

Trang 16

Như vậy, Hà Nội của chúng ta có diện mạo tương đối giống như ngày nay vào khoảng đầu Nê- ô- gen và là trũng trồng gối lên bên trên lớp móng cứng của Đại Nguyên Sinh, Đại Cổ Sinh hạ, Đại Cổ Sinh trung và Đại Trung Sinh hạ, nói một cách thông tục thì mảnh đất này đã có khoảng 25 triệu tuổi

đời

Như chúng ta đã biết sự xuất hiện của con người trên trái đất phụ thuộc vào một yếu tố vô cùng quan trọng là hoàn cảnh địa lý Dựa vào những tài liệu chân xác của nhiều ngành khoa học, người ta cho rằng loài người xuất hiện vào kỷ thứ tư (bắt đầu cách đây khoảng vài triệu năm)

Các nhà địa chất cũng cho rằng: Vào đầu Plêi- stô- sen, toàn bộ vùng

Hà Nội được nâng lên thành một vùng rộng lớn Lục địa này chịu các quá trình bóc mòn và xâm thực, nhưng đồng thời cũng chịu sự bồi đắp do tác dụng trầm tích của sông suối hồi đó để tạo nên một đồng bằng Dấu vết của đồng bằng này là tầng cát lẫn sỏi phức tạp dầy tới 150m nằm sâu dưới bề mặt đồng bằng hiện nay Nhưng trong thành phần cấu tạo của nó thì cát là chủ yếu còn cuội thì được mài mòn tròn cạnh, độ chọn lọc rất phức tạp, ở một số nơi còn

có sự chọn lọc đều đặn Đó là đặc trưng của những trầm tích lục địa ven bờ Không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả những lỗ khoan ở Hà Nội có thể bắt gặp

được chúng Ví dụ như lỗ khoan ở nhà máy cơ khí Hà Nội sâu hơn 56m gặp tầng này ở độ sâu 54m, còn ở Đông Anh sâu 38m đã thấy, đáy của tầng này hiện nay ở độ sâu 150- 260m dưới mực nước biển

Theo qui luật xâm thực và tích tụ, bề mặt này không thể nằm sâu hơn mặt nước biển mà phải nằm xấp xỉ mặt nước biển thời đó

Vì vậy nếu kéo dài bề mặt này về phía Đông xem chúng cắt đáy biển hiện đại

ở đâu thì đấy là vị trí bờ biển thời xưa Ta đã biết đáy vịnh Bắc Bộ hiện nay sâu 70- 90m, Như thế rõ ràng bề mặt tích tụ tầng cát, cuội, sỏi xưa phải luồn qua vịnh Bắc Bộ tới đảo Hải Nam, Hà Nội lúc đó không phải là cách biển

Trang 17

100km mà là cách biển những 300- 400km và hệ thống sông của Đồng Bằng không phải chỉ có độ dài như bây giờ mà khéo dài ra rất nhiều lần Cũng nhờ các dấu vết địa chất thể hiện trên bề mặt mà ta có thể biết được đồng bằng lúc

ấy chia làm hai khu vực:

Một là đồng bằng hẹp trước núi, có nhiều đồi sót chạy từ Móng Cái qua vịnh Hải Ninh, qua Bắc Giang và rìa nam đồng bằng Bắc Bộ, chạy vượt vào trung bộ và tràn ra vùng biển có đảo bây giờ Dải đồng bằng này do quá trình xâm thực tại nên nhiều đồi Nhưng giữa chúng để lại những trầm tích dầy phủ trực tiếp lên đá gốc tạo thành đồng bằng bồi tích

Hai là khu đồng bằng bằng phẳng bao gồm khu trung tâm đồng bằng Bắc Bộ và cả Vịnh Bắc Bộ ngày nay, các trầm tích lục địa đầu kỷ thứ tư đã phủ lên nền Nê- ô- gen Như vậy đồng bằng Bắc Bộ có hai chế độ địa chất tạo thành Lúc đầu khi biển vừa rút thì đây là đồng bằng biển Sau đó là đồng bằng bồi tích do tác dụng bồi đắp của sông suối đương thời Trên mặt đồng bằng này phủ đầy cây cối rậm rạp, có nhiều cây ăn quả Trong rừng có quần

động thực vật nhiệt đới phong phú như voi, tê giác, lợn lòi, hươu nai, khỉ nhím, bò rừng…

Thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều, những con người đầu tiên thời đại đồ

đá cũ đã có mặt trong điều kiện thiên nhiên thuận lợi, giầu thừa của cải tự nhiên của đồng bằng này

Giữa lúc cuộc sống của bầy người nguyên thủy đang yên lành thì biển lại trở lại, chúng lại tấn công vào đồng bằng, nhấn chìm mọi chứng tích của người xưa Chỉ còn lại những di chứng ít ỏi, dấu vết của người xưa cư trú trên các đồi đá gốc ở đồng bằng (như núi Đọ, Thanh Hóa và các Hải đảo)

Các nhà địa chất cũng mong ước rằng: khoa khảo cổ học dưới nước sẽ cung cấp những tài liệu về dấu vết người xưa dưới đáy biển để minh chứng cho những luận điểm khoa học này

Trang 18

Những nhà địa chất còn cho rằng: Biển bắt đầu tiến vào đồng bằng rộng lớn này vào khoảng cuối Plêi- stô- sen giữa cách đây khoảng vài chục vạn năm Dấu vết của thời kỳ này là những tầng sét cao lanh dầy và phân bổ đều khắp vùng đồng bằng ở ven rìa đồng bằng, sét cao lanh mầu trắng loang lổ khắp nơi, sét cao lanh là một vật liệu quí của công nghiệp xây dựng và gốm

sứ, tuy vậy còn có rất nhiều những ý kiến khác nhau về nguồn gốc để tạo thành cao lanh, vì vậy một số người đã từng “bênh vực” cho biển và cho rằng

đất sét này là do phong hóa hay tái trầm tích hồ chỉ tồn tại theo các thấu kính riêng biệt và rời rạc Như thế cũng không thể “đổ oan” cho biển đã tấn công vào đất liền ở kỷ thứ tư Và đồng bằng Hà Nội chỉ là đồng bằng A- lu- vi của sông Hồng và là một châu tam giác đặc trưng

Gần đây những nhà địa chất không bênh vực cho biển đã công bố những tư liệu địa chất của vùng Tràng Bạch, Mạo Khê cho rằng: đặc điểm trầm tích, diện phân bố của chúng trên đồng bằng và vẫn khẳng định tầng sét cao lanh này đã có nguồn gốc biển và cuộc viễn chinh biển vào lục địa là không thể chối cãi được, một lý do nữa là không chỉ riêng đồng bằng Bắc Bộ mới có sét cao lanh mà đồng bằng Trung Bộ cũng như thế

