1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập thực tiễn hoạt động tư vấn hợp đồng thương mại

18 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 88,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tham gia hoạt động thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng như giới luật sư chưa hình thành mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ. Doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý như một công cụ hữu hiệu, mỗi khi có tranh chấp xảy ra thì các doanh nghiệp lúc đó mới cần đến sự hỗ trợ của các luật sư.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN

TÊN CHUYÊN ĐỀ:

Thực tiễn hoạt động tư vấn hợp đồng thương mại tại Công ty luật

THUỘC BỘ MÔN:

Luật Thương Mại

CƠ SỞ THỰC TẬP:

CÔNG TY LUẬT TNHH IMF VIỆT NAM

NĂM 2019

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự

BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái quát về Hợp đồng thương mại 2

1.1 Khái niệm Hợp đồng thương mại 2

1.2 Đặc điểm của Hợp đồng thương mại 2

1.2.1 Chủ thể của Hợp đồng thương mại 2

1.2.2 Hình thức của Hợp đồng thương mại 3

1.2.3 Đối tượng của Hợp đồng thương mại 4

1.2.4 Mục đích của Hợp đồng thương mại 5

1.2.5 Nội dung của Hợp đồng thương mại 5

2 Thực tiễn hoạt động tư vấn Hợp đồng thương mại tại Công ty Luật TNHH IMF Việt Nam 8

2.1 Giới thiệu về Công ty Luật TNHH IMF Việt Nam 8

2.2 Tầm quan trọng của Hợp đồng thương mại trong kinh doanh 9

2.3 Hoạt động tư vấn Hợp đồng thương mại của công ty 10

2.3.1 Rủi ro pháp lý trong soạn thảo, ký kết hợp đồng 10

2.3.1.1 Hợp đồng vô hiệu về hình thức 10

2.3.1.2 Hợp đồng vô hiệu về nội dung 11

2.3.1.3 Rủi ro từ việc soạn thảo các điều khoản không chặt chẽ, rõ ràng 12

2.3.1 Tư vấn soạn thảo, ký kết hợp đồng thương mại tại Công ty Luật TNHH IMF Việt Nam 12

2.3.2 Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại 14

KẾT THÚC 15

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

MỞ ĐẦU Khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản Hợp đồng là sự khái quát một cách toàn diện các hình thức giao lưu dân sự phong phú của con người, là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có điều tiết của Nhà nước đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam phát triển ngày càng năng động, đa dạng hơn Trong thời gian qua nước ta đã chính thức gia nhập nhiều tổ chức thương mại thế giới và khu vực; các hiệp định hợp tác kinh tế thương mại song phương, đa phương được ký kết ngày càng nhiều hơn đã đưa nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Trong công cuộc đổi mới, mở cửa các doanh nghiệp Việt Nam đã đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đặc biệt là hoạt động thương mại Quốc tế Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm giao thương, đầu tư quốc tế, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam thường rất lúng túng khi phải đối mặt với việc xử

lý các tranh chấp Các vụ kiện về chống bán phá giá đối với cá tra - ba sa, giày da, phụ tùng xe đạp, các vụ kiện liên quan đến Vietnam Airlines, Công ty Daso… là những ví

dụ điển hình

Để hỗ trợ các doanh nghiệp phòng ngừa và giải quyết tranh chấp thì luật sư là người có vai trò rất quan trọng Luật sư luôn được coi là người đồng hành với doanh nghiệp trong suốt quá trình đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng với đối tác; hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết tranh chấp phát sinh, thông qua việc đưa ra những ý kiến tư vấn về mặt pháp lý Tuy nhiên, trong quá trình tham gia hoạt động thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam cũng như giới luật sư chưa hình thành mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ Doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý như một công cụ hữu hiệu, mỗi khi có tranh chấp xảy ra thì các doanh nghiệp lúc đó mới cần

