DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Thành phần NDT tại thư viện Bảng 1.2 Sử dụng ngoại ngữ trong việc khai thác thông tin Bảng 1.3 Thời gian dành cho thu thập thông tin của nhóm người dùng tin B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: ts CHU NGỌC LÂM
Hà Nội - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Chu Ngọc Lâm - Người
Thầy đã không quản bao khó khăn, tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Lê Thị Thu Hà - Phó Trưởng Khoa Sau đại học, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội và các thầy cô giáo đã hết lòng
vì sự nghiệp trồng người để tôi có được như ngày hôm nay
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo viện Ngôn ngữ học đã tiếp thêm nội lực để tôi vươn lên trong học tập, tự trau dồi kiến thức để phục vụ đắc lực cho công việc hiện nay của tôi Tôi xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã luôn chia sẻ và
hỗ trợ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận văn
Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình, đặc biệt là bố
mẹ và chồng tôi những người luôn dõi theo từng bước tôi đi trên con đường học tập, luôn bên tôi, nâng đỡ tôi trong mọi lúc tôi cần
Tôi xin cảm ơn nhiều bạn bè, đồng nghiệp đã động viên tôi nỗ lực trong suốt khoá học và trong thời gian triển khai đề tài này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng của tác giả trong quá trình thực hiện, luận văn chắc không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự xem xét, đánh giá, đóng góp ý kiến của các Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH MINH HỌA
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN NGÔN NGỮ HỌC 5
1.1 Những vấn đề chung về nguồn lực thông tin 5
1.1.1 Khái niệm về nguồn lực thông tin 5
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực thông tin 8
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin 12
1.2 Đặc điểm hoạt động thư viện tại Viện Ngôn ngữ học 13
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 13
1.2.2 Nhiệm vụ của Trung tâm thông tin – thư viện Viện NNH 21
1.2.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 25
1.2.4 Hoạt động phục vụ người dùng tin 38
1.3 Vai trò của nguồn lực thông tin và yêu cầu phát triển nguồn lực thông tin tại trung tâm thông tin - thư viện viện Ngôn ngữ học 42
1.3.1 Vai trò của nguồn lực thông tin 42
1.3.2 Yêu cầu phát triển nguồn lực thông tại trung tâm thông tin - thư viện Viện Ngôn ngữ học 46
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN VIỆN NGÔN NGỮ HỌC 49
2.1 Cơ cấu nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin - thư viện viện Ngôn ngữ học 49
2.1.1 Cơ cấu theo nội dung tài liệu 49
2.1.2 Cơ cấu theo hình thức tài liệu 50
2.1.3 Cơ cấu theo ngôn ngữ tài liệu 55
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển nguồn lực thông tin 56
2.2.1 Chính sách bổ sung 56
2.2.2 Nguồn bổ sung 59
2.2.3 Kinh phí bổ sung 67
2.2.4 Nhân lực 68
2.2.5 Trang thiết bị 69
2.2.6 Công nghệ và phần mềm 69
Trang 42.3 Tổ chức và quản lý nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin - thư
viện viện Ngôn ngữ học 70
2.3.1 Tổ chức và quản lý nguồn tin truyền thống 70
2.3.2 Tổ chức và quản lý nguồn tin điện tử 74
2.3.3 Tổ chức khai thác nguồn lực thông tin 77
2.4 Đánh giá nguồn lực thông tin của Trung tâm thông tin - thư viện viện Ngôn ngữ học 79
2.4.1 Mức độ đầy đủ của nguồn lực thông tin 79
2.4.2 Mức độ bao quát nội dung thông tin 85
2.4.3 Khả năng khai thác 86
2.4.4 Đánh giá chung 90
CHƯƠNG 3 : CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN VIỆN NGÔN NGỮ HỌC 95
3.1 Xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin 95
3.1.1 Bổ sung nguồn lực thông tin hợp lý 96
3.1.2 Tăng cường kinh phí bổ sung nguồn lực thông tin 106
3.1.3 Chính sách trao đổi và chia sẻ tài liệu số 108
3.2 Hoàn thiện cơ cấu nguồn lực thông tin 109
3.2.1 Về nội dung tài liệu 109
3.2.2 Về ngôn ngữ tài liệu 110
3.2.3 Về hình thức tài liệu 111
3.2.4 Xây dựng nguồn thông tin điện tử 111
3.3 Tăng cường chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện 114
3.4 Nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý, bảo quản và khai thác nguồn lực thông tin 116
3.5 Các giải pháp khác 117
3.5.1 Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin hiện có 117
3.5.2 Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin 118
3.5.3 Chú trọng công tác bảo quản nguồn lực thông tin 119
3.5.4 Nâng cao năng lực cán bộ thông tin - thư viện, đào tạo người dùng tin 120
3.5.5 Tăng cường quảng bá nguồn lực thông tin 125
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
PHỤ LỤC 134
Trang 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải nội dung
NLTT Nguồn lực thông tin
NLTTS Nguồn lực thông tin số
TT TT-TV Trung tâm Thông tin - thư viện
TVS Thư viện số
VN Việt Nam
VNNH Viện Ngôn ngữ học
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Thành phần NDT tại thư viện
Bảng 1.2 Sử dụng ngoại ngữ trong việc khai thác thông tin
Bảng 1.3 Thời gian dành cho thu thập thông tin của nhóm người dùng tin Bảng 1.4 Nhu cầu khai thác thác thông tin theo địa điểm
Bảng 1.5 Mức độ khai thác thông tin trên Internet của người dùng tin
Bảng 1.6 Mục đích truy cập Internet
Bảng 1.7 Đánh giá của người dùng tin về chất lượng của sản phẩm và dịch vụ thông tin (Số liệu 6 tháng đầu năm 2012)
Bảng 1.8 Nhu cầu được hướng dẫn tra cứu của người dùng tin
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn lực thông tin theo nội dung tài liệu
Bảng 2.2 Cơ cấu theo hình thức tài liệu
Bảng 2.3 Tài liệu dịch chia theo chuyên ngành
Bảng 2.4 Các cơ sở dữ liệu
Bảng 2.5 Tài liệu phân chia theo ngôn ngữ
Bảng 2.6 Tình hình xây dựng cơ sở dữ liệu thư mục
Bảng 2.7 Mức độ đầy đủ nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu tin
Bảng 2.8 Mức độ đầy đủ nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu tin đối với người dùng tin
Bảng 2.9 Mức độ đầy đủ nguồn lực thông tin đối với NDT
Bảng 2.10 Đánh giá của NDT về mức độ thuận tiện của hệ thống mục lục Bảng 2.11 Mục đích của NDT đến thư viện
Bảng 2.12 Lý do đến thư viện của NDT
Bảng 3.1 Số lượng tài liệu thanh lọc từ năm 1980 - 2010
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1 Biểu đồ người dùng tin theo nghề nghiệp
Hình 1.2 Biểu đồ Sử dụng ngoại ngữ trong việc khai thác thông tin
Hình 1.3 Biểu đồ mức độ truy cập Internet
Hình 1.4 Biểu đồ Mục đích truy cập Internet
Hình 2.1 Biểu đồ Tài liệu phân chia theo ngôn ngữ
Hình 2.2 Biểu đồ Mức độ đầy đủ nguồn lực thông tin đáp ứng nhu cầu tin Hình 2.3 Biểu đồ Mục đích của người dùng tin đến thư viện
