1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng làng nghề giày da phú yên huyện phú xuyên hà nội

109 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

73 Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

KHOA VĂN HÓA HỌC -

NGUYỄN VIỆT CHINH

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG

ĐỒNG LÀNG NGHỀ GIẦY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ

XUYÊN, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC THS.NGUYỄN THÀNH NAM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội

Trước tiên cho em gửi lời cảm ơn khoa Văn hóa học đã tạo điều kiện cho em thực hiện đề tài nghiên cứu này Đặc biệt, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ths Nguyễn Thành Nam – giảng viên khoa Văn hóa học

đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới ông Lưu Xuân Chúng (chủ tịch Hiệp hội Giày da Phú Yên khóa 2008 – 2011); chú Nguyễn Huy Diên (Giám đốc công ty TNHH Diên Vui – xã Phú Yên) cùng các cán bộ UBND xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội đã nhiệt tình cung cấp những thông tin và tài liệu quý báu cho bài nghiên cứu của em

Do chưa có nhiều thời gian và điều kiện để tìm hiểu sâu thực tế nên bài khóa luận này còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để bài khóa luận của em hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên Nguyễn Việt Chinh

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

HĐND : Hội đồng Nhân dân

NN & PTNN : Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

TNHH : Trách nhiệm Hữu hạn THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban Nhân dân VNĐ : Việt Nam đồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI 17

1.1 Cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng 17

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 17

1.1.2 Cấu trúc, dạng thức và nguyên nhân biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng 30

1.2 Tổng quan về làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội 34

1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 34

1.2.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 34

Tiểu kết 39

Chương 2: BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI 40

2.1 Biến đổi trong gia đình 40

2.1.1 Biến đổi kinh tế gia đình 40

2.1.2 Biến đổi quan hệ gia đình 41

2.1.3 Biến đổi quan niệm về hôn nhân và tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời 43

2.1.4 Biến đổi cơ cấu và loại hình gia đình 45

2.1.5 Biến đổi nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần trong gia đình 46

2.1.6 Biến đổi cơ cấu bữa ăn trong gia đình 47

2.2 Biến đổi dòng họ 48

2.2.1 Biến đổi về tổ chức dòng họ 49

2.2.2 Biến đổi quan hệ dòng họ trong hoạt động kinh tế 53

2.2.3 Biến đổi quan hệ dòng họ trong tổ chức quyền lực và quản lí làng xã 57

Trang 5

2.2.4 Biến đổi quan hệ dòng họ trong đời sống văn hóa – tín ngưỡng 59

2.3 Biến đổi trong tổ chức phường hội 63

2.3.1 Các hình thức tổ chức phường nghề giày da Phú Yên trong lịch sử 63

2.3.2 Biểu hiện biến đổi tổ chức phường nghề 73

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY 78

3.1 Những vấn đề đặt ra trong quá trình biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội 78

3.1.1 Những vấn đề đặt ra trong biến đổi gia đình 78

2.1.2 Những vấn đề đặt ra trong biến đổi tổ chức dòng họ 81

2.1.3 Những vấn đề đặt ra trong biến đổi tổ chức phường nghề 82

3.2 Một số giải pháp phát huy giá trị văn hóa tổ chức cộng đồng làng nghề giày da Phú Yên trong giai đoạn hiện nay 83

3.2.1 Giải pháp từ phía chính quyền địa phương 83

3.2.2 Giải pháp từ phía người dân 92

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

PHỤ LỤC 98

 

  

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ bao đời nay trong tâm thức người Việt, ngôi làng chiếm một vị trí

vô cùng đặc biệt, đó là nơi họ gắn bó suốt cả cuộc đời từ khi sinh ra cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay Chính vì vậy người Việt và nhất là người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ rất coi trọng ngôi làng của mình cũng như mối quan hệ với những con người ở trong ngôi làng đó Kho tàng ca dao, tục ngữ mà ông cha

ta để lại từ bao đời nay đã phần nào chứng minh “ bán anh em xa mua láng giềng gần”, “hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” hay “sảy cha còn chú, sảy mẹ

bú dì”…Thế nhưng cùng với sự vận động không ngừng của đời sống xã hội những mối quan hệ tưởng chừng vô cùng bền chặt đó đã và đang dần bị biến đổi Và dù sự biến đổi có đi theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực thì nó vẫn

ít nhiều làm thay đổi cơ cấu tổ chức cộng đồng vốn rất bền chặt trong những ngôi làng Việt

Làng nghề thủ công được coi là một phần không thể thiếu của làng xã nông nghiệp cổ truyền, vì nó phản ảnh đầy đủ thuộc tính tự cung tự cấp và tính khép kín cố hữu của làng xã nông nghiệp Mặt khác làng nghề lại thể hiện tính năng động sáng tạo của người nông dân trong quá trình thích ứng với điều kiện địa lí, kinh tế - xã hội nhất định, đồng thời thể hiện rất rõ yếu tố

mở của xã hội tiểu nông

Làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội vốn có truyền thống văn hóa lâu đời, nghề da giày phát triển mạnh trong khoảng 20 năm trở lại đây Vì vậy sự biến đổi văn hóa ở làng nghề cũng diễn ra sớm, nhanh và mạnh hơn các làng quê thuần nông khác Nổi trội và đáng lưu tâm hơn cả là những biến đổi nhanh chóng trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng làng nghề Phú Yên Bên cạnh xu hướng biến đổi quan hệ gia đình và dòng họ, biến

Trang 7

đổi tổ chức phường nghề cũng là một trong những vấn đề rất đáng lưu tâm tại làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay

Chính vì vậy, trong bài nghiên cứu này, người viết đặc biệt muốn tìm hiểu, lý giải những nguyên nhân dẫn tới tình trạng biến đổi trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, cụ thể là những biến đổi trong tổ chức gia đình, dòng họ và phường hội ở làng nghề giày da Phú Yên trong bối cảnh công nghiệp hóa – đô thị hóa hiện nay Để từ đó đưa ra một số gợi ý khoa học về những giải pháp, những định hướng thích hợp cho chiến lược phát triển văn hóa – xã hội nơi đây

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là làng nghề Giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội, một ngôi làng rất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng Quân và dân nơi đây từng gắn liền với những chiến công oai hùng thời

kỳ đánh Mỹ cùng với địa danh Cầu Giẽ nổi tiếng Phú Yên cũng là một trong những làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống, địa điểm du lịch của thành phố Hà Nội

Khoảng 20 năm trở lại đây, cán bộ và nhân dân Phú Yên đã từng bước khôi phục lại truyền thống của làng nghề và đạt được những thành tựu vô cùng đáng khen ngợi Sự phát triển mạnh mẽ của làng nghề đã và đang làm thay đổi mọi mặt đời sống của những người dân nơi đây, đặc biệt là những biến đổi trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng của họ

Trong bài khóa luận này, người viết tập trung tìm hiểu sự biến đổi văn hóa làng nghề Phú Yên dưới góc độ tổ chức đời sống cộng đồng ( gia đình, dòng họ, phường hội…)

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đi sâu tìm hiểu và lý giải những nguyên nhân dẫn tới tình trạng biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng ở làng nghề giày da Phú Yên Cụ thể,

Trang 8

là những biến đổi tổ chức gia đình, dòng họ và phường nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa – đô thị hóa hiện nay Để từ đó đưa ra một số gợi ý khoa học

về những giải pháp, những định hướng thích hợp cho chiến lược phát triển văn hóa – xã hội nơi đây

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Khóa luận dựa vào một số lý thuyết của nghiên cứu văn hóa khi đề cập đến vấn đề chuyển biến văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến lý luận cho rằng sự biến đổi văn hóa cần được nghiên cứu trong bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị

và xã hội cụ thể, trong những tương tác giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa cái cũ và cái mới

Với nội dung nghiên cứu của đề tài, người viết sử dụng các phương pháp như sau:

- Phân tích nguồn tư liệu có sẵn, đặc biệt là những số liệu tổng hợp, đánh giá tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa tại địa phương

- Quan sát tham dự: người viết đã trực tiếp thâm nhập và quan sát các hiện tượng văn hóa cơ bản của cộng đồng dân cư làng nghề giày da Phú Yên Qua đó thấu hiểu những biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng của làng nghề

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn định tính và định lượng Người viết

đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp nhiều đối tượng, từ cán bộ địa phương cho tới những hộ gia đình trực tiếp tham gia sản xuất và kinh doanh da giày tại xã Phú Yên

5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Đối với chủ đề nghiên cứu của khóa luận, có ba nhóm công trình có liên quan: các nghiên cứu lý thuyết về sự biến đổi văn hóa nói chung và ở Việt Nam; các nghiên cứu về làng nghề giày da Phú Yên và cuối cùng là nhóm nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài khóa luận