Dấu vết của những người sau thời đại đồ đá cũ được các nhà khảo cổ học tìm thấy từ lâu Họ là những người đã sáng tạo ra nền văn hóa Hòa Bình- Bắc Sơn trên những dải đá vôi chủ yếu ở hai tỉnh này Đó là nền văn hóa của thời đại đá giữa cách ngày nay hơn một vạn năm và sơ kỳ thời đại đá mới cách ngày nay 5000 năm Biển đã tồn tại suốt Plêi- stô- sen muộn và rút đi từ từ để lại đất đai cho con người và rừng cây cho muông thú Nhưng chưa được bao lâu, vào thời Hô- lô- sen giữa biển lại tràn vào, lần này nó tấn công đến tận gần Việt Trì Bị nước mặn tràn vào, muông thú, cây cối, cá bị chết và bị chôn vùi ngay tại chỗ, để lại vết tích là tầng than bùn khá dầy mầu đen nằm rải rác khắp đồng bằng Các nhà địa chất đặt tên cho tầng trầm tích này là tầng Giảng

Võ vì tại đây họ phát hiện ra mặt cắt điển hình của nó và chứng tỏ rõ ràng

Trang 19

rằng ngay tại Hà Nội lúc đó muông thú cũng chưa kịp chạy thảm họa này Biển tồn tại khá lâu và sau đó rút đi từ từ để lại một tầng sét mầu xám xanh dầy khoảng từ 2- 4m rất mịn màng hòng san bằng và che lấp các dấu vết xâm nhập của chúng Nhưng chính nó, tầng sét mầu xám xanh rất đặc trưng này càng chứng minh cho bàn tay thô bạo của biển, các nhà địa chất đã theo dấu tầng than bùn, sét xám xanh này để tìm kiếm phạm vi xâm nhập của chúng, dấu vết của biển lần này còn tìm thấy trên các phiến đá vôi cao 4m ở Đồ Sơn Hải Phòng Một điều lý thú nữa là có những nhà địa chất đã cho rằng, chính

đợt biển tiến này buộc người xưa phải chung sức chung lòng chống lại biển cả

và tạo nên nhà nước đầu tiên của chúng ta: Nhà nước Văn Lang

ở buổi đầu thời đại đá mới, Hà Nội nói riêng và đồng bằng nói chung

được nâng lên, biển xanh từ từ rút đi nhưng cuộc rút lui của biển không phải là chốc lát, cho đến bây giờ, cuộc rút chạy vẫn chưa chấm dứt Song nếu như trước kia đồng bằng bị lún xuống 100- 200m thì mức nâng lên lần này chỉ

được 7- 8m và diện tích đất được giải phóng khỏi biển so với toàn bộ diện tích

đã bị biển bao phủ vẫn còn quá nhỏ hẹp Những vùng biển rút chạy nay trở thành đồng bằng và đồi sót nổi lên, biển vẫn còn “ngoan cố” không chịu ra khỏi những vùng hẹp trước núi Vì vậy vẫn còn những quả núi nhỏ rải rác bị ngập nước nay trở thành các đảo và quần đảo

Khu vực biển rút đi, địa hình phân thành hai khu khá rõ rệt Một là vùng đồng bằng biển có đồi trước kia thuộc địa hình xâm thực như đồng bằng Trung Bộ và rìa đồng bằng Bắc Bộ, tại đây các trầm tích lục địa sau biển không đáng kể và chỉ để lại lớp mỏng ven sông, suối rồi bị sông, suối hiện đại mang vật liệu của nó tới phủ lên trên Phần lớn trầm tích sét biển lộ ra ở đây

và người ta thấy trên bề mặt sét biển có các đồi rải rác là địa hình xâm thực lục địa có trước biển tiến Hai là vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng có các

địa hình tích tụ mới, ít đồi Đó là vùng trung tâm đồng bằng bao gồm cả Hà

Trang 20

Nội ngày nay Một trong những nhân tố tích cực nhất nhằm tạo nên mảnh đất này là con sông Hồng Sông Hồng bồi đắp mạnh mẽ, tạo nên các trầm tích A- lu- vi dầy, có nơi hoàn toàn là địa hình tích tụ A- lu- vi mới như vùng ven sông Hồng, sông Đuống

Biển rút chạy, con người bám theo bước chân của nó để tấn công về

đồng bằng Công cuộc chạy đuổi này diễn ra hết sức phức chậm chạp bởi do nhiều nguyên nhân

Cũng như nhiều nơi khác, vào cuối thời đại đá mới, vịnh Hà Nội bắt đầu cuộc rút chạy Một vùng đất ở ven phía Tây Tây Bắc và đồng bằng ngày nay bao gồm các phần đất của Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Giang được giải phóng Trong cuộc vận động kiến tạo của trái đất thì phía Bắc sông Hồng cao trước còn phía Nam và Đông Nam thấp hơn

Bước vào đầu thời đại đồng cách ta 4.000- 5.000 năm, biển mới hoàn toàn cuộc rút lui của chúng ra khỏi Hà Nội, đường bờ biển lúc đó chạy men rìa Hà Nội ra Quảng Ninh và xa hơn bây giờ Chính vì vậy những người ở đảo Soi Nhụ (Quảng Ninh) thuộc thời đại đá mới không phải đi thuyền mới ra

được nơi cư trú của họ Chỉ trừ sau cuộc “phản kích” của biển ở đầu thời đại kim khí, họ mới phải đóng thuyền ra đảo

Từ đó cho tới ngày nay, biển không vào nổi đất liền nữa do trái đất được nâng lên, đất bồi nên và con người đã có bao công trình không để cho chúng vào gây tai họa nữa

Khi biển vừa rút, điều kiện tự nhiên không phải đã thuận lợi cho con người Trên mặt đồng bằng để lại rất nhiều đầm lầy hoang vu, cây cối chủ yếu

là các loại cây chịu nước mặn như sú, vẹt, lau lách…Cây ăn quả còn rất ít ỏi, muối của biển còn ngấm sâu vào lòng đất, hòa trong nước sông suối Mặt khác tuy biển đã rút nhưng vẫn chưa xa hẳn nên nước biển vẫn còn tràn vào

Trang 21

theo thủy triều Do đó việc sinh hoạt của con người cũng như điều kiện canh tác còn gặp nhiều bất lợi

Những đe dọa thiên nhiên đối với người ở miền núi vẫn chưa hết Đó là khí hậu nhiệt đới mưa, tập trung theo mùa và đồng bằng có độ dốc lớn, nên nạn ngập lụt thường xuyên xảy ra

