Người Mường cư trú trên một địa bàn rộng vùng trung du miền núi phía Bắc từ Yên Bái,Phú Thọ đến Hoà Bình, Thanh Hoá và một số địa phương lân cận… Trong quá trình lịch sử phát triển, ngườ
Trang 2LỜI CẢM ƠN Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, góp ý tận tình
của PGS.TS Lê Ngọc Thắng Tôi xin gửi tới PGS lòng biết ơn sâu sắc
nhất!
Luận văn này cũng đánh dấu kết quả quá trình học tập của tôi trong thời gian qua tại Khoa Sau đại học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cán bộ khoa Sau đại học đã giúp đỡ tôi
Tôi xin trân thành cởn ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoc tập!
Tác giả
Vũ Thị Huệ
Trang 3MôC LôC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1:NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ BÌNH THANH, HUYỆN CAO PHONG 11
1.1 Khái quát lịch sử người Mường ở Việt Nam 11
1.1.1 Tên gọi và nguồn gốc người Mường 11
1.1.2 Dân số và địa bàn cư trú 15
1.2 Đặc điểm tự nhiên và dân cư xã Bình Thanh - huyện Cao Phong 16 1.3 Đời sống kinh tế xã hội 18
1.3.1 Các hình thức hoạt động kinh tế 18
1.3.2 Thiết chế xã hội 23
1.3.3 Văn hoá vật chất 25
1.3.4 Văn hoá tinh thần 27
Tiểu kết 31
Chương 2 NHÀ SÀN MƯỜNG Ở LÀNG GIANG MỖ, XÃ BÌNH THANH 32
2.1 Nguồn gốc về nhà sàn Mường ở Giang Mỗ 32
2.2 Các yếu tố vật chất - kỹ thuật nhà của nhà sàn Mường 34
2.2.1 Chuẩn bị dựng nhà 34
2.2.2 Kỹ thuật dựng nhà 38
2.3 Bố trí sinh hoạt tại nhà sàn 48
2.4 Các yếu tố xã hội liên quan đến nhà sàn 51
2.4.1 Mặt bằng sinh hoạt trong nhà sàn phản ánh các quan hệ xã hội 51
2.4.2 Các phong tục liên quan đến việc dựng nhà 56
2.4.3 Các phong tục nghi lễ vòng đời điễn ra trong nhà sàn 57
2.5 Sự biến đổi của nhà sàn Mường trong đời sống hiện đại 62
2.5.1 Những biến đổi về các yếu tố kỹ thuật 62
2.5.2 Những biến đổi các yếu tố văn hóa - xã hội 64
Trang 4Tiểu kết 67
Chương 3: GIÁ TRỊ VÀ VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NHÀ SÀN MƯỜNG LÀNG GIANG MỖ 69
3.1 Giá trị văn hóa 69
3.2 Bảo tồn giá trị của nhà sàn Mường tại làng văn hóa Giang Mỗ 75
3.2.1 Khái niệm, tiêu chí làng văn hóa tại Giang Mỗ 75
3.2.2.Thực trạng quản lý, bảo tồn di sản nhà sàn: 78
3.2.3 Một số giải pháp 82
3.3 Phát huy giá trị nhà sàn Mường tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch 85
3.3.1 Đặc điểm và thực trạng 85
3.3.2 Định hướng quản lý và tổ chức khai thác 88
3.3.3 Những biện pháp cơ bản 89
Tiểu kết 94
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Người Mường là một trong 53 dân tộc thiểu số cư trú trên lãnh thổ Việt Nam Người Mường cư trú trên một địa bàn rộng vùng trung du miền núi phía Bắc từ Yên Bái,Phú Thọ đến Hoà Bình, Thanh Hoá và một
số địa phương lân cận… Trong quá trình lịch sử phát triển, người Mường
đã tạo dựng cho mình một truyền thống văn hoá, tạo nên đặc trưng văn hoá tộc người và góp phần tạo nên tính đa dạng cho bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam
Người Mường cư trú lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam Trong quá trình tồn tại, người Mường có quan hệ, giao lưu và chịu tác động qua lại với các dân tộc anh em khác như tộc người Việt, người Thái…
1.2 Nghiên cứu văn hoá tộc người, chúng ta thấy hình thức cư trú (nhà cửa) là một thành tố quan trọng, bởi lẽ nhà cửa là dấu hiệu bên ngoài phản ánh đặc trưng văn hoá riêng biệt tộc người Cư trú là nhu cầu thiết yếu, hàng đầu trong đời sống con người Hình thức cư trú là bộ phận cấu thành văn hoá vật chất mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng người Không những vậy, nơi cư trú còn là nơi con người tiến hành một số hoạt động sản xuất và hoạt động văn hoá tinh thần Tuỳ theo dấu hiệu nơi cư trú, quan niệm của mỗi tộc người mà người ta xây dựng cho mình một kiến trúc nhà phù hợp Qua nhà cửa, chúng ta có thể phần nào tiếp cận được với những vấn đề thuộc về văn hoá tộc người Là sản phẩm văn hoá tộc người, nhà cửa được hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của lịch sử tộc người Cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống của con người ngày càng được nâng cao Các nhu cầu sinh hoạt vật chất trong đó có nhu cầu về nơi cư trú cũng không ngừng biến đổi
Trang 6Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa tộc người riêng Vì vậy, nhà cửa các dân tộc cũng hết sức đa dạng
và phong phú Do đó, nghiên cứu về nhà cửa và các hoạt động gắn liền với
nó là một vấn đề cần thiết và thú vị
1.3 Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, văn hoá các dân tộc trong đó có người Mường đang đứng trước những vận hội và thách thức không nhỏ Phát triển nền kinh tế thị trường đi đôi với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống là một việc làm không đơn giản Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách văn hoá, chính sách dân tộc đúng đắn cho vấn đề này nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống mới đồng thời thực hiện tốt mục tiêu xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống có nhiều hình thức khác nhau như: xây dựng nhà bảo tàng, xây dựng nhà truyền thống và Trung tâm văn hoá, nghiên cứu lưu trữ trong các ấn phẩm, tham quan, du lịch… Trong
số các hình thức bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, có việc xây dựng các làng văn hoá ở từng địa phương
Xây dựng các làng văn hoá có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần phục hồi các giá trị văn hoá truyền thống cũng như đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại Làng văn hoá dân tộc Mường tại Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình là một trường hợp như vậy
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Giá trị văn hoá nhà sàn
Mường tại làng Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình” để làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Văn hoá học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Là một cộng đồng dân tộc cư trú lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam, người Mường từng có nhiều đóng góp cho lịch sử và văn hoá Trong kho tàng thư tịch cổ Việt Nam có rất nhiều tư liệu viết về người Mường Những
Trang 7tư liệu đầu tiên nói đến người Mường chúng ta có thể thấy như: Dư địa chí (của Nguyễn Trãi), Đại Việt sử ký toàn thư (của Ngô Sĩ Liên), Kiến văn
tiểu lục (của Lê Quý Đôn), Lịch triều hiến chương loại chí (của Phan Huy
Chú)… những tài liệu này bước đầu cho biết một phần về xã hội Mường khi nói đến những người thủ lĩnh được gọi là Lang đạo Các tài liệu về sau
như Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí (của Quốc Sử quán
triều Nguyễn)… đề cập tương đối hơn trong đó gọi cư dân Mường cùng một tộc danh với các dân tộc ít người ở Tây Bắc khác là người Mán, người Thổ Nhìn chung, các tài liệu thời phong kiến ở Việt Nam chỉ giới thiệu người Mường một cách phiến diện trong một số sách sử, địa không phải là những chuyên khảo dân tộc học hay văn hóa học Hơn nữa, các học giả phong kiến lại có cái nhìn kỳ thị, không chính xác về văn hoá dân tộc thiểu số
Khi người Pháp đặt ách cai trị ở Việt Nam, để phục vụ cho mục đích
đô hộ và khai thác thuộc địa, nhiều người Pháp đã có những ghi chép về người Mường trên các tạp chí hay in thành sách như các tác giả Brisson, Cheon, P.Grossin, V Gouloubeu… đáng kể hơn cả phải kể đến công trình
Les Muong của J.Cuisinier (đã được dịch ra tiếng Việt in năm 1995 với tựa
đề Người Mường- Địa lý nhân văn và xã hội học)
Từ sau 1945, khi Việt Nam giành được độc lập, để phục vụ cho việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, nhiều cán bộ nghiên cứu khoa học đã dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu văn hoá các dân tộc Người Mường cũng được nghiên cứu trên nhiều góc độ văn hoá tộc người Các tài liệu nghiên cứu về người Mường thời kỳ này hết sức đa dạng và phong phú
