Mặt khác, do cơ sở vật chất phục vụ lễ hội thiếu và yếu, không gian sinh hoạt lễ hội chật hẹp, một số nội dung trong sinh hoạt lễ hội đang mất dần bản sắc riêng, việc quản lý lễ hội ở cá
Trang 1Tr−êng §¹i häc v¨n hãa Hµ Néi
***********************
Tr−¬ng thu hoµn
LÔ héi chïa tr«ng (x· h−ng long, huyÖn ninh giang, tØnh h¶i d−¬ng)
Chuyªn ngµnh: V¨n hãa häc M· sè: 60 31 70
LuËn v¨n Th¹c sÜ v¨n hãa häc
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:
PGS TS Ph¹m Mai Hïng
Hµ Néi - 2012
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sau
Đại học - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Phạm Mai Hùng, người thầy đã cung cấp cho tôi những kiến thức lý luận, thực tiễn cùng những kinh nghiệm quý báu, nhiệt tình hướng dẫn, động viên, khích
lệ tôi trong suốt thời gian qua, để tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo Tàng tỉnh, Thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Ninh Giang, UBND xã Hưng Long, Ban Quản lý di tích
đền - chùa Trông Đặc biệt là các đồng nghiệp ở Phòng Lao động, Thương Binh và Xã hội (UBND Quận Thanh Xuân - Hà Nội), nơi tôi
đang công tác và các bạn cùng học ở lớp thạc sỹ văn hóa học (2010 - 2012)
- Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp tài liệu, tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi, để hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, luận văn chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết, kính mong nhận được sự quan tâm chỉ bảo và góp ý của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn để luận văn đạt được kết quả cao nhất
Trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, tháng 6 năm 2012
Tác giả
Trương Thu Hoàn
Trang 3Những ký hiệu viết tắt trong luận văn
XHCN : Xã hội chủ nghĩa CNH - hđh : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÔNG GIAN VĂN HÓA LỄ HỘI CHÙA TRÔNG XÃ HƯNG LONG, HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 13
1.1 Yếu tố ảnh hưởng, tác động đến lễ hội chùa Trông 13
1.1.1 Vị trí địa lý 13
1.1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế 15
1.1.3 Điều kiện văn hóa - xã hội 17
1.1.4 Hội nhập quốc tế 19
1.2 Tổng quan về khu di tích đền - chùa Trông 20
1.2.1 Khái quát lịch sử làng xã di tích nơi diễn ra lễ hội 20
1.2.2 Tên gọi và địa điểm phân bố di tích 23
1.2.3 Lịch sử xây dựng và kiến trúc đền - chùa Trông 27
1.2.4 Hiện vật trong di tích 35
1.3 Thực trạng công tác tổ chức lễ hội chùa Trông hiện nay 36
CHƯƠNG 2: DIỄN TRÌNH LỄ HỘI CHÙA TRÔNG XƯA VÀ NAY 40
2.1 Sự kiện, nhân vật lịch sử liên quan đến lễ hội 40
2.1.1 Đền Trông 40
2.1.2 Chùa Trông 42
2.2 Diễn trình lễ hội 48
2.2.1 Lễ hội chùa Trông trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 48
2.2.2 Lễ hội sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay 57
CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI CHÙA TRÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 74
3.1 Các giá trị lễ hội của chùa Trông 74
3.1.1 Giá trị văn hóa 74
Trang 53.1.2 Giá trị xã hội 78
3.1.3 Giá trị du lịch 79
3.1.4 Giá trị lịch sử khoa học nghệ thuật của di tích và lễ hội 80
3.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội chùa Trông 82
3.2.1 Sự cần thiết xây dựng quy hoạch lễ hội 82
3.2.2 Bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội theo Luật Di sản Văn hóa 84
3.2.3 Phát huy vai trò của các vị cao niên và quần chúng nhân dân địa phương 86
3.2.4 Bố trí nhu cầu sử dụng đất cho lễ hội 87
3.2.5 Tăng cường công tác quản lý nhà nước 87
3.2.6 Xây dựng và kiện toàn ban quản lý di tích 89
3.2.7 Công tác tổ chức hoạt động dịch vụ 90
3.2.8 Công tác y tế vệ sinh môi trường 90
3.2.9 Công tác tài chính hậu cần 91
3.2.10 Công tác An ninh trật tự 92
3.2.11 Xây dựng hạ tầng cơ sở 92
3.2.12 Công tác kiểm tra, kiểm soát 93
3.2.13 Công tác tuyên truyền, quảng bá sản phẩm lễ hội 94
3.2.14 Công tác xã hội hóa hoạt động lễ hội 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 106
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn là chính xác, trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trương Thu Hoàn
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hóa nghệ thuật phải nhằm xây dựng
và phát triển nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Hải Dương là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử, văn hiến Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh giữ nước và dựng nước, các thế hệ tiền nhân xưa đã để lại trên đất Hải Dương một di sản văn hóa vô cùng phong phú dưới dạng vật thể và phi vật thể, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác [34,tr.7]
Trong những năm qua, việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, đáp ứng nhu cầu văn hóa ngày càng cao của nhân dân Một số di sản văn hóa phi vật thể đang được kiểm kê, phân loại, sưu tầm, khôi phục làm cho thế hệ trẻ có thể hiểu được công lao của tổ tiên, bồi đắp thêm lòng tự hào về truyền thống quê hương, đất nước Đặc biệt, di tích và lễ hội đã gắn bó với cộng đồng, làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống nhân dân
Là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lễ hội có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt cổ truyền của người Việt Nam Từ lâu, lễ hội đã trở thành một phần hồn của dân tộc và nó luôn là mạch ngầm nuôi dưỡng đời sống tinh thần của nhân dân Qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, ngày nay lễ hội đã và đang được phục hồi ở khắp mọi nơi và có một vị trí quan trọng nhất định trong đời sống xã hội
Lễ hội là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá và kinh tế nhất định, gắn với những
Trang 8đặc điểm văn hóa cộng đồng, phản ánh nhiều mặt của đời sống văn hóa vật chất và tinh thần Lễ hội là môi trường sản sinh, lưu truyền và bảo tồn nhiều giá trị văn hóa truyền thống qua nhiều thời kỳ lịch sử Thông qua lễ hội, các phong tục tập quán, các nghi lễ dân gian, các trò chơi dân gian, các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng… của cộng đồng đang được các thế hệ trẻ biết tới Do
đó, việc tìm hiểu về lễ hội chính là góp phần vào tìm mạch về nguồn văn hóa dân tộc Điều này càng trở nên có ý nghĩa hơn khi trong giai đoạn hiện nay, trở về cội nguồn dân tộc đang là xu thế chung, thu hút sự quan tâm của nhiều người và nhiều ngành [4,tr.20]
Xã hội ổn định, kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người tăng, thúc đẩy các hoạt động văn hóa tinh thần cộng đồng ngày một khởi sắc Môi trường giao lưu văn hóa, du lịch, các hoạt động tín ngưỡng thể hiện trong sinh hoạt lễ hội ngày càng phong phú, đặc sắc Từ đô thị đến các vùng quê xa xôi,
lễ hội dân gian ở các địa phương thật sự trở thành tâm điểm thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia
Tuy nhiên, trải qua các cuộc chiến tranh nội chiến và chống xâm lược,
hệ thống di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của tỉnh Hải Dương, đã bị tàn phá nặng nề; không những thế, những nhận thức nhầm lẫn giữa chống mê tín
dị đoan với bảo tồn di sản văn hóa đã làm phương hại không nhỏ đến hoạt động bảo tồn di tích và lễ hội còn lại sau chiến tranh, hậu quả này thật khó khắc phục Bên cạnh đó, công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh vẫn còn hạn chế Nhiều di sản văn hóa tiêu biểu chưa được nhận diện; công tác tổ chức bảo vệ và phát huy di sản văn hóa còn thiếu chủ động; đặc biệt đối với di sản văn hóa phi vật thể đang bị mai một; các nghệ nhân nắm giữ các giá trị văn hóa, phần lớn đã cao tuổi vẫn chưa có điều kiện chuyển giao lại cho thế hệ trẻ
Trong bối cảnh đất nước hiện nay, những tác động của xu thế toàn cầu hóa, đô thị hóa của nền kinh tế thị trường đòi hỏi có cách nhìn về công tác bảo
Trang 9tồn, khai thác, hưởng thụ di sản văn hóa thiết thực hơn để các giá trị di sản văn hóa trở thành lực lượng vật chất góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân
Mặt khác, do cơ sở vật chất phục vụ lễ hội thiếu và yếu, không gian sinh hoạt lễ hội chật hẹp, một số nội dung trong sinh hoạt lễ hội đang mất dần bản sắc riêng, việc quản lý lễ hội ở các địa phương còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém về công tác quản lý, tổ chức, quy hoạch, đầu tư, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phục vụ giáo dục truyền thống…nên sinh hoạt lễ hội ở tỉnh Hải Dương chưa tạo được sức hấp dẫn đối với nhân dân trong và ngoài tỉnh, chưa gắn hoạt động lễ hội với các hoạt động kinh tế, du lịch
Tuân thủ sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch) tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Quy chế tổ chức
lễ hội, tháng 10 năm 2006, cụ thể đó là Quy hoạch tổng thể hệ thống lễ hội
để phân cấp, quản lý phù hợp với quy mô và đặc điểm của lễ hội và di tích nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội, bảo tồn và phát huy, phát triển giá trị của lễ hội phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong xu thế giao lưu, hội nhập
