phương pháp diễn dịch trong nội dung phân tích các chương trình, kế hoạch, chính sách, biện pháp nâng cao hiệu quả ĐTC; đánh giá thành công và hạn chế của ĐTC ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhậ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI QUANG THẾ
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Hà Nội - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI QUANG THẾ
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế Quốc tế
Mã số: 9 31 01 06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS Nguyễn Thường Lạng
2 TS Nguyễn Xuân Cường
Hà Nội - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày ……tháng ……năm 2021
Tác giả luận án
Thái Quang Thế
Trang 4Trước hết, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn là
PGS TS Nguyễn Thường Lạng và TS Nguyễn Xuân Cường Dưới sự
hướng dẫn nhiệt tình của các thầy đã giúp tôi từ những bước đầu định hướng
về đề tài nghiên cứu của mình, tiếp tục hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án Những nhận xét và đánh giá của các thầy, đặc biệt là những gợi ý về hướng giải quyết vấn đề trong suốt quá trình nghiên cứu, thực sự là những bài học vô cùng quý giá không chỉ trong quá trình viết luận án mà cả trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn sau này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói chung và Khoa Kinh tế quốc tế nói riêng đã giúp đỡ, góp ý và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Xin trân trọng cảm ơn những tập thể và cá nhân đã giúp đỡ về tài liệu nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin dành sự cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp đã luôn cổ vũ động viên tôi để tôi có động lực mạnh mẽ, chỗ dựa vững chắc giúp tôi hoàn thành luận án này
Tác giả luận án
Thái Quang Thế
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Tổng quan công trình nghiên cứu về hiệu quả đầu tư công 8
1.1.1 Các nghiên cứu về quan điểm, vai trò đầu tư công 8
1.1.2 Các nghiên cứu thực tiễn nâng cao hiệu quả đầu tư công 11
1.1.3 Những nghiên cứu liên quan đến bài học kinh nghiệm nâng cao hiệu quả đầu tư công ở một số nước Đông Á ứng dụng vào Việt Nam……… …24
1.2 Một số nhận xét về tổng quan các công trình nghiên cứu 26
1.2.1 Những giá trị đạt được 26
1.2.2 Những hạn chế 28
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG 31
2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư công 31
2.1.1 Khái niệm đầu tư công 31
2.1.2 Đặc điểm của đầu tư công 36
2.1.3 Vai trò đầu tư công 38
2.2 Hiệu quả đầu tư công 41
2.2.1 Quan niệm về hiệu quả đầu tư công 41
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công 46
2.3 Các yếu tố tác động tới hiệu quả đầu tư công 54
2.3.1 Hệ thống chính sách, pháp luật 54
2.3.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch hóa đầu tư công 544
2.3.4 Công tác bố trí vốn đầu tư công 55
2.3.5 Tổ chức thực hiện đầu tư công 55
2.3.6 Năng lực của các cơ quan, cán bộ làm công tác quản lý đầu tư, chủ đầu tư và tư vấn đầu tư 56
2.3.7 Kiểm tra, giám sát đầu tư công 57
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ CÔNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á 5959
3.1 Tổng quan đầu tư công Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản 5959
3.1.1 Khái quát đầu tư công ở Trung Quốc 5959
3.1.2 Khái quát đầu tư công ở Hàn Quốc 633
3.1.3 Khái quát đầu tư công ở Nhật Bản 666
3.2 Hiệu quả đầu tư công của Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản 69
3.2.1 Hiệu quả đầu tư công ở Trung Quốc 6969
3.2.2 Hiệu quả đầu tư công ở Hàn Quốc 722
3.2.3 Hiệu quả đầu tư công ở Nhật Bản 755
3.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản 777
3.1.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Trung Quốc 77
Trang 63.2.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Hàn Quốc 822
3.3.2 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Nhật Bản 855
3.4 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản 866
3.4.1 So sánh hiệu quả đầu tư công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản 866
3.4.2.Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản………91
3.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 912
Chương 4 ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TỪ KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á 988
4.1 Đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 1995 - 2019 988
4.1.1 Tổng quan đầu tư công ở Việt Nam 988
4.1.2 Thực trạng đầu tư công ở Việt Nam trong thời gian qua 107
4.1.3 Đánh giá chung về hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam 113
4.2 Quan điểm và định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam 122
4.2.1 Bối cảnh thế giới, trong nước và những vấn đề đặt ra 122
4.2.2 Quan điểm, định hướng 126
4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trên cơ sở bài học kinh nghiệm của các nước Đông Á 12828
4.3.1 Nâng cao chất lượng quy hoạch, lập kế hoạch đầu tư công 128
4.3.2 Điều chỉnh cơ cấu đầu tư công 1311
4.3.3 Cơ cấu lại ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ luật tài khóa 1366
4.3.4 Tăng cường quản lý đầu tư công 13939
4.3.5 Tăng cường, nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát và công khai, minh bạch trong đầu tư công……….142
4.4 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 1444
4.4.1 Hoàn thiện hệ thống đánh giá chương trình, dự án đầu tư công, nhà thầu, cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng vốn đầu tư công 1444
4.4.2 Thành lập cơ quan chuyên trách, độc lập thực hiện kiểm tra, giám sát đầu tư công 1455
4.4.3 Phát triển tổ chức tư vấn độc lập đánh giá, thẩm định trước khi phê duyệt, khi điều chỉnh chương trình, dự án đầu tư công 1466
4.4.4 Hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thông qua hình thức PPP 1466
KẾT LUẬN 1488
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 167
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ
viết tắt
Nghĩa đầy đủ
BOT Build - Operate - Transfer Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển
giao
BT Build - Transfer Xây dựng - Chuyển giao
BTO Build - Transfer - Operate Xây dựng - Chuyển giao - Kinh
doanh CECM Vector Autoregressive Error
Correction Model Mô hình hiệu chỉnh sai số
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FS Feasiliity Study Nghiên cứu khả thi
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR Incremental Capital-Output Ratio Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
IRR Internal Rate of Return Tỷ suất thu nhập nội bộ
KDI Korea Development Institute Viện Phát triển Hàn Quốc
MP Marginal Product Phương pháp hàm sản xuất
MTEF Medium Term Expenditure
NGO Non Governmental Organization Tổ chức phi chính phủ
NIC Newly Industrialized Country Các nước công nghiệp mới
NPV Net Pesent Value Giá trị hiện tại thuần
ODA Official Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh
tế PIM Public Investment Management Quản lý đầu tư công
PPP Public Private Partnership Mô hình đối tác công - tư
Trang 8UNDP United Nations Development
Programme
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Vốn và tỷ lệ đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, đầu tư giáo
dục, đầu tư y tế và đầu tư công nghệ từ năm 2008 - 2019 62 Bảng 3.2 Các hệ thống quản lý và đánh giá kết quả đầu tư công của
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Tổng quan tăng trưởng đầu tư công của Trung Quốc 60 Hình 3.2 Đầu tư công ở Nhật Bản, 1970 - 2003 67 Hình 3.3 Phân bổ đầu tư công theo các lĩnh vực của Nhật Bản, 1970 -
2003
68 Hình 4.1 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 1995 - 2019 (%) 98 Hình 4.2 Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế 109
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư công là vấn đề kinh tế hệ trọng đối với mọi quốc gia Việt Nam
là nước đang phát triển, đặt mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời luôn coi kinh
tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, vai trò của ĐTC lại càng có vị trí quan trọng ĐTC đóng góp quan trọng vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nền tảng phát triển của nền kinh tế, hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước nói riêng và toàn nền kinh
tế nói chung Tuy nhiên, tỷ lệ ĐTC lớn không tự nó đảm bảo kết quả tăng trưởng cao Một ví dụ điển hình là mặc dù tỷ lệ đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong đầu tư toàn xã hội thời gian qua cao hơn hẳn các quốc gia Đông Á khác trong giai đoạn phát triển tương tự, cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam vẫn
bị coi là yếu kém và là một trong ba nút thắt tăng trưởng chính của nền kinh tế [24] Rõ ràng ĐTC chỉ dẫn đến tăng trưởng nếu có hiệu quả thực sự
Bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển đất nước, ĐTC ở Việt Nam bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém, nhất là về hiệu quả đầu tư ĐTC luôn đi cùng lãng phí và tốn kém, thậm chí với mức độ ngày càng nặng nề [23] ĐTC và quản lý ĐTC kém hiệu quả không chỉ khiến hiệu quả đầu tư xã hội bị hạn chế, mà còn làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực và kéo dài khác, như tăng sức ép lạm phát trong nước, mất cân đối vĩ mô trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy - tiêu dùng, cũng như làm hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng Năm 2017 có 1.609 dự án chậm tiến độ, chiếm 3,1% số dự
án thực hiện đầu tư Trong đó, đáng chú ý là có gần 150 dự án chậm tiến độ do nguyên nhân chủ quan, do chủ đầu tư, Ban quản lý dự án và các nhà thầu không
đủ năng lực Số dự án chậm tiến độ tăng gần 150 dự án so với con số năm 2016 Bên cạnh đó, 2.605 dự án thực hiện đầu tư phải điều chỉnh, trong đó chủ yếu là
Trang 11điều chỉnh vốn đầu tư (979 dự án) và điều chỉnh tiến độ đầu tư (936 dự án), gần
850 dự án thất thoát lãng phí, 225 dự án vi phạm quy định thủ tục đầu tư, 22 dự
án vi phạm quản lý chất lượng và gần 300 dự án phải ngừng thực hiện [145] Năm 2020 đã phát hiện 25 dự án vi phạm quy định về thủ tục đầu tư; 54 dự án
vi phạm về quản lý chất lượng; 422 dự án có thất thoát, lãng phí; 450 dự án phải ngừng thực hiện [23]
Từ nhu cầu trong nước, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các nước đi trước và thành công trong lĩnh vực này để nâng cao hiệu quả ĐTC Trong đó có các nước thuộc khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… Các quốc gia này có hệ thống giám sát, các biện pháp chính sách, khung khổ thể chế, công cụ quản lý ĐTC mới ra đời và được
áp dụng hiệu quả
Hơn nữa, các nước này có những điểm tương đồng vì nền kinh tế trước đây của họ cũng giống Việt Nam hiện nay, chịu tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong như sự can thiệp chính trị, các nhóm lợi ích… và bên ngoài như các cuộc khủng hoảng khu vực và thế giới, đồng thời cũng đang trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, cải cách và hoàn thiện thể chế, chính sách để thích ứng với tình hình, bối cảnh mới Do đó việc tham khảo, nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao hiệu quả ĐTC của các nước đi trước ở khu vực Đông Á là việc làm hết sức có ý nghĩa Đây là đề tài chưa có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam Do đó,
đề tài: “Hiệu quả đầu tư công ở một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam” được chọn để nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12Bản từ 1997 đến nay, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:
(i) Tổng quan các công trình được được công bố liên quan trực tiếp đến
đề tài luận án, kế thừa những kết quả nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm vấn đề đặt ra Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về hiệu quả ĐTC
(ii) Phân tích thực trạng hiệu quả ĐTC tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản để đánh giá khách quan kết quả về kinh nghiệm nâng cao hiệu quả ĐTC tại ba quốc gia Đông Á này
(iii) Từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng ĐTC tại Việt Nam đề xuất định hướng, giải pháp và kiến nghị đối với các đơn vị, ban ngành liên quan nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả ĐTC tại Việt Nam phù hợp với mục tiêu quan điểm và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đó, luận án cần trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Thực trạng hiệu quả đầu tư công như thế nào và các biện pháp, chính sách nào được áp dụng để nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản?
Câu hỏi 2 Việt Nam có thể rút ra bài học gì để nâng cao hiệu quả đầu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 13- Về thời gian:
i) Luận án nghiên cứu hiệu quả ĐTC ở Trung Quốc giai đoạn từ năm
1987 đến 2019; ở Hàn Quốc giai đoạn từ năm 1997 đến 2019; ở Nhật Bản giai đoạn từ 1970 đến 2019
ii) Phân tích, đánh giá hiệu quả ĐTC của Việt Nam trong giai đoạn 1995
- 2019, định hướng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
iii) Số liệu nghiên cứu từ các nguồn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh
tế Ở Việt Nam từ niên giám thống kê số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước,… qua các năm, có sự tham khảo số liệu từ các nguồn chính thức khác
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề chủ yếu về lý
luận và thực tiễn hiệu quả ĐTC của một số nước lựa chọn ở Đông Á, tình hình ĐTC ở Việt Nam
- Về không gian: Nghiên cứu hiệu quả đầu tư công của một số nước Đông
Á gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án sử dụng phương pháp luận tiếp cận hệ thống và tiếp cận lịch sử
để tìm hiểu và đánh giá vấn đề nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kinh tế để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, đó là:
- Về phương pháp tư duy khoa học: Luận án kết hợp cả phương pháp diễn
dịch và phương pháp quy nạp để phân tích các nội dung khoa học của luận án
i) Phương pháp diễn dịch: theo khuynh hướng từ tổng quát đến chi tiết,
từ khái quát đến cụ thể, từ tiền đề đến dẫn chứng và lập luận Luận án sử dụng
Trang 14phương pháp diễn dịch trong nội dung phân tích các chương trình, kế hoạch, chính sách, biện pháp nâng cao hiệu quả ĐTC; đánh giá thành công và hạn chế của ĐTC ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản; rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ nghiên cứu hiệu quả ĐTC ở các nước trên
ii) Phương pháp quy nạp: xuất phát từ các dẫn chứng cụ thể để đi tới kết
luận, nhằm tổng quát hóa và giải thích cho các minh chứng đã nêu Do đó, luận
án sử dụng phương pháp này trong phần nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn ĐTC và hiệu quả ĐTC ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
- Về phương pháp thu thập thông tin: Luận án sử dụng:
i) Phương pháp tiếp cận lịch sử và logic: Phương pháp này sử dụng trong
phân tích các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Qua các sự kiện kinh tế gắn với ĐTC ngẫu nhiên trong quá khứ, chuỗi sự kiện tổng hợp lại hàm chứa quy luật tất yếu, cho thấy được chu kỳ biến động tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
ii) Phương pháp tiếp cận cá biệt và so sánh: Sử dụng khi nghiên cứu
từng giai đoạn phát triển kinh tế nhằm so sánh giai đoạn trước và sau thực hiện các dự án ĐTC, so sánh để nghiên cứu khả năng áp dụng biện pháp nâng cao hiệu quả ĐTC ở Việt Nam Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống trên cơ sở sử dụng các tình huống ĐTC điển hình cả thành công và chưa thành công để làm căn cứ phân tích các chính sách và công cụ, biện pháp cải thiện hiệu quả
iii) Phương pháp tiếp cận phân tích và tổng hợp: Sử dụng trong nhiều
nội dung phân tích của luận án như công cụ, phương pháp, các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả ĐTC ở các nước lựa chọn…
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Luận án kế thừa, tiếp thu tài liệu,
tri thức từ các nghiên cứu trước Trong đó, luận án thu thập, tổng hợp, phân tích các nguồn tư liệu, nghiên cứu đã công bố
Trang 15- Về phương pháp xử lý số liệu: Luận án sử dụng phương pháp xử lý
thông tin định tính, thông qua việc kết nối, xâu chuỗi các thông tin thu thập
