Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐỖ THỊ HƯỜNG
TÍNH TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN IVAN BUNIN
Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Hải Phong
HÀ NỘI, 2019
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu, các số liệu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ ở bất kỳ học vị nào
Tác giả luận án
NCS Đỗ Thị Hường
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Hải Phong – người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học nước ngoài, Khoa Ngữ văn và phòng Sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các anh chị em đồng nghiệp của tôi ở Viện Văn học, cô giáo tiếng Nga của tôi và gia đình đã luôn ở bên động viên tinh thần và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện luận án
Tác giả luận án
Đỗ Thị Hường
Trang 4MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu … 5
5 Giới thuyết khái niệm………… … 6
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài……… 13
7 Đóng góp mới của luận án……… 13
8 Cấu trúc luận án … 14
9 Lưu ý …14
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU… 15
1.1 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở Nga… 15
1.2 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở phương Tây …22
1.3 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở Việt Nam… 25
CHƯƠNG 2: ẤN TƯỢNG LỜI VĂN TRỮ TÌNH…… 31
2.1 Gia tăng biểu cảm lời văn … 31
2.1.1 Cảm xúc hóa đối thoại …… 32
2.1.2 Độc thoại hóa đối thoại và phối cảm lời kể với lời độc thoại 37
2.2 Tăng cường nhạc tính lời văn …… 41
2.2.1 Phép điệp tạo nhạc tính……… …………42
2.2.2 Lời văn xen thơ, nhạc……… …53
2.3 Thi vị hóa ngôn từ…… …59
2.3.1 Phong vị dân gian……… …………59
2.3.2 Vẻ đẹp ngôn từ của đức tin và tư tưởng………… …….63
CHƯƠNG 3: CHỦ THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG TRỮ TÌNH ……74
3.1 Chủ thể trữ tình - Người kể chuyện “chủ quan” 74
3.1.1 Người kể chuyện toàn tri “thâu tóm” cảm xúc 75
Trang 53.1.3 Luân chuyển người kể chuyện, thống nhất xúc cảm… …….81
3.2 Nước Nga trong miền hoài niệm……… … 84
3.2.1 Thiên nhiên Nga trong vẻ đẹp vĩnh hằng……… ………85
3.2.2 Điền trang – thế giới của kỷ niệm……… …… 90
3.3 Vẻ đẹp nữ vĩnh hằng……… ……… 98
3.3.1 Những bức chân dung “ấn tượng”……….……… ………98
3.3.2 Những tâm hồn Nga cứu rỗi……… …………104
3.3.2.1 Tình yêu cứu rỗi……… …………105
3.3.2.2 Lí tưởng cứu rỗi……… ……….109
CHƯƠNG 4: CỐT TRUYỆN TRỮ TÌNH VÀ CẢM THỨC BI HOÀI 114
4.1 Những mô thức cảm xúc – sự kiện ………… ….114
4.1.1 Cảm xúc tiếc nuối – dòng chảy “hoài niệm”…… 114
4.1.2 Cảm xúc mãnh liệt – khoảnh khắc “hiện tại”……… …117
4.1.3 Cảm xúc “an phận” – vòng đời “tĩnh lặng”… …… 119
4.1.4 Vòng tuần hoàn cảm xúc – sự kiện……… ……… 122
4.2 Cốt truyện hành trình tâm trạng… 127
4.2.1 Chuỗi cốt truyện tâm trạng tuyến tính… … 127
4.2.2 Chuỗi cốt truyện tâm trạng phi tuyến tính ………132
4.2.3 Chuỗi cốt truyện tâm trạng phi sự kiện… …… 135
4.3 Cảm thức bi hoài – nguồn mạch trữ tình truyện ngắn Bunin 138
4.3.1 Cái đẹp và cảm thức bi hoài………… ……….139
4.3.2 Tình yêu trong cảm thức bi hoài…… ………142
4.3.3 Khoảnh khắc cảm thức bi hoài…… ………144
KẾT LUẬN……… ………… 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một trong những thước đo khẳng định vị thế văn học hiện nay là giải Nobel văn học Nước Nga, với 5 lần được vinh danh, xứng đáng là một nền văn học danh tiếng Điều đặc biệt là, người khởi đầu cho “chuỗi giải thưởng Nobel văn học của Nga” Ivan Bunin vốn là một người Nga lưu vong Và cũng rất đặc biệt, “khác với các nhà văn Nga lưu vong đợt đầu tiên, các tác phẩm của Bunin đã được xuất bản ở Liên Xô ngay dưới thời chính quyền Xô viết” [34; tr 15] Nói cách khác, Bunin đã được “trở về” Tổ quốc bằng chính những sáng tác rất Nga của mình Điều đó khẳng định vị thế, vai trò và sức mạnh của văn chương Bunin ở ngay chính nước Nga quê hương ông và trên thế giới
Ivan Alekseevitr Bunin (1870 – 1953) là nhà văn, nhà thơ Nga, viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Peterburg (1909), giải Nobel Văn học (1933) Bunin được biết đến trước hết là một nhà thơ, nhưng giải Nobel được trao cho ông vì những sáng tác văn xuôi “kế tục truyền thống vĩ đại của kỷ nguyên rực rỡ thế kỷ XIX ở những điểm khả thủ cho sự phát triển”, vì “tài năng xuất chúng và siêu việt của riêng ông, nó làm nên dấu ấn của kiệt tác cho văn nghiệp của ông” [186] Có thể nói người viết văn xuôi mang đậm cốt cách thi
sĩ Bunin đã làm rạng danh cho văn học Nga bằng những tác phẩm được cả thế giới
ngưỡng mộ: Làng, Sukhodol, Quý ông từ San Francisco đến, Tình yêu của Mittia, Cuộc
đời Arseniev và những truyện ngắn tuyệt phẩm Những quả táo Antonov, Say nắng, Hơi thở nhẹ, Chiếc cốc đời, Ngày thứ Hai chay tịnh… Bằng những trang văn của mình, nhà
văn “đơn độc trong một kỷ nguyên nhiều biến động” [186] đưa người đọc về với thế giới thuần Nga của thế kỷ trước với những khung cảnh cổ kính xa xưa, trầm mặc, với không gian nông thôn ngập tràn hương thơm của táo Antonov, những con đường rợp bóng cây xanh hay làn hơi thở nhẹ lan đi “dưới bầu trời đầy mây, trong gió xuân lành lạnh”…
Ở Việt Nam, tác phẩm của Bunin được dịch từ cuối thập niên 80 của thế kỉ XX
Năm 1987, dịch giả Hà Ngọc đã giới thiệu với độc giả Việt những truyện ngắn: Hơi thở
nhẹ, Quý ông từ San Francisco đến, Chiếc cốc đời, Canh khuya, Những quả táo Antonov… Sau đó, các dịch giả Phan Hồng Giang, Thái Bá Tân bổ sung thêm nhiều tác
phẩm nổi tiếng khác: Trên biển đêm khuya, Rusya, Natali, Lần gặp cuối cùng, Một
Trang 7chuyện tình nhỏ, Kavkaz… Gần đây nhất, dịch giả Nguyễn Thị Kim Hiền đã giới thiệu
những truyện ngắn Galia Ganskaya, Con quạ, Tania, Ở Paris Vì thế, không khó để tiếp
cận và yêu thích Bunin Với chúng tôi, tình yêu với Bunin và những truyện ngắn đậm chất trữ tình của ông cũng xuất phát từ những áng văn đẹp đẽ và sâu lắng đã được chuyển ngữ
ấy
Bunin trưởng thành trong giai đoạn “Phục Hưng” của văn chương Nga - Thế kỷ Bạc với rất nhiều trường phái mới xuất hiện Những người đương thời với Bunin đều dấn thân vào các cuộc phiêu lưu với chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa đỉnh cao… Khi viết văn xuôi, Bunin vẫn kế thừa truyền thống vĩ đại của chủ nghĩa hiện thực Nga, với Lev Tolstoy, Anton Chekhov đồng thời “âm thầm” đổi mới nó bằng những kỹ thuật và thủ pháp tự sự của “chủ nghĩa hiện đại”, gia thêm cho nó xúc cảm của một nhà thơ, để người đọc thậm chí có ấn tượng văn xuôi Bunin “trữ tình hơn cả thơ trữ tình của chính nhà văn” [theo Gleb Struve - 194; tr 424] Các tác phẩm văn xuôi của Bunin, đặc biệt là truyện ngắn giống như những bài thơ văn xuôi bề mặt thì nhẹ nhàng thanh khiết nhưng lại chứa đựng “mạch ngầm trữ tình” bên trong, mà nếu khám phá được mạch ngầm
ấy sẽ phần nào hiểu và cảm được tâm hồn Nga rất Nga của nhà văn lưu vong trên đất Pháp Tuy nhiên chính “mạch ngầm trữ tình” này khiến cho việc “tiếp cận” truyện ngắn của ông không dễ dàng như thưởng thức chúng Cần có cả cái nhìn tự sự và trữ tình kết hợp với trực giác nghệ thuật khi đi sâu nghiên cứu truyện ngắn Bunin nói riêng và văn xuôi Bunin nói chung
Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để giúp người khác cũng thấy được sức quyến rũ của truyện ngắn Bunin, làm thế nào để làm nổi bật cái hay, cái tài của nhà văn, làm thế nào để
chỉ ra được “chất” Bunin? Đó là điều không dễ dàng Chúng tôi lựa chọn đề tài Tính trữ
tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin, gắng sức trả lời những câu hỏi khó khăn trên, để
bày tỏ tình yêu với văn học Nga, với nhà văn Ivan Bunin, góp một tiếng nói vào việc giới thiệu, nghiên cứu Bunin ở Việt Nam, đồng thời mong muốn có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu, giảng dạy về hiện tượng giao thoa thể loại trong văn học nói chung
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8Mục đích nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là làm sáng tỏ tính trữ tình trong truyện ngắn Ivan Bunin, từ khái niệm tính trữ tình cho đến những yếu tố biểu hiện tính trữ tình trong truyện ngắn (cả những yếu tố thuộc về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật); qua đó xác định mối liên hệ của tính trữ tình với chiều sâu tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn, hay nói cách khác là làm rõ “chất” Bunin trong văn xuôi Nga và thế giới, xác định những đóng góp của Bunin cho sự phát triển của văn học thế giới, cũng như tiếng vọng sáng tác của ông vào đời sống văn học đương đại
Để thực hiện được mục đích trên, chúng tôi đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xác định những yếu tố tạo ấn tượng trữ tình trên bình diện tổ chức ngôn từ, hình tượng sự vật như sự gia tăng xúc cảm, tăng cường nhạc tính, thi vị hóa lời văn trong truyện ngắn Bunnin
- Tìm hiểu đặc trưng biểu hiện của các dạng thức chủ thể trữ tình (người kể chuyện, nhân vật) và những đối tượng chủ yếu khơi dậy xúc cảm trữ tình trong truyện ngắn của Bunin; qua đó phần nào xác định cảm hứng chủ đạo kết nối tác giả - nhân vật – người đọc trong tác phẩm
- Làm sáng tỏ các mô thức thức cảm xúc – sự kiện, cũng như các kiểu cốt truyện trữ tình trong tổ chức trần thuật của truyện ngắn Bunin; xác định cảm thức bi hoài toát lên
từ các truyện ngắn Bunin như nguồn mạch trữ tình chủ yếu bắt nguồn từ cảm quan nghệ thuật của nhà văn; từ đó xác định phong cách truyện ngắn trữ tình của nhà văn cũng như những đóng góp của Bunin trong cách tân thể loại truyện ngắn
3 Đối tƣợng, phạm vi tƣ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các truyện ngắn của Ivan Bunin Cụ thể hơn, chúng tôi đi sâu nghiên cứu tính trữ tình như nét đặc trưng cho phong cách truyện ngắn của Bunin để thấy được tài năng cùng phong cách nghệ thuật tinh tế trong cá tính sáng tạo của nhà văn, phần nào chỉ ra được cơ chế hòa hợp của chất trữ tình trong tác phẩm tự sự Đặc biệt, qua việc tìm hiểu tính trữ tình trong truyện ngắn Bunin, chúng tôi muốn khẳng định “truyền thống trữ tình” trong sáng tác của các nhà văn Nga từ cổ điển cho đến hiện đại Đây cũng là một giá trị riêng của nền văn học đồ sộ này
Trang 93.2 Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu
Truyện ngắn chiếm một số lượng rất lớn trong sự nghiệp của Ivan Bunin Suốt cuộc đời cầm bút, ông đã để lại 21 tập truyện ngắn và truyện vừa Trong số đó mới chỉ có
34 truyện ngắn được dịch sang tiếng Việt Đây là một con số rất khiêm tốn Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi ưu tiên đi sâu nghiên cứu những truyện ngắn theo chúng tôi là tiêu biểu nhất cho phong cách của Bunin (kết hợp với đánh giá của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thông qua các sách, tạp chí và dựa trên tiêu chí những tác phẩm được chọn dịch ở phương Tây và Việt Nam) Đó là những tác phẩm nằm trong các tập:
