Đánh giá về những hạn chế trong việc phát huy nguồn lực văn hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tây Tựu huyện Từ Liêm, Hà Nội 73 Chương 3.. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TRANG NGÂN
NGUỒN LỰC VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂY TỰU, HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số : 60310640
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOAHỌC: TS NGUYỄN VĂN THẮNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN LỰC VĂN
1.1 Quan niệm về văn hóa và nguồn lực văn hóa 7
1.2.2 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới 13 1.3 Vai trò của nguồn lực văn hóa đối với việc xây dựng nông
Chương 2 THỰC TRANG PHÁT HUY NGUỒN LỰC VĂN HÓA
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂY TỰU, HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
26
2.1 Khái lược về xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm 26
2.2 Những thành tựu ban đầu trong việc phát huy nguồn lực
văn hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn xã Tây Tựu huyện Từ Liêm từ 2010 đến nay
Trang 32.2.3 Thực trạng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống 44 2.2.4 Thực trạng phát huy khoa học, công nghệ 68 2.2.5 Thực trạng phát huy nguồn lực quan hệ xã hội văn hóa 71 2.3 Đánh giá về những hạn chế trong việc phát huy nguồn lực
văn hóa trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã
Tây Tựu huyện Từ Liêm, Hà Nội
73
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NHẰM PHÁT HUY NGUỒN LỰC VĂN HÓA TRONG QUÁ
TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
TÂY TỰU, HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KTXH” Đảng đã cho thấy trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, văn hóa ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng đối với sự phát triển KTXH, đối với việc xây dựng con người Việt Nam Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (bổ sung, phát triển năm 2011), văn hóa môt lần nữa được xác định là tiêu chí quan trọng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng trên đất nước ta
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển KTXH, chính trị và an ninh quốc phòng Trong quá trình xây dựng NTM hiện nay việc phát huy các nguồn lực văn hóa là
vô cùng quan trọng, trong 19 tiêu chí xây dựng NTM thì có 2 tiêu chí thuộc lĩnh vực văn hóa Việc khai thác và phát huy các nguồn lực văn hóa không những giúp phát triển kinh tế mà còn cả văn hóa và xã hội Ở mỗi địa phương nhất định lại có những nguồn lực văn hóa khác nhau, mang lại những ảnh hưởng khác nhau đối với quá trình xây dựng NTM Là một công dân hiện nay đang sinh sống trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tôi rất mong muốn được tìm hiểu về văn hóa của địa phương từ đó có thể đóng góp một số giải pháp nhằm phát huy tốt hơn nữa những nguồn lực văn hóa đã và sẽ giúp cho quá trình xây dựng NTM ngày càng vững chắc
và đạt được nhiều thành tựu hơn Do điều kiện không cho phép nên luận văn này chỉ nghiên cứu một xã trên địa bàn huyện Từ Liêm là xã Tây Tựu, một trong những xã được chọn là đơn vị điểm về xây dựng NTM của huyện
Trang 5Từ Liêm và thành phố Hà Nội Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Nguồn lực văn
hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguồn lực văn hóa trong quá trình xây dựng NTM là một vấn đề còn khá mới mẻ, do đó cũng chưa có nhiều nhà khoa học nghiên cứu sâu.Tuy nhiên cũng có một số công trình ít nhiều đề cập đến một số nội dung mà tôi nghiên cứu Có thể thống kê một số công trình như:
- Văn hóa và đổi mới, Phạm Văn Đồng Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1994
- Văn hóa và phát triển, Trường Lưu (chủ biên), Nxb Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội, 1995
- Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội trong phát
triển, Phạm Xuân Nam (chủ biên) Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001
- Cơ sở triết học của văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Đỗ Huy (chủ
biên), Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2002
- Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại
hóa nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng, Lê Quý Đức (chủ
biên), Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2005
- Phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Phạm
Duy Đức (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009
- Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước
và Việt Nam, Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ
Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội, 2000
- Làng nghề, phố nghề Thăng Long, Hà Nội, Trần Quốc Vượng, Đỗ
Thị Hảo, Nxb khoa học – xã hội, Hà Nội, 2009
Trang 6- Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa, Vũ Oanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1998
- Lễ hội bơi chải truyền thống làng Đăm, xã Tây Tựu, huyện Từ
Liêm, thành phố Hà Nội, Đặng Thị Huyền, luận văn thạc sỹ trường Đại học
Văn hóa Hà Nội, 2011
Nhìn chung, những tài liệu trên đã có những đóng góp nhất định và ít nhiều đề cập đến vấn đề về nguồn lực văn hóa cũng như về xây dựng NTM Những công trình trên đây đã gợi mở cho tôi một số vấn đề, nhất là về
hướng nghiên cứu, hướng tiếp cận đối với đề tài Đặc biệt, công trình “Vai
trò của văn hóa trong sự nghiệp hóa – hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” của PGS TS Lê Quý Đức đã đi sâu
nghiên cứu vai trò của văn hóa, trong đó có nguồn lực văn hóa đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn Gần đây, PGS TS Lê Quý Đức và các đồng sự đã hoàn thành đề tài nghiên cứu về phát triển nguồn lực văn hóa của Thủ đô
Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình nào tập trung vào nghiên cứu vấn đề nguồn lực văn hóa để xây dựng NTM trên địa bàn một xã cụ thể
một cách có hệ thống Luận văn “Lễ hội bơi chải truyền thống làng Đăm,
xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” đã đề cập tới một nguồn
lực văn hóa là lễ hội, lễ hội là một hoạt động văn hóa giúp tăng tính cấu kết cộng đồng mạnh mẽ nhất và cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại Tây Tựu song đây chỉ là một trong số các nguồn lực văn hóa cần được phân tích trong đề tài này
Trang 7Vì vậy luận văn sẽ cố gắng tiếp cận với trường hợp cụ thể để tìm hiểu vai trò của nguồn lực văn hóa đối với việc xây dựng NTM trên một xã ngoại thành Hà Nội, cụ thể là xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nguồn lực văn hóa và mối quan hệ giữa nguồn lực văn hóa với xây dựng NTM trên địa bàn xã Tây Tựu huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
4.2 Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp liên ngành
+ Phương pháp điền dã
Trang 85 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích nghiên cứu
Từ thực tiễn hoạt động, làm rõ thực trạng xây dựng và phát huy những nguồn lực văn hóa trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
và vai trò của nó trong quá trình xây dựng NTM trên địa bàn xã hiện nay Qua
đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy tốt hơn những nguồn lực văn hóa đó trong việc xây dựng NTM
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về các nguồn lực văn hóa trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện
Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Khảo sát thực trạng sử dụng và phát huy các nguồn lực văn hóa của xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong quá trình xây dựng NTM hiện nay
- Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của các nguồn lực văn hóa đối với quá trình xây dựng NTM trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH hiện nay
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về nguồn lực văn hóa đối với quá trình xây dựng NTM trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, trong đó bước đầu hệ thống hóa các nguồn lực văn hóa trên địa bàn, trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm tiếp tục phát huy vị trí, vai trò của các nguồn lực văn hóa trong quá trình xây dựng NTM
Kết quả của luận văn hy vọng sẽ làm cơ sở đóng góp cho địa phương trong việc phát huy tốt hơn các nguồn lực văn hóa sẵn có và khai thác những nguồn lực văn hóa tiềm ẩn nhằm phục vụ tốt hơn cho quá trình xây dựng NTM trên địa bàn trong thời gian sắp tới
Trang 97 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về nguồn lực văn hóa và xây
dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng phát huy nguồn lực văn hóa trong quá trình
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội thời gian qua
Chương 3: Phương hương và những nhóm giải pháp cơ bản nhằm
phát huy nguồn lực văn hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN LỰC VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1 Quan niệm về văn hóa và nguồn lực văn hóa
1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn, nó bao hàm cả ý nghĩa vật chất và tinh thần
Để đi tới một quan niệm thích hợp về văn hóa, chúng ta cần xuất phát
từ tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen nói về các “lực lượng bản chất người” Trong cuốn “bản thảo kinh tế triết học” C.Mác viết: “Chúng
ta nhận thấy lịch sử công nghiệp và sự tồn tại của nền công nghiệp là quyển sách mở của các lực lượng bản chất người” Ở một tác phẩm khác, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Của cải là gì nếu không phải là sự biểu hiện tuyệt đối của những tài năng sáng tạo của con người, không cần đến tiền đề nào khác, ngoài sự phát triển lịch sử đã có, sự phát triển vốn lấy cái chỉnh thể của phát triển làm mục đích tự thân, tức là mọi lực lượng bản chất người, bất chấp quy luật đã định trước” [24, tr.39]
Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hóa chung của con người [23,tr.39]
Theo các đoạn trích trên đây, ta có thể nhận thấy C.Mác và Ph.Ăngghen lần đầu tiên chứng minh tính chất xã hội của các lực lượng bản chất người Một trong các lực lượng bản chất ấy là sức lao động, là tài năng sáng tạo của con người Đó không phải là các lực
Trang 11lượng bẩm sinh xuất hiện một cách bẩm sinh mà chúng biến đổi do tác động của các quan hệ xã hội, do trình độ phát triển văn hóa Các lực lượng bản chất người ấy được khách thể hóa thông qua hoạt động cải tạo thế giới của con người Chính hoạt động này là phương thức tồn tại và tái sản xuất ra đời sống xã hội [24, tr.39]
Tóm lại, theo ý kiến của hai ông, nghĩa thứ nhất của lao động đồng nghĩa với hoạt động sáng tạo, nó là hiện tượng thuộc về bản chất người, là biểu hiện tự do của tư chất tinh thần và thể chất của con người Lao động sáng tạo chính là khởi điểm của văn hóa [23,tr.39] Trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy ngẫm
về văn hóa:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [15, tr 431]
Như vậy, có thể thấy điểm thống nhất trong quan điểm của Hồ Chí Minh
và các nhà sáng lập ra học thuyết mác – xít về văn hóa là đều coi sáng tạo là cội nguồn của văn hóa Hồ Chí Minh tiếp cận văn hóa từ hai góc độ tâm lý học và
xã hội học Văn hóa là phẩm chất riêng có ở con người Nó là cái làm phân biệt giữa loài người và loài vật Văn hóa là tổng hợp các phương thức sinh hoạt, các phương thức sinh hoạt đó chính là lối sống Văn hóa là lối sống của một cộng đồng xã hội Từ cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về văn hóa và nền văn hóa, chúng ta có thể thấy, Hồ Chí Minh hiểu văn hóa theo nghĩa rộng, tức văn hóa là toàn bộ (global culture), phương diện tinh thần nhưng lại có mặt ở tất cả các hoạt động của con người, các lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời, ở đây đã
có sự phân biệt rõ ràng giữa văn hóa và nền văn hóa Nếu như định nghĩa văn
Trang 12hóa phản ánh bản chất, đặc trưng của văn hóa thì định nghĩa nền văn hóa được hiểu dưới góc độ một hệ thống các yếu tố Các yếu tố đó chính là những lĩnh vực chính của đời sống xã hội, từ xây dựng đạo đức, giáo dục, kinh tế đến chính trị Sự phân biệt giữa hai khái niệm này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong thực tiễn xây dựng nền văn hóa dân tộc Trong hệ thống văn hóa ở nước ta, văn hóa chính trị luôn đóng vai trò chủ đạo, là yếu tố chi phối các văn hóa khác Do vậy, để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa thực sự thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng cho sự phát triển trước hết phải bắt đầu từ văn hóa chính trị Những nỗ lực nhằm phát triển các yếu tố khác trong hệ thống chỉ có ý nghĩa thực sự khi có một văn hóa chính trị lành mạnh Một nền văn hóa lành mạnh chỉ khi được đặt trong một hệ thống xã hội lành mạnh Trong đó, những người lãnh đạo với tấm gương sáng về nhân cách
và trí tuệ sẽ là nhân tố quan trọng cho việc định hướng dân tộc trên con đường phát triển, xây dựng một môi trường văn hóa để nuôi dưỡng cho những giá trị dân tộc Xây dựng nền văn hóa không thể tách rời với xây dựng hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, giáo dục, xây dựng nền tảng đạo đức dân tộc và tinh thần độc lập tự chủ của dân tộc Chỉ có như vậy, nền văn hóa Việt Nam mới hình thành nên những thế hệ người Việt Nam có khát vọng, lý tưởng, trung thực, sáng tạo, nối tiếp nhau phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện đại, hòa nhịp với dòng chảy chung của nhân loại, là động lực mạnh mẽ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước
Khi tìm hiểu về quan niệm văn hóa không thể bỏ qua quan niệm về văn hóa của các nhà hoạt động chính trị - xã hội thuộc tổ chức UNESCO Tại hội nghị quốc tế ở Mêhico có hơn một nghìn đại biểu, những nhà văn hóa đại diện cho trên trăm nước, do UNESCO chủ trì họp từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982,
Trang 13người ta đã đưa ra hơn 200 định nghĩa Cuối cùng, trong bản tuyên bố chung, quan niệm văn hóa được chấp nhận là:
Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định cách của một xã hội hay của một nhóm trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng [25, tr.23,24]
Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa được xem là nhân tố có tác động tới những đổi thay kinh tế - chính trị chính vì thế những quan niệm về văn hóa rất đáng được suy ngẫm Những quan niệm về văn hóa bao giờ cũng đóng vai trò như hệ quy chiếu bên trong, quy định những chiến lược, chính sách về văn hóa Qua một số quan niệm vừa nêu trên, ta thấy được rằng lao động sáng tạo chính là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa, nhưng sáng tạo phải hướng về các giá trị nhân văn, nhằm hoàn thiện con người thì mới trở thành văn hóa đích thực
1.1.2 Quan niệm về nguồn lực văn hóa