được dưới dạng các phân tích, các sơ đồ để đưa ra nhận xét, đánh giá về bản chất vấn đề nghiên cứu như đánh giá theo phương pháp hệ số ICOR, Mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM), Phương pháp hàm sản xuất (hệ số MP)
- Hướng tiếp cận nghiên cứu: Luận án tổng hợp, phân tích, đánh giá
vấn đề nghiên cứu; từ đó so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm
5 Đóng góp mới về khoa học
Luận án có những đóng góp mới sau:
- Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả ĐTC của các nhà nghiên cứu, quốc gia, tổ chức quốc tế, đặc biệt là những nghiên cứu về hiệu quả ĐTC của các nước Đông Á
- Khái quát lý luận cơ bản về hiệu quả ĐTC và nâng cao hiệu quả ĐTC của các quốc gia Đông Á
- Phân tích thực trạng hiệu quả ĐTC của một số nước Đông Á, cụ thể là Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
- Tổng kết kinh nghiệm thành công và chưa thành công trong nâng cao hiệu quả ĐTC ở một số nước Đông Á, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
ĐTC ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đóng góp về lý luận: Về lý luận, luận án là tài liệu tham khảo và cung
cấp khung lý thuyết cho các nghiên cứu, công tác học tập, nghiên cứu của giảng viên, sinh viên và các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến chủ đề hiệu quả ĐTC và nâng cao hiệu quả ĐTC
- Đóng góp thực tiễn: với những kết quả nghiên cứu được từ việc phân
tích, đánh giá những kinh nghiệm thực tiễn trong ĐTC, đánh giá và quản lý đầu
tư có hiệu quả của Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản Thông qua đó nhà
Trang 16quản lý ĐTC xem xét, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả ĐTC ở Việt Nam
+ Từ những giải pháp đề ra, Luận án khẳng định “Nâng cao hiệu quả
đầu tư công” hiện nay là nhiệm vụ quan trọng giúp các quốc gia trên thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế
+ Kết quả của luận án còn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý và thực hiện ĐTC; có khả năng ứng dụng cho các dự án ĐTC Những giải pháp luận án đưa ra tạo cơ sở khoa học cho việc thực hiện các dự
án, nâng cao hiệu quả ĐTC
Trang 17Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan công trình nghiên cứu về hiệu quả đầu tư công
1.1.1 Các nghiên cứu về quan điểm, vai trò đầu tư công
Đầu tư công được nghiên cứu khá nhiều và tương đối toàn diện trên thế giới trên cơ sở khung lý thuyết (Arrow và Kurz, 1970) và kết quả nghiên cứu thực nghiệm (Aschauer, 1989) Các nhà kinh tế khi nghiên cứu về ĐTC trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào nền kinh tế đóng, thông qua sử dụng mô hình Ramsey và mô hình tăng trưởng nội sinh của AK (Futagami, 1993; Baxter
và King, 1993; Glomm và Ravikumar, 1994; Fisher và Turnovsky, 1998)
Tiếp theo, nghiên cứu ĐTC phát triển trong nền kinh tế nhỏ mở (Turnovsky, 1998) Nguồn lực cho ĐTC ở các nước đang phát triển được tài trợ bởi vay nợ nước ngoài song phương, đa phương; hoặc thông qua chuyển nhượng vốn đơn phương Viện trợ nước ngoài được coi là công cụ tài trợ cho đầu tư cơ
sở hạ tầng công và tầm quan trọng được nâng lên trong quá trình mở rộng Mối liên hệ giữa viện trợ nước ngoài, tăng trưởng và điều hành kinh tế vĩ mô là nguồn gốc của cuộc tranh luận kinh tế và chính trị căng thẳng kể từ khi tái thiết Châu
Âu sau chiến tranh thế giới thứ II theo Kế hoạch Marshall
Mối quan hệ nhân quả giữa viện trợ nước ngoài và phát triển được xem xét, đánh giá toàn diện (Hasen và Tarp, 2000) Tuy nhiên, do hạn chế thông tin,
dữ liệu nên dẫn đến nhiều bất đồng trong xem xét cơ chế viện trợ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng Viện trợ có hiệu quả nhất khi được bổ sung, hổ trợ bởi chính sách kinh tế “tốt” của Chính phủ và đưa ra kết luận các nhà tài trợ cần phải thận trọng hơn khi quyết định viện trợ (Burnside và Dollar, 2000)
Trong một số công trình nghiên cứu của Dalgaard và Hansen (2001), Collier và Dehn (2001), và Easterly (2003) chỉ ra các kết quả của Burnside và
Trang 18Dollar (2000) không phải là căn cứ thuyết phục để khẳng định “viện trợ”,
“chính sách tốt”, và “tăng trưởng” Theo Hidefumi Kasuga, Yuichi Morita (2011), với cách tiếp cận viện trợ tài chính đầu tư cơ sở hạ tầng, chi tiêu vì người nghèo và giả định các nước tiếp nhận phụ thuộc vào viện trợ trong giai đoạn phát triển ban đầu nhưng cuối cùng cũng độc lập và các nhà tài trợ có thể tăng tốc độ cho nước nhận viện trợ bằng cách đầu tư vào cơ sở hạ tầng, ngay cả trong trường hợp chỉ cần có sự gia tăng nhỏ trong viện trợ cũng có thể cải thiện hiệu quả viện trợ và hiệu quả viện trợ phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng hơn là hiệu quả điều hành của chính phủ Kết quả là không có sự đồng thuận cao đối với quan điểm viện trợ nước ngoài thúc đẩy tăng trưởng ở các nước nghèo Về cơ bản, các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong giai đoạn này về viện trợ và tăng trưởng vẫn thiếu khuôn khổ lý thuyết toàn diện Các mô hình lý thuyết tìm ra mối quan hệ này chủ yếu dựa trên công trình nghiên cứu của Chenery và Strout
Turnovsky (2005) sử dụng mô hình tăng trưởng nội sinh và đưa ra kết luận khái quát về sự chấp nhận chuyển giao với các điều kiện ràng buộc đối với một nền kinh tế đang phát triển nhỏ phải thực hiện một số điều chỉnh cơ cấu nội bộ và sự linh hoạt trong xác định hiệu quả của chương trình chuyển giao
Nghiên cứu về vai trò ĐTC đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
Edward Anderson, Paolo de Renzio và Stephanie Levy [113], “The role of
public investment in poverty reduction: Theories, evidence and method”;
“Making Public Investment More Efficient” (Vai trò của đầu tư công trong
giảm nghèo: Lý thuyết, bằng chứng và phương pháp: “Làm cho đầu tư công hiệu quả hơn”) của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) [117] Các nghiên cứu tập trung phân tích làm nổi bật vai trò của ĐTC đối với tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo Đặc biệt nghiên cứu nhấn mạnh, nếu không phân biệt chế độ chính trị,
về cơ bản, các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đều sử dụng
Trang 19vốn NSNN để chi tiêu một phần cho ĐTC nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, lĩnh vực cần nhiều vốn, quay vòng chậm, lãi suất thấp mà các khu vực kinh tế khác không muốn đầu tư nhưng có vai trò quyết định đến tạo dựng nền tảng vật chất
kỹ thuật của nền kinh tế Đồng thời, nghiên cứu đi sâu phân tích để chứng minh ĐTC hiệu quả tạo nền tảng vật chất để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nhiệm vụ tập trung tạo điều kiện cho nhóm người có thu nhập thấp, điều kiện khó khăn có thể vươn lên trong công cuộc phát triển đất nước Nghiên cứu cũng đồng thời đánh giá tổng quan một số lý thuyết về mối quan hệ giữa kinh tế với đảm bảo an sinh xã hội với điển hình là lý thuyết Kunet, cũng như các bằng chứng và phương pháp, qua đó đề xuất cách thức cung cấp, hướng dẫn tốt hơn nhà hoạch định chính sách sử dụng kỹ thuật và thông tin có sẵn để đưa ra các
ưu tiên cho ĐTC trong bối cảnh áp lực ngày càng gia tăng đối với loại hình đầu
tư này tại các quốc gia đang phát triển trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
Khi nghiên cứu hiệu quả ĐTC mang lại cho nền kinh tế, việc phân tích lợi ích - chi phí (CBAs) được coi là phương pháp cơ bản nhưng không phải lúc nào, dự án nào cũng có thể sử dụng được do thiếu nguồn lực và thông tin; nhất
là đối với những dự án mà đầu ra là những sản phẩm mang tính xã hội, liên quan đến con người Năm 1973 tác giả Dale W.Warnke trong nghiên cứu của mình chỉ ra lương tâm xã hội của người lập kế hoạch hoặc ra quyết định; vốn kiến thức và những hạn chế của phương pháp phân tích chi phí - lợi ích là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả ĐTC cũng như phân bổ nguồn lực tối
ưu Do đó, các nhà nghiên cứu phát triển phương pháp đánh giá thay thế trong điều kiện ít thông tin cơ bản, chuyên sâu và không phải lúc nào cũng lượng hóa được lợi ích của ĐTC bằng các chỉ tiêu tài chính cụ thể Trong trường hợp này, phương pháp được lựa chọn là đánh giá hiệu quả chi phí thấp nhất và sử dụng