Do vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu lễ hội, nhằm góp phần bảo tồn và
phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội, huy động mọi nỗ lực của các cơ quan quản lý và quần chúng nhân dân, khai thác và thực hiện công tác
xã hội hóa hoạt động lễ hội; đề xuất, tham mưu giúp các cấp ủy, chính quyền địa phương có biện pháp quản lý sinh hoạt lễ hội, làm phong phú đời sống văn hoá ở cơ sở đồng thời tiến hành bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nói chung và bản sắc địa phương, vùng miền nói riêng là việc làm hết sức cần thiết trong tình hình mới hiện nay
Từ những nhận thức trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu: Lễ hội
Chùa Trông (xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) làm luận
Trang 10văn cao học của mỡnh và hy vọng qua sự nghiờn cứu của đề tài sẽ gúp phần khụng nhỏ vào việc giữ gỡn, bảo vệ và phỏt huy cỏc giỏ trị văn hoỏ tiờu biểu của lễ hội chựa Trụng trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiờn cứu
Từ lõu, đề tài lễ hội núi chung đó được nghiờn cứu khỏ nhiều dưới
nhiều gúc độ và cỏc quan điểm khỏc nhau Nghiờn cứu về Lễ hội Chựa Trụng
đó cú một số tỏc giả đề cập tới nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ đề cập rất khỏi quỏt, thiờn về khảo tả di tớch và mụ tả lễ hội, mà chưa đi sõu tỡm hiểu những giỏ trị to lớn ở trong lễ hội đối với đời sống xó hội Cú thể kể một số cụng trỡnh nghiờn cứu tiờu biểu như:
Trong cuốn Lễ hội Chựa Trụng của tỏc giả Lờ Thị Dự, đề tài dự trại
sỏng tỏc tỏc phẩm văn nghệ dõn gian năm 2007, (Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hải Dương), đó giới thiệu về lễ hội Chựa Trụng Nội dung lễ hội, thành phần tham gia lễ hội, đặc điểm, ý nghĩa của lễ hội
Lễ hội dõn gian tỉnh Hải Dương (2010), Sở văn húa thể thao và du lịch
Hải Dương xuất bản năm 2010, cú giới thiệu về lễ hội Chựa Trụng và cỏc trũ chơi dõn gian của lễ hội, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức khỏi quỏt chung về
lễ hội này
Hải Dương di tích và danh thắng (tập II), do Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch xuất bản năm 2010, đã giới thiệu 95 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh, trong đó có phần nghiên cứu về di tích đền, chùa Trông; nhân vật được thờ, truyền thuyết và giai thoại theo tín ngưỡng dân gian
Bỏo cỏo khoa học đề tài: “Điều tra, sưu tầm, đề xuất cỏc giải phỏp bảo
tồn lễ hội văn húa dõn gian truyền thống” (Năm 2011) do Sở Văn húa, Thể
thao và Du lịch làm chủ đề tài cú miờu tả nghi lễ và cỏc trũ chơi dõn gian trong lễ hội núi chung, lễ hội Chựa Trụng núi riờng, từ đú xõy dựng kịch bản tổng thể của lễ hội trong những năm tới
Trang 11Kịch bản chi tiết Sự lệ chi tiết lễ hội chùa Trông, xã Hưng Long, huyện
Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (năm 2012) của Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh Hải Dương xây dựng đã khôi phục lại kịch bản tổng thể của lễ hội chùa Trông
Tuy nhiên, theo thống kê của chúng tôi, hiện chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về Lễ hội Chùa Trông, những tài
liệu và công trình kể trên đã giúp tôi trong việc tham khảo, kế thừa để nghiên cứu và phát triển
Vì vậy, luận văn này sẽ là công trình đầu tiên khảo sát, mô tả lại một cách chi tiết lễ hội Chùa Trông xưa và nay, đặc biệt nghiên cứu những giá trị văn hóa, du lịch, lịch sử và nghệ thuật của lễ hội chùa Trông trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là lễ hội Chùa Trông (xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, Tỉnh Hải Dương)
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu, khảo sát và mô tả lại lễ hội Chùa Trông trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và lễ hội chùa Trông trong giai đoạn hiện nay
Thời gian nghiên cứu: khảo sát lễ hội chùa Trông ở giai đoạn hiện tại (cụ thể từ năm 2010 - 2012)
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu không gian văn hóa lễ hội Chùa Trông, diễn trình lễ hội chùa Trông xưa và nay, các giá trị văn hóa của lễ hội Chùa Trông, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lễ hội Chùa Trông trong giai đoạn hiện nay
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước và di sản văn hóa; đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học: sử học, bảo tàng học, nghệ thuật học, dân tộc học, văn hóa dân gian… để tiếp cận đối tượng nghiên cứu và phương pháp điền dã
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên khảo cứu, tập hợp tương đối đầy đủ và hệ thống về lễ hội chùa Trông, xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tư liệu bổ ích giúp các nhà nghiên cứu, du khách tham quan và người dân địa phương hiểu rõ hơn về
lễ hội chùa Trông và đặc biệt là những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội này
Luận văn cũng đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần vào việc bảo tồn và phát triển những giá trị của lễ hội chùa Trông trong giai đoạn hiện nay
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn chia làm ba chương:
Chương 1: Không gian văn hóa lễ hội Chùa Trông xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Chương 2: Diễn trình lễ hội Chùa Trông xưa và nay
Chương 3: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lễ hội Chùa Trông trong giai đoạn hiện nay
Trang 13CHƯƠNG 1 KHÔNG GIAN VĂN HÓA LỄ HỘI CHÙA TRÔNG
XÃ HƯNG LONG, HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
1.1 Yếu tố ảnh hưởng, tác động đến lễ hội chùa Trông
Toàn huyện gồm 27 xã và một thị trấn với diện tích 135,48km, có số dân là 144, 562 người sống trong 108 thôn, trại, khu phố
Huyện lỵ Ninh Giang cách thị xã Hải Dương khoảng 30km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90km về phía Tây, và cách thành phố Hải Phòng 40km về phía Đông
Thời Lý - Trần, Ninh Giang là miền đất thuộc Phủ Hạ Hồng (Hồng Lộ) Thời thuộc minh phủ Hạ Hồng thuộc phủ Tân An, đến đời Lê đổi lại thành Phủ Hạ Hồng, Phủ Hạ Hồng là đất các huyện Ninh Giang, Thanh Miện, Tứ
Kỳ (Hải Dương) và huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) Đến năm Minh Mệnh thứ
ba (1822), Phủ Hạ Hồng đổi thành Phủ Ninh Giang, gồm đất các huyện Vĩnh Lại, Gia Lộc, Tứ Kỳ và Vĩnh Bảo
Huyện Ninh Giang là huyện Vĩnh Lại thời Lý - Trần, đến thời thuộc Minh đổi là Đồng Lại (thuộc châu Hạ Hồng) Thời Lê sơ đổi lại là Đồng Lại, sau lại đổi thành Vĩnh Lại gồm các xã của huyện Ninh Giang hiện nay, một phần của xã Thanh Giang (Thanh Miện) và một số xã của huyện Vĩnh Bảo
Trang 14Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Phủ Ninh Giang được chia làm 4 huyện: Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo; huyện Ninh Giang được giữ tên Ninh Giang cho đến tháng 04 năm 1979 sát nhập với huyện Thanh Miện thành huyện Ninh Thanh Tháng 04 năm 1996 huyện Ninh Giang được tái lập theo Nghị định 05/NĐ-CP của Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Sông Luộc phải kể đến như một con sông có vai trò, vị trí chiến lược trong hệ thống giao thông thủy của huyện Con sông này chảy qua địa phận của huyện chừng 20km từ xã Văn Giang qua xã Hưng Long, Hồng Phúc, Kiến Quốc, Ninh Thọ, Hiệp Lực đến cuối thị trấn Ninh Giang Vốn là con sông tự nhiên thuộc hệ sông Hồng, sông Luộc cung cấp nguồn phù sa màu
mỡ, nguồn nước tưới quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của cư dân hai bên bờ từ ngàn xưa Từ khi hệ thống sông Hồng được nối liền với hệ thống sông Thái Bình bằng sông Luộc, việc đi lại bằng tàu thuyền ca nô có trọng tải tương đối lớn từ Hà Nội đi Hải Phòng và từ Nam Định đến Hải Phòng đã thuận tiện hơn
Trước kia hệ thống giao thông của huyện dựa vào những con đường mòn, đê điều, hệ thống bờ mương, máng phục vụ tưới tiêu Vào những năm
Trang 15của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã cải tạo một số con đường chính của huyện như đường 17A (đường này chạy qua địa phận Ninh Giang khoảng 11km), xây dựng đường sắt Ninh Giang - Cẩm Giàng Bên cạnh đường 17A là trục đường bộ quan trọng bậc nhất của huyện, còn có đường số 20 chạy qua các xã phía Bắc như Tân Hương, Vạn phúc, Hồng Đức nối liền với đường 17A, đường 39 Đường
210 gắn liền với hệ thống tưới tiêu phía Nam huyện qua các xã Đồng Tâm, Đồng Dụ, Hồng Thái, Ninh Thọ, Kiến Quốc, Hồng Phúc, Tân Phong, Hưng Thái,Văn Hội rồi đến khu Nam Thanh Miện Ngoài ra còn con đường giao thông liên xã từ xã Hoàng Hanh qua các xã Quang Hưng, Tân Phong, Ninh Hải, Đông Xuyên, đến xã Tân Hương
Hệ thống đường giao thông liên xã, liên thôn, cùng hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ và hệ thống đê sông Luộc, sông Đĩnh Đào, sông Cửa An kết hợp với hệ thống giao thông thủy là sự hỗ trợ khá hoàn chỉnh cho vai trò quan trọng của giao thông vận tải trong huyện cả mùa mưa lẫn mùa khô
