Cuốn sổ tay này đã trang bị cho các cán bộ văn hóa – xã hội cơ sở những kiến thức để thực hiện những hoạt động cơ bản nhất của đời sống văn hóa cơ sở như: Thông tin truyền thông, quản lý
Trang 1TRƯờNG ĐạI HọC VĂN HOá Hà NộI
Lê thị bình an
đời sống văn hóa tại xã hoằng quý,
huyện hoằng hóa, tỉnh thanh hóa
LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học
Hà Nội, 2015
Trang 2********
Lê thị bình an
đời sống văn hóa tại xã hoằng quý,
huyện hoằng hóa, tỉnh thanh hóa
Chuyên ngành: Văn hoá học Mã số: 60310640
LUậN VĂN THạC Sĩ VĂN HóA học
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê xuân kiêu
Hà Nội, 2015
Trang 3dẫn khoa học của TS Lê Xuân Kiêu Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được
ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày ….tháng … năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thị Bình An
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ XÃ HOẰNG QUÝ, HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA 11
1.1 Lý luận chung về đời sống văn hóa 11
1.1.1 Khái niệm 11
1.1.2 Cấu trúc của đời sống văn hóa 20
1.1.3 Vai trò của đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 26
1.2 Khái quát về xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 34
1.2.1 Khái quát đặc điểm địa lý và cư dân 34
1.2.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội 36
Tiểu kết Chương 1 40
Chương 2 : THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TẠI XÃ HOẰNG QUÝ, HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY 41
2.1 Chủ thể văn hoá 41
2.1.1 Chủ thể văn hoá trong truyền thống 41
2.1.2 Chủ thể văn hoá hiện nay 44
2.2 Hoạt động văn hóa của nhân dân trên địa bàn xã 46
2.2.1 Hoạt động thông tin - tuyên truyền cổ động 46
2.2.2 Hoạt động giáo dục 47
2.2.3 Hoạt động bảo vệ di sản văn hoá và giáo dục truyền thống 49
2.2.4 Hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ, vui chơi giải trí 54
2.2.5 Hoạt động xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa và nếp sống văn hóa 57
2.2.6 Hoạt động xã hội từ thiện 58
2.3 Các thiết chế văn hóa tại xã Hoằng Quý 61
2.3.1 Thiết chế văn hóa truyền thống 61
2.3.2 Các thiết chế văn hóa hiện đại 63
Trang 52.4 Đánh giá chung 69
2.4.1 Những thành tựu 69
2.4.2 Những điểm hạn chế 73
Tiểu kết Chương 2 76
Chương 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CHO NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HOẰNG QUÝ, HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA 78
3.1 Những quan điểm định hướng nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân trên địa bàn xã 78
3.1.1 Quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước 78
3.1.2 Quan điểm định hướng của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện Hoằng Hóa 83
3.1.3 Quan điểm định hướng của Đảng ủy - Uỷ ban nhân dân xã Hoằng Quý 85
3.2 Một số giải pháp cơ bản 86
3.2.1 Nâng cao nhận thức và trình độ dân trí 86
3.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá 89
3.2.3 Nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá địa phương 91
3.2.4 Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền trong xây dựng đời sống văn hoá 93
3.2.5 Kết hợp xây dựng đời sống văn hóa với phát triển kinh tế xã hội bền vững 95
Tiểu kết Chương 3 98
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 110
Trang 6UBND
Tiến sỹ khoa học
Ủy ban nhân dân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay Nhận thức được vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong sự nghiệp kiến thiết đất nước có bốn lĩnh vực cần phải được coi trọng ngang nhau là: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội” [39, tr 80] Nghĩa là Người khẳng định các lĩnh vực này phải luôn gắn kết biện chứng với nhau, tác động hỗ trợ nhau trong quá trình phát triển đất nước Muốn phát triển bền vững thì nhất thiết phải phát triển kinh tế, chính trị, xã hội đi đôi với phát triển sự nghiệp văn hóa
2 Đảng, Nhà nước ta đánh giá rất cao công cuộc xây dựng và phát triển
văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội… [19, tr.54] Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển
3 Hoằng Quý là đơn vị hành chính cấp xã, trực thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Trong quá trình lao động, sáng tạo cần cù để xây dựng quê hương, bảo vệ xóm làng; qua biết bao biến thiên của thiên nhiên, thăng trầm của lịch sử; nhân dân xã Hoằng Quý đã, đang và luôn gìn giữ phát huy
Trang 8các truyền thống quý báu của dân tộc Qua quá trình xây dựng và phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, đời sống văn hóa trên địa bàn xã có nhiều đổi mới, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của xã Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, đời sống văn hóa ở xã Hoằng Quý còn bộc lộ những hạn chế cần có sự đánh giá khách quan để có hướng giải pháp tiếp tục phát triển
Từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đời sống văn hóa tại
xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa” cho luận văn thạc sĩ
Văn hóa học tại Đại học Văn hóa Hà Nội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã được khẳng định tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Mỗi công trình có những cách tiếp cận riêng, có công trình tập trung nghiên cứu về lý luận, có công trình chủ yếu bàn về vấn đề thực tiễn
Trong số công trình bàn về lý luận xây dựng đời sống văn hóa, có thể
kể đến công trình “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước
ta hiện nay” của GS TS Hoàng Vinh Đây là công trình trực tiếp bàn về vấn
đề xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Trong công trình này tác giả đã đưa ra
khái niệm về đời sống văn hóa cơ sở, cấu trúc của đời sống văn hóa cơ sở, đồng thời ông cũng đã nhấn mạnh vai trò của việc tổ chức xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tốt “chính là bước đi ban đầu nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân” [55, tr.106]
Trang 9Cuốn “Sổ tay công tác Văn hóa Thông tin” do Cục Văn hóa Thông tin
cơ sở (Bộ Văn hóa - Thông tin) đã tổ chức biên soạn và phát hành cũng là một trong số các công trình trực tiếp bàn về vấn đề này Với mục đích hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ văn hóa - xã hội của các xã, phường, cuốn sách đã chọn lọc, đề cập những kiến thức và phương pháp cơ bản nhằm trang bị cho đội ngũ những người làm công tác văn hóa - thông tin ở cơ sở thực hiện công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Cuốn sổ tay này đã trang bị cho các cán bộ văn hóa – xã hội cơ sở những kiến thức để thực hiện những hoạt động cơ bản nhất của đời sống văn hóa cơ sở như: Thông tin truyền thông, quản lý và phát huy giá trị di sản, thống kê văn hóa xã hội, công tác gia đình và dân số, tổ chức hoạt động văn nghệ quần chúng, thể thao, tổ chức và duy trì các thiết chế văn hóa như nhà truyền thống, nhà văn hóa, v.v
Những kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong xây dựng đời sống văn
hóa cơ sở được đúc rút trong cuốn “Gương điển hình về xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở” do Hội đồng thi đua khen thưởng Bộ Văn hóa - Thông tin
xuất bản Cuốn sách này đã giới thiệu một số gương điển hình tiên tiến xuất sắc về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, biểu dương những tập thể tiêu biểu, khích lệ những cá nhân khác cùng nhau thi đua lập thành tích và đặc biệt
là giới thiệu kinh nghiệm hoạt động của những cá nhân và tập thể đó trong việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
Tác giả Nguyễn Hữu Thức với hai công trình một mang tính lý luận, một
mang tính thực tiễn là “Về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; và “Về cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa”, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2009 đều có dành một
dung lượng nhất định cho vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Đáng chú ý là tác giả đã tổng hợp, phân tích quan điểm của người đi trước và đưa ra một khái niệm riêng của mình về đời sống văn hóa