Tổ chức Liên hợp quốc đã đề xướng “Thập kỉ thế giới văn hóa vì phát triển” (1988 – 1997), người ta coi “văn hóa ở vị trí trung tâm và điều tiết xã hội”, “ văn hóa là nguồn cổ xúy trực tiếp cho phát triển và phát triển đựơc khởi đầu và truyền bá bởi văn hóa” Đồng thời Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc cũng đưa ra một khái quát và cô đọng về văn hóa:
Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân
và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy cũng đã hình thành nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu – đặc tính riêng của mỗi dân tộc [24, tr.42]
Từ đó thấy rằng, văn hóa thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh, giao lưu, buôn bán, hội nhập quốc tế Trong quá trình hội nhập, vai trò của văn hóa được biểu
Trang 14hiện như là: trí thức, trí tuệ, phẩm chất tinh thần, nguồn lực cho quá trình hội nhập Trong thời đại ngày nay, con người tiến lên không chỉ nhờ vào sức mạnh cơ bắp
mà tiến lên bằng cái đầu thông tuệ của mình, các quốc gia dân tộc tác động, gây ảnh hưởng lẫn nhau không phải bởi sức mạnh chiến tranh mà bởi sức mạnh kinh
tế, khoa học công nghệ và nghệ thuật làm việc với con người (người lao động, đối tác và cả cơ quan quyền lực), ý chí quyết tâm, tinh thần sáng tạo…
Nguồn lực văn hóa là một khái niệm chưa thực sự phổ biến và cũng chưa
có khái niệm nào được chính thức công nhận Khái niệm nguồn lực ở đây được
đề cập giới hạn trong phạm vi phục vụ cho sự phát triển kinh tế và văn hóa mà
cụ thể ở đây là đối với phong trào xây dựng NTM, với tinh thần đó ta có thể định nghĩa nguồn lực là tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể tạo nên động lực phát triển cho một nền kinh tế - văn hóa Cụ thể hơn, nguồn lực văn hóa có thể hiểu là những thành tố của văn hóa có mối liên hệ qua lại với nhau trực tiếp hay gián tiếp tạo nên sự phát triển bền vững về KTXH
1.1.3 Cơ cấu nguồn lực văn hóa
Khái niệm trên cho chúng ta thấy hai điểm:
Nguồn lực tạo ra một nền kinh tế không phải chỉ có các yếu tố vật thể như các quan niệm cổ đại, mà nó còn có các yếu tố phi vật thể Đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại, các yếu tố phi vật thể có vị trí hết sức quan trọng
Cơ cấu của nguồn lực không cố định, mà có sự biến động (biến động về thành phần, về vai trò và vị trí của từng yếu tố) cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của xã hội loài người
Hiện nay trong xu thế phát triển mới của thời đại mà khoa học công nghệ đóng vị trí then chốt, thì nguồn lực văn hóa được xác định bao gồm các nhóm
cơ bản sau đây:
Trang 15- Nguồn lực con người: bao gồm tinh thần, trí tuệ trong con người
- Nguồn lực khoa học công nghệ
- Nguồn lực từ những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể
- Nguồn lực quan hệ xã hội văn hóa như: tư tưởng cộng đồng, ý chí cộng đồng, tinh thần đoàn kết cộng đồng
Trong cơ cấu các nguồn lực, mỗi nhóm nguồn lực có vị trí, vai trò khác nhau, tùy thuộc vào thời đại, vào thực trạng và chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, vùng miền, địa phương
1.2 Nông thôn mới
1.2.1 Khái niệm mô hình nông thôn mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khoá X về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn được ban hành ngày 5/8/2008 Sau 20 năm đổi mới, đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết toàn diện nhất về Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng NTM có kết cấu
hạ tầng KTXH hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Như vậy, NTM trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn
Trang 16và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo triển khai xây dựng NTM ở nước ta đang gặp phải 3 khó khăn lớn nhất: Đầu tiên là tăng nhanh, bền vững và thu nhập cho nông dân, mục tiêu đến 2020 thu nhập tăng gấp 2,5 lần hiện nay Khó khăn tiếp theo là xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu nhất là miền núi, vùng ĐBSCL, trong khi nguồn vốn đầu tư của Chính phủ rất hạn chế Cuối cùng là vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn, sao cho đến năm 2020 lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội
1.2.2 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM được ban hành kèm theo quyết định số 491/QĐ- TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ gồm 19 mục tiêu với những chỉ tiêu chung và riêng cho từng vùng, tuy nhiên với nội dung của luận văn này tôi sẽ chỉ đề cập đến chỉ tiêu cho vùng đồng bằng sông Hồng Với 19 tiêu chí ta có thể phân ra 11 nội dung như sau:
1.2.2.1 Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Quy hoạch NTM là bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch vụ,
hạ tầng KTXH - môi trường trên địa bàn, theo tiêu chuẩn NTM, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi làng, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện Tiêu chí này nhằm cơ bản phủ kín quy hoạch nông thôn trên địa bàn để làm cơ sở đầu tư xây dựng NTM, cụ thể là 3 nội dung:
* Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
* Quy hoạch phát triển hạ tầng KTXH - môi trường theo chuẩn mới
Trang 17* Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân
cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp
Trong quá trình thực hiện cần đảm bảo tuân thủ các văn bản pháp quy hiện hành về quy hoạch xây dựng; các quy định pháp lý có liên quan về bảo vệ các công trình kỹ thuật, công trình quốc phòng, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và bảo vệ môi trường Quy hoạch phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH của địa phương, từng vùng và quy hoạch phát triển ngành; gắn liền với định hướng phát triển hệ thống đô thị, các vùng kinh tế và phù hợp với bộ tiêu chí quốc gia về NTM; phải xác định cụ thể định hướng phát triển và đặc trưng của từng khu vực nông thôn; giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng trước mắt với phát triển lâu dài, giữa cải tạo với xây dựng mới; phù hợp với sự phát triển về kinh tế của địa phương và thu thập thực tế của người dân; sử dụng hợp lý vốn đầu tư, đất đai và tài nguyên trên địa bàn Trước khi thưc hiện các công trình phải có sự tham gia của người dân, cộng đồng dân
cư, từ ý tưởng quy hoạch đến huy động nguồn vốn, tổ chức thực hiện và quản
lý xây dựng Quy hoạch cần đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với nguồn vốn đầu
tư và điệu kiện KTXH của địa phương, định hướng, giải pháp, đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, môi trường điểm dân cư, hạn chế tối đa những ảnh hưởng do thiên tai, ngập lụt, nền đất yếu Các công trình cần bảo đảm hiện đại, văn minh nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của từng vùng, miền, từng dân tộc và ổn định cuộc sống dân cư, giữ gìn bảo tồn di sản và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, thích ứng với điều kiện thiên tai
1.2.2.2 Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
Thực tế cho thấy hạ tầng KTXH ngày càng đóng vị trí quan trọng trong
sự phát triển KTXH của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Hạ tầng KTXH là một trong những tiêu chí tổng hợp, đánh giá mức độ phát triển của