Trang 8MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin nói riêng và khoa học công nghệ nói chung đã và đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển toàn diện của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Thế giới đang diễn ra quá trình tiến vào xã hội thông tin toàn cầu Vì vậy, trong bối cảnh đó việc hướng tới định hình một xã hội thông tin ở từng nước đã đặt ra yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng thông tin như một nguồn lực cơ bản và quan trọng để phát triển đất nước Hiện nay, lượng thông tin của nhân loại đang phát triển với tốc độ hàm mũ.Với sự phát triển của mạng Internet, không gian thông tin của nhân loại càng được mở rộng và lớn hơn rất nhiều Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin viện sẽ tạo ra khả năng tìm tin nhanh hơn, nhiều hơn, nhiều chiều hơn và linh hoạt hơn Mặt khác, thông tin có tính thời sự, giá trị của thông tin phụ thuộc vào thời điểm tiếp nhận chúng Do vậy, việc cung cấp thông tin kịp thời là trách nhiệm và là sứ mệnh của những người làm công tác thông tin, phải biến thông tin trở thành nguồn lực để phát triển
Chúng ta biết rằng, nguồn lực thông tin đóng vai trò rất lớn Nó là cơ sở
để hình thành, tồn tại và phát triển của viện; đồng thời là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin; Là cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động của cơ quan thông tin
Trong những năm gần đây, công tác phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện Viện Ngôn ngữ học (thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) chưa theo kịp tốc độ gia tăng nhu cầu tin của người dùng tin, nhiều mảng tài liệu chưa được tổ chức và khai thác (như việc cập nhật thông tin từ các tài liệu, sách báo nước ngoài, các luận án, luận văn, các bản báo cáo khoa học, đề tài
Trang 9nghiên cứu khoa học các cấp ) Do đó, để phục vụ có hiệu quả công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của Viện, thư viện Viện Ngôn ngữ học cần phải có giải pháp cụ thể để tăng cường và phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin tại
Trung tâm thông tin - thư viện Viện Ngôn ngữ học” làm luận văn tốt
nghiệp, chuyên ngành thông tin - thư viện (trường Đại học Văn hóa Hà Nội)
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Về vấn đề phát triển nguồn lực thông tin tại các viện, cơ quan thông tin,
đã có một số công trình nghiên cứu được thực hiện trong những năm gần đây:
Một số luận văn thạc sĩ:
- Phạm Thị Bích Thủy (2001), Tăng cường nguồn lực thông tin tại Viện Thông tin Khoa học xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nguyễn Đức Hào (2004), Tổ chức quản lý và khai thác nguồn lực thông tin
ở Học Viện Chính trị Quân sự
- Đỗ Hiền Trang (2010), Nghiên cứu nguồn lực thông tin tại phòng thông tin
tư liệu viện- Viện Văn học
Ngoài ra, còn có một số bài viết về vấn đề này đã được đăng tải trên trên nhiều báo, tạp chí chuyên ngành thông tin - thư viện như:
- “Phát triển thông tin khoa học để trở thành nguồn lực” của Nguyễn Hữu
Hùng đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu, số 1 năm 2005
- “Phương pháp luận xây dựng chính sách phát triển nguồn tin” của Nguyễn
Viết Nghĩa đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu số 1 năm 2001
Đây cũng là chủ đề đã được nhiều tác giả trình bày trong tham luận tại các Hội nghị, Hội thảo chuyên ngành
Trang 10Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về việc phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện Viện Ngôn ngữ học
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực thông tin tại thư viện Viện Ngôn
ngữ học
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu nguồn lực thông tin
tại thư viện Viện Ngôn ngữ học từ năm 2005 đến nay
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu khảo sát đánh giá về thực trạng nguồn lực thông tin tại trung tâm thông tin - thư viện Viện Ngôn ngữ học Luận văn đề xuất các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin góp phần nâng cao chất lượng phục vụ của thư viện nói riêng, đồng thời đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin đảm bảo chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học tại Viện nói chung
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đồng thời dựa trên các tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Góp phần làm rõ hơn về khái niệm nguồn lực thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện
Trang 11- Khảo sát và đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện thực trạng nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin - thư viện Viện Ngôn ngữ học
- Đề xuất những giải pháp phát triển của nguồn lực thông tin tại thư viện Viện Ngôn ngữ học
- Là tài liệu tham khảo đối với các cơ quan thông tin - thư viện trong quá trình xây dựng và nguồn lực thông tin
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Nguồn lực thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện tại
Viện Ngôn ngữ học
Chương 2: Thực trạng nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin -
thư viện Viện Ngôn ngữ học
Chương 3: Các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm
thông tin - thư viện Viện Ngôn ngữ học
Trang 12CHƯƠNG 1 NGUỒN LỰC THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG
THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN NGÔN NGỮ HỌC 1.1 Những vấn đề chung về nguồn lực thông tin
1.1.1 Khái niệm về nguồn lực thông tin
Khái niệm
Đối với mỗi cơ quan thông tin – thư viện, nguồn lực thông tin là yếu tố vô cùng quan trọng, cấu thành nên mọi hoạt động của thư viện và là có sở để phát triển các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin
Khái niệm nguồn lực thông tin được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh
“Information resource” Theo từ điển Tiếng Việt “ nguồn” là nơi bắt đầu,nơi phát sinh hoặc nơi có thể cung cấp Theo đó, nhiều người cho rằng “ nguồn lực thông tin” bao hàm cả tiềm lực thông tin và khả năng với tới các nguồn thông tin khác nhau Theo nghĩa này thì tất cả các nguồn thông tin có trong tay hoặc có thể với tới được thì đều được gọi là nguồn lực thông tin
Hiện nay, khái niệm nguồn lực thông tin chưa được hiểu một cách thống nhất và tập trung ở hai xu hướng chính:
Quan điểm thứ nhất: Nguồn lực thông tin tương đương với tiềm lực của hoạt động thông tin, bao gồm cả nguồn tin và các yếu tố khác tạo nên hoạt động thông tin: nguồn tin, nguồn nhân lực, nguồn cơ sở vật chất, kinh phí
Quan điểm này được phản ánh trong Nghị định của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ, chương 1 điều 2: “ Nguồn lực thông tin khoa học và công nghệ bao gồm nguồn tin, nguồn nhân lực, nguồn kinh phí và cơ sở vật chất có liên quan đến hoạt động thông tin khoa học và công nghệ (2010)
Trang 13Quan điểm thứ hai: Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên các phương tiện theo quy ước và không quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghệ thông tin, được tổ chức lại theo một cách thức nhất định để có thể bảo quản được, truy cập được và chia
sẻ được dễ dàng
