Bên cạnh đó, công tác tiếp dân của Ủy bannhân dân phường còn một số hạn chế như: công tác tuyên truyền pháp luật nhất là Luậtkhiếu nại tố cáo chưa thật sự sâu rộng, các dự án quy hoạch t
Trang 1BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN
TÊN CHUYÊN ĐỀ:
Hoạt động tiếp dân ở UBND phường Sài Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà
Nội THUỘC BỘ MÔN:
Luật Hành Chính
CƠ SỞ THỰC TẬP:
UBND PHƯỜNG SÀI ĐỒNG
NĂM 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo thực tập do tôi thực hiện trong thời gian thực tập tại cơ quan tiếp nhận thực tập Các nội dung trong báo cáo là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.
Cán bộ hướng dẫn thực tập (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐẾ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TIẾP DÂN 2
1.1 Công tác tiếp dân và mục đích của công tác tiếp dân 2
1.1.1 Khái niệm về công tác tiếp dân 2
1.1.2 Mục đích của công tác tiếp dân 2
1.2 Các quy định pháp luật về công tác tiếp dân 2
1.2.1 Thẩm quyền tiếp dân của Ủy ban nhân xã theo quy định của pháp luật 3
1.2.2 Lịch tiếp dân 3
1.2.3 Người có trách nhiệm tiếp dân 4
1.2.4 Nơi tổ chức tiếp dân 4
1.2.5 Thời gian tiếp công dân 5
1.2.6 Trách nhiệm của người tiếp dân 5
1.2.7 Những hành vi nghiêm cấm tại nơi tiếp công dân 6
1.3 Ý nghĩa của công tác tiếp dân 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIẾP DÂN TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG SÀI ĐỒNG 8
2.1 Một vài nét khái quát về Ủy ban nhân dân phường Sài Đồng 8
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của ủy ban nhân dân phường Sài Đồng: 8
2.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động củ4a ủy ban nhân dân phường Sài Đồng 9
2.1.3 Khái quát về phòng tiếp dân của ủy ban nhân dân phường Sài Đồng 9
2.2 Thực trạng công tác tiếp dân của Ủy ban nhân dân phường Sài Đồng năm 2017, năm 2018 và trong 6 tháng đầu năm 2019 9
2.2.1 Quy trình tiếp dân 9
2.2.2 Thực trạng công tác tiếp dân của Ùy ban nhân dân phường Sài Đồng 10
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC TIẾP DÂN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG SÀI ĐỒNG 15
3.1 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tiếp dân của ủy ban nhân dân phường Sài Đồng 15
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao công tác tiếp dân của ủy ban nhân dân phường Sài Đồng 17
PHẦN KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dânUBND Ủy ban nhân dân
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển đi lên về kinh tế đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong đờisống xã hội liên quan đến quyền lợi giữa dân với Nhà nước, giữa dân với dân, giữanhững người trong dòng họ với nhau dẫn đến khiếu kiện Chính vì vậy, tiếp công dân
là công tác rất quan trọng bởi vì thông qua các buổi tiếp dân, cán bộ lãnh đạo sẽ có cơhội nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và những băn khoăn, trăn trở của nhân dân, từ
đó có biện pháp giải quyết hợp tình hợp lý, tạo được niềm tin trong nhân dân, gópphần nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp Đây cũng là thể hiện bản chất củanhà nước chúng ta, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân Tuy nhiên, bên cạnh một