Huyện Ninh Giang nằm trên quốc lộ 17A, bên sông Luộc, lại ở ngã ba - nơi tiếp giáp 3 tỉnh: Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, thực sự là một địa bàn chiến lược quan trọng về mặt chính trị, giao lưu hàng hóa lẫn quân sự ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung và ở cửa ngõ phía Nam tỉnh Hải Dương nói riêng Cũng chính do vị trí quan trọng như vậy mà trong lịch sử, chính quyền phong kiến - thực dân luôn đặt trụ sở hành chính của phủ, huyện, tỉnh tại thị trấn Ninh Giang
1.1.2 Điều kiện tự nhiên - kinh tế
Ninh Giang là một trong những huyện đồng bằng trũng của tỉnh Hải Dương với cốt đất so với mực nước biển nơi cao nhất là 3,4m và nơi thấp nhất là 0,3m Là một huyện thuần nông, cư dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, canh nông vi bản là phương thức sản xuất cơ bản chủ đạo
Trang 16của nhân dân trong huyện Trải qua hàng nghìn năm sản xuất nông nghiệp, người nông dân cùng với ruộng đồng đã làm ra hạt lúa, củ khoai để tồn tại, bên cạnh đó còn góp phần không nhỏ vào việc trồng trọt phải chọn lọc và giữ gìn nhiều giống lúa đặc sản có tiếng của tỉnh Đông như: Nếp bầu Hương, Tám Xoan, Dự, Di Hương
Với đặc điểm là một vùng thuần nông, vùng đất trũng, lại nằm trong vùng nhiệt đới - gió mùa, chịu ảnh hưởng rất lớn của gió bão, bão lụt - sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vụ mùa nhiều khu ruộng trũng trở thành Bạch Điền Trước đây, trình độ thâm canh cây lúa còn thấp kém, bộ giống lúa cũ như tép, chăm, ri, mộc tuyền cho năng suất thấp, bình quân chỉ đạt 50 - 60 kg/sào (khoảng 2,5 tấn/ha/năm) Ngoài cây lúa, những xã ven sông Luộc và những xã có cốt đất cao còn trồng được mía, khoai, lạc, vừng, đậu Nghề trồng dâu gắn liền với nuôi tằm dệt vải tuy chưa phát triển rộng rãi, nhưng nghề nuôi tằm dệt vải cổ truyền ở Bất Bế (Đồng Tâm) được coi là một trong những địa danh nổi tiếng của đất nước về nghề này ở thế kỷ XVII - XVIII Vùng đất Ninh Giang còn là nơi phát sinh nuôi dưỡng nhiều nghề thủ công truyền thống nổi tiếng, góp phần không nhỏ vào việc tạo dựng đời sống vật chất tinh thần của nhân dân địa phương
Ven bờ sông Luộc, suốt từ trại Vàng (Hưng Long) về đến cống Sao (thị trấn Ninh Giang), xưa kia tồn tại nghề vớt cá bột tự nhiên Nghề vớt cá bột cổ truyền, nghề chài lưới cùng với nghề nuôi cá trong ao hồ nội đồng đã đem lại giá trị không nhỏ trong việc tạo ra nguồn dinh dưỡng duy trì, tái tạo sức lao động Đồng thời nó cũng đóng góp vào việc tạo dựng một hình thức sản xuất
đem lại hiệu quả kinh tế cao: “Thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba
canh điền” của nhân dân địa phương Một nghề cổ truyền gắn với sản xuất
nông nghiệp và đánh bắt thủy sản là nghề đan lát có tiếng ở Văn Diệm (Hưng Thái), La Khê (Ninh Thành) Nghề này đem lại kinh tế phụ gia đình trong lúc nông nhàn của cư dân ở làng quê ven sông
Trang 17Do có vị thế thuận lợi về giao thông thủy bộ, thị trấn Ninh Giang sớm trở thành trung tâm thương mại của khu vực Bến Ninh Giang được mệnh danh là bến Gạo Thủ phủ Ninh Giang xưa kia có hàng chục các dãy phố như: Ninh Thịnh, Ninh Hoà, Ninh Lãng, phố Bờ Sông… Trên các dãy phố có đủ các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, nhờ đó thúc đẩy kinh tế nhanh chóng phát triển, tạo điều kiện cho việc xây dựng phố phường sầm uất trở thành một trong những thị trấn lớn của miền Bắc trước đây
1.1.3 Điều kiện văn hóa - xã hội
Một số nghề cổ truyền không những gắn với sản xuất mà còn mang đậm nét văn hóa truyền thống đặc sắc của nhân dân địa phương như nghề làm bánh gai ở thị trấn Ninh Giang tồn tại hàng trăm năm
Dưới bàn tay khéo léo, tinh tế, giàu tính nghệ thuật làm thợ đình Cúc
Bồ (Kiến Quốc), các công trình kiến trúc nghệ thuật như đình, chùa, đền, miếu đã được xây dựng và được giữ gìn từ hàng chục thế kỷ nay Mái đình, ngôi chùa dưới bóng đa xanh đằng sau lũy tre làng đã và mãi còn là biểu tượng đặc trưng văn hóa cổ truyền của các làng xã Việt Nam trong lịch sử
Cũng như cộng đồng dân cư các dân tộc Việt Nam nói chung, cư dân sống ở miền đất Ninh Giang có truyền thống quý báu cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt văn hóa, yêu quê hương đất nước, đoàn kết đấu tranh, nhân hậu thủy chung…
Sự xuất hiện và tồn tại của nghề thủ công cổ truyền, sự tồn tại hàng loạt của các công trình kiến trúc văn hóa, nghệ thuật và các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc là kết tinh sự sáng tạo trong đời sống sinh hoạt vật chất, lẫn tinh thần của nhân dân địa phương
Ninh Giang vốn là miền đất giàu truyền thống văn hóa, trên địa bàn huyện xưa có hàng trăm ngôi đình, chùa, đền, miếu… là những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa - nghệ thuật, được xây dựng làm nơi sinh hoạt văn
Trang 18hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương, mặt khác còn là nơi tưởng niệm các danh nhân lịch sử văn hóa Việt Nam - Những người có công với quê hương đất nước Hiện nay còn lưu giữ được một số công trình kiến trúc có giá trị cao
về mặt lịch sử - văn hóa Chùa Đông Cao (Đông Xuyên) thời Lê; Đình Trịnh Xuyên (Nghĩa An) thời hậu Lê đầu Nguyễn, nơi thờ vị danh tướng thời Lê; Đình Bồ Dương - thời Lê là nơi diễn ra một số sự kiện lịch sử rất quan trọng trong kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta; Đình Cúc Bồ quê hương của Khúc Thừa Dụ, đình Đỗ Xá (Ứng Hòe) là nơi thờ 3 vị danh tướng thời Lê Hàng chục các di tích khác có giá trị lịch sử - văn hóa đang được nghiên cứu, bảo vệ và tôn tạo: Đình La Khê (Ninh Thành), đền - chùa Trông (Hưng Long), đình Văn (Quang Hưng), đền Tranh (Đồng Tâm), chùa Kim Chuế (An Đức), đình Đồng Bình và đình Bồng Lai (Ninh Hải), chùa Tiền (Hiệp Lực), miếu Tây Đà Phố (Hồng Phúc), đình Dậu Trì (Hồng Thái)…những địa danh,
di tích lịch sử thời hiện đại: Tượng đài Bác Hồ (Hiệp Lực), đài tưởng niệm Bác Hồ (Hồng Thái), bia chiến thắng (Ninh Thành và Ứng Hòe)…và hàng chục hiện vật lịch sử trong kho bảo tàng huyện đều có giá trị lịch sử phản ánh cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân trong huyện hơn nửa thế kỷ qua
Huyện Ninh Giang hiện nay còn bảo tồn 182 di tích, bao gồm nhiều loại hình như: Đình, đền, chùa, miếu, nhà thờ, tượng đài, bia chiến thắng… được phân bố khắp các xã, thị trấn trong đó có nhiều di tích có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử - văn hóa, có 8 di tích được xếp hạng cấp Quốc Gia: Chùa Sùng Hân, đình Trịnh Xuyên, đình Bồ Dương, đình Cúc Bồ, đình Đỗ
Xá, đền - chùa Trông, đình Mai Xá, đình Phù Cựu và 5 di tích được xếp hạng cấp tỉnh là: Đình Dậu Trì, đền Tranh, miếu Tây Đà Phố, đình Giâm Me, chùa Tam Tập [38, Tr 5]
Gắn với các di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm Mục đích chính là tưởng niệm các danh nhân lịch sử văn hóa,
Trang 19những lễ hội lớn như: Đình Trịnh Xuyên, lễ hội đền - chùa Trông, lễ hội đền Tranh, lễ hội đình Bồ Dương… những ngày hội lễ cũng là dịp nhân dân địa phương tổ chức sinh hoạt văn hóa với nhiều hình thức phong phú: Múa rối nước, múa sênh tiền, hát chèo, pháo đất, chọi gà…Đó là nét sinh hoạt truyền thống, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân
1.1.4 Hội nhập quốc tế
Giai đoạn 2006- 2010 và 2010 - 2015, là giai đoạn nền kinh tế nước ta
sẽ hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới, tiếp tục thực hiện các cam kết: Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, AFTA và gia nhập WTO Đây là giai đoạn nền kinh tế sẽ có nhiều thay đổi theo hướng loại bỏ các rào cản thương mại, gia tăng áp lực cạnh tranh và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài Song song với hội nhập kinh tế là sự giao lưu trao đổi văn hóa giữa các
quốc gia
Trong bối cảnh phát triển đó, việc nghiên cứu lễ hội trong cả nước nói chung, tỉnh Hải Dương nói riêng, ngoài ý nghĩa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa địa phương, còn là sự đóng góp vào việc quảng bá tuyên truyền hình ảnh địa phương trong xu thế hội nhập, phát triển du lịch văn hoá, tạo sức thu hút
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư để phát triển kinh tế xã hội
Mặt khác sự phát triển của du lịch chính là giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá cổ truyền một cách tích cực nhất Các giá trị văn húa đặc trưng của mỗi địa phương đều được phô bày khi các sinh hoạt lễ hội diễn ra, du khách có điều kiện tiếp xúc trực tiếp và cảm nhận các giá trị văn húa bằng con đường ngắn nhất Lễ hội còn biết khai thác, phát huy những thế mạnh tổng hợp các tiềm năng du lịch của địa phương bằng những hoạt động vui chơi giải trí, trưng bày và bán các sản vật của địa phương, trình diễn các tích trò mô phỏng truyền thuyết về những vị thần, thánh, nhân vật lịch sử được nhân dân thờ phụng Tất cả những sự kiện và sản phẩm của lễ hội được
Trang 20chuyển tới du khách thông qua thái độ và phong cách phục vụ mang sắc thái văn hoá riêng, độc đáo và đặc sắc, gây ấn tượng mạnh đến du khách Các hoạt động này đã đem lại lợi ích trước mắt và lâu dài, đặc biệt là lợi ích kinh tế cho các cơ sở kinh doanh, cơ quan du lịch và cả người dân địa phương.