Người xưa nhìn vào đồng bằng bát ngát, lòng đầy khát vọng mà chưa dám xuống ngay

Trải dài một thời gian sau nữa, do ảnh hưởng của thủy triều giảm đi, mưa lũ không ngừng làm nhạt và cuốn đi nước mặn của biển Nhờ đó cây cối phát triển mạnh mẽ thành những rừng cây lớn Có rừng là có động vật kéo đến cư trú Dần dần rừng đã phát triển phủ kín đồng bằng Cách đây vài trăm năm

ở Sặt còn rừng gỗ tứ thiết, ở Voi Phục có rừng tre nứa…Dấu vết của rừng còn

được nhận ra qua những dải than bùn ở Lỗ Khê (Đông Anh), Từ Liêm Đó là

do cây rừng chết, bị cháy chưa phân giải hoàn toàn, cùng với rừng những thú lớn có nhiều là đối tượng săn bắn hấp dẫn của người xưa như voi, tê giác, lợn lòi, hươu nai…Mà sau này chúng ta đã bắt gặp những bộ xương thú này trong nhiều địa điểm khảo cổ học

Những tài liệu địa chất, địa mạo vừa kể trên vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu sự thành tạo của mảnh đất Hà Nội, trong quá khứ xa xăm, trong thời Hùng Vương-An Dương Vương Trong quá trình chinh phục đồng bằng

và trung du, người Việt cổ đã để lại nhiều dấu ấn của mình bằng những hiện vật mà một số hiện vật này đang được lưu trữ tại Bảo Tàng Hà Nội

Nhìn thấy sự lớn lên “lành mạnh” của đồng bằng, những người Việt tiên phong nhất đã kết bè mảng, xuôi theo các dòng sông chằng chịt khắp nơi để tiến hành cuộc khai phá vĩ đại làm nên lịch sử vùng Hà Nội và lịch sử đồng bằng Công cuộc lao động này còn được lưu giữ lại ở trong các huyền thoại

Trang 22

Việt với các thần: Ông Đùng Bà Đà, Ông Đếm Sao, Ông Tát Nước, Đội Đá vá Trời, Dời Non Lấp Biển…

Những người Việt tiên phong đã dừng chân bên các dòng sông, nơi có phù sa và nước ngọt để trồng lúa, đánh cá, săn bắt, dựng làng, lập xóm, và dấu vết của những người anh hùng vô danh trong lịch sử khai phá đồng bằng ấy đã

để lại dấu tích của họ ở khắp Nội ngoại thành Hà Nội trong thời kỳ Hùng Vương-An Dương Vương

1.2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu thời đại Hùng Vương-An Dương Vương ở Việt Nam và nước ngoài

1.2.1 Nghiên cứu thời đại Hùng Vương-An Dương Vương ở Việt Nam

Dưới các triều đại phong kiến, vua chúa đã chú ý thu thập các cổ vật liên quan đến thời kỳ Hùng Vương như trống đồng Theo thần tích làng Thượng Lâm, thì từ thế kỷ X, Đinh Tiên Hoàng trong khi đánh dẹp các sứ quân, đã chú ý thu thập các cổ vật như: trống đồng cổ để tặng cho nhân dân các làng xã giữ để thờ

Nhiều thư tịch cổ như: thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn cũng đã có những ghi chép miêu tả các cổ vật bằng đồng như: trống đồng, các hiện vật bằng đồng…

và trong pháp luật thời Hồng Đức, nhà Lê đã có ghi điều khoản trừng phạt việc lấy cắp hoặc phá hỏng những cổ vật

Những điều đó cho thấy, dưới các triều đại phong kiến, không phải chỉ vua quan, mà nhân dân ta cũng rất quan tâm thu thập cổ vật liên quan đến thời

kỳ Hùng Vương, nhất là đồ đồng, nó có một vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống của nhân dân ta từ rất lâu đời

Nhân dân ta cũng như nhà nước phong kiến coi trọng các cổ vật, nhưng dưới thời phong kiến chưa có một cuộc khai quật khảo cổ nào và cũng chưa có

Trang 23

một công trình khảo tả, nghiên cứu khảo cổ thời đại Hùng Vương-An Dương Vương nào

Nhưng chỉ trong một vài thập kỷ công tác, ngành khảo cổ học nước ta cũng đã đưa khỏi lòng đất một khối lượng tư liệu đồ sộ minh chứng cho một thời kỳ biểu tượng cho buổi đầu dựng nước Với những tư liệu mới này, các nhà khảo cổ học và sử học có điều kiện đi sâu và tìm hiểu nguồn gốc, quá trình hình thành các giai đoạn phát triển cùng đời sống kinh tế văn hóa xã hội của cư dân thời đại Hùng Vương-An Dương Vương

Trên cơ sở những hiện vật thu thập được, các công trình nghiên cứu đã khẳng định sự tồn tại của một nền văn hóa phong phú, độc đáo, phát triển cao,

đạt đến trình độ hình thành một nhà nước sơ khai, đó là nước của các vua Hùng

Công cuộc nghiên cứu văn hóa thời đại Hùng Vương-An Dương Vương

đã được triển khai, tuy nhiên vẫn cần phải tiếp tục làm sáng tỏ Với các tư liệu ngày càng phong phú, việc tìm hiểu văn hóa thời đại này ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn, đúng đắn hơn Ngoài các vấn đề có tính chất khảo cổ như đặc trưng văn hóa niên đại, nguồn gốc, mối quan hệ ngang dọc của thời đại thì nhiều công trình đã đề cập đến trình độ sản xuất, quan hệ xã hội và tổ chức xã hội đương thời Một thành tựu nổi bật của các nhà khảo cổ học, sử học trong thời gian qua là đã sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để tìm hiểu bản chất của văn hóa thời kỳ này, chứ không dừng lại ở việc so sánh một số mô típ hoa văn, một số loại hình di vật để đi đến những nhận định đúng đắn về niên đại cũng như mối quan hệ về nguồn gốc thời đại Hùng Vương-An Dương Vương

Từ những năm trước 1959, đất nước ta còn bộn bề những khó khăn Miền Bắc xã hội chủ nghĩa với đội ngũ các nhà khảo cổ học còn non trẻ, nhưng đầy nhiệt huyết đã bước đầu có những thành tựu nghiên cứu lịch sử

Trang 24

hàng ngàn năm của dân tộc, đã có một đội ngũ chuyên gia khoa học về khảo

cổ học, bảo tàng học Bên cạnh việc nghiên cứu các di sản văn hoá vật thể quý giá của dân tộc, các di tích khảo cổ từ thời đại đồ đá cũ đến thời đại Phong Kiến trong đó có vấn đề nghiên cứu các hiện vật thuộc các thời kỳ lịch sử cụ thể là thời đại Hùng Vương-An Dương Vương lại được đặt ra cấp thiết Nhiều hiện vật rất có giá trị đã được phát hiện trong giai đoạn này và được thu thập một cách có ý thức hơn, được lưu giữ trong các bảo tàng từ trung ương đến địa phương ngày một đông đảo Một số sách và các bài chuyên luận được ra đời trong bối cảnh như vậy