đến sự hỗ trợ của các luật sư Để làm rõ hơn về vấn đề trên, tôi xin chọn đề tài: “Thực tiễn hoạt động tư vấn hợp đồng thương mại tại Công ty luật” làm nội dung báo cáo

thực tập của mình tại Công ty Luật TNHH IMF Việt Nam

Trang 5

NỘI DUNG

1 Khái quát về Hợp đồng thương mại

1.1 Khái niệm Hợp đồng thương mại

Hiện nay, Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng thương mại nhưng có thể hiểu hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại

Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu

tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”

Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo Điều 1 Luật thương mại

2005 gồm: hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các bên thỏa thuận chọn áp dụng Luật này hoặc Luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó áp dụng luật này

1.2 Đặc điểm của Hợp đồng thương mại

1.2.1 Chủ thể của Hợp đồng thương mại

Hợp đồng thương mại chủ yếu được kí kết giữa các bên là thương nhân, hoặc

có một bên là thương nhân Đây là một điểm đặc trưng của Hợp đồng thương mại so với các loại Hợp đồng dân sự

Theo quy định tại Điều 6 Luật thương mại năm 2005, Thương nhân bao gồm

tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh

Trong hợp đồng thương mại, có thể có những hợp đồng đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại… hay có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là thương nhân như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới thương mại…) Ngoài ra, các tổ chức, các nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng thương mại khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại Mặc dù pháp luật có quy định thương nhân là cá nhân hoạt động

Trang 6

thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh, tuy nhiên trên thực tế tại Việt Nam, không có trường hợp thương nhân là cá nhân, do không có cơ chế đăng ký kinh doanh đối với cá nhân

Về mặt bản chất, Hợp đồng thương mại là một loại giao dịch dân sự cụ thể Do

đó nó cũng mang các đặc điểm của một giao dịch dân sự Điểm a, b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì Điều kiện về chủ thể tham gia giao dịch dân sự như sau:

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập Bởi vì hành vi giao kết hợp đồng sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên Do vậy để hợp đồng có hiệu lực pháp lý và có khả năng thực hiện, người giao kết hợp đồng phải có khả năng nhận thức hành vi giao kết hợp đồng cũng như hậu quả của việc giao kết hợp đồng Đối với cá nhân, tổ chức giao kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền Nếu như người tham gia giao dịch không đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực và theo qui định của pháp luật sẽ bị tuyên bố vô hiệu

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Theo quy định của Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng phải tuân theo các nguyên tắc: tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội:

Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng là lý do dẫn đến hợp đồng bị coi là

vô hiệu

1.2.2 Hình thức của Hợp đồng thương mại

Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới hình thức nhất định của các chủ thể hợp đồng Thông qua cách thức biểu hiện này, người ta

có thể biết được nội dung của giao dịch kinh doanh đã xác lập Hình thức của hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng, bởi đó là chứng cứ xác nhận các quan hệ kinh doanh đã và đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách nhiệm khi có

vi phạm xảy ra Hình thức của hợp đồng có thể là lời nói, văn bản hoặc các hành vi cụ thể Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch kinh doanh phải được thể hiện

Trang 7

bằng hình thức văn bản hoặc phải được công chứng, chứng thực, đăng ký hay xin phép thì các bên phải tuân thủ quy định về hình thức khi ký kết hợp đồng

Về hình thức thì hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng phải được thiết lập bằng văn bản như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại… Điều

24 Luật thương mại năm 2005 đã quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó” Luật thương mại năm 2005 cũng cho phép thay thế

hình thức văn bản bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (Quy định tại Khoản 15 Điều 3)

Thông thường các hợp đồng thương mại được xác lập bằng văn bản để đảm bảo sự an toàn và dễ giải quyết khi xảy ra tranh chấp, nhưng đối với những hợp đồng đơn giản, việc mua bán cần diễn ra nhanh chóng thì các bên có thể xác lập hợp đồng bằng lời nói hoặc bằng một hành vi cụ thể Như vậy việc xác định hình thức của hợp đồng như thế nào là tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên Tuy nhiên nếu pháp luật

có quy định về hình thức của hợp đồng thì phải tuân theo quy định này Thông thường

đó là quy định hợp đồng phải được lập thành văn bản hoặc văn bản hợp đồng phải được công chứng, chứng thực Trong trường hợp này, hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực, khi giao kết các bên phải tuân theo hình thức được pháp luật quy định Để hợp đồng thương mại có hiệu lực, hợp đồng phải được xác lập theo những hình thức được pháp luật thừa nhận

1.2.3 Đối tượng của Hợp đồng thương mại

Đối tượng của hợp đồng thương mại thường là hàng hóa (động sản hoặc bất động sản), dịch vụ,… nhưng phải không thuộc trường hợp danh mục hàng hóa bị cấm Chính vì hoạt động thương mại bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cho nên đối tượng của hợp đồng thương mại không chỉ dừng lại ở hàng hóa hữu hình mà bao gồm cả các loại hình dịch vụ và các hoạt động sinh lợi khác

Trang 8

Theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương Mại Việt Nam năm 2005 thì hàng hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

và những vật gắn liền với đất đai Như vậy, với khái niệm này thì hàng hóa là đối tượng của hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ

có trong tương lai, và hàng hóa chỉ có thể là động sản hoặc tài sản gắn liền với đất đai

1.2.4 Mục đích của Hợp đồng thương mại

Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi” Như vậy, mục đích để xác lập Hợp đồng thương

mại là nhằm sinh lợi

Mục đích sinh lợi thường được hiểu đồng nghĩa với mục đích lợi nhuận Nhưng như vậy là không chính xác Bởi vì trong nền kinh tế Việt Nam không phải tất

cả các thương nhân đều đặt ra mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận hay còn gọi là kiếm lời, mà còn có các thương nhân được thành lập nhằm mục đích sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân

cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh (còn gọi là sản phẩm, dịch vụ công ích) Các thương nhân loại này không tìm kiếm lợi nhuận, nhưng hoạt động của chúng là nhằm mục đích sinh lợi theo ý nghĩa của định nghĩa này Mặt khác, hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của thương nhân không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại như việc mua nguyên vật liệu về

để sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, thuê xe ô tô để đưa công nhân đi làm, đi nghỉ hàng năm theo chế độ hoặc mua một số phương tiện cho công nhân giải trí sau giờ làm việc

1.2.5 Nội dung của Hợp đồng thương mại

Về nội dung hợp đồng thì nội dung hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng đó là các điều khoản do các bên thỏa thuận Các bên thỏa thuận nội dung càng chi tiết thì việc thực hiện hợp đồng càng thuận lợi, phòng ngừa được những tranh chấp có thể phát sinh Luật thương mại năm

2005 không quy định bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào nhưng có những điều khoản quan trọng cần phải chú ý là: đối tượng, chất lượng, giá

cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng

Hợp đồng thương mại là tổng hợp tất cả điều khoản mà các bên tham gia giao

Trang 9

kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ dân

sự của các bên tham gia giao kết hợp đồng

Pháp luật đề cao sự thảo thuận giữa các bên giao kết, tuy nhiên, nội dung của hợp đồng phải tuân theo những quy định của pháp luật hợp đồng nói chung Một số điều khoản quan trọng cần có trong một Hợp đồng thương mại như:

- Điều khoản thông tin các bên

Đây thường là điều khoản đầu tiên và luôn phải có trong một hợp đồng thương mại Cá nhân, tổ chức đều có quyền tham gia ký kết hợp đồng khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Vì vậy, ta cần phải xác định cụ thể cá nhân, tổ chức nào tham gia vào hợp đồng thương mại này

Để xác định được tư cách chủ thể của các bên thì cần phải có các thông tin cơ bản sau:

Đối với cá nhân: Tên, số chứng minh thư và địa chỉ thường trú Nội

dung này ghi chính xác theo chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ khẩu và cũng nên kiểm tra trước khi ký kết

Đối với tổ chức, doanh nghiệp: Tên, Trụ sở, Giấy phép thành lập và

người đại diện theo pháp luật Các nội dung trên phải ghi chính xác theo Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép đầu tư của doanh nghiệp Đối với trường hợp người tham gia ký kết Hợp đồng không phải người đại diện theo pháp luật của tổ chức, doanh nghiệp thì trước khi ký kết Hợp đồng cần kiểm tra các thông tin về giấy ủy quyền, quyết định bổ nhiệm hoặc văn bản khác chứng minh thẩm quyền tham gia ký kết của người đó

- Điều khoản về đối tượng của hợp đồng

Hợp đồng thương mại là hợp đồng nói chung của rất nhiều hoạt động thương mại Trên thực tế, đối với mỗi hoạt động thì tên hợp đồng được ghi cụ thể hơn Ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công hàng hóa…

Do vậy, đối với mỗi loại hợp đồng thì đối tượng của nó là khác nhau

Đối với hợp đồng dịch vụ hoặc gia công hàng hóa… đối tượng của nó là

các công việc cụ thể Những công việc này phải được xác định rõ ràng: Cách thức thực hiện, trình độ chuyên môn, người trực tiếp thực hiện, kết quả sau khi thực hiện

Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa: Đối tượng của hợp đồng là hàng

hóa được mua bán Khi soạn thảo, các bên phải xác định rõ tên hàng hóa, loại hàng

Trang 10

hóa, chất lượng hàng hóa, số lượng hàng hóa… tất cả các yếu tố trên phải được xác định rõ ràng, cụ thể trong hợp đồng

- Điều khoản về giá cả

Các bên khi thoả thuận về giá cả cần đề cập các nội dung sau: Đơn giá, tổng giá trị và đồng tiền thanh toán Về đơn giá có thể xác định giá cố định hoặc đưa ra cách xác định giá (giá di động) Thông thường quy định giá sẽ được điều chỉnh theo giá thị trường hoặc theo sự thay đổi của các yếu tố tác động đến giá sản phẩm

- Điều khoản thanh toán

Trong điều khoản này, các bên cần có thỏa thuận về phương thức thanh toán, đồng tiền thanh toán và thời hạn thanh toán

 Đối với phương thức thanh toán: Các bên có thể lựa chọn một trong các phương thức thanh toán phổ biến hiện nay: Thanh toán trực tiếp; Thanh toán thông qua chuyển khoản và thanh toán nhờ thu và tín dụng chứng từ L/C (thường được sử dụng đối với hợp đồng thương mại quốc tế)

 Đối với đồng tiền thanh toán: Các bên thỏa thuận cụ thể đồng tiền thanh toán là Việt Nam đồng hoặc USD hay một đồng tiền khác tùy theo ý trí các bên Tuy nhiên chỉ nên để một loại đồng tiền thanh toán duy nhất

 Đối với thời hạn thanh toán: Mặc dù pháp luật quy đinh các bên không thỏa thuận thời hạn thanh toán thì vẫn có phương thức xác định Tuy nhiên, các bên vẫn nên thỏa thuận một thời hạn thanh toán cụ thể Thời hạn thanh toán có thể là một lần hoặc nhiều lần theo tiến độ của hợp đồng

- Điều khoản về phạt vi phạm

Đây là điều khoản các bên tự thỏa thuận Tuy nhiên nếu các bên không thỏa thuận điều khoản này thì khi xảy ra vi phạm, các bên sẽ không được phạt vi phạm hợp đồng Do vậy, để đề phòng thì các bên nên quy thỏa thuận điều khoản này trong hợp đồng

Các bên thỏa thuận cụ thể mức phạt vi phạm, nhưng không được vượt quá 8% giá trị hợp đồng

Các bên có thể thỏa thuận cụ thể chỉ một số trường hợp vi phạm mới bị phạt vi phạm hoặc tất cả các vi phạm đều bị áp dụng

- Điều khoản quyền và nghĩa vụ các bên

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w