Các công trình nghiên cứu người Mường mang tính chất tổng quan
có thể kể đến như: Người Mường ở Việt Nam (Nxb Thông Tấn 2008)… có công trình nghiên cứu người Mường tại một địa phương cụ thể như: người
Mường với văn hoá cổ truyền Mường Bi (Sở Văn hoá Thông tin Hà Sơn
Trang 8Bình 1988), Người Mường trên đất tổ Hùng Vương (Nxb Văn hoá Thông
tin 2001)… Có công trình nghiên cứu người Mường trên góc độ tiếp cận
một thành tố văn hoá như: Gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh
Phú Thọ (tác giả Nguyễn Ngọc Thanh), Nghi lễ Mo trong đời sống tâm linh của người Mường (của Bùi Thị Kim Phúc) …
Văn hoá người Mường còn được giới thiệu một cách khái lược trong
các tài liệu mang tính chất tư liệu tổng hợp về Dân tộc học như: Các dân
tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Bắc (Nxb Khoa học Xã hội 1978), Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Nxb Giáo Dục 1998) Cũng có
khi văn hoá người Mường được giới thiệu trên một số tạp chí chuyên ngành
như: Nghiên cứu Lịch sử - Khảo cổ học - Dân tộc học hay Ngôn ngữ học…
Học giả có uy tín trong việc nghiên cứu văn hoá người Mường là Nguyễn
Từ Chi - hay Trần Từ Các công trình của ông được tập hợp lại trong các
tác phẩm như: Người Mường ở Hoà Bình (1996) và Góp phần nghiên cứu
văn hoá tộc người (2003)
Những học giả, những công trình đề cập đến nhà sàn Mường đáng kể
phải kể đến là: Nguyễn Văn Huyên với Nhập môn nghiên cứu cư trú nhà
sàn ở Đông Nam Á (in trong tập Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh -
Nxb Khoa học Xã hội 2003) và Nguyễn Khắc Tụng với Nhà cửa các dân
tộc ở trung du Bắc Bộ Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội 1978)
Hai học giả nêu trên đã có nhiều trang viết mô tả nhà người Mường nhưng chỉ đặt nó trong mục đích nghiên cứu để so sánh với nhà ở của một cộng đồng dân cư lớn hơn gồm nhiều dân tộc trong một khu vực Tác giả Nguyễn Khắc Tụng còn giới hạn việc nghiên cứu nhà sàn Mường ở khu vực Ba Vì (Hà Nội) và Thanh Sơn (Phú Thọ), không nghiên cứu nhà sàn người Mường ở Hoà Bình Ông nghiên cứu nhà sàn chủ yếu về mặt kỹ thuật, chưa chú ý đến các vấn đề văn hóa khác qua các quan niệm, bố trí
Trang 9sinh hoạt, tín ngưỡng liên quan đến ngôi nhà sàn Tác giả J.Cuisinier trong
công trình Người Mường- Địa lý nhân văn và xã hội học của mình cũng
dành hẳn một chương viết về nhà sàn Mường Phần viết của ông khá chi tiết nhưng ông mô tả nhà sàn Mường trên một phạm vi cư trú địa lý rất rộng từ Hòa Bình vào đến Thanh Hóa và cả Nghệ An
Tóm lại, nghiên cứu nhà sàn Mường dưới góc độ văn hóa học ở Hoà Bình nói chung và nhà sàn Mường ở một địa bàn thôn, xóm, bản cụ thể như xóm Giang Mỗ, xã Bình Thanh cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến Một số nghiên cứu nhà sàn Mường cũng chỉ dừng ở mức độ miêu tả chưa có những đánh giá về các giá trị văn hoá của nhà sàn Mường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhà sàn dân tộc Mường ở xóm Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình với các thành
tố văn hoá liên quan đến nó (kỹ thuật, mỹ thuật, nếp sống, tập quán…) Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: là những ngôi nhà sàn từ khi được khởi dựng, qua các lần sửa chữa tồn tại cho đến ngày nay tại không gian xóm Giang Mỗ ở xã Bình Thanh
- Về không gian: đề tài lấy xóm Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình là không gian nghiên cứu
- Về thời gian: Nghiên cứu những ngôi nhà sàn hiện tại ở xóm Giang
Mỗ kết hợp với tài liệu hồi cố
4 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu nhà sàn trong không gian một đơn vị dân cư của dân tộc Mường, qua đó miêu tả những yếu tố vật chất, kỹ thuật tạo nên ngôi nhà sàn
- Luận văn bước đầu phân tích các yếu tố xã hội liên quan đến ngôi nhà sàn
Trang 10- Luận văn chỉ ra một số biến đổi của ngôi nhà sàn truyền thống và
đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của nhà sàn Mường
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn tiếp cận, giải quyết các yêu cầu khoa học của đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Luận văn còn dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu
Nghiên cứu nhà sàn Mường với góc độ là một hiện tượng văn hoá của cộng đồng có quá trình hình thành, phát triển, định hình những giá trị truyền thống Việc nghiên cứu nhà sàn Mường đặt trong bối cảnh lịch sử chung và lịch sử cụ thể để xem xét để thấy được những giá trị và nét đặc trưng của nó
- Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nhiệm vụ khoa học của đề tài đặt ra, Luận văn áp dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp điền dã khảo sát thực tế
+ Phương pháp khảo cứu, kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước đó và
liên quan đến đề tài
+ Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp so sánh… để trình bày
kết quả nghiên cứu của đề tài
+ Vận dụng một số phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành của các ngành khoa học khác như: Sử học, Địa lý học, Dân tộc học, kiến trúc…
Trang 116 Đóng góp của Luận văn
- Luận văn bước đầu miêu tả ngôi nhà sàn và đánh giá những giá trị văn hoá liên quan tại một địa bàn cụ thể
- Luận văn đề xuất những giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của nhà sàn Mường góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của làng văn hoá
- Luận văn sẽ là tài liệu tập hợp, kế thừa thành tựu các công trình nghiên cứu trước đó và trở thành một tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu văn hoá người Mường
7 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Người Mường ở xã Bình Thanh, huyện Cao Phong
Chương 2: Nhà sàn Mường ở làng Giang Mỗ, xã Bình Thanh
Chương 3: Giá trị và bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá nhà sàn Mường trong không gian làng văn hoá
Trang 12Chương 1 NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ BÌNH THANH, HUYỆN CAO PHONG
1.1 Khái quát lịch sử người Mường ở Việt Nam
1.1.1 Tên gọi và nguồn gốc người Mường
Người Mường còn gọi là người Mol, Mual, Moi Bi, Au Tá, Ao Tá Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh như ngày nay Người Mường tự gọi mình là Mol, Moăn như ở Hoà Bình; Mon, Mwanl như ở Thanh Hoá; Mol, Monl như ở Phú Thọ [8, tr.115 ] Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về nghĩa Tất cả những từ mà người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là người Vì lẽ đó mà người Mường tự xưng mình là con Mol hoặc là con Monl: con người Theo Trần Từ (tức Nguyễn
Đức Từ Chi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường
bao gồm nhiều làng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang Qua sự tiếp xúc giao lưu giữa người Mường và Kinh, người Kinh đã
dùng từ Mường để gọi dân tộc này Từ Mường vốn là từ dùng để chỉ nơi cư
trú, không liên quan gì đến tộc danh ngày nay của người Mường Mường không phải là từ chỉ nơi cư trú riêng cho người Mường mà còn dùng cho một số dân tộc khác ở Tây Bắc Việt Nam cũng như ở Thượng Lào Chúng
ta có thể nhận thấy điều này ở một số địa danh của người Thái như: Mường
Lò, Mường Thanh, Mường La… Mặc dù vậy, cùng với những biến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh
em khác cho đến nay “Mường” đã được người Mường chấp nhận và coi đó
là tộc danh của mình Do đó, Mường đã trở thành tên gọi chính thức của tộc
người này để phân biệt với các dân tộc khác Tộc danh Mường đã được các
Trang 13tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc này: người Mường