mô hình cân bằng tổng thể Điều này cho phép phân tích kinh tế vĩ mô định
Trang 20lượng một lượng lớn các chính sách ĐTC Tuy nhiên, cần phải cải thiện khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu và thông tin hiện hữu để đánh giá và cần hiểu biết tốt quy trình xây dựng chính sách để đảm bảo thông tin và phương pháp phù hợp cung cấp đầu vào liên quan đến hoạch định chính sách, định hướng lựa chọn ĐTC
Tiếp đó năm 2011, các tác giả Era Dabla-Norris, Jim Brumby và cộng sự
trong nghiên cứu “Investing in Public Investment: An Index of Public
Investment Efficiency” (Đầu tư vào đầu tư công: Chỉ số hiệu năng đầu tư công)
đề xuất một số chỉ tiêu mới đánh giá hiệu quả quản lý ĐTC qua bốn giai đoạn gốm: thẩm định, lựa chọn, thực hiện và đánh giá trên cơ sở khảo sát tại 71 quốc gia với 40 quốc gia có thu nhập thấp, và 31 quốc gia có thu nhập trung bình trong đó có Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu này có thể sử dụng để đánh giá chính sách ĐTC và so sánh giữa các quốc gia có điều kiện tương đồng và thích hợp với quốc gia quan tâm đến cải cách và nâng cao hiệu quả ĐTC [114]
1.1.2 Các nghiên cứu thực tiễn nâng cao hiệu quả đầu tư công
- Các nghiên cứu về thực trạng đầu tư công
Báo cáo của Word Bank (1995) “China: Public Investmentand and
Finance” (Trung Quốc: Đầu tư công và tài chính) phân tích cụ thể thực trạng
ĐTC trong 20 năm phát triển của Trung Quốc Nghiên cứu cho thấy đầu tư tài sản cố định của nhà nước là rất lớn, và không có xu hướng giảm; ĐTC công nghiệp nhà nước cũng lớn hơn nhiều so với quy mô khu vực nhà nước, khu vực công nghiệp nhà nước sử dụng các nguồn lực đầu tư kém hiệu quả hơn so với phần còn lại của nền kinh tế Báo cáo đề xuất một số biện pháp cải thiện quản
lý ĐTC và tài chính Quan trọng không kém đối với cải cách hệ thống đầu tư nói chung là sự tiến bộ liên tục trong phát triển kinh tế thị trường, điều này loại
bỏ các ưu đãi do đầu tư quá mức Đặc biệt quan trọng trong vấn đề này là áp
Trang 21đặt các hạn chế ngân sách đối với các doanh nghiệp và tổ chức tài chính, thông qua cơ cấu quản trị phù hợp và nguyên tắc thị trường cạnh tranh, hoàn thành cải cách giá cả và mức lãi suất phản ánh giá trị vốn khan hiếm Các khuyến nghị cải cách hệ thống ĐTC được trình bày chi tiết
Tiếp đến nghiên cứu của Jing Zhu and Zhu, J (2003) “Public investment
and China’s grain production competitiveness under WTO”(Đầu tư công và
năng lực cạnh tranh sản xuất nông nghiệp Trung Quốc khi tham gia WTO), chỉ
ra việc gia nhập WTO của Trung Quốc đặt ra thách thức lớn đối với nông nghiệp, đặc biệt là các nhà sản xuất ngũ cốc So với các nhà xuất khẩu ngũ cốc lớn trên thế giới, hầu hết các loại cây ngũ cốc ở Trung Quốc đều có chi phí sản xuất cao và khả năng cạnh tranh thị trường yếu Điều này có thể một phần là
do nông dân Trung Quốc phải đối mặt với cơ sở hạ tầng sản xuất nông nghiệp kém hơn và ĐTC không đủ cho nghiên cứu và mở rộng nông nghiệp, dẫn đến hiệu quả đầu vào tư nhân thấp hơn và do đó chi phí tư nhân trên mỗi đơn vị sản
phẩm cao hơn
Luận án tiến sĩ của Vương Gan (2007) nghiên cứu vấn đề “Research on
the Effect of Public Investment in China” (Nghiên cứu về ảnh hưởng của đầu
tư công ở Trung Quốc), nêu bật thực trạng ĐTC tại Trung Quốc tập trung chủ yếu vào cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, thể thao, phúc lợi xã hội, văn hóa, phát thanh và quốc phòng, v.v Ngoài ra, cũng xuất hiện sự chú ý đến đầu tư vào giáo dục và việc làm Đầu tư có sự dịch chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác và theo đó các hiệu ứng phúc lợi xã hội cũng khác nhau, chỉ ra các yếu tố hạn chế ảnh hưởng của ĐTC và phương pháp để nâng cao hiệu quả ĐTC Có một số câu hỏi lớn liên quan đến ĐTC và giải pháp được đề xuất về phạm vi, quy mô, cơ cấu, phương thức và cơ chế quản lý ĐTC
Nghiên cứu của Kelsey Wilkins và Andrew Zurawski (2014) về
“Infrastructure Investment in China” (Đầu tư cơ sở hạ tầng tại Trung Quốc)
Trang 22chỉ ra sự phát triển nhanh chóng của cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc trong vài thập
kỷ qua được thể hiện qua sự cải thiện trong một loạt các chỉ số kinh tế và xã hội Tuy nhiên, các chỉ số này cho thấy Trung Quốc vẫn có thể hội tụ về trình phát triển và mức sống ở các nền kinh tế phát triển Ví dụ, cơ sở hạ tầng vận chuyển đường sắt đô thị tương đối kém phát triển ở nhiều thành phố lớn của Trung Quốc so với ở các thành phố quốc tế lớn ở hầu hết các nền kinh tế phát triển Ở phạm vi lớn hơn, chính quyền Trung Quốc có kế hoạch tạo điều kiện
đô thị hóa nhanh hơn trong những năm tới (mặc dù với tốc độ chậm hơn thời gian gần đây), điều này tạo ra nhu cầu cao về cơ sở hạ tầng Những yếu tố này cho thấy đầu tư cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc vẫn có vị trí trong một thời gian nhất định [109]
Ở Hàn Quốc, các nghiên cứu, tổng kết về thực trạng ĐTC như nghiên
cứu “Public Investment Management System in Korea” (Hệ thống Quản lý đầu
tư công tại Hàn Quốc) của Kiwan Kim (2016), Public and Private Infrastructure Investment Management Center (PIMAC) Korea Development Institute (KDI)
[101]; nghiên cứu “Public Investment Management in Korea: Efficiency and
Sustainability”(Quản lý đầu tư công tại Hàn Quốc: Hiệu năng và bền vững)
(2010), “What Made Public Investment Management Reform Happen in
Korea?”(Điều gì đã làm cho cải cách quản lý đầu tư công diễn ra ở Hàn Quốc?)
(2011), của Jay-Hyung Kim, Public and Private Infrastructure Investment
Management Center (PIMAC) Korea Development Institute (KDI) [100], [119]; Các báo cáo thường niên của Viện KDI từ năm 2010 đến 2019 [95]… đều đề cập đến thực trạng ĐTC ở Hàn Quốc giai đoạn 1997 đến 2019, phản ánh được sự thành công và một số vấn đề còn tồn tại trong ĐTC, quản lý và nâng cao hiệu quả ĐTC ở Hàn Quốc
Ở Nhật Bản, trong các nghiên cứu như: “Kinh tế Nhật Bản và đầu tư
công số 34 - Phát triển vốn xã hội trong thế kỷ 20 và hướng tới thế kỷ 21”,
Trang 23Tháng 12 năm 1999 Viện kinh tế xây dựng Nhật Bản [93]; Báo cáo kinh tế xây
dựng “Kinh tế Nhật Bản và đầu tư công - Sự co lại liên tục của thị trường xây
dựng và con đường khả thi của ngành xây dựng”, Viện kinh tế xây dựng Nhật
Bản (2002) [146]; Toshiyuki Nakamura (2018), “Cẩm nang nâng cao năng lực
quản lý đầu tư công”, chỉ ra ĐTC của Nhật Bản trong giai đoạn hồi phục sau
khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á 1997 với biện pháp bền vững của chính phủ Nhật Bản [105]
Nghiên cứu của Tomomi Miyazaki Haruo Kondoh (2016) “Local Public
Investment and Regional Business Cycle Fluctuations in Japan”(Đầu tư công
tại địa phương và biến động chu kỳ kinh doanh khu vực tại Nhật Bản) [104],
nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa biến động chu kỳ kinh doanh khu vực và ĐTC địa phương tại Nhật Bản Kết quả thực nghiệm cho thấy có khả năng một phần ĐTC địa phương được quyết định bởi các yếu tố chính trị có thể làm tăng biến động chu kỳ kinh doanh khu vực
Tại Việt Nam, thực trạng ĐTC cũng được các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và UNDP,
(2010), kỷ yếu hội thảo “Tái cơ cấu đầu tư công trong bối cảnh đổi mới mô
hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam” công bố nhiều nghiên
cứu, phân tích thực trạng ĐTC Việt Nam, đánh giá thành tựu cũng như hạn chế
và nguyên nhân, đề xuất định hướng tái cơ cấu ĐTC trong giai đoạn phát triển tiếp theo, những vấn đề đặt ra cũng như chính sách và giải pháp nâng cao hiệu
quả ĐTC [92] Nguyễn Minh Phong (2010) với bài viết “Phối hợp chính sách
để nâng cao hiệu quả đầu tư công” chỉ ra: Nguồn vốn nhà nước đã eo hẹp lại
quản lý kém, đầu tư không hợp lý, đầu tư nhiều vào các ngành tư nhân sẵn sàng đầu tư; đầu tư thiếu tập trung và dứt điểm cho các công trình trọng điểm Ngoài
ra, hiệu quả ĐTC thấp còn chịu ảnh hưởng của cơ chế khép kín, lợi ích cục bộ,
Trang 24phe nhóm, địa phương, sự nể nang cảm tính và tư duy nhiệm kỳ Do đó, cần tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ĐTC [58]
Chính phủ (2013), trong “Báo cáo phân tích thực trạng đầu tư sử dụng