Theo tác giả V Y Knoppers: “ Nguồn lực thông tin là một phần của sản phẩm trí tuệ, là sản phẩm lao động khoa học, kiến thức, suy nghĩ, sáng tạo của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát, được ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó Nguồn lực thông tin phải được cấu trúc, tổ chức lại giúp con người có thể tìm và khai thác được chúng theo nhiều cách khác nhau” [21, tr.64]
Luận văn tiếp cận khái niệm nguồn lực thông tin theo quan điểm thứ hai đề làm cơ sở giải quyết vấn đề phát triển nguồn lực thông tin tại thư viện Viện
Ngôn ngữ học
Đặc trưng của nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin ở bất kỳ cơ quan thông tin – thư viện nào cũng có đầy
đủ những đặc trưng dưới đây:
- Tính vật lý: Nguồn lực thông tin là những phần thông tin hoặc tri thức được ghi lại, định vị lại thông qua một hệ thống dấu hiệu nội dung, hình thức
và được lưu giữ trên các vật mang tin truyền thống như giấy, phim ảnh…cũng như trên các vật mang tin hiện đại: đĩa từ, băng từ, đĩa quang CD ROM, DVD…
Cách thức lưu trữ thông tin ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau; đối với tài liệu điện tử thì vật mang tin mang tính hữu hình, là cái người ta có thể nhìn thấy và sờ mó được, thư viện phải có cơ sở vật chất (CSVC) như kho tàng, kệ giá để lưu giữ các tài liệu này; đối với tài liệu điện từ thì lại được lưu
Trang 14trữ trên các máy tính điện tử và các CSDL trên mạng online, là cái mà ta có thể truy cập được, đọc được mà không sờ mó vì nó mang tính vô hình Như vậy ở bất kỳ dạng tài liệu nào thì chúng cũng mang đặc tính vật lý
- Tính cấu trúc: nguồn lực thông tin muốn kiếm soát được thì phải có tính cấu trúc, đó là thông tin được ghi lại theo những thể thức và tiêu chuẩn nhất quán (về nội dung và hình thức) đảm bảo việc bảo quản, khai thác và sử dụng được dễ dàng
- Tính truy cập: Nguồn lực thông tin phải được tổ chức và kiểm soát được
để người dùng tin có thể tìm ra nó thông qua các điểm truy cập( từ khóa, chủ
đề, tên tác giả, tên tài liệu….) Các điểm truy cập này được tạo ra trong quá trình xử lý tài liệu Nhờ bộ máy tra cứu người dùng tin có thể tìm được tài liệu thông qua các dấu hiệu nội dung hay hình thức của tài liệu
Đối với tài liệu truyền thống, việc truy cập chủ yếu được thực hiện thông qua các hệ thống mục lục, các bản chỉ mục, OPAC (Online Public Access Catalog), thư mục….Còn đối với tài liệu điện tử, ngoài cách truy cập như trên còn được truy cập bằng các siêu liên kết trong ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML
- Tính chia sẻ: Để thỏa mãn nhu cầu tin, các thư viện cần có khả năng sử dụng nhiều nguồn lực thông tin từ các nơi khác nhau Tính chia sẻ của nguồn lực thông tin thể hiện ở khả năng có thể trao đổi thông tin theo nhiều giữa các
hệ thống thông tin với nhau
Tính chia sẻ của nguồn lực thông tin hiện nay được các thư viện và cơ quan thông tin rất quan tâm, vì nó là phương tiện để các thư viện đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của người dùng tin khi nguồn lực thông tin của mỗi thư viện riêng lẻ không đáp ứng được, đặc biệt là nhu cầu ngày càng đa dạng về thông tin trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay Tại các thư viện chứa nguồn lực thông tin truyền thống chủ yếu dựa vào các bản ghi thư mục, còn
Trang 15tại các thư viện chứa nguồn lực thông tin điện tử thì việc chia sẻ được đơn giản và thuận tiện hơn; nếu là các CSDL trực tuyến người dùng có thể đọc trực tiếp trên mạng mà không cần phải đến tận nơi
- Tính có giá trị: Giá trị của thông tin càng cao khi càng có nhiều người sử dụng Thông tin không bảo giờ cạn đi mà trái lại càng trở nên phong phú do được tái tạo và bổ sung thêm các nguồn tin mới Nguồn lực thông tin có giá trị sẽ tác động mạnh mẽ tới các quá trình hoạt động xã hội, kích thích sự sáng
tạo của con người
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực thông tin
Tài liệu là vật thể mang tin trên đó ghi những thông tin dưới dạng chính văn, âm thanh hoặc hình ảnh dùng để truyền đạt trong thời gian, không gian nhằm mục đích bảo quản và sử dụng [18, tr 118]
Sự phát triển của tài liệu khoa học kỹ thuật chịu ảnh hưởng trực tiếp của cuộc cách mạng KHKT và công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới Các tài liệu KHKT tăng nhanh và bị chi phối bởi quy luật phát triển tài liệu, quy luật về sự gia tăng tài liệu
Tóm lại: Nguồn lực thông tin là kết quả hoạt động trí tuệ của con người, là cơ sở của hoạt động thông tin - thư viện Nguồn lực thông tin là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành của thư viện hay cơ quan thông tin Là
cơ sở cho mọi hoạt động thông tin – thư viện, từ việc tổ chức xây dựng, lưu trữ và khai thác tới việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng như là
cơ sở để hợp tác và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin – thư viện
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đội ngũ những người làm công tác khoa học đang tăng lên và sản phẩm của họ là các tài liệu khoa học kỹ thuật cũng tăng lên nhanh chóng, nó ảnh hưởng không nhỏ tới thành phần của vốn tài liệu trong mỗi thư viện Điều này đã dẫn tới
Trang 16một hiện tượng mà các nhà khoa học gọi là hiện tượng “ bùng nổ thông tin”, thể hiện ở sự gia tăng mạnh mẽ của các sản phẩm thông tin – tư liệu trên thế giới trong mấy chục năm gần đây Khoa học kỹ thuật phát triển đã làm khối lượng tri thức khoa học trong xã hội tăng nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh các loại hình tài liệu xuất bản theo phương thức truyền thống như sách, báo, tạp chí….là những dạng tài liệu điện tử như đĩa quang, băng
từ, CSDL… Và điều này có ảnh hưởng tới thành phần cơ cấu của kho tài liệu
Từ những năm 1930 nhà thư viện học người Mỹ Price đã nghiên cứu ảnh hưởng của quy luật gia tăng tài liệu đối với sự phát triển của vốn tài liệu như sau: Cứ 16 năm vốn tài liệu của thư viện ở Mỹ lại tăng gấp đôi Quy luật đó được tính bằng công thức:
Vt = Vo.er(t-to)Trong đó Vt: Vốn tài liệu ở thời điểm t
Vo: Vốn tài liệu ở thời điểm ban đầu
e: Cơ số loga tự nhiên
r: Tốc độ phát triển trung bình
to: Thời điểm ban đầu
Do ảnh hưởng của quy luật tăng tài liệu, các cơ quan thông tin thư viện phải tăng cường khâu thu nhập, chọn lọc và xử lý tài liệu
Quy luật về sự tập trung và phân tán thông tin
Do tài liệu không những ngừng tăng trưởng mà nó còn phân tán ở trong không gian rộng Hiện tượng này đã được nhà thư viện học người Anh S.Bradford phát hiện ra năm 1934 Ông tiến hành theo dõi nguồn tin về điện trên các tạp trí và thấy rằng:
1/3 nguồn tin về điện tập trung ở các tạp trí chuyên ngành điện, số lượng là 10 tạp chí
Trang 171/3 lượng thông tin về điện nước được đăng tải trong tạp chí về điện như năng lượng, giao thông với số lượng khoảng 50 tạp chí
1/3 lượng thông tin cuối cùng về điện nước được đăng tải trong tạp chí không liên quan đến điện gồm hơn 200 tạp chí
Và S.Bradrord đã thể hiện quy luật này bằng mô hình giống như mô hình cấu tạo nguyên tử
1:n:n2
Quy luật này ta thấy: nếu các thư viện muốn có 100% lượng thông tin
về điện thì phải thu thập toàn bộ khối lượng tài liệu theo mô hình trên tức là
260 tạp chí Với một lĩnh vực riêng biệt thì điều này là có thể, nhưng để thu thập toàn bộ tạp chí về tất cả các ngành thì cần một khối lượng kinh phí khổng lồ mà các thư viện không thể thực hiện được Vì thế cẩn phải tính toán sao cho chỉ cần thu thập một số lượng tạp chí vừa phải mà có thể bao quát được phần lớn thông tin về một lĩnh vực Trong trường hợp trên, nếu chúng ta chỉ thu thập 60 tên tạp chí (ở hai vòng trong) thì chúng ta sẽ có 60-70% thông tin về lĩnh vực điện
Quy luật về thời gian hữu ích và tính lỗi thời của tài liệu
Thời gian hữu ích hay tuổi thọ của tài liệu khoa học kỹ thuật phụ thuộc vào lĩnh vực tri thức và giá trị nội dung của tài liệu Tuổi thọ của tài liệu được tính
từ lúc công bố tới lúc nỗi thời, không còn được sử dụng nữa Tài liệu được sản sinh theo một yêu cầu nào đó thường giảm dần giá trị sử dụng cùng với sự phát triển của yêu cầu này cho đến khi trở nên lỗi thời
Trang 18Ý nghĩa của quy luật này có tác dụng trong việc thanh lọc tài liệu ở các cơ quan thông tin, thư viện Tài liệu khi không còn giá trị, không đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin nữa thì nên thanh lọc để tiếp kiệm diện tích kho, công sức của cán bộ, kinh phí cũng như để nâng cao chất lượng của kho sách
Quy luật giá cả tăng liên tục hiện nay, do ảnh hưởng yếu tố tác động lên lạm phát, giả cả tiêu dùng tăng, chi phí lao động cũng tăng lên nên giá cả tài liệu cũng tăng lên nhanh trong nhiều thập kỷ qua Giá cả tài liệu bao hàm 2 yếu tố cấu thành, đó là: giá cả thông tin mà tài liệu chứa đựng và giá cả phần vật chất chứa đựng thông tin và các phương tiện phân phối tài liệu
Nghiên cứu của một số tác giả trên tạp chí Library resourse and Technical Service cho thấy, trong khoảng 10 năm, từ 1986 đến 1996 giá các loại tạp chí tăng 15,4%/năm và giá của tài liệu khoa học công nghệ tăng trung bình 12-13%/năm
Các nguyên nhân của sự gia tăng tài liệu là do:
+ Lạm phát của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới
+ Số trang, số tập của các tạp chí đều tăng dẫn đến khối lượng tăng + Giá giấy và giá các nguyên vật liệu khác tăng
+ Chi phí để nâng cao chất lượng sản phẩm tăng
+ Công nghệ thông tin tác động mạnh đến công nghệ xuất bản
Do giá cả tăng liên tục đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phát triển nguồn tin của các thư viện, làm cho số lượng tài liệu mua bằng kinh phí mỗi năm một giảm đi Do vậy, để công tác phát triển nguồn lực thông tin tốt và mang lại hiệu quả cao thì phải chú ý tới sự chi phối của các quy luật trên và tìm ra các giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu sự chi phối đó
Trang 19Ảnh hưởng của xuất bản điện tử
Trong thời đại hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin
và truyền thông đã làm thay đổi cơ cấu các loại hình tài liệu có trong mỗi thư viện và cơ quan thông tin Tài liệu truyền thống không còn là nguồn duy nhất,
ấn phẩm điện tử ra đời cùng với công nghệ mới đã tạo ra cơ sở để trao đổi thông tin có chất lượng cao và nhanh chóng
Xuất bản điện tử có một số ưu điểm nổi bật là dễ kiểm soát thông tin và khả năng tìm kiếm thông tin nhanh Các lợi ích mà xuất bản điện tử mang lại
là trên phạm vi toàn cầu, thông qua mạng internet, thời gian xuất bản nhanh
và có khả năng hỗ trợ tốt của máy tính (khả năng liên kết tới tài liệu gốc, hỗ trợ của hình ảnh hoặc âm thanh)
Sản phẩm của xuất bản điện tử với các ưu điểm nổi trội đang ngày càng lấn át các vật mang tin truyền thống Do vậy, công tác phát triển nguồn lực thông tin ở các cơ quan thông tin thư viện cần phải có chính sách phát triển hợp lý, hài hòa giữa các loại hình tài liệu mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin
Có nhiều tiêu chí để đánh giá chất lượng của NLTT Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể, tiêu chí được chọn trong luận văn này là :
- Tăng cường về số lượng tài liệu và thông tin tương ứng với nhu cầu tin của người dùng tin: Mức độ đầy đủ của NLTT, mức độ bao quát của NLTT, Mức độ phù hợp và hấp dẫn của NLTT
- Nâng cao chất lượng và giá trị của nguồn lực thông tin thông qua việc lựa chọn chất lượng tài liệu, tổ chức quản lý tài liệu một cách khoa học để NDT có thể khai thác tối đa giá trị của nguồn lực thông tin
Trang 201.2 Đặc điểm hoạt động thư viện tại Viện Ngôn ngữ học
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Viện được thành lập vào năm 1968 theo nghị định số 59/CP ngày
14 tháng 5 năm 1968 của Hội đồng Chính phủ trên cơ sở Tổ Ngôn ngữ học thuộc Viện Văn học và Tổ Thuật ngữ khoa học trực thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước Khi mới thành lập, Viện Ngôn ngữ học chỉ có Tổ Ngôn ngữ học và Tổ Thuật ngữ khoa học Cho đến nay, Viện đã hình thành và xây dựng nên các phòng nghiên cứu khoa học theo các chuyên ngành của ngôn ngữ học và các phòng phục vụ nghiên cứu khoa học Viện Ngôn ngữ học (tên giao dịch quốc tế: Institute of Linguistics) trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, có chức năng nghiên cứu những vấn đề
cơ bản về lý luận và thực tiễn ngôn ngữ học Việt Nam và ứng dụng vào việc nghiên cứu tiếng Việt, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, các ngôn ngữ trong khu vực và trên thế giới; cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước; ứng dụng các thành quả nghiên cứu khoa học vào đời sống thực tiễn xã hội; tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học về ngôn ngữ học, tham gia phát triển
nguồn nhân lực của cả nước
Theo Quyết định số 1052 /QĐ-KHXH do Chủ tịch Viện KHXHVN kí ngày ngày 19 tháng 9 năm 2008 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Viện Ngôn ngữ học), viện NNH có chức năng sau:
1 Xây dựng kế hoạch nghiên cứu dài hạn, trung hạn và hàng năm, tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch được Viện Khoa học xã hội Việt Nam phê duyệt và các kế hoạch nghiên cứu khác được Đảng và Nhà nước giao liên quan đến Ngôn ngữ học
2 Nghiên cứu cơ bản về ngôn ngữ học
Trang 213 Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tiếng Việt, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, ngôn ngữ các nước trong khu vực và các ngôn ngữ khác trên thế giới
4 Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực ngôn ngữ học, thực hiện đào tạo sau đại học theo quy định của pháp luật, tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và các
cơ quan khác
5 Tham gia đánh giá và thẩm định về mặt khoa học các chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội ở các bộ, ngành, địa phương liên quan đến Ngôn ngữ học theo luật định Thực hiện các tư vấn khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện
6 Tổ chức hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo theo quy định hiện hành
7 Trao đổi thông tin khoa học với các cơ quan trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; quản lý tư liệu, thư viện của Viện; xuất bản các ấn phẩm khoa học, phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học, truyền bá các kiến thức khoa học tới quảng đại quần chúng
8 Quản lý về tổ chức, bộ máy, biên chế, tài sản và kinh phí của Viện theo các quy định, chế độ của Nhà nước và của Viện Khoa học xã hội Việt Nam
9 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Hiện nay, VNNH có cơ cấu tổ chức gồm 9 phòng và trung tâm nghiên cứu khoa học theo các chuyên ngành của ngôn ngữ học, Đội ngũ cán bộ của Viện trong suốt thời gian qua cũng không ngừng phát triển và lớn mạnh về mọi mặt Cho đến tháng 8 năm 2008, Viện đã xây dựng được một đội ngũ đông đảo gồm 76 cán bộ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu, trong đó hơn một nửa số cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ, có học hàm phó giáo sư hoặc giáo sư
Trang 22- Các phòng ban chuyên môn là: Từ vựng học, Ngữ pháp học, Ngữ âm
học, Nghiên cứu Ngôn ngữ các Dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Phương ngữ học và Lịch sử tiếng Việt, Ngôn ngữ học xã hội, Ngôn ngữ học ứng dụng
- Phòng chức năng: Phòng Quản lí Khoa học và Đào tạo, Phòng Hành
chính Tổng hợp
- Các trung tâm: Trung tâm Phục hồi chức năng ngôn ngữ,Trung tâm
Phổ biến và Giảng dạy ngôn ngữ, Trung tâm thông tin - thư viện
- Ngoài các phòng chuyên môn và các phòng chức năng nghiệp vụ phục
vụ nghiên cứu, VNNH còn có Tòa soạn Tạp chí Ngôn ngữ học là cơ quan ngôn luận của Viện, là diễn đàn học thuật chung của giới nghiên cứu ngôn ngữ, là nơi công bố kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài viện
Cơ cấu tổ chức này được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Trang 23 Công tác nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu khoa học
Trong 40 năm qua, Viện Ngôn ngữ học đã cố gắng thực hiện tốt các chức
năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao: nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lí luận ngôn ngữ học và ứng dụng vào việc nghiên cứu tiếng Việt, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (NNDTTS) ở Việt Nam, các ngôn ngữ trong khu vực và trên thế giới; cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước; ứng dụng các thành quả nghiên cứu khoa học vào đời sống thực tiễn xã hội; tổ chức tư vấn và đào tạo sau đại học về ngôn ngữ học, tham gia phát triển nguồn nhân lực của cả nước
Hàng chục công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau của tiếng Việt và các NNDTTS, hay sách công cụ các loại đã đựơc xuất bản, trong đó
có nhiều tác phẩm có giá trị lớn, khẳng định uy tín và vị trí cao của Viện về
khoa học trong đời sống xã hội hiện nay Đó là: Từ điển tiếng Việt, Ngữ pháp tiếng Việt, Từ điển Anh - Việt, Từ điển Pháp - Việt, Từ điển thành ngữ tiếng Việt, Từ điển từ láy tiếng Việt, Từ điển chính tả tiếng Việt, Từ điển từ mới tiếng Việt, Từ điển tiếng Việt phổ thông, một số từ điển tiếng dân tộc - Việt và Việt - tiếng dân tộc, một số chuyên khảo nghiên cứu về tiếng Việt và các NNDTTS ở Việt Nam, v.v Đặc biệt một số công trình của Viện đã được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2000 như: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên; giải thưởng tập thể), Từ điển Anh- Việt (Lê Khả Kế), Chính tả tiếng Việt (Hoàng Phê), Cụm công trình về ngữ pháp tiếng Việt (Hoàng Tuệ), Công trình Ngữ pháp tiếng Việt (Nguyễn Kim Thản)
Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế
Viện Ngôn ngữ học đã cùng Viện Đông phương học và Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô trước đây và Viện Hàn lâm khoa học Nga hiện nay tiến hành nhiều cuộc điều tra điền dã các NN DTTS ở Việt Nam Hơn 30 NNDTTS ở Việt Nam đã được điều tra, nghiên cứu; hàng chục
Trang 24chuyên khảo nghiên cứu ngôn ngữ các DTTS đã được xuất bản (bằng tiếng Việt và tiếng Nga) Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ, nên một nhiệm vụ rất quan trọng đối với những người nghiên cứu NNDTTS là cần phải tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn, nhằm phát triển hài hoà mối quan hệ giữa các dân tộc và ngôn ngữ các tộc người Trong lĩnh vực này, Viện đã:
- Nghiên cứu và đề xuất những vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ
Trên cơ sở những ý kiến đề xuất của Viện, kết hợp với ý kiến của các ngành hữu quan, Chính phủ đã ban hành Quyết định 53/CP về sự phát triển tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số Quyết định này đã phát huy hiệu lực trong suốt một thời gian dài trong việc đưa tiếng nói, chữ viết của ngôn ngữ các DTTS vào các vùng đồng bào DTTS sinh sống
- Góp phần xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam
Ngôn ngữ là tiêu chí quan trọng để xác định một tộc người Năm 1979, tuy Nhà nước ta đã công bố tộc danh của 54 dân tộc chung sống trên lãnh thổ Việt Nam, song về lí luận và thực tế, vấn đề xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Những nghiên cứu, miêu tả, so sánh, phân loại quan hệ họ hàng của các NNDT TS thực sự là những cơ sở quan trọng góp phần xác định thành phần dân tộc
- Xây dựng chữ viết cho các DTTS:
Theo QĐ 53/CP, Viện Ngôn ngữ học có nhiệm vụ quan trọng là cùng với các Bộ và cơ quan hữu quan hướng dẫn các địa phương tiến hành việc xây dựng, cải tiến chữ viết cho các DTTS khi có nhu cầu về chữ viết Viện đã xây dựng và hoàn thiện nhiều chữ viết cho đồng bào DTTS, như: chữ viết Pa Koh
- Ta Ôih, Bru - Vân Kiều, Ragiai, Ka Tu, Chăm, Hroi, Hrê; xây dựng chữ Thái cải tiến, phương án La tinh hoá chữ Thái, phương án chữ Mường, đề xuất cải tiến chữ Mông
Trang 25- Phục vụ sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục ở vùng DTTS
Trong một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ như Việt Nam, việc phát triển các hình thức song ngữ, đa ngữ là biện pháp tối ưu để các ngôn ngữ cùng tồn tại và phát triển hài hoà, tránh được sự xung đột cả về dân tộc lẫn ngôn ngữ Chính vì vậy, Viện Ngôn ngữ học đã biên soạn các loại sách để phổ biến tiếng Việt như: các loại từ điển song ngữ NNDTTS và Việt, các loại sách học tiếng dân tộc, các sách hướng dẫn người DTTS học tiếng Việt: Từ điển Việt - Mèo, Từ điển Tày - Nùng - Việt, Việt - Tày - Nùng,
Từ điển Gia Rai - Việt, Từ điển Thái - Việt, Từ điển Mường - Việt Sách học tiếng Pakoh, Ta Ôih, Sách học tiếng Bru - Vân Kiều, Sách học tiếng Ê
Đê, Sách học tiếng Raglai, Sách học tiếng Ka Tu, Sách học tiếng Ba Na, Sách học tiếng Chăm Hroi, Hrê
Những năm gần đây, Viện còn hợp tác với các nhà ngôn ngữ học Hoa
Kỳ, Pháp, Thái Lan, điều tra, nghiên cứu hàng chục NNDTTS ở Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về quá trình hình thành các ngữ hệ, nguồn gốc của tiếng Việt và các quan hệ cội nguồn của tiếng Việt với các ngôn ngữ trong khu vực Viện Ngôn ngữ học còn được Nhà nước giao chủ trì
và thực hiện nhiều chương trình, đề tài trọng điểm, chẳng hạn: Dự án Điều tra tổng thể các NNDTTS ở Việt Nam Dự án được triển khai thành 5 đề tài nhánh và đã hoàn thành được những nhiệm vụ quan trọng đề ra Chương trình này cũng đã tiến hành khảo sát những ngôn ngữ có nguy cơ bị tiêu vong, như:
Ơ Đu, La Chí, Mảng, Kháng, La Ha, Cơ Lao
Từ năm 1996, Viện đã tiến hành điều tra tiếng Việt về mặt cấu trúc và sự
hoạt động theo 4 hướng chính sau đây:
- Điều tra năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh phổ thông các cấp;
- Điều tra những lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp thường gặp ở học sinh; nghiên cứu những vấn đề lí thuyết và phương pháp giảng dạy tiếng Việt;
Trang 26- Tìm hiểu chương trình tiếng Việt trong sách giáo dục phổ thông hiện nay;
- Đánh giá thực trạng dạy và học tiếng Việt hiện nay trong nhà trường; Viện
đã được Nhà nước giao cho thực hiện chương trình Điều tra tổng thể tiếng Việt trên toàn lãnh thổ Việt Nam bắt đầu từ năm 1998 và hoàn thành năm 2000 Đây
là chương trình lớn, có ý nghĩa quan trọng mà những số liệu và kết quả thu được là cơ sở giúp Nhà nước hoạch định chính sách trong lĩnh vực ngôn ngữ, v.v Trong mấy năm gần đây, nhiều công trình đã được Viện hoàn thành như: Tiếng Việt trong nhà trường, Những vấn đề từ điển học, Loại từ trong tiếng Việt và các ngôn ngữ ở Việt Nam, Từ và cấu trúc từ tiếng Việt, Câu chủ vị tiếng Việt, Từ láy trong tiếng Việt và trong các NNDT TS ở Việt Nam, Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, Ngôn ngữ cử chỉ, Thanh điệu tiếng Việt, Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Ngôn ngữ học xã hội, Tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng, Tiếng Việt trong giao tiếp hành chính, từ điển các loại, các chuyên khảo về NNDTTS ở Việt Nam, v.v Ngoài
ra, công trình ứng dụng ngôn ngữ như: Phục hồi ngôn ngữ cho người khuyết tật
bộ máy phát âm; Phân tích đặc trưng âm thanh, nhận diện lời nói, tổng hợp lời nói, biên soạn sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Xây dựng quy định
và từ điển công cụ về cách viết, cách đọc tên riêng nước ngoài trong văn bản tiếng Việt, v.v đã phục vụ kịp thời nhu cầu của xã hội
Hiện nay, Viện Ngôn ngữ học đang tiếp tục triển khai các công trình khoa học trọng điểm cấp bộ như: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông; Khảo sát, nghiên cứu vai trò của tiếng nói, chữ viết Chăm trong đời sống xã hội của người Chăm hiệnnay; Phương ngữ Bắc Bộ; Các ngôn ngữ Nam á ở Việt Nam Viện Ngôn ngữ học đang được Viện Khoa học xã hội Việt Nam giao nhiệm vụ xây dựng Chương trình Những vấn đề cơ bản về chính sách ngôn ngữ của Việt Nam đến năm 2020 Chương trình được cụ thể hoá thành 7 đề tài nhánh sẽ
Trang 27được triển khai trong những năm tới sau khi được phê duyệt Do những thành tích và những đóng góp cho ngành ngôn ngữ học và cho xã hội, Tạp chí
“Ngôn ngữ” đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì (1986), Huân chương Lao động hạng nhất (2000)
Viện Ngôn ngữ học còn thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác khoa học với nhiều tổ chức và cá nhân các nhà khoa học thuộc nhiều nước trên thế giới:
Hoa Kỳ, Pháp, Hà Lan, Đức, Thái Lan, Lào, Canada, Úc, Nhật Bản, v.v
Về công tác tổ chức, cán bộ và đào tạo
Trải qua 40 năm hoạt động, Viện Ngôn ngữ học đã có những bước phát triển quan trọng Từ chỗ chỉ có một số ít cán bộ từ Tổ Ngôn ngữ học và Tổ Thuật ngữ khoa học, dần dần Viện đã hình thành và xây dựng các phòng nghiên cứu khoahọc theo các chuyên ngành của ngôn ngữ học và các phòng phục vụ nghiên cứu Hiện nay Viện có 9 phòng và trung tâm nghiên cứu, ứng dụng ngôn ngữ Ngoài ra, còn có các phòng: Hành chính - Tổng hợp, Quản lí khoa học và đào tạo, Trung tâm thông tin - Thư viện, Toà soạn Tạp chí “Ngôn ngữ”
Từ năm 1979, Viện Ngôn ngữ học được Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục
và Đào tạo) công nhận là cơ sở đào tạo sau đại học và giao cho nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu sinh ngành ngữ văn Kể từ khoá đào tạo nghiên cứu sinh ngắn hạn đầu tiên năm 1983 đến nay, Viện đã chiêu sinh được 20 khoá nghiên cứu sinh, đã đào tạo được 60 tiến sĩ ngữ văn (naylà tiến sĩ ngôn ngữ học) Công tác đào tạo và đào tạo sau đại học của Viện đã góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ cho cán bộ nghiên cứu trong Viện và đóng góp cho sự phát triển của ngành ngôn ngữ học nói chung Bên cạnh hình thức đào tạo trong nước, hàng chục cán bộ của Viện thuộc các thế hệ khác nhau đã được gửi đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài, đạt được học vị tiến sĩ Viện cũng mở các lớp ngoại ngữ tại Viện để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ (như: tiếng Anh, tiếng Hán hiện đại, tiếng Hán cổ) Mấy năm gần đây, Viện cũng chú trọng bồi dưỡng tin học cho cán bộ
Trang 28Từ cuối tháng 11 năm 2008, Viện Ngôn ngữ học được chuyển về trụ sở mới xây dựng, khang trang, với đầy đủ các tiện nghi thiết yếu phục vụ cho mọi hoạt động của Viện tại số 9, phố Kim Mã Thượng, quận Ba Đình, Hà Nội
Do những thành tích trong công tác, năm 1988 Viện Ngôn ngữ học đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì; năm 1998 được tặng Huân chương Lao động hạng nhất Nhiều cán bộ của Viện đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng những phần thưởng cao quý như: Giáo sư Hoàng Phê và Giáo sư Lê Khả Kế, - Huân chương Lao động hạng nhất, năm 1989; Giáo sư Hoàng Tuệ, - Huân chương Lao động hạng nhất năm 1997, Huân chương Độc lập hạng ba năm 1999 Các giáo sư Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Lê Khả Kế, Hoàng Phê đã được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và công nghệ năm 2000
Qua 40 năm xây dựng, Viện Ngôn ngữ học đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, trưởng thành vượt bậc về nhiều mặt Hoạt động nghiên cứu của Viện đã kết hợp chặt chẽ được giữa nghiên cứu lí thuyết và điều tra khảo sát thực tế, góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với việc giảng dạy và truyền bá kiến thức về ngôn ngữ học Nhiều sản phẩm khoa học có chất lượng và uy tín cao của Viện đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội Vai trò và vị trí của Viện ngày càng được khẳng định chắc chắn Đội ngũ cán bộ của Viện ngày một trưởng thành, đã đảm nhiệm tốt việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó
1.2.2 Nhiệm vụ của Trung tâm thông tin – thư viện viện Ngôn ngữ học
Vị trí và vai trò của Trung tâm thông tin – thư viện viện Ngôn ngữ học
Về lịch sử phát triển, Trung tâm thông tin – thư viện VNNH được thành lập năm 1968 với mục đích cung cấp sách báo tư liệu cho hoạt động
nghiên cứu khoa học Hai chức năng chính của thư viện là thư viện và tư liệu
Trang 29Hoạt động thư viện ban đầu chủ yếu chú trọng việc bổ sung tài liệu, các hoạt động nghiệp vụ và phục vụ chưa được xây dựng một cách khoa h
ọc Hoạt động tư liệu của thư viện được chủ yếu hướng vào việc sưu tầm
và dịch thuật các tư liệu nước ngoài Hoạt động này diễn ra sôi nổi vào những năm 70 và kết quả là hơn 1000 tài liệu được dịch dạng viết tay, đánh máy, chế bản ra đời Bắt đầu từ năm 1995, trung tâm bắt đầu thực hiện chương trình tin học hóa công tác thông tin thư viện Hoạt động cấp thiết là xây dựng CSDL, đây là giai đoạn đánh dấu bước chuyển biến của hệ thống thông tin thư viện của VNNH
Được hình thành từ những ngày đầu thành lập Viện Ngôn ngữ học Trải qua hơn 40 năm, Thư viện đã có vốn tư liệu lớn gồm các sách, báo, tạp chí chuyên ngành bằng tiếng Việt và các thứ tiếng khác (Anh, Pháp, Nga, Trung ) Vốn quý nhất của Thư viện là những cuốn sách, tạp chí chuyên ngành được xuất bản từ những năm đầu thế kỉ 19 và những bộ bách khoa đồ
sộ của các nước trên thế giới Số tư liệu này đã phục vụ rất đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học của cán bộ, nghiên cứu sinh trong và ngoài Viện
Do được áp dụng thành tựu của CNTT chất lượng hoạt động thông tin của Trung tâm thông tin – thư viện VNNH đã có sự thay đổi căn bản về chất, hệ thống phích mục lục, thông báo sách mới…được in trên máy thuận tiện cho cán bộ xử lý nghiệp vụ NDT dễ dàng tra cứu tài liệu trên CSDL, điều đó giúp
họ tiếp cận với tài liệu cập nhận và đầy đủ hơn nguồn tin của thư viện Việc tạo ra những cách tra cứu và sản phẩm thông tin mới đã phần nào cải thiện chất lượng của hoạt động thư viện Từ đó, chất lượng công tác thông tin thư viện tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động khoa học của viện
Cơ cấu tổ chức
Hiện nay, Phòng Thư viện Trung tâm thông tin – thư viện VNNH có 5 cán bộ, trình độ cán bộ đại học thư viện có 2 cán bộ, đại học ngoại ngữ 2 cán
Trang 30bộ, 1 cán bộ chế bản Họ đều là những người sử dụng tương đối tốt 1 ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga) Phòng rất chú trọng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ trẻ Các cán bộ trẻ thường xuyên được cử đi học các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ do Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và công nghệ Quốc gia, Viện Thông tin Khoa học xã hội tổ chức Do được đào tạo cơ bản, đội nghũ cán bộ trong phòng đã đảm nhiệm toàn bộ các khâu trong hoạt động thông tin- thư viện, từ việc bổ sung, thu thập tài liệu đến xử lý thông tin, phục vụ người dùng tin các công việc trong phòng đều được phân công cụ thể, phù hợp với khả năng của từng cán bộ:
- Giám đốc Thư viện phụ trách chung, thực hiện công tác bổ sung, trao đổi tài liệu
- Một cán bộ phụ trách phòng đọc, quản lý công tác phục vụ NDT
- Một cán bộ quản lý kho tài liệu, theo dõi và nhập sách, báo, tạp chí
- Hai cán bộ thực hiện công tác xử lý nghiệp vụ, biên soạn thư mục, quản lý các CSDL
Cơ sở vật chất
Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trên, Thư viện Viện nghiên cứu Ngôn ngữ học đã được đầu tư thích đáng để có cơ sở vật chất và các trang thiết bị hiện đại Thư viện được bố trí 2 phòng (khoảng 140m2) tại tầng 3, trong đó 1 phòng dùng làm Kho và Phòng đọc, 1 phòng gồm bộ phận trao đổi
và xử lý nghiệp vụ Các phòng làm việc đều được trang bị hệ thống chiếu sáng, máy hút ẩm, điều hòa không khí Các phương tiện để làm việc gồm có 7 máy tính (5 máy tính được nối mạng), 3 máy in laser, 1 máy photocopy và hệ thống phần mềm chuyên dụng giúp cho việc lưu trữ và phổ biến thông tin cho người dùng tin
Trang 31Sơ đồ Trung tâm Thông tin - Thư viện
Viện Ngôn ngữ học
Nhiệm vụ của Trung tâm thông tin – thư viện VNNH
1 Tham mưu giúp Viện trưởng xây dựng kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của thư viện theo hướng hiện đại;
2 Tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong Viện;
3 Bổ sung và phát triển nguồn lực thông tin trong và ngoài nước đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của Viện;
4 Thu nhận các tài liệu do Viện xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu ;
5 Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu, xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp;
6 Tổ chức phục vụ, hướng dẫn bạn đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện thông qua các hình thức phục vụ của thư viện;
Kho
Trang 327 Mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với cơ quan thông tin thư viện trong và ngoài nước, từng bước hiện đại hóa công tác thông tin
8 Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác thư viện;
9 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ thư viện;
10 Tổ chức quản lý cán bộ, tài sản và bảo quản, kiểm kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất và các tài sản khác của thư viện
1.2.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
Người dùng tin
NDT tại các thư viện thuộc Viện Ngôn ngữ học hầu hết đều có trình độ cao, có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu của mình Việc tìm hiểu đặc điểm NCT của NDT tại VNNH đã được tiến hành bằng cách sử dụng bảng câu hỏi Là một thư viện chuyên ngành, số lượng bạn đọc không lớn như các thư viện các trường Đại học cũng như các thư viện tổng hợp khác…Mẫu câu hỏi được chọn ngẫu nhiên trên tất cả các đối tượng dùng tin thường đến thư viện trong vòng 5 tháng (1/2/2012 đến 1/7/2012)
Tổng số phiếu phát ra 150 số phiếu thu lại là 143 phiếu đạt 95.3 % Trên
cơ sở bảng hỏi thu về, tác giả luận văn đã tiến hành phân tích và kết hợp với báo cáo công tác phục vụ bạn đọc thường niên của đơn vị để đưa ra những đánh giá khách quan và tương đối chính xác về NCT của NDT Luận văn đi sâu phân tích và xác định một số yếu tố liên quan đến NCT của NDT ở các phương diện sau:
- Xác định đối tượng NDT tại VNNH
- Trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ của NDT
- Nội dung và loại hình tài liệu mà NDT quan tâm
Trang 33Bảng 1.1: Thành phần NDT tại thư viện
Đối tượng Số người %
Biểu đồ 1.1: Người dùng tin theo nghề nghiệp
Qua số liệu điều tra cho thấy số lượng bạn đọc là cán bộ nghiên cứu của Viện chiếm phần lớn (chiếm 30%), nghiên cứu sinh là 20.3%, học viên cao học là 19.6% Số liệu này tương ứng với cơ cấu tổ chức và cán bộ của Viện NNH hiện nay Đối tượng sinh viên chiếm 11.2% tổng số bạn đọc và cũng là đối tượng hiện nay được viện khuyến khích sử dụng nhằm hỗ trợ kiến thức ngôn ngữ học
Trang 34 Trình độ học vấn
NDT tại Viện NNH là những người có trình độ học vấn cao Trong số 143 người được hỏi, có học vị Tiến sỹ là 23 người (chiếm 16.1%); 11 người là Giáo sư và Phó giáo sư (chiếm 7.7%); 58 người học vị Thạc sỹ (chiếm 40.5%); 32 người là cử nhân (chiếm 22.4%); 19 người là sinh viên (chiếm 13.8%)