Xét về các yếu tố văn hoá - xã hội từ phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá dân gian Người Mường là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất Chúng ta có thể thấy điều này qua tìm hiểu một số truyền thuyết liên quan đến tộc người, qua ngôn ngữ và qua một số đặc điểm nhân chủng học
Cũng như các dân tộc khác, để lý giải về nguồn gốc của dân tộc mình, người Mường ở Hoà Bình còn lưu giữ và truyền kể những huyền thoại về sự xuất hiện dân tộc mình dưới dạng những áng Mo:
Truyền thuyết về Chim Ây, Cái Ứa: Thuở xưa, khi con người chưa
xuất hiện, trời làm hạn hán, cây cối khô mà chết, rồi trời lại mưa Nước chảy thành suối thành sông Đất lở bồi thành đồng bằng Đá lăn chất đầy thành gò thành đống, thành đồi thành núi Từ dưới đất mọc lên một cây si
to lớn, cành lá che kín cả bầu trời Cây si bị sâu đục ăn làm cho gãy cành rụng lá Từ gốc cây si đẻ ra một đôi chim Chim Ây là đực, Cái Ứa là cái Đôi chim bay lên núi đá lấy cỏ làm thành tổ Hang Hao Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng Trứng chim nở ra thành muôn loài muôn vật Còn lại thì một trăm cái trứng nở ra con người Đó là người Mường và người Kinh…
Truyền thuyết về Đức thánh Tản Viên (Thần núi Ba Vì) Người
Mường cho rằng Đức Thánh Tản Viên Sơn (còn gọi là Sơn Tinh) - con rể vua Hùng thứ 18 - là người Mường Thanh Sơn Truyền kể rằng, ở vùng mường Xuân Đài ngày xưa có một người con gái nhà Lang tên là Đinh Thị Đen Cô là người đen đủi xấu xí nhất trong gia đình dòng họ nên bị bố mẹ, anh chị em hắt hủi Một lần vào rừng lấy củi, cô gái tủi thân ngồi khóc trên một tảng đá và ngủ thiếp đi Từ đó cô có thai và bị gia đình Lang hắt hủi đuổi đi Cô đã lang thang lần đi tiếp đến động Lăng Xương (thuộc xã Trung
Trang 14Nghĩa huyện Thanh Thuỷ ngày nay) thì đẻ ra thần Tản Viên Dân bản ở đây thương tình đã đóng cho cô một bè nứa và đưa hai mẹ con cô vượt qua sông Đà sang vùng Ba Vì (thuộc Hà Nội ngày nay) Mẹ con Đinh Thị Đen được bà Ma Thị Là là chúa các động Mường Cưu mang nhận làm con nuôi Khi Tản Viên lớn lên, thần được bà Ma Thị truyền cho quyền cai trị và bảo
vệ các xứ Mường Thần đã lấy con gái vua Hùng thứ 18 tên là Ngọc Hoa
làm vợ
Trên đây chỉ là một vài truyền thuyết tiêu biểu của người Mường giải thích về nguồn gốc dân tộc của mình Mặc dù truyền thuyết mang tính hoang đường và đôi khi tản mạn nhưng lại là tư liệu quý Người Mường quan niệm mình và người Kinh vốn cùng một cha mẹ sinh ra, cùng máu mủ dòng giống Chính vì lẽ đó mà cho đến tận ngày nay, người Mường tại một
số nơi vẫn còn lưu truyền câu ca: “ta với mình tuy hai mà một Mình với ta tuy một thành hai”
Nghiên cứu ngôn ngữ có thể thấy tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á), rất gần với tiếng Việt về ngữ pháp, ngữ âm
và từ vựng cơ bản (nhưng không tuyệt đối) Chúng ta có thể nhận thấy:
Những từ không dấu trong tiếng Việt thì giữ nguyên thành tiếng Mường như: Con, con chim, con voi, ăn, cho, tiêu pha một số từ khác phụ
âm đầu: tay thành thay, đi thành ti, con dê thành con tê
- Những từ có dấu hỏi trong tiếng Việt cũng giữ nguyên: của cải, đểu, giả
- Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi như: đã thành đả,
những thành nhửng
- Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: nặng thành nắng,
tận thành tấn,
Trang 15- Những từ mà có âm "ặc, ịt, ặc, ục" thì giữ nguyên không chuyển dấu như: đông đặc
- Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại dấu sắc thì thành dấu huyền
- Một số từ không theo quy luật: cây tre thành cân pheo, các từ xưng
hô như: chú thành ô, cháu thành xôn, hay các từ nhìn (ngắm) thành hẩu,
trông thấy thành hẩu kỉa, ở giữa thành ở khừa (khá giống phương ngữ
Thanh - Nghệ - Tĩnh)
Tiếng Mường ở Hoà Bình nói chung giống tiếng Mường ở Phú Thọ, Thanh Hoá và nhiều nơi khác.Càng sống xa các trung tâm hành chính, thương mại, người Mường càng giữ được bản sắc ngôn ngữ của mình Nghiên cứu về nhân chủng học, các nhà khoa học lại thấy được sự liên quan chặt chẽ giữa người Việt và người Mường về phương diện nhân chủng Nguyễn Đình Khoa cho rằng: Căn cứ vào những tư liệu hình thái trên thân mình và trên đầu mặt cho thấy người Mường là một bộ phận Việt tách ra trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định và đã cấu thành một bộ tộc riêng, song từ đó đến nay cả Việt lẫn Mường về cơ bản vẫn giữ được cơ cấu thể chất gốc của tổ tiên trực tiếp đã sản sinh ra mình trước khi phân chia [11, tr 32-47]
Ngoài những đặc điểm cơ bản về hình thức đầu, mặt, thân mình, các tiêu chí về kháng nguyên hông cầu, hình thái đường vân trên bàn tay, hình thái bộ răng đã củng cố quan hệ Việt - Mường Có thể thấy người Việt và Mường tách biệt về mặt tộc người nhưng về mặt nhân chủng là gần gũi, được xếp cùng một loại trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Mongoloit phương Nam
Từ những cứ liệu trên có thể thấy, người Mường là cư dân bản địa cùng tổ tiên Lạc Việt chủ nhân của nền văn minh Đông Sơn Do một
Trang 16nguyên nhân lịch sử đã nảy sinh sự phân hoá Cộng đồng cư dân Lạc Việt phân chia thành hai Một bộ phận cư dân ở lại đồng bằng, tiếp thu văn hoá phương Bắc thành tộc người Kinh Một bộ phận cư trú ở vùng Trung du, bảo lưu văn hoá truyền thống là cư dân Mường Quá trình này diễn ra lâu dài, không đều nhau và chủ yếu ở thời Bắc thuộc Cho đến thế kỷ X, hai tộc người này tách biệt thành hai tộc người riêng biệt
1.1.2 Dân số và địa bàn cư trú
Dân tộc Mường sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Hoà Bình và các huyện miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá
Theo tổng điều tra dân số năm 2009, người Mường ở Việt Nam có dân số 1.268.963 người, có mặt ở tất cả 63 tỉnh, thành phố Người Mường
cư trú tập trung tại các tỉnh: Hoà Bình (501.956 người, chiếm 63,9% dân số toàn tỉnh và 39,6% tổng số người Mường tại Việt Nam), Thanh Hoá (341.359 người, chiếm 10,0% dân số toàn tỉnh và 26,9% tổng số người Mường tại Việt Nam), Phú Thọ (184.141 người, chiếm 14,0% dân số toàn tỉnh và 14,5% tổng số người Mường tại Việt Nam), Sơn La (81.502 người),
Hà Nôi (49.339 người), Ninh Bình (22.614 người), Đắk Lắk (15.510 người), Yên Bái (14.619 người), Bình Dương (10.227 người)
Căn cứ vào kết quả điều tra dân số kể trên có thể thấy, Hoà Bình được coi như “thủ phủ” của người Mường Đây cũng là tỉnh mà người Kinh không chiếm đa số Người Kinh cư trú ở Hoà Bình nhiều nhất là năm đời
Họ đến đông nhất trong phong trào khai hoang sau năm 1954 Trong những năm gần đây, nhờ giao lưu kinh tế - văn hoá, người Kinh chuyển đến Hoà Bình ngày càng đông hơn và có mặt ở tất cả các huyện Năm 2009 trên toàn tỉnh Hoà Bình có 785.000 dân, người Mường chiếm 501.956 người, người Kinh chiếm 207.600 người Các dân tộc ít người khác chiếm một tỉ lệ nhỏ
Trang 17như: người Thái (3,14 vạn người cư trú ở huyện Mai Châu), người Tày (2,31 vạn người - cư trú ở Đà Bắc), người Dao (1,52 vạn người cư trú xen kẽ với người Mường), người H’mông (5,3 nghìn người cư trú ở huyện Mai Châu)
Người Mường ở Hoà Bình cư trú trên những Mường nổi tiếng như: Mường Bi (ở Tân Lạc ngày nay) Mường Vang (ở Lạc Sơn), Mường Thàng (ở Cao Phong), Mường Động (ở Kim Bôi) Các Mường trên có địa vực vài chục xóm Cũng có những Mường nhỏ hơn, chỉ vài xóm như: Mường Còi (ở Lương Sơn), Mường Bằng (ở Kỳ Sơn), Mường Đếch (ở Kim Bôi)…
1.2 Đặc điểm tự nhiên và dân cư xã Bình Thanh - huyện Cao Phong
Xã Bình Thanh - một địa bàn cư trú của người Mường nằm ở phía bắc huyện Cao Phong Từ thành phố Hoà Bình theo tỉnh lộ 435 đi khoảng 15km là đến xã Bình Thanh Xã Bình Thanh phía Bắc giáp thành phố Hoà Bình, phía Nam giáp xã Thung Nai, phía Đông giáp xã Bắc Phong, phía Tây giáp xã Vẩy Nưa thuộc huyện Đà Bắc qua hồ thuỷ điện sông Đà
