1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Di tích lễ hội đền tống trân làng an cầu xã tống trân huyện phù cừ tỉnh hưng yên

121 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi chọn đề tài: “Di tích- lễ hội đền Tống Trân làng An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn tăng thêm vốn hiểu biết cho bản thân và góp

Trang 1

Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hoá thể thao vμ du lịch

Trường đại học văn hoá Hμ Nội

Nguyễn Thị Tuyết mai

Hμ Nội – 2009

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy cô Khoa Sau đại học trờng Đại học Văn hoá Hà Nội đã giảng dạy, chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS – TS Nguyễn Quốc Hùng – những định hướng của thầy có tính quyết định tới sự thành công của luận văn

Đề tài này tôi hoàn thành trên cơ sở nỗ lực nghiên cứu của bản thân còn có sự

kế thừa, tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước Nhưng do tính chất phức tạp của đề tài, trình độ của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự giúp đỡ và góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô

và các bạn để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2009

Nguyễn Thị Tuyết Mai

Trang 3

Mục lục

Mở đầu……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài………1

2 Tình hình nghiên cứu………3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4

4 Mục đích nghiên cứu……… 5

5 Phương pháp nghiên cứu……… 5

6 Những đóng góp của luận văn……… 6

7 Bố cục luận văn……….7

Chương 1 : tổng quan về lμng an cầu vμ di tích đền tống trân 8

1.1.Tổng quan về làng An Cầu……… 8

1.1.1 Lịch sử mảnh đất An Cầu……… 8

1.1.2 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên……….9

1.1.3 Thành phần dân cư……….11

1.1.4 Đời sống kinh tế……… 13

1.1.5 Đời sống văn hoá - xã hội……… 17

1.2 Di tích đền Tống Trân……….29

1.2.1 Lịch sử vị thần đợc thờ trong đền Tống Trân……….29

1.2.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đền Tống Trân……….35

1.2.3 Những đặc trưng giá trị kiến trúc, điêu khắc dền Tống Trân…….38

Chương 2: lễ hội đền tống trân……… 43

2.2 Lễ hội đền Tống Trân xưa……… 43

2.2.1 Lịch của lễ hội đền Tống Trân……… 46

2.2.2 Chuẩn bị lễ hội……… 49

2.2.3 Diễn trình lễ hội……… … 50

2.3 Lễ hội đền Tống Trân ngày nay……… 66

2.3.1 Lịch lễ hội……… 67

Trang 4

2.3.2 Công tác chuẩn bị……… … 67

2.3.3 Trình tự lễ hội……… … 68

2.3.4 Kết thúc lễ hội……… 73

2.4 Những giá trị văn hoá của lễ hội đền Tống Trân……… 73

Chương 3: bảo tồn vμ phát huy giá trị văn hoá truyền thống của di tích vμ lễ hội đền tống trân……… 81

3.1 Quan niệm về bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống trong Nghị

quyết của Đảng, Pháp luật của Nhà nước……… 81

3.2 Thực trạng di tích và lễ hội đền Tống Trân………85

3.2.1 Thực trạng di tích………85

3.2.2 Thực trạng lễ hội……… 88

3.3 Một số vấn đề bảo tồn di tích và lễ hội đền Tống Trân……… 92

3.3.1 Bảo tồn di tích……… 93

3.3.2 Bảo tồn lễ hội……… 95

3.4 Phát huy các giá trị của di tích và lễ hội đền Tống Trân………97

Kết luận……….102

tμi liệu tham khảo……… 105

Phụ lục………

Trang 5

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Di tích lịch sử văn hoá ở nước ta rất đa dạng và phong phú về loại hình

Đó là bằng chứng về những hoạt động sáng tạo của con người trong lịch sử để lại

đến ngày nay Khi xã hội loài người càng phát triển thì yêu cầu tìm hiểu về cội nguồn, về các giá trị văn hoá truyền thống của đất nước và thế giới lại càng trở thành nhu cầu cấp thiết Di tích lịch sử văn hoá hàm chứa trong đó những giá trị văn hoá bao gồm những giá trị văn hoá vật thể và những giá trị văn hoá phi vật thể Chúng được sáng tạo ra trong lịch sử và cũng sẽ tồn tại lâu dài theo thời gian và trong không gian

1.2 Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng lâu đời, phổ biến và cũng rất đặc trưng trong đời sống xã hội của cư dân người Việt Lễ hội bao gồm nhiều mặt của đời sống xã hội như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, sự tích

về các danh nhân văn hoá, các vị anh hùng có công với dân với nước, các nghi lễ, các trò chơi dân gian và là nơi giao thương, trao đổi hàng hoá, sản vật

Lễ hội gắn với bước đi của lịch sử dân tộc, lịch sử một vùng đất, thông qua lễ hội chúng ta có thể tìm hiểu con người của vùng đất, những giá trị văn hoá, đạo đức lành mạnh, tinh thần đoàn kết, tính khoan dung gắn bó với dân tộc, đề cao truyền thống gia đình, dòng họ và những người có công trong việc xây dựng bảo vệ đất nước

1.3 Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm ở trung tâm của Đồng bằng Bắc bộ, nơi không chỉ nổi tiếng về truyền thống khoa bảng mà còn là nơi lưu giữ một hệ thống di tích phong phú, có giá trị cao; trong đó chứa

đựng và lưu truyền nhiều giá trị văn hoá phi vật thể đặc biệt là các lễ hội văn hoá dân gian truyền thống mang đặc trưng của vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng Lễ hội đền Tống Trân thôn An Cầu, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên là một lễ hội rất đặc sắc, được tổ chức có quy mô và trang trọng nhất huyện, diễn ra từ ngày 10 đến 14

Trang 6

tháng 4 âm lịch (trước kia từ 10-16/4 âm lịch) Lễ hội đền Tống Trân mang tính truyền thống cao đẹp, tưởng nhớ tới danh nhân văn hoá- tấm gương sáng ngời về tinh thần vượt khó ham học, tài năng đức độ…

1.4 Trong giai đoạn hiện nay, việc giữ gìn, xây dựng và phát huy nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã và đang đặt ra cho chúng ta nhiều vấn

đề cần nghiên cứu và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của quê hương, đất nước Điều đó đã được Đảng ta xác định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hàng Trung Ương Đảng khoá VIII: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể” [18, tr.63]

Như vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu di tích- lễ hội đền Tống Trân sẽ góp phần bảo tồn, phát huy truyền thống văn hoá hiếu học theo chủ trương chính sách của

Đảng, đồng thời đáp ứng nhu cầu của đời sống tinh thần, tâm linh của cư dân trong vùng

Với tấm lòng của người con đã được sinh ra và lớn lên trên quê hương đất Trạng Tôi chọn đề tài: “Di tích- lễ hội đền Tống Trân làng An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn tăng thêm vốn hiểu biết cho bản thân và góp phần nhỏ vào việc bảo tồn, phát huy vốn văn hoá dân gian truyền thống trong thời kỳ đổi mới hiện nay ở địa phương

2.Tình hình nghiên cứu

Mặc dù di tích - lễ hội đền Tống Trân đã tồn tại phát triển cùng lịch sử của vùng đất, Nhưng từ trước cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về di tích - lễ hội này một cách hệ thống Bên cạnh đó, những nguồn tư liệu liên quan đến

sự ra đời tồn tại của nhân vật và di tích thờ Tống Trân cũng ít ỏi Chúng ta chỉ có

Trang 7

thể bắt gặp những bài viết, những tư liệu về tiểu sử, sự nghiệp nhân vật Tống Trân, những tư liệu giới thiệu khái quát về di tích đền Tống Trân

Cho tới nay tư liệu về di tích lễ hội đền Tống Trân cũng chưa có nhiều, có thể

kể tới một số nguồn tư liệu ít ỏi có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài:

- Trịnh Như Tấu, “ Hưng Yên địa chí” (1934), trong đó có đề cập đến nhân vật Tống Trân, địa danh làng An Cầu và đền Tống Trân

- Hồ sơ khoa học về di tích đền Tống Trân của Ban quản lý di tích và danh thắng Hưng Yên Trong đó tập trung tìm hiểu: Lịch sử hình thành, tồn tại của di tích, phần lễ hội có đề cập đến thời gian diễn ra lễ hội…

- Cuốn “ Văn hoá- Văn nghệ dân gian Hưng Yên” của NXB Hội nhà văn -

2005 Có viết về lễ hội đền Tống Trân nhưng rất vắn tắt

- Cuốn “Những di tích danh thắng tiêu biểu” của NXB Văn hoá thông tin-

2005 Cũng viết về đền Tống Trân song còn sơ sài

-Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí, tập 3 của NXB Thuận Hoá, phần viết

địa danh và đền miếu có nhắc đến đền Tống Trân và vài dòng tóm tắt tiểu sử Tống Trân

-Trên báo Hưng Yên- số ra 1640 ngày 01/6/2007 đăng bài: “ánh sáng văn hoá từ trạng Gầu- Tống Trân” của Nguyễn Đức Can, trong bài viết này tác giả có đề cập đến sự tích Tống Trân- Cúc Hoa, lễ hội và ảnh hưởng của nó đến đời sống, sinh hoạt văn hoá của cư dân trong vùng, nhưng cũng chỉ trong phạm vi một góc của tờ báo

- Bên cạnh đó, Trạng nguyên Tống Trân còn xuất hiện trong văn học dân gian như một hình tượng đẹp, tiêu biểu cho ý chí vươn lên vượt khó, đức hạnh, thuỷ chung…Thể hiện qua 1689 câu thơ trong truyện thơ nôm khuyết danh “Tống Trân - Cúc Hoa” xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XVIII

Từ những nghiên cứu sơ bộ các kết quả của những tác giả đi trước, cho đến nay thấy rằng vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về di

Trang 8

tích- lễ hội đền Tống Trân Những tư liệu trên sẽ là những tư liệu bước đầu giúp cho tác giả tham khảo, kế thừa, tiếp thu để triển khai đề tài của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là di tích và lễ hội đền Tống Trân trong

đó bao gồm: Phần di tích tập trung nghiên cứu: lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển của di tích Phần lễ hội tác giả tập trung nghiên cứu: nhân vật được tưởng niệm trong lễ hội, các nghi lễ, trò diễn dân gian hiện đại trong lễ hội…Luận văn tiếp cận

và nghiên cứu di tích đền Tống Trân, vì đây là địa điểm diễn ra lễ hội và vị thần

được thờ ở đây cũng chính là vị thần được tưởng niệm trong lễ hội

3.2 Về không gian tập trung chủ yếu nghiên cứu thôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Ngoài ra còn mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các

di tích khác trong thôn, trong xã có các nhân vật được đến rước về dự lễ hội tại đền Tống Trân

3.3 Về thời gian, đối với di tích luận văn xác định nghiên cứu lịch sử hình thành, tồn tại cho đến nay Đối với lễ hội: Luận văn tập trung nghiên cứu sâu hơn lễ hội đền Tống Trân xưa Đồng thời nghiên cứu lễ hội đền Tống Trân đã và đang phục hồi hiện nay để tìm ra những tư liệu xưa bổ sung cho lễ hội nay thêm phong phú và mang nét cổ truyền

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những nguồn tư liệu của các tác giả đi trước và giá trị hiện có của

di tích lễ hội Tống Trân, luận văn tập trung nghiên cứu:

- Nghiên cứu những nét tổng quan về thôn An Cầu trên các mặt: Vị trí địa lý,

đặc điểm dân cư, đời sống kinh tế- văn hoá- xã hội

- Nghiên cứu di tích đền Tống Trân- nơi diễn ra lễ hội và các di tích tiêu biểu khác trong thôn

- Nghiên cứu lịch sử của Trạng nguyên Tống Trân - vị thần được thờ trong

đền Tống Trân

Trang 9

- Nghiên cứu nội dung và diễn trình lễ hội đền Tống Trân xưa và nay như: thời điểm diễn ra lễ hội chính, các nghi lễ cơ bản, các trò diễn tiêu biểu…

- Nghiên cứu đánh giá giá trị của di tích- lễ hội và thực trạng, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di tích- lễ hội trong đời sống cộng

đồng

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận, đánh giá giá trị của di tích – lễ hội Tống Trân một cách khách quan, chân thực, theo dòng lịch sử

Từ việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ văn hoá học, luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hoá học: Lịch sử, bảo tàng học,

Trang 10

- Nghiên cứu hệ thống về lễ hội đền Tống Trân xưa và nay để so sánh, đánh giá trên cơ sở đó đề xuất một số phương pháp bảo tồn và phát huy giá trị của di tích- lễ hội trong đời sống hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tư liệu khoa học, góp phần khẳng

định, giới thiệu tuyên truyền cho người dân địa phương hiểu rõ hơn về giá trị lịch sử văn hoá của đền Tống Trân Từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn di tích – lễ hội cho chính bản thân người dân địa phương

Trang 11

Chương 1

Tổng quan về lμng an cầu vμ Di tích đền tống trân

1.1 Tổng quan về làng An Cầu

1.1.1 Lịch sử mảnh đất An Cầu

An Cầu ngày nay còn có tên gọi là An Đô, tục gọi là làng Gầu đây là mảnh

đất có con người định cư khá sớm, ngay từ buổi đầu của thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Đầu Công Nguyên mảnh đất này thuộc huyện Cửu Diên, quận Giao Chỉ Thời Tiền Lê đổi đạo thành lộ, địa bàn An Cầu thuộc Khoái

Lộ Đến thời nhà Lí (thế kỷ XI), chia cả nước thành 24 lộ, mảnh đất này vẫn thuộc Khoái Lộ Khi Trần Thái Tông lên ngôi (1252) đổi 24 lộ thành 12 phủ thì An Cầu thuộc huyện Phù Hoa, phủ Khoái Châu

Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tông bỏ cấp trấn, chia cả nước thành 13 đạo, An Cầu thuộc huyện Phù Dung đạo Sơn Nam

Năm Cảnh Hưng thứ hai (1742) Lê Hiển Tông đổi đạo thành trấn, An Cầu thuộc huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu của Sơn nam Thượng trấn

Đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) thành lập tỉnh Hưng Yên gồm 2 phủ, 8 huyện: huyện Đông Yên (Đông An), Kim Động, Phù Dung (Phù Cừ), Thiên Thi, Tiên Lữ thuộc phủ Khoái Châu (trấn Sơn nam cũ), huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân thuộc phủ Tiên Hưng ( trấn Nam Định cũ)- An Cầu là vùng thuộc Phù

Cừ, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

Trải qua các giai đoạn lịch sử, mặc dù địa giới hành chính của cả nước nói chung, tỉnh Hưng Yên nói riêng cũng đều có sự thay đổi Song, tên tỉnh Hưng Yên vẫn được giữ nguyên cho đễn năm 1968, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà nhập 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng Đến năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập theo Quyết định của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ

Trang 12

nghĩa Việt Nam; tách tỉnh Hải Hưng thành 2 tỉnh Hưng Yên và Hải Dương, tách huyện Phù Tiên thành 2 huyện Phù Cừ và Tiên Lữ

Từ sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, nhân dân xây dựng chế độ mới, các xã mới được thành lập trên cơ sở các làng thì An Cầu là một trong 3 thôn thuộc xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Trải qua các giai đoạn lịch sử, mặc dù

đã có nhiều lần địa giới hành chính của làng - xã được điều chỉnh để thuận lợi trong việc quản lí, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mĩ cũng như cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương, song tên gọi làng An Cầu vẫn được giữ nguyên cho

đến nay Theo các cụ trong làng kể rằng: tên gọi An Cầu có nghĩa là sự cầu an, cầu mong cho dân làng có cuộc sống yên ổn, no đủ

Ngày nay địa giới của An Cầu được xác định là vùng đất nằm hoàn toàn trên

địa bàn xã Tống Trân – một trong 14 xã , thị trấn của huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (vốn là đất thuộc tổng Võng Phan, huyện Phù Cừ, phủ Khoái Châu)

1.1.2 Đặc điểm vị trí địa lí - điều kiện tự nhiên

- Vị trí: Làng An Cầu nằm ở trung tâm xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Đây là vùng đất khá màu mỡ bởi sự bồi đắp phù sa của dòng sông Luộc (sông Phổ Đà) An Cầu có diện tích đất tự nhiên 389,3 ha có hai cụm cư dân sống trong đê và ngoài đê, phía Bắc giáp xã Minh Tiến, phía Nam giáp sông Luộc, phía

Đông giáp thôn Trà Dương, phía Tây giáp thôn Võng Phan

Từ trung tâm thị xã Hưng Yên, thủ phủ của tỉnh đi theo đường tỉnh lộ 39A

đến Chợ Gạo rẽ phải theo đường 39B đến ngã tư trung tâm huyện Phù Cừ rẽ phải theo đường 202 đến ngã tư La Tiến rẽ phải theo đường 201 đi khoảng 4km là tới thôn An Cầu

Về đường thuỷ, ngược tuyến sông Luộc đi phố Hiến theo sông Hồng đi thủ

đô Hà Nội, xuôi sông Luộc đi Ninh Giang (Hải Dương), Kiến An đi ra thành phố Hải Phòng Có thể nói đến An Cầu bằng cả hai đường thuỷ và bộ đều rất thuận lợi,

đây là điều kiện quan trọng trong việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của địa phương

Trang 13

- Địa hình: Xét về địa hình cả nước, chúng ta thấy duy chỉ có tỉnh Thái Bình

và Hưng Yên là hai tỉnh ở Đồng bằng Châu thổ Bắc bộ không có rừng, núi; địa hình tương đối bằng phẳng An Cầu là vùng đất khá bằng phẳng, cốt đất trũng, thuộc diện nhất nhì trong tỉnh: +- 1.5 m so với mặt nước biển Thôn có hai phần diện tích

đất khác biệt: phần nằm trong đê (Sông Luộc) là phần cao hơn dùng để cấy lúa, phần diện tích ngoài đê được bồi đắp phù sa hàng năm rất màu mỡ dùng để canh tác các cây hoa màu ngắn ngày như: ngô, đậu, lạc

- Khí hậu: Làng An Cầu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, một năm có bốn mùa rõ rệt: xuân- hạ- thu- đông Nhưng có sự phân biệt hai mùa lạnh- nóng: mùa lạnh khô và ấm từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10

Nhiệt độ tháng nóng nhất vào mùa hè là 39 đến 400 Nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông là 50 C Nhiệt độ trung bình cả năm từ 22 đến 230C Đặc biệt trong tháng

8 và tháng 9 thường có mưa to gió lớn, đây cũng là tháng thường hay có bão; tuy nhiên ít khi bão đổ bộ trực tiếp vào vùng này Do vậy, ảnh hưởng của bão không lớn bằng các vùng ven biển, lượng mưa trung bình năm ở đây từ 1600 đến 1700mml, số ngày mưa trung bình trong năm khoảng 147 ngày Lượng mưa nhỏ nhất vào tháng 1

đến tháng 4 Tháng 8 có nhiều ngày mưa và lượng mưa nhiều nhất, hàng năm còn

có mưa phùn từ tháng 1 đến tháng 4 Tháng 2 và tháng 3 tháng mưa phùn nhiều nhất Vì vậy, khí hậu ở An Cầu nói chung là khá ẩm ướt, độ ẩm trung bình hàng năm là 86%, độ ẩm trung bình trong các tháng đầu lên đến 80%, độ ẩm không khí

và độ ẩm khô hạn ở đây cao hơn các vùng cùng trong khu vực châu thổ Bắc bộ

- Sông ngòi và chế độ nước: Nằm trong khu vực châu thổ Bắc bộ, toàn tỉnh Hưng Yên được bao bọc xung quanh bởi một mạng lưới sông ngòi dầy đặc An Cầu

là một làng nhỏ song cũng có hệ thống sông ngòi, kênh rạch phong phú phục vụ sản xuất và đáp ứng nhu câu tiêu úng vào mùa mưa bão Đặc biệt và quan trọng hơn cả

là sông Luộc (hay còn gọi là sông Phổ Đà), Đà Lỗ: vốn là phân lưu thuộc sông Hồng ở huyện Hưng Nhân (Thái Bình) và đổ vào sông Thái Bình ở Cao Quý (Tứ Kỳ- Hải Dương) Toàn bộ sông dài 70 km, đoạn chảy qua Hưng Yên có chiều dài

Trang 14

26 km (qua làng An Cầu dài 4 km), tạo thành giới hạn địa giới tự nhiên về phía

Đông và Đông nam của tỉnh Sông rộng trung bình 150 đến 250 m, sâu từ 4 đến 6

m Từ trước thế kỷ thứ X, nơi hội tụ giữa 3 con sông lớn: sông Hồng, sông Luộc, sông Vị Hoàng, hình thành nên một ngã ba sông (ngã ba Tuần Vường) Từ đây người ta có thể ngược sông Hồng đi thủ đô Hà Nội, xuôi sông Hồng ra ngã ba Tuần Vường (Cửa Luộc) đi Thái Bình, Nam Định ra biển, hay từ ngã ba Tuần Vường theo

sông Luộc đi Ninh Giang (Hải Dương), Kiến An (Hải Phòng)

Dòng họ là tập hợp những gia đình có chung nguồn gốc về huyết thống, là một trong những yếu tố quan trọng để cấu thành làng Việt Thông thường một làng Việt được cấu thành bởi nhiều dòng họ Nhưng cũng có làng lúc đầu do một dòng

họ khai lập lên và tên làng đã mang tên dòng họ đó Dần dần, các dòng họ từ nơi khác đến sinh cơ lập nghiệp theo quan niệm: “đất lành chim đậu” và những dòng họ khai làng, sinh sống lâu đời ở làng là những dòng họ gốc Điều đáng tiếc là các dòng họ ở An Cầu không giữ được gia phả gốc hay nhà thờ họ để có thể tìm về lịch

sử tụ cư của các lớp cư dân ở đây

Làng An Cầu cũng vậy, sự hình thành lên làng An Cầu là lớp cư dân đầu tiên

đó là dòng họ Nguyễn, họ về đây định cư trước, tiếp đó là họ Phạm, họ Nguyễn Văn, thời gian sau có thêm họ Đào, họ Ngô, họ Đỗ, họ Bùi, họ Trần, họ Bình, thời gian sau nữa có thêm họ Cao, họ Vũ, họ Lê Điều đặc biệt là các dòng họ dù to hay nhỏ, dù đến sớm hay đến muộn, dù là dân ngụ cư hay dân bản địa ở trong làng không có biểu hiện của sự căng thẳng thù hằn Các dòng họ đều có quyền bình đẳng

Trang 15

như nhau và chịu sự phân công của làng trong mỗi dịp hội hè trong những công việc của làng - xã Qua quá trình phát triển, các thế hệ cư dân nơi đây cùng nhau chung lưng đấu cật, cùng xây dựng làng xóm, cư dân ngày càng đông đúc và thân thiện Hàng năm, cứ đến dịp giỗ họ, các gia đình trong họ gặp nhau lại để phân bổ đóng góp bằng cách quy định ra một mức tiền cụ thể để ông trưởng họ của dòng họ tổ chức lễ cúng chung cho cả họ Đây là một thể chế có đặc điểm giống như các làng xã khác ở Đồng bằng châu thổ Bắc bộ Tổ chức sinh hoạt của dân trong làng lấy nguyên lý lớp tuổi để xác định vị thế xã hội mỗi người theo sự tăng dần của độ tuổi, gắn với những mốc quan trọng trong cuộc đời, lần lượt chuyển lên vị trí cao hơn trong sinh hoạt giáp Vì vậy, trong giáp cũng có tính dân chủ, tất cả các thành viên trong lớp tuổi đều bình đẳng với nhau về lớp tuổi và nghĩa vụ ở An Cầu các giáp bao gồm trai đinh của các dòng họ chứ không chỉ có ở trong họ

Những quy định đặt ra là con trai mới sinh ra phải làm thủ tục vào hàng giáp Hàng năm, những gia đình có con trai thì biện lễ nhập giáp vào dịp lễ hội đầu năm; ngôi thứ trong giáp được xác định bắt đầu từ thời điểm nhập giáp Các thành viên

được hưởng quyền lợi của làng thông qua giáp và phải gánh các nghĩa vụ của giáp phân cho Một trong những nhiệm vụ quan trọng là làm đăng cai giáp; theo lệ làng thì các giáp đăng cai hàng năm ngoài các công việc trong giáp mình còn phải biện

lễ trong dịp lễ hội, giáp đăng cai phải chịu trách nhiệm chính trong việc đồ lễ và việc phục vụ tế lễ rước sách thờ thần Các giáp trong làng đều có ruộng riêng, hàng năm cho đấu thầu lấy tiền hoặc thóc để dùng chi phí cho các công việc chung, các giáp cho các thành viên cấy cầy và biện lễ theo qui định Mỗi công việc đều thông qua trưởng giáp và người điều hành công việc trong giáp Vì vậy, cơ cấu tổ chức của làng truyền thống giáp đóng vai trò quan trọng, đó là cầu nối giữa cá nhân với làng

Đây cũng là đặc điểm chung của nhiều làng quê vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng

Theo số liệu điều tra năm 2008, hiện nay An Cầu có 615 hộ và trên 3000 nhân khẩu Trải qua bao biến cố của lịch sử, song người dân nơi đây đã từng có truyền thống đoàn kết, thương yêu để sinh tồn Họ cùng nhau làm ăn, cùng nhau bảo vệ xóm làng, quê hương, cùng nhau chung vui hội hè đình đám và cùng nhau

Trang 16

tạo dựng nên những thuần phong mĩ tục nơi đây mang sắc thái văn hoá của quê Trạng

1.1.4 Đời sống kinh tế

Trước kia, khi hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn thiện An Cầu thường bị úng, lụt vào mùa mưa; bất lợi của thiên nhiên là chính nhưng mỗi khi nước rút đi trên bờ bãi ven sông Luộc là nơi đất đầy phù sa màu mỡ rất thích hợp cho các loại cây hoa màu, cây mía, cây dâu phát triển và nguồn tôm cá dồi dào

Địa hình, địa thế trên đây của An Cầu đã quyết định cơ sở kinh tế chính của dân làng là nông nghiệp trồng lúa nước Tính “ chiêm trũng” thể hiện rất rõ nét trong nếp sống của dân làng; từ quy trình canh tác, các thao tác kĩ thuật, công cụ sản xuất đến bộ mặt làng xóm, bố trí khuôn viên nhà cửa…Đó là, cày bữa phải cắm

vè, đi cấy đi gặt dưới ruộng sâu phải dùng thuyền Nhà cửa trong vùng đều được tôn cao, bao quanh làng là hệ thống ao, hồ, kênh rạch để thoát nước trong mùa mưa lũ

Dưới thời phong kiến chế độ sở hữu ruộng đất manh mún và cuộc sống vật chất kỹ thuật lạc hậu không hỗ trợ để làm thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng nên không tạo ra cho nông nghiệp có được năng suất cao Theo các bậc cao niên trong làng, các loại giống lúa được cấy ở đây là các giống lúa chịu úng như: dâu đen, kén muộn, hom, để chúng có thể ngoi theo triền nước nổi vươn lên để phát triển, song năng suất thấp bình quân mỗi sào ruộng chỉ được 3 cối thóc, mỗi cối 16 đấu, mỗi

đấu bằng 1,3 kg hiện nay Những năm mưa thuận gió hoà thu hoạch còn đạt từ 60- 70kg / sào, những năm thiên nhiên khắc nghiệt năng suất tụt xuống chỉ còn từ 20-30

kg / sào, có năm mất thẳng hoặc thu hoạch không tương ứng với công sức bỏ ra Ngoài trồng lúa, với lợi thế có dải đất phù sa màu mỡ ven Sông Luộc, dân làng còn trồng ngô, dâu, mía, đậu thêm nguồn thu nhập cho dân làng và các giống cây này cũng đi vào truyền thuyết của dân làng nơi đây Các cụ kể: Cây mía trồng ở vùng này là cây mía de, thân nhỏ nhưng cao, đốt dài nên rất dễ dóc và cho nước ngọt sắc, bà con có thể tự ép mía nấu mật hoặc bán mía cho nhà máy đường

Nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ đã từng là nghề truyền thống khá nổi tiếng

của An Cầu: “ Dù ai buôn đâu bán đâu

Trang 17

Không bằng cánh cửi gốc dâu làng Gầu”

Dân nơi đây kể rằng, nghề trồng dâu nuôi tằm là hết sức công phu Nghề này trước hết phải chăm lo cho cây dâu bởi đây là thức ăn duy nhất của con tằm ở An Cầu, dâu được trồng chủ yếu ở ven sông Luộc, vì cây dâu rất thích hợp với đất phù

sa sẽ cho nhiều lá Chăm sóc cây dâu từ trồng tỉa đến chặt, bón phân, cải tạo đất, tưới nước quả là một công việc vất vả, sao cho thân cây dâu cao, lá dâu hái đúng lứa tằm ăn càng sinh lợi nhiều Một sào dâu tốt có thể đủ nuôi từ 3 đến 4 nong tằm một lứa và một nong tằm cho từ 3 đến 6 kg kén Một cây dâu cho từ 9 đến 10 lứa lá, một năm cây dâu đốn chặt hai lần, cung cấp cho người trồng lượng củi đun khá lớn Nuôi tằm còn vất vả hơn, vì tằm rất nhạy cảm với thời tiết, môi trường xung quanh

và thức ăn nếu có bất thường chúng sẽ chết hàng loạt Trong dân gian đã có

câu“nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”

Đời sống của con tằm trong mùa nóng ấm từ lúc trứng nở đến khi làm kén kéo dài từ ba đến bốn lần lột xác ( gọi là ngủ một, ngủ hai, ngủ ba và ngủ bốn), mỗi lần lột ngủ khoảng hai ngày rồi lại dậy ăn, ăn xong lại ngủ, sau bốn lần lột xác thì tằm dậy ăn rỗi suốt bảy ngày thì chết Khi tằm ngủ hoặc chín mà gặp trái gió trở trời thì dễ mất cả chì lẫn chài Dù nắng hay mưa bao giờ người chăn tằm cũng phải

đủ lá dâu cho tằm ăn liên tục cả ngày cả đêm Tằm chín người nuôi phải bắt lên né rơm để tằm làm kén trong ba ngày Sau khi tằm thành kén người nuôi có thể bóc kén quay tơ Trước đây, An Cầu làm kén ra chủ yếu để bán, khách đến mua tơ là các lái buôn từ Cẩm Giàng (Hải Dương), Hà Đông (Hà Tây) đó là nghề một thời

đã đem lại nguồn thu nhập khá cao và được bà con trong làng đầu tư nhiều thời gian công sức Song những năm gần đây, không hiểu tại sao khi mua trứng tằm về hay bị hỏng, tằm nở ít, khi nuôi thường bị chết hàng loạt, bà con đâm ra nản và cứ càng ngày “gốc dâu”, “con tằm” càng rời xa bàn tay bà con nơi đây

Hiện nay, sau nhiều năm cải tạo xây dựng, kết cấu kinh tế truyền thống của

An Cầu có thay đổi đáng kể, mức độ tăng trưởng kinh tế có rất nhiều khả quan.Trước hết, là trong nông nghiệp: cơ sở kinh tế chính của làng đã có những thay đổi đáng kể Nhờ công cuộc làm thuỷ lợi ( làm cống tiêu nước ra sông Luộc,

Trang 18

xây dựng, nạo vét sông ngòi kênh rạch ) mà đồng ruộng của làng hiện đã trồng hai vụ lúa và một vụ trồng màu tương đối khá, không còn diện tích đồng ruộng nổi trắng nước về mùa mưa như câu ca: “Đồng trắng nước trong, rau rong cua kềnh” nữa Trong khoảng gần chục năm gần đây, An Cầu thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế mà trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Các giống lúa mới như lai hai dòng Q5, Kháng dân 9820- DV108, Bắc thơm, Xi được đưa vào gieo cấy đem lại năng suất cao bình quân đạt 170- 180 kg/sào (vụ mùa) và 190- 200 kg/sào (vụ chiêm) Ngoài ra còn có vụ đông với các loại cây hoa màu như: ngô, khoai, dưa xuất khẩu, đậu tương, rau xanh đưa tổng sản lượng lương thực quy ra thóc của thôn đạt từ 1800- 2000 tấn, bình quân lương thực đầu người từ 630- 650 kg/người/năm

Ngoài trồng lúa, dân làng còn chủ động thâm canh, xen canh, luân canh nhiều cây thực phẩm như: đậu, lạc, các loại rau xanh như: cà chua, đỗ quả, su hào, cải bắp Diện tích trồng dâu xưa nay được thay thế bằng cây ngô, một năm hai vụ

đem lại lượng lớn lương thực phục vụ cho chăn nuôi như: chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm: trâu, bò, lợn, gà, vịt không ngừng phát triển về số lượng, chất lượng

đem lại nguồn thu nhập chính trong cơ cấu kinh tế V-A-C (vườn, ao , chuồng)

Hàng chục mẫu ao hồ, đầm được đưa vào sản xuất nuôi cá; hàng năm người dân thu nhập từ nguồn này hàng vài trăm triệu đồng

Ngoài nông nghiệp, làng còn có khoảng vài trăm lao động đã chuyển sang các công việc khác như: làm nghề (mộc, nề, cơ khí), làm dịch vụ (ăn uống, vận tải, vật liệu xây dựng), chạy chợ buôn bán (lợn, gà, may mặc) và đi làm thuê Bên cạnh

đó một số nghề như: chặt sen, thêu ren, mây tre đan cũng thu hút, tạo việc làm cho vài trăm lao động lúc nông nhàn

Kinh tế phát triển đem lại đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng khá lên; theo số liệu thống kê của Ban quản lý Hợp tác xã năm 2008 có 89.5%

hộ gia đình có đời sống kinh tế ổn định và phát triển, nhiều hộ gia đình giầu, không

có hộ đói; 100% hộ gia đình có nhà ngói, nhà mái bằng, nhà tầng Trên 90% số hộ gia đình có ti vi màu, 60% hộ có xe máy, 70% hộ có điện thoại Bình quân thu nhập

Trang 19

tính theo đầu người năm sau cao hơn năm trước: năm 2007 là 6,1 triệu

đồng/người/năm, năm 2008 là 6,9 triệu đồng/người/năm

Nhìn vào những thống kê trên ta thấy mức sống của bà con làng An Cầu thuộc loại trung bình khá so với các làng trong vùng Mặc dầu vậy, An Cầu là một làng nông nghiệp, trồng trọt vẫn là chủ yếu, tuy vẫn có thêm một số nghề phụ như: chăn nuôi, làm nghề dịch vụ và buôn bán nhỏ Cũng như các làng quê khác trong tỉnh, An Cầu trong những năm gần đây có những biến đổi đáng kể mang lại bộ mặt mới cho một vùng quê có bề dầy lịch sử Khi đất nước đang chuyển mình trong thời

kỳ mở cửa, giao lưu và hội nhập, với những biến động lớn về kinh tế - chính trị và xã hội đã làm cho bộ mặt kinh tế, đời sống của nhân dân địa phương thay đổi khá lớn lao; làng đã có tủ sách, đội văn nghệ, có nhà văn hoá phục vụ nhân dân sinh hoạt hội họp với đủ trang thiết bị đường làng ngõ xóm đang dần được nâng cấp, tu sửa bằng vật liệu cứng, đổ bê tông, đã có 552 gia đình/615 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá (89,7%), năm 2000 An Cầu được Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên công nhận là làng văn hoá Nhân dân thôn An Cầu ngày nay càng tự hào và tuyệt

đối tin tưởng vào chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

1.1.5 Đời sống văn hoá- x∙ hội

Làng An Cầu có vị thế địa lý thuận lợi, cận kề Phố Hiến vì vậy đã hội tụ được những nét văn hoá truyền thống văn hiến lâu đời Đời sống văn hoá của An Cầu cũng rất phong phú, với những phong tục tập quán điển hình của làng quê cổ truyền Việt Nam

Theo nhà nghiên cứu dân tộc học Trần Từ, làng là tế bào sống của xã hội Việt, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư của người Việt trồng trọt, làng

là tổ chức xã hội hoàn chỉnh nhất, mỗi làng có một hệ thống các thiết chế dựa theo các nguyên tắc tập hợp người gồm xóm ngõ, dòng họ,…các phường hội [52, tr.11-12]

1.1.5.1 Cơ cấu tổ chức của làng An Cầu trước Cách mạng Tháng Tám

- Xóm ngõ: Khu cư trú của làng có một trục đường chính chạy qua từ Đông sang Tây - đây cũng là con đường liên thôn – là đê sông Luộc, chia dân cư thành 2

Trang 20

địa bàn: trong đồng và ngoài bãi, đường nối với các trục đường cũng là các ngõ xóm hình xương cá Theo các bậc cao niên trong làng, buổi đầu làng nằm cơ bản trong đê, sau dân cư đông đúc nên chuyển ra mở mang làng xóm theo các bãi bồi ven sông Dần dần khu dân cư của làng tựa như một hình thoi chạy từ Tây sang

Đông, từ Bắc xuống Nam Bao bọc lấy làng xóm là hệ thống các luỹ tre xanh và các kênh rạch, sông ngòi; toàn bộ các ngõ xóm trong làng bám lấy trục đường cái như hình xương cá chạy theo hướng Đông – Tây và ngược lại Cũng như nhiều làng quê khác thuộc Châu thổ Bắc bộ, một đặc điểm chung của xóm ngõ ở An Cầu là dân cư luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau bởi mối quan hệ láng giềng và huyết thống Song, trong lịch sử, dân cư ở đây có sự xáo trộn, có dòng họ đi làm ăn xa và ở lại nơi đất mới, lại có dòng họ khác đến đây sinh cơ lập nghiệp, hoặc trong làng có dòng họ lớn phân thành nhiều chi sống ở các xóm khác nhau Vì vậy, sợi dây liên kết cộng đồng người trong xóm ngõ lại với nhau chủ yếu vẫn là quan hệ láng giềng Cũng như dân gian nhiều nơi, họ vẫn thường xuyên bảo nhau: “ bán anh em xa, mua láng giềng gần” để làm phương châm đối nhân xử thế trong cuộc sống thường ngày

Cuộc sống cộng đồng xóm ngõ giữa các gia đình ở An Cầu có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau cả về đời sống vật chất và tinh thần bởi xuất phát từ việc nhà nông quanh năm vất vả “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Vào thời vụ, hàng xóm láng giềng giúp nhau cày cấy, giặt hái…những khi có công việc lớn như cưới xin, làm nhà hay gặp hoạn nạn ( ốm đau, tang ma), sự giúp đỡ đó càng thể hiện rõ hơn và đầy đủ hơn, không chỉ bằng đồng tiền bát gạo, họ còn đỡ nhau cả tấm áo the, khăn xếp…Trong những ngày hội làng, mỗi xóm có trưởng xóm do dân trong xóm bầu lên, thường là người lớn tuổi, nhanh nhẹn , hoạt bát, gia đình nề nếp…Trưởng xóm lo điều hành công việc chung như: bảo vệ an ninh; cúng vào hè,

ra hè; cúng cháo rằm tháng bẩy; làm giỗ cho những người đặt hậu và đặc biệt là làm

lễ tất niên ( từ 23 đến 30 tháng chạp tuỳ từng xóm)…Đời sống xóm ngõ dựa trên tinh thần “ tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách” thật bình yên, êm ả

- Tộc họ: Buổi ban đầu cư dân đến đây khai phá, họ cư trú theo từng khu vực

để sinh sống, đánh bắt và sản xuất Làng An Cầu hiện nay có khoảng 13 dòng họ,

họ cùng có công khai khẩn lập làng, nhưng tiêu biểu là một số họ: họ Nguyễn Phúc,

Trang 21

họ Phạm, họ Nguyễn Văn, họ Đào, họ Ngô…mỗi dòng họ có một chi, phái riêng;

đứng đầu tộc họ là tộc trưởng, có dòng họ có xây dựng nhà thờ riêng, có khu mộ riêng Hằng năm, thường vào tháng ba tổ chức cúng lễ: con cháu trong họ tề tựu, tập trung về cúng ông bà, tổ tiên, sửa sang mồ mả…giữ mối quan hệ trong dòng tộc, tăng cường tinh thần đoàn kết với nhau Gia tộc, gia đình, làng xóm có mối quan hệ với nhau, tạo nên sinh hoạt trong làng xóm

- Tổ chức giáp: Lệ làng qui định, trai đinh từ 16 tuổi trở lên cho đến lúc về già phải nằm trong tổ chức giáp Để vào giáp, thủ tục đầu tiên của người con trai đó

là làm lễ trình làng, gồm: một cơi trầu, be rượu và một vài đồng tiền, mang ra đình

có lời với ông quan Đám để làm lễ thánh trình làng và được ghi tên vào sổ đinh.Từ

đó, người trai này chính thức được xếp vào tổ chức giáp, được nhận 1 suất ruộng công (5 sào), được tham gia sinh hoạt ở đình theo hệ thống giáp, nhưng đồng thời cũng bắt đầu phải gánh nghĩa vụ đối với mọi công việc như: biện lễ thờ thành hoàng theo lượt, phục vụ lễ hội, đi phu phen tạp dịch, tuần phòng, đến 18 tuổi phải đóng thuế, đi lính…

Trước 1945, làng có tất cả 14 giáp, mỗi giáp có 24 người ( chia làm 4 mâm)

và có người đầu bàn phụ trách Điều đặc biệt ở đây là các giáp này được phân theo lớp tuổi từ trên xuống chứ không phải mỗi giáp gồm trẻ nhỏ, trung niên, người già của nhiều xóm ngõ, dòng họ Hằng năm, thứ bậc của giáp có sự chuyển dịch từ thấp lên cao theo quan niệm (thay tuổi tác) Tuổi tác được tôn trọng theo quan niệm:

“kính lão đắc thọ”, trong thứ bậc của giáp đã tạo ra một không khí dân chủ cộng

đồng làng mạc

Giáp ở An Cầu giống như giáp ở các làng Việt khác là thiết chế giữ vai trò quan trọng trong các sinh hoạt cộng đồng làng; là đơn vị quản lí nhân đinh, lo tang

lễ cho người chết, đơn vị phân cấp và quản lí công điền, tổ chức biện lễ, phục vụ tế

lễ và đám rước khi hội làng

-Hội đồng kỳ mục, chức dịch: Hội đồng kỳ mục bao gồm những người có chức quyền trong bộ máy quản lí hành chính làng xã; đó là người có phẩm hàm chức tước, bằng cấp trong xẫ hội phong kiến Trong hội đồng kỳ mục này, đứng đầu

Trang 22

là tiên chỉ và thứ chỉ là hai người có phẩm hàm cao nhất trong làng, còn lại những người khác được người dân ở An Cầu gọi chung là quan viên Họ đều là những người xuất thân có chức tước, phẩm hàm, bằng sắc như quan lại về hưu, còn là cựu chánh (phó) tổng, cựu lý phó trưởng và đều là những người có điền sản khá lớn Thành phần hội đồng kỳ mục ở An Cầu là những người cao tuổi trong làng theo quan niệm: “sống lâu lên lão làng” Hội đồng kỳ mục là những người có toàn quyền

đối với mọi việc trong làng như: bán ngôi thứ; chia và đấu thầu ruộng công; san bổ thuế khoá; phân bổ người phu, lính; tổ chức hội hè; sửa đình chùa; qui định các lệ làng…

Chức dịch là bộ phận hành chính, tức đại diện chính quyền Nhà nước phong kiến ở làng Thế kỷ XVII-XVIII đứng đầu là xã trưởng; đến thời Nguyễn (1828) là

lí trưởng, dưới lí trưởng là phó lí Người nào có tư văn thì hai năm một khoá, chưa

có tư văn thì ba năm một khoá Trong cả khoá, làng cấp cho 200 quan tiền và 2 mẫu ruộng Mãn khoá mà không mắc khuyết điểm thì được ứng tế đình trung, miễn trừ tạp dịch Giúp việc chánh phó lí có ba người ở bàn kỳ dịch (bàn quan viên) để cùng chánh phó, lí trưởng thừa hành công vụ, việc quan quân Ngoài ra, còn có một số thư kí người từ hạng khoá sinh, biết chữ để trợ giúp lí trưởng biên chép các việc sinh

tử giá thú cùng các việc chi tiêu, thừa dịch

Bộ máy chức dịch chịu trách nhiệm trước Nhà nước phong kiến bên trên về thu thuế, điều phu, lính, chia ruộng công, bảo vệ trị an…

- Các phường hội: Cũng như nhiều làng Việt khác thuộc châu thổ Bắc Bộ nói chung, làng xã đất Hưng Yên nói riêng, An Cầu trong cơ cấu tổ chức làng xã ngoài những thiết chế giữ vai trò nổi bật như: dòng họ, chức dịch còn có những tổ chức phường hội khác như: hội tư văn, hội chư bà, hội đồng niên Đó là những tổ chức dân dã mang tính tự nguyện cao về nhu cầu quan hệ cộng đồng và mục đích tương trợ nhau trong cuộc sống

Hội đồng niên là một tổ chức phường hội theo năm sinh lứa tuổi Hội hiệp dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng Nếu những sinh hoạt cộng đồng ở chốn đình chung mang tính ngôi thứ, được quy định chặt chẽ bởi lệ làng thì hội đồng niên là

Trang 23

nơi đề cao tính dân chủ, bình đẳng, cởi mở, tương thân tương ái Chính vì vậy, tổ chức hội đồng niên đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong quan hệ cộng đồng Hàng năm, ở An Cầu trở thành truyền thống, cứ đến ngày mùng 6 tết Nguyên Đán

là ngày họp mặt đồng niên tại nhà một thành viên người trong hội, họ thăm hỏi, chuyện trò, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, động viên giúp đỡ nhau và tổ chức ăn uống

Hội tư văn là tổ chức của những người có nho học, nhưng ở An Cầu không phải là đất có nhiều người đỗ đạt nên tổ chức này lại chủ yếu là những người trong

bộ máy kỳ mục, chức dịch “có chân” trong hội và một số sinh đồ Hội tư văn có trách nhiệm được soạn các văn bản thuộc về lệ làng như: hương ước, các giấy tờ hành chính của làng, đặc biệt là soạn văn tế thần mỗi khi hội hè đình đám

Hội chư bà là tổ chức của những cụ bà từ 45 tuổi trở lên theo đạo phật Hội này thường xuyên vào ngày sóc vọng (mồng một,rằm) hàng tháng đến chùa để tụng kinh, thờ phật, gia đình nào có người mất, hội đến cầu kinh giải siêu và đưa vong linh người mất lên chùa

-Hệ thống ngôi thứ: Cũng như nhiều làng quê khác ở châu thổ Bắc Bộ, quan

hệ giai tầng của làng xã được phản ánh sâu sắc ở ngôi thứ chốn đình trung, cũng như phản ánh địa vị của người ấy trong xã hội làng xã Đặc điểm đầu tiên của hệ thống ngôi thứ này là hệ thống chỗ ngồi theo tuổi tác thông qua các bàn, trong đó

có ba bàn quan viên được trọng vọng nhất sau các bô lão Song, trong xã hội phong kiến, vị thế con người được đánh giá bằng bằng cấp, phẩm hàm, chức tước thì tuổi tác đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu Các ngôi thứ cao cùng với các quyền lợi được dành cho những người có các tiêu chuẩn này: chẳng hạn, người nào có bằng cử nhân, tú tài vào ngày xuất, nhập tịch hàng năm được kính biếu thủ hoặc chân lợn Cho nên những ai không có, muốn khỏi bị “lép vế “, phải bỏ tiền ra để mua nhiêu, mua xã Song, ở bất cứ vị trí ngôi thứ nào, đương sự cũng phải khao vọng rất nặng, vì thế có người dốc hết gia sản đi mua ngôi thứ rồi sau đó lâm vào cảnh túng quẫn, gia đình tan nát

Dân Bạch Đinh là toàn thể những người không có chức tước, phẩm hàm, bằng cấp, hoặc không có tiền để mua nhiêu mua xã Họ là tầng lớp nghèo khổ nhất và

Trang 24

phải chịu mọi khoản như: sưu thuế, binh lính, phu phen, tạp dịch Trong xã hội phong kiến làng xã họ bị gọi là dân đinh vì chủ tính nam giới ở An Cầu dân đinh

được tính từ mới sinh trở lên, đến 49-50 tuổi nếu khao vọng hương lão thì được lên lão và được giảm phu phen tạp dịch Họ nằm trong các tổ chức bàn và được chia một phần ruộng công nhỏ bé, nhưng phải gánh vác mọi công việc của làng và cũng

được ngồi chốn đình trung hưởng một phần “xôi, thịt” mỗi khi hội hè đình đám

1.1.5.2 Cơ cấu tổ chức của làng An Cầu hiện nay

Từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, An Cầu có nhiều thay đổi trong cơ cấu tổ chức của làng Hiện nay, làng có 615 hộ gia đình, trên 3000 nhân khẩu với nhiều dòng họ do quá trình cộng cư lâu dài trong lịch sử Các hộ gia đình sống trong bốn xóm cổ và hiện là ba xóm mới, được gọi tên theo ba đội sản xuất Quan

hệ làng xóm láng giềng, trong họ ngoài làng luôn giữ được những nét đẹp của thuần phong mỹ tục như: tính đoàn kết cộng đồng, tương thân tương ái, trọng tình trọng nghĩa Theo hệ thống chính trị hiện nay, làng có 3 chi bộ với 104 đảng viên trên tổng số 281 đảng viên trong Đảng bộ xã

Ban quản lý thôn hiện nay gọn nhẹ, đứng đầu là trưởng thôn sau đến các bí thư chi bộ và các tổ chức đoàn thể như: đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh, hội khuyến học cuộc sống của dân làng dưới đường lối của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được nâng cao

1.1.5.3 Phong tục tập quán, tín ngưỡng

Cư dân đến đây cư trú, lập làng cùng nương tựa vào nhau để sinh tồn Sự cố kết này dựa trên nền tảng hương ước, quy ước của làng và bảo vệ cho nó là bộ máy làng xã Đây cũng chính là cơ sở để bảo tồn các giá trị thuần phong mỹ tục, tín ngưỡng, lễ hội của người dân làng An Cầu

-Về tập tục cưới hỏi: ở An Cầu khi xưa vệc hôn nhân theo truyền thống thường được tiến hành các lễ: lễ thăm nhà (nhà trai thăm hỏi nhà gái, mang lễ vật

đến làm quen); lễ sơ vấn gọi là lễ dặm hỏi (hỏi tên, hỏi tuổi) để sau đó nhờ thầy xem xét sự tương sinh, tương khắc; lễ ăn hỏi và sau cùng là lễ cưới Song theo thời

Trang 25

gian dần dần có sự rút gọn chỉ còn ba giai đoạn chính đó là: chạm ngõ, ăn hỏi và cưới

Lễ chạm ngõ được tiến hành vào buổi tối, lễ vật trong lễ chạm ngõ chỉ gồm

ba cơi trầu (15 đến 20 quả cau và vài lá trầu) Nếu cha mẹ cô gái đồng ý sẽ thách cưới bao gồm một lễ chín (xôi và thịt lợn hoặc thủ lợn luộc) và các lễ khác như trầu cau, thuốc, rượu

Lễ ăn hỏi: nhà trai mang đầy đủ những thứ được thách đến, sau khi nhận lễ nhà gái chia lại cho nhà trai mỗi thứ một ít gọi là “lại quả” Những ngày sau nhà gái mang đồ thách cưới do nhà trai mang đến chia quà cho họ hàng, làng xóm, báo tin con gái sắp lấy chồng và mời họ đến dự Khoảng thời gian từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới kéo dài từ một tháng đến một năm (tuỳ theo gia đình xem tuổi cho cô con gái có hợp với thời gian cưới hay không) Đây là giai đoạn thử thách chàng rể, bổn phận này gồm có “ sêu” và “tết” Sêu: có nghĩa là ngày 5 tháng 5 âm lịch chàng trai phải mang một con ngỗng và một thúng gạo nếp và rằm tháng 8 âm lịch phải mang một mâm quả hồng, một mâm cốm đến biếu cha mẹ vợ Tết: tức là trong dịp tết hàng năm (đoan ngọ, nguyên đán) chàng rể cũng phải mang đồ lễ tết đến tết bố mẹ vợ

Lễ cưới: Đám cưới được tiến hành khi rước dâu về nhà trai, bà mẹ chồng phải chốn cô con dâu mới, sự gặp mặt vào thời điểm này con dâu sau này sẽ không ngoan với mẹ chồng Khi tổ chức lễ cưới phải có lễ tế hồng, cô dâu chú rể cùng ăn chung miếng trầu cùng uống chung chén rượu, cầu nguyện được sống với nhau đến

đầu bạc răng long

-Về việc tang lễ: Trong vùng, trong xóm, nhà ai có người qua đời, xóm đều

cử người đến giúp mọi việc theo đúng tinh thần “ tương thân tương ái”, “nghĩa tử là nghĩa tận” nhà nào có người ốm sắp mất thì con cháu về tụ họp quây quần đông đủ Sau khi người ốm tắt thở, người con trưởng thắp đèn hướng lên bàn thờ tổ tiên, khấn vong linh tổ tiên về đón linh hồn tụ hội với vong linh tổ tiên, khi liệm có nhà sư vào làm lễ Sau khi liệm xong dòng họ tổ chức tế, gia đình nào khó khăn thì lễ tế chỉ có xôi, thịt lợn, thịt gà ; gia đình nào khá giả thì có thêm thịt bò Quan tài của người chết đặt ở gian trong, con cháu phải thay nhau túc trực bên quan tài Khách đến

Trang 26

phúng viếng ở gian giữa nơi đặt bàn thờ Thông thường đám ma tổ chức ba ngày mới đưa ra nghĩa địa của làng để chôn cất Trong thời gian tổ chức đám ma, tang chủ phải làm cỗ mời khách và những người trong dòng họ đến ăn

Ngày nay, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng phong trào nếp sống văn hoá mới; làng An Cầu đã xây dựng được quy ước làng văn hoá Những phong tục tập quán dần dần giảm tiện, loại bỏ những hủ tục rườm rà, song vẫn giữ được nét đẹp truyền thống vốn có có từ bao đời nay Như trong cưới xin, từ lúc chạm ngõ đến khi cưới vẫn giữ được ba lễ chính đó là: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới nhưng việc thách cưới của nhà gái chỉ là mang tính hình thức, trong ngày tổ chức đám cưới không còn cảnh ăn uống linh đình Nhiều gia đình đã tổ chức lễ cưới theo nếp sống mới; đặc biệt trong tang lễ không để thi hài quá 36 tiếng ở nhà, không tổ chức các nghi lễ rườm rà và bầy biện linh đình gây tốn kém

-Về truyền thống hiếu học: Với truyền thống hiếu học của nhân dân, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam đều xuất hiện nhân tài của đất nước, có nhiều vị thi cử đỗ đạt cao Chỉ tiếc rằng hiện nay không có tài liệu nào ghi chép cụ thể về truyền thống đỗ đạt khoa cử của địa phương Theo lời các cụ kể thì An Cầu vốn là một làng quê nghèo nhưng sẵn có truyền thống hiếu học nên người dân ở đây rất quan tâm chăm lo đến sự học hành của con cháu Nhiều nhà khá giả mời thầy về dạy học cho con cháu mình Làng còn có lệ miễn đóng phu sai, tạp dịch cho học sinh, sĩ tử, môn đồ để khuyến khích động viên “sự” học hành, đỗ đạt Trong các khoa cử của triều đình phong kiến đã có một số người đỗ đạt cao, làm quan ở các triều đại như: Nguyễn Ngọc Thuyên đỗ tú tài được vua Minh Mạng vời vào dạy học trong Huế; Nguyễn Ngọc Tân đỗ cử nhân và được mời vào làm quan (giữ chức Huấn khoa) dưới triều Lê; Phạm Đình Lăng có tài võ nghệ được vua Lê tín nhiệm cho giữ chức quan Vệ uý trong triều đình hay là Phạm Đức Chiêu làm quan cửu phẩm trong triều Nguyễn, gần đây có cụ Đào Công ấn làm quan thừa phái huyện…Và còn nhiều vị nho sinh sau khi học xong không tham gia các khoa thi, hoặc đỗ đạt nhưng cáo quan ở nhà cắt thuốc, dạy học như cụ: Từ Lãm, cụ Hương Sư…

Trang 27

Kế thừa truyền thống hiếu học của quê hương, người dân làng An Cầu ngày nay, mặc dù còn phải vất vả mưu sinh nhưng rất trọng sự học: Con em đến tuổi đi học 100% đều được đến trường; tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh khá chiếm 50% so với toàn xã; học sinh đố tốt nghiệp các cấp đạt 99%; hằng năm tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ từ 60-70% Hiện nay, An Cầu có 4 người có trình độ tiến sĩ, nhiều thạc sĩ, đại học, cán bộ cấp cao đã thành danh, đóng góp cho quê hương đất nước trên nhiều lĩnh vực

-Về tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống văn hoá tâm linh

Những sinh hoạt văn hoá lễ hội của người dân nơi đây, ngoài tín ngưỡng thờ

tổ tiên, thờ ông bà cha mẹ, chủ yếu đều hướng về vị thánh mà họ tôn kính là Trạng nguyên Tống Trân Là địa phương có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời cho nên ngoài đền thờ Trạng nguyên Tống Trân còn có các công trình di tích lịch sử văn hoá thờ những nhân vật lich sử như: đền Lê Xá thờ bà Tây Cung Hoàng Hậu (vợ Ngô Quyền), đền An Bến thờ Đoàn Thượng tướng quân thời nhà Lí…Mặc dù đời sống còn nghèo, nhưng các công trình đó đều được nhân dân đóng góp xây dựng với một niềm tin mãnh liệt, muốn giữ lại và cầu phúc cho những người con đã hi sinh vì tổ quốc; đồng thời muốn gửi gắm vào thế giới tâm linh một cái gì đó để cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa mang tươi tốt, phù hộ cho con cháu ham học thành tài, cho cuộc sống ngày càng bớt khó khăn vất vả

Các lễ hội ở đây đều được thực hiện chu đáo với tấm lòng thành kính của dân làng Theo các cụ kể lại, sau tết cổ truyền của dân tộc, vào ngày lễ “tiên hiền” tức ngày rằm tháng giêng, ở trong làng, từ tráng đinh đến quan viên, chức sắc, áo mũ chỉnh tề cùng dân làng ra đền làm lễ tế Đêm đến khi nghe tiếng trống chầu giục giã, già trẻ, gái trai vội vã tấp nập đua nhau ra đền xem hát hội, hát chèo Ngoài lễ hội chính, hằng năm vào tiết thanh minh các dòng họ trong làng đều tổ chức viếng

mộ, bồi đắp mồ mả tổ tiên để tỏ lòng thành kính, biết ơn đến ông bà tổ tiên…

Nằm ở vị trí thuận lợi trong giao lưu với các vùng, miền cùng tồn tại với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần, một bộ phận người dân ở làng An Cầu theo đạo công giáo Thôn có một họ đạo với trên dưới 10 hộ Đồng bào giáo dân giữ gìn mối

Trang 28

quan hệ lương giáo, sống đoàn kết “tốt đời đẹp đạo”, không có hiện tượng bài bác,

kỳ thị chống đối nhau

- Các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng

Trước đây An Cầu là một làng có mật độ dày đặc các di tích đình - đền –chùa

- miếu…Trải qua thời gian, thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh tàn phá, nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị đã bị hư hỏng, tàn phá như đình Kiều Nguyễn, đền An Bến…

Hiện nay, An Cầu chỉ còn lại 3 công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị đó là:

Đền Tống Trân, đền Lê Xá và chùa Thánh Ân

Đền Lê Xá: Đền thờ Tây cung Hoàng hậu vợ của Ngô Quyền – bà là người

đã có công cùng nhân dân địa phương dẹp tan quân Nam Hán Ngôi đền được xây dựng trên diện tích đất hẹp, mặt tiền quay hướng Tây, phía trước là sân gạch rộng rãi và có ao thả cá thoáng đãng, kế bên về phía Bắc là ba gian nhỏ thờ mẫu và một gian nhỏ thờ ba người con gái của bà Theo thần tích thần phả tại đền thì đây là ngôi

đền được xây dựng từ thời Đinh, qua nhiều lần tu bổ, mở rộng, đại tu lớn nhất và gần đây nhất là vào triều Nguyễn Theo lời kể: khi bà cùng các tướng lĩnh đánh

đuổi quân Nam Hán về đất này, sau nhiều ngày anh dũng chiến đấu vật lộn với kẻ thù bà đã hi sinh trên chính mảnh đất An Cầu Khâm phục trước lòng dũng cảm, xả thân vì dân vì nước dân làng lập đền thờ bà Đền được kiến trúc theo hình chuôi vồ gồm năm gian ngoài, ba gian trong, vật dụng được làm bằng gỗ lim, hoạ tiết hoa văn được trạm khắc rất tinh xảo…Nhận thấy giá trị của ngôi đền, năm 1992 Nhà nước đã công nhận đây là di tích lịch sử cần được bảo vệ và cấp kinh phí để tu sửa nâng cấp khắc phục sự xuống cấp của ngôi đền Hiện tại, cơ bản kiến trúc xưa vẫn còn giữ được vẻ cổ kính và một số cổ vật có giá trị như: tượng bà, hoành phi, câu

đối… Hàng năm cứ đến ngày 5 tháng 1 (âm lịch) nhân dân làm lễ dâng hương tưởng nhớ ngày mất của bà và đến ngày 10 tháng 1( âm lịch) thì mở hội để nhân dân đến dự

Chùa Thánh Ân: Chùa Thánh Ân còn có tên gọi là chùa Ngói, nằm ở khu đất khá rộng, mặt quay về hướng Tây hợp với đền Lê Xá Theo dân làng kể rằng, chùa

Trang 29

được xây dựng từ thế kỷ thứ X, qua các thời đại, chùa đều được tu bổ xây dựng nhiều lần, theo văn tự khắc trên chồng nóc thời Thiệu Trị – thời Nguyễn chùa đã có sáu gian ( 3 gian trong – 3 gian ngoài) rất bề thế, to đẹp

Thời chống Pháp, chùa là một căn cứ cách mạng có giá trị, nơi che dấu các cán bộ, chiến sĩ, nơi chữa trị thương binh, nơi nghỉ chân để bộ đội vượt sông, nơi

đưa - nhận thông tin của cách mạng, nơi cất dấu quân trang, quân lương cho bộ đội Tại đây đã diễn ra các cuộc họp bàn kế hoạch chương trình kháng chiến của cán bộ cách mạng địa phương…Những căn hầm của cách mạng còn giữ mãi đến những năm 1980, sau đó lo sợ chùa bị sập nên những căn hầm này đã bị lấp đi nhưng rồi

đến năm 2000 do không được tu bổ kịp thời chùa bị đổ sập Qua nhiều lần tu sửa, hiện nay chùa Thánh Ân là một trong những ngôi chùa khang trang của địa phương

có không gian thoáng đãng; gồm toà tiền đường năm gian, thượng điện ba gian; hệ thống tượng trong chùa rất đầy đủ: tam đế, di đà, tam tôn, Ngọc Hoàng thượng đế, Nam tào Bắc đẩu, Toà cửu long, tượng Thánh tăng…Chùa còn có nhà thờ tổ, thờ mẫu riêng, có các nhà tu hành thường trực trông coi như: Thích Đàm Thiệu, Thích

Đàm Diêm, Thích Đàm Loan Các vị sư chủ trì ở đây, khi trước thì làm cách mạng bây giờ hoà bình thì giúp dân bốc thuốc, chữa bệnh…

Bên cạnh sự hiện diện của các di tích vừa nêu, trong tâm khảm người dân làng An Cầu có các di tích khác mà hiện nay chỉ còn dấu tích như: đền thờ Đoàn Thượng (Đông Hải đại vương) một vị tướng tài giỏi dưới triều Lí Dân làng kẻ lại rằng: trước kia đây là một trong những ngôi đền bề thế của làng, là nơi hội họp làng xã, nơi sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi dạy học của thầy trò…Những năm 1960, do nhiều lí do ngôi đền đã bị rỡ bỏ; gần đây dân làng xây dựng lại một miếu nhỏ trên nền đất cũ bên trong còn lưu giữ được ba sắc phong thời Nguyễn, hai câu đối dưới thời Khải Định

Đền Kiều Nguyễn thờ Dương Tam Kha; chùa Cổ Lộng; chùa Bà Xẻ, chùa Kim Liên hay miếu thờ Khổng Tử, bia- văn chỉ của làng đã đều bị chiến tranh, thời gian huỷ hoại nay không còn nữa – thật là đáng tiếc!

Trang 30

1.2 Di tích đền Tống Trân

1.2.1 Lịch sử vị thần được thờ trong đền Tống Trân

Tín ngưỡng Thành Hoàng làng từ lâu đã trở thành phổ biến ở các làng xã Việt Nam, vị thần trong một làng là vị thần cai quản, che chở định đoạt hạnh phúc cho dân làng Thành Hoàng làng là niềm tin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng làng xã từ bao đời nay và luôn ở trong tiềm thức sâu kín của bao người dân Thành Hoàng là biểu hiện quyền lực tinh thần tối cao của một làng, chi phối

đời sống vật chất và tinh thần của người dân được người dân tôn thờ với lòng thành kính, là nơi gửi gắm bao niềm tin hi vọng

Thành Hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của làng Lại cũng là một thứ uy quyền siêu Việt, một mối liên lạc vô hình khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ [1, tr.232] Mỗi làng có thể thờ một hay nhiều vị Thành Hoàng Song, các vị thần ấy

đều được dân làng tôn thờ với lòng thành kính nhất, trang trọng nhất

Qua nghiên cứu và hệ thống tài liệu, chúng tôi thấyTống Trân là vị thần-vị Thành Hoàng duy nhất được thờ trong đền Tống Trân Đây là vị thần khá đặc biệt ,đặc biệt bởi ông sống sinh động trong nhiều trang sách, trong tâm thức, trong sinh hoạt văn hoá đa dạng của người dân Từ ông toả ra biết bao ánh sáng văn hoá dân gian lung linh tươi đẹp Có điều sách này cho biết ông sống thời tiền Lý(thần tích làng An Cầu), sách khác lại nói ông sống thời Trần (Dã sử quan trạng Gầu của Nguyễn Thúc Khiêm) Cũng từ ông, nơi này cho là nhân vật lịch sử đích thực, nơi kia lại khẳng định ông là nhân vật dã sử, nhân vật truyền thuyết Đến hôm nay xung quanh ông vẫn còn nhiều băn khoăn, tồn nghi Nhưng có một sự thật không thể phủ nhận là trong sâu thẳm tâm hồn, trí nhớ của người dân Phù Cừ thì những câu chuyện về cuộc đời, công tích hành trạng của ông vẫn còn chói sáng và trở thành biểu tượng cho con người nơi đây

Trong các tài liệu:Thần tích làng An Cầu, thần tích làng Phù Anh, sách Dã sử tạp biên, Đại Nam thống nhất chí, Hưng Yên địa chí, truyện thơ nôm “Tống Trân- Cúc Hoa”, “ Kho tàng các ông trạng Việt Nam” của Đinh Gia Khánh, hay vở chèo

Trang 31

cổ “Tống Trân- Cúc Hoa” Đặc biệt là ở lời kể, và biểu hiện trong đời sống sinh hoạt văn hoá của người dân làng An Câù chúng tôi nhận thấy hình tượng Tống Trân trở thành nhân vật trung tâm, thành cảm hứng sáng tác chủ đạo Có thể nói qua từng thể loại tác phẩm, trên mỗi trang sách,, hình tượng Tống Trân hiện lên với vẻ

đẹp của tâm tư, tình cảm của người dân nơi đây dành cho nhân vật

Để nghiên cứu về lịch sử vị thần được thờ ở đền Tống Trân, chúng tôi căn cứ trước hết vào cuốn thần tích hiện còn lưu giữ, cuốn thần tích này được soạn vào năm

1947 dựa trên bản gốc của Quan Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn dưới thời vua Lê Anh Tông (1572) nay đã bị rách nát Bản sao này do cụ Nguyễn Tân Hưng ( 82 tuổi) là đảng viên, cụ đồ của làng sao theo bản cũ

Theo thần tích, đời vua Lí Nam Đế ở xã An Đô, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay là thôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ) có người họ Tống, tên là Thiệu Công lấy vợ là Đào Thị Cuông ở xã Phù Oanh

Hai vợ chồng ông ăn ở rất nhân từ, tu nhân tích đức, các đền chùa lâu ngày

đổ nát, phần nhiều xuất của trùng tu Hai vợ chồng đi cầu, chẳng bao lâu bà có mang; đến tháng 11, đúng vào giờ Dần, ngày rằm tháng 4, năm Bính Ngọ bà trở dạ Trong ba ngày liền trong nhà rất nhiều khí sáng, các tiên ca múa chào mừng Tống Thiệu Công đặt tên con là Tống Trân

Tống Trân mới 3 tuổi đã rất giỏi âm luật, lên 5 tuổi vào học Lí Đường tiên sinh để Ngày 29 tháng 9 năm ấy vua Lí Nam Đế mở khoa thi tuyển nhân tài, Tống Trân vào thi cả ba kỳ đều đỗ thủ khoa Ngày 1 tháng 2 năm Quý Sửu đỗ đệ giáp nhất cập đệ nhất Trạng nguyên Vua khen “ Quốc sĩ vô song, tướng tài quả nhị” ( trong nước chỉ có một mình ông là danh giá, tướng tài cũng chỉ có mình ông)

Ngày 10 tháng tư, vua ban cờ biển, 1000 vuông gấm và 10 đinh vàng cho vinh qui bái tổ Tống Trân bái lĩnh, lên xe về làng bái yết tổ tông Tống Trân kết duyên cùng Cúc Hoa rồi lập trang ấp riêng ở Phù Anh để ở

Được ba tháng, Tống Trân được lệnh đi sứ nước Tàu; Hoàng đế nước Tàu thử tài, Tống Trân đều ứng đối trôi chảy Vua Tàu phong là “ Lưỡng quốc trạng nguyên” và muốn gả con gái cho trạng nhưng trạng khước từ vì đã có vợ hiền ở nhà

Trang 32

Vua Tàu giam ông vào chùa Linh Long nhiều ngày không cho tiếp tế lương thực Trạng xem xét các tượng phật đều thấy được làm bằng chè lam, ngày ngày trạng bẻ phật ăn dần, hứng nước mưa uống Trạng lại được một vị tiên giáng thế trao cho binh pháp Thái công Các tiên còn ban cho Tống Trân ba quả đào tiên, ba nhánh tóc tiên và dạy cho binh thư bí pháp Vua Tàu phục tài, bèn phong cho Tống Trân là:

“Phụ Quốc thượng tể đẩu Nam Tống đại vương” Tống Trân thăng nhậm kinh Châu, châu Thống Đốc và châu Mã Thánh; đánh giặc Đông Ngô Bắc Nguỵ trong vòng 10 năm đều được bình yên cả Vua Tầu ban đồ thiết Việt, cho Đông Ngô Bắc Nguỵ cùng hoà

Tống Trân dâng sớ xin vua Linh Long, Kiến Huy về thăm song đường bên Nam Việt Bấy giờ ở trong nước, Cúc Hoa vợ của trạng đã lớn, ngày càng xinh đẹp; cha mẹ Cúc Hoa lật lọng muốn gả chồng khác nhưng Cúc Hoa không chịu đưa mẹ chồng vào rừng hiến thân cho hổ, hổ không ăn, Cúc Hoa bèn nói: “ngươi không ăn thịt ta thì đưa giúp ta thư này” Nói rồi rút châm cài đầu, bẻ cây viết thư nói rõ ngày cha mẹ làm lễ cưới Hổ nhận thư mang đến chỗ Tống Trân Ông xem thư tâu xin về nước Về nước, ông đóng quân ở Điềm Xá (nay thuộc xã Minh Phượng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên), thay đổi áo quần đến nơi dò la Quả nhiên, thấy Cúc Hoa đang khóc lóc trong phòng Đúng giờ đón dâu, ông đưa quân lính tới đón Cúc Hoa về

Ông bắt tội người ngoại thân giáng niên hạn để tang xuống còn 1 năm Vua Lí Nam

Đế rất khen ngợi, phong Cúc Hoa là Quận phu nhân

Sau khi vua Lí Nam Đế mất, Triệu Quang Phục lên ngôi đã sai sứ thần là Nguyễn Khắc Hổ đến xã An Đô vời Tống Trân ra làm quan phụ chính

Tống Trân đại hành quốc chính không kỳ việc to hay nhỏ đều xem qua cả

Đến khi Tống Trân tuổi ngoại 60 bèn dâng biểu cáo hồi Vua chuẩn y và cho thu thuế xã An Đô và toàn huyện để dưỡng lão Đến khi trăm tuổi xã An Đô sẽ phải xây lăng trong địa phận và phụng sự Cúc Hoa không có con, bị chứng đau bụng được 3 hôm thì mất, an táng ở làng Phù Anh ( nay thuộc thôn Phù Oanh, xã Minh Tiến, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên) Tống Trân dựng miếu trên mộ, trích 3 mẫu đất ở

đồng xã ấy giao cho một người phụng sự

Trang 33

Sau Tống Trân mở trường dạy học được 5 năm bị bệnh lên mã đao rồi mất ngày 5 tháng 5 năm Tân Hợi Vua được tin, thương nhớ bầy tôi khôn suý, phong sắc: “ Thượng đẳng, phúc thần” và sai đại thần Nguyễn Đình Huy đem sắc chỉ chuẩn y xã An Đô phụng sự Về sau lại gia phong “ Thượng đẳng tối linh phụ quốc thượng tể đẩu nam song toán Tống đại vương”

Mỗi năm, tháng 2, tháng 8, vua gia ban 80 quan tiền xanh và sai quan đại thần về tế Lăng của Vương đất hình đầu rồng, phía trước có hồ Mắt phượng, lại có hốt đá, mũ đá, ngựa trầu xung quanh Lăng Cúc Hoa ở gò Phượng Hoàng múa, làng xóm ở hai bên trông tựa như cánh chim xoè.Trước lăng có hồ Nga mi Hàng năm cứ vào đêm trừ tịch (30 tết), người ta lại thấy có hàng trăm, hàng ngàn ngọn đuốc từ

Điềm Xá đến An Đô(An Cầu) thì vào trong miếu của chúa Đó là sự linh hiện vậy

Khi chúng tôi nghiên cứu và tiếp cận về lịch sử vị thần hoàng Tống Trân đã thấy: Tống Trân đã được dân làng thiêng hoá để trở thành vị thần linh trong tín ngưỡng dân gian, tạo cho vị thần của làng một màu sắc huyền bí nhằm phân biệt thần thánh với thế giới phàm tục Điều này xuất phát từ tình cảm thân thương, tha thiết và thái độ thành kính, tự hào của người dân nơi đây với tài năng, đức độ của ngài

Việc thiêng hoá trước hết là biểu hiện ở sự đầu thai một cách kỳ lạ Bởi xuất phát từ trong sâu thẳm cõi tâm linh, người dân muốn thấy vị thần mà họ thờ phụng, tôn vinh phải thực sự thuộc về thế giới khác- một thế giới siêu phàm, có quyền năng tối cao và quyền uy tối thượng Đó là việc gắn việc đầu thai của vị thần là do trên trời sai xuống:

“Lòng thành thấu đến Thiên Tào

Sai Văn Xương xuống kịp vào đầu thai”

(Văn Xương là ngôi sao tượng trưng cho văn học) Và khi lớn lên thì vị thần

ấy rất hiếu thảo, thông minh, tài giỏi, khác thường…Đặc biệt, để các vị thần được linh thiêng hơn, nhân dân ta thường gắn các vị thần được thờ vào giai đoạn đất nước còn đang lúc bị xâm lăng, đô hộ để họ có môi trường thể hiện tài năng ứng xử, tài

Trang 34

đối đáp, ngoại giao…Với những điều này, nhân dân có dụng ý muốn cho vị thần ấy thật lâu đời, trường tồn với lịch sử của dân tộc [49, tr.577]

Nhưng nếu chỉ linh thiêng huyền bí không thôi thì thần sẽ là một thế lực xa vời chưa đáp ứng được niềm khát khao, mong mỏi của người dân Để xây dựng cho mình, cho cộng đồng một đối tượng linh thiêng để phụng thờ; người dân làng quê Việt Nam xưa còn muốn tìm đến cho mình một sự che chở, phù hộ cho cuộc sống của họ Cho nên bên cạnh xu hướng linh thiêng hoá vị thần được thờ thì họ còn bình thường hoá vị thần ấy, kéo vị thần ấy gắn với cuộc sống lam lũ của dân làng Đó là

đã đỗ trạng nguyên vẫn một lòng thuỷ chung với người vợ hiền thảo nơi quê nghèo,

đó là sau khi đi làm nhiệm vụ do vua giao nơi xứ người xa xôi cách trở vẫn một lòng hướng về quê hương nơi có mẹ già, vợ hiền; đó là khi đến tuổi cao, từ quan, lại trở về quê hương bản quán đem tài trí truyền dạy cho con cháu Chính vì thế mà dân làng tin rằng vị thần được thờ là biểu tượng thiêng liêng vừa cao siêu lại vừa gần gũi với họ Họ tin rằng sự tài giỏi, cao siêu ấy có thể giúp họ đạt được những mong muốn, thấu hiểu được những ước mơ, khao khát của họ Vì vậy, sau khi Tống Trân qua đời, nhân dân lập đền thờ và thường đến đây để cầu khấn mối khi gặp trở ngại hay khó khăn Có lúc người dân coi ông như một vị quan ngồi trên để phán quyết, phân sử giúp họ, có lúc lại là một người thầy giảng giải khuyên răn, khi lại là vị thần vị thánh ban phát phúc lộc …và mỗi khi nhân dân đến cầu khấn ngài thấy mọi việc đều ứng nghiệm

Sự thiêng hoá ấy không chỉ nằm trong phạm vi của một làng quê, mà còn ảnh hưởng sâu rộng theo cả thời gian và không gian của các triều đại, thông qua hệ thống thần tích, sắc phong Vì vậy càng tăng thêm lòng tin về sự linh thiêng của dân làng vào vị thần hoàng mà họ thờ phụng

Nói như thế để khi chúng ta tiếp cận với thần tích của vị thần Tống Trân ở làng An Cầu nói riêng và thần tích của các vị thần hoàng ở Đồng bằng Bắc bộ nói chung, ta thấy gần như có một “mô típ” chung như vậy Mô típ này không chỉ nhằm hợp thức hoá việc thờ cúng vị thần của dân làng mà còn phản ánh rất rõ đạo lí

“uống nước nhớ nguồn”, “tôn sư trọng đạo”… của người Việt Nam

Trang 35

1.2.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của di tích đền Tống Trân

Đền Tống Trân có tên tự là “Thiên căn linh tự”, nhân dân thường gọi là đền quan Trạng, đền Thượng.Theo các cụ và dân làng kể lại thì đền Tống Trân là ngôi

đền được xây dựng sớm, không lâu sau khi quan Trạng qua đời.Trong lịch sử nơi

đây đã từng là một trong những ngôi đền bề thế nhất nhì trong vùng, tại đây trong thời bình thường diễn ra các hoạt động lớn nhỏ của làng: hội họp, sinh hoạt làng xã .Trong kháng chiến nơi đây là căn cứ quan trọng của phong trào cách mạng địa phương Vì là thôn có vị trí tiếp giáp với tỉnh bạn Thái Bình nên ngôi đền trở thành

địa điểm trao chuyển thư từ, tin tức của kháng chiến Đền là nơi dừng chân lánh nạn của các chiến sĩ, cán bộ .Là nơi tập luyện của lực lượng vũ trang, nơi cất dấu vũ khí của cách mạng Khi đánh hơi thấy đây là một trong những căn cứ quan trọng của kháng chiến, bọn thực dân Pháp đã nhiều lần càn quét, đập phá đền Ngày10/3/1950 bọn thực dân và bè lũ tay sai sau khi ập đến, lùng sục khắp nơi, chúng đã châm lửa đốt cháy trơ trụi ngôi đền Nhưng chỉ vài ngày sau đó ngay trên chính mảnh đất hoang tàn đổ nát ấy dân làng lại dựng lên ba gian nhà tranh tre để thờ cúng vị thần hoàng của làng

Kẻ thù có thể đốt phá ngôi đền, đốt phá căn cứ cách mạng, chứ tình yêu quê hương, đất nước và ý chí quyết tâm giành lại nền độc lập dân tộc của người dân đất trạng thì không một thế lực nào có thể phá hoại được

Năm 1971, mặc dù còn trong hoàn cảnh khó khăn, nhưng nhân dân đã đoàn kết một lòng xây dựng ba gian nhà mới bằng gạch, vôi, cát và các nguyên vật liệu lấy từ

đền Bến (bị dỡ bỏ) thay cho ba gian nhà tranh tre đã xuống cấp nghiêm trọng Hoà bình lập lại ,đất nước thống nhất, cả nước bắt tay xây dựng Chủ nghĩa xã hội, đến năm 1983 nhân dân làng An Cầu lại một lần nữa đoàn kết sức người, sức của xây dựng thêm năm gian ngoài nối với ba gian cũ tạo cho ngôi đền có hình chữ Đinh Tiếp đó đến năm 1987, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận tổ quốc nhân dân dựng thêm tam quan, làm cho di tích thêm tôn nghiêm, trang trọng

Trang 36

Để tưởng nhớ tới tài năng, đức độ của Lưỡng quốc trạng nguyên Tống Trân

và có cơ sở pháp lý để giữ gìn ngôi đền, năm 1992 Bộ văn hoá thông tin- thể thao

đã xếp hạng công nhận di tích lịch sử – văn hoá Đến năm 2000 đã cấp kinh phí trùng tu, tôn tạo góp phần làm cho đền Tống Trân thêm khang trang, vững trãi Như vậy để xác định chính xác niên đại kiến trúc của đền Tống Trân hiện nay là điều hết sức khó khăn

“Trên thế giới không một công trình kiến trúc cổ nào có thể nguyên vẹn với thời gian Riêng ở Việt Nam, kiến trúc cổ còn phải chịu một số phận hẩm hiu hơn: hầu như không di tích nào còn đến hôm nay mà không từng bị huỷ hoại nặng nề Một đặc điểm của kến trúc Việt Nam là thường được tu sửa lại, nhất là khi xã hội bước vào thời kỳ ổn định Việc sửa chữa đó, có thể được thể hiện với trong bộ phận kiến trúc (đảo ngói, thay cột hay xà bị mục ) người xưa gọi là trùng tu, hay tu tạo Nếu công trình bị hỏng nhiều, thì phải thay thế hầu hết các bộ phận cơ bản, hoặc mở rộng thêm bằng những công trình phụ, đại tu có khi gọi là khởi tạo Vì vậy nhiều công trình vẫn mang tên cũ, nằm tại địa điểm xưa, khớp với lời ghi trong thư tịch cổ, nhưng đã được xây dựng hoàn toàn mới, theo phong cách của thời muộn hơn Ngược lại, có những trường hợp thời gian xây dựng được ghi gần đây, nhưng nhiều bộ phận kiến trúc cũ vẫn được giữ lại, do đó mà một phần kết cấu kiến trúc và phong cách trang trí lại thuộc thời xưa hơn [12, tr.13-15]

Nói tới di tích đền Tống Trân không thể không nói tới cụm di tích đền thờ Phù Anh Công Chúa – nơi thờ Cúc Hoa, vợ Tống Trân và chùa Bà - nơi thờ Bạch Hoa con giá vua Tàu

Theo thần tích, Cúc Hoa “không có con, bị chứng đau bụng, hoá vào ngày 3 tháng 3”, Tống Trân lập lăng thờ vợ ở làng Phù Oanh, bà được dân làng kính trọng, tôn thờ là thành hoàng làng Khi ấy nhà vua lấy làm nể trọng cả hai vợ chồng, khi Tống Trân mất ngày 5 tháng 5 năm Tân Hợi, vua phong là; “Thượng đẳng tối linh phụ quốc”, “Tống Trân đại vương”, phong Cúc Hoa là “Phù Anh công chúa” Lăng

- đền bà Cúc Hoa đặt trên gò Phượng Hoàng, phía trước có hồ Nga Mi, hiện nay đền thờ Cúc Hoa ở xóm Miễu, thôn Phù Oanh, xã Minh Tiến Đây là ngôi đền thiêng,

Trang 37

dân gian gọi là miếu chúa.Tương truyền, hàng năm vào đêm 30 tết người ta thường thấy hàng trăm, hàng ngàn ngọn đuốc bay là là từ thôn Điềm Xá (Minh Phượng,Tiên Lữ) về An Cầu sáng bừng quanh đền quan Trạng, sang chùa Bà, bay lên miếu Chúa rồi tắt Người thì cho đó là ngọn đuốc của quân sĩ Tống Trân về cứu Cúc Hoa, người lại cho đó là sự linh ứng, chứng tỏ tấm lòng thuỷ chung, hiếu nghĩa của nàng Cho nên mỗi khi mở hội đền Tống Trân xưa dân làng thường tổ chức lễ rước quân đèn (lễ hội nay không còn nữa )

Lại nói về Tống Trân, sau khi từ nước Tàu trở về, con gái vua Tàu vì mến mộ chàng mà không quản xa xôi, vượt biển sang nước Nam tìm trạng và ở lại làm thiếp Khi bà mất dân làng lập ngôi chùa gần đền quan trạng để tiện thờ cúng, dân gian gọi là chùa Bà Xẻ Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi chùa cũng

đã bị tàn phá nay không còn nữa, chỉ còn dấu tích nền xưa

Huyện Phù Cừ đã có dự án trình các cơ quan hữu quan cấp trên nhằm khôi phục, tôn tạo cụm di tích đền thờ Tống Trân – Cúc Hoa, kể cả việc xây dựng những công trình hạ tầng để nơi đây trở thành điểm văn hoá - du lịch

1.2.3 Những đặc trưng giá trị kiến trúc điêu khắc đền Tống Trân

Đối với người Việt, việc lựa chọn thế đất và hướng đất để xây dựng các công trình kiến trúc có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là đối với những công trình gắn với tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, đền, chùa là những nơi linh thiêng lại càng được quan tâm hơn Mảnh đất linh thiêng còn có ý nghĩa nó phảp hút được sinh khí của tầng trời, sinh khí bảo vệ cho sự tồn tại và phát triển của muôn loài, chính sinh lực

vũ trụ ấy chảy xuống mảnh đất làm cho muôn loài được sinh sôi và người ta thường tin rằng ở những nơi ấy con người có thể nhập được vào những “sinh lực vũ trụ” mà cầu cho một ước vọng của cuộc đời

Đền Tống Trân cũng vậy, đền được xây dựng trên thế đất đầu rồng - đây là khu đất ở đầu làng, có địa thế đẹp, cao ráo, thoáng đãng (là một gò đất nổi nên xung quanh là ruộng nương, đầm sen), cỏ cây tươi tốt, ngày ngày có mặt trời soi sáng

Đền nằm phía trước chùa Bà ( thờ Bạch Hoa)- ngôi chùa đã bị thực dân Pháp đốt

Trang 38

phá trong những năm chiến tranh; phía trước về hướng Tây đền là chùa Thánh Ân

và đền Lê Xá Đền Tống Trân ở vào thế đất “ đầu đội sơn, chân đạp thuỷ”; ngôi chùa Bà như là ngọn núi, còn phía trước mặt nhìn về hướng Nam là dòng sông Luộc (sông Phổ Đà) Đó là thế đất “tụ thuỷ” nước hội tụ, mà “tụ thuỷ” có nghĩa: “tụ linh, tụ phúc”, tụ hội tất cả những điều may mắn [46, tr 23]

Như vậy, chúng ta có thể thấy đền Tống Trân cơ bản đã hội tụ được các yếu

tố chuẩn mực của thuyết phong thuỷ để trở thành một địa điểm tụ linh, tụ phúc Đây

là hợp thể của sự bền vững, của mọi nguồn hạnh phúc

Nói tới không gian của di tích, ngoài những vấn đề về địa thế thì hướng của công trình kiến trúc cũng là một yếu tố hết sức quan trọng Mảnh đất tụ linh, tụ phúc ấy bao giờ cũng cao hơn xung quanh và có hướng tốt để tạo sự hài hoà Theo quan niệm của người xưa thì hướng Bắc gắn với đen tối, hắc ám, hướng của tử thần Hướng Đông là hướng của các thần, theo tự nhiên gắn với mặt trời mọc bởi mặt trời

đã quyết định sự sống trên trái đất, nhất là sau một đêm tăm tối, ánh sáng đó được coi như đem sức sống cho muôn loài Hướng Tây thường được quan tâm, vì hướng này được nghĩ tới phù hợp với qui luật của âm dương, đối đãi, hướng về hướng Tây

là nơi đất phật Hướng Nam trong sáng, đồng nhất với trí tuệ, hướng Nam mang tính dương cũng gắn với hạnh phúc, với điều thiện, đó là hướng của đế vương sau đó là hướng của thần linh khi các ngài thành vua tinh thần của quần chúng [9, tr 370]

Trong không gian của di tích tôn giáo, tín ngưỡng người Việt, ngoài việc chọn đất, chọn hướng thì cây cối cũng đóng một vai trò rất quan trọng Vì cây cối làm cho di tích không tách rời mà hoà quyện vào môi trường thiên nhiên và thường cây cối bao giờ cũng cao hơn để toả mát cho di tích Mặt khác cây cỏ cũng nhấn mạnh một điểm cơ bản xác nhận mảnh đất có di tích là tươi nhuận, thích ứng với

đất thiêng, đất lành của muôn loài chúng sinh Cây cối trong di tích đã tạo nên một thế giới tươi tốt, thanh bình góp phần mang nét đối trọng với cuộc sống ồn ào của thế giới bên ngoài

Theo lời các cụ kể: Khi thực dân Pháp chưa phá hoại, đốt cháy thì đền Tống Trân đã có nhiều cây cổ thụ như: cây đa, cây nhãn, mít, xung quanh rất nhiều xà cừ,

Trang 39

bạch đần… xoè tán xum xuê Giờ đây, trước và sau đền còn một số cây nhãn cổ thụ, cây thông hàng trăm tuổi, cây xoài, cây thị .hàng ôm tay, vườn ngoài và cổng

đền là hàng hàng xà cừ toả bóng mát rượi đã tạo cho cảnh quan của đền vừa hiền hoà vừa thân thuộc, gần gũi…

Với ý nghĩa như vậy, có thể nói đền Tống Trân đã hội tụ được những yếu tố cơ bản của một di tích cổ truyền Cách trung tâm huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên khoảng 7 km, ngôi đền toạ lạc trên một khu đất rộng đẹp, cao ráo, thoáng mát, cây cối tươi tốt, quay hướng đông nam hai hướng đẹp trong bốn hướng Trải qua nhiều biến đổi của thời gian, với sự huỷ hoại của chiến tranh và của tự nhiên, ngôi đền đã

bị đốt phá rồi được nhân dân xây dựng lại, tu sửa, nâng cấp nhiều lần Hiện nay, đền Tống Trân tuy không còn dáng vẻ cổ kính của kiến trúc ngàn năm tuổi; nhưng đền vẫn giữ được khoảng không gian thoáng đãng với nét đẹp bình dị mà gần gũi như chính con người trạng nguyên Tống Trân vậy

Bước từ đường cái vào là cổng đền dài thẳng mới được đổ bê tông, hai bên là những tán cây xà cừ xum xuê toả bóng mát là tới tam quan Tam quan đền Tống Trân được xây dựng bằng gạch vữa, mái tam quan được làm dạng chồng diêm hai tầng tám mái, mái lợp ngói Giữa bờ nóc mái thượng đắp nổi hình rồng chầu mặt trời, dưới là hàng chữ: Lưỡng quốc Trạng nguyên từ môn (cổng đền Lưỡng quốc Trạng nguyên)

Qua tam quan tới khoảng sân rộng nát gạch vuông tại đây ta bắt gặp những tán cây xoà bóng mát; nào là cây xoài, cây thị, cây bàng cao to lực lưỡng, đặc biệt

là cây thông trăm tuổi bốn mùa xanh tươi tạo cảnh quan cho ngôi đền thêm cổ kính linh thiêng Phía trước sân là cuốn thư, ngay sau cuốn thư là giếng ngọc, trước đây

có thả hoa sen toả hương thơm ngào ngạt Liền phía trong sân là đền thờ Tống Trân, quy mô nhỏ, kết cấu kiểu chữ đinh, gồm tiền tế và hậu cung mái lợp ngói ta, nền nát gạch chỉ Hệ thống cửa bàn được mở ở ba gian giữa, hai gian bên được xây bịt tường, có tạo ô hình tròn cắt chữ song hỷ để lấy ánh sáng vào phía trong

Nhà tiền tế gồm năm gian, có bốn hàng cột làm bằng gỗ lim cao 4,3m, các cột gỗ đặt trên chân tảng đá màu xanh hạt mịn, đường kính chân tảng xấp xỉ

Trang 40

0,45m, hình vuông Kiến trúc của nhà Tiền tế tương đối đơn giản, kết cấu bộ vì kèo kiểu con chồng đấu xen, mõm nghé Gian giữa là ban thờ thành hoàng Tống Trân,

có bày ngai thờ, bát hương, lọ hoa, cây đèn… Hai gian bên là ban thờ quan văn, quan võ những người phụ giúp công việc cho quan Trạng

Hậu cung gồm ba gian và một gian cung cấm – nơi đặt long ngai, bài vị, bát hương, tượng thần Tống Trân lúc về già Cung cấm là nơi thâm nghiêm, trang trọng, dành cho nơi ngự của thần linh Chính vì vậy mà ngày thường cung cấm thường luôn luôn đóng cửa, chỉ có những ngày lễ, dịp lễ hội mới được mở cửa

Như phần trên (lịch sử xây dựng và tồn tại đền Tống Trân) đã giới thiệu, gian hậu cung của đền quan Trạng được xây dựng vào những năm 70 của thế kỷ XX để thay thế cho ba gian nhà tranh tre dột nát, nguyên vật liệu chính của lần xây dựng này được lấy từ ngôi đền Bến (ngôi đình đã bị phá hoại) cho nên nghệ thuật trang trí trên kiến trúc của gian hậu cung là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị từ những niên đại trước.Với kỹ thuật trạm nổi kết hợp với trạm thủng mang tính nghệ thuật cao có nội dung sinh động và sự trang trí hài hoà trên bộ khung đỡ mái như: vì kèo,

đầu bẩy, đầu dư… đã làm giảm đi sự nặng nề cho bộ khung nhà đồng thời tạo cho kiến trúc thêm đẹp Bốn đầu dư gian giữa chạm nổi hình rồng, những bức trạm này không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật, lịch sử mà còn phản ánh tư tưởng của người dân nông nghiệp: “ ở Việt Nam rồng cũng tượng trưng cho sự cao quý linh thiêng,

nó là con vật đứng đầu trong bốn con vật (tứ linh) Rồng thường được chạm ở những nơi trang trọng và thường tượng trưng cho quyền lực của nhà vua, nó tượng trưng cho điềm lành, cho sự phồn thịnh Từ xa xưa nó là vật tổ của cư dân trồng lúa nước, mang lại ước mơ mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi, tốt ấm no, hạnh phúc[13, tr.114]

Ngăn cách giữa cung cấm và hậu cung là bộ cửa gồm bốn cánh, phía trên là nghệ tuật điêu khắc trạm thủng với nghệ thuật tinh xảo Trạm thủng còn gọi là trạm thông phong, về giá trị sử dụng đã đáp ứng nhu cầu lưu thông ánh sáng và không khí Các hiện tượng phượng hoá cây cối như trúc mai, tùng cúc Theo Trần Lâm Biền, phượng tượng trưng cho thánh nhân vì đầu đội công lí và đức hạnh, mắt là mặt

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:55

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w