Trang 9

Ở bình diện nghiên cứu lý thuyết chung, lịch sử nghiên cứu về biến đổi

văn hóa đã cung cấp những lý thuyết rất quan trọng cho các nghiên cứu thực

địa về biến đổi của các xã hội đang chuyển đổi Giữa thế kỷ 19, Edward Taylor – người được coi là ông tổ của nhân học hiện đại và Lewis Henry

Morgan với Thuyết tiến hóa văn hóa, cho rằng tất cả các nền văn hóa đều phải

trải qua các giai đoạn phát triển giống nhau theo một trật tự nhất định Thuyết này sử dụng cách tiếp cận suy diễn, áp một thuyết chung cho mọi nền văn hóa Thuyết tiến hóa được các đế quốc thực dân sử dụng để thanh minh cho công cuộc thuộc địa hóa các vùng đất mới ở Châu Á, châu Phi…dưới chiêu bài “khai sáng văn minh” cho các dân tộc thuộc địa, mà dưới thuyết này được xem là đang ở các bậc thang tiến hóa thấp hơn so với các xã hội phương Tây Với khá nhiều những quan điểm phiến diện học thuyết tiến hóa văn hóa đã gặp phải sự phản đối rộng khắp trong giới Nhân học và đây cũng là tiền đề để khá nhiều lý thuyết mới về biến đổi văn hóa ra đời và phát triển vào cuối thế

kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Thuyết Truyền bá văn hóa với đại diện là C.Elliot Smith

và W.Rivers… cho rằng vấn đề mấu chốt của biến đổi văn hóa là sự vay mượn hoặc sự truyền bá của các đặc trưng văn hóa từ xã hội này sang xã hội

khác Thuyết Vùng văn hóa (đại diện là C.L.Wissler, A.L.Kroeber…) đưa ra

các khái niệm cơ bản về vùng văn hóa, loại hình văn hóa, trung tâm văn hóa,

tổ hợp văn hóa, sự biến đổi văn hóa diễn ra rất đa chiều và nhiều cấp độ phụ thuộc vào việc cộng đồng đó là trung tâm hay ngoại vi của vùng chuyển tiếp,

môi trường và sự chuyên môn hóa cộng đồng đó là gì Thuyết Tiếp biến văn

hóa với đại diện là Redfield và Broom chỉ ra sự biến đổi văn hóa trong các

bối cảnh xã hội phương Tây và ngoài phương Tây đã trải qua mối quan hệ lâu dài, đặc biệt là sự ảnh hưởng của những xã hội có ưu thế đối với người dân bản địa Thuyết Chức năng đại diện là Brown, Malinowski…nhìn nhận xã hội như một dạng cơ cấu trong đó từng bộ phận đều có chức năng cụ thể, mỗi

Trang 10

chức năng đó có thể xác định được nhằm duy trì hệ thống xã hội tổng thể Vì vậy xã hội và văn hóa thường có sự hội nhập tốt và ổn định, nếu văn hóa thay đổi thì phần lớn là do tác động từ bên ngoài

Khác với quan điểm thực chứng cá biệt, J Steward quan tâm đến những đặc tính chung của các nền văn hóa cách xa nhau về địa lý Về tiến hóa luận, ông phê phán thuyết tiến hóa đơn hệ của Morgan và thuyết tiến hóa chung của

L White Theo ông, mỗi nền văn hóa có cách tiến hóa khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện đặc thù của nền văn hóa đó Để chứng minh điều này, ông tiến hành nghiên cứu so sánh các cách tiến hóa của nhiều nền văn hóa qua phân tích quá trình phát triển lịch sử của mỗi nền văn hóa Ông đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của môi trường trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của văn

hóa Ông gọi nghiên cứu của mình là sinh thái học văn hóa (cultural ecology)

và nghiên cứu văn hóa theo lập trường của tiến hóa đa hệ

Bàn về biến đổi văn hóa ở Việt Nam, trong lời giới thiệu cuốn “Tìm về

bản sắc văn hóa Việt Nam cái nhìn hệ thống – loại hình” GS Phạm Đức

Dương cũng chia sẻ: “ Như những dòng sông văn hóa của các dân tộc bền bỉ

tích lũy, thâu nhận, gạn lọc tinh hoa từ muôn dặm nẻo, không ngừng chuyển tải và biến đổi, không ngừng giao lưu và mở rộng để rồi góp phần của riêng mình vào đại dương văn hóa mênh mông của nhân loại”

Không có một nền văn hóa nào đứng yên một chỗ, không có một nền văn hóa nào giữ nguyên trạng thái của nó từ buổi ban đầu cho đến bây giờ cho

dù người ta có cố bảo tồn, duy trì nó mãi Kết quả của các công trình nghiên cứu của các nhà Nhân loại học cho thấy không một nền văn hóa nào giữ được nguyên vẹn những đặc tính của nó qua thời gian Bất cứ nền văn hóa nào dù ở trong xã hội không đóng kín, không tiếp xúc với bên ngoài đi chăng nữa, vẫn

ít nhiều thay đổi theo thời gian Nhịp điệu biến đổi có thể từ rất nhanh, đến

Trang 11

nhanh, hay chậm đến rất chậm tùy theo hoàn cảnh, tùy theo trường hợp Phần nhiều các nền văn hóa đều thay đổi rất chậm nếu không có những ca chạm/ xung đột lớn lao

Khi bàn về “Những biến đổi trong văn hóa Việt Nam” GS Phan Thanh Liêm cũng khẳng định: “văn hóa Việt Nam không tránh khỏi những định luật

thay đổi tự nhiên theo thời gian và không gian”

Có thể nói nghiên cứu về văn hóa làng Việt cũng như quá trình biến đổi văn hóa làng từ lâu đã trở thành đề tài hấp dẫn các nhà nghiên cứu trong và

ngoài nước Bằng cách tiếp cận địa lý nhân văn - Pierre Gourou với “Người

nông dân châu thổ Bắc Kỳ” đã nói lên một châu thổ Bắc kỳ với mạng lưới

dày đặc các làng quê luôn luôn trong quá trình vận động và biến đổi, đa dạng

và phát triển

Qua gợi ý của một ông cụ bị lưu đày ở Mỹ, năm 1987 GS Lương Văn

Hy (Việt kiều Canada) đã về Việt Nam và tìm đến ngôi làng Sơn Dương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ để nghiên cứu những biến đổi về lịch đại từ cuối thời kỳ phong kiến cho tới cuối thời kỳ bao cấp Ông cho rằng chính những truyền thống cách mạng, văn hóa cùng với sự liên kết chặt chẽ trong cộng đồng làng đã giúp văn hóa của làng quê này đứng vững được trước những biến động không ngừng của thời đại Cũng từ ngôi làng này, GS Lương Văn Hy đã mở rộng phạm vi và đối tượng nghiên cứu sang nhiều địa bàn khác trên khắp cả nước

Qua nghiên cứu trường hợp ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh tác giả Đinh Thị Phương Châm nhận định chính sự biến đổi về kinh tế xã hội và những thay đổi về hành chính đất đai, chính sách nông nghiệp là những tiền đề trực tiếp tác động tới sự biến đổi văn hóa của các làng quê này Đồng thời sự chuyển đổi nghề nghiệp cùng những tác động

Trang 12

của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa là những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng biến đổi văn hóa ở trường hợp ba làng nói riêng và các làng quê ở vùng Kinh Bắc nói chung

Liên quan đến các nghiên cứu về làng nghề giày da Phú Yên, huyện

Phú Xuyên, Hà Nội, là công trình nghiên cứu Giải pháp phát triển làng nghề

truyền thống ven sông Nhuệ tỉnh Hà Tây phục vụ cho du lịch Nghiên cứu tập

trung khảo sát ba làng nghề thủ công truyền thống bao gồm: làng lụa Vạn Phúc, khảm trai thôn Ngọ và làng nghề giày da Phú Yên, thuộc tỉnh Hà Tây (cũ) Khi bàn về làng nghề giày da Phú Yên, tác giả đã đưa ra những thông tin

về lịch sử hình thành và phát triển làng nghề, các yếu tố văn hóa làng nói chung, đồng thời nêu các giải pháp phát triển làng nghề song chủ yếu dưới góc độ văn hóa du lịch

Về nhóm tài liệu liên quan trực tiếp tới đề tài, khi bàn về Gia đình và

phụ nữ trong biến đổi văn hóa – xã hội ở nông thôn tác giả Nguyễn Linh

Khiếu đã tiến hành khảo sát tình hình văn hóa – xã hội ở các xã Cẩm Vũ, Khánh Hậu, Hòa Phú, Cẩm An, Bình Minh và đời sống phụ nữ người Khmer

xã Tuân Đức Thông qua các tư liệu thực tế phong phú này tác giả đã đưa ra được một số kết luận về những tác động của sự chuyển đổi cơ chế sinh hoạt văn hóa tinh thần nông thôn đối với gia đình và phụ nữ, tương quan giữa vợ

và chồng trong một số lĩnh vực hoạt động, một số hiện tượng xã hội ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội ở nông thôn Đồng thời trong cuốn sách này tác giả cũng đưa ra những vấn đề cần quan tâm trong quá trình phục hồi văn hóa ở nông thôn hiện nay