1.2 Tổng quan về khu di tích đền - chùa Trông
1.2.1 Khái quát lịch sử làng xã di tích nơi diễn ra lễ hội
Xã Hưng Long nằm ở phía Tây Nam, huyện Ninh Giang gồm 3 thôn: Hán Lý, Hào Khê, Thôn Trại với tổng diện tích 4,1km Phía Bắc và Tây - Bắc giáp xã Hưng Thái, phía Nam và Tây - Nam có đê sông Luộc bao quanh, bên kia sông là xã Quỳnh Giao và xã Quỳnh Hoàng thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình [7, tr.13]
Xã Hưng Long thuộc vùng chiêm trũng, xa trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của tỉnh và huyện, cách thành phố Hải Dương 30km, huyện lỵ Ninh Giang 10km, đường giao thông thủy bộ trong xã ở phía Nam và Tây - Nam có
đê sông Luộc; Sông Luộc là một nhánh của sông Hồng ở phía hạ lưu bắt nguồn từ thị xã Hưng Yên, về phía Ninh Giang và còn chảy xuôi về phía Đông, vì vậy đoạn đê và sông Luộc thuộc địa phận Hưng Long nằm giữa đoạn giao thông thủy bộ nối liền Hưng Yên đến Ninh Giang, cách thị xã Hưng Yên khoảng 30km và cách thị trấn Ninh Giang 13km Đường giao thông thủy bộ này về kinh tế rất thuận lợi cho việc giao lưu vận chuyển hàng hóa, buôn bán giữa Hưng Yên, Nam Định về Ninh Giang, Hải Phòng, ngoài
ra cũng dòng sông này hàng năm còn bồi đắp một lượng phù sa phục vụ cấy trồng tạo thêm bề rộng các bãi sa bồi và cung cấp thêm lượng thủy sản đáng
kể góp phần cải thiện đời sống nhân dân Trong chiến tranh thì đê và sông Luộc là đường giao thông quan trọng vận chuyển, cơ động lực lượng cùng phương tiện chiến tranh từ Hải Phòng tới Thái Bình, Hải Dương, Nam Định
và ngược lại, cùng nhiều ưu thế khác nếu biết tận dụng khả năng của nó
Trang 21Giữa xã còn có một con đường ngăn cách hai thôn Hán Lý và Hào Khê chạy theo hướng Đông - Tây, một đầu nối từ đoạn đê sông Luộc thuộc xã Hồng Phong còn gọi là dốc Bò chạy qua xã Kiến Quốc và xã Hồng Phúc về Hưng Long nối với đê sông Luộc Con đường này khi thực dân Pháp cai trị nước ta mới huy động nhân dân đắp nên ta quen gọi là đường cái Tây
Từ năm 1960 trở đi, nhân dân trong xã thực hiện thủy lợi hóa nên còn
có một hệ thống đường và sông máng chung thủy nông, một bên có bờ lớn xe thô sơ chạy từ trạm bơm thôn Hào Khê lên đến thôn Hán Lý dài 2 km Dưới sông có thể vận chuyển bằng thuyền nan nhỏ song cũng gặp nhiều trở ngại bằng các cầu cống qua sông; ngoài ra còn có các đường giao thông vận chuyển trong xã từ thôn này sang thôn khác bằng phương tiện thô sơ
Tổng diện tích của xã hiện nay có 409ha, ruộng đất canh tác có 209ha Đặc điểm ruộng đất của Hưng Long thuộc loại không bằng phẳng, kém mầu mỡ; ruộng đất canh tác có tới 5 loại: Chân ruộng cao thuộc loại 1 và 2, khoảng 40% diện tích là loại tốt, xốp pha cát; còn loại 3 đến loại 5 là chân trũng, đất thịt, độ PH trung bình của những ruộng này là 3,6 do đó gặp khó khăn trong việc cải tạo đất và thâm canh tăng năng suất cây trồng
Về dân số theo số liệu điều tra của ban nghiên cứu lịch sử đảng xã thì năm 1930 xã Hưng Long có 369 hộ gồm 2751 nhân khẩu (1321 là nam, 1430
là nữ) và đến năm 2002 dân số xã Hưng Long có 4115 nhân khẩu, 1013 hộ, 100% nhân dân là người kinh, đa số theo đạo phật Nguồn sống chính của nhân dân là sản xuất nông nghiệp, từ cuối thập kỷ 80 có một số hộ buôn bán
và làm nghề phụ chủ yếu là hàng tiêu dùng chế biến lương thực, dịch vụ tạp hóa, nhưng hầu hết đều là những hộ nhiều lao động tranh thủ làm thêm để tạo thu nhập cho cuộc sống ổn định hơn [7, tr.35]
Với dân số và diện tích như trên Hưng Long không phải là xã có nhiều tiềm năng về kinh tế nhưng lực lượng lao động thì dồi dào, ruộng canh tác
Trang 22bình quân hai xào 3 thước một khẩu Nguồn sống chính của nhân dân địa phương là dựa vào sản xuất nông nghiệp có một số hộ làm nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt vải nhưng chỉ là sử dụng lao động dư thừa và tranh thủ lúc nông nhàn
Từ thực tế cuộc sống đã tạo dựng cho người dân lao động Hưng Long
có một bản lĩnh cần cù chịu đựng, yêu lao động không sợ khó khăn gian khổ,
biết quý trọng nhân cách đoàn kết, yêu thương đùm bọc nhau Đạo lý “Lá
lành đùm lá rách; Nhiễu điều phủ lấy giá gương”, đó là truyền thống tốt đẹp
của nhân dân Việt Nam nói chung, Hưng Long nói riêng; mặt khác cũng trong đói nghèo và lao động mà nhân dân có được tiềm thức lạc quan yêu lao động, yêu quê hương Các hình thức sinh hoạt dân gian ngày càng phát triển rộng dãi; trong xã có một gánh hát chèo và các gánh hát xẩm xoan, song hát ví là hình thức của nhân dân lao động Mặt khác qua bàn tay tinh sảo, trí óc sáng tạo của nhân dân lao động quê ta đã góp phần xây dựng lên công trình kiến trúc văn hóa đó là di tích văn hóa đền - chùa Trông một công trình có trình độ kiến trúc đắp vẽ chạm trổ và sơn khảm khá điêu luyện Trong những ngày tiết
lệ, hội hè người dân lao động Hưng Long có điều kiện được hưởng những tinh hoa nghệ thuật ấy do chính bàn tay khối óc của mình xây dựng nên Người dân lao động Hưng Long còn phải đương đầu chối trọi với bao khó khăn tai họa trước những thử thách khắc nghiệt do thiên nhiên đem lại dành giật cuộc sống hàng ngày
Trên mảnh đất Hưng Long bao đời nay suốt năm này qua năm khác, nắng lắm, mưa nhiều, bão lụt, hạn úng, không năm nào tránh khỏi nhân dân ta phải vật lộn với mảnh vườn thửa ruộng ở vùng chiêm trũng mà đời thường vẫn có câu: “Chiêm khê mùa thối”, nhiều năm cấy không được thu hoạch, chưa kể đến nạn vỡ đê làm cho cuộc sống của nông dân càng khốn khổ hơn
Do vậy, mà ngay từ đời xưa cha ông ta đã phải bỏ ra biết bao công sức để đào mương ngòi dẫn nước tưới tiêu, đắp đê chống lụt bảo vệ thành quả của mình
Trang 23Những thực tế ấy đã tạo cho người dân Hưng Long có được bản lĩnh cần cù sáng tạo, truyền thống yêu lao động, yêu quê hương đất nước gắn bó với mảnh vườn thửa ruộng của mình Song cũng từ cuộc sống bị áp bức bóc lột dưới chế độ thực dân phong kiến người dân lao động Hưng Long ngày càng hun đúc một giấc mơ khát vọng đổi đời để được có quyền làm người, không bị chèn ép, khinh miệt và đủ cơm ăn áo mặc và được học hành Nếu
có một chính Đảng với một đường lối đúng đắn đem lại quyền lợi chính trị, kinh tế, cho nhân dân lao động thì nhất định nguyện vọng ấy sẽ trở thành lực lượng vật chất to lớn tạo thành bão táp cách mạng góp phần xây dựng quê hương đất nước
1.2.2 Tên gọi và địa điểm phân bố di tích
Đền - chùa Trông là cụm di tích lịch sử và danh thắng được xây dựng tại xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Tên thường gọi là đền - chùa Trông; tên nôm là đền - chùa Tông; tên tự: Hưng Long điện và Hưng Long tự
Đền - chùa Trông là nơi thờ Minh Không Thiền sư Nguyễn Chí Thành
- Cao tăng thời lý (1010 - 1225) Chùa Trông là nơi thờ phật và 3 vị Thiền sư
là Dương Không Lộ, Giác Hải, Đạo Hạnh cũng là những cao tăng thời lý Dương Không Lộ có quê mẹ tại xã Hán Triền, phủ Ninh Giang
Do có công lớn với đất nước nên các vị cao tăng đều được phong là
Quốc Sư Riêng Minh Không Thiền sư được nhân dân suy tôn là “Thánh” và được lập đền thờ Quy hoạch mặt bằng di tích theo kiểu“Tiền phật, hậu
Thần” [8, tr.7]
Tục truyền, Thiền sư Dương Không Lộ kết bạn với hai Thiền sư Giác Hải và Đạo Hạnh Vào cuối đời Thiền sư về quê mẹ và dựng chùa tại đây Sau khi qua đời, dân xã đã tô ba pho tượng để thờ Do kính trọng và thương nhớ các Thiền sư, nhân dân địa phương thường ra chùa ngóng trông nên từ đó dân
làng gọi là “chùa Trông”
