1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập Giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thực hiện các loại hợp đồng

19 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 86,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ưu điểm là dễ thực hiện, vừa bảo đảm cho giao kết vừa có thể bảo đảm cho thực hiện hợp đồng và vừa có chức năng thanh toán, biện pháp đặt cọc được sử dụng khá phổ biến trong các giao

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN

TÊN CHUYÊN ĐỀ: TRANH CHẤP TRONG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRÁNH CHẤP PHÁT SINH

TRONG THỰC HIỆN CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG

THUỘC BỘ MÔN: LUẬT DÂN SỰ NGƯỜI HƯỚNG DẪN THỰC TẬP:

PHÓ GIÁM ĐỐC CÔNG TY ĐOÀN VĂN TUÂN

CƠ SỞ THỰC TẬP:

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH PHƯƠNG ĐÔNG

NĂM 2019

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLDS: Bộ luật dân sự

TAND: Tòa án nhân dân

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái quát chung về đặt cọc 2

1.1 Khái niệm đặt cọc 2

1.2 Đặc điểm của Hợp đồng đặt cọc 3

1.2.1 Chủ thể của Hợp đồng đặt cọc 3

1.2.2 Đối tượng của Hợp đồng đặt cọc 4

1.2.3 Mục đích của Hợp đồng đặt cọc 6

1.2.4 Hình thức của Hợp đồng đặt cọc 6

1.2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong Hợp đồng đặt cọc 8

1.2.6 Xử lý tài sản đặt cọc 10

2 Thực tiễn ký kết hợp đồng đặt cọc và giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc 11

2.1 Khái quát về Công ty Luật Hợp danh Phương Đông 11

2.2 Thực tiễn ký kết thực hiện hợp đồng đặt cọc và giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc tại Công ty Luật Hợp danh Phương Đông 12

3 Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật nhằm giảm thiểu tranh chấp liên quan tới Hợp đồng đặt cọc 13

KẾT THÚC 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

MỞ ĐẦU

Khi các giao lưu dân sự ngày càng trở nên đa dạng, phong phú, sôi động thì việc tham gia vào các giao dịch dân sự trở thành nhu cầu tất yếu, tự nhiên của các chủ thể trong xã hội Khi giao dịch dân sự không ngừng được mở rộng về quy mô, số lượng với các chủ thể khác nhau, trên những địa điểm khác nhau, đối tượng giao dịch khác nhau thì cơ sở lòng tin vào sự tự giác thực hiện các nghĩa vụ của các chủ thể phát sinh từ giao dịch là chưa đủ Các chủ thể bắt đầu quan tâm hơn đến các biện pháp khác nhau, quan tâm tới hành lang pháp lý để bảo đảm quyền chủ động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình trong các giao dịch dân sự Vấn đề đặt ra là cần có những cơ chế để định hướng xử sự của các chủ thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch dân sự, hướng tới việc không chỉ ổn định mà còn khuyến khích các giao dịch dân sự ngày càng phát triển Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân

sự được áp dụng vô cùng phổ biến, có ý nghĩa to lớn đối với việc xác lập và thực hiện các nghĩa phát sinh từ các giao dịch dân sự

Pháp luật dân sự hiện hành quy định chín biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ trong đó có đặt cọc Với ưu điểm là dễ thực hiện, vừa bảo đảm cho giao kết vừa có thể bảo đảm cho thực hiện hợp đồng và vừa có chức năng thanh toán, biện pháp đặt cọc được sử dụng khá phổ biến trong các giao dịch dân sự đặc biệt là đảm bảo cho hoạt động giao kết hợp đồng Những quy định về đặt cọc hiện hành chưa phản ánh hết bản chất pháp lý của của giao dịch này, nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến thời điểm

có hiệu lực, điều kiện có hiệu lực, tài sản đặt cọc, về quyền và nghĩa vụ của các bên,

xử lý tài sản đặt cọc khi hợp đồng được giao kết, thực hiện hoặc khi hợp đồng không được giao kết, thực hiện… chưa được quy định Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi xin

chọn đề tài: “Ký kết thực hiện hợp đồng đặt cọc và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc.” làm nội dung báo cáo thực tập của mình tại Công ty Luật hợp danh

Phương Đông

Trang 5

NỘI DUNG

1 Khái quát chung về đặt cọc

1.1 Khái niệm đặt cọc

Theo quy định tại Điều 328 BLDS 2015, Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi

là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác

Theo đó, đặt cọc nhằm mục đích đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hơp đồng nếu một trong hai bên không thực hiện giao kết thì sẽ mất số tiền tương đương với số tiền cọc hoặc số tiền theo thỏa thuận của hai bên

Việc đặt cọc phải được thành lập văn bản thay vì giao kết bằng lời nói là bởi việc giao kết bằng lời nói như những giao dịch đơn giản, thông thường khác sẽ gây khó khăn trong việc chứng minh có giao dịch đó và có vi phạm Do đó, cần có một chứng cứ pháp lý chắc chắn để giải quyết tranh chấp thì hình thức của giao dịch bằng văn bản là hữu hiệu Khoảng thời gian từ khi đặt cọc cho đến khi giao kết đến thực hiện hợp đồng là một khoảng thời gian dài, sẽ là bất lợi cho bên đặt cọc nếu bên nhận đặt cọc có hành vi lừa dối chiểm đoạt tài sản đặt cọc

Đặt cọc là một giao dịch dân sự đặc biệt Đặt cọc không thể tồn tại hoàn toàn độc lập như những hợp đồng dân sự thông thường mà nó luôn được ra đời đi kèm với một hợp đồng có nghĩa vụ chính khác để bảo đảm cho việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng chính thức đó Điểm đặc biệt của đặt cọc là ở chỗ, mặc dù ra đời để bảo đảm cho việc giao kết hoặc thực hiện của một hợp đồng chính thức nhưng đặt cọc có tính độc lập tương đối của nó Nếu các bên cùng thiết lập biện pháp đặt cọc nhằm mục đích giao kết hợp đồng thì đặt cọc được hình thành trước khi có hợp đồng chính, khi hợp đồng này được hình thành thì biện pháp đặt cọc tự mất đi hiệu lực của nó Nếu các bên cùng thiết lập biện pháp đặt cọc nhằm mục đích thực hiện hợp đồng thì đặt cọc ra đời

Trang 6

cùng với sự ra đời của hợp đồng chính thức giữa hai bên và chấm dứt khi hợp đồng được thực hiện xong

1.2 Đặc điểm của Hợp đồng đặt cọc

Là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, quan hệ đặt cọc cũng có những đặc điểm chung của giao dịch bảo đảm như: mang tính chất bổ sung cho quan hệ nghĩa vụ chính; được pháp luật qui định cụ thể về trình tự, thử tục, cách thức, nội dụng và đối tượng của quan hệ (NĐ 163/2006 NĐ – CP và NĐ 11/2012

NĐ – CP); nhằm nâng cao trách nhiệm của bên có nghĩa vụ; có đối tượng phổ biến là tài sản; chỉ thực hiện các biện pháp xử lí lợi ích vật chất khi có sự vi phạm về nghĩa vụ trong quan hệ chính; được giao kết trên sự cơ sở là sự thỏa thuận của các bên Nhưng bên cạnh đó, hợp đồng đặt cọc còn có những đặc điểm pháp lí mang tính đặc trưng giúp cho các chủ thể có thể tối ưu hóa các đặc điểm của nó để tham gia các giao dịch như:

1.2.1 Chủ thể của Hợp đồng đặt cọc

Đặt cọc được hình thành theo sự thỏa thuận của các bên khi các bên hướng tới việc sẽ xác lập một hợp đồng (thỏa thuận đặt cọc được hình thành trước khi hợp đồng được giao kết) hoặc khi các bên hướng đến việc đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ trong một hợp đồng đã được xác lập Theo đó, một bên sẽ giao tài sản cho bên kia, cụ thể là

sẽ giao tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (gọi là tài sản đặt cọc) để đảm bảo cho việc giao kết hoặc đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng, một bên nhận tài sản do bên kia giao Quan hệ đặt cọc gồm hai bên chủ thể:

- Bên đặt cọc: là bên đã giao cho bên kia một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác để đảm bảo cho việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự

- Bên nhận đặt cọc: là bên nhận tài sản do bên đặt cọc giao để bảo đảm việc giao kết hợp đồng hoặc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng dân sự

Không phải bất cứ chủ thể nào cũng có thể trở thành chủ thể của đặt cọc nói riêng và của các giao dịch dân sự nói chung mà phải đáp ứng được những điều kiện nhất định do pháp luật quy định Về điều kiện của các bên chủ thể trong đặt cọc: Trước hết, có thể thấy rằng đặt cọc cũng là một quan hệ pháp luật vì vậy chủ thể của đặt cọc mang những đặc điểm của chủ thể trong một quan hệ pháp luật nói chung Điều kiện chung nhất mà pháp luật quy định đối với chủ thể của bất kì quan hệ pháp luật nào cũng phải đáp ứng được đó là các điều kiện theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015:

Trang 7

Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện… Đặt cọc là kết quả của sự thỏa thuận của các bên mà không thể xuất phát từ hành vi pháp đơn phương nên chủ thể đặt cọc bao giờ cũng phải có hai bên: bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc Tùy vào sự thỏa thuận của các bên mà mỗi bên có thể là bên đặt cọc hoặc bên nhận đặt cọc Nhưng thông thường thì bên nào nắm giữ phần tài sản có sẵn thì sẽ trở thành bên nhận đặt cọc Ví dụ, trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản, bên đặt cọc thông thường là bên mua, bên nhận cọc là bên có bất động sản Cũng có trường hợp bên đặt cọc là bên có sẵn tài sản, bên nhận đặt cọc là bên mua, tùy theo sự thỏa thuận của các bên

1.2.2 Đối tượng của Hợp đồng đặt cọc

Điều 105 BLDS 2015 quy định:

“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

BLDS 2015 đã quy định rõ hơn về tài sản theo đó khẳng định tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản BLDS 2015 còn xác định thêm khái niệm tài sản căn cứ vào đặc tính có thể di dời hay không, theo đó tài sản bao gồm: động sản và bất động sản

Theo quy định tại Điều 328 BLDS 2015 thì đối tượng của đặt cọc là tiền hoặc vật (kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác) chứ không phải tài sản nào cũng

có thể sử dụng để đặt cọc Quyền tài sản và giấy tờ có giá không được BLDS 2015 quy định là tài sản dùng để đặt cọc Như vậy, các tài sản như quyền tài sản, bất động sản không trở thành đối tượng của đặt cọc Những tài sản có giá trị khác có thể kể đến là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu như ô tô, mô tô, tàu bay, tàu biển… và đây cũng là những tài sản có giá trị lớn nên khi dùng để đặt cọc cần thiết phải bằng văn bản có công chứng, chứng thực của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc phải được đăng ký giao dịch bảo đảm nếu các đối tượng bảo đảm bắt buộc phải được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật

Đối tượng của đặt cọc có hai chức năng: chức năng bảo đảm và chức năng thanh toán Chức năng của biện pháp bảo đảm cũng là một yếu tố tác động đến đặc điểm của đối tượng bảo đảm Tài sản đặt cọc thường có giá trị thanh toán cao bởi

Trang 8

ngoài chức năng bảo đảm như các đối tượng của biện pháp bảo đảm khác, đối tượng của đặt cọc có thêm chức năng thanh toán Đối với chức năng bảo đảm, đối tượng của đặt cọc mang ý nghĩa bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng Khi mục đích của đặt cọc không đạt được thì chức năng bảo đảm của đặt cọc là khấu trừ trọn vẹn nghĩa vụ Ngoài ra, đối tượng của đặt cọc còn mang chức năng thanh toán Khi các bên giao kết hoặc thực hiện hợp đồng thì các nội dung sẽ được thực hiện theo thỏa thuận của các bên, đối tượng của đặt cọc có thể trở thành khoản thanh toán trước cho một phần của nghĩa vụ

Để trở thành đối tượng của biện pháp đặt cọc, các tài sản đặt cọc phải đáp ứng điều kiện nhất định

Thứ nhất: Nếu đối tượng của đặt cọc là tiền:

Hiểu theo nghĩa rộng, tiền là vật ngang giá chung trong giao lưu dân sự, bao gồm cả nội tệ, ngoại tệ Tuy nhiên, về nguyên tắc, tiền là đối tượng của đặt cọc phải là đồng Việt Nam Tiền là đối tượng của đặt cọc không thể là ngoại tệ Theo quy định tại Điều 22, Pháp lệnh ngoại hối 2005 (đã được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh

sửa đổi Pháp lệnh ngoại hối năm 2013): “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận

và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.” Tuy nhiên, trên thực tế có không ít các trường hợp tiền đặt cọc là

ngoại tệ mạnh như USD, EURO…Việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu hay không khi có đối tượng là ngoại tệ còn nhiều quan điểm khác nhau Không ít trường hợp có vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào các yếu tố khác Điều này được Thông tư 32/2013/TT-NHNN ngày 26/12/2013 về hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam hướng dẫn cụ thể Theo đó, ngoài các trường hợp được sử dụng ngoại hối tại Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN thì các giao dịch khác đều không được sử dụng ngoại hối

Thứ hai: Nếu đối tượng của đặt cọc là vật:

Nhìn chung, vật là tài sản dùng để đặt cọc phải là vật có giá trị và được phép chuyển giao trong giao dịch dân sự Pháp luật hiện tại mới chỉ liệt kê một vài vật cụ thể có thể là đối tượng của đặt cọc chứ không mang tính mô tả vật được dùng để đặt cọc phải là vật như thế nào (đặc định hay cùng loại, tiêu hao hay không tiêu hao, vật

Trang 9

phải có sẵn hay hình thành trong tương lai, là động sản hay bất động sản…) Tuy nhiên, căn cứ vào quy định tại Điều 328 BLDS 2015 thì có thể nhận thấy tài sản đặt cọc chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp gồm: tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các tài sản có giá trị khác mà không bao gồm các quyền tài sản, bất động sản như trong các biện pháp bảo đảm khác Và các tài sản là đối tượng của biện pháp đặt cọc phải thuộc sở hữu của bên đặt cọc hoặc có thể thuộc sở hữu của người khác nhưng phải được chủ sở hữu đồng ý Các vật bị cấm lưu thông dân sự hoặc hạn chế lưu thông dân sự như ma túy, vũ khí quân dụng…thì không thể là đối tượng của đặt cọc Nếu giao dịch đặt cọc

có đối tượng là ngoại tệ hoặc vật bị cấm, bị hạn chế lưu thông dân sự thì giao dịch đặt cọc đó có thể bị tuyên vô hiệu

Như vậy, để trở thành đối tượng của đặt cọc thì các tài sản đó phải đáp ứng được quy định của pháp luật như đã phân tích ở trên Tuy nhiên, tùy vào thỏa thuận của các bên hay căn cứ vào giá trị của hợp đồng chính thức cũng như vào mức độ tin tưởng lẫn nhau mà số tiền đặt cọc lớn hoặc nhỏ

1.2.3 Mục đích của Hợp đồng đặt cọc

Nếu như các biện pháp bảo đảm khác chỉ có một mục đích là bảo đảm thực hiện hợp đồng dân sự thì đặt cọc có thêm một mục đích nữa là bảo đảm giao kết hợp đồng dân sự Trong những trường hợp nhất định, tùy vào sự thỏa thuận của các bên mà mục đích của đặt cọc có thể là chỉ nhằm giao kết hợp đồng, chỉ mang mục đích bảo đảm việc thực hiện hợp đồng nhưng cũng có thể mang cả hai mục đích đó Để xác định mục đích của đặt cọc thì chúng ta sẽ căn cứ vào thỏa thuận của các bên Các bên trong quan hệ đặt cọc có thể thỏa thuận về mục đích của đặt cọc theo một trong ba trường hợp: một là chỉ đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng; hai là chỉ đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng; ba là vừa bảo đảm việc giao kết, vừa bảo đảm việc thực hiện hợp đồng

Đối với trường hợp các bên chủ thể thỏa thuận mục đích của đặt cọc là vừa nhằm giao kết hợp đồng, vừa nhằm thực hiện hợp đồng thì hiệu lực của thỏa thuận đặt cọc kéo dài từ khi các bên giao kết thỏa thuận đặt cọc (hợp đồng chính có thể được giao kết cùng thời điểm với giao kết đặt cọc nhưng cũng có thể chưa hình thành) đến khi giao kết hợp đồng và hoàn thành việc thực hiện hợp đồng Trong quá trình này, tài sản đặt cọc có thể được đem ra xử lý bất cứ lúc nào khi có hành vi vi phạm xảy ra

Trang 10

1.2.4 Hình thức của Hợp đồng đặt cọc

Hình thức của giao dịch chính là cách thức phản ánh nội dung của giao dịch việc quy định về hình thức của một giao dịch nói chung và của đặt cọc nói riêng có ý nghĩa quan trọng

Trước đây, khi BLDS 2015 chưa có hiệu lực, hình thức của hợp đồng đặt cọc

được quy định tại đoạn thứ hai Khoản 1 Điều 358 BLDS 2005 như sau: “Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản” Hiện nay BLDS 2015 có hiệu lực nhưng không có một

quy định cụ thể nào về hình thức của Hợp đồng đặt cọc Tuy nhiên, căn cứ vào Điều

29 Nghị định 163/2006/NĐ/CP: “Trường hợp một bên trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì

số tiền này được coi là tiền trả trước” thì khi một bên giao cho bên kia một tài sản chỉ

được coi là quan hệ đặt cọc nếu các bên đã xác lập một văn bản về đặt cọc và trong văn bản đó đã xác định rõ khoản tài sản được chuyển giao giữa hai bên là tài sản đặt cọc Nói ngược lại, một bên giao cho bên kia một khoản tài sản với mục đích bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng nhưng không lập thành văn bản hoặc có lập thành văn bản về việc giao nhận tài sản mà không xác định rõ là tài sản đặt cọc thì giao dịch đó vẫn không được chấp nhận là giao dịch đặt cọc, khoản tài sản đó chỉ mang chức năng thanh toán Ngoài ra, pháp luật không bắt buộc nhưng văn bản của giao dịch đặt cọc có thể được công chứng hoặc chứng thực tùy theo thỏa thuận của các bên Việc quy định đặt cọc phải được lập thành văn bản sẽ giúp phản ánh được tốt hơn, đầy đủ hơn, rõ ràng hơn các nội dung của việc đặt cọc và còn có giá trị chứng cứ cao trong việc giải quyết các tranh chấp

Có thể thấy rằng, đặt cọc không chỉ dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà còn có chức năng bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, nếu bên nào vi phạm cam kết về việc bảo đảm giao kết hợp đồng sẽ chịu chế tài nhất định Nếu giao kết bằng lời nói bằng miệng như những giao dịch đơn giản khác thì sẽ rất khó khăn trong việc chứng minh có giao dịch đó

và có vi phạm Do đó, cần một chứng cứ pháp lý chắc chắn để giải quyết tranh chấp thì hình thức của giao dịch bằng văn bản là hợp lý Từ khi đặt cọc cho đến khi giao kết và thực hiện hợp đồng là một khoảng thời gian dài Có thể vì một lý do nào đó bên nhận đặt cọc không thực hiện hành vi giao kết hợp đồng hoặc có hành vi vi phạm hợp đồng thì chứng minh có việc đặt cọc bằng lời nói sẽ khó khăn, phức tạp Vì vậy, nếu bên nhận đặt cọc có vi phạm thì bên đặt cọc có nguy cơ mất tiền cọc là rất cao, khi bên nhận đặt cọc là người không ngay tình, không trung thực họ sẽ có hành vi gian dối hoặc tương tự nhằm

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w