vốn nhà nước”, nêu rõ: Cơ sở hạ tầng là một điều kiện quan trọng để Việt Nam
phát triển nền kinh tế có giá trị gia tăng cao Việc nhà nước tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong thời gian qua giúp nâng cấp đáng kể cơ sở hạ tầng kỹ thuật Song chi phí đầu tư hạ tầng cao, tác động đầu tư hạ tầng đến nâng cao năng lực cạnh tranh còn hạn chế và nhu cầu của nền kinh tế đang nhanh hơn cả tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, do đó, có đánh giá có hệ thống các dự án đầu tư
hạ tầng và ưu tiên, tập trung đầu tư các dự án đóng góp lớn nhất vào cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia [19]
Nguyễn Xuân Thành (2011) trong nghiên cứu “Đầu tư công Việt Nam,
nhà nghèo lãng phí”, chứng minh lãng phí vốn đầu tư qua cơ cấu vốn đầu tư
và cách thức thực hiện khi phân tích các công trình được cho là hiệu quả nhất của Việt Nam như dự án đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh đi Long Thành
- Dầu Giây và cảng container Cái Mép - Thị Vải là những nút hạ tầng quan trọng để phát triển kinh tế của khu vực phía Nam Thế nhưng, nhìn vào những con số về cơ cấu vốn đầu tư và cách thức thực hiện hai dự án này đều cho thấy
hình ảnh của “nhà nghèo lãng phí” [139]
- Các nghiên cứu quan hệ đầu tư công với phát triển kinh tế - xã hội
OECD (2006) “Challenges for China’s Public Spending: Toward Greater
Effectiveness and Equity”(Những thách thức đối với chi tiêu công của Trung
Quốc: Hướng tới hiệu quả và công bằng cao hơn) [128], chỉ ra Trung Quốc phát triển và dịch chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, dẫn đầu trong chuyển đổi sâu sắc chính sách chi tiêu công Để có thành công đó, Trung Quốc tăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và xây dựng ngân sách hiện đại, cơ chế thực hiện, đạt được tiến bộ đáng kể, nhưng vẫn
Trang 25phải đối mặt với những thách thức rất lớn OECD cũng chỉ ra: “Thách thức đối
với chi tiêu công của Trung Quốc - hiệu quả và bình đẳng hơn”
Yu Nannan, Mi Jianing (2012), “Public infrastructure investment,
economic growth and policy choice: evidence from China” (Đầu tư cơ sở hạ
tầng công cộng, tăng trưởng kinh tế và lựa chọn chính sách: bằng chứng từ Trung Quốc)[134], thể hiện mối quan hệ giữa đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng
và tăng trưởng kinh tế luôn là vấn đề thu hút sự chú ý đối với Trung Quốc vì chính phủ Trung Quốc thường dành hầu hết các quỹ công để đầu tư cơ sở hạ tầng sau cải cách kinh tế Thực hiện chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc làm nền tảng, để phát huy tác động của đầu tư cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế Báo cáo đưa ra phương trình tổng sản lượng về đóng góp của các yếu tố sản xuất đến tăng trưởng kinh tế dựa trên chức năng sản xuất và ước lượng độ co dãn đầu ra của các yếu tố sản xuất Phân tích lý thuyết và thực tiễn chỉ ra vốn cơ sở hạ tầng tác động tích cực đến tăng trưởng và làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế dài hạn là bằng chứng cho thấy sự phù hợp của các chính sách đầu tư “lấy đầu tư cơ sở hạ tầng làm trung tâm” của chính phủ Trung Quốc
Yumei Zhang, Xinxin Wang, Kevin Chen (2012), “Growth and
distributive effects of public infrastructure investments in China”(Tăng trưởng
và tác động phân phối của đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng ở Trung Quốc) [135], chỉ ra đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng được coi là một trong những động lực chính của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc Tuy nhiên, có rất ít các bằng chứng định lượng về sự tăng trưởng và ảnh hưởng phân phối của đầu tư cơ sở hạ tầng công (Public Infrastuchere Investment - PII) ở Trung Quốc Bài viết sử dụng phương pháp mô phỏng vĩ mô để đánh giá hiệu quả của PII đối với nền kinh tế quốc dân sử dụng mô hình CGE (Computable General Equilibrium) động và thời gian phân phối cho các hộ gia đình sử dụng mô phỏng vi mô Kết quả cho thấy PII cao hơn làm tăng năng suất trong tất cả các ngành và thu nhập trong
Trang 26tất cả các hộ gia đình Thông tin chi tiêu PII cao hơn cũng giúp giảm nghèo và cải thiện bình đẳng ở mức độ khiêm tốn Kết quả không chỉ gợi ý thông tin định hướng PII có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc mà còn là chiến lược hữu ích thúc đẩy tăng trưởng toàn diện Đặc biệt, Trung Quốc có thể xem xét đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng nông thôn để giảm sự bất bình đẳng giữa các hộ nông dân và nông thôn trong tương lai
Ross Garnaut, Cai Fang and Ligang Song (eds) (2013) , “China: A new
model for growth and development” (Trung Quốc: Một mô hình mới cho sự tăng
trưởng và phát triển) [96], chỉ ra nền kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự thay đổi sâu sắc về chính sách và cơ cấu Sự thay đổi là cần thiết để tăng giá trị tăng trưởng cho cộng đồng Trung Quốc và để duy trì tăng trưởng trong tương lai Sự thay đổi đang bị tác động một phần do áp lực kinh tế nổi lên một cách tự nhiên
do phát triển kinh tế thành công, khan hiếm lao động và sự gia tăng lương thực thực sự thay đổi mô hình phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập, tác động môi trường và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, dòng vốn Những thay đổi này xuất phát từ thành công của các mô hình tăng trưởng cũ đang được củng cố bởi những thay đổi trong chính sách quốc gia nhằm đảm bảo sự phân phối thu nhập hợp lý hơn
và không gây tổn hại đến môi trường trong nước và quốc tế Những thay đổi này rất toàn diện và sâu sắc đến mức chung góp phần vào mô hình tăng trưởng kinh
tế mới của Trung Quốc Nghiên cứu chỉ ra sự thay thế mô hình tăng trưởng đầu
tư không bị hạn chế, để chuyển sang tăng trưởng kinh tế hiện đại
Kim Chung-yum (2011), “From Despair to Hope Economic
Policymaking in Korea 1945-1979”(Từ tuyệt vọng đến hy vọng trong hoạch
định chính sách kinh tế ở Hàn Quốc 1945-1979), Korea Development Institute (KDI) [123], nghiên cứu chỉ ra chính sách phát triển kinh tế, dựa trên báo cáo tại diễn đàn Ngân sách Thế giới về “Bài học từ Đông Á” Nó nhấn mạnh những thành tố quan trọng trong phát triển của Hàn Quốc: Sự lãnh đạo mạnh mẽ của
Trang 27chính phủ, công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu, công nghiệp nặng hóa chất, phát triển nông thôn và tái trồng rừng, cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực và cải cách kinh tế vĩ mô Hàn Quốc là một ví dụ điển hình của một quốc gia
có khả năng tạo ra và duy trì tăng trưởng cao, bền vững Để thúc đẩy phát triển, chính phủ và khu vực tư nhân cùng nỗ lực thúc đẩy đổi mới và phối hợp các yếu
tố bên ngoài đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực từ phía chính phủ nhất là nạn tham nhũng Phát triển “quan hệ đối tác mạnh” trong đó chính phủ chia sẻ rủi ro đầu tư của khu vực tư nhân và cung cấp hỗ trợ phần lớn dựa trên hiệu suất trong các thị trường cạnh tranh toàn cầu Trên thực tế, phát triển của Hàn Quốc vai trò lãnh đạo theo hướng hoạt động, công nghiệp hóa và phát triển nguồn nhân lực theo định hướng xuất khẩu, với khẩu hiệu “xuất khẩu của tất cả các ngành” và
“khoa học của mọi người”, nắm bắt được bản chất của cách tiếp cận Hàn Quốc Cùng với sự phát triển của con người, sự gắn kết xã hội cũng như tăng trưởng kinh tế, Hàn Quốc thúc đẩy một chương trình thương mại, công nghiệp và phát triển nguồn nhân lực được phối hợp rộng rãi
Sungmin Han (2017) “Contributions of Public Investment to Economic
Growth and Productivity”(Đóng góp của đầu tư công vào tăng trưởng kinh tế
và năng suất) [97], nghiên cứu đề cập đến hiệu quả của ĐTC ở Hàn Quốc đối với tăng trưởng kinh tế và năng suất Với việc sử dụng dữ liệu hành chính, nghiên cứu khai thác ba phương pháp khác nhau: năng suất tổng hợp yếu tố, hàm sản xuất và hàm sản xuất biến ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐTC ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nó đóng góp rất ít để nâng cao năng suất Nó được giải thích có tình trạng sản xuất không hiệu quả trong nền kinh tế Hàn Quốc Những phát hiện này cho thấy ĐTC đóng vai trò trung tâm trong yếu tố đầu vào trực tiếp và không đóng vai trò gián tiếp tại Hàn Quốc Vì vậy, các chính sách ĐTC cần tập trung vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế Hàn Quốc