Trang 24Trong quá trình lịch sử, do biến âm trong cách gọi, đền - chùa Trông
còn được gọi là “đền - chùa Tông” Song trong thực tế hàng ngày của nhân dân địa phương gọi tắt là “chùa Trông” Khảo cứu dân tộc học tại địa phương
cho thấy: Số người đến với di tích phần lớn là các cụ bà, các cụ ông thường
quan tâm tới đình, đền; nên đã vô tình bỏ qua tên gọi: “Đền Trông” là nơi thờ
chính Thiền sư Nguyễn Minh Không
Đền - chùa Trông được xây dựng tại khu vực giáp gianh giữa hai thôn Hào Khê và Hán Lý của xã Hưng Long, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Khảo sát địa lý lịch sử cho thấy: Đây là vùng đất được hình thành khá sớm trong lịch sử do sự bồi đắp phù xa của sông Luộc (nối liền sông Thái Bình và sông Hồng) Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, nhân dân địa phương còn phát hiện nhiều vỏ sò, cây xú, vẹt… là những di vật của một thời Hưng Long từng bị ngập mặn
Ngược dòng lịch sử trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Hán Lý và Hào Khê thuộc tổng Văn Hội, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, trấn Hải Dương Từ thời Trần trở về trước gọi là Đồng Lợi, thời thuộc Minh (1408 - 1428) do châu Hạ Hồng lãnh, lệ vào phủ Tân An Đầu thời Lê đổi thành huyện Đồng Lại Đời Lê Quang Thuận (1466) đổi thành Vĩnh Lại lệ vào phủ
Hạ Hồng Năm Gia Long thứ 10 (1811) đổi do phủ Ninh Giang yên lý Huyện Vĩnh Lại có 11 tổng, 107 xã, thôn, trang
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện sự chỉ đạo điều chỉnh địa giới và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, hai xã Hán Lý và Hào Khê sát nhập thành một xã mới, lấy tên theo chùa là xã Hưng Long Xã Hưng Long mới thuộc huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Vào khoảng những năm 1949 - 1950, do có biến động thủy văn nên sông Luộc chuyển dòng từ phía xã Hưng Long (Ninh Giang - Hải Dương) sang địa phận xã Quỳnh Hồng (Quỳnh Côi - Thái Bình), đồng thời hình thành bãi phù sa lớn trước chùa Trông (nay là trại Vàng) do xã Quỳnh Hồng quản lý
Trang 25Năm 1968, hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên sát nhập thành tỉnh Hải Hưng Từ đây xã Hưng Long thuộc tỉnh Hải Hưng
Năm 1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 70/CP về việc hợp nhất và điều chỉnh hợp giới 13 huyện của tỉnh, thành 7 huyện mới Trong đó hợp nhất huyện Ninh Giang và huyện Thanh Miện thành một huyện mới lấy tên là huyện Ninh Thanh, huyện lỵ đặt tại huyện Thanh Miện cũ Theo đó xã Hưng Long thuộc huyện Ninh Thanh thuộc tỉnh Hải Dương
Sau ngày tái lập tỉnh, huyện năm 1997, xã Hưng Long thuộc huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương, có vị trí phía đông giáp xã Hồng Phúc huyện Ninh Giang, phía Tây giáp thôn trại Vàng, xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình; phía Nam giáp đê sông Luộc; phía Bắc giáp xã Hưng Thái, huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương
Xã Hưng Long thuộc vùng chiêm trũng ven sông Luộc, đời sống chính của nhân dân phụ thuộc vào nghề trồng lúa nước trong nông nghiệp Xã có 3 thôn Hán Lý, Hào Khê và Trại Hào
Đền - chùa Trông được xây dựng từ thời lý (1110 - 1225) Đền được xây dựng ngay từ khi Minh Không thiền sư qua đời (1141) Chùa được xây dựng vào khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ 11 nhà Lý thời vua Lý Nhân Tôn do chính Không Lộ thiền sư xây dựng trong dịp về quê thân mẫu
Cũng theo sự tích, chùa Trông không chỉ thờ phật mà còn là nơi 3 vị cao tăng Không Lộ, Giác Hải Đạo Hạnh hành đạo Do vậy, có thể xác định ngay từ thời Lý, di tích là một trong những trung tâm Phật giáo của Xứ Đông, thu hút đông đảo tăng ni, phật tử về hành lễ
Vào thời Hậu Lê thế kỷ XVII - XVIII di tích được trùng tu, tôn tạo nhiều lần Khu di tích được xây dựng thêm nhà mẫu và đền thờ tuần Tranh đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian Ngoài ra, còn có khu
ao rối và sới vật, võ dân tộc phục vụ lễ hội truyền thống vào ngày 26 tháng 3
âm lịch hàng năm.Quy hoạch mặt bằng kiểu “Nội công ngoại quốc”[9,Tr 45]
Trang 26Đến thời Nguyễn thế kỷ XIX, đền - chùa Trông đã được trùng tu và được tôn tạo và mở rộng Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của di tích Công trình gồm nhiều hạng mục khác nhau, từ ngoài vào trong có ao rối, tam quan, tắc môn, sới vật, đền tuần Tranh, chùa, nhà Mẫu, nhà Tổ, nhà Tăng và đền thờ Minh Không thiền sư Quy hoạch mặt bằng tổng thể theo lối cân đối, đăng đối các lớp nhà nối nhau tạo thành một không gian ngoạn mục hấp dẫn
Đầu năm 1947 thực hiện chủ trương: “Tiêu thổ kháng chiến” chống
giặc Pháp của Đảng, Ủy ban hành chính kháng chiến xã Hưng Long đã cho giải hạ di tích đền - chùa Trông Theo đó các công trình của di tích đều bị tháo dỡ, đồ thờ tự thất tán… Riêng có tượng Minh Không thiền sư được bảo toàn chu đáo và cổng Tam quan bên trái còn giữ lại được
Sau ngày hòa bình lập lại năm 1954, thể theo nguyện vọng của đông đảo nhân dân chính quyền địa phương cho khôi phục từng bước các hạng mục đền - chùa Trông góp phần ổn định đời sống văn hóa, cơ sở và giáo dục truyền thống yêu nước
Du khách về thăm quê hương Hưng Long và đền - chùa Trông có thể đi theo hai đường là: Từ trung tâm thành phố Hải Dương đi theo đường 17 qua thị trấn Gia Lộc về đến xã Đồng Tâm, huyện Ninh Giang rẽ phải gặp đường
210, qua 2 xã Hồng Phúc và Hưng Thái theo đường phà Hiệp là về đến xã Hưng Long - nơi có di tích đền - chùa Trông Hoặc là cũng theo đường 17 từ thành phố Hải Dương về đến đầu thị trấn Gia Lộc rẽ phải, theo đường 39B đến xã Quang Minh (Gia Lộc) rẽ trái theo đường 20A Tại đây, theo đường cầu Di Linh (thuộc xã Tân Phong, huyện Ninh Giang) du khách về qua xã Hưng Thái đến xã Hưng Long - nơi có di tích đền - chùa Trông Cả hai tuyến đường đều thuận lợi cho các phương tiện giao thông
Trải qua quá trình lịch sử đến nay xã Hưng Long còn bảo lưu được di tích các loại như: Đền - chùa Trông, đống Tam Viên, đình Hào Khê, Đình
Trang 27Hán Lý, miếu Trại Hào Trong đó đền - chùa Trông là di tích lớn không chỉ của riêng xã Hưng Long mà còn là cả huyện Ninh Giang Hàng năm thu hút đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh tham gia sinh hoạt tín ngưỡng
1.2.3 Lịch sử xây dựng và kiến trúc đền - chùa Trông
Kết quả khảo cứu bước đầu các tộc phả, thần tích và truyền thuyết cho biết: Chùa Trông được Đức Thánh Minh Không xây dựng từ thời Lý để làm nơi tu luyện và phục vụ tự do tín ngưỡng của nhân dân địa phương Vào thế
kỷ 19 chùa được trùng tu theo kiểu “Nội công ngoại quốc”, công trình gồm:
Tam quan, tắc môn, hai nhà thờ Mẫu Chùa chính kiểu chữ Đinh 7 gian, 2 nhà giải vũ và đền thờ Đức Thánh ở phía sau chùa cũng kiểu chữ Đinh, dân quen gọi là cung cấm Công trình do quan thượng thư Thượng Đoàn xây dựng để
kỷ niệm quê mẹ của ngài, rất đáng tiếc chùa đã bị thực dân Pháp phá hủy, công trình được nhân dân địa phương xây dựng lại trên nền cũ, di tích cổ còn lại là cổng (Tam quan), phía bắc được kiến tạo nguy nga theo lối kiến trúc Cung đình Huế
Theo lịch sử chùa Trông thờ phật theo phái Đại Thừa và Đức Thánh Minh Không theo kiểu tiền phật hậu Thánh Căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu lịch sử thì Minh Không sinh ngày 14 tháng 9 năm Bính Thìn (1016), tên là Nguyễn Chí Thành quê ở Đàm Xá phủ Tràng An, tỉnh Nam Định Thủa nhỏ thông minh có tư chất, từng theo Từ Đạo Hạnh học, ngài thiên về Đạo Phật sau đổi tên là Minh Không trụ trì riêng ở chùa Quốc Thanh Khi Từ Đạo Hạnh mất, ông về quê ngoại ở Hán Triền cấy cầy không màng danh vọng Đến năm