Những truyện ngắn 1892-1901; Những truyện ngắn, truyện vừa 1902-1910; Những truyện ngắn, truyện vừa 1911-1914; Nước vô biên (1914-1926), Ngữ pháp tình yêu (1914-1926), Cây thần/ Cây Thiên Chúa (1927-1931), Những lối đi dưới hàng cây sẫm tối (1938-1953), Những truyện ngắn những năm cuối đời (1931-1952) Ngoài ra còn có
những truyện ngắn không được đưa vào các tuyển tập xen kẽ giữa các giai đoạn trên
Văn bản chúng tôi sử dụng trong luận án:
-Văn bản tiếng Nga: Бунин И.А (2006) Полное собрание сочинений в ХIII
томах, “Воскресенье”, Москва [99] Truyện ngắn của Bunin tập trung ở các tập 1, 2, 3,
4, 5, 6 gồm 188 tác phẩm
- Văn bản tiếng Việt:
+ I.A.Bunin, Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động, H., 2002 (Phan Hồng Giang giới
thiệu, Hà Ngọc, Phan Hồng Giang, Thái Bá Tân, Hữu Việt, Đoàn Tuấn dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
+ Ivan Bunin, Những lối đi dưới hàng cây tăm tối, Nxb Văn học - Nhã Nam, H.,
2006 In lại từ Ivan Bunin, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học; H., 1987 (Hà Ngọc dịch
và giới thiệu)
+ Ivan Bunin, Hơi thở nhẹ, Nxb Hội Nhà văn, H., 2006 In lại từ Ivan Bunin, Nàng
Lika, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn Việt Nam, H., 1988 (Phan Hồng Giang dịch và
giới thiệu)
+ Truyện ngắn Bunin trên Tạp chí Văn học nước ngoài số 6/2003
+ Truyện ngắn Bunin trên Tạp chí Văn học nước ngoài số 10/2011
Trang 10+ Truyện ngắn của Ivan Bunin trên internet (Nguyễn Thị Kim Hiền dịch)
- Văn bản tiếng Anh:
+ Bunin I (2007), Collected Stories, Ivan R.Dee Chicago Publisher, Chicago,
USA, (Graham Heltlinger translated)
+ Bunin I (2008), Dark Avenues, Oneworld Classic publisher, London, United
Kingdom, (Hugh Aplin translated)
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án triển khai hướng tiếp cận chủ đạo là tiếp cận hệ thống kết hợp với tiếp
cận lịch sử - văn hóa Chúng tôi xem xét các truyện ngắn của Bunin không chỉ như các
tiểu hệ thống với tính chỉnh thể của nó, mà còn nghiên cứu loại hình hóa các tác phẩm này trong toàn bộ hệ thống sáng tác của Bunin với các mối quan hệ bên trong và bên ngoài liên quan đến các vấn đề tiểu sử, bối cảnh văn hóa – xã hội – lịch sử Sáng tác của Ivan Bunin trải qua hai giai đoạn được phân định rõ ràng: trước và sau Cách mạng Tháng Mười Chúng tôi xem xét cả hai giai đoạn sáng tác truyện ngắn này cùng với mảng sáng tác thơ trong cùng một hệ thống phong cách nghệ thuật tuy có những nét đặc trưng riêng,
có biến đổi, song vẫn có thể xác định được đặc điểm chung làm nên một thế giới nghệ thuật nhất quán
Cơ sở lí thuyết cho nghiên cứu của chúng tôi là vấn đề vừa mang tính chất khoa học vừa mang tính chất mĩ học: tính trữ tình Xem xét những vấn đề nội hàm của thuật ngữ trên cả hai phương diện cho phép chúng tôi có một cái nhìn vừa bao quát vừa cụ thể
về đặc trưng này trong văn học, cụ thể ở đây là truyện ngắn của Bunin Truyện ngắn của Bunin dù đậm tính trữ tình, vẫn thuộc thể loại tự sự Bởi thế đối tượng đặc biệt này cần
được soi chiếu từ góc độ lí thuyết tự sự Chúng tôi kết hợp vận dụng hướng nghiên cứu
thi pháp học với lí thuyết trần thuật học hiện đại làm nền tảng cho những nghiên cứu
của mình Theo chúng tôi, việc sử dụng các lí thuyết này trong việc nghiên cứu truyện ngắn của Ivan Bunin là hợp lí và khả thi, bởi những truyện ngắn của Bunin, dù được coi
là tiếp nối truyền thống hiện thực cổ điển của văn học Nga thế kỷ XIX, vẫn rất mới mẻ và hiện đại
Trong luận án, chúng tôi còn sử dụng những thao tác nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 11- Thống kê – phân loại: khảo sát, thống kê, phân loại các dạng thức người kể
chuyện, các mô thức cảm xúc trữ tình, các dạng thức cốt truyện và các dạng thức điệp trong tác phẩm
- Phân tích – tổng hợp (văn học và ngôn ngữ học): được sử dụng trong việc làm rõ
giá trị cũng như chức năng thẩm mĩ cùng ý nghĩa của những thủ pháp, những phương thức nghệ thuật của Bunin trong truyện ngắn
- So sánh – đối chiếu: là thao tác cần thiết trong việc xác định nét đặc trưng của
tính trữ tình trong văn xuôi Bunin với tính trữ tình của các nhà văn trước ông, những nhà văn cùng thời và những nhà văn sau ông
5 Giới thuyết khái niệm
5.1 Khái niệm “tính trữ tình”
Điểm mấu chốt trong đề tài Tính trữ tình trong truyện ngắn Ivan Bunin là xác định
nội hàm khái niệm tính trữ tình và đặc trưng tính trữ tình trong truyện ngắn, trên cơ sở đó phân tích, lí giải những biểu hiện của tính trữ tình trong truyện ngắn Bunin Đây là một
việc làm không dễ dàng, bởi trong các Từ điển tiếng Việt, Từ điển thuật ngữ văn học ở
Việt Nam, khái niệm tính trữ tình không được các nhà nghiên cứu, biên soạn đưa vào thành một mục từ độc lập Chúng ta chỉ gặp thuật ngữ “trữ tình”, “thơ trữ tình”, “nhân vật trữ tình” Vì vậy, để xác định nội hàm khái niệm tính trữ tình, chúng tôi dựa vào nội dung khái niệm tương đương trong các từ điển tiếng Nga và tiếng Anh, từ đó trình bày cách hiểu về thuật ngữ tính trữ tình cũng như những biểu hiện cơ bản của tính trữ tình trong truyện ngắn nói chung và truyện ngắn Ivan Bunin nói riêng
Theo các từ điển Thuật ngữ Văn học – Mĩ học Nga – Pháp – Việt, Từ điển Anh – Nga, Từ điển Anh – Việt, thuật ngữ tính trữ tình/tính chất trữ tình tương đương với thuật
ngữ лиризм trong tiếng Nga và lyricism trong tiếng Anh Thực tế, лиризм và lyricism
được các từ điển trên giải thích sang tiếng Việt tương đương với thuật ngữ tính chất trữ tình, (tính chất) trữ tình, tính trữ tình Ở đây, chúng tôi thống nhất sử dụng ba thuật ngữ
tính trữ tình - лиризм - lyricism trong cùng một nội hàm ý nghĩa mà chúng tôi sẽ giải
thích cụ thể dưới đây
Trang 12Trước hết, chúng tôi chủ ý lựa chọn thuật ngữ tính trữ tình chứ không phải thuật ngữ chất trữ tình hay tính chất trữ tình Căn cứ vào nghĩa từ nguyên của “tính”, “chất” và
“tính chất” theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh (“Tính: Nguyên lí sở dĩ sinh ra người – Bản nguyên về tinh thần của người – Bản chất của người hoặc của vật” Tính được dùng với nội hàm ý nghĩa cụ thể hơn, đầy đủ hơn so với chất (với nghĩa tính chất)
và tính chất (với nghĩa bản tính) [1; tr 400]), chúng tôi nhận thấy: Tính là bản chất, thuộc
tính của con người hoặc sự vật, giúp phân biệt con người này với con người khác, sự vật
này với sự vật khác Tính về cơ bản đồng nghĩa với chất và tính chất, tuy nhiên thuật ngữ
tính gợi ra sự liên kết cao độ trong hệ thống của các yếu tố, thiên về định tính và khái
quát, còn thuật ngữ chất và tính chất thiên về sự thống kê cụ thể các yếu tố của hệ thống, thiên về tính định lượng và tổng kết Tính mang nội hàm khái niệm danh từ (xét về mặt từ loại) cao hơn chất và tính chất (thiên về nội hàm tính từ) Do đó dùng thuật ngữ tính sẽ
chỉ ra được mức độ liên kết sâu sắc mang bản chất của các yếu tố làm nên sự vật, đồng thời cho thấy sự sáng tạo, khoa học và khái quát cao hơn trong nghiên cứu một đối tượng khoa học
Tìm hiểu nội hàm khái niệm của thuật ngữ tính trữ tình - лиризм và lyricism,
chúng tôi nhận thấy thuật ngữ này được nhìn nhận dưới nhiều góc độ ý nghĩa phong phú, nhưng tương đối thống nhất
Trong tiếng Anh (American English) lyricism được hiểu theo hai nghĩa: 1 Đặc
điểm hay phong cách trữ tình, thường trong thơ 2 Cảm xúc trữ tình, nhiệt tình, đặc biệt khi cảm xúc không bị kiềm chế hay khi cảm xúc thái quá [The Random House
Unabridged Dictionary, 189] British Dictionary cũng xác định lyricism là: 1 Phẩm chất,
đặc tính hay phong cách của thơ ca trữ tình 2 Sự dạt dào của tình cảm hay lòng nhiệt tình [Collins English Dictionary, 189]
Còn trong Từ điển Nga - Nga, лиризм được giải thích: 1 Sự xúc cảm, sự tha thiết,
xúc động của thơ ca (trong tác phẩm nghệ thuật) 2 Bản chất trữ tình, tâm trạng/ tư tưởng
trữ tình [110; tập 2, tr 187] Từ điển Tiếng Nga của Ozhegov thì khẳng định лиризм 1
Đặc trưng trữ tình, nội dung trữ tình 2 Sự nhạy cảm với cảm xúc của tâm trạng, sự mềm
mại và tinh tế của cảm xúc [144; tr 279] Như vậy, bản thân thuật ngữ tính trữ tình trong
Trang 13các ngôn ngữ nước ngoài cũng nhấn mạnh khía cạnh tình cảm, cảm xúc được biểu hiện mạnh mẽ, tinh tế, nhạy cảm đặc biệt trong các tác phẩm nghệ thuật, phổ biến là thơ ca
Với tư cách là một thuật ngữ văn học, лиризм được định nghĩa như sau: Là một
phạm trù thẩm mĩ, một dạng đặc trưng đặc biệt của tư duy nghệ thuật, trong đó nổi trội là sự/nỗi xúc cảm thầm kín và riêng tư của con người [150] Đặc biệt, cảm xúc, cảm giác,
tâm trạng của nhân vật và của tác giả tác phẩm văn học thuộc “phạm trù лиризм” được
biểu lộ một cách trực tiếp và mở [89]
Theo các từ điển ngôn ngữ Nga và các từ điển thuật ngữ văn học của Nga, nghĩa
của лиризм xuất phát từ лирика, лиризм gần với thuật ngữ лиричность (chất trữ tình) Theo chúng tôi khảo sát, thuật ngữ лиризм được sử dụng với ý nghĩa chủ động hơn, phổ quát hơn, mang tính quan niệm của tác giả hơn là thuật ngữ лиричность được sử dụng để chỉ chất trữ tình thường không mang tính đặc thù cho một phong cách Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn лиризм thay vì лиричность Tìm hiểu từ nguyên của лиризм, chúng tôi cũng khảo sát nội hàm ý nghĩa của thuật ngữ лирика để từ đó đưa ra được những nét đặc trưng được coi là tiêu chí cho tính trữ tình лиризм
Trước hết, trong Từ điển Nga - Nga, лирика có ba ý nghĩa: 1 Một trong ba
loại/phương thức cơ bản của văn học nghệ thuật, trong đó thực tế được phản ánh một cách sâu sắc thông qua những cảm xúc tha thiết, tư tưởng và tâm trạng của tác giả Là yếu tố cảm xúc trong tác phẩm của một nhà văn 2 Một thể loại văn học, cụ thể thơ trữ tình 3 Tính đa cảm, đa tình, dễ cảm, dễ xúc động[110; tập 2; tr 186]
Trong các Từ điển thuật ngữ văn học, лирика được phân tích trên các khía cạnh:
- Trữ tình là sự biểu hiện của cảm xúc, nhân vật chính của nó là tình cảm, nó sẽ hiển thị những xúc cảm của trái tim, tất cả những giai điệu của âm nhạc tâm hồn
- Nhà thơ trữ tình trong tính chủ quan của mình buộc phải hiểu mình và làm mê đắm những người khác, làm mê đắm tất cả mọi người; đó chính là một trong những nét quyến rũ nhất của anh ta: nói về mình, kể về mình, anh ta cũng đồng thời nói với chúng
ta, anh ta làm cho độc giả cũng hiểu tình cảm của anh ta; tâm hồn nhà thơ-tâm hồn nhân loại, và ở đây cái chủ quan hòa làm một với vẻ đẹp kỳ diệu của cái khách quan
- Trong một bài thơ trữ tình, đặc biệt quan trọng là âm nhạc của câu thơ, giai điệu;
âm nhạc và giai điệu này thấm vào ngôn từ của bài thơ đó Và thứ âm nhạc này không