Trang 28Trong nghiên cứu về kinh tế Nhật Bản, Tomomi Miyazaki và Haruo Kondoh (2016) nhấn mạnh vai trò của ĐTC đối với sự phát triển kinh tế Nhật
Bản qua bài viết “Local Public Investment and Regional Business Cycle
Fluctuations in Japan” (Đầu tư công tại địa phương và biến động chu kỳ kinh
doanh khu vực tại Nhật Bản) [104], trong bài thể hiện thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng của chính quyền địa phương (sau đây là ĐTC địa phương) với nỗ lực kích thích nền kinh tế Xác định đây là yếu tố có thể quyết định tình hình kinh tế từng khu vực liên quan đến sự biến động của ĐTC địa phương và các biến số khác
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tác động của ĐTC tới sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội như Luận án tiến sĩ của Nguyễn Đoan Trang (2018), nghiên
cứu về “Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [85]
Nghiên cứu lượng hóa tác động của ĐTC tới tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ
từ năm 1995 đến 2017 và kết luận ĐTC có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế; Chỉ ra ĐTC tại Việt Nam có cả tác động trực tiếp và gián tiếp tới tăng trưởng kinh tế, đồng thời lượng hóa được một số tác động này; Lượng hóa được
tỷ lệ ĐTC/GDP tối ưu của Việt Nam cho từng năm và từng thời kỳ trong giai đoạn 2001 - 2015; Chỉ ra được, việc vay nợ quá mức để tài trợ cho các dự án ĐTC trong khi hiệu quả ĐTC thấp dẫn đến các bất ổn vĩ mô và hạn chế tiềm năng tăng trưởng tương lai Theo đó, những yếu tố tác động tới mối quan hệ giữa ĐTC và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam gồm: Quản lý ĐTC (tác động lớn nhất); Nhu cầu vốn ĐTC (tác động lớn thứ hai); và Phân bổ vốn ĐTC (tác động lớn thứ ba), trong khi chưa có bằng chứng cho thấy việc xã hội hóa nguồn vốn đầu tư tác động tới mối quan hệ này
- Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá, phương pháp quản lý hiệu quả đầu tư công
Nghiên cứu của Xie Shi Khánh Li Lilin (2012), “Ten Institutional
Trang 29Innovations of the World Bank in the Management of Chinese Public Investment Projects” (Mười sáng kiến thể chế của Ngân hàng Thế giới việc
quản lý các dự án ĐTC của Trung Quốc) [102], chỉ ra các dự án ĐTC của Trung Quốc có nhiều hạn chế trong ra quyết định, thiết kế, đánh giá, mua sắm và giám sát Cuối cùng, Ngân hàng Thế giới chỉ ra Trung Quốc rất nhiều khái niệm, kiến thức, công nghệ, phương pháp và kinh nghiệm tiên tiến liên quan đến phát triển kinh tế và xã hội Trong số đó, một trong những thành tựu nổi bật nhất là
sự ra đời của nhiều hệ thống và thông lệ quản lý dự án tiên tiến quốc tế trong quản lý các dự án ĐTC ở Trung Quốc Bài viết này tóm tắt mười sáng kiến lớn
về thể chế của các dự án cho vay của Ngân hàng Thế giới trong quản lý các dự
án ĐTC của Trung Quốc, nhằm đóng vai trò hữu ích cho Trung Quốc để thực hiện tốt hơn các dự án ĐTC
JayJay-Hyung Kim (2010), “Public Investment Management in Korea:
Efficiency and Sustainability”(Quản lý đầu tư công tại Hàn Quốc: Hiệu năng
và bền vững) Public and Private Infrastructure Investment Management Center
- KDI [121], trình bày các bước, quy trình để quản lý hiệu quả ĐTC, từ quy trình Ngân sách và Quyết định ĐTC, Nghiên cứu khả thi sơ bộ, giám sát chi tiêu và đánh giá kết quả hoạt động, quan hệ đối tác công tư trong đầu tư cơ sở
hạ tầng, quản lý rủi ro tài khoá cho PPP để đảm bảo ĐTC có hiệu quả cao nhất
Sanjeev Kumar (2011), “Public Investment Managenment - Korean
Experience”(Quản lý đầu tư công - Kinh nghiệm Hàn Quốc) [131], cho biết
Hàn Quốc từ năm 1998 đưa ra một các biện pháp phát triển phương pháp mới
có hiệu quả PIM Họ thay đổi khuôn khổ thể chế hiện hành trước năm 1998 phù hợp với cách tiếp cận mới Họ kiên nhẫn sử dụng các phương pháp này trong phân tích và quyết định các dự án ĐTC lớn và mở rộng phạm vi dần dần bao gồm nhiều dự án và sau đó cả các chương trình và chính sách Chính phủ Hàn Quốc thành lập Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI), một cơ quan nghiên cứu hàng
Trang 30đầu trong chính sách công ở Hàn Quốc về đầu vào kỹ thuật và đánh giá ở các giai đoạn khác nhau của quy trình Quản lý ĐTC KDI phát triển hướng dẫn chi tiết cho các đánh giá
Syed Adnan Haider Ali Shah Bukhari, Liaqat Ali, Mahpara Saddaqat
(7/2007),“Public Investment and Economic Growth in the Three Little
Dragons: Evidence from Heterogeneous Dynamic Panel Data”(Đầu tư công
và tăng trưởng kinh tế trong ba con rồng nhỏ: Bằng chứng từ dữ liệu bảng động không đồng nhất) [132], nghiên cứu khả năng có mối quan hệ động dài hạn giữa ĐTC và tăng trưởng kinh tế ở NIEs Đông Á (được gọi là “Rồng nhỏ” vì đây là các quốc gia nhỏ có tốc độ tăng trưởng chưa từng thấy) bao gồm Singapore, Đài Loan và Hàn Quốc Mặc dù cuộc tranh luận về mối liên hệ giữa ĐTC và tăng trưởng kinh tế đã giảm đi nhưng vẫn chưa giải quyết được 3 vấn
đề Đầu tiên, vấn đề liệu một sự gia tăng lâu dài trong ĐTC tạo ra tăng trưởng kinh tế tạm thời hoặc vĩnh viễn Thứ hai, có thừa nhận hiệu quả tăng trưởng của ĐTC phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất cận biên của vốn tư nhân Thứ ba,
hiệu quả ĐTC đối với tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào việc tăng chi tiêu Nghiên cứu sử dụng một mẫu 3 nước Đông Á, tìm cách thu hẹp khoảng cách hiểu biết về ảnh hưởng của ĐTC đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu còn sử dụng dữ liệu bảng ưu việt hơn để xây dựng mối quan hệ động trong dài hạn Mặc dù quan hệ tăng trưởng đầu tư vào NIEs được nghiên cứu khá rộng rãi, nhưng mối liên hệ ngẫu nhiên giữa vốn công và tăng trưởng kinh tế vẫn chưa được giải thích đầy đủ Nghiên cứu cố gắng chỉ ra sự tương tác giữa các biến
số kinh tế vĩ mô này với sự trợ giúp của dữ liệu bảng động không đồng nhất
1971 - 2000 từ Hàn Quốc, Singapore Tiền đề của nghiên cứu này là chi tiêu công có thể đóng góp cho tăng trưởng kinh tế theo những cách khác nhau Việc khám phá điều này bằng kỹ thuật kinh tế lượng Kết quả cho thấy cả ĐTC và
tư nhân và tiêu dùng công đều có tác động lâu dài đối với tăng trưởng ở tất cả
Trang 31các quốc gia trong mẫu và trong một nhóm các quốc gia chọn làm mẫu Phân tích cặp đôi cho thấy mối quan hệ hai chiều giữa ĐTC và tăng trưởng, và giả thuyết quan hệ nhân quả đồng nhất cho thấy mối quan hệ nhân quả hoàn toàn phù hợp với mẫu nhỏ quốc gia được chọn
Tomomi Miyazaki (2007), “Public investment and business cycles: The
case of Japan” (Đầu tư công và chu kỳ kinh doanh: Trường hợp Nhật Bản),
[133], xem xét tác động của ĐTC lên biến động kinh tế vĩ mô ở Nhật Bản bằng cách so sánh tác động của đầu tư từ trung ương và địa phương Kết quả nghiên cứu cho thấy chính phủ trung ương đầu tư không lớn nhưng liên tục kích thích sản xuất công nghiệp, trong khi các khoản đầu tư của chính quyền địa phương không có tác động tích cực đến chu kỳ kinh doanh Về hiệu quả chính sách, kết quả này cho thấy chính phủ Nhật Bản không nên sử dụng các khoản đầu tư của khu vực công ở địa phương làm công cụ chính sách ổn định kinh tế
Markus Bruckner and Anita Tuladhar (2010): “Public Investment as a
Fiscal Stimulus - Evidence from Japan’s Regional Spending During the 1990s”( Đầu tư công như một sự kích thích tài khóa - Bằng chứng từ Nhật Bản
Chi tiêu khu vực trong những năm 1990) IMF, April 2010 [112], chỉ ra do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các chính phủ sử dụng các gói kích thích để “trẻ hóa” kinh tế Để tối đa hóa hiệu quả của các gói này, nhiều nước tìm kiếm các biện pháp chính sách kịp thời, có tính mục tiêu cụ thể và tạm thời Trong bối cảnh này, các biện pháp chi tiêu, đặc biệt là ĐTC và có tác động đến những người thất nghiệp, được coi trọng vì có tác động lan tỏa cao hơn Đặc biệt, nhiều thị trường mới nổi tập trung phần lớn nguồn kích thích của họ vào ĐTC Tuy nhiên, có sự thừa nhận rộng rãi các dự án này rất khó thực hiện đúng thời hạn,