1136 vua Lý Thần Tôn (Dương Hán) mắc bệnh kỳ dị, Minh Không đã dùng phép thuật, kết hợp với thuốc gia truyền chữa khỏi bệnh cho vua, được ban nhiều vàng bạc và ruộng Ông trở về Hán Triền cùng nhân dân làm ruộng và chữa bệnh được mọi người gần xa kính trọng Ngài cho dựng một ngôi chùa ở gần sông Luộc để tu luyện và đặt tên là chùa Tông Đến ngày 26 tháng 3 năm
Trang 28Giáp Tuất ngài hóa bay về trời, dân làng chạy đến trông theo ngài đến đống
Mả Thày thì biến mất, từ đó chùa được dân làng gọi là chùa Trông mang ý nghĩa trông theo Đức Thánh Có truyền thuyết giải thích lịch sử hình thành chùa như sau: Tương truyền nhà sư Từ Đạo Hạnh trước tu ở chùa La Vân thuộc huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, trong các dịp cúng lễ chùa khi đóng oản ông hay véo mỗi chiếc oản một ít để ăn, khi các cụ trong làng phát hiện ra
đã bực bội quyết định đuổi đi không cho ở chùa nữa [34, tr.27]
Từ Đạo Hạnh đã rời chùa vào ban đêm ông cho tượng lớn gánh tượng nhỏ để ra đi, đến sông Luộc ông không đi bằng thuyền mà ngả chiếc nón quai thao xuống làm thuyền chở tượng qua sông Khi các cụ trong làng La Vân phát hiện ra đã vái theo xin ông quay trở lại đừng đi nữa, nhưng ông không quay lại mà đã nhổ nước bọt lại làng La Vân , nước bọt đó sau này thành bèo hoa dâu Qua nhiều thập kỷ làng La Vân giàu lên nhờ có nhiều bèo hoa dâu
Từ Đạo Hạnh sang đến đất chùa Trông hiện nay dừng lại xây dựng một ngôi chùa nhỏ để thờ phật từ chùa La Vân sang và gọi là chùa Trông Hiện nay chùa La Vân chỉ còn một pho tượng phật lớn vì xưa vướng cửa không đem đi được, cho nên dân La Vân vẫn thờ vọng phật bên chùa Trông Cứ khi nào chùa Trông nổi trống mở lễ hội thì chùa La Vân cũng mở hội theo và cử người mang lễ vật sang chùa Trông để cúng phật, lệ này đến ngày nay vẫn được duy trì Sau khi Minh Không hóa vua cho phép dân làng dựng đền ở sau chùa để thờ tự, tương truyền từ khi lập đền nên rất thiêng liêng, cầu đảo đều được theo ý nguyện và dân làng tôn thờ ngài đến ngày nay Tại địa phương còn truyền tụng câu ca:
“Trông lên chỉ thấy trời cao
Sắc vua đặt đó ngài sao không về
Chúng sinh xin nguyện lời thề
Ghi ơn Đức Thánh của quê hương mình
Trang 29Chùa Tông ngài đã hiển linh
Chùa Trông dân gọi tôn vinh muôn đời”
Có tài liệu còn ghi Minh Không sinh thời là người dạy nghề đúc đồng đầu tiên của nước ta, nên được tôn là tổ sư của nghề đúc đồng Dưới triều Lý tập trung thợ giỏi của 5 làng đất kinh Bắc đó là: Đề Cầu, Cầu Nôm, Đồng Xá, làng Hè và làng Hồ lập thành một làng mới ở ven Hồ Tây đó là làng Ngũ Xá
để đúc tiền và các khí vật thờ cúng Hiện nay ở làng Ngũ Xá có đình thờ nguyễn Minh Không làm Thành Hoàng, ngài còn được thờ ở nhiều nơi nhưng lớn nhất là ở chùa Keo (Thái Bình) và chùa Lý Quốc Sư (Hà Nội) Các triều đại phong kiến ở Việt Nam đều ban sắc và ban cho ngài là Phật Thánh thượng đẳng thần
Chùa Trông cũng là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử tại địa phương,
là sự kết tinh văn hóa làng xã, nhất là thông qua lễ hội cổ truyền tương đối độc đáo diễn ra ở đây Chùa Trông đã được sách Đại Nam nhất thống chí có
ghi:“Ở xã Hán Lý, huyện Vĩnh Lại trước chùa có sông cửu khúc, tương
truyền quê mẹ Thiền sư Không Lộ ở đây, nhân dựng chùa ở đấy Thiền sư Không Lộ với hai thiền sư Đại Nam và Đạo Hạnh đồng thời kết nghĩa anh
em, 3 người cùng ở với nhau tu hành ở đây Sau các thiền sư tịch, tỏ rõ pháp lực, có thể đạp mây cưỡi rõ cầu đảo thường được linh ứng, dân xã tô 3 pho tượng để thờ” [34, tr.20]
Cụm di tích đền - chùa Trông được xây dựng theo hướng Tây Nam Phía trước là khu ao rối, chợ thôn Hưng Long và đê sông Luộc Công trình thủy lợi được xây dựng từ khá sớm, và được nâng cao trong thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ trước Bên tả liền sát với khu dân cư đông đúc chạy dọc theo chân
đê Bên hữu di tích là khu vực trung tâm bao gồm trụ sở ủy ban nhân dân xã, nghĩa trang liệt sỹ xã Hưng Long và đường liên thôn Hào Khê và Hán Lý Cuối cùng phía sau là vườn cây cánh đồng và đường đi đến bến Phà Hiệp -
Trang 30công trình giao thông nối liền Hải Dương và Thái Bình được xây dựng trong những năm gần đây đã tạo ra xu thế mới cho sự phát triển kinh tế - văn hóa
xã hội xã Hưng long và các vùng phụ cận Trong khoảng không gian được xác định gần 8000m2 Đền - chùa Trông được xây dựng theo quy hoạch:
“Nội công ngoại quốc” Gồm nhiều hạng mục công trình với các lớp mái
khác nhau Các công trình được xây dựng theo nguyên tắc đăng đối, cân đối truyền thống
Từ ngoài nhìn vào, khu vực ao rối rộng 819m2 đã được xây kè xung quanh Trong những ngày hội làng các đoàn nghệ thuật rối nước về đây biểu diễn, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân cùng vui chơi, giải trí Tiếp đến
là Tam Quan - một công trình kiến trúc độc đáo, quy mô lớn nhất tỉnh Hải Dương Tam Quan cao 19m, dài 27,5m, rộng 3,5m, công trình được cấu tạo gồm 2 cổng lớn: Cổng Đông và Cổng Tây, nối giữa hai cổng là một tắc môn
hoành tráng hiếm thấy Kết cấu cổng Tam quan gồm 4 tầng “chồng riêng, cổ
cát”, tầng 1 có 3 cửa vòm cuốn, tầng 2 có 5 cửa vòm cuốn, tầng 3 có 3 ô trang
trí gắn đại tự: “Bắc địa đồng” (Kho đồng đất Bắc), tầng 4 có 3 ô trang trí họa
tiết “Tứ linh quen thuộc” (Long, ly, quy, phượng đã cách điệu) trên nóc được
đắp nổi hình tượng: “Lưỡng long chầu nguyệt” (do mái thu nhỏ nên các nghệ
nhân đã sử dụng rồng kìm), xen giữa kết cấu chính, các nghệ nhân xưa còn khéo léo bố trí thêm 8 trụ lồng đèn xung quanh tầng 2 và 4, con Nghê chầu tại tầng 3 để tạo nên sự thiêng liêng của công trình Hai cổng tam quan được tạo dáng kiến trúc nghệ thuật tương tự nhau, chỉ khác là cổng Đông (bên phải từ
ngoài vào) được gắn đại tự “Nam thiên động” (động của trời nam) mang ý
nghĩa tự hào về đền - chùa Trông của nước nam đẹp và quý hiếm không kém
gì kho đồng đất Bắc (Trung Quốc) Về vấn đề này, cũng có ý kiến cho rằng xưa Minh Lộ Thiền sư đã dùng phép lấy hết kho đồng của nhà Tống để về làm giàu cho nước nhà (?) Cuối cùng là một Tắc Môn lớn nối liền cổng Đông
Trang 31và cổng Tây được trang trí đề án: “Long cuốn thủy” ở chính giữa, đối xứng
hai bên là họa tiết chữ: “Thọ” cách điệu trong bố cục hình tròn, điêu khắc
thủng Trên đỉnh tắc môn được đắp nổi “Lưỡng long chầu nguyệt” cân đối,
đẹp mắt.[ 8, tr.30]
Với một quy mô hoành tráng và điêu khắc tinh sảo của các nghệ nhân
dân gian Hưng Long xưa, Tam quan đền - chùa Trông xứng đáng là một công
trình kiến trúc nghệ thuật điển hình trên đất xứ Đông xưa và Hải Dương ngày
nay Về thăm đền - chùa Trông hẳn không mấy ai không có ấn tượng sâu sắc
với Tam quan này
Liền sau Tam quan là một khoảng sân rộng xưa tại đây có một sới vật
võ dân tộc, trong kháng chiến đã bị xuống cấp nay chỉ còn một phần dấu vết
khuôn viên Hai góc sân có hai cây đề lớn được trồng lại vào năm 1961, nay
đã giao cành quanh năm tỏa bóng xanh mát Việc chọn trồng cây đề của
người xưa gắn với sự tích Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi xuất gia đi tu đã
từng ngồi dưới gốc đề 49 ngày đêm để suy nghĩ về nhân tình thế thái, xã hội (Ấn Độ) cổ đại Do vậy, từ lâu cây đề được xem là biểu tượng của phật giáo
Ẩn hiện dưới tán lá đề là chùa Trông Công trình được khôi phục năm