Trang 14đơn giản giống như hành động đệm đàn, hay thậm chí chỉ là một yếu tố phụ bên ngoài, có thể có hoặc không Không, nó là một phần không thể thiếu của bài thơ, một trong những yếu tố quan trọng nhất thuộc về bản chất bên trong của thơ Shiller cho rằng âm nhạc trong nhiều bài thơ trữ tình của ông xuất hiện trong tâm hồn của ông trước khi văn bản thành hình Đáng chú ý là, khi tính trữ tình thẩm thấu/thâm nhập vào không chỉ những câu thơ, mà còn văn xuôi, nó sẽ biểu lộ/ làm nên tính giai điệu rõ rệt, và nó gắn tất cả vào cùng một bản nhạc
- Nhà thơ trữ tình cảm nhận được chất thơ trong chính mình và trong cả thế giới rộng lớn bên ngoài, do đó trong thơ của mình, anh ta giải quyết được các vấn đề phổ quát của thế giới và chính mình, thống nhất thực tế khách quan và thực tại tâm lí thành một thể thống nhất hữu cơ
Những sự phân tích trên của các học giả người Nga (Iu.Podolsky và N.Iu.Rusova)
trong Từ điển thuật ngữ Văn học [94], [150] cho thấy một cái nhìn tổng thể về phương
thức trữ tình như là một trong ba phương thức biểu hiện cơ bản nhất của văn học, đồng thời tập trung khẳng định thể loại thơ trữ tình với tư cách là thể loại biểu hiện tính trữ tình đậm đặc nhất
Ở Việt Nam, thuật ngữ “trữ tình” cũng được giải thích rất cụ thể thông qua cách kết hợp nghĩa từ nguyên với lịch sử phát triển của các hình thái, các phương thức biểu đạt
của văn học Trữ tình là “một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và
kịch), làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của
tác giả bằng con đường tái hiện lại một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ
tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con
người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với
thế giới và nhân sinh” [33; tr 373] Những nét đặc trưng nhất của phương thức trữ tình
được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh trên các khía cạnh:
- Nguyên tắc chiếm lĩnh hiện thực: nguyên tắc chủ quan là nhân tố cơ bản quy định
những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình
- Tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng Do đó nó thường không có cốt truyện, hiểu
theo nghĩa chặt chẽ của từ này và dung lượng thường ngắn
Trang 15- “Cái tôi” trữ tình giữ vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm “Cái tôi” trữ tình thường xuất hiện dưới dạng nhân vật trữ tình
- Xúc cảm trong tác phẩm trữ tình bao giờ cũng là xúc cảm đương đại Ngay cả khi
tác phẩm trữ tình nói về quá khứ, về những chuyện đã qua, xúc cảm trữ tình vẫn thể hiện như một trạng thái sống động, một quá trình đang diễn ra
- Tác phẩm trữ tình thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con
người như sống, chết, tình yêu, lòng chung thủy, ước mơ, tương lai, hi vọng
- Lời văn của tác phẩm trữ tình phải hàm súc, giàu nhịp điệu
Tác phẩm trữ tình bao gồm thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình Tuy nhiên, thơ trữ tình vẫn chiếm ưu thế và thể hiện được đầy đủ nhất những đặc trưng của thể loại này Căn cứ vào các đặc điểm trên, các tác phẩm được coi là trữ tình trước hết phải là các tác phẩm giàu xúc cảm, ngôn từ giàu hình ảnh và nhịp điệu, bộc lộ ý thức cá nhân sâu sắc của tác giả trước các vấn đề mang tính phổ quát về sự tồn tại con người, đồng thời lôi cuốn người đọc hòa vào dòng xúc cảm, suy tưởng về những vấn đề ấy,
Trong cuốn Tính trữ tình của văn xuôi Nga những năm 30 của thế kỷ XIX nhà nghiên cứu V Ostaptseva, viện dẫn ý kiến của M Kniazeva trong luận án Tính trữ tình
như một loại hình cảm hứng chủ đạo, đặc biệt nhấn mạnh chủ quan tính, khẳng định tính trữ tình trước hết là “khởi nguồn mang tính cá nhân được ý thức, được biểu lộ qua nhân
vật trữ tình, và công khai thể hiện chủ quan tính của tác giả” [145; tr 4] Cũng cùng quan
điểm với Ostaptseva, Luo Sichen trong bài viết Phạm trù tính trữ tình trong văn xuôi của
Bunin (khía cạnh ngôn ngữ) dẫn ý kiến của Epishkin khẳng định hai nét nghĩa của tính trữ
tình: “sự xúc động, cảm xúc, sự chân tình trong tác phẩm nghệ thuật” và “tâm trạng trữ tình” [128; tr 419] Tác giả bài viết cũng liệt kê cụ thể những dấu hiệu của tính trữ tình: cảm xúc của tác giả trong tác phẩm; tâm trạng trữ tình của tác giả thể hiện trong tác phẩm; lời của chủ thể trữ tình hay nhân vật; yếu tố kết cấu và ngôn ngữ của văn bản thơ ca phục
vụ cho việc truyền đạt tâm trạng trữ tình; tinh thần trữ tình thể hiện trong những tác phẩm văn xuôi của tác giả làm cho chúng gần với thi ca về phương diện xúc cảm – hình tượng [128; tr 419]
Từ tất cả những lí giải trên về thuật ngữ лирика, лиризм, lyricism chúng tôi đưa ra
cách hiểu của mình về thuật ngữ tính trữ tình: tính trữ tình là một phạm trù thẩm mĩ, một
Trang 16dạng đặc trưng đặc biệt của tư duy nghệ thuật, trong đó nổi trội là nỗi xúc cảm thầm kín
và riêng tư của con người được thể hiện trực tiếp và cảm nhận một cách tương đối thống nhất trong mối quan hệ đồng điệu tác giả - nhân vật - người đọc Cụ thể hơn, những tiêu
chí của tính trữ tình trong tác phẩm gồm có: tình cảm, cảm xúc là yếu tố quan trọng hàng
đầu, nhân vật trữ tình nói về mình nhưng biểu lộ được tất cả những gì thầm kín nhất, sâu sắc nhất, phổ quát nhất cho toàn nhân loại, âm nhạc và nhịp điệu là thành tố không thể thiếu, thiên nhiên và thế giới bên ngoài hòa hợp với thế giới bên trong tâm hồn con người
và quan trọng nhất là tác giả, trong tính chủ quan của mình “buộc phải hiểu mình và làm
mê đắm những người khác, làm mê đắm tất cả mọi người”, cuốn người đọc vào dòng xúc cảm của mình và của nhân vật trong tác phẩm Sự thống nhất xúc cảm của ba chủ thể thẩm mỹ này làm nên sự quyến rũ đậm tính trữ tình cho tác phẩm
5.2 Đặc trƣng tính trữ tình trong truyện ngắn
Như đã phân tích ở trên, phương thức trữ tình, theo cấu trúc ngôn từ, bao hàm trong nó cả thể loại thơ và văn xuôi Thực tế, rất nhiều sáng tác của các cây bút văn xuôi mang đậm yếu tố trữ tình và thường được gọi chung là văn xuôi trữ tình V.I Maslovsky
trong Từ điển Bách khoa toàn thư văn học (1987) của Nga có xem xét văn xuôi trữ tình -
лирическая проза như “một biến thể phong cách của văn xuôi nghệ thuật”, trong đó
“đồng thời tồn tại cả những yếu tố loại hình của tự sự, cũng như trữ tình Thừa hưởng từ
tự sự những biểu hiện nhất định của cốt truyện, nhiều nhân vật, những yếu tố tính cách hoá nhân vật và lời văn không vần điệu ngoại trừ một số ít trường hợp Thừa hưởng từ trữ tình,- sự góp mặt của chủ thể trần thuật (tác giả, người kể chuyện, nhân vật), điểm nhấn cực đoan của những tình tiết hay những từ ngữ cụ thể biểu cảm, và cả sự tăng cường vai trò quan trọng đặc biệt của những leitmotiv chủ đạo, trong bối cảnh cốt truyện suy yếu, những leitmotiv này trở thành yếu tố kiến tạo Sự thẩm thấu vào nhau của chất tự sự và trữ tình trong văn xuôi trữ tình được bảo đảm bởi vai trò đặc biệt của chủ thể trần thuật,
về nguyên tắc, trở thành trung tâm kết cấu tác phẩm Những yếu tố tự sự (sự kiện, tính cách) hoà trong dòng chảy dào dạt của những liên tưởng, trữ tình ngoại đề, dường như dịch chuyển vào bên trong tâm thức trần thuật và được hoàn kết bởi chỉnh thể tâm thức
Trang 17đó” [121; tr 185] Như vậy, văn xuôi trữ tình là sự hài hòa của văn xuôi và thơ, của tính
tự sự và tính trữ tình
Ở đây chúng tôi muốn nói đến truyện ngắn, thể loại tiêu biểu thuộc phương thức tự
sự trong tương quan với thơ, là thể loại tiêu biểu thuộc phương thức trữ tình Đặc trưng của truyện ngắn là “khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người” Nhân vật truyện ngắn thường hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người Truyện ngắn thường có kết cấu đơn tầng, đơn tuyến, thường được xây dựng theo nguyên tắc “liên tưởng” hoặc “tương phản” chứ không đa tầng, nhiều tuyến Cốt truyện của truyện ngắn thường là một lát cắt của cuộc sống thường ngày, diễn ra trong thời gian và không gian hạn chế với chức năng khám phá một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Yếu tố quan trọng nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đọng, giàu ý nghĩa biểu đạt và nhiều ẩn ý [33; tr 371] Còn đặc trưng của thơ là “hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [33; tr 309] Truyện ngắn trữ tình, như một bộ phận của văn xuôi trữ tình, cũng mang đặc trưng cơ bản nhất của thể loại này, đó
là sự chi phối của cảm xúc tới các yếu tố của phương thức tự sự như đã nói ở trên, đặc biệt là cốt truyện và ngôn từ Nếu văn xuôi trữ tình là sự hài hòa của văn xuôi và thơ, của tính tự sự và tính trữ tình thì truyện ngắn trữ tình cũng chứa đựng trong nó sự hài hòa đó
Do đó, xem xét tính trữ tình trong truyện ngắn, trước hết chúng tôi khẳng định bản chất tự
sự của thể loại này và xem xét sự “biến đổi” của chúng dưới tác động của những đặc trưng của tính trữ tình như là phong cách, là “chất”, là “cá tính sáng tạo” của nhà văn
Tính trữ tình trong truyện ngắn, như vậy, nói một cách chính xác, là sự hòa hợp
của yếu tố thơ trong văn xuôi, của phương thức trữ tình trong phương thức tự sự, của cảm xúc trong cốt truyện, tình huống, của âm điệu, nhịp điệu trong lời văn, của cái chủ quan trong cái khách quan của hiện thực Vì thế, bên cạnh việc làm rõ những đặc trưng tự sự, cần làm rõ cả những yếu tố trữ tình được biểu hiện trong tác phẩm (tình cảm chủ đạo, nhân vật, ngôn ngữ ) và nguyên tắc liên kết, hòa hợp những yếu tố đó của tác giả
Trong luận án Những hình thức và chức năng của tính trữ tình trong văn xuôi
I.A.Bunin những năm 1920, tác giả Elena Kapinos khẳng định quan điểm của Shmid về
Trang 18những tiêu chí của tính trữ tình trong văn xuôi, khiến nó gần với thơ: “cự tuyệt kết cấu tuyến tính”, “biểu tượng của cảnh và các chi tiết”, “nguyên tắc liên kết các thành tố”, “lắp ghép”, “giàu ẩn ý”, “sự đa dạng của nhịp điệu và hình ảnh”, “kết hợp hình tượng tạo hình – hội họa – cảm xúc với sự tổng hợp nhiều nghệ thuật khác”, “sự tương tác các thành tố
khác nhau trong thể loại” [118] Nhà nghiên cứu Ostaptseva trong cuốn Tính trữ tình của
văn xuôi Nga những năm 30 của thế kỷ XIX [145] cũng đã tổng kết những yếu tố làm nên
tính trữ tình trong một tác phẩm văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng Đó là: tính chủ quan hay tính cá nhân; thiên nhiên và sự hợp nhất con người – thiên nhiên; sự hài hòa giữa cái hữu hạn – cái vô hạn, giữa thời gian – vĩnh hằng, khoảnh khắc – vĩnh cửu; cảm xúc và các motif cảm xúc; nhịp điệu (ngữ âm, cú pháp, kết cấu khung); các thủ pháp âm nhạc; các ngụ ý, biểu tượng, “âm bản” – “ý nghĩa ngầm” của văn bản Về cơ bản, trong quan điểm của các tác giả nói trên đều có những sự trùng hợp nhất định, góp phần tạo nên