Nghiên cứu thời kỳ dựng nước và giữ nước của các Vua Hùng, đã có một loạt các di tích khảo cổ học thuộc thời kỳ này được phát hiện, khai quật

và được nghiên cứu nhiều lần: Di chỉ Đồng Vông khai quật những năm 1969,

1970, 1977; di chỉ Đình Tràng 1969, 1970, 1971 Thời kỳ này được xem là tập trung của những phát hiện, nghiên cứu và tập hợp tư liệu về thời đại Hùng Vương và An Dương Vương Những tư liệu về địa tầng của các hố khai quật, các sưu tập hiện vật phong phú và đa dạng ở mỗi di chỉ qua nhiều lần khai quật chỉnh lý và nghiên cứu đã cho phép ta xác định niên đại của từng nhóm hiện vật, trình độ phát triển của từng thời kỳ trong cả một thời đại

Một khối lượng lớn tư liệu khảo cổ học cụ thể thông qua số lượng và loại hình hiện vật phát hiện được là kết quả của giai đoạn này, những bài nghiên cứu về Nhà nước sơ khai Âu Lạc, đời sống vật chất- tinh thần của cư dân Âu Lạc, nguồn gốc của Hùng Vương-An Dương Vương đã được đăng tải trên các tạp chí và các cuốn sách

Một trong những thành tựu lớn lao ở giai đoạn này là bản đồ Khảo cổ học khu vực Cổ Loa đã được xây dựng năm 1966 Thành quả quan trọng nữa

là những vấn đề tồn nghi về lịch sử đã được khảo cổ học làm sáng tỏ, cùng với

nó là một số những di tích được hiện tồn như: Đình, Đền An Dương Vương,

Trang 25

An Dương Vương xây thành Cổ Loa ở Phong Khê (Đông Anh- Hà Nội), nơi

mà trước đó đã có cư dân sinh sống trù mật

Những năm 1968- 1970, hầu hết chúng ta tập trung nghiên cứu bình minh của lịch sử dân tộc, khi nghiên cứu văn hóa Đông Sơn và thời kỳ các Vua Hùng dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, chúng ta đã từng đặt giả thiết văn hóa Đông Sơn hẳn chấm dứt khi các dòng Vua Hùng chấm dứt,

đã từng có những cuộc tìm kiếm ở Cổ Loa vết tích Âu Lạc sau Âu Lạc, ta đã phát hiện được ở Cổ Loa một lịch sử Cổ Loa trước Âu Lạc với những di chỉ:

Đồng Vông, Bãi Mèn, Đình Tràng, Xóm Nhồi những giai đoạn tiến lên của các nền văn hóa được phát hiện đã góp phần soi dọi toàn bộ lịch sử dân tộc Việt Nam ta Hiện vật tìm kiếm và phát hiện được ở thời kỳ này với những đặc

điểm phong phú, xuất sắc của bản thân nó còn chứa đựng rất nhiều những ý nghĩa và giá trị lớn lao

Trong khi tiến hành cải tạo đồng ruộng ngày 21 tháng 6 năm 1982, nhân dân xã Cổ Loa Đông Anh- Hà Nội đã phát hiện một trống đồng và một

bộ di vật đồ sộ với những di vật bằng đồng thau và bằng sắt bao gồm rất nhiều những công cụ, vũ khí, dụng cụ Trống đồng cùng những hiện vật trong lòng trống được phát hiện trên một thửa ruộng thuộc khu vực Mả Tre Trước đây là một khu vực cao dùng vào việc chôn người chết, về sau được cải tạo thành

đồng ruộng Địa điểm này nằm ở phía Tây nam cửa nam thành Cổ Loa “Phát hiện này được xem như là một trong những phát hiện khảo cổ học vang dội nhất đến nay về thời đại kim khí ở Cổ Loa nói riêng và Việt Nam nói chung Sau hơn 2.000 ẩn mình thầm lặng, dưới ánh sáng của khoa học, các di vật này dường như bừng tỉnh dậy kể chuyện ngày xưa ”

Nhóm hiện vật này sau khi được đưa lên khỏi lòng đất đã được các cơ quan có trách nhiệm thu hồi nhiều lần trong nhân dân Có ba đợt thu hồi chính: Đợt đầu tiên ngay sau khi phát hiện, do cán bộ xã Cổ Loa và Công an

Trang 26

huyện Đông Anh thu nhặt Đợt hai là do cán bộ Phòng Bảo tồn Bảo Tàng Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội tiến hành Đợt thứ ba do phòng Bảo tồn Bảo Tàng kết hợp với viện Khảo Cổ sưu tầm, cũng qua nhiều lần thu hồi thì số lượng hiện vật cũng được công bố

Trống đồng Cổ Loa I được các nhà nghiên cứu xếp vào nhóm với 4 trống được coi là sớm nhất và đẹp nhất của trống đồng loại I theo cách phân loại của Heger đã phát hiện ở nước ta cho đến nay Cùng với trống đồng có trên 200 hiện vật bằng đồng thau và sắt gồm các loại hình: nhạc khí, vũ khí, công cụ lao động như lưỡi cầy, cuốc, xẻng , đồ đựng như thạp, thố và rất nhiều những hiện vật khác nữa, những mảnh đồng vụn Phát hiện này “có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu nền văn minh Sông Hồng”

Sau năm 1982, năm 1985 Trường Đại học Tổng hợp đã tiến hành khai quật di chỉ Đình Tràng, đợt khai quật này cũng mang lại một nhận thức đầy đủ

và đặc trưng hơn với tính chất của nền văn hóa trên cùng, lớp cư trú của cư dân Đông Sơn [10, tr.4-15]

Đánh giá về di chỉ Đình Tràng sau 3 mùa khai quật, Gs Hà Văn Tấn đã viết “Đình Tràng là một di tích quan trọng do chỗ ở đây có 3 lớp văn hóa chồng lên nhau Lớp dưới cùng là lớp cư trú thuộc giai đoạn Đồng Đậu Lớp giữa là thuộc giai đoạn Gò Mun Trên cùng là lớp cư trú Đông Sơn cùng với

bị đúc hỏng được đưa về để làm nguyên liệu đúc

Nhiều vấn đề được đặt ra khi nghiên cứu về thời đại Hùng Vương-An Dương Vương ở Việt Nam, trước đây chỉ dựa vào những tư liệu văn tự muộn

Trang 27

mằn, nay đã được bổ xung nhiều bằng những phát hiện khảo cổ học mới Những mối quan hệ giữa những người chế tác ra những hiện vật, người sử dụng chúng và nó mang ý nghĩa gì: là đồ dùng sinh hoạt, là công cụ sản xuất, thậm chí còn là những biểu tượng của quốc gia, của dân tộc Hay nói cách khác là khi nghiên cứu thì chúng ta đã làm sáng tỏ được mối quan hệ gắn kết giữa các hiện vật với cơ tầng đã sản sinh ra chúng

Khi nghiên cứu về cả một thời đại trong sự hình thành và phát triển, chúng luôn luôn được mở rộng và được trao đổi rộng rãi với các vùng phụ cận, với các di tích khác Vậy kết quả của quá trình đó được xác lập dựa trên sự tổng hòa của mối giao lưu văn hóa diễn ra ở các mức độ khác nhau, dưới nhiều hình thức khác nhau [34, tr 21-39][35, tr 77-78]

1.2.2 Nghiên cứu thời đại Hùng Vương-An Dương Vương của các học giả nước ngoài

Một trong các tác giả nước ngoài nghiên cứu sớm nhất về thời Hùng Vương, An Dương Vương và nhà nước sơ khai ở Việt Nam là học giả người Pháp G Dumoutier Trong tác phẩm “Nghiên cứu lịch sử và khảo cổ thành Cổ Loa và Vương quốc Âu Lạc” (G Dumoutier 1893) Ông đã dựa vào khối tài liệu ít ỏi của hơn một thế kỷ trước để góp phần dựng lại những nét cơ bản của thành Cổ Loa thời An Dương Vương Tiếp sau đó, một số học giả Pháp và châu Âu trong thời kỳ Pháp thuộc cũng đã có một số công trình liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến nhà nước sơ khai, văn hoá Đông Sơn Có thể kể ra những học giả điển hình sau đây và các tác phẩm của họ:

- H Maspero 1918 Le Royaume de Van Lang BEFEO, t XVIII: 1-10

- V Goloubew 1929 L'Age du bronze au Tonkin et dans le Nord Annam BEFEO T XXIX Hanoi, [37, tr.1-16]

Trang 28

Sau năm 1954, một số học giả Xô Viết cũng nghiên cứu về vấn đề khảo

cổ và những nền văn minh cổ đại nước ta, đã đề cập ít nhiều đến vấn đề nhà nước sơ khai Có thể kể một số nhà khoa học sau:

- A.I Mukhlinov 1972 Etnographicheskaija kharakteristika bronzovoi kulturư Dongsona (Vietnam) (Đặc trưng dân tộc học của nền văn hoá đồ đồng thau Đông Sơn) Moskva

- Deopik 1958 Ranie Vietskie Gosudastva (Sự xuất hiện nhà nước sơ khai Việt Nam) Tạp chí Đông Phương học Xô Viết Moskva

Vài thập kỷ gần đây, các học giả Phương Tây ngày càng chú ý đến vấn

đề lịch sử Việt Nam cùng với sự quan tâm mọi lĩnh vực kinh tế xã hội khác trong thời đại giao lưu văn hoá quốc tế ngày càng được mở rộng Những tác giả này cũng đề cập đến vấn đề nhà nước sơ khai một cách gián tiếp trong nhiều tác phẩm của mình và có sự so sánh với các dạng nhà nước sơ khai đây

đó trong vùng, có thể kể ra đây những sách và chuyên luận sau đây:

- L Bezacier 1972 Le Vietnam: de la préhistoire à la fin de l'occupation chinoise Paris

- C Bunker 1974 The Tien culture and aspects of its relationship to the Dongson culture In: Early Chinese Art and its Possible Influence in the Pacific Basin (Ed.N.Barrnard) Taiwan

- H Hakari, & K Imamura 1991 Báo cáo sơ bộ về cuộc khai quật chung Việt Nam - Nhật Bản ở Làng Vạc NPH 91: 76-78

- C Higham 1996 The Bronze Age of Southeast Asia, Cambridge University Press, Cambridge

- O Janse 1961 Vietnam, carrefour de peuples et de civilisations F.A XVII., N0165: 1645-1670

Trang 29

- h.h.e Loofs-wissowa 1981 Tiền sử và sơ sử Đông Nam á KCH số 1: 73-77

- h.h.e Loofs-wissowa 1988 Shamans or Popes? An interpretation of some decoration motifs on the earliest bronze drums in Southeast Asia Paper presented at the Conference on Acient Bronze Drums and Bronze Cultures in Southern China and Southeast Asia, Kunming

- L Malleret 1959 La civilisation Donsonien d' après les recherches de M.O Janse FA N0 160-161: 9-10

- K Taylor 1983 The Birth of Vietnam University of California Press, Berkeley-Los Angeles

- J Tessitore 1988-1989 View from East Mountain: An examination of the Relationship between the Dong Son and lake Tien Civilisation in the First Millennium B.C AP, Vol XXVII N01: 31-44

- W Watson 1970 Dongson and the Kingdom of Tien In Readings on Asian Topics 45-74 Scandinavian Institute of Asian Studies Monograph Series No 1, Copenhagen

Những học giả nước ngoài nghiên cứu về thời Hùng Vương, An Dương Vương và nhà nước sơ khai mới chỉ xới lên vấn đề hay dựa vào những tài liệu chữ Hán Nôm trước đây hoặc nêu những giả thiết công tác dựa vào khối tài liệu khảo cổ, dân tộc

1.3 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu thời đại Hùng Vương-An Dương Vương ở Hà Nội

1.3.1.Những địa điểm khảo cổ học

Từ những năm hai mươi của thế kỷ này, người ta đã tìm thấy một số di vật khảo cổ trên đất Hà Nội

Trang 30

Năm 1920, một số rìu đồng đã tìm thấy trong lòng đất Cống Vị ở độ sâu 1m Cũng năm đó ở Ngọc Hà, viện Bảo tàng Lu- i Phi- nô đã thu thập

được một số mũi lao bằng đồng thau

Bốn năm sau, khi đào đất ở khu vực Ao Tròn, cũng tại làng Ngọc Hà, người ta đã phát hiện thêm một số trống đồng Đông Sơn Trong những năm này còn tìm thấy một số rìu đồng, nhạc đồng ở vùng Quần Ngựa và Gia Lâm

Những phát hiện lẻ tẻ đó dẫu sao chưa phản ánh được đầy đủ và toàn diện bộ mặt của thời đại lịch sử- thời đại đồ đồng và sắt sớm của Hà Nội