và nếu không đạt mục tiêu thích hợp, sẽ không có hiệu quả trong kích thích kinh tế Trong bối cảnh đó, nghiên cứu nhằm tổng kết kinh nghiệm Nhật Bản
áp dụng các biện pháp chính sách chi tiêu và rút ra gợi ý chính sách để tối đa
Trang 32hóa hiệu quả biện pháp Với trọng tâm gói kích cầu về chi tiêu đầu tư, ước tính hiệu quả nhân cho ĐTC và so sánh với các khoản chi tiêu công khác Nghiên cứu còn chỉ ra liệu việc thực hiện mục tiêu ĐTC phù hợp với việc tối đa hóa kết quả đầu ra bằng cách kiểm tra phân bổ ĐTC ở các vùng Cuối cùng, nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của cung chi tiêu công đối với năng suất vốn biên và kiểm định mối quan hệ với quy mô nhân tố theo thời gian Bài nghiên
cứu này khác với những nghiên cứu khác ở trong ba khía cạnh Thứ nhất, sử
dụng dữ liệu cấp tỉnh về tổng ĐTC cộng cũng như chi tiêu của chính quyền địa phương để tính số nhân Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng tại Nhật Bản vì họ chiếm 60% chi tiêu và phần lớn ĐTC Khoảng 80% các dự án công trình công cộng được thực hiện bởi các chính quyền địa phương và khoảng 65% được tài trợ bởi các chính quyền địa phương vào những năm 1990 Tính sẵn có của một tập dữ liệu phong phú hơn cho phép khám phá các khía cạnh khác nhau của chính sách tài khóa bao gồm các loại chi tiêu khác nhau và phân
bổ theo vùng vào những năm 1990 Thứ hai, phương pháp ước lượng hiệu quả
số nhân, cho kết quả tin cậy ngay cả khi chi tiêu chính phủ bị ảnh hưởng bởi
thay đổi môi trường kinh tế Cuối cùng, bằng cách mở rộng phân tích hiệu suất
biên của vốn vượt quá “thập kỷ bị mất”, bổ sung vào việc phân tích hiệu ứng
số nhân với năng suất ĐTC dài hạn
Phan Tất Thứ (2005), trong luận án tiến sĩ “Hoàn thiện phương pháp
đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư công cộng ở Việt Nam”, xây dựng phương
pháp đánh giá hiệu quả dự án ĐTC ở Việt Nam, phân tích thực trạng ĐTC và hoàn thiện phương pháp đánh giá hiệu quả dự án ĐTC ở Việt Nam [82] Hoàng
Dương Việt Anh (2014), trong luận án tiến sĩ “Đổi mới và hoàn thiện chính
sách đầu tư công cho vùng Trung Bộ vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững”
trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTC và chính sách ĐTC nhằm phát triển vùng Trung Bộ và vấn đề đặt ra chính sách ĐTC giai đoạn 2001-2011 Tác giả
Trang 33đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới và hoàn thiện chính sách ĐTC cho vùng Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [8]
Nguyễn Xuân Thành trong nhiều nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả ĐTC như trong nghiên cứu “ Quản lý đầu tư công như thế nào cho hiệu quả”, cung cấp thông tin về nguồn lực vốn ĐTC, vai trò của ĐTC đối với
tăng trưởng và phát triển cũng như thực trạng ĐTC Việt Nam Tác giả đưa ra các bằng chứng chứng minh, ĐTC và công tác quản lý ĐTC ở Việt Nam đang kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí trong ĐTC là một thực trạng nhức nhối, đáng báo động Đặc biệt quản lý ĐTC trong các doanh nghiệp nhà nước đang là bài toán khó cho các nhà quản lý nâng cao hiệu quả Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTC, trong đó có vai trò của Nhà nước bố trí vốn ĐTC với việc quy hoạch đầu tư hợp lý, tái ĐTC, xây dựng quy trình ĐTC phù hợp, tính toán đến hai mặt của ĐTC [140] Bài nghiên cứu về “Tái cơ cấu kinh tế -
Một năm nhìn lại” tại Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân - Kinh tế Việt Nam (2013)
do Ủy ban Kinh tế Quốc hội tổ chức, đưa ra đánh giá ban đầu về tái cơ cấu đầu
tư xét trên ba định hướng lớn của Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng được Thủ tướng phê duyệt cho thấy mức huy động đầu tư toàn xã hội so với quy mô nền kinh tế được điều chỉnh giảm xuống, một phần đáng kể nhờ chính sách chủ động thắt chặt ĐTC Tuy nhiên, nỗ lực cải thiện hiệu quả ĐTC thông qua đổi mới cơ chế để tránh đầu tư dàn trải và lãng phí không thực sự rõ ràng và chưa có kết quả thể hiện qua ĐTC trong các lĩnh vực khác nhau [77]
1.1.3 Những nghiên cứu liên quan đến bài học kinh nghiệm nâng cao hiệu quả đầu tư công ở một số nước Đông Á ứng dụng vào Việt Nam
“Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm Quốc tế về đầu tư công” Chính phủ
(2013), cung cấp dữ liệu về thu nhập và tham khảo kinh nghiệm về quản lý ĐTC trên thế giới từ tài liệu của các đoàn khảo sát tại Hàn Quốc, Trung Quốc
Trang 34các Hội thảo quốc tế về ĐTC và các tài liệu liên quan khác Theo nhận định của nhiều quốc gia, ĐTC là động lực chủ chốt cho tăng trưởng và phát triển ĐTC tạo dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, từ đó hỗ trợ hoạt động tất cả các thành phần kinh tế Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực ĐTC cũng như chính sách quản lý hình thức đầu tư này cũng có những đặc điểm riêng biệt [20] Nguyễn Phương Thảo (2013) trong
nghiên cứu “Kinh nghiệm quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế
giới”, khẳng định vai trò ĐTC đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp
phần tạo nên kết cấu hạ tầng xã hội Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý ĐTC ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy trong tất cả các khâu của quy trình đầu tư, từ khâu quản lý quy hoạch, tổ chức quản lý đầu tư và thẩm định, điều chỉnh dự án, ủy thác đầu tư, giám sát đầu tư đều được tổ chức có hệ thống Với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực ĐTC cũng như chính sách quản lý hình thức đầu tư này có những đặc điểm riêng biệt, song kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy xây dựng khung khổ pháp luật, chính sách quản lý vốn đầu tư đầy đủ, có hệ thống, có tầm bao quát rộng là giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTC [141]
Đi sâu nghiên cứu chính sách, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐTC ở Hàn Quốc và rút ra bài học cho Việt Nam có nhiều tác giả bàn luận Đề tài khoa
học “Tái cấu trúc đầu tư công trong khuôn khổ đổi mới mô hình tăng trưởng
của Việt Nam” (đề tài khoa học nhánh thuộc đề tài khoa học trọng điểm cấp
Nhà nước “Nghiên cứu khoa học phát triển kinh tế và quản lý kinh tế ở Việt Nam đến năm 2020), Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương là cơ quan
chủ trì, của Trần Kim Chung làm chủ nhiệm [25]; Đề tài khoa học “Chính sách
quản lý đầu tư công ở Hàn Quốc - Bài học kinh nghiệm và gợi ý cho Việt Nam”
(đề tài khoa học cấp bộ năm 2016, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á là cơ quan chủ trì), của Võ Hải Thanh làm chủ nhiệm [3] Bên cạnh đó có nhiều cuốn sách
Trang 35nghiên cứu về ĐTC như “Đầu tư công - Thực trạng và Tái cơ cấu” của Vũ
Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái (2011) (Viện Kinh tế Việt Nam) [5]; Cuốn sách
“Tái cơ cấu đầu tư công để phát triển bền vững” của Nguyễn Đức Kiên (2014)
[40]; Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh (2011) có nghiên cứu “Đổi mới
thể chế, cơ chế và những giải pháp chấn chỉnh, hoàn thiện, tái cấu trúc lĩnh vực đầu tư công” [73], các nghiên cứu này đều phân tích thực trạng và đề xuất
giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTC ở Việt Nam, trong đó có cả những nghiên cứu rút ra bài học từ kinh nghiệm các nước thành công về ĐTC
1.2 Một số nhận xét về tổng quan các công trình nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả ĐTC không phải là vấn đề mới mẻ trong kinh tế Đặc biệt, hiện nay, ĐTC đang là nút thắt của nền kinh tế Việt Nam và ở các quốc gia khác, đòi hỏi phải được tháo gỡ để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự thành công và hạn chế trong ĐTC và hiệu quả ĐTC ở các quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu có cái nhìn đa chiều để rút ra bài học quý giá cho Việt Nam trong thời gian tới Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu riêng của luận án số lượng những nghiên cứu còn khá hạn hẹp Phần lớn những tài liệu tìm thấy là các khía cạnh nghiên cứu, bài báo lồng ghép trong các vấn đề nghiên cứu lớn hơn ở trong và ngoài nước Có thể nhận xét chung về tổng quan nghiên cứu như sau:
1.2.1 Những giá trị đạt được
Các nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho nghiên cứu sinh thực hiện luận án Chúng giúp nghiên cứu sinh hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, gợi ý hướng nghiên cứu và xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết Các giá trị cụ thể mà chúng mang lại sau khi nghiên cứu tổng hợp bao gồm:
1.2.1.1 Về lý luận
Thứ nhất, các tài liệu nghiên cứu giúp nghiên cứu sinh xác định được
Trang 36tầm quan trọng của hiệu quả ĐTC trong giai đoạn hiện nay ở các nước trong khu vực và Việt Nam Đồng thời, khẳng định việc nâng cao hiệu quả ĐTC có mục đích nâng cao năng lực nền kinh tế, vai trò Nhà nước trong nền kinh tế, sự tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ hai, các nghiên cứu chỉ rõ các bộ tiêu chí và quản lý hiệu quả ĐTC
Các nghiên cứu cũng đánh giá tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả ĐTC Các tài liệu nghiên cứu cũng đã đưa ra những quy trình quản lý ĐTC theo nhiều cách tiếp cận khác nhau của từng quốc gia Điểm gặp nhau trong phần lớn các nghiên cứu đã đề cập là mục tiêu và kết quả của hiệu quả ĐTC
Thứ ba, các tài liệu công bố chỉ rõ quan điểm: các quốc gia khi thực hiện
quản lý ĐTC có hiệu quả đều luôn đối mặt với cơ hội và thách thức Vì vậy, chính sách quản lý hiệu quả ĐTC luôn là chìa khóa để giải quyết các vấn đề
1.2.1.2 Về thực tiễn
Các nghiên cứu cung cấp cho nghiên cứu sinh những tình huống thực tiễn về ĐTC và hiệu quả ĐTC ở một số nước Đông Á, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản trong thời gian qua Các nghiên cứu được công bố đã mang lại giá trị thực tiễn cho luận án như sau:
Thứ nhất, tổng kết, đánh giá những khía cạnh về thực trạng hiệu quả
ĐTC ở một số nước Đông Á và hệ thống quản lý ĐTC
Thứ hai, khẳng định phải có hệ thống các tiêu chuẩn và quy trình quản
lý ĐTC để ĐTC có hiệu quả, đạt được mục đích
Thứ ba, chỉ ra nguyên nhân gây ra sự thiếu hiệu quả, những vấn đề bất
cập khi thực hiện ĐTC, chưa kịp cập nhật những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn ĐTC; nhiều tiêu chí đánh giá hiệu quả thiếu tính thực tiễn, quy trình quản lý ĐTC còn chồng chéo, trùng lặp, nặng về lý thuyết, nhẹ về nghiệp vụ, chưa theo kịp với sự thay đổi của thực tiễn và mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra
Thứ tư, đề xuất, khuyến nghị khả thi hoàn thiện các tiêu chí đánh giá,
Trang 37quy trình quản lý hiệu quả hơn tại một số nước Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
1.2.2 Những hạn chế
Bên cạnh những giá trị mang lại, những nghiên cứu trước đây vẫn còn những hạn chế, như:
1.2.2.1 Về cơ sở lý luận
Thứ nhất, mặc dù các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước đã hình
thành khung lý thuyết về hiệu quả ĐTC nhưng mới chỉ được xây dựng trên nền tảng quốc gia độc lập mà chưa có lý luận đầy đủ về vấn đề trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khu vực hóa, toàn cầu hóa, ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tới ĐTC
Thứ hai, lý thuyết hiệu quả ĐTC nói chung không nêu bật được sự cần
thiết phải đổi mới công tác quản lý ĐTC trong khi những yếu tố khác thay đổi như kinh tế, chính trị, xã hội… có ảnh hưởng đáng kể ĐTC
Thứ ba, chưa có khung lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
ĐTC trong bối cảnh mới về hội nhập quốc tế, ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế, của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đến hiệu quả ĐTC, các nghiên cứu thực tiễn có thể đưa ra các giải pháp phù hợp và hữu hiệu để nâng cao hiệu quả ĐTC
1.2.2.2 Về cơ sở thực tiễn
Thứ nhất, thiếu nghiên cứu tập trung vào hiệu quả ĐTC ở các nước ở
Đông Á, bao gồm cả kinh nghiệm thành công và chưa thành công như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
Thứ hai, chưa có nghiên cứu chỉ ra rõ ràng ĐTC giữa các nước Đông Á
với Việt Nam có điểm giống và khác nhau như thế nào Việc nghiên cứu, so sánh giữa kinh nghiệm nâng cao hiệu quả ĐTC của các quốc gia vẫn mang tính
mô tả, chưa phân tích một cách đầy đủ, hệ thống về các tiêu chí, phương pháp
Trang 38đánh giá, quy trình quản lý hiệu quả ĐTC
Thứ ba, chưa có những nghiên cứu đầy đủ các giải pháp nâng cao hiệu
quả ĐTC ở Việt Nam từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực
Tóm lại, sau khi tổng hợp những nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận
thấy vẫn còn khía cạnh chưa được nghiên cứu và đã lựa chọn đề tài “Hiệu quả đầu tư công ở một số nước Đông Á và bài học cho Việt Nam” để nghiên cứu
sâu rộng vấn đề hiệu quả ĐTC trong phạm vi khu vực với mục đích ứng dụng nghiên cứu vào quản lý và nâng cao hiệu quả ĐTC ở Việt Nam Đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nào đã có Trong đề tài, tác giả kế thừa có chọn lọc những giá trị nghiên cứu như những khảo sát, số liệu hay hệ thống cơ sở lý luận trong phạm vi nghiên cứu, đồng thời những hạn chế mà các đề tài đã công bố chưa giải quyết được chính là căn cứ gợi mở đối tượng nghiên cứu của luận án
Trang 39Để góp phần giải quyết khoảng trống nêu trên, tác giả xây dựng khung phân tích của luận án với các nội dung sau:
Phương pháp,
công cụ nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu chính
Kết quả, mục đích cần đạt được
Kế thừa kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về đầu tư công và hiệu quả đầu tư công Tìm ra khoảng trống
nghiên cứu
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của
đầu tư công Phân tích
So sánh
Tổng hợp
Chuyên gia
Đầu tư công
Quan niệm hiệu quả đầu tư công, các tiêu chí đánh giá đầu tư công Hiệu quả đầu tư công
Đưa ra các nhân tố ảnh hưởng: chủ
quan, khách quan
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công
Khái quát kinh tế - xã hội, Thực trạng đầu tư công
Thực trạng đầu tư công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
Thực trạng, kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Hiệu quả đầu tư công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
So sánh, rút ra bài học cho Việt Nam Bài học cho Việt Nam
Bối cảnh, giải pháp đổi mới, hoàn thiện, quản lý đầu tư công
Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu
tư công ở Việt Nam
Hình 1.1: Khung phân tích luận án
Trang 40Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG
VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG 2.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư công
2.1.1 Khái niệm đầu tư công
Thuật ngữ “đầu tư công” được sử dụng trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các thuật ngữ khác như “đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh”,
“đầu tư trực tiếp nước ngoài” Các khái niệm “đầu tư công” và “đầu tư Nhà nước (hay Chính phủ)” còn có các quan niệm hay khái niệm chưa thật thống nhất
Đầu tư công được hiểu là phần chi tiêu của khu vực nhà nước vốn vật chất nhằm tạo hàng hóa công cộng và dịch vụ xã hội, chẳng hạn đường sá, cầu cảng, trường học, bệnh viện,
Đầu tư công là thành phần quan trọng của tổng cầu ĐTC thúc đẩy tổng cầu thông qua số nhân tài chính Theo đó, vai trò chính sách tài chính cần được
đề cao [98]
Tuy nhiên, cách quan niệm và định nghĩa ĐTC không phải có sự thống
nhất Theo E Anderson và cộng sự (2006), “đầu tư công (ròng) là phần chi tiêu
công làm gia tăng tích lũy tài sản” Khái niệm này tương đương với định nghĩa
ĐTC trong thống kê tài khoản quốc gia có tên gọi là “chi tiêu vốn”
Theo IMF, hệ thống tài khoản quốc gia của Liên Hợp Quốc SNA và Sổ tay thống kê tài chính Chính phủ của IMF năm 2001 (GFSM 2001) định nghĩa
rõ và ghi chép các giao dịch đầu tư của Chính phủ trong kế toán và thống kê ngân sách Theo đó, Chính phủ có thể có các quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, ĐTC hay đầu tư của Chính phủ về cơ bản đề cập đến đầu tư Chính phủ vào tài sản có thời hạn sử dụng từ một năm trở lên ĐTC bao gồm đầu tư nâng cấp hay phục hồi các tài sản vật chất mà còn gia tăng thời gian sử dụng tài sản Khác với việc sửa chữa hay bảo dưỡng nhằm đảm bảo khả năng vận hành tài