Lĩnh vực hoạt động
Trong số 143 người được hỏi thì có 98 người làm công tác nghiên cứu (chiếm 68.5%); những người vừa giảng dạy vừa nghiên cứu có 19 người (chiếm 13.3%); cán bộ quản lý 10 người (chiếm 7%); số người tham gia học
và nghiên cứu là 16 người (chiếm 11.2%)
Hầu hết NDT đều tham gia ít nhất 2 hoạt động Trong đó, nhóm cán bộ nghiên cứu thực hiện cả 4 hoạt động : hoạt động, nghiên cứu, giảng dạy và quản lý Điều này cho thấy NCT của họ là khá đa dạng, vì vậy việc đáp ứng NCT của NDT cũng phải có những phương thức sát hợp và cụ thể Đối tượng NDT là sinh viên chỉ chiếm số ít, 100% tham gia hoạt động học tập, có đến 2/3 trong số họ tham gia hoạt động nghiên cứu
Theo mức độ nghiên cứu khoa học, có 11% số bạn đang tham gia đề tài cấp nhà nước; 36% tham gia đề tài cấp Bộ; 4% tham gia thực hiện các đề tài,
dự án với nước ngoài Số còn lại đều là những người thực hiện đề tài cấp Viện Ở đây, tỉ lệ tham gia đề tài cấp Nhà nước và quốc tế chủ yếu là trình độ đều tham gia đề tài cấp Viện
Trình độ ngoại ngữ
Là Viện nghiên cứu về chuyên ngành ngôn ngữ học nên số lượng tài liệu tiếng nước ngoài chiếm gần một nửa vốn tài liệu hiện có trong thư viện Nhìn chung nhu cầu sử dụng ngoại ngữ để khai thác thông tin của người dùng
Trang 35tin tại Viện ngôn ngữ rất cao, mức độ sử dụng thường xuyên liên tục Nhóm
cán bộ quản lý và nghiên cứu giảng dạy tại Viện sử dụng thành thạo ít nhất 1
ngoại ngữ có những người sử dụng tốt 2 đến 3 ngôn ngữ khác nhau trong đó:
tiếng Anh 88 người chiếm 61.5%, tiếng Nga 27 người chiếm 18.9%, tiếng
Pháp 9 người chiếm 6.3%, tiếng Trung 19 người chiếm 13.3%
Bảng 1.2: Sử dụng ngoại ngữ trong việc khai thác thông tin
Đối tượng
Các ngôn ngữ được sử dụng
Tiếng Anh Tiếng Nga Tiếng Pháp Tiếng Trung
Trang 36Biểu đồ 1.2: Sử dụng ngoại ngữ trong việc khai thác thông tin
Tuy nhiên qua quan sát, trên thực tế của sổ mượn của NDT thì việc sử
dụng ngoại ngữ để đọc tài liệu chuyên ngành chỉ rơi vào một số ít người
khoảng 20 người là thường xuyên đọc tài liệu tiếng Anh Lý do là cán bộ
nghiên cứu thường tham gia và làm chủ nhiệm nhiều đề tài nên thời gian dành
cho đọc và tìm tài liệu bị hạn chế Mặt khác việc sử dụng ngoại ngữ với việc
đọc và giao tiếp vẫn còn là khoảng cách
Các nghiên cứu viên trẻ và sinh viên, thì trình độ ngoại ngữ còn nhều hạn
chế, chưa thể sử dụng tài liệu chuyên ngành, do vậy họ sử dụng ngoại ngữ để
Trang 37tra cứu Internet Số người có thể sử dụng tiếng Nga 19%, đa số là cán bộ được đào tạo từ Nga về, tại VNNH thì có tới 1/3 cán bộ nghiên cứu đọc được tiếng Nga Họ thuộc nhóm người trên 50 tuổi Điều này lý do là từ những năm 90 của trở về trước, Liên Xô là nơi gửi cán bộ Việt Nam sang đào tạo về ngôn ngữ học Tuy nhiên, gần 2 thập niên qua nguồn sách nhập
từ Nga vê rất ít, các thông tin lại ít được cập nhật hoặc không tương thích với các nguồn tin từ các ngữ Latinh, nên số người đọc tài liệu tiếng Nga hầu như không đáng kể
Thời gian đọc và nghiên cứu tài liệu
Qua điều tra cho thấy NDT dành thời gian đọc và nghiên cứu tài liệu tại thư viện và tại nhà như sau:
Nhóm cán bộ nghiên cứu dành thời gian để đọc tài liệu và thu thập,
xử lý thông tin cao hơn hẳn hai nhóm kia, từ 4-6 tiếng: 30,0%; 6-8 tiếng: 9,8%; trên 8 tiếng: 8,3% Nhóm cán bộ quản lý do ở cơ quan nhiều việc nên họ dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu tại nhà hơn Do công việc bận rộn, thời gian không nhiều nên nhóm cán bộ quản lý và giảng dạy dành tới thư viện để đọc tài liệu và thu thập thông tin từ 4-6 tiếng: nhóm quản lý
là 15,8%; nhóm giảng dạy: 9,0% Từ 6-8 tiếng: nhóm quản lý là 4,5%; nhóm giảng dạy là 3,8%
Trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường, giảng viên là người truyền đạt những kiến thức cơ bản và gợi mở cho sinh viên hướng nghiên cứu, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo của mỗi người Sinh viên hiện nay phải dành nhiều thời gian để thu thập thông tin, tự nghiên cứu là chính Phần lớn sinh viên dành 4-6h một ngày để thu thập thông tin tại nhà cũng như tại thư viện vì nhóm này đi học là chính và ngoài việc học tập
họ còn nhiều mối quan tâm khác
Trang 39Bảng 1.3: Thời gian dành cho thu thập thông tin của nhóm người dùng
tin (phân theo nhóm) Nhóm
Nguồn khai thác thông tin của người dùng tin
Người dùng tin tại Viện NNH khai thác thông tin ở nhiều nguồn khác
nhau Viện NNH là nơi cung cấp nguồn thông tin chủ yếu cho các nhóm người
dùng tin tại Viện Ngoài Viện NNH, người dùng tin còn tìm tài liệu về những
lĩnh vực chuyên môn mà họ quan tâm ở Viện thông tin Khoa học xã hội, Thư
viện Quốc gia, Thư viện Đại học Quốc gia, Thư viện Đại học ngoại ngữ
Theo kết quả khảo sát, địa điểm được người dùng tin khai thác thông
tin nhiều nhất tập trung ở Viện NNH (133 người chiếm 100%), Thư viện Viện
các viện KHXH chiếm 60,2%, Thư viện Quốc gia (53,4%), Thư viện Đại học
Quốc gia (15,1%)
Thư viện các viện Khoa học xã hội, Thư viện Quốc gia và Thư viện Đại
học Quốc gia được nhiều người đến đọc vì đây là những thư viện lớn, có vốn
tài liệu phong phú, cập nhật và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau; phòng đọc
rộng rãi, thoáng mát, yên tĩnh; cơ sở vật chất hiện đại; bộ máy tra cứu tốt
Ngoài ra, người dùng tin tại Viện Ngôn ngữ học còn đến các thư viện
TTKHXH, Thư viện Viện Văn học, Thư viện Viện Sử học, Thư viện trường
Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn Quốc Gia Hà Nội Sở dĩ người dùng tin đến đọc tài liệu ở nhiều thư
Trang 40viện là do tính chất liên ngành và đa ngành trong nghiên cứu Ngôn ngữ Để
có những công trình nghiên cứu sâu, có giá trị, ngoài những thông tin về ngôn
ngữ, cán bộ người cứu còn cần phải tham khảo, so sánh, đối chiếu với nhiều
tài liệu khác nhau
Trong số các thư viện được khảo sát có trong bảng thống kê, qua phỏng
vấn thì nhóm người dùng tin là cán bộ của Viện khai thác không nhiều mà
phần lớn là nhóm người dùng tin ngoài Viện, họ là nghiên cứu sinh, sinh viên,
là cán bộ giảng dạy và vốn tài liệu ở đó phù hợp với họ
Nguồn khai thác thông tin chủ yếu của từng nhóm người dùng tin cũng
khác nhau Ngoài Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, nhóm cán bộ quản lý tập
trung tại Thư viện các viện KHXH (7,5%), Thư viện Quốc gia (4,5%) Thư
viện Đại học Quốc gia (3,8%) Nhóm nghiên cứu tập trung khai thác thông tin
ở Thư viện Viện Thông tin KHXH 42,1%, Thư viện Quốc gia (40,6%), Thư
viện Đại học Quốc gia 38,3% Nhóm nghiên cứu trong đó có sinh viên đa số
tìm kiếm thông tin ở Thư viện Quốc gia, đây là nơi người dùng tin lựa chọn
nhiều do có thế mạnh về nguồn tài liệu đa dạng, số lượng bản nhiều
Bảng 1.4: Nhu cầu khai thác thông tin theo địa điểm của người dùng tin
Cơ quan Tổng số phiếu Quản lý Nghiên cứu Giảng dạy