Trang 10Nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong những bối cảnh, địa phương riêng biệt, cụ thể cũng cho những tư liệu quý giá Đáng chú ý là kết quả nghiên cứu của Chương trình KX.05 với hàng loạt đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa như: Đề tài KX.05 - 02: Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa do TSKH Phan Hồng Giang làm chủ nhiệm;
Đề tài KX.05 - 03: Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng
đô thị và khu công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa do
GS TSKH Đình Quang làm chủ nhiệm; Đề tài KX.05 - 04: Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa của một số dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa do
GS TS Trần Văn Bính làm chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu của đề tài đã
được xã hội hóa để công bố dưới dạng cuốn sách “Đời sống văn hóa các
dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do GS TS
Trần Văn Bính chủ biên Đây là công trình đã phân tích một cách chi tiết đặc thù của văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ cũng như tình hình xây dựng đời sống văn hóa ở các vùng đó Một nghiên cứu tương tự khác được tiến hành nhưng trong môi trường đô thị và
các khu công nghiệp Đó là “Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp
Việt Nam” do GS TSKH Đình Quang chủ biên
Đời sống văn hóa cơ sở cũng được bàn đến trong một số công trình
nghiên cứu liên quan như: Văn Đức Thanh, “Về xây dựng môi trường văn
hóa cơ sở”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Đinh Xuân Dũng (chủ
biên), “Xây dựng làng văn hóa ở đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Nguyễn Viết Chức (chủ
biên), “Xây dựng tư tưởng đạo đức lối sống và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà
Trang 11Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Viện
Văn hóa và Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001
Ngoài ra có rất nhiều luận văn Thạc sĩ viết về vấn đề xây dựng đời sống
văn hóa tại các địa phương, tiêu biểu như: Trương Ngọc Lan,”Đời sống văn
hóa ở nông thôn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội hiện nay”, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2012; Lương Thu Trang, “Xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn thành phố Thái Nguyên hiện nay, Đại học Văn hóa Hà Nội, 2010; Lê Thị Thanh Nhàn, “Đời sống văn hóa ở nông thôn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội hiện nay”, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2012…
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản
về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Song cho đến nay vẫn chưa
có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống và cụ thể về đời sống văn hóa ở Thanh Hóa, đặc biệt là đời sống văn hóa ở xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ năm 1998 đến nay Trên cơ sở kết quả của những công trình nghiên cứu đi trước, kết hợp với việc khảo sát thực địa luận văn sẽ tập trung nghiên cứu khảo sát những phương diện khác nhau của đời sống văn hoá tại xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn
những vấn đề về xây dựng đời sống văn hóa và ý nghĩa của việc xây dựng đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, luận văn sẽ khảo sát đánh giá thực trạng xây dựng đời sống văn hóa, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa ở xã Hoằng Quý
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Trang 12 Trình bày và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa, đời sống văn hóa, cấu trúc đời sống văn hóa và vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Khảo sát và đánh giá thực trạng đời sống văn hóa ở xã Hoằng Quý từ năm 2005 đến năm 2014, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và từ
đó rút ra các bài học kinh nghiệm
Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa tại xã Hoằng Quý trong giai đoạn 2015 - 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đời sống văn hóa của nhân
dân tại xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu tại xã Hoằng Quý
trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Quan
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Hệ thống các quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
Trang 136 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến văn hóa, đời sống văn hóa
Phân tích vai trò của đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội
Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng đời sống văn hóa trên địa bàn xã Hoằng Quý và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại địa phương
Những kết quả nghiên cứu của luận văn nếu được áp dụng tại địa phương sẽ góp phần vào việc xây dựng đời sống văn hóa của người dân ngày càng tốt hơn Ngoài ra, luận văn cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về đời sống văn hóa và khái quát về xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Thực trạng đời sống văn hóa tại xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Chương 3: Quan điểm định hướng và giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân trên địa bàn xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT
VỀ XÃ HOẰNG QUÝ, HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA 1.1 Lý luận chung về đời sống văn hóa
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Văn hóa
Văn hóa là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định Xét về
mặt từ nguyên, thuật ngữ chỉ văn hóa có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Colere nghĩa là “trồng trọt”, “vun trồng” Trước thế kỷ 16, từ này chỉ thuần túy mang
ý nghĩa là chăm sóc, vun trồng cây cối Sau đó nó có thêm ý nghĩa phái sinh là
chăm sóc, vun trồng tâm hồn và trí tuệ cho con người Thuật ngữ văn hóa trong
tiếng Việt hiện nay là một từ Hán Việt, trong đó, văn có nghĩa là vẻ đẹp, hóa có nghĩa là giáo hóa, biến hóa Sách Chu Dịch có viết: “Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ” nghĩa là: cái nhân văn, vẽ đẹp của con người có thể giáo hóa cho toàn thiên hạ Ở đây, văn hóa được giải thích như một phương thức dùng
vẻ đẹp để cải biến, giáo hóa con người theo hướng tích cực
Như vậy, khởi nguồn thuật ngữ văn hóa (Culture) dù ở phương Đông hay ở phương Tây đều mang ý nghĩa về vai trò giáo dục và hoàn thiện con người trong xã hội, chủ yếu thiên về lĩnh vực hoạt động tinh thần, giáo dục khai mở tinh thần cho con người, biến con người cá thể (như một sinh thể) thành con người cá nhân (như một nhân cách xã hội) Con người muốn phát triển, muốn tham gia và hoạt động xã hội và được xã hội chấp nhận thì phải được “văn hóa hóa”
Sau này các nhà nghiên cứu văn hóa dần dần mở rộng khái niệm văn hóa theo nhiều giác độ khác nhau Chính vì thế mà cho tới nay đã có đến hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau về văn hóa Văn hóa trong quan niệm
Trang 15triết học mác xít được biểu thị như phương thức hoạt động người bao hàm và chứa đựng toàn bộ các sản phẩm vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người Văn hóa xuất hiện và ngày càng đa dạng trong quá trình hoạt động thực tiễn nhằm cải biến, thích nghi môi trường sống Văn hóa hình thành trong quá trình cải biến con người trở thành chủ thể của sự vận động lịch sử, thành một cá nhân toàn vẹn
Cho dù có đến hàng trăm định nghĩa và quan niệm khác nhau về văn hóa, do các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước công bố, nhưng những quan niệm này không hề mâu thuẫn hay đối lập nhau, trái lại chúng luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau Điều này xuất phát từ một thực tế là mỗi một nhà nghiên cứu lại tiếp cận với văn hóa từ một góc độ riêng Điều này cũng cho thấy văn hóa là một hiện tượng vô cùng phức tạp đa chiều, đa tầng lớp
Khi sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng định nghĩa:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [38, tr.131]
Với cách định nghĩa theo cách mô tả, văn hóa, theo quan điểm của Hồ Chí Minh cũng là quan điểm mở rộng, nó đã thoát khỏi cái ý nghĩa hạn hẹp
mà từ nguyên của thuật ngữ mang lại Nó không chỉ có các giá trị tinh thần
mà còn cả các giá trị vật chất phục vụ cho quá trình sống, tồn tại của cộng đồng người
Trong Hội nghị quốc tế về “Chính sách văn hóa” do UNESCO tổ chức
vào tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô, văn hóa được xác định:
Văn hóa là tổng thể các quan hệ về dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc biệt, xác định tính cách của một xã hội hay một
Trang 16nhóm xã hội Nó bao hàm không chỉ là cuộc sống nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của sự tồn tại nhân sinh, những hệ thống giá trị, các truyền thống và các quan niệm… [31] Theo cách định nghĩa này, văn hóa chính là nét bản sắc nhất, đặc trưng nhất mà một dân tộc sở hữu và nó chính là một trong những cơ sở quan trọng
để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác (cộng đồng này với cộng đồng khác) Văn hóa cũng phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sinh động về mọi mặt của cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Văn hóa cũng biểu thị rõ trình độ ứng xử đối với môi trường tự nhiên và xã hội của cộng đồng chủ thể, những chuẩn mực mà cộng đồng đó chấp nhận và duy trì, những cách thức mà cộng đồng đó quản lý và vận hành xã hội
Với lợi thế của người tiếp cận sau, được sự hỗ trợ của nhiều nhà nghiên cứu đi trước, đặc biệt là với cách tiếp cận hệ thống, tác giả Trần Ngọc Thêm
đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, về cơ bản đã khái quát được hầu hết các
quan niệm của các nhà nghiên cứu trước đó về văn hóa Ông viết: “ Văn hóa
là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong mối tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội” [47, tr.19] Định nghĩa này đã nhấn mạnh được 4
đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính nhân sinh, tính lịch sử, tính hệ thống và tính giá trị
Trong khuôn khổ của luận văn này, để dễ dàng xem xét đối tượng nghiên cứu, tôi sử dụng định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm như một khái niệm công cụ Vì vậy để nghiên cứu khảo sát đời sống văn hóa cơ sở, tôi
sẽ nghiên cứu cả các giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho quá trình sáng tạo, phân phối, bảo quản và hưởng thụ của cộng đồng dân cư xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 171.1.1.2 Khái niệm về đời sống văn hóa
Trong Từ điển Lạc Việt, từ đời sống có nhiều ý nghĩa khác nhau tuy có gần gũi với nhau, cụ thể là:
1 Tình trạng tồn tại của sinh vật: Đời sống của cây cỏ; Đời sống của súc vật; Đời sống của con người
2 Sự hoạt động của người ta trong từng lĩnh vực: Đời sống vật chất; Đời sống tinh thần; Đời sống văn hoá; Đời sống nghệ thuật
3 Phương tiện để sống: Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân (Hồ Chí Minh)
4 Lối sống của cá nhân hay tập thể: Đời sống xa hoa; Đời sống cần kiệm; Đời sống chan hoà; Đời sống cũng cần thơ ca (Phạm Văn Đồng) [10] Theo cách giải thích này, thì nghĩa liên quan đến khái niệm đời sống văn hóa mà chúng ta quan tâm chính là sự hoạt động của con người trong các lĩnh vực Và như thế đời sống văn hóa, theo Từ điển Lạc Việt chính là hoạt động của con người trong lĩnh vực văn hóa
Như trên đã phân tích, văn hóa chính là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, cộng đồng mình Chính vì vậy, hoạt động văn hóa, về bản chất là hoạt động tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Con người thường xuyên phải tác động vào môi trường, phải tương tác với nhau để tạo ra các giá trị thỏa mãn nhu cầu của mình
Như thế, đời sống văn hóa giống như một mạng lưới đa hợp các mối tương tác đa dạng của con người Có những mối tương tác trong từng lĩnh vực hoạt động, ví như để tạo ra của cải vật chất như kinh tế, tạo ra các giá trị trong lĩnh vực quản lý xã hội như chính trị, luật pháp, tạo ra các chuẩn mực, quy tắc ứng xử, giao tiếp trong lĩnh vực giao tiếp hành ngày ; Những mối tương tác
Trang 18này cũng được xác định trong những môi trường lớn nhỏ khác nhau, như với chính bản thân, trong gia đình, làng xã, cơ quan, tổ quốc, môi trường xã hội nói chung, môi trường tự nhiên rộng lớn…; Xét theo khía cạnh chủ thể tham gia vào các tương tác cũng có mối tương tác cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, dân tộc này với dân tộc khác; v.v Trong tất cả những hình thức tương tác này đều nhằm mục đích tạo ra các giá trị, và những giá trị được cộng đồng chung chấp nhận chính là các giá trị văn hóa Giá trị là hạt nhân của văn hóa và
đời sống văn hóa Chính vì vậy, Đời sống văn hóa chính là một bức tranh toàn
cảnh phản ánh sự sáng tạo, truyền bá, bảo lưu và hưởng thụ các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người, tức là thông qua các mối tương tác đa chiều trong môi trường mà con người sống và hoạt động
Tác giả Hoàng Vinh cho rằng:
Nếu xem xét hoạt động sống của con người từ ba góc độ nhận thức, hành động và cảm xúc, chúng ta có thể thấy hệ giá trị văn hóa bao gồm ba phạm trù cơ bản là: Chân, Thiện, Mỹ Trong đó, Chân là đối tượng của nhận thức và sáng tạo khoa học, Thiện là đối tượng của nhận thức và hành vi đạo đức, Mỹ là đối tượng của nhận thức
và hoạt động thẩm mỹ, nghệ thuật Chân, Thiện, Mỹ có mối quan
hệ thống nhất nhau, phản ánh quan niệm của con người về những mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, khả năng sáng tạo theo các quy luật cái đẹp của con người Phạm trù chân, thiện, mỹ, đã hàm nghĩa với sự phân biệt đối với các hiện tượng tương phản, đối lập như: giả, ác, xấu Điều này cũng cho thấy, đời sống văn hóa là quá trình vận động của chủ thể người và xã hội theo hướng ngày càng tiếp cận và khẳng định các giá trị Chân, Thiện,
Mỹ, đấu tranh với cái phản giá trị giả, ác, xấu, trong đời sống con người và xã hội [55, tr.35]
Trang 19Hoạt động sáng tạo, bảo quản, truyền bá… có thể là hoạt động của từng
cá nhân nhưng nó luôn diễn ra trong mối quan hệ của cộng đồng Hay nói cách khác, nó luôn mang tính xã hội Sáng tạo, hay bảo quản, luôn lấy quần chúng nhân dân làm đối tượng để hướng đến, quần chúng phải là một thành tố của hoạt động này Ở chiều ngược lại, công chúng và sự tiêu dùng của công chúng sẽ định hướng cho các hoạt động nói trên Sự liên thông giữa các yếu
tố này cho thấy hoạt động văn hóa luôn diễn ra có đối tượng và đúng mục đích và luôn có hiệu quả tác động
Cũng theo tác giả Hoàng Vinh:
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội Đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng được những nhu cầu của con người Trong khi đó, các hoạt động văn hóa đáp ứng nhu cầu tinh thần, làm cho con người tồn tại với tư cách là một sinh thể xã hội, tức là con người tồn tại như một nhân cách văn hóa Xã hội càng tiến hóa, nhu cầu văn hóa và sự đáp ứng nhu cầu đó ngày càng cao, thể hiện trình độ phát triển người, các hoạt động đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, đó chính là hoạt động văn hóa [55, tr.162, 163]
Có thể hiểu rằng: Đời sống văn hóa chính là tổng thể sống động các
hoạt động văn hóa trong quá trình sáng tạo (sản xuất), bảo quản, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm văn hóa và sự giao lưu văn hóa, nhằm từng bước thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt văn hóa của cá nhân và cộng đồng
Để nhận diện rõ về đời sống văn hóa như một mô hình lý luận cần vận dụng trong thực tiễn, Hoàng Vinh cũng đã cố gắng phân biệt giữa môi trường văn hóa và đời sống văn hóa Theo tác giả, về phương diện nào đó, đời sống văn hóa cũng chính là môi trường hoạt động sống của con người Môi trường văn hóa là nơi diễn ra mọi hoạt động văn hóa, có sự hòa trộn giữa văn hóa cá nhân với văn
Trang 20hóa cộng đồng, là tổng thể của những văn hóa vật thể và phi vật thể, nhân cách văn hóa có sự tác động lẫn nhau, trực tiếp hình thành nên phẩm giá và lối sống của con người và xã hội Văn hóa chính là đời sống, ban đầu nó là cái phân biệt giữa con người và động vật, về sau, nó là cái phân biệt giữa cá nhân con người và cộng đồng Ý nghĩa của văn hóa là chuyển dịch dần từ các mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên sang mối quan hệ giữa con người và xã hội [52]
Trong chừng mực nào đó, nếu ta chia đời sống con người ra làm hai mảng: đời sống vật chất và đời sống tinh thần, dưới góc nhìn trừu tượng hóa, đời sống vật chất bao gồm toàn bộ các hoạt động thỏa mãn các nhu cầu vật chất, làm nên sự tồn tại sinh vật của con người Tương tự, đời sống tinh thần của con người hình thành trên cơ sở những hoạt động thỏa mãn nhu cầu tinh thần để nâng cái tồn tại sinh vật ấy lên tầm xã hội, thông qua việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần, con người còn nhằm thỏa mãn một nhu cầu khác hướng tới các giá trị nhân hóa, cái chân trong nhận thức, cái thiện trong hành động và cái mỹ trong cảm xúc Đây chính là đời sống văn hóa, nó như là mặt cắt ngang đối với đời sống của con người, xuyên thấm sâu trong tất cả các lĩnh vực của đời sống vật chất và lĩnh vực tinh thần, như sự thăng hoa của đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Tuy vậy, giữa đời sống văn hóa và môi trường văn hóa cũng không hoàn toàn đồng nhất Sự khác nhau được thể hiện: môi trường văn hóa là môi trường chứa đựng những giá trị văn hóa và diễn ra các mối quan hệ văn hóa, các hoạt động văn hóa của con người Còn đời sống văn hóa là “Tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo văn hóa” của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu văn hóa, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, hướng con người và xã hội phát triển theo tinh thần nhân văn, nhân bản
Theo phân tích nêu trên của tác giả Hoàng Vinh, tôi nhận thấy rằng, môi trường văn hóa và đời sống văn hóa là hai khái niệm không đồng nhất
Trang 21nhưng rất gần gũi với nhau Đời sống văn hóa nhấn mạnh đến khía cạnh hoạt động của văn hóa, còn môi trường văn hóa nhấn mạnh đến khía cạnh không gian tồn tại và diễn biến văn hóa Hai khái niệm này luôn có mối quan hệ rất biện chứng với nhau Đời sống văn hóa luôn được thực hiện trong một không gian (một môi trường văn hóa nhất định), không có đời sống văn hóa ngoài môi trường văn hóa Mặt khác, môi trường văn hóa phần lớn chính là thành quả của những hoạt động của đời sống văn hóa của thế hệ trước để lại cho thế
hệ sau Đời sống văn hóa của thế hệ này sẽ tiếp tục tạo ra, bổ sung những yếu
tố mới vào môi trường văn hóa của thế hệ tiếp theo Môi trường văn hóa luôn được cấu thành từ các giá trị văn hóa đã hình thành, được cộng đồng chấp nhận bao gồm cả các giá trị vật chất và tinh thần; Đời sống văn hóa sẽ bao gồm những hoạt động văn hóa mới trong môi trường văn hóa đó Nhưng môi trường văn hóa không bao trùm lên toàn bộ đời sống văn hóa, bởi vì, thứ nhất, đời sống văn hóa luôn gồm những hoạt động trong mối tương tác với không chỉ môi trường văn hóa mà còn môi trường tự nhiên; thứ hai, đời sống văn hóa luôn bổ sung thêm các giá trị văn hóa mới vào môi trường văn hóa và gạn lọc những giá trị không còn phù hợp để tạo thành môi trường văn hóa mới
cho thế hệ mai sau Nếu xét đến tận cùng như vậy, môi trường văn hóa về
thực chất là một bộ phận của đời sống văn hóa, nếu cắt một lát cắt đồng đại
Kết quả phân tích này sẽ rất quan trọng cho việc xác định cấu trúc của đời sống văn hóa mà chúng ta cần phải nghiên cứu dưới đây
Hoàng Vinh còn phân tích sâu sắc hơn bản chất của đời sống văn hóa trong mối tương quan với đời sống vật chất và đời sống tinh thần Ông cho rằng, nếu như đời sống vật chất hay đời sống tinh thần là các khái niệm chỉ những hoạt động sống của con người thì đời sống văn hóa như một khái niệm
có tính bao trùm để chỉ mặt giá trị của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Thiếu đi ý nghĩa văn hóa, đời sống của con người chỉ là một
Trang 22chuỗi các hoạt động hướng tới những nhu cầu bản năng Khái niệm đời sống vật chất hay đời sống tinh thần chỉ hàm chứa phương tiện, nội dung sinh hoạt;
đó là những phương diện tồn tại cho mình, cho cá nhân Trong khi đó, khái niệm đời sống văn hóa phản ánh trình độ đáp ứng và xử lý hai loại nhu cầu
nói trên, hàm chứa những mối quan hệ nhiều chiều [55]
Đời sống văn hóa nằm ngay trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, ngay trong đời sống hàng ngày Có thể hình dung đời sống vật chất và tinh thần là biểu hiện bề ngoài, còn đời sống văn hóa là nội dung, là ý nghĩa của đời sống thường nhật Ý nghĩa văn hóa có được trước hết là ở đời sống vật chất đầy đủ đời sống tinh thần phong phú, vui tươi Quan niệm này của ông rất gần với quan niệm về Đời sống mới của Hồ Chủ Tịch Hồ Chủ tịch trong cuốn “Đời sống mới” đã chỉ ra rằng: mục đích của đời sống mới là:
“Làm thế nào đời sống của nhân dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn” [38, tr.95]
Trong nghiên cứu của mình PGS TS Nguyễn Hữu Thức cho rằng: Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất và tinh thần, đời sống xã hội
đề hướng con người vươn lên theo quy luật của cái đẹp, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mỹ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hóa con người [48, tr.19]
Với cách hiểu trên thì đời sống văn hoá là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hoá nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Đó là quá trình các yếu tố văn hoá mà con người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho xã hôi; tác động vào đời sống tinh thần để con người thoả mãn nhu cầu chủ quan đáp ứng yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội
Trang 23để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chính cuộc đời Quan niệm này về cơ bản cũng đồng nhất với quan niệm của Hoàng Vinh mà tôi đã phân tích trên đây
Như vậy, đời sống văn hóa chính là những hoạt động trong quá trình
sáng tạo, bảo quản, trao đổi và hưởng thụ các giá trị trong hoạt động sống của con người, nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống theo hướng lành mạnh hay nói cách khác là hướng đến các giá trị cơ bản là chân, thiện,
mỹ Đời sống văn hóa luôn được thực hiện trong một môi trường văn hóa và
môi trường tự nhiên nhất định
Để có thể xem xét cụ thể đời sống văn hóa của một cộng đồng, một địa phương ta cần phải xem xét cấu trúc của đời sống văn hóa, xem đời sống ấy gồm những bộ phận, hay các nhóm hoạt động nào?
1.1.2 Cấu trúc của đời sống văn hóa
Trong Giáo trình “Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng” hệ
cử nhân chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, cấu trúc của đời sống văn hóa được xác định bao gồm: Con người văn hóa, hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa [27, tr.47]
Tác giả Hoàng Vinh lại quan niệm, đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể và nhân cách văn hóa bao quanh con người, gây ra sự tác động lẫn nhau giữa các cá nhân trên phạm vi không gian nào đó, trực tiếp hình thành lối sống và nề nếp con người đó Thể thống nhất này gồm
4 yếu tố: những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể hiện diện ở mỗi cộng đồng; những yếu tố cảnh quan văn hóa (tự nhiên và nhân tạo); những yếu tố văn hóa cá nhân (học vấn, sở thích, sinh hoạt và xử lý thời gian, nếp sống….)
Trang 24Những yếu tố văn hóa của các vi môi trường trong những cộng đồng (gia đình, tập thể nhỏ về lao động, học tập …)
Trong luận văn thạc sỹ với đề tài: “Đời sống văn hóa ở thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng ngày nay”của tác giả Trần Đình Hoàn, sau khi đưa ra các
quan điểm khác nhau đã đưa ra một cấu trúc mới, cụ thể là:
Con người văn hóa, hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, các hoạt động văn hóa, hệ thống các thiết chế và cảnh quan văn hóa Giữa các yếu tố đó có sự tác động lẫn nhau, phản ánh toàn
bộ đời sống con người, đáp ứng nhu cầu, tác động đến sự phát triển của con người và xã hội [tr.17-18]
Xuất phát từ những gợi ý quý giá nêu trên, tôi thấy rằng, không thể có đời sống văn hóa nếu không có chủ thể của đời sống đó; vì vậy yếu tố đầu tiên và tiên quyết chính là con người văn hóa; Con người thực hiện đời sống văn hóa của mình thông qua các hoạt động Những hoạt động này một mặt sử dụng các giá trị đã được tích lũy trong môi trường văn hóa mà thế hệ trước đã
để lại để tạo ra các giá trị văn hóa mới; Mặt khác sẽ tạo ra các giá trị văn hóa mới để tạo ra môi trường văn hóa cho thế hệ sau Các hoạt động nêu trên kể
cả cá nhân và cộng đồng đều chủ yếu thông qua các thiết chế văn hóa Do đó, tôi cho rằng, cấu trúc của đời sống văn hóa bao gồm: Chủ thể văn hóa, hoạt động văn hóa và các thiết chế văn hóa
- Chủ thể văn hóa: Con người, với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động
xã hội, là yếu tố khởi đầu trong cấu trúc của đời sống văn hóa Đời sống của con người nói chung và đời sống văn hóa nói riêng đều do chính con người kiến tạo nên Nhưng con người lại cũng chính là sản phẩm của các hoạt động
ấy, mang vác các giá trị mà hoạt động ấy tạo ra Chình vì thế mà con người vừa là kiến trúc sư, vừa là công trình của đời sống văn hóa Xét về tổng thể thì con người là yếu tố quyết định của đời sống văn hóa Nhưng đó không phải là
Trang 25con người cá nhân mà là một cộng đồng người Mặc dù cộng đồng này hoạt động theo từng cá nhân độc lập, nhưng lại tuân thủ theo các giá trị văn hóa đã được cộng đồng xác lập Con người tái tạo và sử dụng những giá trị đó như một phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình, khiến cho đời sống của con người không chỉ là những hoạt động bản năng sinh tồn mà còn là những hoạt động có ý thức theo định hướng của hệ giá trị
mà cộng đồng của họ tích lũy Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể, đối tượng của đời sống văn hóa Chính trong đời sống văn hóa, những năng lực
văn hóa của con người được nuôi dưỡng và bộc lộ
- Hệ thống các hoạt động văn hóa: Xét theo nghĩa rộng nhất của văn
hóa, hoạt động sống nào của con người cũng chứa đựng các giá trị văn hóa, từ
ăn, mặc, đi lại đến giao tiếp, vui chơi giải trí… Tuy nhiên, giá trị văn hóa trong các hoạt động này chỉ tồn tại như là giá trị người của tất cả mọi hoạt động sống nói chung vì chưa phải là mục đích trực tiếp Vì vậy, hoạt động văn hóa ở đây được hiểu là những hoạt động mà nội dung và mục đích của nó
là các giá trị Chân - Thiện - Mỹ Đó chính là quá trình sản xuất, bảo quản, phân phối và tiêu dùng các giá trị văn hóa Thông qua hoạt động này, giá trị
sẽ được sản sinh, vận động và lan tỏa trong đời sống Với tư cách là loại hoạt động “ thực hiện” các giá trị, hoạt động văn hóa là hoạt động mang tính sáng tạo, thể hiện một cách tập trung nhất năng lực văn hóa, khả năng sáng tạo theo
các quy luật của cái đẹp của cá nhân và cộng đồng
Hoạt động sáng tạo, bảo quản, truyền bá…các giá trị văn hóa có thể do
cá nhân hay cộng đồng thực hiện, nhưng bao giờ chúng cũng diễn ra trong mối liên hệ với cộng đồng Mục đích chính của hoạt động sáng tạo, bảo quản hay phân phối các giá trị là thỏa mãn nhu cầu của mỗi cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chung từ thấp đến cao Sự lành mạnh, đa dạng, phong phú của đời sống văn hóa không phải chỉ xác định bởi sự lành mạnh, đa dạng, phong
Trang 26phú của những hoạt động này mà còn bởi mức độ tham gia của các thành viên trong cộng đồng và hiệu quả tác động lên nhận thức, tâm hồn và trí tuệ của
họ Chất lượng của đời sống văn hóa của một địa phương hay một cộng đồng được đánh giá một phần lớn thông qua chất lượng của các hoạt động văn hóa
đó Vì như đã phân tích trên đây, hoạt động văn hóa ở một lát cắt đồng đại sẽ một mặt sử dụng, tái tạo các giá trị văn hóa có sẵn trong môi trường văn hóa, mặt khác lại tạo ra các giá trị văn hóa mới để làm đa dạng, phong phú hơn (hoặc ngược lại) môi trường văn hóa đó
Thực tế hiện nay, có những dạng hoạt động văn hóa cơ bản sau đây:
- Hoạt động thông tin - tuyên truyền cổ động
- Hoạt động câu lạc bộ
- Hoạt động thư viện, đọc sách báo
- Hoạt động bảo vệ di sản văn hoá và giáo dục truyền thống
- Hoạt động xây dựng gia đình văn hóa và nếp sống văn hóa
- Hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí
- Hoạt động xã hội từ thiện
- Hoạt động xây dựng thể chế và cảnh quan văn hóa
Những hoạt động này luôn nằm trong một tổng thể chung, sống động tạo nên sự toàn diện và đa dạng của đời sống văn hóa một địa phương hay một cộng đồng nhất định
- Thiết chế văn hóa:
Thiết chế văn hóa là không gian quan trọng nhất nơi diễn ra, duy trì các hoạt động văn hóa
Mỗi thiết chế văn hóa đảm trách một vai trò riêng biệt trong tổng thể đời sống văn hóa Ví dụ các thiết chế tôn giáo như đình, đền, chùa có vai trò trong đời sống tâm linh của nhân dân, củng cố niềm tin vào sự cái thiện, cái tốt đẹp; Các thiết chế như trường học, đóng vai trò trọng việc giáo dục, nâng
Trang 27cao dân trí, hiểu biết của nhân dân; Câu lạc bộ, nhà văn hóa có vai trò giúp nhân dân sáng tạo và giải trí; Các thiết chế như thư viện, bảo tàng giúp lưu giữ các giá trị và phục vụ cho nhu cầu học tập, nâng cao dân trí và giải trí
Trong đời sống văn hóa cộng đồng chính tại các thiết chế này là nơi diễn ra các hoạt động có tính cộng đồng, tập trung nhất, biểu hiện rõ nét nhất những tinh hoa được hội tụ và kết tinh trong đời sống văn hóa cộng đồng Nó chính là chiếc cầu nối giữa sáng tạo và thưởng thức, giữa văn hóa quá khứ và công chúng đương thời Những thiết chế này cũng là những công cụ, phương tiện quan trọng để giáo dục và nâng cao trình độ văn hóa, trình độ thẩm mỹ của công chúng Mỗi nền văn hóa thường có một kiểu thiết chế văn hóa đặc trưng, nhưng mỗi địa phương, một cộng đồng thuộc nền văn hóa ấy, bên cạnh những thiết chế đặc trưng chung còn có những thiết chế riêng của địa phương
và cộng đồng mình Điều này làm nên sự đa dạng và phong phú cũng như tính đặc thù của đời sống văn hóa mỗi cơ sở Sự đa dạng và hoàn thiện của các thiết chế văn hóa, đặc biệt là hiệu quả tác động của chúng cho thấy nhịp độ và trình độ của đời sống văn hóa nói chung Trong điều kiện bùng nổ thông tin,
sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thiết chế văn hóa có thể được xem là những “đồn lũy” văn hóa Đây là một trong những nơi mà đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa diễn ra một cách cụ thể và Đảng, Nhà nước cần có sự quan tâm thỏa đáng
Vai trò tối quan trọng của các thiết chế xã hội - văn hóa chính là vai trò giáo dục Chính thông qua các thiết chế này mà hệ giá trị đã được tích lũy của cộng đồng mới phát huy được vai trò điều chỉnh xã hội của mình Thông qua các thiết chế này, văn hóa thực hiện chức năng giáo hóa con người theo những chuẩn mực phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Thiết chế xã hội
- văn hóa làm tốt chức năng của nó, sẽ cung cấp cho xã hội những “sản
phẩm” chất lượng cao, trực tiếp tạo nên con người văn hóa
Trang 28Cảnh quan văn hóa cũng đóng vai trò không nhỏ trong việc tạo ra, bảo lưu, hưởng thụ các giá trị văn hóa bao gồm các di sản văn hóa mà thế hệ trước
đã sáng tạo và tích lũy được cho cộng đồng của mình Đó chính là những sản phẩm được tạo ra khi con người tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao gồm các thắng cảnh tự nhiên, các kiến trúc, các công trình xây dựng, đường phố, các tượng đài… Cảnh quan văn hóa là môi trường vật chất - văn hóa mà trong đó con người sinh sống Nó là biểu hiện bề nổi của đời sống văn hóa một cách trực tiếp Người ta có thể nhận biết được đời sống văn hóa của một cộng đồng hay một địa phương khá rõ qua kiến trúc cảnh quan môi trường, trật tự, vệ sinh công cộng…; qua sự tôn tạo và sử dụng các cảnh quan thiên nhiên Những cảnh quan văn hóa biểu hiện rõ nét quan niệm triết học, cách tư duy, khả năng tổ chức, truyền thống văn hóa của một cộng đồng
Đó chính là những nét nổi của đời sống văn hóa nói chung Tuy chỉ là không gian vật chất do con người tạo ra nhưng cảnh quan văn hóa lại có tác động nâng đỡ, điều chỉnh, giám sát hành vi con người Bên trong cảnh quan chứa đựng những chuẩn mực của cộng đồng, bao phủ trong nó là sự lan tỏa thầm lặng của các giá trị văn hóa, ví như khi bước vào chùa, nhà thờ, người ta có thể cảm nhận được không khí trang nghiêm, thanh tịnh của một cõi linh thiêng nào
đó Các yếu tố trong hệ thống cấu trúc của đời sống văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau, trong đó giá trị văn hóa là yếu tố trung tâm Con người, với vai trò là chủ thể, là “kiến trúc sư” của đời sống văn hóa sẽ điều hành các mối quan hệ, các hoạt động, các thiết chế và cảnh quan văn hóa và văn hóa thông qua các hoạt động, các quan hệ và môi trường sống của mình
Với cấu trúc như vậy, đời sống văn hóa còn luôn luôn chịu sự tương tác với môi trường văn hóa Môi trường văn hóa bao gồm hệ thống các giá trị văn hóa được biểu hiện, cụ thể hóa dưới dạng các quy tắc, chuẩn mực ứng xử, phong tục, tập quán, nếp sống, các di sản văn hóa dưới dạng các tác phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể, các thiết chế văn hóa và cảnh quan văn hóa
Trang 29Hệ thống các giá trị văn hóa luôn kiểm soát và điều chỉnh hành vi của con người trong cộng đồng, giúp con người cá nhân trở thành con người của cộng đồng, được cộng đồng chấp nhận Hệ thống các cách thức biểu hiện những giá trị này, một mặt mang tính nhân loại, dân tộc nói chung, mặt khác cũng mang tính bản sắc riêng của mỗi cộng đồng và mỗi địa phương nhất định Hệ thống các giá trị này càng văn minh, đa dạng, phong phú, độc đáo càng gia tăng bản sắc của cộng đồng và địa phương và càng góp phần làm đời sống văn hóa của địa phương thêm lành mạnh và phong phú
Những giá trị văn hóa nêu trên là tài sản chung của mỗi cộng đồng, chúng sẽ được truyền tải đến từng thành viên trong cộng đồng thông qua các thiết chế văn hóa Thiết chế văn hóa là nơi diễn các hoạt động sáng tạo, duy trì, bảo lưu, hưởng thụ các giá trị văn hóa Đó là môi trường vật chất, là
“đường dẫn” đảm bảo cho các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã
hội Hệ thống này được xem là “ trung khu thần kinh” của nền văn hóa, bao
gồm cơ sở vật chất và các thiết chế văn hóa - xã hội
Trên đây là cấu trúc của đời sống văn hóa mà tôi trên cơ sở phân tích
và lĩnh hội những ý kiến quý giá của những người đi trước đã mạnh dạn đề xuất Tôi sẽ dùng cấu trúc này để khảo sát thực trạng đời sống văn hóa ở xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong những năm gần đây Những kết quả khảo sát này tôi sẽ trình bày ở chương 2
1.1.3 Vai trò của đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Ổn định chính trị - xã hội
Với vai trò là nền tảng tinh thần là mục đích và mục tiêu của sự phát triển, văn hóa nói chung và đời sống văn hóa nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ổn định chính trị xã hội Đời sống văn hóa lành mạnh, nghĩa là phát huy vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa, bồi đắp tâm hồn và
Trang 30trí tuệ cho nhân dân, nâng cao ý thức của người công dân và xây dựng nhân cách con người mới với việc ý thức đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm của mình sẽ là cơ sở vững chắc để tạo ra sự ổn định xã hội Đó chính là một
sự ổn định có tính bền vững, trường tồn Đời sống văn hóa lành mạnh đảm bảo cho con người phát huy cao độ khả năng sáng tạo và trình độ thưởng thức các giá trị văn hóa lành mạnh, đích thực Quan trọng hơn nữa là tạo ra những con người cá nhân thực sự với ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng địa phương nói riêng và dân tộc, quốc gia nói chung Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta coi trọng việc xây dựng đời sống văn hóa như một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống nói chung, đặc biệt là đời sống tinh thần, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, xây dựng nhân cách con người Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Xây dựng đời sống văn hóa chính là một quá trình gạn đục, khơi trong tinh tế, nhằm phát huy những yếu tố tích cực của truyền thống, tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực, những yếu tố lạc hậu
để thích nghi với bối cảnh kinh tế, chính trị xã hội hiện nay Đời sống văn hóa tại cơ sở luôn là những viên gạch vững chắc để xây dựng nên những nền tảng cho sự phát triển Chính vì thế nó tạo ra sự ổn định lâu bền Cũng chính nhờ nâng cao đời sống văn hóa tại cơ sở (xã, thôn, bản) mà ta hạn chế và vượt qua được những thách thức mà những xu hướng tác động mạnh mẽ lên xã hội Việt Nam hiện đại tạo ra Đó là xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa và nên kinh tế thị trường Cả ba xu hướng này đều tạo cho đất nước ta những cơ hội để phát triển Nhưng đồng thời chúng cũng tạo ra những thách thức không hề nhỏ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ tạo ra những vấn đề về môi trường hết sức đáng ngại, bên cạnh đó cũng đòi hỏi người lao động phải có một lối sống kỷ luật và có kỹ năng lao động cao Việc xây dựng đời sống văn hóa, trước hết là xây dựng con người mới, con người sáng tạo và lao động hiệu
Trang 31quả chính là đáp ứng cho yêu cầu này Toàn cầu hóa bên cạnh việc tạo cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, mở rộng thị trường còn mang đến những thách thức như gia tăng tội phạm kinh tế và hình sự, chịu tác động mạnh mẽ những biến động trên thế giới như khủng bố, chiến tranh, khủng hoảng, v.v Đời sống văn hóa cơ sở lành mạnh theo hướng tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới, phát huy có chọn lọc những giá trị văn hóa truyền thống sẽ giúp
ta kiểm soát tốt xã hội, chống diễn biến hòa bình, chống tội phạm, đảm bảo an ninh để phát triển bền vững Về cơ bản, xây dựng đời sống văn hóa cấp xã cũng bao gồm cả nhiệm vụ thực hiện và phát huy dân chủ ở cơ sở, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh góp phần rất quan trọng vào việc đổi mới và tăng cường công tác chính trị tư tưởng, phát huy tinh thần dân chủ ở cộng đồng dân cư, giúp các tầng lớp nhân dân trên địa bàn nắm chắc các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Những năm gần đây nhờ việc triển khai có hiệu quả Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên toàn quốc đã có tác dụng tích cực đến phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của từng địa phương, đặc biệt là cấp xã Đó là nhờ bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao vai trò của gia đình và cộng đồng; củng cố và làm sâu sắc hơn tình làng nghĩa xóm; đặc biệt là nâng cao trách nhiệm công dân, ý thức tự giác, tự chủ của cư dân Đó chính là những giá trị tốt đẹp và quý báu góp phần ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đảm bảo trật tự an toàn
xã hội, tạo động lực để xây dựng và phát triển đất nước nói chung và từng địa phương nói riêng
1.1.3.2 Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân
Xã là một đơn vị cơ sở, là cấp hành chính nhỏ nhất Chính vì vậy mà khả năng hưởng thụ các giá trị văn hóa đích thực, trong đó có các giá trị văn hóa tinh thần thường có nhiều hạn chế, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa
Trang 32nhìn chung có nhiều hạn chế Vì thấy xây dựng đời sống văn hóa cơ sở chính
là kiếm tìm những giải pháp, biện pháp để có thể mang những giá trị văn hóa đích thực đến cho người dân Các hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động luôn hướng cộng đồng cư dân đến những hiểu biết về chế độ, chính sách, các phong trào thi đua; Các hoạt động của thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ luôn thỏa mãn nhu cầu nghiên cứu, học tập, sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa để giải trí và tái sáng tạo Những hoạt động văn nghệ, thể thao một mặt như những con thuyền tải đạo, mang đến những tư tưởng nhân văn, những chiến lược phát triển kinh tế xã hội lâu dài và bền vững, mặt khác đã tạo ra những thời khắc thăng hoa, tạo ra những khoái cảm chân thực để mang tới sự thư thái, vui tươi cho cuộc sống cộng đồng, nâng cao năng lực thẩm mỹ và sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần; Những hoạt động lễ hội tại các thiết chế tôn giáo, một mặt đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng, mặt khác cũng tạo nên sự cố kết cộng đồng, phát huy vai trò hướng thiện, củng cố niềm tin và sự tốt đẹp, lương thiện của nhân dân
Nhìn chung, chính trong đời sống văn hóa tại cơ sở mà nhu cầu văn hóa của cư dân được thỏa mãn Mức độ thỏa mãn nhu cầu sáng tạo, bảo lưu, truyền bá, hưởng thụ văn hóa của cộng đồng cao cao thì chất lượng của đời sống văn hóa càng tốt Những giá trị văn hóa được tái tạo và sử dụng trong hoạt động văn hóa sẽ đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng dân cư và đồng thời cũng bồi đắp thêm môi trường văn hóa không chỉ cho thế hệ mình
mà còn cho con cháu mai sau Chính đời sống văn hóa đã duy trì dòng chảy văn hóa cộng đồng làng xã nói riêng và dân tộc quốc gia nói chung từ quá khứ đến hiện tại và tương lai
1.1.3.3 Góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Vai trò của đời sống văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, được thể hiện rõ nét ở những khía cạnh sau đây:
Trang 33- Thứ nhất, văn hóa nói chung luôn thể hiện vai trò nguồn lực phát triển của mình thông qua đời sống văn hóa hiện đại; Văn hóa có vai trò là nguồn lực phát triển với hai khía cạnh: vừa là nguồn lực trực tiếp vừa là nguồn lực
gián tiếp Trong cuốn Quản lý di sản văn hóa, tác giả Nguyễn Thị Kim Loan
đã phân tích sâu sắc và toàn diện vai trò là nguồn lực phát triển của di sản văn hóa mà chúng tôi nhận thấy về bản chất chính là những giá trị văn hóa vật chât và tinh thần trong môi trường văn hóa, một bộ phận cấu tạo nên đời sống văn hóa Theo tác giả này thì vai trò là nguồn lực trực tiếp của Di sản văn hóa chính là khả năng đưa các di sản, các giá trị vật chất và tinh thần vào quỹ đạo của ngành du lịch, một ngành công nghiệp không ống khói; Mặt khác có thể
sử dụng các kỹ năng lao động, kinh nghiệm lao động như những nguồn lực trực tiếp để lao động sản xuất, làm ra của cải vật chất để phục vụ cho đời sống kinh tế xã hội Với vai trò là nguồn lực gián tiếp thì các giá trị văn hóa đã bồi đắp tâm hồn trí tuệ của người lao động, giúp con người lao động năng suất, đảm bảo sự phát triển bền vững hơn khi lấy văn hóa làm mục đích phát triển
Mà con người là một nguồn lực có tính quyết định đối với sự phát triển kinh
tế xã hội Về vấn đề này tác giả của cuốn Quản lý di sản văn hóa viết :
Di sản văn hóa như một nguồn lực phi vật thể trong phát triển
kinh tế - xã hội cần được phát huy trên hai khía cạnh Thứ nhất,
phát huy chức năng tư tưởng của di sản văn hóa, nhằm bồi dưỡng con người về các mặt tri thức, tình cảm, ý chí, làm cho giá trị văn hóa tiềm nhập vào con người, khiến con người trở thành một nhân cách tích cực, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở đây, giá trị văn hóa biểu hiện như nguồn lực gián tiếp, tác
động vào sự phát triển Thứ hai, phân tích chức năng kinh tế của
di sản văn hóa, biểu hiện như là một nguồn lực trực tiếp tham gia vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nếu chúng
Trang 34ta đặt toàn bộ di sản văn hóa vào quỹ đạo kinh doanh của ngành du lịch [36, tr.145]
Nghị quyết 5 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII viết: “Văn hóa là lĩnh vực sản xuất tinh thần, tạo ra những giá trị văn hóa, những công trình nghệ thuật, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người” [19, tr.18] Ở đây đã khẳng định sản xuất tinh thần như một tiểu hệ thống trong nền sản xuất xã hội, nhưng lại giải thích tiểu hệ thống này có chức năng bồi dưỡng con người về mặt tri thức, tình cảm và đạo đức để trở thành những thành viên tích cực của xã hội Nói cách khác, trong thời kỳ bao cấp, chúng ta mới phát huy chức năng giáo dục của di sản văn hóa - sản phẩm của sản xuất tinh thần, mà chưa quan tâm đến chức năng kinh tế của nó
Nhìn ra các nước, chẳng hạn trong chính sách văn hoá của Nhật Bản, các giá trị văn hóa truyền thống được quan niệm như là những tài sản văn hóa Trong tương quan với khái niệm di sản văn hóa, tài sản văn hóa nhấn mạnh vào sự sở hữu tích cực của chủ thể, người quản lý tài sản văn hóa truyền thống chẳng những biết phát huy tác dụng giáo dục của tài sản ấy, mà còn phải biết làm cho nó có giá trị sử dụng - tức giá trị kinh tế trong xã hội đương đại Vậy là ngay từ giữa thế kỷ XX, khi ban hành chính sách văn hóa, người Nhật đã ý thức được về nguồn lực phi vật thể của những tài sản văn hóa truyền thống trong công cuộc khôi phục và phát triển đất nước của họ
- Thứ hai, văn hóa nói chung và sự phản ánh sống động của đời sống văn hóa chính là nền tảng tinh thần của sự phát triển Thế giới đã từng lấy chỉ
số GDP (Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội) để đánh giá mức độ phát triển kinh tế xã hội Nhưng sau đó người ta nhận thấy nếu lấy GDP làm chỉ số phát triển nó sẽ tạo ra sự phát triển lệch lạc, thiếu bền vững Bởi vì khi chạy theo những lợi ích kinh tế con người sẽ phạm phải nhiều sai
Trang 35lầm nguy hại như làm ô nhiễm môi trường, như cạnh tranh không lành mạnh, như tội phạm thương mại và hình sự Vì thế nhân loại đã thay đổi chỉ số đánh giá sự phát triển từ GDP sang HDI (Human Development Index – Chỉ số phát triển người) Trong chỉ số này có tính đến mức độ giáo dục, môi trường,
y tế, an ninh chính là các yếu tố quan trọng của đới sống văn hóa Chính vì vậy mà khi tổng kết thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988 - 1997), Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor viết:
Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa, thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa, và tiềm năng sáng tạo của nước đó sẽ bị suy yếu rất nhiều Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng Vì vậy, phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động cơ
và mục tiêu của phát triển phải được tìm trong văn hóa Nhưng đó
là điều cho đến nay vẫn thiếu Từ nay trở đi, văn hóa cần coi mình
là nguồn cổ suý trực tiếp cho phát triển, và ngược lại, phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ vị trí trung tâm, vai trò điều tiết xã hội [52] Đảng, Nhà nước ta đánh giá rất cao công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội… [19, tr.54] Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã
Trang 36hội, luật pháp, kỷ cương biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển
1.1.3.4 Giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống đồng thời mở rộng giao lưu hội nhập
Khi bàn đến cấu trúc của đời sống văn hóa tại mục 1.1.2, tôi đã phân tích các giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa Đời sống văn hóa lành mạnh về thực chất là sử dụng một cách khôn ngoan, phù hợp các giá trị văn hóa truyền thống ấy để tái tạo, sản sinh ra các giá trị văn hóa mới Chính vì thế, nếu đời sống văn hóa cơ sở phát triển đa dạng, phong phú một mặt nhờ các hoạt động văn hóa mới mẻ, mặt khác chính là nhờ việc khôi phục và phát huy các gía trị văn hóa truyền thống Những điệu múa, làn điệu dân ca, bản nhạc dân gian luôn là những món ăn tinh thần quan trọng để bồi đắp mạch nguồn văn hóa cho con người từ thuở ấu thơ Những lễ hội vừa trang nghiêm, linh thiêng, vừa vui tươi đã góp phần củng cố tính cố kết cộng đồng, thỏa mãn niềm ước mong giao hòa với thần linh (chủ yếu được biểu tượng hóa, thiêng liêng hóa các lực lượng thiên nhiên
và các nhân vật lịch sử) để cầu mong cuộc sống ấm no, hạnh phúc Đồng thời đây cũng là một phương thức hữu hiệu để củng cố tình cảm, mối quan hệ gắn
bó gia đình, dòng họ, bà con lối xóm, trách nhiệm cộng đồng được phát huy
Việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở các địa bàn cơ
sở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khơi dậy niềm tự hào, tự tin của các thành viên vào truyền thống văn hóa của địa phương mình nói riêng và dân tộc mình nói chung, khẳng định bản sắc riêng của địa phương mình
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở lành mạnh cũng góp phần vào việc
mở rộng giao lưu văn hóa với các địa phương khác Hoạt động sáng tạo và truyền thông là một mảng hoạt động quan trọng của đời sống văn hóa Địa phương nào tổ chức tốt hoạt động này không chỉ phục vụ những món ăn tinh
Trang 37thần cho địa phương mà còn có cơ hội giao lưu với các địa phương khác thông qua việc tham gia các cuộc thi, các cuộc liên hoan văn nghệ quần chúng, các cuộc đồng diễn, hội thao v.v
1.2 Khái quát về xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
1.2.1 Khái quát đặc điểm địa lý và cư dân
Hoằng Quý là một xã được tách ra từ một làng với xã Hoằng Phú là làng Phú Khê, một làng cách trung tâm thành phố Thanh Hoá 12km về phía Bắc, có đuờng quốc lộ và đường sắt chạy qua Làng Phú Khê thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, phía Bắc giáp với làng Nghĩa Trang, Kim Sơn (xã Hoằng Kim), phía Tây giáp làng Phượng Mao (xã Hoằng Phương), làng Cuội (xã Hoằng Hợp Phía Nam giáp các làng Đông Khê, Quỳ Chữ (Hoằng Quỳ) và phía Đông giáp các làng Đại Khê, Phú Địch xã Hoằng Khê) Lịch sử của xã Hoàng Quý bắt nguồn tư làng cổ Phú Khê, một làng có lịch sử lâu đời, nổi tiếng trong vùng với những truyền thống văn hoá độc đáo Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy cánh đây 3-4000 năm trên mảnh đất Phú Khê ngày nay đã có dấu vết của con người cư trú và làm ăn sinh sống Trên địa bàn của xã Hoằng Quý và một số xã lân cận như Hoằng Phú, Hoằng Hợp, Hoằng Lý, Hoằng Quỳ, các nhà khảo cổ học phát hiện nhiều di chỉ có niên đại thời đồ đồng và đồ sắt, dù chưa khai quật mà chỉ lập bản đồ và gọi chúng là “Văn hoá đôi bờ sông dọc cổ” Trong cuốn “Địa chí văn hoá Hoằng Hoá” cũng đã xác định đây là “cái nôi của con người Hoằng Hoá” [34, tr 20] Thời cổ đại làng chỉ là một khái niệm có tính ước lệ Những điểm dân cư trường đương với làng đầu tiên được gọi là kẻ, đến thời Lý thì chuyển thành Trang Vào thời Lý xã Hoằng Quý thuộc vào Phú Trừng Trang, một đơn vị hành chính cơ sở bao gồm cả Hoằng Phú, Đại Khê và Hoằng Quỳ ngày nay Theo nguồn sử liệu hiện có như Thần Phả của Làng và Đại Việt Sử ký toàn thư thì Thanh Hoá nói chung và huyện Hoằng Hoá nói riêng dân cư đông đúc và ổn định vào thời nhà Trần cho đến sau này
Trang 38Làng vốn là một mảnh tan vỡ của thị tộc, vì thế làng thường là nơi tụ
cư của một hoặc một vài dòng họ lớn Phú Khê cũng vậy Dân cư của làng mỗi ngày một đông đúc nhờ sự sinh sôi của con cháu một số dòng họ gốc và một số dòng họ di cư đến sau này Những dòng họ cư trú lâu đời nhất ở làng hiện nay là các dòng họ Lê Đình, Nguyễn Bá (khoảng gần hai muơi đời, theo gia phả), dòng họ mới nhất cũng cư trú ở làng khoảng 6, 7 đời như dòng họ Phan Văn, Lê Chí
Năm 1838, Phú Khê là một xã thuộc Tổng Hoằng Hoá, cùng với các tổng Lỗ Đô, Dương Sơn, Dương Thuỷ và hai tổng của Hậu Lộc gộp thành huyện Mỹ Hoá thuộc phủ Hà Trung Năm 1924, Phú Khê lại là một xã của Huyện Hoằng Hoá; năm 1945-1946, Phú Khê lại cùng 8 làng khác mới lập thành xã Hoằng Phú; năm 1953, làng Phú Khê lại tách ra thành một xã Hoằng Phú ; năm 1954, sau cải cách ruộng đất làng Phú Khê lại được tách ra thành hai xã là xã Hoằng Phú và xã Hoằng Quý như ngày nay Tuy nhiên, cho tới tận ngày nay làng Phú Khê vẫn chỉ thờ chung một thành hoàng làng duy nhất
đó là “Nhị vị Tôn thần” Chính vì vậy hai xã Hoàng Phú và Hoằng Quý vẫn
có nhiều hoạt động văn hoá cùng nhau
Xa xưa, làng Phú Khê vốn là một làng chiêm khê mùa úng - khi thì hạn hán, lúc lại úng ngập lút làng Nhưng điều kiện địa lý của làng lại có một nét đặc biệt, đó là nằm trên huyết mạch giao thông thuỷ bộ quan trọng Làng nằm ngay trên con đường Thiên Lý Bắc Nam, ngay từ thế kỷ III sau công nguyên Quân nhà Ngô đã đốc quân theo con đường này để truy quét nghĩa quân của
Bà Triệu, Quang Trung Nguyễn Huệ bao lần vào Nam ra Bắc cũng bằng con đường này Đầu thế kỷ 20, người Pháp mở đường sắt Bắc Nam cũng qua làng Phú Khê Điều này làm cho dân làng Phú Khê không chỉ phải đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt còn phải đối đầu với loạn giặc giã Chính vì thế mà đã hun đúc cho con người Phú Khê nói chung, dân xã Hoằng Quý nói riêng ý chí
Trang 39kiên cường, dũng cảm và cần cù, sáng tạo Đây là vùng đất được nổi danh là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nhiều học sỹ nổi tiếng nhiều đời cũng đã để lại những công trình bất hủ có liên quan đến Phú Khê Ví như Ngọc Phả do Nguyễn Bính biên soạn có ghi thần tích về làng Nhị vị Thành hoàng làng Phú Khê phù âm diệt giặc; Lê Quý Đôn viết bài phú ca ngợi đất nước con người Phú Khê Vũ Khiêu cũng viết bài “Phú Khê – Tân tụng” ca ngợi vùng quê xinh đẹp, văn hiến và anh dũng này Những áng văn chương này đều ca ngợi
vẻ đẹp tinh thần của cả một cộng đồng dân cư gắn kết Năm 1977 hai xã Hoằng Phú và Hoằng Quý cùng nhau thành lập ban viết sử, và Ban này đã cho ra mắt cuốn “Thông sử làng Phú Khê” Tác phẩm này đã phản ánh trung thực về lịch sử hình thành và phát triển cùng những đóng góp quan trọng của nhan dân hai xã thuộc làng Phú Khê đối với lịch sử dân tộc nói chung và lịch
sử Thanh Hoá nói riêng
1.2.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
* Kinh tế
Làng Phú Khê xưa kia là một lành khá trù phú, so với nhiều làng khác trong vùng, bởi vì dân cư nơi đây không chỉ làm nông nghiệp thuần tuý như nhiều làng quê khác ở Đồng bằng Bắc Bộ Với gần một ngàn rưỡi mẫu ruộng,
1650 hộ gia đình, và 7300 nhân khẩu ( theo thống kê năm 1953) nông nghiệp của làng phát triển mạnh Tuy nhiên, số ruộng này lại tập trung chủ yếu vào tay một số địa chủ giàu có, họ cho những nông dân nghèo thuê, cấy mướn Để có phân bón ruộng người làng Phú Khê đã phát triển nghề nuôi lợn Phú Khê xưa nổi tiếng về nghề nuôi lợn nái, cung cấp giống lợn cho các vùng lân cận Nhà nào cũng nuôi từ 1-3 con lợn nái, có hộ giàu có nuôi tới vài chục con Dân làng Phú Khê đã tích lũy được kinh nghiệm nuôi lợn nái rất tốt Để có cám nuôi lợn nái dân làng Phú Khê đã phát triển thêm nghề hàng xáo, tức mua thóc về xay giã để bán gạo, còn cám thì dùng nuôi lợn Đây là một mô hình kinh tế hợp lý
Trang 40thể hiện cách ứng xử khôn ngoan với môi trường tự nhiên của dân làng Phú Khê Hàng xáo và chăn nuôi đã khắc phục hiện trạng chiêm khô mùa úng, không thể chỉ trông vào nông nghiệp, hơn nữa, lại tận dụng được điều kiện giao thông thuận lợi để buôn bán, giao lưu với các địa phương khác
Khác với nhiều làng đồng bằng Bắc Bộ khác luôn có lối sống khép kín, không phát triển, thậm chí kỳ thị thương mại; Làng Phú Khê rất phát triển nghề buôn bán, dân làng Phú Khê đi buôn bán tơ lụa tận Hải Phòng, Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Nam Định, Hải Phòng, thậm chí sang tận Hương Cảng, Trung Quốc
Bên cạnh những những nhà giàu tới mức “Phú gia định quốc”, do phát canh thu tô hoặc buôn bán, hầu hết dân làng là dân lao động vất vả quanh năm, dù so với dân làng khác họ có dư dả ít nhiều Phần lớn là do họ làm ruộng, làm hàng xáo và nuôi lợn
* Truyền thống văn hóa
Tiền thân của xã Hoằng Quý, tức làng Phú Khê có sống văn hóa khá phát triển Con người Hoằng Hóa do điều kiện tự nhiên quy định là quanh năm phải đương đầu với giặc giã và lũ lụt nên họ rất có ý thức với việc rèn luyện thể lực Trong làng có lò luyện võ, hầu hết thanh niên đều tập võ, cùng với việc lao động cần cù, chăm chỉ nên dân làng Phú Khê nhìn chung có thể lực sung mãn, sức chịu đựng dẻo dai và khả năng thích nghi cao
Vùng đất này nằm trên hai trục giao thông Bắc Nam nên có điều kiện giao lưu văn hóa tốt Những cư dân đầu tiên đã là những tín đồ Phật giáo, vì thế làng này xưa gọi là đất 5 chùa, chỉ trong một không gian nhỏ hẹp đã từng
có 5 ngôi chùa mọc lên Có chùa rất linh thiêng như chùa Bảo Phúc, là nơi thập phương biết đến vì việc cầu tự ở đây rất linh Thần phả của làng cũng kể lại nguồn gốc Nhị vị Tôn thần cũng chính là hai người con do cầu tự ở chùa này mà được sinh ra Tuy nhiên, thật tiếc, do những sai lầm của chúng ta