Nghiên cứu về Công nghiệp hóa và những biến đổi đời sống gia đình

nông thôn Việt Nam PGS.TS Hoàng Bá Thịnh cho rằng công nghiệp hóa đã

góp phần tạo nên những biến đổi nhiều mặt đối với đời sống gia đình nông

Trang 13

thôn, với sự thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cải thiện mức sống, tạo nên việc làm mới, giảm lao động nông nghiệp và tăng lao động phi nông nghiệp Song bên cạnh mặt tích cực, công nghiệp hóa cũng làm nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc, do thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp hàng nghìn hộ nông dân mất đất sản xuất, thiếu việc làm nên một bộ phận gia đình nông dân có thu nhập thấp và mức sống giảm dân; các tệ nạn xã hội có chiều hướng phát triển, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng; làm gia tăng phân tầng xã hội về thu nhập và đời sống trong nội bộ cư dân nông thôn, làm suy giảm, suy yếu lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp, nền sản xuất đem lại an ninh lương thực cho quốc gia Bên cạnh đó quy mô phát triển công nghiệp hóa tỉ lệ nghịch với diện tích canh tác đất nông nghiệp, và tỉ

lệ thuận với người nông dân thất nghiệp Các khu công nghiệp ở nông thôn đang có tác động không tốt đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của người dân nông thôn

Nối tiếp các nghiên cứu về Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở nông thôn Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (2003) tới Người nông dân Đồng bằng sông Hồng và quan hệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới (2010), tác giả Nguyễn Đức Truyến đã tập trung nghiên cứu về các nhóm xã

hội trong nông thôn đồng bằng sông Hồng như nhóm hộ gia đình, nhóm gia đình mở rộng, nhóm gia đình – họ hàng cũng như nhóm họ hàng, thôn xóm và làng xã Qua đó tác giả đã tìm ra những sự biến đổi căn bản trong mối quan hệ

giữa các nhóm xã hội này trong thời kỳ đổi mới

Trên trang Cuộc sống Việt, PGS.TS Khoa học xã hội Việt Nam Mai

Văn Hải đã đưa ra một số nhận định về Gia đình, dòng họ - những vấn đề cơ

bản của làng xã Việt Nam Qua khảo cứu trường hợp hai địa phương Tam

Sơn và Đồng Kỵ (Bắc Ninh) tác giả cho rằng trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, các giá trị cơ bản của văn hóa làng, xã như gia đình, dòng họ đang

Trang 14

giảm dần ý nghĩa đối với một bộ phận người dân Tuy nhiên, vai trò của gia đình và dòng họ với những giá trị tốt đẹp và đặc trưng trong nếp sống không những không bị mai một mà còn thích ứng, biến đổi, tạo ra các giá trị mới và

có khả năng trường tồn cùng với đời sống làng, xã Việt Nam

Trong cuốn Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng, qua khảo sát

trường hợp hai làng Tứ Kỳ và Đào Xá hai tác giả là Phan Đại Doãn và Mai

Văn Hai nhận định “sự cấu trúc lại nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị

trường với xã hội chủ nghĩa không làm cho cấu trúc xã hội truyền thống trong

đó có cấu trúc của quan hệ dòng họ mất đi mà chỉ biến đổi phù hợp với điều kiện mới của lịch sử phát triển nông thôn” Hai tác giả cũng dựa trên sự biến

đổi đó để tập trung nghiên cứu những vấn đề có ý nghĩa, nhất là quan hệ dòng

họ trong lĩnh vực cư trú, trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức quyền lực và quản lí làng xã, trong đời sống văn hóa – tín ngưỡng

Cho tới nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của dòng

họ trong đời sống nông thôn Một mặt nhiều người cho rằng dòng họ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống con người Theo Trần Từ,

cơ cấu tổ chức của làng Việt ở Bắc Bộ “tông tộc mới thật là hạt nhân cơ

bản của làng mạc, của xã hội, là chỗ dựa tinh thần vững chắc và vĩnh hằng của từng cá nhân”

Bàn về khái niệm phường hội, các nhà nghiên cứu tương đối thống

nhất, cho rằng: “phường hội là hình thức tổ chức của những người thợ thủ

công dưới chế độ phong kiến, được hình thành trên cơ sở liên hiệp những người thợ thủ công thành những liên minh nghề nghiệp để chống lại sự áp chế và bóc lột của phong kiến và hạn chế sự cạnh tranh lẫn nhau” Phường

hội xuất hiện đàu tiên ở các thành thị châu Âu vào thế kỉ 9 – 10 Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa và quan hệ thị trường, sự ra đời của phương

Trang 15

thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phường hội trở thành nhân tố ngăn cản lực lượng sản xuất phát triển Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp và sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sản xuất không ngừng được hiện đại hóa, tập trung hóa, chuyên môn hóa, phường hội nhanh chóng bị tiêu vong

Trong quá khứ, phường hội không đóng vai trò đáng kể trong phát triển nghề nghiệp cũng như các thiết chế xã hội Điều này tất yếu dẫn đến sự biến đổi nhanh chóng về cơ cấu tổ chức, vai trò, chức năng của phường trong đời sống của cư dân làng nghề Thực tế tổ chức phường nghề ngày nay không còn giữ được chức năng liên kết kinh tế và quản lý nhân công lao động trong phường như trước đây, thay vào đó là chức năng kết nối giữa hoạt động sản xuất của người dân với chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn cao hơn Cũng vì vậy mà ban chấp hành phường nghề luôn nắm bắt được các thông tin về tình hình thị trường, pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước để phổ biến tới hội viên

Như vậy biến đổi văn hóa ở các làng quê nói chung đã được các nhà nghiên cứu văn hóa trên thế giới và Việt Nam đề cập, khai thác dưới rất nhiều khía cạnh khác nhau Các tác giả đã chỉ ra rằng sự biến đổi ở khu vực nông thôn, nông nghiệp là xu hướng tất yếu hiện nay Trong quá trình biến đổi ấy những đặc trưng cơ bản của làng cũng như những đặc tính nổi bật của người nông dân được thể hiện rõ ràng Làng trong các khía cạnh biến đổi đã thể hiện

là cầu nối giữa nông thôn và đô thị, nó vẫn giữ được tính tự trị tương đối nhưng đã rất cởi mở và linh hoạt, ở đó có những sự tái cấu trúc từ không gian cho đến kinh tế, văn hóa – xã hội

Đặt trong bối cảnh biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng tại các làng quê nói chung, các tác giả đi trước chủ yếu nghiên cứu sự biến đổi dưới

Trang 16

các khía cạnh nổi bật là quan hệ gia đình, dòng họ Bản thân người viết thiết nghĩ, phải chăng nên đặt vấn đề nghiên cứu của mình vào trong bối cảnh của một làng nghề đang có những sự biến đổi mạnh mẽ, thông qua đó, nhận thức

sự biến đổi một cách rõ ràng hơn, cũng như thấy được sự khác biệt giữa sự biến đổi ở làng nghề so với các làng Việt khác

6 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục đề tài này được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng

đồng và tổng quan về làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Chương 2: Những biến đổi trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng

của làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Chương 3: Những vấn đề đặt ra trong quá trình biến đổi văn hóa tổ

chức đời sống cộng đồng làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN,

HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

 Văn hóa

Từ khi trở thành thuật ngữ khoa học vào thế kỷ XIX, khái niệm “văn hoá” (culture) đã được các nhà dân tộc học, nhân học, ngôn ngữ học, văn hoá học… định nghĩa nhiều lần Điểm tương đồng của nhiều định nghĩa trong số

đó là dùng cách liệt kê những bộ phận, yếu tố hợp thành ngoại diên của khái niệm văn hoá

Chẳng hạn, trong ngành dân tộc học, Sir Edward Burnett Tylor 1917), người sáng lập nhân học xã hội Anh, đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về

(1832-văn hoá theo cách đó: “Văn hóa hoặc (1832-văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất

của dân tộc học, là cái toàn thể phức hợp bao gồm nhận thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và các năng lực hoặc tập tục khác

do con người thụ đắc với tư cách thành viên xã hội”

Edward Sapir (1884-1939), một trong những người sáng lập chuyên ngành ngôn ngữ học nhân học, cũng đề cập đến văn hoá qua ngoại diên của

nó: “Văn hoá, nghĩa là sự tập hợp những phong tục và tín ngưỡng có tính kế

thừa trong xã hội, quy định các sinh hoạt của đời sống chúng ta” Hội nghị

liên chính phủ về các chính sách văn hoá họp tại Venise năm 1970 cũng xác

định: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc

khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”