Hầu như, gần một thế kỷ sống trên đất này, các học giả thực dân trước

đây đã chỉ dừng lại ở việc thu lượm các di vật khảo cổ với con mắt của những nhà buôn đồ cổ đúng hơn là những nhà khoa học

Năm năm sau khi giải phóng thủ đô, nhân việc lấy đất đắp đường một kho đồ đồng đã được lấy lên từ lòng đất Cổ Loa như một tiếng kèn hiệu thôi thúc các nhà khảo cổ học đi tìm dấu vết cư trú của người xưa trên ngay mảnh

đất Hà Nội Hà Nội lúc đó đã trở thành một mảnh đất đầy hứa hẹn cho việc phục hồi lại bóng dáng xa xưa thời đại Hùng Vương, An Dương Vương ở nước ta

Tháng 11- 1962, với việc phát hiện di chỉ khảo cổ học Văn Điển rộng hàng chục vạn mét vuông có tầng văn hóa dầy non nửa mét, trong tầng văn hóa chứa nhiều đá và gốm, các nhà khoa học đã khẳng định một cách chắc chắn sự có mặt của người Việt cổ ở Hà Nội trong thời đại Hùng Vương

Sau đó với sự nỗ lực của các nhà khoa học nước ta, hàng loạt di chỉ khảo cổ học thời đại đồ đồng và sắt sớm ở Hà Nội đã được phát hiện và khai quật với qui mô lớn

Những địa điểm khảo cổ học ở Hà Nội được phân bố trên một địa bàn rộng ở khắp Nội, ngoại thành

Trang 31

ở Thanh Trì có những di chỉ cư trú- Làng của những người Việt cổ- ở Văn Điển, Triều Khúc, Chùa Thông ở Gia Lâm có Trung Mầu, Đa Tốn Đặc biệt ở Đông Anh có nhiều địa điểm khảo cổ học như: Đồng Vông, Tiên Hội, Bãi Mèn, Đình Tràng và Đường Mây

Ngoài ra, hàng loạt những dấu hiệu bước đầu cho thấy có thể còn có những làng cổ còn nằm sâu trong lòng đất mà chúng ta chưa khám phá ta Đó

là nhiều di vật đồ đồng, đồ gốm, đồ đá phát hiện ngẫu nhiên ở Xóm Nhồi, Xóm Thượng, Cầu Vực, Lỗ Khê, Quần Ngựa, Cống Vị…

Chắc chắn những đại điểm đã được khai quật và kể cả những điểm được biết qua những di vật phát hiện ngẫu nhiên chỉ là những con số hết sức nhỏ nhoi so với những địa điểm khảo cổ, những làng mạc cổ xưa ở Hà Nội mà chúng ta còn chưa biết đến

Cho đến nay chúng ta đã khai quật được rất nhiều địa điểm, các địa

điểm này đã lập thành một hệ thống văn hóa phát hiện liên tục và thống nhất trong thời đại Hùng Vương, An Dương Vương, kéo dài hàng ngàn năm

Chứng tích khảo cổ học cho biết các làng xóm Hà Nội thời đại này

được dựng lên ở những dọi đất cao ven các dòng sông…Sông Nhuệ, Sông Tô, Sông Đuống…Những địa điểm này rất thuận lợi cho nền nông nghiệp trồng lúa nước, săn bắt và đánh cá ở những làng cổ như Đình Tràng, Gò Thông, con người đã cư trú liên tục trong hàng ngàn năm, tầng văn hóa dầy tới 2m trong

đó đã chứa đựng hàng ngàn vạn hiện vật hết sức phong phú, quy mô của các làng xóm cũng rất rộng, diện tích lên tới hàng vạn mét vuông [16, tr.80-95]

1.3.2 Những bài viết và tiểu luận tiêu biểu về thời đại Hùng Vương, An Dương Vương ở Hà Nội :

Nghiên cứu về địa điểm Cống Vị, Quận Ba Đình Hà Nội, Nguyễn Trường Kỳ, Nguyễn Đình Hiền năm 1982 có bài viết “Về một số hiện vật

Trang 32

khảo cổ ở Cống Vị, Kim Mã Thượng (Hà Nội) trong sách: Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1982

Nghiên cứu về các địa điểm khảo cổ học ở Cổ Loa Đông Anh- Hà Nội, giáo sư Trần Quốc Vượng đã có rất nhiều bài viết như:

+Năm 1967: Báo cáo khai quật Cổ Loa (Hà Nội)

+Năm 1969: Khai quật di chỉ Đường Mây và Đồng Vông ở vùng Cổ Loa (Hà Nội) Báo cáo tại hội nghị thông báo Khảo cổ học năm 1969

+Năm 1971: Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật ở Cổ Loa năm1969 trong thông báo khoa học của Đại học Tổng Hợp tập V

+Năm 1983 bài: Cổ Loa ( Hà Nội)- Nhận thức mới trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1983

Tác giả Nguyễn Văn Hùng năm 1982 có các bài:

+ Trống đền Đồng Cổ ( Hà Nội ), những phát hiện mới về khảo cổ học

Bùi Kim Đỉnh 1999 Có báo cáo khai quật di chỉ Đình Tràng lần thứ tư (báo cáo phụ lục) Tài liệu lưu trữ ở phong lưu trữ Viện khảo cổ

Bùi Văn Vinh 1970 Đồ gốm địa điểm khảo cổ học Đình Tràng Luận văn tốt nghiệp, tài liệu lưu trữ của phòng lưu trữ Viện khảo cổ

Trang 33

Hà Văn Tấn 1970 Khai quật di chỉ Đình Tràng ( Dục Tú, Hà Nội) Hội nghị thông báo khảo cổ học năm 1970

Hà Văn Tấn 1971 Khai quật di chỉ Đình Tràng ( Hà Nội) lần thứ hai Hội nghị thông báo KCH năm1971

Lại Văn Tới 1999: Những mộ táng trong hố khai quật di chỉ Đình Tràng lần thứ tư năm 1998 trong sách Những phát hiện mới về khảo cổ học năm

1999

Nghiên cứu về địa điểm Đồng Vông có những chuyên luận như sau: Ban quản lý di tích danh thắng Hà Nội năm 1998 Báo cáo khai quật

Đồng Vông lần thứ tư tháng 12/ 1997 xã Cổ Loa- Đông Anh, Hà Nội

Trần Quốc Vượng 1969 Khai quật di chỉ Đường Mây và Đồng Vông ở vùng Cổ Loa Hà Nội Hội nghị thông báo KCH năm 1969

Nguyễn Việt 1981 Gốm Đồng Vông- Những phát hiện mới về KCH năm 1981

Phạm Minh Huyền, Lại Văn Tới, Nguyễn Văn Hùng 1998 Khai quật

Trang 34

Nghiên cứu về địa điểm Trung Mầu có những chuyên luận chính như sau:

Lại Văn Tới 1998 Đào thám sát di chỉ Đường Rú (Trung Mầu- Gia Lâm, Hà Nội) trong sách Những phát hiện mới về KCH năm 1998

Phạm Minh Huyền 1968 Một số đồ Đồng Thau mới tìm thấy ở Trung Mầu Tài liệu lưu trữ tại phòng lưu trữ VKC

Nghiên cứu về địa điểm Văn Điển có những chuyên luận như sau: Phạm Văn Kỉnh, Hà Tú Nhã 1967 Báo cáo về việc phát hiện tượng người bằng đá ở di chỉ Văn Điển, trong tạp chí Khoa học lịch sử số 96

Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Ngọc Đính 1966 Báo cáo sơ bộ về cuộc khai quật di chỉ đồ đá mới ở Văn Điển Trong một số báo cáo về khảo cổ học Việt Nam

Hoàng Xuân Chinh 1964 Báo cáo khai quật Văn Điển (Hà Nội) Tài liệu lưu trữ ở phòng lưu trữ VKC [6]

Những bài viết và tiểu luận nghiên cứu về thời Hùng Vương, An Dương Vương ở Hà Nội đều do những nhà khảo cổ học, văn hoá học thể hiện sâu sắc

và đã có đóng góp nhiều cho việc nghiên cứu Hà Nội thời xa xưa và đã là những tài liệu quý giá giúp chúng tôi dựng lại được bức tranh toàn cảnh của thời đại này và ý nghĩa lịch sử cũng như giá trị văn hoá của các làng cổ và khu

mộ cổ ở đây

Trang 35

Chương 2 Giá trị lịch sử văn hoá của bộ sưu tập các hiện vật thời đại Hùng Vương vμ An Dương Vương ở Bảo tμng Hμ Nội

2.1 Giá trị lịch sử của sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương và An

được chiều dày trống và trọng lượng trống Những bản vẽ, bản ảnh, bản đồ của trống đồng, và một số loại hình hiện vật được minh hoạ theo những tài liệu cập nhật và được thể hiện bằng những tiêu chuẩn của khảo cổ học Tư liệu về các hiện vật thuộc thời đại Hùng Vương-An Dương Vương trong luận văn hy vọng rằng sẽ giúp các nhà khảo cổ học tra cứu nhanh nhất theo cách phân loại, phân nhóm chi tiết theo thứ tự hình dáng, kích thước được sắp xếp có thứ tự lô gic trong Bảng thống kê mà luận văn này thành lập

Chúng tôi đã thành lập được 2 Bảng thống kê như sau:

Trang 36

- Bản thống kê hiện vật theo địa điểm phát hiện được, gồm có 9 địa

điểm (Xem Bảng thống kê 1 ở phần phụ lục) Trong Bảng thống kê, có thể địa

điểm Đình Chàng cũng là địa điểm Đình Tràng mà chỉ ghi khác về mặt chính tả Nhưng do tôn trọng tài liệu gốc, chúng tôi cũng đã tách ra làm 2 Bảng để

có điều kiện về sau kiểm chứng lại nguồn tư liệu

- Bảng thống kê theo chất liệu, gồm đồ đồng, đồ đá, đồ đất nung và đồ xương răng (Xem Bảng thống kê 2)

Những Bảng thống kê chi tiết này đã giúp cho các nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá, lãnh đạo Bảo tàng và những ai quan tâm đến di sản thời kỳ Hùng Vương có được những tài liệu tra cứu chính xác

Chúng tôi cũng hệ thống hoá và công bố những tư liệu khảo cổ, nhiều tư liệu được công bố lần đầu tiên Đó là những bản đồ, bản ảnh, bản dập hoa văn và bản vẽ Những tài liệu đó rất có ích trong việc tuyên truyền các giá trị vật chất, cũng là những tài liệu quý báu cho các nhà sử học, khảo cổ học Các tài liệu đó đều được xử lý tốt về mặt khoa học: có trích dẫn xuất xứ, có số đo, bản ảnh có thước tỷ lệ (Xem phần phụ lục 1, các bản đồ, bản ảnh, bản dập, bản vẽ…)

Khối tư liệu này chắc chắn sẽ rất có ích cho hiện tại và mai sau mỗi khi chúng ta nghiên cứu về sưu tập hiện vật thời đại Hùng Vương-An Dương Vương ở Bảo tàng Hà Nội, về lịch sử thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến Đồng thời cũng giúp các nhà khoa học có được tư liệu về các hiện vật mà Bảo tàng

Hà Nội có được do sự giao lưu, sưu tầm mà có

Tư liệu có được cũng giúp cho các nhà khoa học ở nhiều ngành khác nhau như khảo cổ học, dân tộc học, nhân chủng học, sử học v.v tiếp cận được với những vấn đề thuộc thời đại Hùng Vương-An Dương Vương ở Hà Nội một cách đầy đủ, cập nhật và nghiêm túc Từ đó, những tư liệu này giúp cho những

Trang 37

gợi ý khoa học, những ý tưởng phục vụ các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác nhau

Hay nói một cách khác, luận văn này hy vọng sẽ là một công cụ tốt cho các nhà khoa học

- Vài nét về các di tích khảo cổ Hà Nội có hiện vật lưu tại kho Bảo tàng

Hà Nội

Để có thể hiểu sâu thêm giá trị lịch sử và văn hoá của bộ sưu tập hiện vật lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội, chúng ta cần phải tìm hiểu nơi phát hiện ra chúng, chủ yếu trong lòng đất tại các làng cổ, khu mộ cổ hoặc những phát hiện lẻ tẻ, ngẫu nhiên Vì thế, chúng tôi xin giới thiệu một số các địa điểm khảo cổ có hiện vật lưu giữ trong Bảo tàng Hà Nội (Xem Bản đồ phân bố các

địa điểm khảo cổ học ở Hà Nội có hiện vật liên quan trong phần phụ lục)

ĐịA ĐIểM VĂN ĐIểN

Địa điểm khảo cổ học Văn Điển nằm trên một khu đất cao, hiện nay thuộc phạm vi nghĩa trang Văn Điển- Thanh Trì Hà Nội

Văn Điển cách trung tâm Hà Nội khoảng 9.5km về phía Tây- Tây Nam, cách sông Nhuệ khoảng 2.6km về phía Đông và cách sông Hồng khoảng 5.3km về phía Tây

Quanh di chỉ khảo cổ học Văn Điển còn có một số di chỉ khảo cổ học khác Văn Điển cách Chùa Thông khoảng 1km về phía Tây Bắc, cách di chỉ Triều Khúc khoảng 5km về phía Đông Nam

Di chỉ khảo cổ học Văn Điển phân bố tương đối rộng Diện tích ước tính khoảng 175.000km² Trung tâm của di chỉ cũng là trung tâm của nghĩa trang ngày nay

Công nhân của nghĩa trang Văn Điển trong khi làm việc đã phát hiện ra một số hiện vật đá, gốm và đã báo ngay cho vụ Bảo tồn Bảo tàng biết

Trang 38

Từ ngày 23 đến ngày 27- 11- 1962, các cán bộ đã điều tra thăm dò tại

di chỉ và đã thu được một số hiện vật gồm: rìu đá, vòng đá, bàn mài và một số mảnh gốm

Di chỉ có một tầng văn hóa Do địa thế của di chỉ cao ở giữa và thấp ở xung quanh nên độ dầy của tầng văn hóa không đều nhau Cấu tạo các lớp đất trong các hố khai quật và thám sát của di chỉ không đồng đều.Trong những hố nay không có hình thù nhất định Hiện vật và chất đất trong hố không khác trong tầng văn hóa

Tầng văn hóa không bị xáo trộn nhiều, những hiện vật ở những thời đại muộn hơn ở lớp đất thứ ba là do quá trình đào mộ lẫn vào

Hiện vật trong tầng văn hóa tương đối phong phú gồm đồ đá và đồ gốm Ngoài những tượng đá, bàn mài, rìu đá, vòng đá, hạt chuỗi đá và một số mảnh gốm thô được tìm thấy thì còn có những hiện vật còn tương đối là nguyên và có một số mảnh gốm

Công cụ sản xuất bằng đá: Gồm rìu, đục, mũi khoan và bàn mài

Vũ khí bằng đá có mũi tên

Đồ trang sức bằng đá cũng có vòng đeo tay, vòng đeo tai, hạt chuỗi và nhẫn, lõi vòng…

Đồ gốm tìm thấy ở di chỉ có dọi xe chỉ, bi gốm và mảnh chạc gốm Bên cạnh những hiện vật gốm nguyên vừa kể trong tầng văn hóa của di chỉ có rất nhiều mảnh gốm thô, những mảnh gốm ở đây pha nhiều cát, bên ngoài phủ một lớp đất mịn làm cho mặt gốm trơn nhẵn Hầu hết gốm có mầu xám, một số có mầu đỏ Độ nung của gốm thấp vì vậy không có độ cứng, đa

số các mảnh gốm được trang trí hoa văn

Văn Điển là một di chỉ cư trú có tầng văn hóa đồng nhất Đây còn là một nơi chế tác và sửa chữa đồ đá ngay tại chỗ Sự tồn tại của lõi vòng, vòng

Trang 39

chế tác ch−a hoàn chỉnh, bàn mài, những mảnh đá tự nhiên và những chiếc vòng đ−ợc khoan lỗ để nối dây đã nói lên điều đó

Loại hình hiện vật, kỹ thuật chế tác đá và kỹ thuật gốm ở di chỉ Văn

Điển rất gần gũi với di chỉ Triều Khúc cách đó 5km và các di chỉ khác thuộc giai đoạn Phùng Nguyên, Nghĩa Lập, Núi Xây, Chùa Gio…

Văn Điển là một trong những di chỉ thuộc giai đoạn Phùng Nguyên, giai đoạn mở đầu của thời đại đồng và sắt sớm Việt Nam, cách ngày nay khoảng 3.500- 4.000 năm [28, tr.29-31]

ĐịA ĐIểM Đồng vông

Địa điểm khảo cổ học Đồng Vông nằm trên dọi đất cao ven sông Hoàng, thuộc cánh đồng phía Tây Bắc xã Dục Tú- Đông Anh- Hà Nội Đồng Vông cách trung tâm Hà Nội khoảng 9km về phía Tây Bắc, cách sông Hồng khoảng 5km về phía Đông Bắc

Đồng Vông nằm ở phía Đông Nam thành Cổ Loa, quanh di chỉ Đồng Vông còn có một số di chỉ khảo cổ học khác Giáp với di chỉ Đồng Vông về phía Tây Nam là di chỉ Bãi Mèn và kho tên đồng Cổ Loa, diện tích của di chỉ

Đất vô sinh là đất sét pha cát có chỗ mầu vàng, có chỗ đất mầu rêu xanh, bề mặt lồi lõm và nghiêng về phía bờ sông

Di chỉ có một tầng văn hóa, hiện vật gồm rất nhiều loại:

Trang 40

Đồ gốm, đồ đá, rỉ đồng, quặng sắt và xương động vật, công cuộc sản xuất, vũ khí, đồ trang sức và một số mảnh đá tự nhiên…

Đồng Vông là di chỉ cư trú có một tầng văn hóa đã bị xáo trộn ít nhiều

Sự tồn tại của bàn mài, phác vật đá…đã cho thấy di chỉ Đồng Vông còn là một nơi chế tác và sửa chữa đồ đá tại chỗ

Đồng Vông cũng như Văn Điển, là một di chỉ thuộc nhóm di tích giai

đoạn Phùng Nguyên cách đây khoảng 3.500- 4.000 năm

ĐịA ĐIểM ChùA THÔNG

Di chỉ khảo cổ học Chùa Thông (còn gọi là Gò Thông) nằm trên gò đất cao phía Tây Quỳnh Đô- Thanh Trì- Hà Nội

Phía Đông Bắc của Gò Chùa Thông có một con mương nhỏ, có lẽ đây chính là dấu tích của sông Tô Lịch trước đây chẩy qua gò

Chùa Thông cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km về phía Nam, cách sông Hồng khoảng 4.5km về phía Tây

Diện tích di chỉ ước tính khoảng một vạn mét vuông

Chùa Thông là di chỉ cư trú liên tục, tầng văn hóa dầy khoảng 2m Trong tầng văn hóa có hai lớp đất thể hiện hai giai đoạn phát triển văn hóa kế tiếp nhau Hiện vật khai quật được trong di chỉ này rất đa dạng: rìu, bàn mài, vòng đá, hạt chuỗi, đồ đồng gồm công cụ sản xuất, vũ khí, tượng động vật,

đục đồng, giáo đồng, lao đồng…Đồ gốm có dọi xe chỉ, thỏi đất nung, đồ xương là một chiếc bùa đeo cổ làm bằng răng nanh hổ có xuyên lỗ

Loại hình hiện vật, kỹ thuật chế tác đồng, đá và gốm của lớp đất văn hóa dưới của Chùa Thông gần với di chỉ Gò Mun…trong lớp đất văn hóa trên

có nhiều nét giống với di chỉ Đường Cồ, Nam Chính

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w