số ít địa phương, đơn vị đã làm tốt công tác tiếp công dân thì vẫn còn rất nhiều địaphương, đơn vị chưa thực hiện tốt việc tiếp công dân Nhiều nơi còn làm qua loa, hìnhthức, thực hiện chưa nghiêm quy định của pháp luật, đặc biệt có địa phương ngườiđứng đầu không thực hiện việc tiếp dân theo định kỳ, có nơi còn ủy quyền, khoántrắng cho cấp dưới theo kiểu làm cho có, lấy lệ, đối phó mà thôi Nhiều nơi ngườiđứng đầu địa phương, đơn vị vẫn tổ chức tiếp công dân nhưng lại giải quyết các thắcmắc, khiếu nại không đến nơi đến chốn, tránh né những việc làm sai trái, nhiều khi cònbao che cho những sai trái của cấp dưới Từ đó, vừa làm mất đi ý nghĩa của việc tiếpdân vừa lại phản tác dụng, gây khiếu kiện vượt cấp, do đó đôi khi còn là cái cớ chonhững phần tử xấu, phản động lợi dụng kích động nhân dân gây mất trật tự an toàn xãhội, ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng do ức chế từ phía người dân Ủy ban nhândân phường Sài Đồng là một trong những phường nằm trong vùng kinh tế trọng điểmcủa quận Long Biên, địa bàn còn rất nhiều phức tạp, nhiều vấn đề nóng nảy sinh ngàycàng nhiều đã tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội của địa phương Bên cạnh đó, công tác tiếp dân của Ủy bannhân dân phường còn một số hạn chế như: công tác tuyên truyền pháp luật nhất là Luậtkhiếu nại tố cáo chưa thật sự sâu rộng, các dự án quy hoạch trên địa bàn chưa hoànthành dẫn đến việc người dân còn thắc mắc, khiếu nại nhiều lần, cán bộ làm công táctiếp dân do được phân công nên chưa có kỹ năng chuyên môn, chưa hiểu rõ tầm quantrọng của công tác tiếp công dân Xuất phát từ nhận thức trên, sau khóa học tôi đã chọn
đề tài: “ Hoạt động tiếp dân ở Ủy ban nhân dân phường Sài Đồng”
Nội dung đề tài này bao gồm các phần như sau:
Phần 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác tiếp dân
Phần 2: Thực trạng công tác tiếp dân tại Ủy ban nhân dân phường Sài Đồng.Phần 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác tiếpdân của Ủy ban nhân dân phường Sài Đồng
Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian học tập, nghiên cứu chưa được nhiều Bảnthân tôi lại chưa tham gia nhiều công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân, cho nên trong bài viết này không tránh khỏi những sơ suất, sai sót Tôimong nhận được sự góp ý chân thành của các đồng chí giảng viên để bổ sung cho bàiviết này được đầy đủ và mong muốn rằng công tác tiếp công dân trong thời gian tớingày càng đạt hiệu quả cao đáp ứng với lòng mong mỏi của nhân dân
Trang 6CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐẾ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC TIẾP
DÂN 1.1 Công tác tiếp dân và mục đích của công tác tiếp dân
1.1.1 Khái niệm về công tác tiếp dân.
- Tiếp dân là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan hành chính các cấp Tiếpcông dân là khâu đầu tiên trong chu trình giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,phản ánh của người dân với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua đó phát huy quyềndân chủ của nhân dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, thể hiện sâu sắc bảnchất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
- Tiếp dân là việc làm thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa Nhà nước và công dân,thể hiện bản chất nhà nước của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, làmột hoạt động thuộc về trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ xã được tiến hành trên
cơ sở các quy định của luật pháp, thông qua các hành động cụ thể nhằm lắng nghe, thuthập thông tin để giải quyết các yêu cầu đề nghị của tổ chức và công dân
- Công tác tiếp dân là để tiếp nhận khiếu nại, kiến nghị, phản ảnh cũng như tiếpthu những đóng góp, hiến kế và giải quyết công việc cho người dân Công tác tiếpcông dân là người đại diện cho cơ quan nhà nước tiếp nhận những thông tin mà ngườidân phản ảnh về các chính sách, các hành vi liên quan đến đời sống, văn hoá, kinh tế,
xã hội Tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiếnnghị, phản ánh, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động cóhiệu lực, hiệu quả