Trang 18

Ở Việt Nam, vào năm 1942-1943, Hồ Chí Minh (1890-1969), danh

nhân văn hoá thế giới của Việt Nam, cũng ghi lại trong tác phẩm Nhật ký

trong tù một định nghĩa về văn hoá theo cách đó, nhưng chi tiết hơn nhiều: “Ý nghĩa của văn hoá: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

Những định nghĩa theo cách liệt kê như vậy làm cho người ta khó hình dung văn hoá như một chỉnh thể thống nhất Tuy nhiên, những định nghĩa ấy

đã giúp chỉ ra những biểu hiện cụ thể của một khái niệm quá rộng lớn và trừu tượng như văn hoá, và giúp cho nhân loại ngày càng hiểu về khái niệm văn

hoá một cách chính xác hơn Đó là khái niệm văn hoá được hiểu theo nghĩa

rộng, bao gồm tất cả những hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần có tính sáng tạo của con người, được con người lĩnh hội, kế thừa và tuân thủ trong sinh hoạt, giúp phân biệt con người với tự nhiên, và phân biệt tộc người này với tộc người khác, cộng đồng người này với cộng đồng người khác

Nhiều định nghĩa về văn hoá, như các định nghĩa trên đây, không đề cập đến tính hệ thống của văn hoá Ở Việt Nam, một trong những người vận dụng sớm cách tiếp cận hệ thống, phối hợp với cách tiếp cận địa văn hoá để

nghiên cứu văn hoá Việt Nam là Trần Quốc Vượng Trong công trình Việt

Nam cái nhìn địa văn hoá (1998), ông viết: “Một vùng văn hoá là một tổng thể - hệ thống một không gian văn hoá (cultural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure - system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (Sub-system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)”

Trang 19

Một nhà nghiên cứu khác là Trần Ngọc Thêm cũng sớm vận dụng cách tiếp cận hệ thống để nghiên cứu văn hoá Việt Nam, nhưng đi xa hơn Trần

Quốc Vượng Trong các công trình Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam Cái

nhìn hệ thống - loại hình (in lần thứ 4, 2004), Cơ sở văn hoá Việt Nam (tái

bản lần thứ 2, 1999), ông định nghĩa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ

các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường

tự nhiên và xã hội” Từ cách hiểu đó, ông cho rằng văn hoá là một hệ thống

được quy định bởi một loại hình văn hoá nhất định, và bao gồm ba thành tố là văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức, văn hoá ứng xử

- Văn hoá nhận thức: xét theo đối tượng thì bao gồm nhận thức về vũ trụ (chuyển động của vũ trụ, thời tiết…) và nhận thức về con người (bản tính,

cơ thể con người, phong tục…); còn xét theo mức độ thì bao gồm nhận thức khái quát, nhận thức chuyên sâu và nhận thức cảm tính

- Văn hoá tổ chức cộng đồng: xét theo đối tượng tổ chức thì bao gồm

văn hoá tổ chức đời sống tập thể (nông thôn, quốc gia, đô thị) và văn hoá tổ

chức đời sống cá nhân (tín ngưỡng, phong tục, giao tiếp)

- Văn hoá ứng xử: xét theo đối tượng ứng xử thì bao gồm ứng xử với môi trường tự nhiên (tận dụng môi trường, ứng phó với môi trường) và ứng

xử với môi trường xã hội (giao lưu và tiếp biến văn hoá, ứng phó với các dân

tộc về quân sự, chính trị, ngoại giao…)

Nhìn dưới góc độ là một hệ thống hệ thống các giá trị, niềm tin và quan điểm được chia sẻ và truyền thụ, có ảnh hưởng tới và định hình nhận thức và hành vi của các thành viên, văn hóa có các đặc điểm sau:

- Truyền thụ / học: Nó không phải do di truyền sinh học và được truyền lại và tiếp nhận giữa các thế hệ

Trang 20

- Được chia sẻ giữa các thành viên của xã hội / nền văn hóa đó Không một cá nhân đơn lẻ nào có thể xây dựng được cả nền văn hóa

- Khuôn mẫu: Các thành viên của cùng một xã hội tư duy và sống theo những khuân mẫu nhất định

- Được cộng đồng xây dựng: Tất cả thành viên của xã hội tham gia vào xây dựng văn hóa thông quá quá trình tương tác với các thành viên khác

- Có tính biểu tượng: văn hóa, tư tưởng, và ngôn ngữ được xây dựng dựa trên các biểu tượng và ý nghĩa đi kèm

- Phi tự nhiên / Nhân tạo: không phụ thuộc vào các quy luật tự nhiên, ngược lại do con người, với tư cách là thành viên xã hội xây dựng

 Biến đổi văn hóa

Các lý thuyết về biến đổi văn hóa được hình thành dựa trên lý thuyết biến đổi xã hội được các học giả phương Tây xây dựng trong ngành nhân học

và xã hội học, ở đó biến đổi xã hội là một quá trình qua đó các khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian Với quan điểm này, văn hóa là một

bộ phận của đời sống xã hội, cũng không ngừng tự biến đổi và sự ổn định chỉ

là bề ngoài Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù có cổ truyền

và bảo thủ đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi, giống như các hiện thực khách quan khác, không ngừng vận động và thay đổi, với cùng một thực trạng

đứng yên trong sự vận động liên tục

Biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội; với những khác biệt về phạm vi, thời gian và hiệu quả Đó là một quá trình mang tính chủ động của các lực lượng trong xã hội hay mang tính phi kế hoạch, có nghĩa đó là một tiến trình tự nhiên, khách

Trang 21

quan Thường có sự phân chia giữa biến đổi vĩ mô và vi mô, để chỉ những tầm mức biến đổi khác nhau trong đời sống xã hội

Các nhà nhân học và xã hội học khi xem xét đến sự phát triển xã hội, đã đưa ra một số lý thuyết nhằm lý giải nguyên nhân biến đổi xã hội và dự đoán những biến đổi sẽ diễn ra trong tương lai Một số cách tiếp cận chủ yếu về biến đổi xã hội thường được xem xét đến là:

- Cách tiếp cận chu kỳ: trong lịch sử, sự hiểu biết về chu kỳ của những

biến đổi xã hội đã ăn sâu vào nhận thức của con người Nhân loại hiểu rằng, lịch sử được lặp lại mãi trong những chu kỳ không bao giờ kết thúc Các nhà khoa học và sử học trước đây nhìn chung đều phản đối những tư tưởng này Mặc dù họ đều cho rằng mọi xã hội đều có chu kỳ sống của nó, và mỗi xã hội được sinh ra, trưởng thành rồi sau đó biến mất

- Các quan điểm tiến hóa: với hai mô hình kinh điển và quan điểm tiến

hóa mới Mô hình kinh điển được lấy từ sinh học, theo đó nhiều nhà xã hội học cũng tán thành với lý thuyết phổ biến được gọi là sự tiến hóa một chiều,

sự tiến hóa theo lộ trình dọc, chỉ tiến về phía trước chứ không lùi hoặc đi người về phía sau Và tất cả các hình thức sống, tất cả các xã hội đều tiến hóa từ những hình thức đơn giản đến phức tạp, hình thức sau sâu xa hơn hình thức trước Các lý thuyết về tiến hóa mới hiểu biết về các xã hội khác nhau tùy thuộc vào sự phức tạp của xã hội và qua thời gian một khuynh hướng chung đi đến sự khác biệt xã hội ( kinh tế, gia đình, tôn giáo, chính trị…) trở thành sự phân chia và khác biệt giữa các thành phần trong một xã hội tổng thể Không giống như các nghiên cứu lý thuyết tiến hóa ở thế kỷ XIX, các nhà lý thuyết tiến hóa mới không mô tả hình thức xã hội ở dạng tuyệt đối, cũng không khẳng định, các xã hội không thể tiến hóa tới một vài thực trạng cao hơn

Trang 22

- Quan điểm xung đột: học giả tiêu biểu là Karl Marx, cho rằng các xã

hội phải chuyển đổi để tồn tại và ông nhấn mạnh rằng, kinh tế phục vụ như là

sự thành lập cho trật tự xã hội Được xếp vào các nhà lý thuyết theo chủ nghĩa xung đột đối kháng, Marx đã triển khai một lý thuyết xung đột tiến hóa về sự biến đổi xã hội Dựa vào sự thay đổi liên tục trong kỹ thuật mà các xã hội tiến

từ đơn giản đến phức tạp Ở mỗi trạng thái, một xã hội tồn tại những điều kiện

tự hủy diệt, và những điều kiện này cuối cùng dẫn đến sự biến đổi và đưa xã hội vào trạng thái tiếp sau đó Karl Marx có cái nhìn về hiện đại hóa rất khác biệt với những nhà tư tưởng xã hội khác, bởi lẽ Marx giới thiệu tầm quan trọng của mâu thuẫn xã hội Marx cho rằng xã hội hiện đại đồng nghĩa với xã hội tư bản, một hệ thống kinh tế được sản sinh do đấu tranh giai cấp vào cuối thời kỳ trung cổ Giai cấp tư sản nắm giữ hệ thống tư liệu sản xuất mới do cuộc cách mạng công nghiệp đem lại và đã thành công trong việc thay thế giai cấp quý tộc Karl Marx cũng không phủ nhận sự hình thành tính hiện đại có liên quan đến sự suy tàn của cộng đồng có quy mô nhỏ, đến sự phân công lao động gia tăng và sự xuất hiện của xã hội duy lý Marx cho rằng cả ba yếu tố này đều cần thiết cho việc phát triển chủ nghĩa tư bản Chính chủ nghĩa tư bản

đã kéo theo những người nông dân từ nông thôn về các đô thị với hệ thống chính trị không ngừng phát triển Sự chuyên môn hóa là cơ sở cho sự vận hành các xí nghiệp; tính duy lý thể hiện rõ trong xã hội tư bản Ông cho rằng mâu thuẫn xã hội trong xã hội tư bản sẽ đem lại một cuộc cách mạng xã hội,

và rồi theo quy luật tiến hóa, xã hội này sẽ được thay thế bằng một xã hội mới công bằng hơn, nhân đạo hơn

- Quan điểm hiện đại về biến đổi xã hội: các nhà nhân học và xã hội

học ngày nay cho rằng, sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố ( cả yếu tố bên trong và bên ngoài) tạo nên sự biến đổi Mặc dù trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội nhất định, các yếu tố cụ thể đôi lúc có thể ảnh hưởng nhiều

Trang 23

hơn các yếu tố khác Những yếu tố được các nhà lý thuyết hiện đại quan tâm khi xem xét về biến đổi xã hội như: môi trường vật chất, kỹ thuật – công nghệ, dân số, giao lưu…Các lý thuyết hiện đại hóa, lý thuyết hệ thống thế giới, lý thuyết phụ thuộc là những hướng tiếp cận mới trong quan điểm về hiện đại và biến đổi xã hội, ở đó Các nhà khoa học đã đưa ra những cách lý giải đa diện hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, các thành tựu khoa học – công nghệ phát triển, thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Lần đầu tiên các nhà khoa học thừa nhận yếu tố phi vật chất, vô hình cũng có thể làm biến đổi mạnh mẽ các xã hội và nền văn hóa, như tư tưởng quản lí xã hội…Tính hiện đại là một thuật ngữ xuất hiện xuyên suốt trong quan điểm hiện đại về sự biến đổi Các nhà nhân học và xã hội học đều cho rằng, tư tưởng có thể giúp cho xã hội giữ nguyên trạng thái hoặc có thể kích thích sự biến đổi xã hội nếu các niềm tin và chuẩn mực xã hội không còn phù hợp với nhu cầu xã hội Văn hóa bị biến đổi là do các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội khác, cũng như nó phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên và sinh thái khác

Bản thân người viết cho rằng, biến đổi văn hóa chính là quá trình vận động, thay đổi liên tục của hệ thống các giá trị và chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, qua nhiều thế hệ Nội hàm của nó là những sự chia sẻ, biến đổi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử và niềm tin văn hóa Biến đổi văn hóa trong xã hội hiện đại hóa là những quá trình đa chiều, đa dạng phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể với sự chi phối của bối cảnh truyền thống

Trang 24

hội có lúc khá phân tán, chỉ được liên kết với nhau bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời trong thời gian nhất định chẳng hạn như: phong trào quần chúng, công chúng và đám đông Như vậy, có thể phân thành hai dạng cộng đồng dựa trên cấu trúc xã hội và tính chất liên kết xã hội:

- Dạng cộng đồng thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó có những đặc trưng được xác định như: tình cảm, ý thức và chuẩn mực xã hội Dạng cộng đồng này được gọi là cộng đồng tính

- Dạng cộng đồng mà được xác định là nhóm người cụ thể, những nhóm xã hội có liên kết với nhau ở nhiều quy mô khác nhau, kể từ đơn vị nhỏ nhất như gia đình cho đén các quốc gia và toàn thế giới Dạng cộng đồng này gọi là cộng đồng thể

Trang 25

Ở Việt Nam, làng, xã đã có từ lâu đời, có giá trị tốt đẹp của cộng đồng tính Sự phát triển của xã hội cùng với sự xuất hiện của đô thị hoá ngày càng tăng và cơ chế thị trường ngày càng ảnh hưởng rộng lớn, nên các giá trị của cộng đồng tính trong các làng, xã cũng ngày một giảm

Đoàn kết xã hội luôn được các nhà nghiên cứu cộng đồng coi là đặc tính hàng đầu của mỗi cộng đồng Đây là ý chí và tình cảm của những người cùng sống trong một địa vực có những mối liên hệ về mặt huyết thống hay quan hệ láng giềng Quá trình tổ chức đời sống xã hội bởi các thiết chế xã hội lại càng thống nhất ý chí, tình cảm của cộng đồng qua một số giá trị, chuẩn mực và biểu tượng riêng Đây cũng là mục tiêu mà các cộng đồng đều mong muốn tập hợp và duy trì

Các lệch chuẩn xã hội xuất hiện trong cộng đồng là do mất ý thức đoàn kết xã hội, đi kèm theo đó là sự mất ý thức và nhân cách cá nhân Ngược lại, khi các cá nhân đồng nhất với cộng đồng, hoà mình trong cộng đồng đã làm tăng tính đoàn kết xã hội đồng thời cũng làm tăng ý thức và nhân cách của cá nhân

Cộng đồng tồn tại được là do từng thành viên trong các nhóm thành viên của cộng đồng có tiếng nói thống nhất trong các hành động tập thể, khi không còn tâm thức chung thì cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn.Chẳng hạn, trong các làng, xã hiện đang tồn tại các nhóm thành viên(tổ chức xã hội) như: Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân… một khi các thành viên của nhóm

có cùng tiếng nói và ý chí thì sức mạnh của nhóm sẽ tăng lên, các nhóm thành viên đều hướng theo sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền ở địa phương thì sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng được củng cố và trở thành làng/xã mạnh

 Văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng

Theo GS TS khoa học Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn

hóa Việt Nam cái nhìn hệ thống – loại hình, văn hóa là một hệ thống phức

Trang 26

hợp bao gồm các thành tố: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội Trong đó văn hóa tổ chức cộng đồng chính là đối tượng mà phạm vi bài nghiên cứu này quan tâm

Tổ chức đời sống cộng đồng bao gồm những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, liên quan đến cuộc sống của cả cộng đồng, trong đó quan trọng nhất là ba lĩnh vực: tổ chức Quốc gia, tổ chức nông thôn và đô thị, mỗi lĩnh vực lại có những các nhìn nhận riêng Đó là bức tranh chung của bất kỳ nền văn hóa nào Sự khác biệt giữa các nền văn hóa không nằm ở số lượng các thành tố mà là ở mối quan hệ giữa chúng Với các nền văn hóa phương Tây đã chuyển từ du mục sang đô thị thì tổ chức đô thị hẳn phải giữ một vai trò quan trọng còn đối với một nền văn hóa gốc nông nghiệp điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn lại là lĩnh vực quan trọng nhất Nó chi phối cả truyền thống tổ chức quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người Nắm vững được những đặc thù của tổ chức nông thôn tức là nắm được chìa khóa trong việc tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam

Làng xã Việt Nam được tổ chức rất chặt chẽ đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau: tổ chức nông thôn theo huyết thống: gia đình và gia tộc; tổ chức theo địa bàn cư trú: xóm và làng; tổ chức theo nghề nghiệp và sở thích: phường và hội; tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: giáp; tổ chức nông thôn về mặt hành chính: thôn và xã

- Tổ chức nông thôn theo huyết thống: gia đình và gia tộc

Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là gia đình và đơn vị cấu thành là gia tộc (dòng họ) Gia tộc trở thành một cộng đồng gắn bó có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống người Việt Nam

Trang 27

Việt Nam là một nền văn hóa nông nghiệp điển hình, nơi gia đình hạt nhân không đủ đối phó với môi trường tự nhiên (và xã hội) nên cần đến vai trò của gia tộc cùng với nó là cộng đồng làng xã, quan trọng hơn nhiều so với gia đình hạt nhân

Các khái niệm thân thiết đối với mỗi người và mỗi gia đình Việt Nam như: chín đời (cửu tộc), trưởng họ (trưởng tộc), nhà thờ họ (từ đường), gia phả, giỗ họ, mừng thọ đều liên quan đến gia tộc chứ không phải gia đình

Sức mạnh của gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, yêu thương nhau Người trong họ có trách nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất, hỗ trợ nhau về mặt trí tuệ, tinh thần và dìu dắt nhau, làm chỗ dựa cho nhau về mặt chính trị

Quan hệ huyết thống là quan hệ theo lối hàng dọc, theo thời gian Nó là

cơ sở của tính tôn ty: người sinh ra trước là bậc trên, người sinh ra sau là bậc dưới Tính tôn ty dẫn đến mặt trái là tính gia trưởng Tổ chức nông thôn theo huyết thống đôi khi dẫn đến cực trái ngược của tính cộng đồng là tính tự trị

Tổ chức nông thôn theo huyết thống phát triển theo hướng ngày càng coi trọng vai trò của gia đình hạt nhân, nuôi dưỡng tính tư hữu

- Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú

Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau Sản phẩm của lối liên kết này là khái niệm làng và xóm Việc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú cũng chính là bước thứ hai trong lịch sử làng xã Việt Nam Khi công xã thị tộc tan rã và trở thành công xã nông thôn thì các thành viên trong làng không chỉ gắn bó với nhau bằng các quan hệ máu mủ mà còn gắn bó cả bằng những quan hệ sản xuất

Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú dựa trên quan hệ hàng ngang, theo không gian Nó là nguồn gốc của tính dân chủ, bởi lẽ muốn giúp

Trang 28

đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng, bình đẳng với nhau Đó

là loại hình dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc Trong lịch sử nền dân chủ nông nghiệp này có trước Lối sống du mục thường xuyên đi lại cần có sự cai quản chặt chẽ, có trên và dưới – đó là quân chủ, trên ra lệnh dưới phải tuân theo Ở Phương Tây thời kỳ Trung cổ và nền quân chủ hà khắc kéo dài, theo nguyên lý “dương cực sinh âm”, đã dẫn đến sự ra đời của xã hội tư sản với nền dân chủ tư sản như một sản phẩm tất yếu thay thế cho nền quân chủ

hà khắc đó

- Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: Phường và hội

Trong một làng phần lớn người dân đều làm nông nghiệp Tuy nhiên nhiều làng có những bộ phận dân cư sinh sống bằng nghề khác, những người này liên kết chặt chẽ với nhau khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một nguyên tắc tổ chức thứ ba là tổ chức những người cùng nghề nghiệp, tạo thành đơn vị gọi là phường

Bên cạnh phường để liên kết những người cùng nghề, ở nông thôn Việt Nam và mở rộng ra sau này là xã hội Việt Nam nói chung còn có Hội là những tổ chức nhằm liên kết những người có cùng sở thích, cùng thú vui, cùng đẳng cấp: Hội tư văn liên kết các quan văn cùng làng, hội văn phả liên kết các nhà nho trong làng không ra làm quan, hội võ phả liên kết những người theo nghề võ trong làng, Hội bô lão liên kết các cụ ông trong làng, hội chư bà liên kết các cụ bà cùng đi chùa trong làng, rồi hội vật, hội tổ tôm, hội chọi gà, hội cờ tướng…Phường và hội rất gần nhau, nhưng phường thì mang tính chất chuyên môn sâu hơn và bao giờ cũng giới hạn trong quy mô nhỏ Hiện nay tổ chức những người cùng nghề trong một phạm vi lớn gọi là “hội”

Cũng như các tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, tổ chức theo nghề nghiệp và sở thích là sự liên kết theo chiều ngang, cho nên đặc trưng của

Trang 29

phường hội là tính dân chủ - những người cùng phường hội có trách nhiệm tương trợ giúp đỡ lẫn nhau Chính các phường nghề của nông thôn này, như ta

đã thấy về sau được tổ chức thành tổ chức phường hội của đô thị

Bên cạnh các cách tổ chức nông thôn như đã trình bày ở phần trên còn

có tổ chức nông thôn theo truyền thống nam giới: giáp (nay không còn phổ biến) và tổ chức nông thôn về mặt hành chính: thôn và xã, đã trở thành mô hình chung cho các làng xã trên phạm vi cả nước Chính vì vậy trong phạm vi của đề tài nghiên cứu sẽ chỉ tập trung tìm hiểu sự biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng làng nghề Phú Yên Cụ thể là những biến đổi trong tổ chức gia đình, dòng họ và phường hội của làng nghề này

 Nhận định chung về xu hướng biến đổi văn hóa tổ chức đời sống

cộng đồng hiện nay

Biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng được xem là sự vận động, thay đổi những vấn đề vĩ mô liên quan đến cuộc sống của cả cộng đồng – những người sống trong một khu vực địa lí xác định, có mối liên hệ với nhau về mặt tâm lí – xã hội và với nơi họ sống Cụ thể là những biến đổi

tổ chức gia đình, dòng họ và phường nghề (đối với làng quê có nghề thủ công truyền thống)

Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, các giá trị cơ bản của văn hóa làng xã Việt Nam nói chung, văn hóa làng nghề nói riêng như gia đình, dòng

họ, tổ chức phường hội đang có nhiều biến động

Nhiều quan niệm cho rằng, cuộc sống gia đình với sự lo toan cơm áo gạo tiền làm tiêu hao nhiều thời gian, sức lực; các chuẩn mực gia đình gò bó, cản trở tự do cá nhân, từ đó hạ thấp, thậm chí phủ định hoàn toàn vai trò của gia đình Với dòng họ, tư tưởng “gia trưởng, ngôi thứ”, sự ganh đua, hiện tượng cục bộ, bè phái cũng góp phần tạo ra những quan niệm tiêu cực, làm giảm bớt vai trò của dòng họ

Trang 30

Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước không ít các làng nghề đã và đang phải đứng trước nguy cơ mai một, biến đổi thậm chí mất nghề truyền thống Sự mở rộng hoặc chuyển đổi mô hình sản xuất cũng đem đến nhiều hệ quả xấu cho đời sống của cư dân làng nghề

Tuy nhiên đa số người dân sống trong các làng xã cũng như các nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng ở nông thôn vẫn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống hiện nay Và dù có chịu tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhưng những giá trị ấy chỉ biến đổi để phù hợp với điều kiện sống hiện tại chứ không hề mất đi Về cơ bản, trong cách tổ chức đời sống cộng đồng tại các làng quê vẫn giữ được những giá trị truyền thống cơ bản nhất Xưa kia cả gia đình, dòng họ và phường hội đều đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố, duy trì các mối quan hệ cơ bản của làng xã Việt Đó được xem là nơi để con người ta cộng mệnh và cộng cảm với nhau, tạo nên đặc trưng là tính cộng đồng xuyên suốt trong lịch sử xã hội nông thôn Việt Nam

1.1.2 Cấu trúc, dạng thức và nguyên nhân biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng

Sự phát triển và biến đổi là quy luật của bất kỳ sự vật – hiện tượng nào Văn hóa cũng không nằm ngoài quy luật chung đó, quá trình này trong thuật ngữ chuyên ngành gọi là “tiếp biến văn hóa” Trong quá trình tiếp biến văn hóa, có những nền văn hóa đã thanh lọc để giữ lại được bản sắc văn hóa, đồng thời tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa khác để làm phong phú thêm nền văn hóa của dân tộc mình, tạo nên tính đa dạng văn hóa Nhưng cũng chính trong quá trình thanh lọc ấy, những yếu tố lạc hậu, phong tục tập quán lỗi thời không dễ gì bị loại bỏ, và đồng thời là sự du nhập của các yếu tố “phản văn hóa” đã làm cản trở và ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc

Trang 31

Bàn về nguyên nhân biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa trong cuốn Cơ

sở văn hóa Việt Nam, GS Trần Quốc Vượng ( chủ biên) nhấn mạnh, một nét

nổi trội vượt lên không thể nào được quên lãng của văn hóa Việt Nam đó là

sự đan xen ( hỗn dung, tiếp biến) đó là sự giao thoa văn hóa Một trong những đặc trưng của văn hóa Việt Nam là tính phong phú đa dạng trong một chỉnh thể văn hóa thống nhất nền tảng là truyền thống Việt Văn hóa Việt Nam có nhiều yếu tố nội sinh, từ bốn phương trời Đông Á, Nam Á, Thái Bình Dương Nam đảo, Âu Tây gửi đến và dần dà được hội nhập vào văn hóa Việt Nam Văn hóa Việt Nam từ thời tiền sử cho tới giai đoạn công nghiệp hiện đại đã trải qua nhiều biến đổi, song sắc thái đặc thù của văn hóa Việt Nam là sự hỗn dung văn hóa

Những biến đổi văn hóa ấy mà đúng hơn là sự ứng biến (thích ứng và biến đổi) của văn hóa Việt Nam thể hiện rất rõ tâm thức Việt – sự khoan hòa Hay bản lĩnh văn hóa Việt Nam, theo J Feray, là sự “không chối từ” về văn hóa trong việc hấp thụ các yêu tố ngoại sinh

Những biến đổi văn hóa từng thời kỳ, từng giai đoạn dù mang những tốc độ, sắc thái khác nhau thì vẫn có một mặt bằng văn hóa chung cho mọi thời đại của văn hóa – văn minh Đó là Nông dân – Nông nghiệp và xóm làng

Xét trên phương diện biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng tại làng nghề giày da Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội Người viết cho rằng, chính sự chuyển đổi trong đời sống kinh tế, xã hội chung của cả nước, với các chính sách đổi mới, mở cửa, đa dạng hóa các hình thức phát triển kinh tế - xã hội… là tiền đề trực tiếp dẫn tới mọi sự biến đổi trong đời sống văn hóa của người dân nơi đây

Thời kỳ Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn mới, đặc biệt là thành phần thủ công nghiệp (đối với các làng nghề truyền thống) Nhà nước tích cực triển khai các

Trang 32

chương trình khuyến công với việc hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, trình độ tay nghề,

từ đó làm tăng năng suất lao động và trình độ cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường Các chương trình này đồng thời cũng làm thay đổi cơ sở

hạ tầng nông thôn nói chung, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu, buôn bán giữa làng nghề với các địa phương lân cận

Bên cạnh đó, các tiến bộ của khoa học, kỹ thuật cũng là một trong những động lực chính của sự phát triển, việc ứng dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và đời sống đã giúp con người làm chủ được mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh Từ đó nâng cao năng suất sản phẩm và góp phần quan trọng cải thiện đời sống con người Những sản phẩm giải trí như: đài, tivi, sách báo, internet… thậm chí là các dịch vụ giải trí cộng đồng như karaoke, cà phê âm nhạc cũng được hình thành từ đó

Bước vào thời kỳ hội nhập, người dân thuộc nhiều cộng đồng khác nhau có điều kiện giao lưu, học hỏi lẫn nhau Không những chỉ dựa trên lĩnh vực kinh tế mà còn là văn hóa Điều này là một trong những nguyên nhân góp phần tạo ra những thay đổi trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng

Xét trên phương diện chủ quan, cần nhấn mạnh tới yếu tố bản lĩnh văn

hóa cộng đồng, tộc người Bản lĩnh văn hóa của một nền văn hóa là tổng hợp

toàn bộ những nhân tố thể hiện cốt cách, khí phách, tư chất và sức mạnh khẳng định bản lĩnh dân tộc trước tác động của nền văn hóa khác trong giao lưu, hội nhập Như vậy, bản lĩnh văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy sức mạnh văn hóa của cộng đồng, dân tộc Đây cũng là một trong những nhân

tố quan trọng góp phần bảo lưu các giá trị văn hóa của cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và phát triển

Ngoài chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, việc nâng cao trình độ dân trí cũng góp phần thay đổi nhận thức của người dân để có thể tiếp nhận nhanh chóng các tri thức khoa học – kỹ thuật áp dụng vào sản xuất cũng như việc tiếp nhận các nhân tố văn hóa mới

Trang 33

Rõ ràng, sự chuyển đổi trong lĩnh vực kinh tế dù đi theo chiều hướng nào chăng nữa vẫn kéo theo sự biến đổi mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có văn hóa Cụ thể, đối với văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, mặc dù được xây dựng dựa trên nền tảng truyền thống văn hóa, tâm lí, tính cách của từng cộng đồng, tương đối ổn định song lại luôn có nguy cơ bị biến đổi trước những thay đổi thay của thời đại

Sự phát triển kinh tế xã hội những năm gần đây được gắn với sự hình thành một cách đối lập hai trường phái quan điểm: thứ nhất, nhấn mạnh sự hội nhập của những giá trị như là kết quả của hiện đại hóa, sự vượt trội của các động lực kinh tế - chính trị đã khiến cho văn hóa biến đổi Vì thế có thể định đoán được trước được sự suy tàn của những giá trị truyền thống và sự thay thế của những giá trị hiện đại Thứ hai, nhấn mạnh sự bền bỉ của những giá trị truyền thống bất chấp sự biến đổi kinh tế, chính trị, những giá trị này tương đối độc lập với sự phát triển kinh tế Vì thế có thể tiên đoán được rằng sự hội

tụ của một số tập hợp những giá trị hiện đại là không chắc chắn và các giá trị truyền thống sẽ tiếp tục đưa đến sự ảnh hưởng độc lập đến sự biến đổi văn hóa có nguyên nhân từ sự phát triển kinh tế

Văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng ở các làng quê hiện nay biến đổi theo hướng tăng dần tính độc lập, tự chủ của thành phần kinh tế hộ gia đình,

cá thể Yếu tố tự do cá nhân được coi trọng hơn Song hệ quả của nó là sự suy giảm các quan hệ kinh tế cộng đồng như dòng họ, phường nghề…Sự suy giảm chức năng kinh tế kéo theo sự biến đổi hình thức liên kết trong cộng đồng theo hướng coi trọng mối quan hệ thân tộc, tình làng nghĩa xóm dựa trên tình cảm tự nhiên, không phụ thuộc nhiều vào liên kết kinh tế Có thể nói đây

là một dấu hiệu tốt góp phần tích cực vào việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa cộng đồng hiện nay, bởi khi sự bền vững của quan hệ cộng đồng

Trang 34

được duy trì bởi mối liên kết tình cảm tự thân thì sức mạnh nội sinh của cộng đồng đó sẽ tăng lên gấp bội

1.2 TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI

1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Dọc theo quốc lộ số 1 vào Nam, đến Cầu Giẽ nổi tiếng về một vùng chiến sự ác liệt thời đánh Mỹ, vào làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ ta sẽ đi qua một con đường dài chừng trên 1 km, hai bên dãy nhà cao tầng mọc lên san sát thành đường phố với những cửa hàng vừa sản xuất, vừa bày bán giày da các loại của làng nghề Phú Yên, trông thật sầm uất chẳng khác chốn thị thành

Đây chính là làng nghề truyền thống da giày Phú Yên, thuộc huyện Phú

Xuyên, thành phố Hà Nội

Xã Phú Yên có diện tích 4.33 km2, nằm bên dòng sông Nhuệ, trước đây vốn là một xã thuần nông nghiệp, chiêm trũng, có cốt đất thấp so với một

số xã lân cận nên về mùa mưa bão hay bị ngập úng, lụt lội

Vị trí tiếp giáp của xã như sau: phía Bắc giáp xã Vân Từ, phía Tây giáp các xã Kim Đường, Minh Đức – huyện Ứng Hòa, phía Nam giáp sông Nhuệ, phía Đông giáp đường quốc lộ 1A và cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình

Phú Yên có hệ thống giao thông thuận lợi, có tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua, hơn nữa lại nằm ở điểm đầu tuyến Cầu Giẽ - Ninh Bình, đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

1.2.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội

 Điều kiện kinh tế

Xã có bốn thôn là: Giẽ Thượng, Giẽ Hạ, Thủy Phú và Thượng Yên Trong

đó hai thôn Giẽ Thượng và Giẽ hạ phát triển mạnh nghề làm da giày, thôn Thủy Phú đang phát triển, trong khi đó Thượng Yên lại chú trọng nghề chăn nuôi gia cầm (vị trí gần với xã chuyên cung ứng giống gia cầm Đại Xuyên)

Trang 35

- Về sản xuất nông nghiệp

Phú Yên là một xã thuộc vùng chiêm trũng, những năm gần đây thời

tiết có nhiều biến động phức tạp, thời vụ gieo mạ hay gặp rét đậm, lượng mưa

ít, nguồn nước đầu nguồn lại khan hiếm, nước đen ô nhiễm gây rất nhiều khó

khăn cho công tác đổ ải, làm mạ, tưới dưỡng lúa…Vào vụ mùa thời tiết nắng

nóng, lượng mưa không đều, mưa to trong thời gian ngắn, do vậy thường gây

úng cục bộ ở một số ruộng sâu trũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng của cây lúa

Hệ thống thủy lợi từ xã xuống cơ sở, nguồn kinh phí đầu tư nạo vét và

nâng cấp hàng năm còn hạn chế do vậy ảnh hưởng rất lớn đến phục vụ sản

xuất nông nghiệp Đặc biệt là khu vực gieo mạ thuộc các đội sản xuất quản lý

Những năm gần đây, giá cả vật tư cho sản xuất nông nghiệp tăng cao không ổn định, giá lương thực giảm mạnh Bên cạnh đó dịch bệnh thường

xuyên phát sinh gây ra tâm lý chán cấy ruộng đối với một bộ phận không nhỏ

vẫn giữ mức 665 mẫu nhưng sản lượng lúa lại không ngừng giảm mạnh Có

thể nói, ngoài những nguyên nhân do vấn đề thời tiết và dịch bệnh mang lại

thì một bộ phận lớn nông dân trong xã đã không còn hứng thú với việc cấy

ruộng nữa mà chỉ tập trung vào làm nghề da giày Theo báo cáo của UBND

Trang 36

xã Phú Yên về kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ năm 2011 chỉ có 3/5 đội sản xuất trồng cây vụ đông (220/665 mẫu) Năm 2012, sản xuất vụ đông của các thôn cũng không đạt chỉ tiêu huyện giao

Không muốn cấy ruộng nhưng do tâm lý sợ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp nên đa số các hộ trong làng đều mang ruộng cho người khác thuê

và không lấy sản lượng hoặc tới vụ thì thuê thợ về làm ( giá thuê nhân công giao động từ 150.000 – 200.000 VNĐ/người/ngày) Đối với những hộ cho thuê đất sản xuất nông nghiệp thì ngoài việc cho người khác thuê ruộng không lấy sản lượng các hộ còn phải cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu và đóng góp toàn bộ thuế nông nghiệp cho người được thuê ruộng Nghe qua có

vẻ rất vô lý nhưng theo tâm sự của những người dân nơi đây thì: “ruộng cấy

lúa bây giờ cho không cũng chẳng ai muốn nhận”

- Về sản xuất công nghiệp – thủ công nghiệp

( Đơn vị: tỷ đồng) Năm Tổng thu nhập đạt

- Về chăn nuôi và ấp nở gia cầm

Theo Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội ANQP năm

2012, toàn xã có 98 hộ chăn nuôi và ấp nở gia cầm (khoảng 12.500 con), 44

Trang 37

hộ chăn nuôi lợn (540 con); 5 hộ nuôi bò (21 con) Thu nhập của các hộ chăn nuôi và ấp nở ước đạt khoảng 25 tỷ đồng

 Điều kiện văn hóa - xã hội

Xã Phú Yên có diện tích 4.33m2, dân số năm 1999 là 4129 người, mật

độ dân số đạt 954 người/km2

- Về giáo dục và đào tạo

Thường xuyên nhận được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và nhân dân nên chất lượng giáo dục ở cả ba cấp học được nâng lên đáng kể, kết quả thi lên lớp và tốt nghiệp năm 2011 – 2012 của các trường đạt kết quả cao

Những năm gần đây hệ thống cơ sở vật chất và thiết bị trường học trong xã không ngừng được sửa sang và bổ sung xây mới (phòng học, phòng học chức năng, khu vệ sinh đạt chuẩn…) Nguồn vốn dành cho các hạng mục công trình này chủ yếu do nguồn xã hội hóa tại địa phương và một phần kinh phí do Nhà nước cấp

Con em của các hộ trong xã chủ yếu học tại hai trường cấp ba của huyện Phú Xuyên là THPT Phú Xuyên A và THPT Phú Xuyên B

- Về công tác văn hóa – thể dục thể thao

Năm 2012 đẩy mạnh công cuộc xây dựng nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, làng văn hóa, toàn xã có 1153 hộ đăng ký xét danh hiệu gia đình văn hóa, trong đó xã duyệt 1033 hộ, đạt 89% Nhận được sự chỉ đạo của UBND

xã, tất cả các thôn đều chú trọng bổ sung, chỉnh sửa quy ước thôn để phù hợp với tình hình mới

Hoạt động thể dục thể thao của xã cũng diễn ra rất thường xuyên và sôi nổi, đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Năm 2012, xã tham dự giải cầu lông do huyện tổ chức và đạt giải nhất lứa tuổi trên 40, tham gia giải chạy việt

Trang 38

dã do báo Hà Nội mới tổ chức tại xã gồm 120 vân động viên và học sinh THCS Bốn thôn trong xã thường xuyên duy trì hoạt động tổ chức giải bóng

đá trong dịp Tết cổ truyền và các ngày lễ lớn của dân tộc

Có thể nói thông qua hệ thống Đài phát thanh xã cũng như hệ thống các

pa nô tuyên truyền mọi chủ trương chính sách của Đảng đều được người dân cập nhật và hưởng ứng nhiệt tình

Hưởng ứng chính sách xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước, ban chỉ đạo xã đã triển khai kế hoạch cho các thôn, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân Cụ thể, tính đến năm 2012 nhân dân trong

xã đã xây dựng được nhiều đoạn đường tự quản, tu sửa lại hệ thống cống rãnh, xây dựng nhà vệ sinh Thôn Thủy Phú đã xây dựng được 1.200 m đường bê tông nội đồng trị giá 500.000.000 Đồng, thôn Giẽ Hạ xây dựng được nhà truyền thống Giày da với tổng kinh phí 400.000.000 đồng, UBND

xã tu sửa chợ Giẽ, san nền nghĩa trang nhân dân, sắm sửa và tu bổ nhiều công trình tại trụ sở UBND xã…

- Về vấn đề môi trường

Phú Yên là một làng nghề đang trên đà phát triển mạnh mẽ chính vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý rác thải ở nơi đây rất được người dân và các cấp chính quyền quan tâm Cụ thể, tất cả các thôn trong xã đều đã lập đội thu gom rác thải, riêng thôn Giẽ Thượng và Giẽ Hạ - nơi tập trung phát triển làng nghề mạnh nhất toàn xã đã được công ty môi trường vận chuyển rác đi nơi khác xử lý

- Về dân số và y tế

Trạm y tế xã thường xuyên tổ chức các đợt khám chữa bệnh, chiến dịch chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ nhỏ Năm 2012, kết hợp với hội chữ Thập đỏ, trạm y tế xã đã mời bác sỹ Hàn

Trang 39

Quốc về khám chữa bệnh miễn phí cho 310 đối tượng chính sách và hộ nghèo Do thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình nên nhìn chung tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã tương đối nhỏ, số cặp vợ chồng trong

xã sinh con thứ ba hàng năm khoảng 6 – 8 ca (số liệu năm 2010 và 2012)

TIỂU KẾT

Sự phát triển mạnh mẽ của nghề thủ công truyền thống trong khoảng 20 năm trở lại đây đã thổi một luồng gió hoàn toàn mới tới cuộc sống của những người dân Phú Yên nghèo khó ngày nào Cùng với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề, Phú Yên đã và đang có những thời cơ lớn trong tiến trình khôi phục sự hưng thịnh của làng nghề Đồng thời, tiến trình này cũng làm nảy sinh các vấn đề văn hóa – xã hội mà bản thân cộng đồng làng nghề đang phải đối mặt

Phú Yên là một trong những làng nghề có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn nhất huyện Phú Xuyên – Hà Nội Hàng năm các cơ sở sản xuất tại làng nghề đã tạo ra một lượng hàng hóa lớn, đóng góp quan trọng vào cơ cấu GDP của huyện Đời sống nhân dân không ngừng được nâng lên, cơ cấu kinh tế xã đang chuyển dịch theo hướng tăng mạnh thành phần kinh tế phi nông nghiệp Chính trên nền tảng kinh tế này, sự phát triển văn hóa, mà cụ thể là văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng làng nghề đã và đang đứng trước những cơ hội và thử thách mới, đòi hỏi phải có đầu tư, nghiên cứu quá trình biến đổi và phát triển này

Trang 40

Chương 2:

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG LÀNG NGHỀ GIÀY DA PHÚ YÊN, HUYỆN PHÚ XUYÊN, HÀ NỘI

2.1 BIẾN ĐỔI TRONG GIA ĐÌNH

Cùng với sự phát triển của xã hội, gia đình Việt Nam đang phải chịu những tác động mạnh từ bên ngoài Những giá trị của gia đình truyền thống vì thế ngày càng có nguy cơ bị biến đổi, thay thế Cùng nằm trong guồng quay của sự biến đổi đó, khoảng 10 năm trở lại đây, cách thức tổ chức cũng như mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tại làng nghề da giày Phú Yên đang có sự thay đổi rõ rệt

2.1.1 Biến đổi kinh tế gia đình

Về mặt kinh tế, từ chỗ chỉ có chức năng tiêu thụ dưới thời hợp tác xã bao cấp, khi đổi mới, gia đình trở thành một đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh nên ngành nghề phát triển, mức sống cao hơn, điều kiện sống được cải thiện

Khoảng 20 năm trở lại đây, diện mạo của Phú Yên đã từng bước thay đổi, ngôi làng thuần nông nghèo khó chỉ toàn nhà tranh vách đất ngày nào nay

đã trở thành những dãy phố nghề sầm uất chẳng khác nào chốn thị thành Những ngôi nhà cao tầng, biệt thự mọc lên như nấm, nhất là vào khoảng những năm đầu thế kỷ 21 Ngày nay, Phú Yên không chỉ là một làng thủ công chuyên về sản xuất, mà còn là làng trưng bày, giới thiệu sản phẩm kết hợp với kinh doanh và du lịch Quy hoạch không gian thay đổi theo hướng các xóm mới có kiến trúc đô thị hiện đại để tận dụng lợi thế mặt tiền Những ngôi nhà

cổ rêu phong chỉ còn tồn tại trong các ngõ xóm nhỏ thuộc diện bảo tồn

Nếu như các làng quê thuần nông khác thường chia dân cư thành các đội sản xuất thì ở Phú Yên cách chia theo số nhà, ngõ xóm lại được sử dụng

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w