sự thống nhất cao độ trong việc xác định những yếu tố làm nên tính trữ tình trong truyện ngắn Có thể nói đó là những tiêu chí cơ bản giúp một tác phẩm nghệ thuật tự sự mang đậm dấu ấn trữ tình Tuy nhiên, đối với từng nhà văn, từng tác phẩm, những biểu hiện của tính trữ tình lại không hoàn toàn giống nhau, điều đó phụ thuộc vào cá tính, khí chất và tài năng của mỗi người
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Luận án sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu chuyên sâu một tác gia lớn của văn học thế giới - Ivan Bunin, góp phần mở rộng và khơi sâu những nghiên cứu về văn học Nga ở Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu tính trữ tình trong truyện ngắn của Bunin, luận án cho thấy ý nghĩa của hiện tượng giao thoa, tổng hoà giữa các thể loại tự sự và trữ tình như biểu hiện quan trọng trong khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật của chủ nghĩa hiện đại đầu thế kỷ XX, góp phần xác lập phương pháp nghiên cứu tính trữ tình trong văn xuôi nước ngoài Phương pháp, những kết quả và kinh nghiệm nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào nghiên cứu văn xuôi trữ tình trong văn học Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án sẽ là công trình tham khảo hữu ích đối với sinh viên, học viên các ngành ngữ văn cả trong quá trình nghiên cứu khoa học, học tập và giảng dạy, góp phần vào công cuộc đổi mới nghiên cứu và dạy học ngữ văn trong nhà trường Đây
Trang 19cũng là tài liệu tham khảo cho các giáo viên văn học trong việc mở rộng vốn tri thức về các nhà văn Nga hiện đại, về văn học Nga thế kỷ XX Từ đó, mở rộng vốn hiểu biết về một nền văn học vĩ đại của thế giới cho đối tượng học sinh, bồi đắp tình yêu thiên nhiên, văn hóa và cái đẹp, nuôi dưỡng sự phong phú của tâm hồn
7 Đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam đi sâu nghiên cứu trực tiếp tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin một cách có hệ thống
Luận án là sự kết hợp một cách mới mẻ và hứa hẹn nhiều thành tựu của thi pháp học, trần thuật học hiện đại và lí thuyết về tính trữ tình
Luận án là công trình đầu tiên chỉ ra những nét đặc trưng phong cách của nhà văn Nga đầu tiên đạt giải Nobel Ivan Bunin, giúp người đọc hiểu thêm về một cây bút kiệt xuất của truyện ngắn Nga và thế giới, góp thêm vào danh sách những tác giả văn học Nga được đọc và được nghiên cứu ở Việt Nam
8 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương:
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Ấn tượng lời văn trữ tình
- Chương 3: Chủ thể và đối tượng trữ tình
- Chương 4: Cốt truyện trữ tình và cảm thức bi hoài
9 Lưu ý
Những trích dẫn chúng tôi đưa vào trong luận án gồm cả những tác phẩm của Bunin đã được dịch ra tiếng Việt và cả những tác phẩm chưa được dịch Những văn bản
ghi nguồn trích từ bộ Toàn tập Bunin bằng tiếng Nga đều do chúng tôi tự dịch Tương tự
với những tài liệu tham khảo bằng tiếng Nga và tiếng Anh được trích dẫn trong luận án
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
So với các nhà văn Nga hải ngoại khác, Bunin được “trở về” Tổ quốc tương đối
sớm hơn Sau khi Bunin qua đời (1953), cuốn Toàn tập Bunin đầu tiên và đầy đủ nhất
(tính đến thời điểm đó) được xuất bản ở Nga năm 1965 dưới sự chủ trì và đấu tranh kiên định của nhà thơ A.Tvardovsky đã minh chứng cho điều này Từ đó đến nay, sức hấp dẫn của Bunin ở Nga và trên thế giới không hề giảm, số lượng những tác phẩm của ông và những công trình nghiên cứu về ông được xuất bản và công bố cả ở trong và ngoài nước Nga rất phong phú
Ở Việt Nam, 14 truyện ngắn đầu tiên của Bunin được dịch sang tiếng Việt năm
1987 (Nàng Lika được in cùng tập truyện ngắn nhưng thực chất là trích tiểu thuyết Cuộc
đời Arseniev) Đến nay có thêm 20 truyện khác được dịch và công bố (chưa tính những
tác phẩm nhiều hơn một người dịch) Số lượng các tác phẩm bổ sung sau gần 30 năm như vậy là không nhiều Số lượng các công trình nghiên cứu trên các báo, tạp chí, sách tham khảo, giáo trình cũng không thực sự chuyên sâu, tất cả chỉ dừng ở mức giới thiệu
Trong quá trình thực hiện luận án Tính trữ tình trong truyện ngắn Ivan Bunin,
trong khả năng ngoại ngữ của mình, chúng tôi đã tích cực tìm kiếm các tư liệu (sách, báo, tạp chí, internet) về Ivan Bunin, về truyện ngắn và tính trữ tình trong văn chương của ông trong khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu về nhà văn bằng tiếng Nga và tiếng Anh Các tài liệu chúng tôi khai thác được cho thấy một cái nhìn toàn diện về Bunin từ các khía cạnh: tiểu sử, giải Nobel, vị trí và tầm ảnh hưởng, những nghiên cứu cụ thể về thơ, truyện ngắn và truyện vừa, tiểu thuyết Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi chỉ đề cập những tư liệu liên quan đến truyện ngắn Bunin cũng như những tư liệu có giá trị lí giải những ảnh hưởng tới quá trình sáng tác truyện ngắn của nhà văn Chúng tôi lưu ý đặc biệt tới những tư liệu nghiên cứu có liên quan hay đề cập trực tiếp tới vấn đề tính trữ tình trong truyện ngắn Bunin
1.1 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở Nga
Ở Nga, Ivan Bunin là một trong số những nhà văn Nga thế kỷ XX được giới phê bình, nghiên cứu đặc biệt quan tâm Những công trình nghiên cứu mới nhất cho thấy hứng
Trang 21thú đối với sáng tác của nhà văn không hề suy giảm trong gần hai thập kỷ đương đại của thế kỷ XXI
Trước hết phải kể đến những công trình nghiên cứu về tiểu sử I.Bunin Trang
web bunin.niv.ru với các chuyên mục Tiểu sử, Gia đình, công trình Di sản văn học, tập 84 quyển 1 (1973), cuốn I.A.Bunin – Những chất liệu cho tiểu sử: từ 1870 đến 1917 (1983) của A.Baboreko, hồi ức Cuộc đời Bunin những năm 1870-1906 (1989) của V.N.Muromtseva-Bunina, tập hồi ức Bunin và Kuznetsova (2006) cùng hàng loạt cuốn
tiểu sử Bunin của O.Volkov, N.Zakharov, N.Karghina, E.Lavrenova, S.Mussky, M.Roshin, E.Stepanyan, I.Yanin đã khắc họa chân dung con người nghệ sĩ nhẹ nhàng, tinh tế, khoan hòa nhưng rất cứng cỏi, kiên cường của nhà văn, hé lộ bản chất tâm hồn, chính kiến, quan niệm nghệ thuật và cá tính của nhà văn qua các quan hệ gia đình, xã hội, những mối quan hệ tình cảm riêng tư, cung cấp những tư liệu như nhật kí, thư từ trao đổi của Bunin với các văn nghệ sĩ cùng thời, hồi ức của những người thân thiết của nhà văn Những công trình này phần nào đưa ra những gợi mở lí giải cá tính sáng tạo, đồng thời hé
lộ bản chất tính trữ tình trong truyện ngắn của nhà văn
Có một số công trình nghiên cứu đề cập đến cảm quan nghệ thuật của Bunin như
luận án Hiện tượng học nghệ thuật của Ivan Bunin (2001) của Kristian Shlegel, công trình
Thế giới của người nghệ sĩ trong văn xuôi Bunin những năm 1910 (2005) của
L.P.Pozhiganova và Văn xuôi Bunin như một hiện tượng triết học nghệ thuật (2012) của N.V.Prasheruk Đáng chú ý hơn cả là luận án Hiện tượng học nghệ thuật của Ivan Bunin được triển khai trên hai khía cạnh lớn Thế giới hiện tượng của Bunin và Thế giới nghệ
thuật của Bunin Tác giả luận án đi sâu tìm hiểu quan điểm của Bunin về tôn giáo, về
Thiên Chúa, về mối quan hệ nghệ thuật với đạo đức, về mối quan hệ tâm hồn và thể xác với nghệ thuật Từ những quan điểm đó tác giả luận án đi sâu vào thế giới quan của Bunin trong thơ ca và những hình tượng hiện tượng học trong văn xuôi của ông Nhà nghiên cứu khẳng định Bunin không phải là một nhà văn triết học như Lev Tolstoy và Dostoevsky,
“triết học” của Bunin chính là niềm tin chân thành vào cuộc sống, là niềm đam mê vô bờ với cuộc sống: “Tác phẩm của Bunin hoàn toàn thấm nhuần một niềm tin chân thực vào cuộc sống, tình yêu, cái đẹp và xúc cảm Có lẽ, niềm đam mê với cuộc sống của ông là vô
bờ Có lần ông đã nói về nguyên cớ của điều này: „Tôi phá hủy không gian, thời gian và
Trang 22những khuôn mẫu, tất cả cuộc sống của tôi, một cách có ý thức và không có ý thức Đó là niềm đam mê vô bờ bến của tôi đối với cuộc sống, và tôi không chỉ sống cuộc sống hồn nhiên của mình, mà còn sống cuộc sống của hàng ngàn người khác đang sống ở thời điểm hiện tại, và những người đã khuất sau màn sương mù hàng trăm năm‟” [172] Niềm tin đó được hiện thực hóa bằng những khát khao vĩnh cửu đến từ các chủ đề tình yêu, niềm đam
mê cái đẹp vĩnh cửu và đặc biệt là cái chết Đó đều là những vấn đề liên quan đến tính trữ tình trong sáng tác của nhà văn
Trong kho tàng tư liệu về Bunin ở Nga, có một loạt công trình đi sâu nghiên cứu mối quan hệ của Bunin với những văn nghệ sĩ nổi tiếng đương thời, thực chất là tiếp cận
từ quan điểm văn học so sánh Đó là những công trình: A.Ninov, M.Gorky và Ivan
Bunin Lịch sử mối quan hệ Những vấn đề sáng tác (1973); Valery Geideko, Anton Chekhov và Ivan Bunin (1976); Maxim D Shrayer, Vladimir Nabokov và Ivan Bunin: Một sự tái thiết/tái cấu trúc trích trong Văn học Nga, tập 43 (1998); Gavriil Simonov,
Liudmila Kovaliova-Ogorodnova, Bunin và Rakhmaninov (2006); N.V.Prasheruk, Văn
xuôi của Ivan Bunin trong cuộc đối thoại với văn xuôi cổ điển Nga (2016) Những công
trình này so sánh Bunin với các nhà văn trước và cùng thời với ông, tuy không trực tiếp nhấn mạnh tính trữ tình của Bunin, song lại có nhiều gợi mở cho việc khám phá những chủ đề, những vấn đề nghệ thuật trong từng tác phẩm cụ thể của Bunin và các nhà văn khác
Những công trình nghiên cứu ở Nga về văn xuôi Bunin phần nhiều khẳng định
những cách tân của nhà văn trong khuôn khổ “chủ nghĩa hiện thực mới” Trong cuốn Ivan
Bunin và văn xuôi của ông (1887—1917) nhà nghiên cứu N.M.Kucherovsky khẳng định
giá trị những tác phẩm viết về nông thôn và làng quê Nga của Bunin Theo nhà nghiên cứu, đây là một mảng sáng tác quan trọng làm nên một trong những nhà văn Nga vĩ đại nhất của thế kỷ XX Kucherovsky phân tích diễn tiến cái nhìn của nhà văn về người nông dân Nga: từ bi quan cho đến thấm nhuần đức tin và hy vọng Cũng theo ông, đây có thể là
kết quả của quá trình tiếp xúc giữa Bunin và Gorky Trong cuốn Lịch sử văn học Nga tập
4: Văn học Nga cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (1881-1917), Ivan Bunin được xếp vào
khu vực văn xuôi hiện thực những năm 1910 và được dành hẳn một chương riêng (chương 19) do nhà nghiên cứu L.V.Krutukova viết Đáng chú ý nhất là trong nghiên cứu
Trang 23của mình, Krutukova khẳng định Bunin là một trong những cây bút chủ chốt nhất của văn xuôi hiện thực Nga những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cũng như O Mikhailov
và một số nhà nghiên cứu khác, Krutukova xếp Bunin vào danh sách những nhà văn “tân hiện thực” (Неореализм) cùng với các cây bút A.Kuprin, A.Tolstoi, Sergeev-Tsensky,
Zaitsev, A.Remizov Trong cuốn Văn xuôi của Bunin: những khía cạnh thi pháp,
V.Zakharova đặt Bunin trong bối cảnh Thế kỷ Bạc, trong tương quan với truyện ngắn Chekhov – nhìn từ khía cạnh “chủ nghĩa hiện thực được nâng lên thành biểu tượng” Từ