1984 có phần khiêm tốn so với mặt bằng thời xưa Kiến trúc kiểu chữ
“Đinh” gồm 5 gian tiền đường và 2 gian thượng điện xây bít đốc, bổ trụ Kết
cấu khung vì kiểu “Giá chiêng” truyền thống, riêng Thượng điện làm theo
kiểu “Kèo cầu cánh ác” kết cấu mái nhà kiểu “Thượng tam, hạ tứ” Không
có chạm khắc gì đặc biệt
Bài trí đồ thờ tự trong chùa tuy mới không phục song khá phong phú
gồm 17 lớp tượng từ ngoài vào trong theo bố cục cao dần đều Hai hồi tiền
đường được bầy bộ tượng Thập Điện Diêm Vương, tiếp đến là 4 pho tượng:
Đức Thánh Hiền, Thần Khuyến Thiện, thần Trừng Trị và Đức Ông (Cấp Cô
Độc) Hàng thứ hai gồm 3 pho tượng: An Nam Tôn Giải, Thích Ca So Sinh
Trang 32và Ca Diếp Tôn Giả Hàng thứ tư gồm 3 pho tượng: Kim Đồng, Ngọc Hoàng
và Ngọc Nữ Hàng thứ năm gồm có 3 pho tượng: Văn Thù, Quan Âm, Chuẩn
Đề (24 tay) và Phổ Hiền Hàng thứ sáu gồm: An Nan, Thích Ca Niệm Hoa và
Ca Diếp Hàng thứ bảy gồm: Một pho A Di Đà Cuối cùng là bộ tượng Tam Thế Các tượng thờ đều có chất liệu gỗ, niên đại thời Nguyễn (TK XX), có giá trị nghệ thuật tạo hình khá cao
Đối xứng với hai bên chùa là hệ thống cổng đền Trông (Hưng Long điện) Ở đây, cổng cũng được xây khá đồ sộ cao 10m, rộng 2,0m, dài 4,5m Hai cổng đền được bố cục song song với cổng Đông và cổng Tây của Tam quan chùa theo trục thẳng, đồng thời có cùng một kiểu dáng kiến trúc Kết cấu
công trình gồm 3 tầng kiểu “Chồng diêm, cổ các”, tầng 1 có một cửa vòm lớn, tầng 2 có một cửa vòm nhỏ, tầng 3 trang trí điêu khắc “Tứ quý” cách
điệu Theo ý kiến của ban quản lý di tích xã Hưng Long cho biết: Cổng trái do thợ Hồng Phúc (Ninh Giang thực hiện), cổng phải do thợ Thái Bình thực hiện
Điểm khác biệt là họa tiết trang trí thợ Thái Bình đắp thêm “Long cuốn thủy”, thợ Hồng Phúc đắp thêm “Phượng Chầu” Nhờ đó, công trình có kiến trúc
lịch sử riêng, hệ thống cổng đền không chỉ là mốc giới không gian giữa
“Tiền phật” và “Hậu Thần” mà với cấu trúc đồng bộ còn tạo nên vẻ đẹp
hoành tráng của cụm di tích đền - chùa Trông
Vượt qua cổng đền là một khoảng sân gạch rộng dãi, trong những ngày lễ hội truyền thống sân đền là nơi diễn ra hoạt động tế thánh trọng thể của nhân dân địa phương tưởng niệm Minh Không thiền sư Tiếp theo là nhà Tiền tế gồm: 5 gian cột gỗ xây, bít đốc, bổ trụ, kết cấu khung vì kiểu Kèo cầu được khôi phục năm 1989 Trang trí điêu khắc nghệ thuật tập trung thể
hiện tại bờ nóc với cuốn bức thư “Hưng Long điện” có đôi phượng múa
chầu, hai đầu kìm gắn lạc long phía trước có hai trụ lồng đèn được tạo dáng cân đối đẹp mắt
Trang 33Bài trí thờ tự nội thất Tiền tế gồm có một nhang áng đặt tại gian giữa đối xứng hai bên có một bộ bát bửu và một đôi câu đối có nội dung:
“Trí dũng tráng sơn hà thế giới anh hùng duy hữu nhất
Minh tinh quang vũ trụ Á Âu hào kiệt thị vô song”
Nghĩa là:
“ Trí dũng mạnh mẽ với non sông, thế giới anh hùng duy có một
Sao chiếu sáng ngời vũ trụ, Á Âu hào kiệt thật không hai”
Đặc biệt ngoài trụ lồng đèn còn lưu lại đôi câu đối cổ gắn với nguồn gốc gia thế của Không Lộ thiền sư:
“Thân phụ Nguyễn Tính Giao Thủy quán
Từ Mẫu Dương Thị Hán Triền xinh”
Nghĩa là:
“Thân phụ (cha) họ Nguyễn, quê quán ở Giao Thủy
Thân Mẫu (mẹ) họ Dương, sinh tại Hán Triền”
Giữa Tiền tế và Trung từ cách nhau một khoảng sân rộng, đủ để lấy ánh sáng tự nhiên vào gian thờ tự chính Trung từ là công trình được khôi phục
vào năm 2000 trên nền cũ Kết cấu khung vì 5 gian kiểu “Giá chiêng, lòng
mái mở”, “Thượng tứ, hạ ngũ”, xây bít đốc, bổ trụ, hồi văn Trang trí điêu
khắc nghệ thuật được thể hiện khá phong phú cả trong và ngoài với truyền
thống: “Tứ Linh” (Long, ly, quy, phượng) và “Tứ quý” (Tùng, cúc, trúc, mai) trên các bức cốm đầu bảy Trên bờ nóc được đắp nổi hình tượng “Lưỡng
long chầu nguyệt” khá to và đẹp mắt, mặt ngoài đầu hồi còn đắp thêm hình
tượng “Hổ phù”, hiện tượng văn hóa cầu phồn thực của cư dân nông nghiệp
trồng lúa nước khu vực Đông Nam Á Ngoài ra còn đắp nổi đôi Nghê chầu trên đỉnh cổ lồng đèn từ trước nhà Trung từ càng tạo nên sự tôn nghiêm, trang trọng nơi thờ tự
Trang 34Bài trí thờ tự tại đây khá phong phú với hệ thống đồ tế tự dày đặc như: cuốn thư, câu đối, đại tự, bát bửu, nhang áng…trong đó chú ý đến những nội dung ca ngợi công lao và tài pháp thuật của Minh Không thiền sư trong sự phát triển phật giáo như:
“Thượng Thánh Quốc sư”
(Bậc Thánh lớn được phong làm Quốc sư)
“Ân triên Cửu trùng”
(Ân đức lớn lao thấu tới Cửu trùng)
“Bích thủy Thiên trùng”
(Nước biển nghìn trùng)
Nối liền Trung từ và Hậu cung - công trình thờ tự chính ba gian được
khôi phục năm 1978 Kết cấu theo kiểu: “Giá chiêng xen chồng rường”,
không có chạm khắc nghệ thuật gì đặc biệt ngoài bài trí thờ tự: Chính giữa là khán thờ Minh Không thiền sư - khám mui luyện đặt tượng đồng Hai bên tả hữu được đặt khán thờ và tượng thân Phụ, thân Mẫu của Thánh Tổ Bên ngoài được bài trí 6 pho tượng quan văn, quan võ, và phỗng Theo tín ngưỡng dân gian xưa của nhân dân địa phương không ngoài việc tôn vinh Minh Không thiền sư người có công lớn lao với đất nước và phật giáo
Tam quan có chiều cao cổng Đông 1900cm, chiều rộng cổng Đông
350cm, chiều dài cổng Đông 900cm (cổng Đông và cổng Tây có kích thước
tương đương)
Chùa Trông có chiều cao tiền Đường 540cm, chiều rộng tiền Đường 600cm, chiều dài tiền Đường 1185cm, chiều cao cột cái 350cm, chiều cao cột quân 260cm, chiều cao Thượng điện 540cm, chiều rộng Thượng điện
450 cm, chiều dài Thượng điện 450cm, chiều cao cột cái 350cm Cổng đền
chiều cao 1000cm, chiều rộng 1200cm, chiều dài 450cm (hai cổng có kích
thước tương đương)
Trang 35Đền Trông có chiều rộng tiền tế 700cm, chiều dài tiền tế 1500cm, chiều cao tiền tế 620cm, chiều cao cột cái 450cm, chiều cao cột quân 320 cm, chiều cao cột cái Hậu cung 450cm, chiều cao cột quân Hậu cung 320cm, chiều cao Hậu cung 690cm, chiều dài Hậu cung 810cm và chiều rộng Hậu cung 680cm
1.2.4 Hiện vật trong di tích
Với quy mô hoành tráng và nội dung lịch sử sâu sắc, hiện vật trong di tích có giá trị gắn liền với tín ngưỡng thờ người có công với nước Qua khảo sát nghiên cứu số hiện vật tại di tích gồm có:
Tiền Tế:
Đồ gỗ: 01 bộ Bát bửu, 01 Cuốn thư (thế kỷ 19 ), 01 cỗ Ngai thờ
Kim loại: 01 cái Trống (thân và một mặt đồng, một mặt bưng da) và 01 cái chuông đồng
Trung từ:
Đồ gỗ: 01 pho Tượng Đức Thánh Hiền, 01 pho tượng Đức Ông, 02 cỗ Ngai thờ, 01 bức Cuốn thư: 01 bức, 03 cái Siêu đao:, 01 cỗ Hậu bành: 01 cỗ hòm sắt 01 đôi Quán tẩy và 01 đôi Ngựa thờ
Kim Loại: 01 đôi nến đồng, 02 cái mâm bồng và 01 bát hương đồng Vải: 01 đôi Tán tía
Gốm sứ: 01 đôi Lộc bình và 01 cái bát hương Phù Lãng
Hậu Cung:
Đồ gỗ: 01 cỗ Khám mui luyện, 01 cỗ Khám thân Mẫu, 01 cỗ Khám thân Phụ, 01 cái Mâm Bồng, 02 pho Tượng Quan võ, 02 pho Tượng Quan văn
và 02 pho Tượng Phỗng
Kim loại: 01 cỗ Mũ đồng, 03 cái Bát hương đồng, 01 đôi Nến đồng và
01 Tượng Thiền sư Minh Không
Tượng chất liệu đồng đúc liền, tư thế ngồi xếp bằng, chân phải vắt lên đùi trái, lộ bàn chân năm ngón Tay phải đặt giữa lòng, bàn tay khép lại, ngón
Trang 36giữa co vào Tay trái để trên lòng, bàn tay đặt ngửa quay về phía trước tự nhiên Tượng có khuôn mặt nhân từ, mắt nhìn thẳng, mặc áo cà sa kiểu nhà phật Đây là một cổ vật đặc biệt của di tích gắn liền với sự tôn vinh Minh Không thiền sư cao tăng thời Lý được nhân dân bảo quản chu đáo
1.3 Thực trạng công tác tổ chức lễ hội chùa Trông hiện nay
So với khởi thuỷ, lễ hội ngày nay đều có những biến động đáng kể, thậm chí bị thay đổi, biến dạng nhiều Trải qua các biến động xã hội, chiến tranh hầu hết các di tích, cơ sở thờ tự không còn giữ được nguyên trạng ban đầu Nhiều cơ sở thờ tự (đình, chùa) phải cáng đáng chức năng gìn giữ đồ thờ
tự, tượng thờ của các đền, miếu Ngay các đình, đền, chùa miếu nếu không
bị tàn phá, hạ giải, làm lại, làm mới thì qua các lần trùng tu trong lịch sử các triều đại, thời đại cũng bị sai khác rất nhiều so với trước kia Điều này dẫn đến quy mô các công trình không chỉ bị thu hẹp lại mà ngay cả đồ thờ, đồ tế
tự cũng bị thất lạc, mất mát hoặc pha trộn giữa nhiều kiểu dáng, thời kỳ Nơi thờ tự biến dạng, kéo theo các phong tục, lễ nghi thay đổi theo
Ngày 30 tháng 12 năm 2002, di tích đền - chùa Trông được Bộ Văn hóa
- Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cấp Bằng công nhận là
di tích lịch sử cấp Quốc gia Những năm trở lại đây, di tích được tu bổ và tôn tạo lại theo Luật Di sản văn hóa, theo đó lễ hội cũng được phục hồi và phát triển, với quy mô tổ chức đa dạng và phong phú Đời sống văn hóa ở cơ sở được cải thiện và nâng cao, những giá trị văn hóa mới được khôi phục qua các
lễ hội dân gian, nhằm giữ gìn đặc trưng bản sắc văn hóa của một làng, một địa phương, đồng thời tạo môi trường văn hóa lành mạnh góp phần làm giảm các tiêu cực xã hội [35, tr.18]
Hoạt động lễ hội đã góp phần quảng bá hình ảnh, các giá trị văn hóa của tỉnh, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương, đạo lý uống nước nhớ nguồn, tinh thần tương thân tương ái, gắn bó đoàn kết cộng đồng cho các thế hệ người Việt Nam
Trang 37Thông qua việc tổ chức lễ hội, đội ngũ người làm công tác quản lý văn hóa thông tin các cấp từng bước trưởng thành về số lượng và chất lượng; công tác quản lý lễ hội đúng định hướng và ngày càng đi vào nề nếp, phù hợp với đặc điểm của từng địa bàn, cộng đồng dân cư và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Các cơ quan quản lý nhà nước và chuyên môn đã từng bước chuyển giao công nghệ quản lý và tổ chức lễ hội cho các cấp có thẩm quyền và cộng đồng dân cư ở cơ sở, tạo thêm môi trường và điều kiện thuận lợi để nhân dân thật sự là chủ thể của hoạt động lễ hội
Nhân dân đã chủ động sáng tạo, cùng tham gia tổ chức, đóng góp sức người sức của cho các hoạt động lễ hội dân gian, coi đây là nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng
Hoạt động lễ hội đã phát sinh đáng kể nguồn thu tài chính để bổ sung vào ngân sách nhà nước chi trở lại cho các hoạt động lễ hội và tu bổ di tích
Một số hình thức sinh hoạt văn hóa mới được đưa vào hoạt động lễ hội
và được cộng đồng dân cư chấp nhận Lễ hội đã từng bước chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa cộng đồng
Ban tổ chức lễ hội đã xây dựng quy chế làm việc, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành lễ hội theo đúng chương trình và báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép, bảo đảm trật tự an ninh, tổ chức dịch vụ ăn nghỉ hàng quán,
vệ sinh môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và quản lý việc thu chi trong lễ hội Các tiểu ban chức năng được đặt ra để thực hiện công việc được phân công như: công tác điều hành, công tác an ninh, trật tự, tiểu ban nội dung tuyên truyền, tài chính hậu cần…
Cùng với sự thay đổi đáng kể cơ sở vật chất, cảnh quan của các cơ sở thờ tự cũng thay đổi theo xu hướng biến đổi do sinh hoạt cư trú, cộng đồng cư dân thay đổi Khuôn viên, nhà cửa, đất đai của các cơ sở thờ tự trải qua năm
Trang 38tháng bị co hẹp lại, đan xen với các công trình sinh hoạt, nhà cửa, đường đi lối lại, quy hoạch đất đai khiến cho lễ hội mất dần diện tích sinh hoạt, các hoạt động lễ hội (tế, rước, vui chơi ) bị chia cắt, phân tán
Phần lễ: Phần lễ thường gồm các hoạt động tế lễ và rước Các nghi thức tế lễ thường nằm trong khu vực các đền, chùa Ở đó, đồ thờ, đồ tế lễ, đồ rước (kiệu, tàn, lọng, bát cống, ngựa xe ), các vật thiêng như đồ tế khí, bát bửu, sắc phong được bảo quản chăm sóc và luôn sẵn sàng phục vụ việc hành
lễ Tế lễ là nghi thức tưởng niệm và dâng đồ lễ lên thần linh
Lễ rước tổ chức ngoài khu vực di tích là rước nước (lấy nước về tắm tượng), rước thánh (rước tượng hoặc rước bài vị, rước kiệu), rước sắc (rước sắc phong), rước lễ (lễ vật dâng Thánh)…
Nhìn chung, các lễ thức và các trò chơi, trò diễn đang được tiến hành ngày nay tại các lễ hội đều không tái hiện nguyên trạng kịch bản gốc đã có mà thường bị cắt xén và pha tạp nhiều Đây cũng là một nguyên nhân làm giảm
tính cuốn hút của lễ hội
Phần hội: Các trò chơi dân gian như kéo co, chọi gà, đấu vật, cờ người,
cờ tướng, đua thuyền…Các hoạt động diễn xướng như hát chèo, hát ả đào, hát đối, trống quân, múa rối cạn, múa rối nước Nhiều diễn xướng dân gian đặc sắc như hát chầu văn hầu Thánh
Tiểu kết
Chương 1 tập trung nghiên cứu những yếu tố vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Ninh Giang và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã ảnh hưởng, tác động đến hoạt động lễ hội chùa Trông
Xã Hưng Long vốn là miền đất giàu truyền thống văn hóa, di tích đền - chùa Trông là công trình kiến trúc có giá trị văn hóa - nghệ thuật, được xây dựng làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa phương, là nơi lễ diễn ra lễ hội chùa Trông để tưởng niệm các danh nhân lịch sử văn hóa những người có công với quê hương đất nước
Trang 39Lễ hội chùa Trông với không gian sinh hoạt văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh không chỉ của người dân địa phương mà còn của nhân dân ở nhiều nơi khác Cùng với không gian ấy, lễ hội chùa Trông được tổ chức hàng năm với quy mô ngày càng mở rộng đã trở thành một hoạt động có ý nghĩa không thể thiếu trong đời sống của người dân nơi đây
Trang 40CHƯƠNG 2 DIỄN TRÌNH LỄ HỘI CHÙA TRÔNG XƯA VÀ NAY
2.1 Sự kiện, nhân vật lịch sử liên quan đến lễ hội
2.1.1 Đền Trông (Hưng Long điện)
Qua nghiên cứu khảo sát di tích và các tài liệu, thư tịch liên quan, cụm thư di tích đền Trông được thờ Minh Không thiền sư Nguyễn Chí Thành một cao tăng thời Lý ( 1010 - 1225) Sự tích về ông có nhiều dị bản song qua sách Đại nam nhất thống chí có ghi: Minh Không thiền sư họ Nguyễn, úy là Chí Thành quê làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình, sinh năm Bính Ngọ niên hiệu Long Chương Thiên tự đời vua Lý Thánh Tôn (1066), năm ấy Dương Không Lộ 51 tuổi thiền sư tu tại chùa Quốc Thanh lấy hiệu là Minh Không, theo học Từ Đạo Hạnh hơn 40 năm, được thầy khen là người có chí
và truyền tâm ấn cho Khi Đạo Hạnh sắp làm phép “Thi giải” (hóa kiếp) đã
dặn Minh Không rằng: “Đức Thế tôn ta đạo quả viên thành mà còn có bệnh
giọt, huống chi đời nay là mạc thế yêu ma, giữ làm sao được, nay ta thác sinh làm vua quyết không tránh khỏi được bệnh nặng, ta có duyên với ngươi, ngươi nên cứu ta!” Sau khi Từ Đạo Hạnh “hóa kiếp đầu thai” rồi, Minh
không trở về chùa cũ tu hành [8, tr.18]
Đến năm thứ 4 niên hiệu Long Chương bảo tự đời vua Lý Thần Tôn
(1136) vua bị bệnh “Hóa hổ” thầy thuốc chữa mãi mà không khỏi, bệnh tình
nhà vua ngày càng trầm trọng, tinh thần phiền não, gào thét kinh người Trong cung có hàng trăm thái y giỏi nhưng hết thảy đều bất lực, bấy giờ có đám trẻ con hát rằng:
“Tập tầm vông
Muốn chữa Lý Cửu trùng
Có ông Nguyễn Minh Không”