1.1.2 Mục đích của công tác tiếp dân.
- Công tác tiếp công dân nhằm để tiếp nhận các thông tin, kiến nghị, phản ánhgóp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, phápluật Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan, đơn vị
- Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ trưởng cơquan, đơn vị mình để xem xét ra quyết định, kết luận giải quyết hoặc trả lời cho côngdân biết theo đúng thời hạn quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân
- Hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đúng chính sách, phápluật, đúng cơ quan có thẩm quyền để xem xét, giải quyết
1.2 Các quy định pháp luật về công tác tiếp dân
Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, góp phầnphát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Ngày 2 tháng 12 năm 1998,Quốc Hội đã thông qua Luật khiếu nại, tố cáo có hiệu lực thi hành năm 1999 Luậtkhiếu nại, tố cáo 1998 thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 7tháng 5 năm 1991
Từ ngày 01/01/1999 đến nay luật khiếu nại tố cáo đã được sửa đổi bổ sung 2 lần,lần thứ nhất là kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, thông qua ngày 15/06/2004, và lần thứhai vào kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XI, thông qua ngày 29/11/2005
Luật khiếu nại, tố cáo là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, quyđịnh cụ thể quyền khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;quy định việc tiếp công dân, việc quản lý, giám sát công tác giải quyết khiếu nại tốcáo, khen thưởng và xử lý vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Trang 7Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi đểcông dân thực hiện một trong những quyền cơ bản của mình, phát huy dân chủ bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, cá nhân; đồng thời tạo cơ sở pháp lý cần thiếtcho việc giải quyết khiếu nại tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao tráchnhiệm của ngành, các cấp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Đến nay, Luật khiếu nại, tố cáo đã được sửa đổi bổ sung 2 lần vào năm 2004 và
2005 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 được ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi đểcông dân thực hiện một trong những quyền cơ bản của mình, phát huy dân chủ bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, cá nhân; đồng thời tạo cơ sở pháp lý cần thiếtcho việc giải quyết khiếu nại tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao tráchnhiệm của ngành, các cấp trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Căn cứ vào Luật khiếu nại, tố cáo được sửa đổi bổ sung 2004, 2005 Chính phủ đãban hành Nghị định 136 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LuậtKhiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo.Chính phủ đã ban hành thêm Nghị định 89 về quy chế tổ chức tiếp công dân nhằm cụthể hóa công tác tiếp công dân
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả ngày 14 tháng 06 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
đề án đổi mới công tác tiếp công dân Căn cứ vào luật khiếu nại , tố cáo năm 1998được sửa đổi bổ sung năm 2004 – 2005, Nghị định số 136/2006/NĐ – CP ban hànhngày 14/11/2006, hướng dẫn thi hành một số điều luật khiếu nại, tố cáo, Nghị định 89
về quy chế tổ chức tiếp công dân có quy định về công tác tiếp dân với một số nội dungnhư sau:
1.2.1 Thẩm quyền tiếp dân của Ủy ban nhân xã theo quy định của pháp luật
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giải quyết đơn khiếu nại thuộcthẩm quyền quy định tại Điều 19 của Luật Khiếu nại - Tố cáo đã được sửa đổi, bổ sungnăm 2005 và Điều 10 của Nghị định số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn giải quyết đơn tố cáo về hành vi
vi phạm pháp luật của người do mình quản lý trực tiếp
- Thủ trưởng cơ quan nhà nước có trách nhiệm định kỳ tiếp công dân theo quyđịnh tại Điều 76 của Luật Khiếu nại, tố cáo; lịch tiếp công dân phải được thông báocông khai cho công dân biết
- Ngoài việc tiếp công dân theo định kỳ, Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải tiếpcông dân khi có yêu cầu khẩn thiết
- Đối với những khiếu nại thuộc thẩm quyền mà vụ việc rõ ràng, cụ thể, có cơ sởgiải quyết thì khi tiếp công dân, Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải trả lời ngay chocông dân biết; nếu vụ việc phức tạp cần nghiên cứu, xem xét thì phải nói rõ thời hạngiải quyết, người cần liên hệ tiếp để biết kết quả giải quyết
- Việc tiếp công dân của Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải được ghi vào sổ tiếpcông dân và được lưu giữ tại nơi tiếp công dân
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tiếp công dân tạitrụ sở Uỷ ban ít nhất 2 buổi trong tuần, không kể các trường hợp phải tiếp theo yêu cầukhẩn thiết
1.2.2 Lịch tiếp dân
Trang 8Tại nơi tiếp công dân phải niêm yết lịch tiếp công dân, nội quy tiếp công dân.Lịch tiếp công dân phải được ghi cụ thể thời gian, chức vụ người tiếp công dân Nộiquy tiếp công dân phải ghi rõ trách nhiệm của người tiếp công dân, quyền và nghĩa vụcủa người đến khiếu nại, tố cáo.
Trang 91.2.3 Người có trách nhiệm tiếp dân
Trang 10Thủ trưởng các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân và tổ
chức việc tiếp công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quanđến khiếu nại, tố cáo; bố trí cán bộ có phẩm chất tốt, có kiến thức và am hiểu chínhsách, pháp luật, có ý thức trách nhiệm làm công tác tiếp công dân Các cơ quan thanhtra nhà nước, các cơ quan công an, quốc phòng, thương mại, kế hoạch và đầu tư, xâydựng, tài chính, lao động thương binh và xã hội, nội vụ, giao thông vận tải, y tế, giáodục và đào tạo, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường ở cấptrung ương và cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức tiếp công dân thường xuyên
Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, nhà nước trong luật khiếu nại, tốcáo còn được thể hiện bố trí cán bộ có phẩm chất tốt, có kiến thức và am hiểu chínhsách, pháp luật, có ý thức trách nhiệm làm công tác tiếp dân Cán bộ tiếp công dân làngười thay mặt cho cơ quan, tổ chức để tiếp xúc với nhân dân, nội dung vấn đề phảnảnh ở nơi tiếp công dân rất đa dạng, liên quan đến chính sách pháp luật thuộc nhiềulĩnh vực khác nhau Do đó, trách nhiệm thủ trưởng của các cơ quan , đơn vị là phải bốtrí những cán bộ có đủ khả năng và tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, phẩmchất tốt của người cán bộ tiếp dân thể hiện ở chỗ không chỉ là tiêu chuẩn cần, kiệm,liêm, chính, chí công vô tư của cán bộ công chức mà còn đòi hỏi người cán bộ tiếpcông dân phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với sự nghiệpcách mạng của Đảng, pháp luật nhà nước Cán bộ tiếp dân không chỉ giải thích hướngdẫn mà đôi khi còn đòi hỏi bản lĩnh chính trị để đấu tranh các tư tưởng ngoại lai, saitrái, đi ngược với mục tiêu của Đảng Các cơ quan khác của nhà nước căn cứ vào quyđịnh của luật khiếu nại, tố cáo, các luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tố cáo liênquan đến ngành, lĩnh vực của mình quản lý để bố trí thời gian tiếp công dân Ngườitiếp công dân phải có sổ để ghi chép, theo dõi việc tiếp công dân; yêu cầu công dânđến khiếu nại, tố cáo xuất trình giấy tờ tùy thân, trình bày trung thực sự việc, cung cấptài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo; trong trường hợp có nhiều người đếnkhiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì yêu cầu họ cử đại diện trực tiếp trình bàynội dung sự việc
1.2.4 Nơi tổ chức tiếp dân
Việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, đưa đơn khiếu nại, tố cáo được tiếnhành tại nơi tiếp công dân
Cơ quan nhà nước phải bố trí nơi tiếp công dân thuận tiện, bảo đảm các điều kiện
để công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếunại, tố cáo được dễ dàng, thuận lợi
Việc tổ chức tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại trụ sở tiếpcông dân ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thực hiện theo Quy chế tổ chức tiếpcông dân ban hành kèm theo Nghị định số 89/CP ngày 07 tháng 8 năm 1997 của Chínhphủ
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí địa điểm chung để Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại diện tổ chức chính trị tiếp công dân đếnkhiếu nại, tố cáo; cử một công chức có chức vụ Phó Văn phòng hoặc cấp tương đươngphụ trách nơi tiếp công dân để tổ chức thực hiện chế độ tiếp dân thường xuyên
Thủ trưởng các cơ quan nhà nước phải tổ chức và quản lý nơi tiếp công dân của
cơ quan mình, ban hành nội quy tiếp công dân; bố trí nơi tiếp công dân địa điểm thuậnlợi; đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết để công dân đến trình bày khiếu nại, tốcáo, kiến nghị, phản ánh
Trang 11Tại nơi tiếp công dân còn quy định phải niêm yết lịch tiếp công dân, nội quy tiếpcông dân, lịch tiếp công dân phải ghi cụ thể thời gian, chức vụ người tiếp công dân,nội quy tiếp công dân phải ghi rõ trách nhiệm của người tiếp công dân, quyền và nghĩa
vụ của người khiếu nại, tố cáo
Tiến hành tại nơi tiếp công dân có ý nghĩa quan trọng, nhằm đưa công tác tiếpdân vào nề nếp góp phần ngăn ngừa các hành vi tiêu cực của cán bộ trong quá trìnhgiải quyết khiếu nại, tố cáo; khắc phục tình trạng đến nhà riêng để khiếu nại, ảnhhưởng đến công tác, sinh hoạt bình thường của cán bộ
1.2.5 Thời gian tiếp công dân.
- Tại nơi tiếp công dân phải niêm yết ngày, giờ tiếp, nội quy tiếp công dân; đồngthời phải niêm yết quy trình, hướng dẫn công dân khiếu nại, tố cáo theo thủ tục củapháp luật hoặc theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính để mọi ngườibiết và thực hiện
- Việc tiếp công dân của Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải được ghi vào sổ tiếpcông dân và được lưu trữ tại nơi tiếp công dân
- Theo Điều 76 của Luật khiếu nại, tố cáo 1998, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cáccấp, thủ trưởng cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân theoquy định sau đây:
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phường, mỗi tuần ít nhất một ngày + Chủtịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, mỗi tháng ít nhất hai ngày
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, mỗi tháng ít nhất một ngày
+ Thủ trưởng các cơ quan khác của Nhà nước, mỗi tháng ít nhất một ngày
- Thanh tra nhà nước các cấp, các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tổchức tiếp công dân thường xuyên theo quy định của pháp luật
1.2.6 Trách nhiệm của người tiếp dân
- Theo Điều 77 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 thì người tiếp công dân có tráchnhiệm:
+ Tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tốcáo; + Hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo;
+ Giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo khi người tố cáo yêu cầu
- Người tiếp công dân phải có sổ để ghi chép, theo dõi việc tiếp công dân; yêucầu công dân đến khiếu nại, tố cáo xuất trình giấy tờ tùy thân, trình bày trung thực sựviệc, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, tố cáo; trong trường hợp cónhiều người đến khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung thì yêu cầu họ cử đại diện trựctiếp trình bày nội dung sự việc
- Việc xử lý khiếu nại, tố cáo tại nơi tiếp công dân được tiến hành như sau: + Đối với đơn khiếu nại thì xử lý theo quy định tại Điều 6 Nghị định136/2006/NĐ-CP; trong trường hợp công dân đến khiếu nại trực tiếp mà vụ việc khiếunại thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì người tiếp công dân hướng dẫn
họ viết thành đơn hoặc ghi lại nội dung khiếu nại và yêu cầu công dân ký tên hoặcđiểm chỉ; nếu vụ việc khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mìnhthì hướng dẫn công dân khiếu nại đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết
+ Đối với tố cáo thì người tiếp công dân phải tiếp nhận, phân loại và xử lý theoquy định tại các Điều 38, 39 và Điều 40 Nghị định 136/2006/NĐ-CP 7 Quyền vànghĩa vụ của người khiếu nại tố cáo tại nơi tiếp công dân
- Theo Điều 14-Nghị định 89:Khi đến nơi tiếp công dân, công dân có quyền + Được hướng dẫn, giải thích, trả lời về những nội dung mình trình bày
Trang 12+ Được quyền khiếu nại, tố cáo với thủ trưởng trực tiếp của người tiếp công dânnếu họ có những việc làm sai trái, gây cản trở, phiền hà, sách nhiễu trong khi làmnhiệm vụ + Đối với trường hợp tố cáo, được yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ người
tố cáo
- Theo Điều 14-Nghị định 89: Khi đến nơi tiếp công dân, công dân có nghĩa vụ + Phải xuất trình giấy tờ tuỳ thân như chứng minh thư nhân dân; giấy mời, nếucông dân không trực tiếp đến thì có thể uỷ quyền cho một trong số thân nhân là cha,
mẹ, vợ, chồng, con hoặc anh, chị, em ruột, những người này phải có giấy uỷ quyền, cóchứng nhận của cơ quan có thẩm quyền
+ Phải nghiêm chỉnh tuân thủ nội qui nơi tiếp công dân và sự hướng dẫn của cán
bộ tiếp công dân
+ Trình bày trung thực sự việc, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung khiếunại, tố cáo của mình khi có yêu cầu
+ Ký xác nhận những nội dung đã trình bày
+ Trường hợp có nhiều người đến nơi tiếp công dân để khiếu nại, tố cáo cùngmột nội dung phải cử đại diện để trình bày với cán bộ tiếp công dân
1.2.7 Những hành vi nghiêm cấm tại nơi tiếp công dân.
- Theo Điều 79 của Luật khiếu nại, tố cáo:
+ Nghiêm cấm việc cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu đối với công dân đến khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
+ Nghiêm cấm việc gây rối trật tự ở nơi tiếp công dân, vu cáo, xúc phạm uy tín,danh dự của cơ quan nhà nước, người thi hành nhiệm vụ, công vụ
- Công dân không được lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để gây rối trật tự ở nơitiếp công dân, vụ cáo, xúc phạm cơ quan Nhà nước, người thi hành công vụ và phảichịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung khiếu nại, tố cáo của mình
- Nghị định 136/2006/NĐ-CP còn quy định rõ đối với những người đến khiếunại, tố cáo có hành vi gây rối, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự công cộng, ảnhhưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, của cá nhân có trách nhiệmhoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật khiếu nại, tố cáo thì Thủ trưởng cơ quan nhànước, người phụ trách trụ sở tiếp công dân yêu cầu cơ quan Công an phụ trách địa bàn
có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật Thủ trưởng cơ quan nhà nước có tráchnhiệm phối hợp chặt chẽ với Thủ trưởng cơ quan Công an trong việc bảo đảm trật tự,
an toàn nơi tiếp công dân Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an tại các địa phương cótrách nhiệm bảo vệ an toàn trụ sở tiếp công dân của các cơ quan trên địa bàn mìnhquản lý; trong trường hợp cần thiết thì áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử
lý đối với những người lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật tạinơi tiếp công dân Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo lực lượng công an có trách nhiệmphối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ trật tự, an toàn cho trụ sở tiếpcông dân, xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật ở nơi tiếp công dân
Trang 131.3 Ý nghĩa của công tác tiếp dân
Tiếp công dân là khâu đầu tiên trong chu trình giải quyết các khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh của người dân với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua đó pháthuy quyền dân chủ của nhân dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, thể hiện sâusắc bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với côngdân: người tiếp công dân với tư cách là đại diện cho cơ quan có thẩm quyền xem xét,giải quyết các khiếu nại, tố cáo của người dân, do đó cần phải được tiến hành tại nơitiếp công dân Đồng thời, như vậy mới bảo đảm từ phía Nhà nước trong việc thực hiệnđầy đủ các thủ tục tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, từ đó có cơ sở để xác định trách nhiệmcủa người tiếp công dân theo đúng quy định của Luật khiếu nại, tố cáo
Thông qua việc tiếp dân sẽ tập hợp những vấn đề bức xúc, vướng mắc của nhân dânkịp thời tìm giải pháp thích hợp giúp người dân tháo gỡ những mâu thuẫn, vướng mắc,hạn chế phát sinh thành khiếu kiện
Bên cạnh đó, nếu tiếp công dân theo định kỳ không những giải quyết được những thắcmắc, khiếu kiện của người dân, từ đó người đứng đầu nắm bắt được mà kịp thời sửachữa tránh sai sót lớn không đáng có xảy ra Đồng thời, qua đó tìm hiểu được nhữngnguyên nhân của vướng mắc mà có biện pháp, khắc phục tháo gỡ, nhất là nắm bắtđược những việc làm sai trái, tham mưu không đúng quy định và sách nhiễu, thamnhũng của cán bộ dưới quyền Bên cạnh đó, qua việc tiếp công dân người đứng đầu địaphương, đơn vị, nhất là người đứng đầu chính quyền các cấp có cơ hội gần dân, tiếpxúc trực tiếp với nhân dân mà nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị củanhân dân mà có cách nhìn nhận tổng thể, khách quan trong việc giải quyết các vấn đềchính trị, kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng và quan trọng hơn nữa là từ đó màhoạch định được những kế hoạch, chiến lược điều hành, quản lý xã hội một cách đúngđắn phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị mình
Trang 14CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIẾP DÂN TẠI ỦY BAN NHÂN
DÂN PHƯỜNG SÀI ĐỒNG 2.1 Một vài nét khái quát về Ủy ban nhân dân phường Sài Đồng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của ủy ban nhân dân phường Sài Đồng:
a Về điều kiện tự nhiên
Sài Đồng nằm ở phía Đông Nam quận Long Biên, cửa ngõ phía Đông Bắc Thủ đô HàNội, trong không gian tổng thể vùng tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội –Hải Phòng – Quảng Ninh) sôi động, mang tính động lực trên tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế, có nhiều lợi thế về phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ, mở ra nhiều
cơ hội giải quyết việc làm, cải thiện nâng cao đời sống của nhân dân
Phường Sài Đồng có tổng diện tích tự nhiên 90,67 ha; dân số toàn phường trên 17nghìn người, với 4.102 hộ, được chia thành 22 tổ dân phố (năm 2013) Địa giới hànhchính: Phía Đông giáp phường Phúc Lợi, Phía Tây giáp phường Phúc Đồng, Phía Namgiáp phường Thạch Bàn, Phía Bắc giáp phường Việt Hưng
b Về kinh tế - văn hóa – xã hội – quốc phòng an ninh
- Có nhiều điều kiện thuận lợi cơ bản để địa phương tiếp tục đẩy nhanh việc phát triểnkinh tế - xã hội Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những khó khăn như : tốc độ côngnghiệp hóa - đô thị hóa tăng nhanh, trong khi trình độ lãnh đạo, quản lý và kết cấu hạtầng chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển Tình trạng lao động nhập cư ngày càngtăng (chiếm trên 45% dân số), do vậy tình hình an ninh chính trị - trật tự xã hội diễnbiến rất phức tạp, đòi hỏi địa phương phải có tầm nhìn chiến lược và những giải pháplinh hoạt để lãnh đạo, quản lý hành chính Nhà nước
- Thực hiện nghị quyết của Đảng bộ và Hội đồng nhân dân, toàn Đảng bộ và nhân dântrong quận đã phấn đấu đạt kết quả các mục tiêu nhiệm vụ kinh tế, văn hoá - xã hội vàquốc phòng an ninh đáng khích lệ như sau :
+ Về kinh tế: có nhiều mặt chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng đúng định hướng
là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - thương mại dịch vụ , trong 6 tháng đầu năm
2019 giá trị sản xuất công nghiệp tăng, thương mại dịch vụ tăng 31,9% Thu ngân sáchđược 4.045.343.435 đồng, đạt 41,43 % so với quận giao và 25,97 % so với HĐNDphường thông qua (Thu ngân sách năm 2018 trên 7,5 tỷ đồng)
+ Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội có sự phát triển và đạt kết quả khá tốt Công tác xãhội hoá trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, thể dục thể thao được nhân dân tích cực hưởngứng và nhiệt tình tham gia Hàng năm tỷ lệ thanh thiếu niên trong độ tuổi đến trườngđều đạt từ 95 - 100%; năm học 2018-2019 có 95 lớp với 3.622 học sinh, 202 giáo viên
và công nhân viên của các trường đóng trên địa bàn phường Vận động trẻ trong độtuổi ra lớp 331/331 em, đạt 100%; tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học ở bậc tiểu học vàtrung học cơ sở ngày càng giảm Cùng với giáo dục, về y tế việc khám chữa bệnh vàchăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, công tác phòng chống dịch bệnh ngày càng đượcnâng cao
+ Về quốc phòng an ninh: duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ antoàn các mục tiêu quan trọng trên địa bàn Kịp thời tổ chức triển khai nghị quyết, kế hoạchthực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng địa phương hàng năm Phát động phong tràoquần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, rất nhiều gương điển hình về bắt trộm, cướp; mạnglưới tổ tự quản được củng cố và phát huy nâng dần chất lượng hoạt động góp phần cùngcông an tại địa bàn tấn công truy quét các loại tội phạm và bài trừ các tệ nạn xã hội Hoànthành công tác gọi công dân nhập ngũ hàng năm Luôn chú trọng công tác bồi dưỡng kiến