đó, có những nhận xét thú vị về đặc trưng của văn xuôi Bunin, một thứ văn xuôi “có sự tổng hòa thường xuyên nhất của „đa thức‟ thể loại tự sự và thể loại trữ tình, đặc biệt là những sáng tác giai đoạn đầu” [112; tr 15] Nhà nghiên cứu đi sâu phân tích những đặc điểm cụ thể của truyện ngắn Bunin giai đoạn những năm 1890 và khẳng định “sự suy yếu của cốt truyện sẽ được bù đắp bởi sự năng động của cảm xúc trữ tình, sự hiện hữu của hiệu ứng hướng tâm mạnh mẽ sẽ tạo ra một thứ văn chương mới: văn xuôi hiện thực mới” [112; tr 16] Những phân tích của Zakharova tập trung vào “hiệu ứng hướng tâm mạnh mẽ” thực chất chính là đã đề cập tới tính trữ tình như điểm cốt lõi làm nên cá tính văn xuôi Bunin, đồng thời làm thay đổi diện mạo văn xuôi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Những công trình cung cấp những gợi ý về tính trữ tình, về dấu ấn trữ tình trong
văn xuôi Bunin nói chung và truyện ngắn Bunin nói riêng ở Nga tuy chưa có nhiều,
nhưng chính là những tư liệu tham khảo quý báu đối với chúng tôi
S.N.Broitman và D.M.Magomedova trong cuốn Văn học Nga giao thời thế kỷ
(những năm 1890 đến đầu những năm 1920) tập 1 (2000) dành 46 trang viết trong phần II
(Những tác gia và hiện tượng văn học tiêu biểu) cho Ivan Bunin Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định “một chủ nghĩa hiện thực mới” đã xuất hiện trong văn xuôi của Bunin, thứ chủ nghĩa hiện thực liên quan chặt chẽ với thi ca Các nhà nghiên cứu đã “tạm” đưa ra
ba “típ” truyện mang tính chất trữ tình của Bunin với đại diện tiêu biểu của các “típ”:
Vượt đèo, Sương mù, Trên thành phố ; Những quả táo Antonov, Bi kí ; Mùa thu, Meliton, Những cây thông [92; tr 552]
Trong cuốn sách Một tài năng nghiêm cẩn (Ivan Bunin Cuộc đời Số phận Sáng
tác - 1976), Oleg Mikhailov viết về thời thơ ấu, về quá trình trở thành một nhà văn nghèo,
về những người cùng thời với Bunin (Gorky, Kuprin, Shmelev, Aleksei Tolstoy), về thơ
Trang 24Bunin, những “ca khúc” về nước Nga Ông nhấn mạnh vai trò của Bunin trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa hiện thực và đổi mới nó, biến chủ nghĩa hiện thực cổ điển đã “lạc hậu”
so với thời đại mới trở nên hiện đại và tân kỳ hơn Khẳng định Bunin chính là đại diện xuất sắc nhất của chủ nghĩa Tân hiện thực, Mikhailov còn nhấn mạnh “lối thoát” khỏi sự
cũ kỹ của văn xuôi khi ấy chính là âm nhạc Lối văn xuôi của Bunin chính là lối văn xuôi
đậm chất âm nhạc hay nói cách khác, Bunin là người tạo nên cái gọi là âm nhạc của văn
xuôi [133; tr 60] Những nhận xét này đã trở thành tiền đề rất quan trọng để chúng tôi
nghiên cứu Tính trữ tình trong truyện ngắn của Ivan Bunin
L.A.Smirnova trong I.A.Bunin cuộc đời và sự nghiệp (1991) tập trung khai thác
mảng sáng tác về Tổ quốc của Bunin: từ thơ cuối thế kỷ XIX đến văn xuôi những năm
1910 về số phận làng quê Nga, từ thiên nhiên của vũ trụ và sự đối lập với thế giới văn minh đến sáng tác những năm 1920 – sự nhận thức tâm hồn con người, về nước Nga từ
xa Nhà nghiên cứu khẳng định: “Con đường sáng tác của Bunin, cũng giống như con đường sáng tác của Chekhov, đó là cuộc kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống” Chương viết về mối liên hệ giữa thơ ca và văn xuôi thời kỳ đầu của Bunin trong công trình này thực chất
đã xác lập cơ sở cho vấn đề tính trữ tình trong truyện ngắn của nhà văn giai đoạn đầu Đặc biệt nhà nghiên cứu nhấn mạnh thiên nhiên chính là yếu tố kết nối tâm hồn con người, thiên nhiên làm giàu tâm hồn con người và thiên nhiên là chất xúc tác làm nên chất trữ tình cho cả thơ và văn xuôi Bunin: “Những không gian tự do, những hình thức và sắc màu duy nhất của thiên nhiên khơi dậy niềm tin về sự giàu có và nhạc điệu của tâm hồn” [155;
tr 232]
Trong bài viết Phạm trù tính trữ tình trong văn xuôi của I.A.Bunin (khía cạnh ngôn
ngữ), Luo Sichen, xuất phát từ ý kiến của nhà văn bản học T.M.Dviniatina: “Trong văn
xuôi của mình, Bunin hoàn toàn là một thi sĩ, giống như trong những vần thơ” [128; tr 417], khẳng định “Tính trữ tình đã tồn tại trong cách diễn đạt vốn có của Bunin và trong ngôn ngữ văn xuôi” [128; tr 421], xác lập khái niệm phạm trù trữ tình, tổng kết lại những nét biểu hiện chính yếu của phạm trù trữ tình trên bề mặt ngôn từ (nhạc tính, sự thi vị hóa hình ảnh thực tế cuộc sống, tính chủ quan, sự suy yếu của trần thuật) và đi đến kết luận:
“Như vậy, tính trữ tình hiện diện trong văn xuôi Bunin là hệ quả của sự tương tác giữa âm nhạc và văn xuôi, thơ và văn xuôi, cá tính cá nhân và thế giới, sự trần thuật và thơ ca,
Trang 25được chuyển tải một cách nghiêm ngặt và được tổ chức bằng phương tiện ngôn ngữ” [128; tr 422] Đáng tiếc, những biểu hiện của phạm trù trữ tình không được phân tích qua những dẫn chứng cụ thể, có những yếu tố có dẫn chứng nhưng không nhiều và chưa được phân tích kỹ
R.Khusainov trong bài viết Tính trữ tình của văn xuôi Bunin trong con mắt các
nhà phê bình (2014) đã hệ thống hoá ý kiến của các nhà nghiên cứu Nga và nước ngoài
viết về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin và đi đến kết luận: “Bunin có thể được coi là người sáng lập văn xuôi trữ tình, dù trước đó những tác phẩm trữ tình đã đóng vai trò quan trọng” [168; tr 62] Khusainov lưu ý đến ý kiến của K.Zaitseva về sự xoá mờ ranh giới, hoà quyện chất thơ với văn xuôi của Bunin giai đoạn đầu: “Nếu trong thơ của Bunin… ranh giới giữa thơ và văn xuôi dần dần mờ nhòe, thì trong văn xuôi của Bunin bắt đầu nhận thấy những chuyển động, mà có thể nói, có thể hồi tưởng: trong đó xuất hiện nhịp điệu thực sự bên trong và logic thực sự của âm nhạc” [168; tr 63] Nhận định của Khusainov về văn xuôi giai đoạn đầu của Bunin là thứ văn xuôi không có cốt truyện với cảm xúc, thiên nhiên, “thi pháp hơi thở” được lưu ý nhấn mạnh: “Nguyên nhân đặc biệt này (như vừa kể trên – ĐTH), đã không thể chia cắt, mà còn thắt chặt văn xuôi Bunin với thơ trữ tình của ông” [168; tr 63] Kết lại bài viết, Khusainov một lần nữa khẳng định tính trữ tình chính là đặc điểm cơ bản của văn xuôi Bunin, cả giai đoạn trước cách mạng
và sau khi nhà văn rời khỏi Tổ quốc Đó là sự tiếp nối truyền thống của các nhà văn hiện thực thế kỷ XIX
Một số nhà nghiên cứu ở Nga đề cao cảm xúc, nhạc điệu, giai điệu, nghệ thuật mô tả… trong văn xuôi Bunin nói chung và truyện ngắn nói riêng, coi đó là những điểm quan
trọng làm nên tính trữ tình trong văn xuôi của ông Natalia Dudinova, trong bài viết Tính
trữ tình và sự thật tồn tại trong văn xuôi giai đoạn đầu của Bunin, sau khi đưa ra những
luận điểm về thiên nhiên, về cảm xúc, về nỗi nhớ trong truyện ngắn Bunin, đã nhận định:
“Tính trữ tình Bunin có thể coi lạc quan, mô tả - súc tích, song chính xác và được cụ thể hóa bằng những chi tiết nghệ thuật” [109; tr 45] Khi nói về nguyên tắc trữ tình của Bunin, Lipin nhấn mạnh: “Nét bản chất khác của tính trữ tình văn xuôi Bunin là nó được triển khai từ chính cảm nhận và miêu tả thực tại Khởi nguồn trữ tình trở thành cơ sở nền tảng cho cả khâu lựa chọn chất liệu lẫn khâu tổ chức soi chiếu Nhà văn chỉ tái hiện những
Trang 26gì đã trở thành xúc cảm, thành một phần “không thể thiếu”, “phần máu thịt” của tâm hồn [168; tr 63] Đồng quan điểm với Lipin, Izmailov viết: “Mọi nơi và mọi thứ đối với ông (Bunin – ĐTH) hợp nhất làm một trong tâm trạng của ông, tình yêu của ông, nỗi buồn chán, sự tức giận… Nó sẽ liên kết tất cả tạo thành âm điệu trữ tình” [168; tr 63]
Luận án tiến sĩ khoa học của E.V.Kapinos Những hình thức và chức năng của tính
trữ tình trong văn xuôi I.A.Bunin những năm 1920 (2014) tiếp cận vấn đề từ góc độ thi
pháp học, triết-mĩ học Trong luận án, nhà nghiên cứu chỉ khảo sát một giai đoạn sáng tác ngắn ngủi của Bunin - những năm 1920 Tác giả công trình đi sâu nghiên cứu những vấn
đề lớn: Thế giới của nhà văn và thế giới của các nhân vật: thi pháp trữ tình của những
hình thức nhỏ; Cái ―tôi‖ tác giả trong những hình thức trữ tình: tiểu sử và thi pháp; Sử liệu học Bunin trong bối cảnh những học thuyết triết học đầu thế kỷ XX Nhìn vào cấu
trúc của luận án có thể thấy, xuất phát từ luận điểm cho rằng trong văn xuôi trữ tình sự thống nhất nghệ thuật được đảm bảo không phải bởi động lực sự kiện cốt truyện mà bởi
sự chuyển động của cảm xúc, cái “tôi” trữ tình có vị thế quyết định trong lời nói, Kapinos tập trung nghiên cứu vai trò, vị thế của cái “tôi” trữ tình trong những dạng thức cụ thể, tiến tới khẳng định vận động hội tụ các dạng thức cụ thể của cái “tôi” trữ tình “đa diện” này làm thành cả một “quầng sáng” hút vào chiều sâu truyện kể trong văn xuôi Bunin:
“Cái tôi trần thuật trong văn xuôi Bunin làm ta liên tưởng đến nhân vật trữ tình, “cái tôi trữ tình” trong văn xuôi Bunin không đơn tính, mà “đa diện”, nó không giống như một điểm sáng, mà như cả một chòm sao hội tụ các điểm sáng vào quầng sáng bên trong chính mình” [118] Tác giả công trình cũng chỉ ra nền tảng trữ tình của Bunin chính là hồi ức của nhà văn, “hồi ức xác định phong cách Bunin”, đặc biệt hồi ức ấy được hỗ trợ bởi triết học Bergson: “Kí ức liên hệ nhân vật „tôi‟, đưa „tôi‟ đắm mình trong đó và cũng đưa „tôi‟ thoát khỏi đó” [118] Từ những tiêu chí được xác định như cơ sở cho tính trữ tình trong
văn xuôi từ cuốn sách của Shmid Văn xuôi như thơ, Elena Kapinos xác định những yếu
tố trữ tình trong văn xuôi Bunin đầu thế kỷ XX: “liên kết phông nền”, “motif hình ảnh”,
“ý tưởng”, “ngữ cảnh thể loại”, “mối liên hệ phức tạp giữa các sự vật – sự kiện và sự liên kết nhịp điệu” [118]
Trong số các tài liệu tiếng Nga mà chúng tôi bao quát được, còn có một vài luận
văn tốt nghiệp của sinh viên Nga trôi nổi trên mạng internet như Vai trò của Bunin trong
Trang 27văn học dân tộc thế kỷ XIX-XX [102], Văn xuôi trữ tình của Bunin và sự phát triển của nó
[127] Mặc dù đây đó trong những luận văn “khuyết danh” này có những chỗ phân tích, kiến giải thú vị, song đối với chúng tôi, những tài liệu này, phần nhiều chỉ có ý nghĩa thuần tuý tham khảo thêm
Nhìn chung, qua các tài liệu nghiên cứu tiếng Nga, có thể thấy đã có một vài bài viết, công trình đề cập đến các motif trữ tình, đến chất thơ trong văn xuôi, đến âm nhạc trong văn xuôi của Bunin Tuy nhiên, hầu hết các công trình đó, hoặc chỉ đề cập tới tính trữ tình trong văn xuôi Bunin một cách khái quát, hoặc chỉ đi sâu vào một khía cạnh đơn
lẻ (chẳng hạn như ngôn ngữ), hoặc chỉ nghiên cứu biểu hiện của tính trữ tình ở một giai đoạn nhỏ trong sáng tác văn xuôi của Bunin Vấn đề tính trữ tình trong truyện ngắn Bunin nhìn một cách toàn diện trong toàn bộ hệ thống sáng tác Bunin qua các lớp ngôn từ, trần thuật, nhân vật, căn nguyên tính trữ tình… vẫn đòi hỏi phải được đào sâu nghiên cứu và diễn giải