Trang 18một quốc gia Bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phát triển thì đều cần có một hệ thống cơ sở hạ tầng hòan chỉnh và đồng bộ, điều đó cũng có nghĩa là điều kiện tiền đề vật chất để thúc đẩy các hoạt động KTXH Hạ tầng KTXH nông thôn là những cơ sở vật chất và thiết chế cung cấp dịch vụ cho sinh hoạt kinh tế, xã hội, dân sinh trong cộng đồng làng xã và do làng xã quản
lý, sở hữu và sử dụng, làm nền tảng cho sự phát triển KTXH ở nông thôn Hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn bao gồm hạ tầng KTXH cho toàn ngành nông nghiệp và nông thôn của vùng, của làng, của xã và nó được hình thành và sử dụng vì mục đích phát triển KTXH của làng, xã Hiện nay, hạ tầng KTXH ở nông thôn thường được phân chia thành hạ tầng kinh tế - kỹ thuật như: Hệ thống thủy lợi, hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện, hệ thống thông tin liên lạc, cấp thoát nước…và hạ tầng văn hóa – xã hội như: các cơ sở giáo dục – đào tạo, cơ sở y tế, các công trình văn hóa và phúc lợi xã hội khác,cụ thể đối với chương trình xây dựng NTM gồm 7 nội dung bao gồm các tiêu chí 2, 3, 4,
5, 6, 7, 8, 9, 15
- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và hệ
thống giao thông trên địa bàn xã, các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông Vận tải Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải Tỷ
lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện (tiêu chí 2)
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện
phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật của ngành điện Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn (tiêu chí 4)
Trang 19- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về
hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH, TT& DL Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH, TT& DL (tiêu chí 6)
- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa
về y tế trên địa bàn xã (tiêu chí 15)
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa
về giáo dục trên địa bàn xã Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia (tiêu chí 5)
- Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ như: chợ, bưu
điện, nhà ở dân cư Trong đó chợ phải đạt chuẩn của bộ xây dựng (tiêu chí 7); Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, có Internet đến thôn (tiêu chí 8); Xóa bỏ nhà tạm và dột nát, nhà phải xây theo chuẩn của bộ xây dựng (tiêu chí 9)
- Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Hệ
thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa (tiêu chí 3)
1.2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập (tiêu chí số 10, 12 về thu nhập và cơ cấu lao động)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH là con đường tắt để đưa nước ta nhanh chóng thoát khỏi sự lạc hậu, phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập của người dân, chính vì vậy trong tiêu chí xây dựng NTM Nhà nước
ta đã đưa ra mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nhiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hoá, từ thuần nông sang phát triển nông thôn tổng hợp Các nhân
tố tác động lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn từ thuần nông sang phát triển nông thôn tổng hợp, bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn Cụ thể như sau:
Trang 20- Nội dung 1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp
theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
- Nội dung 2: Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu
ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;
- Nội dung 3: Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch
trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
- Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương
châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của từng địa phương
- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy
đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
1.2.2.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội (tiêu chí số 11)
Để trở thành một quốc gia phát triển không những cần chú trọng tới phát triển kinh tế mà quan trọng hơn cả là người dân được hưởng sự quan tâm, chăm sóc tối đa hay nói cách khác chính là vấn đề an sinh xã hội cần được đảm bảo Trong bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM cũng có đề cập tới nội dung này
cụ thể gồm các nội dung:
- Nội dung 1: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và
bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM;
- Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về
giảm nghèo;
- Nội dung 3: Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
Trang 211.2.2.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn (tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
Tiêu chí số 13 nêu rõ mục tiêu xây dựng các tổ hợp tác, hợp tác xã hoạt động hiệu quả, chuyên sản xuất, làm một số dịch vụ hoặc kinh doanh tổng hợp trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp…Cụ thể gồm 3 nội dung chính:
- Nội dung 1: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
- Nội dung 2: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
- Nội dung 3: Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa
các loại hình kinh tế ở nông thôn
1.2.2.6 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn (tiêu chí số 5 và 14
của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo
là đạt và duy trì được chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục, chống mù chữ, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, duy trì tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở trên 90% (xã đặc biệt khó khăn 70%) đồng thời tăng cường tỷ lệ lao động qua đào tạo để phục vụ cho phát triển kinh tế nông thôn Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND tỉnh chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án; đồng thời chỉ đạo thực hiện; UBND các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện
1.2.2.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn (tiêu chí số
5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y
tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia NTM Bộ Y tế chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án;
Trang 22- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và UBND tỉnh chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án theo các nội dung trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện;
- UBND các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện
1.2.2.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn (tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
Văn hóa luôn là một trong những yếu tố quan trọng góp phần xây dựng một đất nước phát triển Đời sống tinh thần có được quan tâm đầy đủ thì con người mới có tinh thần làm việc, phấn đấu xây dựng kinh tế Xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh đồng thời hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất văn hóa là nội dung chính trong tiêu chí 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM, phấn đấu đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã
có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa
xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn
1.2.2.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
Đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến 2015 có
35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
Trang 231.2.2.10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn (tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM; ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này; bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng NTM
1.2.2.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn (tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
- Nội dung 1: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh;
phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu
- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách
tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu của các tiêu chí xây dựng NTM
1.3 Vai trò của nguồn lực văn hóa đối với việc xây dựng nông thôn mới hiện nay
Xây dựng NTM, xét từ một góc độ nào đó chính là quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường
Trang 24Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan
hệ sản xuất phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ - công bằng – văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, điều kiện KTXH quyết định sự phát triển của văn hóa Tuy nhiên, văn hóa có tính độc lập tương đối cao và càng ngày con người càng nhận thức đầy đủ hơn vị trí, vai trò của
nó đối với sự phát triển KTXH UNESCO đã xem văn hóa là cơ sở, là động lực, là hệ điều tiết đối với sự phát triển bền vững
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KTXH Quan điểm trên đây của Đảng đã khái quát đầy đủ vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển KTXH Nói văn hóa là động lực của sự phát triển, trước hết và chủ yếu là nói đến yếu tố con người, nguồn lực con người và cùng với nó là tri thức khoa học – công nghệ, giáo dục, tay nghề, đạo đức, lối sống, nếp sống, phong tục tập quán tốt đẹp… Chúng ta đều biết văn hóa do con người sáng tạo
ra, là thành quả của bao thế hệ kết tinh lại, nhưng đồng thời con người cũng là sản phẩm của văn hóa Trong quá trình tương tác ấy, văn hóa cũng trở thành nhân tố chi phối toàn bộ hoạt động của con người, khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển KTXH Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường chú trọng khai thác yếu tố lao động của con người cho sự phát triển Ngày này, khi mà cuộc cách mạng KHKT đang bùng nổ và có những bước tiến mạnh mẽ thì yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, sự sáng
Trang 25tạo, thông tin cùng với sự đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú của mỗi người cũng như toàn xã hội
Trong thời đại ngày nay, để phát triển được đất nước phụ thuộc vào khả năng tận dụng, phát huy các nguồn lực tổng hợp: lao động, vốn, KHKT, tài nguyên thiên nhiên, chủ trương đường lối, định hướng phát triển và tiềm năng sáng tạo của con người là một nguồn lực to lớn Những yếu tố này chính là nguồn lực văn hóa, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo, là ý chí tự lực tự cường, khả năng hiểu biết, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của cá nhân và cộng đồng Trong sự nghiệp phát triển của xã hội, kinh tế và văn hóa luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại chặt chẽ, không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn hóa với tư cách là nhân tố trực tiếp tham gia quá trình phát triển KTXH Nhận thức được vấn đề này từ sớm Đảng ta đã khẳng định vai trò
to lớn của văn hóa trong quá trình phát triển KTXH Có thể lấy dẫn chứng từ thành phố Hà Nội, cùng với sự phát triển KTXH của thành phố và cả nước, đặc biệt là sau khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Hà Nội có những biến động lớn Từ chỗ chỉ có 1 triệu nông dân, hiện nay Hà Nội đã có đến hơn 4 triệu nông dân, chiếm 63,1% dân số toàn thành phố, từ chỗ chỉ có 5 huyện ngoại thành, Hà Nội hiện nay có tới 18 huyện ngoại thành với 401 xã, diện tích 2.841,8 km² , chiếm 84,9% diện tích tự nhiên của thành phố Tỷ lệ hộ nghèo cũng tăng lên đột ngột (chủ yếu do tỷ lệ hộ nghèo của các huyện mới sáp nhập cao hơn tỷ lệ hộ nghèo của các huyện ngoại thành cũ), những biến động này đã tạo ra nhiều thời cơ song khó khăn và thách thức cũng không hề nhỏ Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, chưa bao giờ nguồn lực văn hóa của thủ đô lại được phát huy một cách tối đa như những năm vừa qua, có thể nhận thấy nguồn lực văn hóa đã góp phần làm cho cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp của Hà Nội nói riêng từng
Trang 26bước chuyển dịch theo hướng tích cực Quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Hà Nội biểu hiện rõ nét qua việc đẩy nhanh việc chuyển dịch, tái cơ cấu, phát triển mạnh mẽ các ngành, nghề, sản phẩm thương hiệu có giá trị Thành phố chú trọng đẩy mạnh phát triển các dịch vụ, các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Đối với việc phát triển
đô thị, thành phố chủ trương gắn với việc xây dựng nông thôn ngoại thành giàu mạnh, văn minh, hiện đại, chú trọng quan tâm bảo vệ, cải thiện môi trường, phát triển hạ tầng, kỹ thuật và xã hội ở các vùng còn khó khăn, vùng nông thôn, góp phần tạo ra môi trường văn hóa ngày càng tốt hơn, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của thủ đô cả về trước mắt và lâu dài Dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa – đô thị hóa, số lượng nông dân Hà Nội ngày càng giảm, số lượng lao động công nghiệp và dịch vụ của thành phố ngày một tăng, tỷ trọng và số lượng lao động trong nông nghiệp ngày một giảm Quá trình này đã và đang diễn ra nhanh hơn so với các tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước
Nhờ có những chính sách hợp lý, huy động được tối đa các nguồn lực: sức người, sức của cho sản xuất nông nghiệp nên mặc dù diện tích đất nông nghiệp của thành phố bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa nhưng hiệu quả sản xuất nông nghiệp vẫn tăng lên đáng kể qua các năm Ngoài ra, nguồn lực văn hóa được tăng cường là một trong những lý do để Hà Nội thu hút được hàng chục tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong đó, khu vực nông thôn đón nhận một nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển, nhiều quy hoạch phát triển
đã và đang được tập trung xây dựng, hoàn thiện Nguồn lực văn hóa cũng góp phần nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, chuyển đổi ngành nghề, cây trồng, vật nuôi không những thế nguồn lực văn hóa cũng đã góp phần phục hồi và phát triển nhiều ngành nghề thủ công truyền thống
Trang 27Xét về vai trò của nguồn lực văn hóa đối với việc xây dựng NTM, trong quá trình xây dựng NTM phải huy động các yếu tố về văn hóa, phải hoạch định bằng con mắt, văn hóa, cảm quan văn hóa, trên nền tảng văn hóa chứ không phải từ những suy nghĩ chủ quan, vội vàng Quy hoạch xây dựng NTM theo hướng văn minh, tiện lợi, hướng tới giá trị trong tương lai xa làm sao vừa bảo tồn được những nét đẹp văn hóa của địa phương đồng thời từng bước đưa nông thôn lên đô thị Quy hoạch để tạo ra một môi trường, một không gian văn hóa
để giúp cho hiện đại hóa, đô thị hóa, nghĩa là hài hòa giữa cái cũ và cái mới, cái truyền thống với cái hiện đại và phải phù hợp với những con người sống ở đó Trong những làng quê được quy hoạch như vậy, người ta sẽ sống nhân văn hơn, vừa giữ được truyền thống lại vừa văn minh hiện đại Rất nhiều nơi khi quy hoạch đã bỏ qua yếu tố nguồn lực văn hóa, yếu tố văn hóa trong quy hoạch NTM không chỉ là vấn đề xây dựng những thiết chế văn hóa gì, đặt những công trình gì? ở đâu? Mà còn là vấn đề làm thế nào để những gì được vẽ ra thực sự
là kết tinh của trí tuệ, của tâm hồn, của ý chí, nguyện vọng của đông đảo cư dân, nghĩa là đáp ứng chính những nhu cầu của người dân đang sinh sống trên địa bàn
Trang 28Tiểu kết chương 1
Nguồn lực văn hóa là một trong những nguồn lực quan trọng để đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn Nguồn lực văn hóa tác động một cách trực tiếp, trở thành yếu tố bên trong của sản xuất, có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển KTXH Dĩ nhiên, trong quá trình phát triển KTXH, xây dựng NTM, những tác động tiêu cực, bảo thủ của các nguồn lực văn hóa là điều khó tránh khỏi Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để phát huy một cách tối đa yếu tố tích cực, hạn chế đến mức tối đa yếu tố tiêu cực của nguồn lực ấy
Để phát triển lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và xây dựng NTM của cả nước nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng, hơn lúc nào hết, cần phải xem xét việc khai thác, sử dụng các nguồn lực văn hóa không chỉ là một yêu cầu tự thân mà còn là một việc có tính chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài để phát triển nền văn hóa – kinh tế của đất nước
Trang 29Chương 2 THỰC TRANG PHÁT HUY NGUỒN LỰC VĂN HÓA
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂY TỰU, HUYỆN TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
2.1 Khái lược về xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm
2.1.1.Điều kiện tự nhiên
Tây Tựu là một xã ven đô thuộc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Việt Nam Xã có địa bàn giáp ranh:
+ Phía Bắc giáp xã Thượng Cát
+ Phía Đông giáp xã Liên Mạc
+ Phía Đông Nam giáp xã Minh Khai
+ Phía Nam giáp xã Xuân Phương
+ Phía Tây Nam giáp xã Kim Chung – Hoài Đức
+ Phía Tây giáp xã Đức Giang – Hoài Đức
+ Phía Tây Bắc giáp xã Tân Lập - Đan Phượng
Trên xã có đường quốc lộ 70 chạy qua thôn Thượng ( Hà Nội – Sơn Tây), phía Bắc là đường đê sông Hồng số 23, xã có chiều dài 2km, chiều ngang 500m
Tây Tựu là một tiểu vùng nằm phía Tây Sông Nhuệ và phía Bắc đường quốc lộ 32 có diện tích đất trồng hoa màu cao và tập trung Đây là vùng được phân bố trên loại đất phù sa cổ Sông Hồng không được bồi đắp thường xuyên,
Trang 30có địa hình bằng phẳng, thấp so với khu vực Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm từ 30,9 - 32,8°C (tháng 5,6,7,8,9) với nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm (từ 37,1 - 42,8°C, thấp nhất 13,8 - 15°C (tháng 01 - 02) Lượng mưa trung bình năm 1.680 mm, lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung vào mùa hè (từ tháng 05 đến tháng 10), lượng mưa chiếm 85% với lượng mưa trung bình từ 123 - 323mm Lượng mưa 6 tháng vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4) chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm với lượng mưa trung bình từ 18-81mm
+ Nhân khẩu: 20.978 người
+ Lao động trong độ tuổi: 13.635 người, chiếm 64,99 % dân số
Trang 31Trong đó số lao động trong độ tuổi thực tế tham gia lao động: 10.279 người; phân theo ngành nghề: nông nghiệp: 6.167 người (60 %); công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp - xây dựng: 616 người (5,99 %); thương mại - dịch vụ - hành chính sự nghiệp: 3.496 ( 34,01 %)
2.1.2 Điều kiện kinh tế - chính trị
2.1.2.1 Đời sống kinh tế
Theo lời kể của các cụ cao tuổi trong làng thì từ xa xưa người dân Tây Tựu chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, cây lương thực chính là cây lúa Đây cũng là vùng quê sản sinh ra một trong 5 đặc sản của đất kinh
kỳ: Vải Quang, húng Láng, ngổ Đăm, Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây Trải
qua hàng ngàn năm vật lộn đấu tranh với thiên nhiên để xây dựng và cải tạo đồng ruộng, người dân Tây Tựu đã tạo nên những cánh đồng bằng phẳng tươi tốt: Đồng trong, đồng ngoài, đồng Đăm và các xứ đồng A, độ Gạo, Cầu Khu, cửa Đống Chay, Yên Ngựa, đồng Rượu, đồng Trôi, đồng Nhổn, cửa Chùa…Bên cạnh cây lúa, người dân còn trồng xen kẽ các nông sản khác như: ngô, khoai, sắn, đậu…Người Tây Tựu vốn cần cù chịu khó đã tạo ra giống ngô Đăm nổi tiếng nhân dân thường gọi là ngô “mũi quay” có chất lượng và năng suất cao Việc xen canh, gối vụ trồng ngô xen lẫn đậu trắng, đậu vàng, trồng cà chua xen với ngô…giúp người dân có thêm thu nhập, quay vòng vốn tốt hơn Tây Tựu có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp Dòng sông Nhuệ chảy qua cung cấp nguồn nước ngọt quanh năm phục vụ nông nghiệp Từ lâu người dân Tây Tựu đã chuyển từ thâm canh lúa sang trồng rau, củ, quả cung cấp cho thị trường Hà Nội và các vùng xung quanh Sản phẩm rau quả chủ yếu của Tây Tựu là các loại rau xanh, rau cải, bắp cải, xu hào, xúp lơ, củ cải…rau thơm, hành, thì là, rau mùi.v v…Về quả
có dưa hấu, dưa hồng, dưa gang, dưa ớt, dưa chuột, cà chua…Đó là các loại
Trang 32rau, củ, quả truyền thống Về sau này các giống cải từ nước ngoài được đưa
về Tây Tựu do sự phù hợp với tập quán và vùng đất Tây Tựu đã mang lại năng suất và giá trị kinh tế cao như: Bắp cải KK, dưa lê, dưa hồng, dưa kim, dưa lê vỏ mỏng ruột ròn ăn mát thơm như vị lê được thị trường Hà Nội và các nơi ưa thích
Người Tây Tựu chất phát cần cù, chịu khó vốn có nghề trồng rau quả nên sớm được tiếp cận với kinh tế thị trường, điều này khiến cho tư duy của người Tây Tựu nhạy bén, biết cải tiến kỹ thuật, giống cây quả, chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với thị trường hàng hóa rau quả
Dưới chế độ phong kiến nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu của Tây Tựu là tự cung, tự cấp Từ đầu thế kỷ 19 chợ Đăm được thành lập và trở thành trung tâm giao lưu, trao đổi hàng hóa nông sản, đồ dùng gia đình, hàng thủ công, phương tiện sản xuất của Tây Tựu và các vùng xung quanh Chợ Đăm nằm trong khuôn viên đình Đăm Chợ họp mỗi tháng 6 lần (phiên) vào các ngày mùng 4, 9, 14, 19, 24 và 29 âm lịch Chợ họp trong sân đình bên dòng sông Pheo (sông Nhuệ) Chợ Đăm là trung tâm giao lưu hàng hóa đông vui của nhân dân quanh vùng Năm 2005 chợ hoa Tây Tựu được khánh thành
và đưa vào sử dụng Chợ Đăm trong khu Đình được chuyển ra họp tại chợ hoa Tây Tựu, toàn bộ khu đình Đăm trả lại cho khuôn viên di tích Nền sản xuất hàng hóa sớm hình thành và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã giúp cho người Tây Tựu phát huy thế mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng đáp ứng nhu cầu thị trường ở quanh vùng và thủ đô
Từ năm 1995 trở lại đây, được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Tây Tựu, người dân Tây Tựu đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng rau sang trồng hoa chất lượng cao như: hoa hồng, hoa cúc, hoa ly, hoa loa kèn, lay ơn, hoa đồng tiền…vì thế đời sống
Trang 33nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân giàu lên trông thấy Nghề trồng hoa ở Tây Tựu nhờ vậy mà ngày càng phát triển, trở thành một làng hoa mới nổi của thủ đô Hà Nội Trung tâm chợ hoa Tây Tựu được xây dựng góp phần thúc đẩy thị trường tiêu thụ hoa không ngừng mở rộng Đây chính là điều kiện cần thiết
để Tây Tựu phát triển nghề trồng hoa Đặc biệt, Tây Tựu đang thực hiện dự
án của Thành phố Hà Nội về mô hình trồng hoa chất lượng cao, đến nay đời sống kinh tế của người dân tương đối ổn định, từng bước phát triển, thu nhập
từ trồng hoa ngày một cao Ước tính năm 2012, thu nhập bình quân 28.800.000 đ/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, còn 105 hộ, còn lại là hộ trung bình, giàu và khá Không còn nhà tranh, tre dột nát, đường trục làng được bê tông hóa, hệ thống đường giao thông phục vụ bà con đi làm đồng đang được bê tông hóa toàn bộ giúp bà con yên tâm trong công cuộc phát triển kinh tế tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, 100% số hộ được sử dụng điện và nước sạch Hệ thống cống rãnh được tu sửa, đã nạo vét 1700m² để đảm bảo không bị ngập úng mùa mưa bão Tuy nhiên hiện tại cứ sau mỗi vụ bão về người trồng hoa Tây Tựu lại lao đao vì ruộng hoa bị ngập úng, chia sẻ về điều này chủ tịch xã Tây Tựu cho biết dù đã vận hành hết công suất 2 trạm bơm để cứu vãn tình thế song công tác xử lý tiêu nước diễn ra chậm vì việc tiêu nước
ra sông Pheo phụ thuộc vào nước sông Nhuệ, nếu nước sông Nhuệ lên cao thì việc tiêu úng là rất khó
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức
Tây Tựu có 1 Đảng bộ với 217 Đảng viên được chia thành 11 chi bộ (tính đến tháng 8/2013) Trong nhiều năm qua Đảng bộ xã luôn được Đảng
bộ huyện Từ Liêm công nhận là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh Bên cạnh
đó, các ngành đoàn thể cũng được đánh giá cao: 11 năm liền được thành phố tặng danh hiệu lá cờ đầu về mọi phong trào kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa xã hội…
Trang 34Tính đến năm 2013, xã Tây Tựu có 4384 hộ được tổ chức thành 3 thôn
và 1 tổ dân phố, ba thôn là thôn Thượng hay còn gọi là miền Thượng, thôn Trung hay gọi là miền Trung và thôn Hạ còn gọi là miền Hạ Mỗi một thôn có
4 cụm dân cư và bầu ra 1 trưởng thôn, 4 phó thôn (4 phó kiêm nhiệm luôn chức danh cụm trưởng cụm dân cư) Trưởng thôn, phó thôn và cụm trưởng cụm dân cư do nhân dân bầu ra và làm việc theo nhiệm kỳ 2 năm rưỡi, được chính quyền xã ra quyết định công nhận Trong mỗi thôn đều có chi bộ lãnh đạo, có các đoàn thể chính trị xã hội như: chi hội Phụ nữ, chi đoàn Thanh niên, chi hội Nông dân, chi hội cựu Chiến binh, chi hội Chữ thập đỏ, chi hội cựu Thanh niên xung phong, chi hội Người cao tuổi…
Trưởng thôn là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong thôn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân đồng thời trưởng thôn còn là người đại diện cho chính quyền giải quyết các vấn đề có liên quan tới người dân trong phạm vi thẩm quyền của mình, là người điều hành, tổ chức các hoạt động lễ hội tín ngưỡng, vui chơi giải trí của người dân trong thôn mình trong các dịp lễ, tết, hội hè Kinh phí phụ cấp cho trưởng, phó thôn lấy từ ngân sách hoạt động của xã
Cũng như nhiều làng ở đồng bằng Bắc Bộ, để đảm bảo duy trì trật tự an toàn xã hội, sinh hoạt của đời sống nhân dân trong thôn xóm, đảm bảo cơ cấu
tổ chức làng xã, từ xưa người dân làng Tây Tựu cũng đã xây dựng được cho mình một bộ hương ước của làng Sau quá trình thăng trầm của lịch sử, việc thực hiện quy ước, hương ước của cư dân nơi đây đã dần trở thành tiềm thức trong mỗi người Theo cuốn “phong tục thể lệ khoán ước” của xã còn lưu lại thì hương ước của làng được quy định rất cụ thể, chặt chẽ về đời sống, sinh hoạt cá nhân và cộng đồng như: quy định về các mối quan hệ xã hội, các sinh hoạt văn hóa, việc tang lễ, ma chay, cưới xin, lễ hội, an ninh trật tự, chế độ thưởng phạt…
Trang 35Những hương ước từ xưa đến nay căn cứ vào điều kiện thực tế đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Hương ước thôn Thượng, thôn Trung, thôn Hạ đã được xây dựng năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2006 Đây là một văn bản quan trọng, là cơ sở để người dân trong làng, xã thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Sự tồn tại của hương ước làng văn hóa không những là một nét đẹp văn hóa mà việc thực hiện các quy ước của làng nhẳm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân trong làng, xã còn góp phần xây dựng Tây Tựu văn minh, giàu đẹp
2.1.3 Đời sống văn hóa – xã hội
Theo sách Làng xã ngoại thành Hà Nội thì Tây Tựu xưa vốn gọi là Tây Đàm, vì kiêng tên huý vua Lê Thế Tông (1573 - 1600) nên đổi gọi là Tây Đăm; đến nhà Nguyễn, vì kiêng quốc huý đổi gọi là Tây Tựu cũng là tên một trong 13 tổng thuộc phủ Hoài Đức cũ Đây là một trong bốn nơi mà lễ hội có nét riêng đặc sắc nhất vùng châu thổ sông Hồng, những nét riêng ấy đã đi vào
ca dao:
Trong quá trình tạo dựng và phát triển làng xã, Tây Tựu không những
đã hun đúc nên một truyền thống văn hóa dân gian phong phú mà còn xây dựng nên một truyền thống học tập và khoa bảng nổi tiếng Trên cơ sở những tài liệu còn giữ lại thì đây là một địa danh tiêu biểu cho truyền thống hiếu học của người xưa Người dân có thể tự hào với một danh sách dài những người con đỗ đạt, làm quan tại các triều đại hiện vẫn còn được lưu danh tại các nhà thờ họ, phủ thờ Toàn xã có tới 3 người được phong Nguyên soái và 9 người
Trang 36được phong là Quận công Truyền thống hiếu học của làng Đăm xã Tây Tựu đang được kế tục, phát huy tốt trong thời đại ngày nay Mỗi gia đình, mỗi dòng họ đều đặt việc học hành của con cháu lên hàng đầu, chăm lo động viên thế hệ trẻ để truyền thống khoa bảng, hiếu học còn tiếp nối mãi mãi tới các thế hệ sau [13]
Làng Đăm xã Tây Tựu vốn là một làng cổ, do được hình thành từ lâu đời nên phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân nơi đây mang đậm nét văn hóa cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ Có thể nêu ra đây một số phong tục tập quán được lưu truyền từ đời này sang đời khác như: tang ma, cưới hỏi, giỗ Tết, khao vọng, hội hè…Ngoài các phong tục tập quán vẫn còn được lưu giữ thì ngày nay rất nhiều các di tích lịch sử tại đây vẫn còn được bảo tồn như: Đình Trung, miếu Thượng, đình Hạ, chùa Hưng Khánh, nhà thờ họ Nguyễn, nhà Thủy đình (còn gọi là nhà Thủy tọa hay Lạc Xuân Đài), quần thể khu đình Đăm, nhà thuyền và đường đua thuyền làng Đăm…đã được công nhận là di tích quốc gia
Người dân Tây Tựu luôn tự hào có một bề dày truyền thống văn hóa lâu đời, những di tích lịch sử văn hóa là một minh chứng thời đại cho những cống hiến của những người con ưu tú nơi đây Nhận thức được điều đó, người dân Tây Tựu luôn có ý thức bảo tồn, gìn giữ các di tích lịch sử, các truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc để có thể giáo dục cho thế hệ sau về lòng yêu nước, tự tôn dân tộc và những nét đẹp văn hóa mà cha ông đã dầy công xây dựng
Ngày nay, Tây Tựu là một xã luôn đi đầu trong phong trào văn hóa của huyện Nhà văn hóa 3 thôn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao, là nơi các em học sinh tham gia sinh hoạt hè, là nơi tổ chức các buổi hội, họp đã đáp ứng nhu cơ bản nhu cầu sinh hoạt, vui chơi
Trang 37giải trí cho nhân dân Các câu lạc bộ quan họ, cờ tướng, hội sinh vật cảnh, câu lạc bộ tiếng Anh…hoạt động thường xuyên và sôi nổi tạo ra sân chơi bổ ích, thiết thực cho người dân ở mọi lứa tuổi sau những giờ làm việc và lao động căng thẳng
2.2 Những thành tựu ban đầu trong việc phát huy nguồn lực văn hóa trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Tây Tựu huyện
Từ Liêm từ 2010 đến nay
2.2.1 Thực trạng phát huy nguồn lực con người
2.2.1.1 Chăm lo xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Với nhận thức sâu sắc của cán bộ đảng viên xã Tây Tựu coi giáo dục là quốc sách, vì vậy mục tiêu cơ bản trong phát triển giáo dục đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chính vì lẽ đó xã đã phấn đấu 100% trẻ em trong trong độ tuổi đi học được tới trường Hiện nay trên địa bàn
xã Tây Tựu có tất cả 1 trường mầm non công với 3 cơ sở tại 3 thôn (1 khu trung tâm tại thôn 2 và 2 điểm lẻ tại thôn 1 và 3) cùng rất nhiều trường mầm non tư thục, 2 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở đều đã đạt danh
hiệu trường chuẩn quốc gia
Đối với trường mầm non, tại trường mầm non thôn 1 hiện có 5 phòng học đạt chuẩn, trường mầm non thôn 2 có 2 dãy nhà 2 tầng gồm 6 phòng học đạt chuẩn, phòng hành chính, công trình phụ trợ như sân, bể nước ngầm, bếp
ăn đều được đảm bảo phục vụ tốt ngoài ra trường mầm non tại thôn 3 đã được đầu tư xây mới với diện tích 3.600m² với tổng mức đầu tư lên tới 12 tỷ đồng
đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu dạy và học Các giáo viên đều là những người tốt nghiệp chuyên ngành mầm non, sư phạm có lòng yêu nghề
Trang 38Trường tiểu học Tây Tựu A, Tây Tựu B với tổng diện tích 20.890m² với cơ sở vật chất liên tục được bổ sung mua sắm Cả hai trường đang phấn đấu sẽ đạt danh hiệu chuẩn quốc gia cấp độ 2 trong thời gian tới
Trường Trung học cơ sở Tây Tựu có tổng diện tích 7.387 m² với 23 phòng đã được kiên cố hóa 100% hiện đã đạt danh hiệu chuẩn quốc gia cấp
độ 1 và vẫn tiếp tục xây dựng, bổ sung trang thiết bị cùng cơ sở vật chất để phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy và học tập Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tại Tây Tựu luôn giữ mức 99,8%
Về chất lượng giáo dục các trường đều chú trọng việc nâng cao trình độ giảng dạy của đội ngũ giáo viên đồng thời thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua của ngành giáo dục, chống mọi biểu hiện tiêu
cực trong giáo dục Triển khai các phong trào xây dựng “Nhà trường văn hóa
– Nhà giáo mẫu mực – Học sinh thanh lịch”, “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Mỗi thầy cô là một tấm gương tự học và sáng tạo” Phong
trào xây dựng gia đình văn hóa đối với cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường, có 95% gia đình giáo viên đạt gia đình văn hóa ở địa phương Thực hiện phổ cập trung học phổ thông cho các đối tượng theo quy định Xã đã chú trọng công tác khuyến học, khuyến tài và nâng cao hiệu quả học tập của trung tâm học tập cộng đồng, vận động trẻ khuyết tật ra các lớp học để có thể hòa nhập với cuộc sống
2.2.1.2 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trang bị kiến thức, kỹ năng cho người lao động
Các cán bộ xã là nguồn nhân lực cốt cán giữ vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và triển khai các chính sách, phong trào tại địa phương, do
đó việc đào tạo nguồn nhân lực này hết sức quan trọng Hiện nay xã Tây Tựu
có tổng cộng 25 người trong đó có 1 thạc sĩ, 23 cử nhân và 1 người tốt nghiệp
Trang 39trung cấp Cán bộ xã thường xuyên được trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ qua các lớp tập huấn được huyện và thành phố tổ chức, ngoài ra lãnh đạo xã cũng khuyến khích việc học tập, nâng cao trình độ, có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút nhân tài về làm việc
Là một xã có thu nhập chính từ nghề trồng hoa do vậy việc mở các lớp đào tạo ngắn hạn cho người dân về nghề trồng hoa cũng được lãnh đạo xã quan tâm Các lớp học ngắn hạn (3 tháng) được phối hợp thực hiện cùng trung tâm khuyến nông về công nghệ trồng và chăm sóc hoa đã phần nào giúp bà con có thêm nhiều kiến thức khoa học hữu ích Trong thời gian 3 tháng các học viên sẽ được học tập các nội dung cơ bản trong việc lựa chọn giống, kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho một số loại hoa cây cảnh Trong đó hình thức học
sẽ chủ yếu là thực hành Các học viên sẽ chia nhóm nhỏ, học trực tiếp tại thực địa và tiến hành rút kinh nghiệm Các lớp đào tạo hướng đến mục tiêu giúp bà con hình thành mô hình sản xuất hoa công nghệ cao với quy mô lớn nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân khu vực, cải thiện cảnh quan môi trường và gắn sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái du lịch của thành phố Hà Nội Ngoài ra xã tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghề cho người nông dân đặc biệt là các hộ mất đất do giải phóng mặt bằng trong các dự án để chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp Đây là
đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" theo quyết định
1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Trong đó người tham gia các khoá đào tạo nghề được hưởng những chính sách ưu đãi và các phương thức tổ chức đào tạo nghề theo đề án 1956 của huyện Đặc biệt theo đề án người dân chỉ được hỗ trợ học 1 nghề và những người được hỗ trợ học nghề theo chính sách khác của nhà nước thì cũng không thuộc đối tượng của đề án Có thể nói chính sách này của các cấp lãnh đạo là rất hợp lý và biết nắm bắt tình hình Những năm về trước, các hợp tác xã ở Tây Tựu hoạt động theo mô hình hợp tác xã
Trang 40toàn dân, chuyên sản xuất rau màu như cà chua, dưa lê, rau cải, rau thơm đan xen cấy lúa nên thu nhập của người dân nơi đây rất thấp Từ khi thực hiện chương trình phát triển kinh tế huyện Từ Liêm, xã Tây Tựu được quy hoạch là vùng chuyên sản xuất hoa và đầu tư phát triển trọng điểm của thành phố, hoạt động kinh tế của xã bắt đầu có những đổi thay rõ nét Ban đầu, trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, người dân Tây Tựu mới chỉ biết sản xuất một số loại hoa truyền thống như hồng, cúc, thược dược, violet theo kinh nghiệm và dựa vào nguồn vốn gia đình là chính Được Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đầu tư thực hiện mô hình trồng hoa chất lượng cao, kịp thời được vay vốn từ nguồn Quỹ Khuyến nông thành phố, đến nay nghề trồng hoa đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất với thu nhập đạt 10-12 triệu đồng/sào/năm, 300-500 triệu đồng/ha/năm Có thể lấy dẫn chứng điển hình là gia Anh Nguyễn Công Ban, một nông dân điển hình làm kinh tế giỏi ở xã Tây Tựu Xuất thân từ một gia đình thuần nông, ban đầu anh Nguyễn Công Ban ở chi hội nông dân thôn Hạ xã Tây Tựu cũng chọn trồng lúa là nghề chính, tuy nhiên thu nhập không cao, thời gian nông nhàn lại nhiều Khi nhà nước có chủ trương về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thấy nghề trồng hoa ở địa phương phát triển, anh Nguyễn Công Ban đã bàn với vợ mạnh dạn chuyển đổi 4 sào ruộng nhận khoán của hợp tác xã sang trồng hoa hồng và hoa cúc Ban đầu do thiếu vốn, kinh nghiệm chưa nhiều, đầu ra chưa có, lại vấp phải nhiều khó khăn về kỹ thuật, khí hậu nên phải mất đến 3 năm sau, vườn hoa của gia đình anh Ban mới thực
sự đem lại hiệu quả kinh tế
Hiện nay, ngoài 4 sào đất của gia đình, anh Ban còn thuê thêm hơn 1 mẫu đất của những người dân trong xã và các vùng lân cận để trồng hoa, trong
đó có 4 sào hoa hồng và hoa cúc diện tích còn lại là hoa đồng tiền Chia sẻ về
kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa đồng tiền, anh Ban đã cho biết: Để trồng hoa đồng tiền thì đất trồng phải tơi xốp, độ thoáng cao, nhiều mùn, chủ động