Cũng như các địa phương khác trong tỉnh Hoà Bình, nơi đây là một vùng đất lâu đời của cư dân Lạc Việt Đời Hùng Vương thuộc về Bộ Tân Hưng Trải qua nhiều thời gian phát triển, xã Bình Thanh lần lượt thuộc về
Bộ Đà Giang (đời Trần) và theo địa dư của đời Nguyễn, Cao Phong thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Hưng Hoá Năm 1851 địa bàn xã Bình Thanh thuộc
về hai tổng Hoằng Nhuệ và Cao Phong huyện Bất Bạt, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây [ 22]
Cho đến tháng 6/1886 khi kinh lược Bắc Kỳ cắt các vùng đất có người Mường cư trú thuộc bốn tỉnh: Hưng Hoá, Sơn Tây, Hà Nội, Ninh Bình lập một tỉnh mới là tỉnh Mường (sau đổi thành tỉnh Chợ Bờ) thì Bình Thanh thuộc tỉnh này Tháng 4/1888, tỉnh Chợ Bờ được đổi tên theo tỉnh lị khi đó là tỉnh Phương Lâm Tháng 3/1891 xã Bình Thanh thuộc về châu Kỳ Sơn- tỉnh Hoà Bình
Trang 18Năm 1945, châu Kỳ Sơn đổi thành huyện Kỳ Sơn Tháng 12/1975, Bình Thanh cùng với toàn tỉnh Hoà Bình hợp nhất vào tỉnh Hà Sơn Bình cho đến tháng 8/1991 tái lập trở lại tỉnh Hòa Bình
Tháng 12/2001, một phần huyện Kỳ Sơn được tách thành huyện mới Cao Phong, xã Bình Thanh thuộc về huyện mới Cao Phong
Năm trên một vùng đất đồi núi cao với độ cao trung bình 300 - 400m, chia cắt phức tạp độ dốc 20 - 250 theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
Xã Bình Thanh có diện tích tự nhiên rộng 2611,34ha Đất đai trên toàn xã 78% là đất núi đồi, 22% là thung lũng Vùng ven hồ thuỷ điện có một ít đất phù sa không được bồi đắp và phù sa được bồi đắp của sông Đà
Toàn xã có nhiều con suối nhỏ chảy trên các sườn núi đổ xuống các thung lũng rồi theo các dòng đổ ra sông Đà
Hồ sông Đà trước kia là một đoạn của con sông Đà thường xuyên gây
lũ lụt và làm bờ sông bị xói lở mạnh Từ khi xây đập thuỷ điện, dòng chảy của sông được điều tiết Đoạn sông Đà trở thành lòng hồ thuỷ điện Bờ sông Đà trở thành hai bến cảng là cảng Thượng Lưu và cảng Thung Nai
Bình Thanh cũng như toàn tỉnh Hoà Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa, thường kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Mùa hè nóng, mưa nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Nhiệt độ trung bình hàng năm ở địa phương thường cao hơn 230C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình từ 27 đến 290C Tháng thấp nhất là tháng một, nhiệt độ trung bình từ 150C đến 160C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 - 2200mm Với điều kiện khí hậu như vậy rất thuận lợi cho sự phát triển của thảm rừng
Ghi chép về khí hậu của địa phương, sách Đồng Khánh địa dư chí
viết: “Ba tổng thượng du phần nhiều thuộc vùng thung lũng rừng núi, khí hậu lạnh thường nhiều, lam chướng càng nặng”[ 22, tr 916]
Trang 19Xã Bình Thanh có 621 hộ dân với 2428 nhân khẩu Trong đó người Mường chiếm 78%, người Dao chiếm 15%, người Kinh chiếm 7% Về mặt hành chính, toàn xã được chia thành 7 xóm là: Xóm Mỗ 1, xóm Mỗ 2, xóm Giang, xóm Mới, xóm Lòn, xóm Tráng và xóm Cát (là xóm người Dao sinh sống) Địa bàn xóm Giang - Mỗ có 118 hộ với 445 nhân khẩu (trong đó
440 người Mường - 5 người Kinh)
Phong tục cư dân ở đây từng được nói đến trong sách Đồng khánh
địa dư chí như sau: “Hai tổng Hoằng Nhuệ, Cao Phong rất giỏi bắn súng,
bắn nỏ Tục dân địa phương quen lấy tháng Tý làm tháng đầu năm, lấy ngày mùng 2 làm ngày mùng 1… làm thịt lợn thì dùng lửa thui… nhà ở đều ken tre làm sàn, bên trên người ở, bên dưới nuôi trâu, lợn” [22, tr 916]
1.3 Đời sống kinh tế xã hội
1.3.1 Các hình thức hoạt động kinh tế
Người Mường ở Bình Thanh sống định canh định cư thung lũng một con suối có tên là Cộ Cại, thuận tiện cho việc sản xuất Người Mường ở đây làm ruộng từ lâu đời Lúa nước (ló) là cây lương thực chủ yếu Trước đây, người dân trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ Gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày Bên cạnh đó, người ta trồng ngô (khạu), sắn (thăn), mía tím trên nương Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình là khai thác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song Nghề thủ công tiêu biểu của người dân là dệt vải, đan lát, chẻ tăm Nhiều phụ nữ dệt thủ công với kỹ thuật khá tinh xảo Vài năm gần đây, du lịch phát triển ở Bình Thanh, người dân còn tham gia các hoạt động dịch vụ Du lịch thường phát triển từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau
Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính Nghề nông trồng lúa nước được tiến hành ở những thửa ruộng
Trang 20chạy sát tới chân nhà sàn Đó là những mảng đồng bằng thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân núi, ven các đồi gò thấp Người dân rất coi trọng cây lúa nếp, vì trong cuộc sống, bữa ăn truyền thống thì cơm nếp
là nguồn lương thực chủ đạo Bên cạnh đó, người dân còn trồng cả lúa tẻ và ngày càng phổ biến giống lúa này cho năng suất cao Ngoài những thửa ruộng nước ở những dải đất bằng, người dân còn làm ruộng bậc thang tận dụng đất ở sườn, chân đồi gò Loại ruộng này thường hẹp về chiều rộng nhưng lại dài như những cánh cung vòng quanh các đồi gò Do ruộng bậc thang làm ở trên cao, nguồn nước tưới tiêu khó khăn nên người dân đã đào mương bắc máng, lợi dụng dòng chảy của các con sông, suối, ngòi để đưa nước lên cao, cung cấp cho những thửa ruộng dài ngoằn nghèo Ruộng bậc thang chủ yếu chỉ trồng được một vụ trong năm là vụ mùa Các vụ khác người dân dùng để trồng ngô, khoai, rau… Những loại hoa màu này thích hợp với mùa khô ít nước Bên cạnh việc đắp mương, người dân còn đắp phai Phai là các đập ngăn suối để dâng nước vào nương Phai được kè bằng đá hay các thân gỗ xếp chồng lên nhau, đóng cọc hai bên cho khỏi đổ Nhìn chung mương và phai đều rất nhỏ
Công cụ lao động chủ yếu là cày và bừa đơn (răng bừa gỗ hoặc tre) Lúa khi chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô trên gác xép Khi dùng, người ta mang từng cum bỏ vào máng gỗ dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã Trên nên tảng nền sản xuất truyền thống, người Mường ở Bình Thanh cũng có một hệ thống lịch nông nghiệp hoàn chỉnh và tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu từ việc làm thủy lợi, làm đất, gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ Người Mường ở Bình Thanh còn đốt nương làm rẫy với hình thức lao động kiểu chọc lỗ tra hạt Người dân có kinh nghiệm quý trong việc chọn đất làm nương rẫy Họ chọn những mảng rừng có giang, nứa mọc dày, trồng mùn màu mỡ hay những vạt đất đen ven đồi núi Khi chọn đất,
Trang 21người dân thường chặt một cây nứa hoặc cây gỗ vát nhọn đâm xuống đất Nếu đâm được sâu thì điều đó chứng tỏ tầng mùn dày Một kinh nghiệm nữa là xem đất màu gì, nếu đất dính vo trên tay thấy mềm dẻo là đất tốt Người Mường đốt mảng rừng này để lấy mùn và tiện lợi cho việc dọn nương Công việc gieo trồng tiến hành vào khoảng tháng 3, tháng 4 khi bắt đầu xuất hiện những cơn mưa đầu tiên Người Mường trồng lúa nương không bằng cày cuốc mà bằng cách lấy một đoạn cây to bằng cổ tay vót nhọn một đầu dùng để đâm hố tra hạt Gieo giống xong, họ chặt ngọn nứa, cành cây nhỏ để quét lớp mùn bề mặt lấp các hố lại Việc gieo trồng lúa nương tương đối đơn giản nhưng lại đòi hỏi nhiều công sức, đặc biệt là làm
cỏ cũng như trông nom không để chim thú phá hoại Nương của người Mường ở Bình Thanh không bằng phẳng, không có bờ để giữ nước Nương chủ yếu trồng sắn, ngô và xen canh các loại đỗ, lạc, bầu bí
Những gia súc thường được người Mường ở Bình Thanh nuôi chủ yếu là trâu, bò, ngoài việc cung cấp thực phẩm trong những ngày hội trọng đại còn dùng làm sức kéo trong lao động sản xuất Đối với người Mường, trâu bò có vị trí đặc biệt trong đời sống thường ngày vì đối với họ chúng là
cả tài sản, cơ nghiệp Bên cạnh đó, người dân còn nuôi lợn, gà để lấy thịt, trứng Chúng cũng được nuôi thả thành bầy Người dân địa phương ít có thói quen làm chuồng trại riêng cho gia súc Họ thắt buộc những con trâu
bò dùng để cày bừa dưới gầm sàn và làm chuồng trại cho gia cầm Riêng đối với lợn, họ không mấy khi nhốt dưới sàn nhà mà được làm chuồng ở xa nhà, xa nguồn nước Người Mường còn có giống lợn lửng (cheo) được nuôi thả rông cả năm Người Mường ở Bình Thanh còn biết tận dụng ao hồ, sông ngòi để nuôi thả cá Tuy vậy do địa bàn cư trú bán trung du và miền núi nên ao hồ ở Bình Thanh thường có diện tích nhỏ hẹp
Trang 22Người Mường ở Bình Thanh không chú ý nhiều đến hiệu quả kinh tế vườn đem lại, nhưng hầu như nhà nào cũng có một mảnh vườn nhỏ Vườn của người Mường ở đây trồng đủ các loại cây như cau, mít, bưởi, chuối, khế, chanh, trầu, tre, bương, chuối… Có thể nói, ngoài các hình thức lao động kiếm sống phụ khác, mảnh vườn trở nên gắn bó thân thiết với người dân như một phần của cuộc sống Mảnh vườn của gia đình người Mường thường nhỏ, đủ để trồng cây quanh nhà, mỗi thứ một ít để phục vụ cho gia đình theo kiểu mùa nào thức ấy Phụ nữ trong gia đình rất chăm lo đến các loại cây trồng trong vườn Ngày nay, những cây trồng trong vườn dần được người Mường lưu ý đến giá trị kinh tế Chính vì lẽ đó, người Mường ngày càng chú ý cải tạo mảnh vườn của mình
Người Mường đặc biệt khéo tay trong việc đan lát các vật dụng dùng trong gia đình từ nguyên liệu là tre, nứa và giang, mây như đan vỏ dao dùng để đi rừng, rổ, rá, thúng, nia, mâm, ớp, giỏ đựng quần áo (trò ổ), mâm đựng cỗ (mâm hè), sọt (choáng)… Nghề này chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa tộc người qua kỹ thuật đan, cách sử dụng sản phẩm, mối quan hệ sản phẩm với các phong tục tập quán
Trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường ở Bình Thanh đầu tiên phải kể đến là nghề dệt vải Trong hầu hết các gia đình người Mường ở Bình Thanh đều có các khung cửi dùng để dệt vải phục vụ may mặc cho các thành viên Tuy nhiên, tại xóm Giang Mỗ, nghề dệt vải chỉ còn được duy trì tại vài ba nóc nhà Khung dệt vải có tên là giường vải (chường pại) Công việc trồng bông và dệt vải chủ yếu do nữ giới đảm nhận Nghề dệt vải ở Bình Thanh chưa mang nhiều yếu tố hàng hoá Họ chủ yếu sản xuất lúc nông nhàn mà chưa dành thời gian đáng kể cho nó Nguyên liệu dùng để dệt vải ngoài bông, lanh còn có tơ tằm Vải được dệt
Trang 23ra, người Mường đem nhuộm bằng các loại cây tự nhiên như cây co phang cho mầu đỏ, cây co hem cho mầu vàng, củ nâu cho mầu đen sẫm Các sản phẩm dệt ra được sử dụng làm cạp váy, gối (kell), chăn (ổ)
Bên cạnh đó, nghề mộc cũng tương đối phát triển Hầu như người đàn ông Mường nào cũng biết nghề mộc để phục vụ trong xây dựng nhà cửa, đình miếu hoặc làm hậu sự cho tang lễ Họ làm ra những sản phẩm tương đối độc đáo như bao dao, làm cung, nỏ, đồ thổi xôi từ gỗ và các vật dụng khác phục vụ cho cuộc sống
Khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên bao gồm săn bắn và hái lượm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc sống của người Mường ở Bình Thanh Nguồn rau rừng như rau tầu bay, rau dớn, rau vi, đắng cảy, măng giang, măng nứa… được khai thác để có thể cung cấp phục vụ nhu cầu cuộc sống Các cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, củ vớn … cũng được người Mường khai thác bổ sung vào nguồn lương thực thường xuyên Việc thu hái rau rừng thường được thực hiện cùng với các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy hoặc lấy rau lợn… Họ tranh thủ làm việc này sau khi
đã hoàn tất các công việc khác mà theo họ là quan trọng hơn Hoạt động săn bắn chim thú không phải là nguồn sống quan trọng nhưng cũng bổ sung cho bữa ăn Săn bắn là công việc thường xuyên và là đặc quyền của người đàn ông Mường Ngoài ra, săn bắn còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo
vệ nương rẫy khỏi sự phá hoại của chim thú cũng như việc mất mát các con vật nuôi Xóm Giang Mỗ không có người chuyên sống bằng nghề đi săn và cũng không tổ chức đi săn tập thể Trong gia đình người Mường nào ở Bình Thanh người đàn ông cũng có những chiếc nỏ súng cho riêng mình
Họ rất tự hào và chăm sóc chu đáo cho dụng cụ mà họ cho rằng thể hiện nam tính cũng như vai trò của mình trong gia đình Con trai Mường ngay
từ nhỏ đã được ông, cha cho theo trong mỗi lần đi săn, làm bẫy thú, vì vậy
Trang 24khi lớn lên rất thạo việc săn bắn Người dân biết làm nhiều loại bẫy thú với những kiểu dáng khác nhau để bẫy những con thú lớn, thú nhỏ và chim Việc đánh bắt thuỷ sản phát triển hơn Ai cũng biết đan chài lưới Nhà nào cũng có đồ đánh cá như: chài, lưới, đơm, đó Đặc biệt, những sản phẩm người Mường thu từ rừng không chỉ đủ dùng trong gia đình mà còn dùng
để trao đổi với các lái buôn từ nơi khác đến như mộc nhĩ, nấm, măng, sa nhân, cánh kiến, các loại gỗ quý như đinh, lim, táu, lát, xửa, kháo trắng, kháo vàng, treo, chò… và các loại dược liệu quý như đẳng sâm, khúc khắc, hoài sơn… Người dân đổi những sản phẩm từ khai thác rừng để lấy những vật dụng dùng trong gia đình Bên cạnh đó, hàng năm, người Mường ở Bình Thanh cũng bán cho các lái thương một số lượng lớn trâu, bò Hoạt động buôn bán này từng bước tạo nên mối quan hệ giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người Mường với các dân tộc khác, góp phần vào giao lưu văn hoá - kinh tế giữa các tộc người gần gũi nhau
Tóm lại, sản xuất kinh tế ở Bình Thanh vẫn mang tính tự cung tự cấp Trồng trọt là ngành chủ đạo Chăn nuôi chưa tách khỏi trồng trọt Thủ công nghiệp chỉ được xem là nghề phụ
1.3.2 Thiết chế xã hội
Người Mường ở Bình Thanh sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần bên sông suối với địa vực, phạm vi ruộng đất, núi rừng riêng được xác định bền vững và được mọi người chấp nhận Nhà là đơn vị cư trú nhỏ nhất của người Mường Nhà có nghĩa là một
hộ gia đình nhưng cũng có nghĩa là một ngôi nhà với cách bố trí sinh hoạt trong đó Nhiều nhà hợp thành xóm (quêl)
Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng Người Mường có tính đoàn kết cao, họ vẫn duy trì tục lệ làm đổi công
Trang 25trong vụ mùa Gia đình hai, ba thế hệ chiếm phổ biến Con cái sinh ra lấy
họ cha Quyền con trai trưởng được coi trọng và con trai trong gia đình được thừa kế tài sản
Người Mường ở Bình Thanh xưa kia thuộc về Mường Thàng Mường
là đơn vị tổ chức xã hội, tập hợp nhiều làng trong cùng một thung lũng, hay nhiều thung lũng, liền kề nhau Đơn vị tổ chức này đặt dưới sự cai quản của một dòng họ quý tộc mà người Mường vẫn gọi là “nhà Lang” Tầng lớp thống trị nhà Lang hợp thành những dòng họ phụ hệ, mỗi dòng họ chiếm lĩnh một Mường Dòng họ Lang tự phân biệt với các dòng họ khác không chỉ bằng Mường họ chiếm lĩnh mà còn bằng một tên họ Để công việc được trôi chảy, Lang Cun cũng như Lang Đạo có một số người giúp việc gọi là Ậu Ậu không thuộc dòng họ Lang nên các chức dịch Ậu không phải cha truyền con nối, các Lang có thể truất quyền Ậu bất cứ lúc nào, nhưng nếu được tín nhiệm, họ sẽ được Lang sử dụng từ đời này qua đời khác
Dưới bộ máy các Ậu là tầng lớp nhân dân lao động - các hộ nhà Noọc (nhà Nóc) Đây là tầng lớp bình dân chiếm số lượng đông đảo nhất trong xã hội Mường Xưa kia, tầng lớp bị trị thường có chung một cái tên
họ là Bùi, bất kể là những người thuộc chi họ nào đi nữa, vô hình chung
Bùi đã trở thành cái tên chỉ định một “đẳng cấp”, một lớp người cố định
trong xã hội Lang bóc lột các hộ Nóc bằng các hình thức như: làm Xâu (các hộ Nóc đến làm ruộng trên ruộng của Lang) làm No (lang chia ruộng cho các hộ để canh tác và nộp tô)
Tầng lớp bị trị cuối cùng trong xã hội Mường, là tầng lớp Noọc Kloi (Nóc trọi), hay còn gọi là Tựa Roong (đứa nương, tức kẻ sống bằng nương rẫy) Những hộ này họ sống biệt lập ra rìa làng, họ chỉ làm nương rẫy một cách tự phát trên những ruộng đồi cằn cỗi, bỏ hoang Những người này bị nhà Lang tịch thu toàn bộ ruộng đất do phạm phải những lỗi như: gia đình
Trang 26không có người kế tự, những người vợ goá chồng, những đứa con mồ côi cha mẹ, những gia đình có con gái chửa hoang
Dưới con mắt của chế độ nhà Lang và của người Mường nói chung, đây là bộ phận thấp hèn nhất trong xã hội cổ truyền, có thể ví như hạng
“cùng đinh” Bản thân họ tuy vẫn được coi là thành viên trong làng, xóm, vẫn phục tùng nhà Lang nhưng lại không được tham dự vào các lễ hội, lễ nghi sinh hoạt cộng đồng
Sau năm 1954, chế độ Lang bị xoá bỏ Người Mường ở Bình Thanh
về mặt xã hội được bình đẳng với nhau trước pháp luật Các Mường không còn tồn tại như một thiết chế xã hội nữa Người dân vẫn cư trú trên các xóm thuộc các xã - huyện theo cơ cấu quản lý hành chính thống nhất trong toàn quốc Người Mường ở Bình Thanh được tham gia vào các cơ quan quản lý nhà nước như Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các tổ chức đoàn thể khác Bên cạnh việc quản lý bằng pháp luật Nhà nước, những tập tục truyền thống vẫn in đậm trong sinh hoạt góp phần bảo tồn văn hóa truyền thống
1.3.3 Văn hoá vật chất
* Ẩm thực
Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ Các món ăn được đồ trong các ninh đồng Cơm còn được chế biến thành cơm lam (cho gạo vào các ống nứa rồi nướng) Cơm, rau đồ chín được dỡ
ra rá trước khi ăn Thịt lợn thường là lợn lửng Đây là giống lợn còi, chỉ nặng tối đa khoảng 15kg Ăn thịt lợn này không thấy ngấy
Gia vị được người dân ưa thích thường có vị chua như thịt trâu nấu lá lồm, vị đắng như đu đủ non, rau đắng, lá khịa, ruột cá Bên cạnh các món đồ, người dân còn chế biến các món nướng (như cá, thịt quấn lá bưởi, lá chanh ), món nấu (như măng nấu cá, thịt ), các món bánh (bánh chưng, bánh trôi )
Trang 27Rượu cần (rảo tỏng) của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to
*Trang phục
Trang phục truyền thống của người Mường khá phong phú về chủng
loại, màu sắc và hoa văn Tuy nhiên, ngày nay do giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, đặc biệt là với người Kinh, trang phục thường ngày người Mường ở Bình Thanh khá giống như người Kinh
Trang phục nam: Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín hông Đầu cắt tóc ngắn hoặc quấn khăn trắng Quần lá tọa ống rộng dùng
khăn thắt giữa bụng còn gọi là khăn quần Trong lễ hội dùng áo lụa tím
hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác đôi áo trùng đen dài tới gối, cài cúc nách và sườn phải
Trang phục nữ: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo Khăn đội đầu (mu) là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm (yệm) và áo cánh phổ biến là màu trắng, thân rất ngắn thường xẻ ở ngực Yếm có nhiều loại dây buộc ở cổ (cài coót), buộc ở nách (cài bảng), buộc ở lưng (cài tét) Áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn) Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu khác không phải loại vải cổ truyền) Bên trong là loại áo báng, cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn
Váy (Wăl) dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy (Tlôôk wăl) Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công Cạp váy thường chiếm 1/3 chiều dài chiếc váy che kín phần ngực người
Trang 28mặc và gồm 3 phần nhỏ can lại Váy là loại váy kín màu đen Toàn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể Đây là một phong cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vực láng giềng
Trang sức gồm vòng tay (lằm), chuỗi hạt (pượn khau) và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, giấu bịt bạc Đồ trang sức thường rất quý hiếm chỉ được dùng trong các dịp lễ hội và lễ cưới
Ngoài trang phục thường mặc, người Mường còn nhiều trang phục mặc lễ danh cho các Mo Áo Mo thường là áo dài 5 thân, cài khuy nách, nhuộm màu xanh đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu Tang phục (đồ tem) thường có màu trắng và các đường may trái
1.3.4 Văn hoá tinh thần
Văn nghệ dân gian: Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường
khá phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi Cồng là nhạc cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động và các nét đẹp phong tục dân tộc Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang
Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng Có
những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn, v.v Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức
Trang 29linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đơn giản, tiện lợi như đánh khăng, đi cà kheo, đánh đu, kéo co, bập bênh
Lễ hội: Lễ hội ra đời và phản ánh một nền sản xuất nông nghiệp lúa
nước Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: hội xuống đồng (Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới
Tín ngưỡng: Người Mường tin vào thuyết vạn vật hữu linh, thánh
Tản Viên, chúa Thượng ngàn và Thổ công Tín ngưỡng dân gian cùng với việc tiến hành các nghi lễ thờ cúng chính là các yếu tố văn hóa tinh thần rất đặc sắc trong tín ngưỡng của người Mường cho chúng ta nhận biết những quan niệm về thế giới quan của người Mường xưa Theo người Mường, rừng núi, cây cối, dòng sông, suối cũng có linh hồn do thần linh hoặc ma quỷ cai quản Cho nên họ tránh làm nương rẫy ở những vạt rừng, cây cổ thụ coi là linh thiêng - nơi ngự trị của thần rừng, thần cây hoặc cho đất đai
ở đó có mầu mỡ tơi xốp đến đâu Từ quan niệm đó mà trong lao động sản xuất của người Mường có nhiều tục lệ, lễ nghi nông nghiệp như tục rước vía lúa, lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới cho đến tục đóng cửa rừng và mở cửa rừng kèm theo lệ cấm kiêng kị mang tính chất siêu nhiên linh thiêng
Bên cạnh việc thờ thần, người Mường còn thờ cúng tổ tiên Họ quan niệm con người chết đi, nhưng linh hồn còn mãi Con người có cả hồn (wại) và vía (bía) Người Mường thờ cúng tổ tiên cả hai bên nội và ngoại Việc thờ cúng được tổ chức vào các dịp lễ tết và trong các buổi lễ theo chu
kỳ vòng đời
Cưới xin: Hình thức hôn nhân của người Mường là một vợ một
chồng theo nguyên tắc ngoại hôn và do cha mẹ quyết định Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới Ðể
Trang 30dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du) Việc thách cưới ngày nay chỉ còn mang tính chất phong tục và được làm với hình thức tượng trưng Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang
lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước
Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác
Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới và đón dâu)
Sinh nở: Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cúng
trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con Ðẻ được ba đến bảy ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (bảy đến mười ngày) nhất là ba ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ) Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức
Ma chay: Khi trong nhà có người chết, con trai trưởng cầm dao nín
thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát
Trang 31tang Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải
Tang lễ do thày mo chủ trì Hình thức chịu tang của con cái trong nhà không khác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu, cháu dâu chịu tang ông bà, cha mẹ còn có bộ trang phục riêng gọi là bộ quạt ma Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất
Tế quạt ma là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường Khi
tế quạt ma, những người là dâu trong nhà trong họ của người quá cố phải mặc bộ đồ quạt ma rất đẹp, gồm: váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm; phía trước đặt một chiếc ghế mây
Lịch cổ truyền của người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre
tương ứng với 12 tháng Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc
Chữa bệnh: Người Mường có cách chữa bệnh bằng thuốc Nam cổ
truyền Các bài thuốc được lưu truyền trong gia đình và cộng đồng tích luỹ
từ đời này qua đời khác trở thành vốn tri thức sử dụng đặc trưng của người Mường Cây thuốc thường có sẵn trong vườn nhà, trong rừng Cách chế biến rất thô sơ, thường là băm nhỏ, phơi khô, cũng có khi thuốc được dùng tươi hay ngâm rượu Cách sử dụng hết sức phong phú: sắc uống, xông tắm, bôi đắp ngoài da, ngậm… một số phương pháp chữa bệnh còn ẩn chứa những điều huyền bí kết hợp giữa dùng thuốc với tâm linh nhưng rất hiệu quả
Trang 32Tiểu kết
Người Mường - tộc người gần gũi với tộc người Việt là cư dân bản địa cư trú lâu đời ở Việt Nam Vùng trung du miền núi tỉnh Hòa Bình là nơi tập trung cư trú đông đảo của người Mường
Cũng như người Mường trên toàn quốc, người Mường ở xã Bình Thanh, huyện Cao Phong mang đầy đủ đặc trưng văn hóa tộc người với các
tổ chức xã hội, hình thức sản xuất, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Có thể tóm tắt gọn văn hóa người Mường bằng câu nói “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lùi, tháng tới” Các giá trị văn hóa ấy được người Mường sáng tạo và lưu truyền trong quá trình phát triển của tộc người Nó thể hiện khát vọng của con người trong công cuộc sinh tồn, chinh phục thiên nhiên, gây dựng cuộc sống ấm no, đề cao tinh thần cố kết cộng đồng
Một trong những sáng tạo có giá trị của người Mường là ngôi nhà sàn Ngôi nhà sàn được hình thành trước hết phục vụ cho nhu cầu cư trú của con người bên cạnh đó, ngôi nhà sàn còn chứa đựng những giá trị văn hóa được lưu truyền qua nhiều thế hệ phản ánh trong các yếu tố kỹ thuật cũng như trong cách bố trí sinh hoạt Các giá trị của ngôi nhà sàn sẽ được tác giả Luận văn trình bày tiếp tại chương 2 của Luận văn
Trang 33Chương 2 NHÀ SÀN MƯỜNG Ở LÀNG GIANG MỖ, XÃ BÌNH THANH
2.1 Nguồn gốc về nhà sàn Mường ở Giang Mỗ
Nhà sàn là một loại hình nhà ở khá phổ biến ở Việt Nam Ngay trong tộc người Việt - tộc người chiếm đa số ở Việt Nam ngày nay cư trú chủ yếu là nhà nền đất, xưa kia cũng từng ở nhà sàn Dấu vết nhà sàn trong sinh hoạt của người Việt có thể thấy được trên hoa văn mặt trống đồng Đông Sơn
Người Mường sống trên đất Việt Nam cũng có loại hình nhà ở truyền thống là nhà sàn Người Mường cư trú ở nhà sàn không biết từ bao đời nay, nhưng nguồn gốc của việc người Mường cư trú trên nhà sàn được
nhắc đến trong Sử thi Mo Đẻ đất đẻ nước rất nổi tiếng Theo lời Mo, xưa
kia người Mường sinh ra, chưa có nhà để ở Họ phải sống trong các hang đá cho đến một ngày ông lang Cun Cần bắt được một con rùa trong rừng định đem ra làm thịt Để đổi lấy mạng sống của mình, rùa đã bầy cách làm nhà
“Bốn chân tôi làm nên cột nhà Nhìn sườn dài sườn cụt mà xếp làm rui Nhìn qua đuôi làm chái
Nhìn qua mặt làm cửa thang cửa sổ Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài Muốn làm mái thì trông vào mai
Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách Lấy chạc vớt mà buộc kèo” [6, tr.279]
Trong một đoạn khác, Đẻ đất đẻ nước cũng cho biết kỹ hơn về các
chi tiết gỗ chịu lực nhà và kỹ thuật chế tạo:
“Đã đẽo nên cột
Đã gọt lên kèo
Trang 34Bào nên xà dọc Rọc nên xà ngang” [6, tr.327]
Qua những lời Mo, chúng ta có thể thấy nhà sàn đã tồn tại từ rất lâu đời và khá phổ biến trong cộng đồng dân Mường Tuy nhiên sự ra đời và tồn tại của nhà sàn lại có những nguyên nhân từ thực tế đời sống khác
Cư dân miền núi như người Mường ở Giang Mỗ sống tại các thung lũng, bên các sườn đồi dốc, khí hậu có độ ẩm cao kèm theo những trận mưa với lượng nước lớn, những trận lũ thường xuyên đe dọa cuộc sống của họ Chính điều kiện thiên nhiên như vậy không phù hợp với làm nhà mặt đất Người dân đã tìm ra một loại hình nhà ở khác phù hợp hơn đó chính là nhà sàn Rừng núi lại là nơi sẵn tre nứa, gỗ, lá là những vật liệu cơ bản để làm nhà sàn càng làm cho loại hình nhà sàn trở nên phổ biến trong cộng đồng
cư dân miền núi
Những xóm làng cư dân ít chỉ vài ba đến vài chục nóc nhà, lại sống đơn lẻ xa cách nhau trong điều kiện giao thông khó khăn Bên cạnh đó, cuộc sống xưa kia của cư dân miền núi luôn gặp phải những hiểm họa khác như thú dữ và có khi là cả những cuộc xung đột tộc người Trong điều kiện như vậy, nhà sàn rất thích hợp với cuộc sống tự vệ của họ
Cũng như các xóm Mường khác ở Việt Nam, người Mường ở Giang
Mỗ cư trú trong một không gian dải đất thung lũng hẹp ven một con suối dưới chân các sườn đồi thấp Các ngôi nhà sàn ở đây được bố trí không theo hàng lối mà theo kiểu mật tập, tùy theo từng thế đất mà dựng nhà Xung quanh các ngôi nhà là rất nhiều cây cối trồng trong vườn Ruộng bậc thang tiếp giáp đến tận gần chân nhà sàn [hình phụ lục 1] Không có một hướng nhất định cho các ngôi nhà sàn trong xóm
Trang 35Việc bố trí nơi cư trú gần nguồn nước, gần đồng ruộng như vậy rất thuận lợi cho việc sản xuất
Đường vào xóm là một con đường quanh co tạo cảm giác dễ nhầm, dễ lạc Con đường này mới được đổ bê tông trong vài năm gần đây Xóm Mường không có cổng Ngăn cách giữa các ngôi nhà cũng không có cổng, không có hàng rào mà chỉ là những hàng rào tượng trưng bằng vài bụi cây [hình phụ lục 7] Việc dựng nhà, lập xóm theo thế đất, vì vậy đôi khi con đường vào xóm Mường thường là những con đường nhỏ men theo sườn đồi dốc
Toàn xã Bình Thanh có khoảng 200 nhà sàn, trong đó Giang - Mỗ
có 70 nhà Những ngôi nhà sàn ở đây được dựng từ lâu đời nhưng không ai
có thể nhớ được ngôi nhà cổ nhất trong xóm có từ bao giờ Quá trình khảo sát thực tế tại Giang Mỗ, người dân khi giới thiệu về ngôi nhà họ đang cư trú thường cho biết có từ đời các cụ Cũng rất ít nhà sàn còn ghi lại được thời gian dựng nhà Ngôi nhà sàn của nhà bà My có dòng chữ số trên đòn tay là năm 1970 [hình phụ lục 21] Ngôi nhà thứ hai trong xóm có ghi thời gian dựng là nhà ông Nguyễn Văn Hậu dựng năm 1988
2.2 Các yếu tố vật chất - kỹ thuật nhà của nhà sàn Mường
2.2.1 Chuẩn bị dựng nhà
* Chuẩn bị vật liệu
Vật liệu dựng nhà có vai trò rất quan trọng trong xây dựng Nó quyết định tuổi thọ, hình dáng và tiến độ thi công, phương pháp xây dựng công trình
Cũng như hầu hết các dân tộc cư trú ở Việt Nam, người Mường dựng
và làm nhà sàn chủ yếu sử dụng các vật liệu có sẵn tại địa phương Họ thiên về khai thác tự nhiên, ít có chế biến
Nguyên liệu cơ bản là gỗ được sử dụng cho việc dựng khung chịu lực Người Mường thường chọn những loại gỗ ít chịu mối ăn, không bị
Trang 36mọt, không mục Rừng địa phương thường sẵn các loại gỗ như: trai, nghiến, sến, dổi, de… Cũng có khi người Mường sử dụng gỗ từ các loại cây trồng sẵn trong vườn nhà như: mít, nhãn, xoan…
Sau gỗ là đến các loại tre với đủ chủng loại như: bương, hóp, vầu, luồng, dang, nứa … Các loại vật liệu này được sử dụng làm đòn tay, làm hoành mái hoặc có thể thay thế gỗ làm vách, làm sàn nhà Người Mường chọn vật liệu thường phải đảm bảo rõ nguồn gốc, thường là cây còn sống
Họ không lấy cây trôi sông, cây cụt ngọn, cây chết khô, cây bị sâu, cây bị đốt cháy dở Họ cũng tránh những cây thân cong
Vật liệu để lợp mái nhà là các loại: lá cọ, cỏ tranh, rơm rạ, lá mía… Vật liệu để cố định mộng, chốt là các loại đinh chốt được làm từ gỗ hay tre Đối với một số liên kết kiểu buộc dây, người Mường sử dụng các loại dây leo như: song, mây… hay các loại dây rừng như: Đùng đình, thèm bép…
Việc chuẩn bị vật liệu dựng nhà thường kéo dài vài năm Với những loại vật liệu khai thác từ rừng tự nhiên họ phải lựa chọn và tổ chức chặt, hạ mang về nhà Người Mường tìm được những cây gỗ tốt thường phải phát quang xung quanh gốc để khi chặt không vướng tầm vung của tay rìu Điểm chặt trên thân cây thường cách mặt đất khoảng 70 cm, tránh chỗ nhiều mấu, mắt hay nhiều cành nhánh, thuận tiện vung rìu Gốc cây to thường hai tay rìu chặt hai bên, gốc nhỏ thì một tay rìu nhưng cũng chặt cả hai bên, định cho cây đổ về bên nào thì chặt bên đó thấp hơn Người ta thường quan sát xem chỗ nào ít vướng cây thì chặt cho cây đổ về phía đó Với những cây nhỏ, người ta có thể mang về ngay Những cây to hơn, họ tiến hành bổ pha tại chỗ rồi mới mang về nhà
Các loại vật liệu thường được lựa chọn rất kỹ lưỡng Tuy nhiên, để cho vật liệu được tốt hơn, người Mường còn có một số biện pháp chế biến
Trang 37bước đầu Các loại tre, gỗ thường được ngâm dưới bùn vài năm để chống lại mối mọt Có những vật liệu tuổi thọ chỉ khoảng năm năm đã bị mối mọt nhưng cũng vật liệu ấy đã qua ngâm bùn lại có thể dùng được đến vài trăm năm Các loại lạt buộc thường được gác trên gác bếp để sấy khói làm tăng
độ dẻo và độ bền Vật liệu qua chế biến bước đầu thường ít cong vênh, không bị nứt, không bị biến dạng các lỗ mộng
* Chuẩn bị nhân công
Việc dựng nhà đòi hỏi nhiều công đoạn, nhiều công sức, vì vậy người Mường trong cùng xóm thường giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau Có người giúp chủ nhà vật liệu, nhưng phần nhiều là họ giúp công sức Xưa kia, khi dựng nhà, người Mường thường chuẩn bị một lễ nhỏ đến nhờ Lang báo giúp mọi người trong xóm Mỗi gia đình sẽ cử người đến giúp theo sức lực
và khả năng Sự giúp đỡ ấy thể hiện sự quan tâm chung của cộng đồng, thể hiện tình thần đoàn kết, tương thân tương ái sâu sắc
Xã hội người Mường truyền thống xưa kia, không có thợ chuyên nghiệp làm nhà Hầu hết mọi người trong xóm đều có thể tham gia dựng nhà tuỳ theo giới tính và lứa tuổi Đàn ông làm những việc nặng nhọc và quan trọng như chọn đất dựng nhà, chọn và vận chuyển vật liệu gỗ, đẽo cột, tạo liên kết, dựng khung, lợp mái, bỏ giát… Đàn bà làm việc nhẹ nhàng như vót mây, giang, cắt cỏ tranh, đan phên… và phục vụ hậu cần
Người trẻ, khỏe đảm nhiệm các phần việc phải dùng sức Người già chỉ bảo kinh nghiệm và kỹ thuật Qua việc dựng nhà, những người trẻ cũng tiếp thu kinh nghiệm dựng nhà mà lớp cha anh họ đã tích luỹ trước đó
Mọi khâu công việc cũng được phân công hợp lý và chi tiết Việc đầu tiên là vào rừng chặt gỗ, đẽo gỗ ngay từ gốc và kéo gỗ về nhà Những công việc này thường dựa vào sức của nhiều người trong xóm giúp
Trang 38Gỗ và vật liệu khi đem ra dựng nhà, chủ nhà thường nhờ những người khéo tay trong xóm đo đạc, đục đẽo các bộ phận, các chi tiết Đến khi dựng lại nhờ vào sức của cả xóm
Mọi người giúp chủ nhà dựng nhà từ khâu chuyển vật liệu cho đến khi làm lễ nhà mới Sau lễ lên nhà mới, có một số việc sẽ được chủ nhà hoàn thiện sau không phải dựa vào sức của tập thể nữa
Ngày nay, xuất hiện một số gia đình có điều kiện kinh tế đã thuê những thợ chuyên nghiệp người Kinh và người Mường dựng nhà, chính vì vậy truyền thống hỗ trợ nhau trong dựng nhà dần bị mai một
* Công cụ dựng nhà:
Toàn bộ việc khai thác vật liệu người Mường dùng các công cụ vốn được dùng trong sinh hoạt gia đình như: rìu, dao, liềm… Họ chặt cây, que mây, tre bằng dao, cắt cỏ tranh bằng liềm và chặt cây bằng rìu
Việc vận chuyển vật liệu từ nơi khai thác tới nơi dựng nhà thường dựa vào sức người như khiêng, vác Với cỏ tranh thì gùi về nhà Họ còn dùng trâu kéo gỗ về
Việc chế biến kỹ thuật bước đầu cho vật liệu trước khi dựng nhà cũng sử dụng các công cụ như trên Người Mường đẽo cột, làm ngoãm bằng rìu và dao, chẻ nứa làm phên vách, làm giát sàn cũng bằng dao Họ đẽo gọt cho tới khi vật liệu dựng nhà đạt được độ nhẵn phẳng nhất định
Việc đào lỗ chân cột dùng cuốc, thuổng Ngày nay, người Mường còn sử dụng cưa xẻ, đục để chế tác vật liệu, đặc biệt là trong việc tạo các lỗ mộng với kỹ thuật chính xác hơn
* Chọn đất dựng nhà
Các ngôi nhà người Mường trong một xóm không theo một hướng nhất định Hướng nhà thường do một thầy địa lý chọn riêng theo tuổi của
Trang 39chủ nhà Người Mường quan niệm chọn được nhà đúng hướng sẽ đem lại tài lộc và may mắn cho gia đình
Tuy mỗi ngôi nhà đều theo tuổi của chủ nhà, nhưng nhà người Mường vẫn có chung một đặc điểm là không được ngược với hướng núi Chính vì vậy, bề ngoài, nhà người Mường có vẻ không theo quy luật nào nhưng đều dựa lưng vào gò, đồi, hướng mặt ra khoảng không thung lũng hay cánh đồng trước mặt vừa rộng tầm nhìn vừa thoáng gió
Chọn được khu đất ưng ý, người ta tiến hành phát dọn, san lấp tạo mặt bằng cho khu đất Do nhà sàn Mường thường nằm trên sườn đối thấp,
vì vậy phần đất phía dưới thường được đổ thêm cho cao hơn và được kè bằng đá cẩn thận Cũng có khi, người ta không san lấp tạo mặt bằng mà vẫn
để nền đất có độ nghiêng tự nhiên Khi đó, người ta sẽ sử dụng hàng cột ở phía trên ngắn hơn hàng cột phía dưới nhưng vẫn đảm bảo đầu các hàng cột cao bằng nhau để đỡ kèo mái
Chuẩn bị được vật liệu và chọn đất để dựng nhà xong, người Mường tiến hành dựng nhà sàn Nếu việc chuẩn bị vật liệu kéo dài trong nhiều năm thì việc dựng nhà chỉ kéo dài trong một thời gian vài ngày Quy trình ấy gồm nhiều công đoạn nhưng thường được tiến hành như sau: Người ta tiến hành lắp ghép các cột, kèo và xà tạo dựng bộ khung nhà
Sau đó dựng bộ khung trên nền đất, cố định vị trí các cột và lấy độ bằng cho sàn nhà, lợp mái nhà rồi mới tiến hành làm vách nhà Cuối cùng là hoàn thiện các phần việc còn lại như: làm bếp, làm cầu thang, làm gác xép…
2.2.2 Kỹ thuật dựng nhà
Nhà sàn người Mường có hai kỹ thuật cơ bản trong xây dựng là kết cấu các bộ phận và kỹ thuật liên kết các bộ phận với nhau Nhà sàn có nhiều bộ phận cấu thành, trong đó mỗi bộ phận lại có những tác dụng và ý nghĩa riêng
Trang 40* Kết cấu khung nhà
Bộ khung nhà là bộ phận quan trọng nhất của nhà sàn, phần bao che hay nóc chỉ có chức năng che chắn Bộ khung nhà có chức năng chịu lực và tạo cho ngôi nhà thành những số gian nhất định Trong bộ khung nhà sàn,
vì kèo là đơn vị cơ bản để cấu thành bộ khung Một bộ vì kèo bao giờ cũng
có cột - kèo và các thanh xà Cấu tạo một bộ vì như sau:
Hai thanh kèo (kẻ) gặp nhau trên đỉnh mái nhà Nơi gặp nhau của hai
kèo mái gọi là chỏm kèo Kèo có thể bằng gỗ hay tre thẳng tạo nên độ dốc
của mái Giữa lưng chừng kèo có một quá giang (quết đồ) để cố định độ
mở của kèo
Hai thanh kèo được úp lên đầu của các cột nhà Nhà người Mường
thường chỉ có hai cột cái (tồ cải), nhà rộng sẽ có thêm hai cột con (tồ còn)
ở ngoài hai cột cái Cố định hai đầu cột cái là một quá giang hay đòn tay
(tòn tháy cải) Bụng hai thanh kèo hướng xuống lòng nhà thường có một chi tiết gỗ được gọi là cựa gà (pà wóc) làm chức năng khóa kèo ở ngay đầu cột cái [hình phụ lục 20] Pà wóc là một bộ phận kết cấu chỉ có trong nhà
sàn dân tộc Mường được cho là một “đặc điểm mang tính đặc trưng tộc người” [33, tr.102] Phía lưng kèo hướng lên mái người ta chia thành
những khoảng đều nhau Trên đó có đóng những đinh tre (tèng kéo) để đỡ
các hoành mái Hoành mái cao nhất và trên cùng nằm ở nơi hai đầu kèo gặp nhau Hoành này được gọi là xà nóc hay đòn nóc và được coi là vật thiêng
Các hoành mái, xà liên kết các bộ vì, người Mường kiêng để mấu quay xuống sàn Khi bắc các xà, đòn bao giờ phần ngọn cũng ở gian cuối, phần gốc hướng về gian đầu, nơi có cầu thang lên xuống
Dưới lưng chừng các cột người ta có các dầm lùa qua thân cột theo kiểu xà luồn Các dầm này vừa có chức năng cố định cột vừa có chức năng dầm sàn nhà [hình phụ lục 12]