1.2 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở phương Tây
Rất nhiều nhà văn Nga khi sống và làm việc ở một quốc gia khác đã nhanh chóng hòa nhập với nhịp sống mới, sáng tác bằng ngôn ngữ bản địa để phục vụ độc giả mới (Nabokov, Brodsky ) Tuy nhiên, có rất nhiều nhà văn lại chọn cách hành xử khác Họ tự tạo ra cho mình một “pháo đài”, họ chỉ viết bằng tiếng Nga và hầu như không có sự giao
du với “thế giới” bên ngoài (Solzhenitsyn) Không cực đoan như A.Solzhenitsyn, nhưng Bunin cũng là một người khá “bảo thủ” Ông luôn luôn khẳng định “Làm sao chúng ta có thể quên Tổ quốc? Tôi là một người Nga Điều đó dù bao nhiêu năm cũng không mất đi được ” [17; tr 6] Ở nước Pháp nhưng Bunin vẫn sáng tác bằng tiếng Nga, đề tài ông viết là những con người, cảnh vật, sự kiện thuộc về nước Nga trong trí nhớ của ông Điều
đó làm ông khác biệt với những nhà văn phương Tây, nhưng cũng khiến cho ông phần
nào “cách biệt” với độc giả nơi đây Trong bài Người được vinh danh chốn tha hương,
John Bayley dẫn lời nhà nghiên cứu người Mĩ Andrew Wachtel: “Bunin - nhà văn vĩ đại của Nga kén người đọc là tiếng nói cuối cùng của tầng lớp quý tộc văn hóa truyền thống Nga” [179; tr 7] Tuy “kén người đọc”, song Bunin vẫn thu hút độc giả Phương Tây như
Trang 28một “hiện tượng” đặc biệt, số lượng các công trình nghiên cứu ở Phương Tây về sáng tác của nhà văn không hề nhỏ
Các nhà nghiên cứu phương Tây đánh giá rất cao tính chất truyền thống Nga trong sáng tác của Bunin Họ coi nhà văn chính là người đã “đem lại vinh quang cho truyền thống cổ điển Nga” [190; tr 654], họ cũng khẳng định Bunin là người xa lạ với chủ nghĩa tượng trưng và các chủ nghĩa khác của Văn học Nga thế kỷ Bạc Nói về vai trò của Bunin trong khu vực văn học Nga hải ngoại, Gleb Struve viết: “Ông là niềm tự hào lớn của nền văn học Nga ở hải ngoại… Cái chết của Bunin được xem như dấu chấm hết cho nền văn học Nga một cách tượng trưng ” Bunin là nhà văn “đã hoàn thành những tác phẩm thật xuất sắc và trong bất kì trường hợp nào thì đó cũng là những tác phẩm lớn nhất” [71; tr 29] Các nhà nghiên cứu phương Tây đặc biệt rất hứng thú với việc so sánh và khai thác mối liên hệ giữa Ivan Bunin với các nhà văn Nga khác: Lev Tolstoy, Chekhov, Turghenev
và Nabokov Họ khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa tác phẩm của Bunin và Lev
Tolstoy, nhất là hai tác phẩm Làng và Ivan Ilych, đồng thời nhấn mạnh: “Ảnh hưởng lớn
nhất đến Bunin là Tolstoy và Chekhov Chekhov biết Bunin rất rõ, ông đã tiên đoán Bunin sẽ là một nhà văn lớn trong tương lai Nhưng Tolstoy quan trọng với Bunin hơn cả, không chỉ là nhà tiểu thuyết Bunin ngưỡng mộ mà còn là một người hướng đạo xã hội cho Bunin” [188; tr 768] Với Turghenev, nhà nghiên cứu F.D.Reeve khẳng định Bunin là người táo bạo hơn, khi Bunin dám viết về những “thứ” tình yêu mà Turghenev không dám, mặc dù họ tìm thấy trong sáng tác của Bunin nhiều cốt truyện có nguồn gốc từ Turghenev Thậm chí Reeve còn khẳng định: “Không có gì băn khoăn khi tác phẩm của Lermontov được coi là ánh bình minh của văn học cổ điển Nga, còn tác phẩm của Bunin thì được xem như ánh sáng rực rỡ trong đêm tối” [190; tr 656] Còn với Nabokov, nhiều nhà nghiên cứu coi Nabokov là “người kế nghiệp của Bunin”, đặc biệt khi đọc tác phẩm
Mashenka của ông (Reeve) Karshan thì khẳng định hình ảnh Lolita của Nabokov có mối
liên hệ với Olya trong Hơi thở nhẹ của Bunin, còn nhân vật quý ông trong Quý ông từ San
Francisco đến lại ngầm ý liên hệ với Nabokov
Nhiều nhà nghiên cứu phương Tây còn có những khám phá thú vị về truyện ngắn
Bunin Nhà nghiên cứu Andrei Rogachevsky trong bài Sự đầu thai của Bunin đã nhắc đến
ảnh hưởng của Phật giáo đối với Bunin Ông phân tích bài viết của Marullo, Thomas
Trang 29Gaiton nói về vấn đề này If you see the Buddha: Studies in the fiction of Ivan Bunin Đây
là một phát hiện rất thú vị, bởi trước đó chúng ta chỉ mới biết Bunin là người mộ đạo, ông
cả đời tuân theo giáo lí Chính Thống giáo1 Nga
Về đề tài chính trong truyện ngắn Bunin, các nhà nghiên cứu phương Tây nhấn
mạnh các đề tài: cái chết và tình yêu, hồi ức và hoài niệm Trong bài Chức năng của chủ
đề cái chết trong tác phẩm Ivan Bunin, nhà nghiên cứu A.F.Zweers đã khẳng định: “Cái
chết và tình yêu có liên quan mật thiết với nhau trong truyện ngắn Bunin Cả hai trở thành nền tảng của truyện ngắn Bunin, đó là hành động hướng tới sự sống” [197; tr 161] Đề tài
thứ hai các nhà nghiên cứu nhấn mạnh ở Bunin đó là hoài niệm Trong bài Tưởng nhớ
Ivan Bunin, Liubov Tsarvskaya viết: “Khi Bunin bắt đầu sáng tác trở lại, ông viết theo
phong cách hoàn toàn khác với những gì đã thể hiện ở Nga Tình yêu và kỷ niệm đã quyết định những nội dung cơ bản trong tác phẩm của ông thời kỳ lưu vong” [195] Cũng giống
L.Tsarvskaya, D.J.Richard trong bài Kỉ niệm và quá khứ: Một đề tài trong sáng tác của
Ivan Bunin đã nhấn mạnh: “Suốt quãng đời trưởng thành, Bunin (giống như những nhân
vật chính trong các câu chuyện của mình), bị thu hút bởi những di tích của nước Nga cổ xưa Những ngôi nhà thờ, tu viện, những thái ấp rộng lớn và điền trang vùng nông thôn, những cuốn sách và tranh chân dung cũ, những truyền thuyết cổ đại, hay thậm chí những hồi tưởng về các sự kiện đã qua đều được mô tả rõ nét, đa dạng trong tác phẩm của ông Thực tế, những chuyến hành trình nhà văn trải qua ở Nga và nhiều vùng đất trên thế giới hướng tới khám phá thế giới nhiều hơn khám phá thực tại” [191] Có thể thấy, những đề tài tình yêu, cái chết, mối liên hệ với tôn giáo, hồi ức… đều là những vấn đề giới hạn bản thân Bunin vào cái tôi bên trong của mình, hướng đến thế giới nội tâm chứ không phải vươn ra thế giới bên ngoài, dù rằng có thể bối cảnh của câu chuyện ấy là thế giới rộng lớn của nước Nga và bên ngoài nước Nga Điều đó cũng cho thấy sự chi phối của tâm trạng, của xúc cảm trữ tình đến quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Các nhà nghiên cứu phương Tây đặc biệt nhấn mạnh khả năng “đi sâu vào tâm hồn con người, diễn tả sâu sắc tâm lí của người Slav” (Graham Gettlingle), khẳng định thơ của
1
Chính Thống giáo là một nhánh của Thiên Chúa giáo (gồm các nhánh lớn như Công giáo La Mã, Chính Thống giáo phương Đông (Nga), Tin Lành…) Chính Thống giáo phát triển và trở thành một trong những tôn giáo chính ở Nga cho đến ngày nay Trong luận án, từ Thiên Chúa giáo và Chính Thống giáo đều được chúng tôi dùng với nghĩa đã được xác định như trên
Trang 30ông “giàu màu sắc, âm thanh, hương thơm và giai điệu, đặc biệt thiên nhiên trong thơ ông mang tính nữ, hướng về Eva” (F.D.Reeve) Về truyện ngắn của Bunin, theo các nhà nghiên cứu phương Tây, có thể chia làm hai giai đoạn: giai đoạn trước 1917 (truyện ngắn những năm 1900, 1911, 1913, 1915) và giai đoạn sau đó với hai nhịp độ khác nhau – một thì kịch tính, dồn dập; một thì chậm rãi, êm lặng Một số nhà nghiên cứu như Karshan còn
đề cập đến truyện cực ngắn của Bunin “với giới hạn chỉ trong 100 chữ nhưng lại thách thức chúng ta khám phá” [188; tr 766] Điều này liên quan đến khả năng sử dụng ngôn từ của Bunin Chính Gorky đã gọi Bunin là “người thành thạo đến tận tâm hồn của mọi từ ngữ” [190; tr 658] Những nghiên cứu này tuy không trực tiếp đề cập đến tính trữ tình trong văn xuôi Bunin nhưng những vấn đề được đưa ra phân tích, bình luận lại là những vấn đề liên quan đến các phương thức biểu hiện tính trữ tình trong tác phẩm của Bunin
mà chúng tôi đã xem xét trong phần giới thuyết Vì vậy, có thể thấy đây là những ý kiến quan trọng góp phần củng cố thêm nhận định của chúng tôi về đặc trưng văn chương của Ivan Bunin
Có thể nói, hành trình khám phá Bunin là một hành trình không dễ dàng Các nhà nghiên cứu phương Tây đã “nhìn” Bunin từ một góc độ riêng Đặc biệt, họ rất nhạy cảm khi nói về mối liên hệ của ông với những nhà văn trước và cùng thời; họ cũng rất chú trọng đến những đề tài chính trong sáng tác của ông Vấn đề ngôn ngữ tác phẩm của Bunin đã được đề cập tới, song yếu tố âm nhạc, chất trữ tình chưa được chỉ ra và nghiên cứu trực tiếp
1.3 Tình hình nghiên cứu về tính trữ tình trong văn xuôi Bunin ở Việt Nam
Mặc dù đã được dịch ở nước ta từ 1987 nhưng Ivan Bunin lại chưa được nghiên cứu nhiều và chuyên sâu Trái ngược với ở nước Nga và trên thế giới, ở Việt Nam chưa
có một cuốn chuyên luận nào viết về Ivan Bunin Những tài liệu về Bunin chúng tôi thu thập được phần nhiều là những bài giới thiệu ngắn gọn về tác giả và các tác phẩm được tuyển ở đầu các tập truyện ngắn dịch, trong các từ điển văn học, một vài bài viết của các nhà nghiên cứu trên các tạp chí văn chương và một số bản dịch các bài viết về nhà văn Nga đầu tiên đạt giải Nobel này của một số nhà nghiên cứu nước ngoài Trong một số cuốn giáo trình lịch sử văn học Nga cho sinh viên, Ivan Bunin cũng chỉ được giới thiệu
Trang 31với dung lượng hạn chế Điều này dường như tỉ lệ nghịch với số lượng các truyện ngắn và thơ đã được dịch sang tiếng Việt của ông Lí do phải chăng xuất phát từ chính sự “đơn giản” nhưng “cực kỳ sâu sắc” của bản thân các truyện ngắn và thơ Bunin?: “Đọc tác phẩm của Bunin không những phải chăm chú, mà còn phải có văn hóa rộng, phải tập trung cả trí tuệ và tâm hồn, phải có khả năng suy nghĩ về nước Nga, về quá khứ, hiện tại
và tương lai của nó, về mối liên quan của cuộc sống hằng ngày, của cuộc sống “riêng” với những sự kiện xã hội lịch sử có quy mô” [15; tr 7] Trong lời giới thiệu cho mục truyện
ngắn và tiểu luận trên Tạp chí Văn học nước ngoài số kỷ niệm 50 năm ngày mất của
Bunin, dịch giả Phạm Quốc Ca đã viết: “Trí tuệ lớn nhất của một nhà tư tưởng nhân văn
và trái tim của một nhà nghệ sĩ ngôn từ đã hòa quyện trong tài năng văn chương của ông khiến ngay cả nhiều nhà văn vĩ đại cũng phải kính nể” [17; tr 5] Có lẽ, đây là lí do Bunin
đã “làm khó” rất nhiều nhà nghiên cứu nước ta và trên thế giới
Đánh giá về vị trí của Bunin trong văn học Nga, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của ông trong sự phát triển văn hóa, văn học Nga, trong giai đoạn văn học Nga thế kỷ Bạc và đặc biệt trong sự kế thừa, tiếp nối truyền thống Lev Tolstoy, Anton Chekhov đồng thời mở ra hướng đi mới cho sáng tác văn học Nga đương thời
Cuốn Giáo trình Lịch sử văn học Nga của các tác giả Đỗ Hồng Chung, Nguyễn
Kim Đính, Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Trường Lịch, Huy Liên, Hoàng Ngọc Hiến xếp Bunin vào dòng văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng, đánh giá ông là người “trải qua quãng đường còn nhiều trắc trở hơn cả con đường của Kuprin” [22; tr 483] Trong
Lời giới thiệu Tuyển tập truyện ngắn Bunin (1987), dịch giả Hà Ngọc dẫn lời nhà nghiên
cứu Mikhailov khẳng định Bunin là “cả một chương của sự phát triển văn học Nga trong thế kỷ chúng ta” [15; 7] Nhà nghiên cứu Vũ Công Hảo nhận định: “Sẽ là một khiếm khuyết không thể bỏ qua nếu không nói đến những đóng góp to lớn của Ivan Bunin (1870 – 1953) cho văn học hiện thực Nga đầu thế kỷ XX cũng như cho toàn bộ nền văn học thế giới” [34; tr 9] Nói về “Những chuyển biến của tư duy nghệ thuật trong văn xuôi Nga cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm cho rằng Bunin là người
đã đưa những thể nghiệm mới mẻ, táo bạo của chủ nghĩa ấn tượng vào văn chương hiện thực, đem lại màu sắc hấp dẫn cho dòng văn học này: “Bunin thể nghiệm kết hợp những truyền thống hiện thực chủ nghĩa với những biện pháp nghệ thuật mới và những nguyên
Trang 32tắc kết cấu gần với chủ nghĩa ấn tượng” [46; tr 14] Đồng tình với Phạm Gia Lâm, nhà
nghiên cứu Đỗ Hải Phong trong Giáo trình Văn học Nga viết: “Bunin bắt đầu sự nghiệp
sáng tác bằng chủ nghĩa hiện thực theo „kiểu Chekhov‟, nhưng kết thúc sự nghiệp sáng tác bằng khuynh hướng gần với chủ nghĩa ấn tượng” [61; tr 10-11] Tác giả Vũ Công Hảo cũng nhận định: “Chịu ảnh hưởng chủ nghĩa trực giác của Henri Bergson, sáng tác của ông, đặc biệt trong thời kỳ lưu vong, là dòng ý thức tự nhiên và bất tận về cảnh vật và con người Nga” [34; tr 9]
Là một trong những người dịch Bunin đầu tiên ở nước ta, dịch giả Phan Hồng Giang không ngại ngần xếp Bunin vào danh sách những tác gia văn học Nga thế kỷ XIX-
XX đỉnh cao làm nên “tập đại thành” của văn học thế giới tự cổ chí kim, cùng với Pushkin, Lermontov, Dostoevsky, Lev Tolstoy, Gogol, Chekhov, Kuprin Ông viết: “có thể coi ông (Bunin) như là người đại diện tiêu biểu xuất sắc cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực cổ điển Nga, người đã đem lại cho văn chương những giá trị vĩnh hằng của cái Đẹp,
- cái đẹp của thiên nhiên, của lòng người, của nghệ thuật ngôn từ, và cao hơn tất cả là của
Đời sống con người” [16; tr 5] Hà Văn Lưỡng trong Đặc trưng nghệ thuật của truyện
ngắn Ivan Bunin cũng đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cái đẹp thiên nhiên trong truyện
ngắn Bunin, coi đó là một biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật truyện ngắn tâm lí của nhà văn Nga Còn Đào Ngọc Chương thì lại nhìn Ivan Bunin từ đề tài “trở về” trong sự đối sánh với các cây bút Nobel khác: Ernest Hemingway, Cao Hành Kiện Theo tác giả, với Bunin, quan trọng nhất vẫn là cuộc trở về nước Nga, trở về tình yêu, trở về thanh xuân bằng kí ức Từ đó, tác giả khẳng định: “Truyện ngắn của Ivan Bunin lãng đãng màu sắc thơ mộng của thiên nhiên, nông thôn Nga, và cũng thế, tâm hồn Nga Đọc truyện ngắn của Bunin, ta như đi lạc vào miền dịu ngọt mà buồn thương của nỗi lòng, và chợt nhận ra tất cả cứ mơ màng một giấc mộng, ngay cả ở những truyện mà sự kiện lộ ra mười mươi” [23; tr 57]
Như vậy, có thể thấy, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu và các dịch giả cũng đã nhận thấy vị trí to lớn và tầm ảnh hưởng sâu sắc của Bunin tới văn học Nga nói riêng và văn học thế giới nói chung Đi sâu vào truyện ngắn Bunin, nhiều nhà khoa học cũng có những phát hiện rất xác đáng về phong cách sáng tác của nhà văn Đặc biệt, các tác giả đã nhận ra chất trữ tình – yếu tố làm nên những truyện ngắn trữ tình là “thương hiệu” của
Trang 33riêng Bunin Dịch giả Phan Hồng Giang viết trong Lời giới thiệu tuyển tập Bunin: “Giới
thiệu Bunin với đông đảo bạn đọc lần này, chúng tôi chọn dịch những truyện mang nặng tính chất trữ tình, các truyện được dịch ở đây đều có thể gọi là những truyện tình yêu” [16; tr 11] Trước đó, ông cũng đã khẳng định tính chất “liên ngành” trong sáng tác của nhà văn: “Sau này Bunin đã không thành nhạc sĩ, không thành họa sĩ, nhưng cái chất tạo hình – biệt tài tả cảnh và khắc họa chân dung – cái chất nhạc trong thứ văn xuôi mượt mà dịu ngọt thì còn lưu lại mãi trong các văn phẩm của Bunin, đưa ông vào số nhà văn ít ỏi trong văn học Nga đạt đến uy tín tuyệt đối về sử dụng ngôn từ” [16; tr 6] Nhà nghiên
cứu Đào Tuấn Ảnh trong cuốn Từ điển văn học bộ mới cũng nhận định chất nhạc chính là
nét đặc sắc của truyện ngắn Bunin: “Đến những năm 90 của thế kỷ XIX, hệ thống văn xuôi Bunin đã định hình, trong đó chất nhạc, nhịp điệu làm cho văn của ông đặc biệt cô đọng Bản thân Bunin coi những tìm tòi về nhạc điệu và ẩn dụ hóa văn xuôi là sự tiếp nối sáng tác thi ca của mình” [36; tr 172] Cùng ý kiến với hai nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh, Phan Hồng Giang, dịch giả Hà Ngọc coi “mỗi truyện ngắn của ông (Bunin) vừa là một áng văn xuôi lại vừa là một bài thơ” [15; tr 7]
Gần đây nhất, hai cuốn sách nghiên cứu về văn học Nga thế kỷ XX và văn học Nga
hải ngoại ở Việt Nam – Giáo trình Văn học Nga thế kỷ XX của Vũ Công Hảo và Văn học
Nga hải ngoại: Quá trình – Đặc điểm – Tiếp nhận của Phạm Gia Lâm đã có những trang
viết khá đầy đủ về Ivan Bunin, đặc biệt cả hai nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến thuật ngữ “trữ tình” như là một định danh không thể thay thế khi nói đến truyện ngắn Bunin
Tác giả Vũ Công Hảo trong Giáo trình Văn học Nga thế kỷ XX khi phân tích đặc sắc nghệ
thuật của Bunin đã đi theo hướng phân tích riêng biệt đặc sắc nghệ thuật thơ ca, truyện ngắn trữ tình và tiểu thuyết của nhà văn Riêng trong mục “truyện ngắn trữ tình” nhà nghiên cứu khẳng định: “Các truyện ngắn của ông thường có cốt truyện đơn giản, lối kết thúc mở đầy bất ngờ, đặc biệt, có sự hòa trộn khó tách bạch giữa „chất đục đời thường‟ của cuộc sống và „chất thơ bi thảm‟ của tâm hồn Nga” [35; tr 124] Trong những phân tích cụ thể về các tác phẩm tiêu biểu của Bunin, Vũ Công Hảo nhấn mạnh: “Ở những câu chuyện hiện thực đến trần trụi như thế, vẫn đầy ắp chất thơ, chất trữ tình của một tư tưởng lớn, một tâm hồn nhạy cảm biết yêu thương cuộc sống, nâng niu con người, biết trân trọng thậm chí cả những đổi thay nhỏ nhất của cảnh sắc” [35; tr.127]
Trang 34Văn học Nga hải ngoại: Quá trình – Đặc điểm – Tiếp nhận của nhà nghiên cứu
Phạm Gia Lâm thực sự là một cuốn sách tham khảo chuyên sâu có giá trị Trong Chương
6 viết riêng về Ivan Bunin tác giả công trình khẳng định tính chất “triết luận-trữ tình” chính là nét đặc trưng cho phong cách nghệ thuật của Bunin Với nhà nghiên cứu sáng tác của Bunin có thể chia làm hai giai đoạn lớn, tương ứng với sự thay đổi đối tượng triết luận-trữ tình: “Triết luận-trữ tình về cuộc sống, con người Nga trong sáng tác trước Cách mạng tháng Mười” và “Triết luận-trữ tình về tình yêu và hoài niệm về nước Nga trong sáng tác thời kỳ lưu vong” Cả hai luận điểm này đều được nhà nghiên cứu phân tích làm
rõ bằng những sáng tác tiêu biểu nhất của Bunin trong hai giai đoạn: Những quả táo
Antonov (giai đoạn trước Cách mạng tháng Mười) và Những tháng ngày đáng nguyền rủa, Bông hồng của Jerihone, Mối tình của Mitya, Cuộc đời Arseniev, Ngày thứ Hai chay tịnh, Sự giải thoát của Tolstoy (giai đoạn sau Cách mạng tháng Mười)… Có thể nói
những kiến giải của tác giả trong chương sách này đã gợi mở và đem lại cho chúng tôi nhiều suy ngẫm và đối sánh thú vị
Trong các nhà trường Đại học, những năm gần đây, Bunin cùng các sáng tác của ông đã được lựa chọn làm đề tài cho nhiều Luận văn Thạc sĩ Đáng chú ý là các luận văn:
Chủ nghĩa ấn tượng trong truyện ngắn Ivan Bunin (Hà Hồng Nhung, 2005), Các mô hình tượng trưng trong văn xuôi Bunin (Đặng Thu Hương, 2008), Mô tả trong truyện ngắn Ivan Bunin (Đỗ Thị Thu Hương, 2009), Chủ nghĩa ấn tượng và nhân vật nữ trong truyện ngắn I.A.Bunin (Hoàng Thị Mỵ, 2009), Tính sinh động của sự miêu tả trong truyện ngắn Ivan Bunin - So sánh với đặc tính tương ứng trong truyện ngắn G.G.Márquez (Nguyễn
Thị Vân Anh, 2010), Hoài niệm trong truyện ngắn Ivan Bunin (Bành Thị Lê Hương,
2011) Các luận văn trên chủ yếu tập trung nghiên cứu về nghệ thuật miêu tả (thiên nhiên,
đồ vật, nhân vật) trong truyện ngắn của Bunin Những luận văn viết về chủ nghĩa ấn tượng hay hoài niệm trong truyện ngắn Bunin cũng dành dung lượng lớn cho nghệ thuật miêu tả và chất hội họa trong truyện ngắn của ông Đây đó có một vài trang các tác giả
luận văn nhắc đến âm nhạc (phần Hợp âm của thế giới hoài niệm trong mục Sự gần gũi
của truyện ngắn hoài niệm với âm nhạc và điện ảnh ấn tượng trong luận văn Hoài niệm trong truyện ngắn của Ivan Bunin), tuy nhiên tác giả luận văn chỉ dừng lại ở việc thống kê
Trang 35các loại hình âm thanh thiên nhiên, sinh hoạt trong tác phẩm chứ chưa chỉ ra cụ thể đặc tính cũng như nhịp điệu của truyện ngắn Bunin
Như vậy, ở Việt Nam, dù được dịch từ những năm 1980 nhưng số lượng các công trình chuyên sâu về Bunin khá hiếm hoi Đặc biệt, vấn đề tính trữ tình – cái làm nên nét riêng cho Bunin vẫn chưa thực sự được nghiên cứu Kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước, kết hợp với những kiến giải của riêng mình, chúng tôi hi vọng sẽ đem đến cho người đọc cái nhìn đầy đủ nhất về yếu tố làm nên bản sắc truyện ngắn Ivan Bunin
Tiểu kết chương 1:
Qua việc điểm lại những khuynh hướng, những công trình cơ bản trong nghiên cứu Ivan Bunin và truyện ngắn của ông qua các tài liệu nghiên cứu tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Việt, chúng tôi thấy đã có một vài tư liệu đề cập đến các motif trữ tình, đến chất thơ và
âm nhạc trong văn xuôi của Bunin Tuy nhiên, đó mới chỉ là một số nhận định khái quát, một số công trình bao quát toàn bộ sáng tác của nhà văn, hoặc một số công trình đi sâu nghiên cứu chỉ một hay một vài khía cạnh liên quan đến tính trữ tình trong truyện ngắn Bunin, nhiều công trình giới hạn phạm vi nghiên cứu lại chỉ là một giai đoạn sáng tác đơn
lẻ nào đấy của nhà văn Tính trữ tình triển khai qua chất nhạc, nhịp điệu, điểm nhấn ngôn
từ, qua hệ thống chủ thể trữ tình, nhân vật, qua cảm quan nghệ thuật thể hiện qua truyện ngắn của của Bunin chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống Coi truyện ngắn Bunin là một thể thống nhất từ trước và sau Cách mạng tháng Mười, chúng tôi đi sâu tìm hiểu các biểu hiện của phong cách trữ tình trong truyện ngắn Bunin qua những yếu tố thi pháp cơ bản nhất, đi từ ấn tượng ngôn từ bề mặt cho tới căn nguyên trữ tình sâu xa làm nên cảm quan trữ tình của nhà văn Chúng tôi mong muốn công trình của mình sẽ có những đóng góp, bổ khuyết cho thực trạng nghiên cứu tính trữ tình trong truyện ngắn Ivan Bunin ở Việt Nam
Trang 36CHƯƠNG 2
ẤN TƯỢNG LỜI VĂN TRỮ TÌNH
Với bất kỳ một tác phẩm văn học nào, đặc biệt là tác phẩm trữ tình, ấn tượng lời văn – bề mặt ngôn từ luôn tác động đến người đọc trước tiên Nhà văn, muốn đưa người đọc say theo dòng cảm xúc của mình, trước hết phải sử dụng ngôn từ giàu sức mê đắm
Đó phải là thứ ngôn ngữ đẹp, biểu cảm, giàu nhạc tính Trong Lời vinh danh đọc vào ngày
trao giải thưởng Nobel cho Bunin, Per Hallström (thư kí thường trực viện Hàn lâm Thụy Điển) đã đánh giá rất cao ngôn từ nghệ thuật của Bunin: “Ông hoàn thiện năng lực tập trung và sự giàu có của diễn đạt - trong mô tả về cuộc sống thực dựa trên một sự chính xác hiếm có của sự quan sát Nghệ thuật nghiêm ngặt giúp ông chống lại mọi sự cám dỗ coi nhẹ thực tế do sức quyến rũ của ngôn từ; dù là nhà thơ trữ tình, ông không bao giờ tô
vẽ những gì ông thấy mà diễn tả nó một cách trung thực nhất Với ngôn ngữ giản dị của mình, ông đã tạo nên một nét duyên, theo ý kiến của đồng bào ông, như thứ nước uống quý giá mà ta có thể thưởng thức thậm chí qua bản dịch” [186] Với chúng tôi, “nét duyên” trong ngôn ngữ giản dị mà chính xác và giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm của Bunin chính là ấn tượng trữ tình đầu tiên không thể không nhắc tới khi tiếp xúc với kho tàng truyện ngắn của nhà văn Ấn tượng đó được tạo nên từ các thủ pháp gia tăng sức biểu cảm cho lời văn, tăng cường nhạc tính và thi vị hoá hệ thống từ vựng trong truyện ngắn
2.1 Gia tăng biểu cảm lời văn
Thông thường, trong các thể loại tự sự nói chung và truyện ngắn nói riêng, ngôn từ tác phẩm thường bao gồm lời tả, kể và đối thoại Tùy thuộc vào phong cách truyện ngắn của từng nhà văn, mỗi loại hình lời văn ấy sẽ mang đặc trưng riêng Đọc truyện ngắn của Bunin chúng tôi nhận thấy, để tạo âm hưởng trữ tình đậm nét cho truyện ngắn của mình, nhà văn đã gia tăng sức biểu cảm cho lời văn: cảm xúc hóa đối thoại, độc thoại hóa đối thoại và phối cảm lời kể - lời độc thoại
Theo khảo sát của chúng tôi, đối thoại trong truyện ngắn Bunin thường có xu hướng kéo dài như những lời độc thoại hay những dòng trữ tình ngoại đề cảm xúc và triết
lí của nhà văn Đặc biệt, lời kể của người kể chuyện đôi khi hòa trộn với lời độc thoại Cá
Trang 37biệt, có những tác phẩm không có đối thoại, chỉ có độc thoại giãi bày cảm xúc của nhân vật
2.1.1 Cảm xúc hóa đối thoại
Đối thoại là thủ pháp quan trọng trong các tác phẩm tự sự và kịch nhằm giúp nhân vật bộc lộ tâm tư tình cảm và quan điểm sống Đối thoại cũng là một cách nhà văn gửi gắm tư tưởng chủ đề trong tác phẩm và phản ánh sự phát triển của ngôn ngữ nghệ thuật thời đại Trong truyện ngắn Bunin, chúng tôi nhận thấy có hai dạng đối thoại: đối thoại
tương tác xã hội và đối thoại giãi bày cảm xúc Đối thoại tương tác xã hội là những đối
thoại qua lại giữa con người với con người trong tác phẩm nhằm thể hiện những quan hệ
xã hội, thái độ quan điểm, những tranh luận, những bàn bạc nhằm đạt tới thống nhất một vấn đề gì đó thuộc công việc, các quan hệ xã giao Đối thoại tương tác xã hội thường ít đề cập đến những vấn đề riêng tư của con người Những vấn đề thuộc về tình cảm, các mối
quan hệ gia đình, tình yêu… lại thuộc về một dạng đối thoại khác Chúng tôi gọi đó là đối
thoại cảm xúc Chúng tôi nhận thấy số lượng các đối thoại tương tác xã hội đơn thuần
trong truyện ngắn Bunin xuất hiện rất ít, và nếu có xuất hiện thì cũng là những đối thoại rất ngắn Thông thường, những đối thoại tương tác xã hội xuất hiện nhiều trong các tác phẩm có tình huống là những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên giữa những con người xa lạ trong hành trình cuộc đời Họ gặp nhau ngắn ngủi, trao đổi với nhau những thông tin vắn tắt và
cơ bản, nhưng ấn tượng, cảm xúc đến với họ lại rất lớn lao và mãnh liệt Khi ấy, những đối thoại tương tác xã hội đã nhường chỗ cho những đối thoại giãi bày cảm xúc Sự chuyển đổi các dạng đối thoại trong cùng một tác phẩm đã tăng thêm tính chất trữ tình và
“mềm mại” cho tác phẩm Như vậy, có thể nhận thấy trong truyện ngắn Bunin có khuynh
hướng tối giản đối thoại tương tác xã hội và nối dài đối thoại giãi bày cảm xúc Đó chính
là biểu hiện cảm xúc hóa đối thoại, gia tăng chất trữ tình cho lời văn
Những đối thoại tương tác xã hội, hay đơn giản là những đối thoại đơn thuần cung cấp thông tin chiếm số lượng rất ít trong truyện ngắn Bunin Đôi khi nhân vật tự lờ đi
những thông tin ấy, với họ quan trọng hơn cả là cảm xúc ở thời điểm đó Trong Say nắng,
nguyên tác hơn 6 trang [99 – tập 4; 334-340], chỉ có duy nhất một cuộc đối thoại đúng
Trang 38nghĩa với sự tương tác của cả hai nhân vật, và cuộc đối thoại ấy cũng vẻn vẹn có bảy câu thoại với ba lượt lời
“-Ta xuống đi…
- Xuống đâu? – nàng ngạc nhiên hỏi
- Xuống bến này
- Để làm gì?
Chàng nín lặng Nàng lại áp mu bàn tay vào bên má nóng bừng
- Có mà điên…
- Ta xuống đi, - chàng nhắc lại như ngây như dại – Anh van em…
- Ôi chao, thôi thì tùy anh muốn làm gì tùy anh, - nàng vừa nói vừa quay mặt đi.” [15; tr 204]
Trong đoạn đối thoại, chàng trung úy không trả lời thẳng vào câu hỏi của thiếu phụ
về mục đích xuống bến Tuy nhiên, ngay chính người hỏi dường như cũng không cần chàng nêu rõ thông tin ấy, cơn say nắng đã khiến người thiếu phụ dừng cuộc truy vấn của mình, thả mình vào xúc cảm Nội dung thông tin bị bỏ lửng nửa chừng, nhường chỗ cho
sự hoà điệu của lời cầu xin và nhượng bộ Trong Say nắng, còn có hai cuộc đối thoại nửa
chừng khác Đối thoại nửa chừng ở đây chỉ có một người nói, còn người kia yên lặng đồng tình
“- Hình như em say hay sao ấy… Anh ở đâu ra thế nhỉ? Cách đây ba tiếng đồng
hồ thậm chí em không hề biết là có anh trên đời này Thậm chí em cũng chẳng biết anh từ
đâu lên nữa Từ Samara ư? Cũng chẳng sao… Đây là em chóng mặt hay chúng ta đang quành đi đâu ấy nhỉ?” [15; tr 203]; “- Không, không, anh yêu ạ, - đáp lại lời chàng van
xin được cùng đi theo thêm nữa, nàng bảo, - không, anh phải ở lại đến chuyến tàu sau
Nếu chúng ta cùng đi, mọi chuyện sẽ hỏng mất Em sẽ đâm ra rất khó xử mất thôi Em lấy
danh dự nói với anh rằng em hoàn toàn không phải con người mà anh có thể nghĩ về em
Cái điều thậm chí giống với việc mới xảy ra, đối với em chưa hề có và sẽ không bao giờ
có nữa cả Hệt như em đã bị rối trí hay sao ấy… Hoặc nói đúng hơn, là cả hai chúng ta
đều đã bị một cái gì giống như say nắng ấy…” [15; tr 206]
Trong đối thoại khuyết vế, những câu hỏi phần nhiều mang tính tu từ, có khuynh hướng trở thành cảm thán Thiếu phụ thực chất chủ yếu thể hiện những xúc cảm chân thật
Trang 39về cơn “say nắng” bất ngờ, dằn vặt về những cảm giác “tội lỗi”, song lại luôn tìm kiếm sự đồng cảm từ phía người đối thoại
Cũng là cuộc gặp tình cờ trên một chuyến tàu thủy, cũng là một thiếu phụ cô đơn
và một anh chàng si tình, ở Những tấm danh thiếp những đối thoại tương tác xã hội của người thiếu phụ và anh chàng nhà văn có dài hơn Tuy nhiên, nếu trong Say nắng, người
thiếu phụ dường như rất hạn chế bộc lộ những thông tin riêng tư về mình thì người thiếu
phụ trong Những tấm danh thiếp lại chủ động kể cho anh chàng nhà văn hào hoa những
thông tin ấy, thậm chí trong lời kể còn “cố tình” giãi bày cảm xúc về hoàn cảnh bản thân,
về cuộc hôn nhân nhàm tẻ và cả ước mong cháy bỏng được một lần “sống khác”:
“- Có chồng rồi Và than ôi, chẳng phải là năm đầu tiên…
- Sao lại than ôi?
- Em dại dột nhảy ào đi lấy chồng quá sớm Ngoảnh đi ngoảnh lại chẳng mấy chốc
cuộc đời sẽ trôi qua!
- Ồ, cái đó thì còn lâu
- Than ôi, chẳng lâu la gì đâu! Mà em còn chưa biết mùi đời, chưa biết mảy may!
…
- Ôi chao, chồng em là con người rất tốt, rất lành, nhưng tiếc một nỗi là chẳng có
gì thú vị cả… Ông ấy làm thư kí phòng quản thủ điền thổ huyện nhà…
…
- Anh biết không, - nàng bỗng bảo, - ta vừa mới nói đến những giấc mơ, vậy anh
có biết hồi còn là nữ sinh trung học, em đã ước mơ điều gì hơn hết không? Ước mơ đặt in những tấm danh thiếp ấy! Hồi đó gia đình em nghèo túng hẳn đi, phải bán nốt phần trang trại còn lại để dọn vào thành phố, thế là em hoàn toàn chẳng còn ai để mà trao danh thiếp
nữa cả, mà đó là điều em đã xiết bao mơ ước! Ngu ngốc kinh khủng…” [15; tr
258-259-260]
Người thiếu phụ trẻ bất mãn với cuộc hôn nhân của mình, nàng thổ lộ tất cả những điều thầm kín riêng tư lẽ ra không nên nói cho người ngoài Nàng xót xa “chưa biết mùi đời, chưa biết mảy may” (“еще ничего, ничего не испытала в жизни”) Sự thiếu thốn cảm xúc, nỗi khát khao trong tâm hồn người thiếu phụ được đánh thức bởi một chàng trai sẵn sàng “thương hại, thương hại cho cách cư xử buông thả của nàng, và cùng với lòng
Trang 40thương hại là một niềm trìu mến và một dục vọng khoái cảm hòng lợi dụng cái ngây ngô, cái thiếu từng trải một cách muộn màng của nàng” [15; tr 259]
Ở hai tác phẩm trên, dường như những lời giãi bày được “cố ý” kéo dài ra đều thuộc về những người phụ nữ Điều này cũng dễ hiểu bởi phụ nữ luôn có xu hướng tâm
sự, kể lể, kêu gọi sự thông cảm, thương yêu… Có thể gặp xu hướng này trong rất nhiều
truyện ngắn khác của Bunin: Cuộc đời tươi đẹp, Tanhia, Một truyện tình nho nhỏ, Bình cà
phê thứ hai, Rusya, Stepa, Sự trả thù… Có những tác phẩm, người giãi bày lại là những
người đàn ông, họ không thể tự tha thứ cho bản thân mình vì một lỗi lầm nào đó trong
quá khứ Đó là những lời thú nhận của người họa sĩ trong Galia Ganskaya, của nhân vật nhạc sĩ trong Ida, của người chủ cũ trong Những lối đi dưới hàng cây sẫm tối, của người cha đỡ đầu trong Mẹ đỡ đầu, của chàng trai trẻ bất hạnh Nikanor Matveits trong Cuộc đời
tươi đẹp…
Nhân vật nữ Nastasia luôn bị ám ảnh bởi cuộc chuyện trò với cậu chủ cũ của mình sau khi đã móc túi hết số tiền của cậu ta rồi bỏ đi Có lẽ, đó là sự day dứt duy nhất của một người phụ nữ mạnh mẽ, luôn tự làm chủ được bản thân mình:
“- Nastia ơi, số phận đã khiến tôi què quặt, mà bản tính tôi cũng dở điên dở dại: lúc tôi vui về một tai nạn nào đó, lúc thì lại buồn rượi, nhất là mùa hè, những khi nóng nực, bụi bậm như thế này, - thà là tôi tự tử đi cho rồi! Nếu tôi chết, người ta sẽ chôn tôi ở nghĩa trang Chernoslobodskoie, đời đời kiếp kiếp bụi sẽ bay qua bờ rào mà phủ lên mộ tôi!
- Sao cậu cứ quá đỗi buồn phiền về chuyện đó làm gì, cậu Nikanor Matveits? Mình
có cảm biết được cái đó nữa đâu
- Đúng là mình sẽ không cảm biết được nữa, - cậu ta nói, - và tai họa ở chỗ là mình nghĩ đến cái đó từ lúc mình hãy còn sống…” [15; tr 87]
Những lời nói của cậu bé què quặt giống như một chân lí ngậm ngùi: điều đáng sợ nhất không phải cái chết, mà là ý thức về cái chết và sự tồn tại vô nghĩa của mình trong cõi thế ngay khi còn đang sống Chính những lời nói đầy buồn bã và trầm tư của cậu bé đáng thương đã khiến không khí câu chuyện trở nên trầm buồn hơn Những lời tâm sự
giãi bày của người chủ cũ khi gặp lại cô hầu gái năm xưa trong Những lối đi dưới hàng
cây sẫm tối sau những lời nói xã giao tưởng như vô thưởng vô phạt lại chứa đựng nỗi
niềm của một người luôn tự giấu kín tâm sự vì xấu hổ và sĩ diện: