1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện kế toán chứng khoán phái sinh

153 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế Để Hoàn Thiện Kế Toán Chứng Khoán Phái Sinh Tại Các Công Ty Niêm Yết Việt Nam
Tác giả Tạ Ngọc Thúy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Kim Cúc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, SƠ ĐỒ, PHỤ LỤC

  • PHẦN MỞ ĐẦU

    • 1. Sự cần thiết của đề tài

    • 2. Các nghiên cứu có liên quan đề tài nghiên cứu

    • 3. Mục tiêu nghiên cứu

    • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • 5. Câu hỏi nghiên cứu:

    • 6. Phương pháp nghiên cứu

    • 7. Đóng góp của đề tài

    • 8. Bố cục luận văn

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINHVÀ KẾ TOÁN CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

    • 1.1 Tổng quan về chứng khoán phái sinh và TTCK phái sinh

      • 1.1.1 Một số khái niệm

      • 1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK phái sinh

    • 1.2 Phân loại chứng khoán phái sinh

      • 1.2.1 Căn cứ theo phương thức giao dịch

        • 1.2.1.1 Chứng khoán phái sinh trên thị trường phi tập trung

        • 1.2.1.2 Chứng khoán phái sinh trên thị trường tập trung

      • 1.2.2 Căn cứ theo loại sản phẩm giao dịch trên TTCK phái sinh

        • 1.2.2.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract)

        • 1.2.2.2 Hợp đồng tương lai (Future Contract)

        • 1.2.2.3 Hợp đồng quyền chọn (Option Contract)

        • 1.2.2.4 Hợp đồng hoán đổi (Swap Contract)

    • 1.3 Kế toán chứng khoán phái sinh theo quy định của CMKT Quốc tế

      • 1.3.1 Khái quát giai đoạn hình thành CMKT Quốc tế về công cụ tài chính

      • 1.3.2 Mục tiêu và phạm vi điều chỉnh

      • 1.3.3 Các định nghĩa

      • 1.3.4 Phân loại công cụ tài chính

        • 1.3.4.1 Công cụ tài chính cơ bản

        • 1.3.4.2 Công cụ tài chính phái sinh

      • 1.3.5 Ghi nhận và đo lường công cụ tài chính

        • 1.3.5.1 Nguyên tắc ghi nhận

        • 1.3.5.2 Nguyên tắc đo lường

      • 1.3.6 Bù trừ tài sản tài chính và nợ tài chính

      • 1.3.7 Kế toán phòng ngừa

      • 1.3.8 Thuyết minh công cụ tài chính

        • 1.3.8.1 Thuyết minh thông tin về mức độ quan trọng của công cụ tài chính

        • 1.3.8.2 Thuyết minh thông tin về rủi ro của công cụ tài chính

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

    • 2.1 Thực trạng TTCK Việt Nam

      • 2.1.1 Quá trình hình thành TTCK Việt Nam

      • 2.1.2 Thực trạng TTCK Việt Nam

      • 2.1.3 Thực trạng vận dụng công cụ tài chính phái sinh tại Việt Nam

        • 2.1.3.1 Đối với Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai

        • 2.1.3.2 Đối với Hợp đồng quyền chọn

        • 2.1.3.3 Đối với Hợp đồng hoán đổi

    • 2.2 Hệ thống các văn bản pháp luật về kế toán công cụ tài chính

      • 2.2.1 Hệ thống các văn bản quy định về kế toán công cụ tài chính

      • 2.2.2 So sánh quy định kế toán về công cụ tài chính theo CMKT Quốc tế vàViệt Nam

        • 2.2.2.1 Nhận diện công cụ tài chính

        • 2.2.2.2 Phân loại và tái phân loại công cụ tài chính

        • 2.2.2.3 Ghi nhận và đo lường công cụ tài chính

        • 2.2.2.4 Trình bày công cụ tài chính

        • 2.2.2.5 Công bố công cụ tài chính

    • 2.3 Thực tế áp dụng kế toán công cụ tài chính, công cụ tài chính phái sinh

      • 2.3.1 Mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp khảo sát

      • 2.3.2 Thực trạng kế toán công cụ tài chính, công cụ tài chính phái sinh tại cáccông ty niêm yết Việt Nam

      • 2.3.3 Kết quả khảo sát

        • 2.3.3.1 Kết quả khảo sát dựa trên bảng câu hỏi

        • 2.3.3.2 Kết quả khảo sát dựa trên BCTC

    • 2.4 Đánh giá thực trạng áp dụng công cụ tài chính phái sinh và kế toán công cụtài chính phái sinh

      • 2.4.1 Đánh giá chung

      • 2.4.2 Những mặt đạt được

      • 2.4.3 Những mặt hạn chế

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HO N THIỆN KẾ TOÁN CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

    • 3.1 Quan điểm thực hiện vận dụng CMKT Quốc tế để tổ chức kế toán công cụtài chính phái sinh sao cho ph hợp tình hình, đặc điểm kinh tế của Việt Nam

      • 3.1.1 Phải phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam

      • 3.1.2 Phải ph hợp với sự phát triển của TTCK phái sinh

      • 3.1.3 Phải ph hợp với thông lệ và CMKT quốc tế

    • 3.2 Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện kế toán chứng khoán phái sinh tại cáccông ty niêm yết Việt Nam dựa trên CMKT Quốc tế

      • 3.2.1 Nhận diện chứng khoán phái sinh

      • 3.2.2 Phân loại và tái phân loại chứng khoán phái sinh

      • 3.2.3 Ghi nhận và đo lường chứng khoán phái sinh

        • 3.2.3.1 Điều kiện ghi nhận và d ng ghi nhận

        • 3.2.3.2 Ghi nhận ban đầu

        • 3.2.3.3 Ghi nhận sau ghi nhận ban đầu

        • 3.2.3.4 Xác định GTHL chứng khoán phái sinh

      • 3.2.4 Trình bày chứng khoán phái sinh

      • 3.2.5 Công bố thông tin chứng khoán phái sinh

      • 3.2.6 Nguyên tắc kế toán chứng khoán phái sinh

        • 3.2.6.1 Hợp đồng kỳ hạn

        • 3.2.6.2 Hợp đồng tương lai

        • 3.2.6.3 Hợp đồng quyền chọn

        • 3.2.6.4 Hợp đồng hoán đổi

    • 3.3 Một số kiến nghị hoàn thiện kế toán chứng khoán phái sinh

      • 3.3.1 Xây dựng khung pháp lý

      • 3.3.2 Quy định nội dung chủ yếu và cụ thể trong CMKT

      • 3.3.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường và minh bạch hóa thông tin

      • 3.3.4 Thường xuyên cập nhật thông tin và nâng cao chất lượng đội ngũ kế toán

      • 3.3.5 Nâng cao ý thức tuân thủ các yêu cầu của CMKT

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

  • KẾT LUẬN CHUNG

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ KẾ TOÁN CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH

Tổng quan về chứng khoán phái sinh và TTCK phái sinh

Theo IAS 32, công cụ tài chính được định nghĩa là hợp đồng có khả năng làm tăng tài sản tài chính và nợ tài chính, hoặc công cụ vốn chủ sở hữu của một bên khác (IAS 32, đoạn 11).

Theo IFRS 9, công cụ tài chính phái sinh được định nghĩa là công cụ tài chính hoặc hợp đồng khác nằm trong phạm vi điều chỉnh của IFRS 9, và phải đáp ứng các điều kiện nhất định.

Giá trị của tài sản phản ứng với những biến động của lãi suất, giá công cụ tài chính, giá hàng hóa, tỷ giá, giá chứng khoán, cũng như chỉ số chứng khoán Ngoài ra, nó còn chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín dụng và chỉ số tín dụng, thường được gọi là tài sản cơ sở.

Không yêu cầu khoản đầu tư ban đầu hoặc yêu cầu khoản đầu tư ban đầu thấp hơn so với các loại hợp đồng khác, trong khi vẫn kỳ vọng có những phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thị trường.

- Được thanh toán vào một ngày trong tương lai ( FRS 9, phụ lục trang 55)

Chứng khoán là tài liệu xác nhận quyền lợi hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, được thể hiện qua chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử Các loại chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh, và thực chất, chứng khoán được xem như một loại hàng hóa đặc biệt.

Chứng khoán phái sinh là hợp đồng mua hoặc bán tài sản theo giá cố định vào hoặc trước ngày thực hiện, có giá trị thay đổi theo tài sản cơ sở Các loại hợp đồng phổ biến bao gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi, thường được sử dụng để phòng ngừa rủi ro hoặc tăng đòn bẩy tài chính Chứng khoán phái sinh được phát hành trên các tài sản cơ sở như lãi suất, giá hàng hóa, tỷ giá và chỉ số chứng khoán Đặc điểm nổi bật của chứng khoán phái sinh là giá trị thay đổi theo tài sản cơ sở, không yêu cầu đầu tư ban đầu lớn, và được thanh toán vào một ngày xác định trong tương lai Bài viết sẽ tập trung vào kế toán chứng khoán phái sinh liên quan đến cổ phiếu và trái phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với phần vốn góp tại quỹ, do các công ty chứng khoán phát hành và được quản lý bởi tổ chức quản lý quỹ theo quy định của Bộ Tài chính (Thông tư 229/2012/BTC).

Công cụ tài chính phái sinh phải đáp ứng ba tiêu chí quan trọng theo định nghĩa của FRS 9 Những tiêu chí này được nêu rõ trong mục 1.1, tiểu mục 1.1.1, đoạn 2, trang 9 của tài liệu.

TTCK phái sinh : là thị trường giao dịch mua bán chứng khoán phái sinh

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK phái sinh

TTCK phái sinh có nguồn gốc từ thời trung cổ, bắt đầu với Hợp đồng kỳ hạn và Hợp đồng tương lai Ban đầu, các Hợp đồng tương lai chủ yếu liên quan đến những mặt hàng như lúa mì và cà phê Nhà đầu tư tham gia vào giao dịch này nhằm giảm thiểu rủi ro do biến động giá trong tương lai Đến thập niên 80 của thế kỷ 20, Hợp đồng tương lai đã trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ trong các giao dịch thương mại.

Một số cột mốc phát triển chính của thị trường phái sinh:

Vào ngày 24/09/1730, sàn giao dịch hợp đồng tương lai đầu tiên trên thế giới được thành lập tại thành phố Osaka, với tên gọi là sàn giao dịch gạo Dojima Trong bối cảnh giá gạo giảm mạnh vào năm 1730, người dân đã nghĩ ra giải pháp mua gạo mà không thanh toán ngay, mà sẽ thanh toán sau với mức giá hiện tại để tránh rủi ro giá gạo tiếp tục giảm Phương thức này được biết đến là mua bán gạo ghi sổ.

Vào năm 1848, sàn giao dịch Chicago (C) được thành lập, đánh dấu sự ra đời của sàn giao dịch các công cụ tài chính phái sinh hiện đại đầu tiên trên thế giới Ban đầu, người ta chỉ thực hiện ký kết các hợp đồng kỳ hạn, nhưng đến năm 1844, các hợp đồng tương lai mới bắt đầu được hình thành.

Năm 1949, Alfred Jones, một người gốc Úc, đã thành lập quỹ đầu tư phòng ngừa rủi ro (hedge fund) đầu tiên trên thế giới với số vốn ban đầu 100.000 USD, trong đó ông đóng góp 40.000 USD Chiến lược của ông là mua nhiều cổ phiếu để sự biến động giá có thể bù đắp cho nhau, từ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư Kết quả, trong suốt 34 năm hoạt động, quỹ của ông chỉ bị lỗ 3 năm.

- ăm 1973 Sàn giao dịch Quyền chọn Chicago được thành lập Đây là sàn giao dịch Quyền chọn chứng khoán đầu tiên được chuẩn hoá trên thế giới

- ăm 1987 nhóm nghiên cứu các công cụ phái sinh của ngân hàng JP Morgan Chase phát minh ra Credit Default Swap

- ăm 2007 quy mô thị trường các công cụ phái sinh toàn cầu vược quá 450 tỷ đô la Mỹ

- ăm 2012 quy mô thị trường phái sinh toàn cầu vượt 600 nghìn tỹ đô la Mỹ 4

Phân loại chứng khoán phái sinh

1.2.1 Căn cứ theo phương thức giao dịch

1.2.1.1 Chứng khoán phái sinh trên thị trường phi tập trung

Chứng khoán phái sinh OTC (over-the-counter) là loại chứng khoán không được giao dịch qua các sàn giao dịch chính thức mà dựa trên thỏa thuận và đàm phán giữa các bên Các hợp đồng này không có điều khoản chuẩn hóa, mang tính linh hoạt cao và được thiết kế để đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi bên Trong số các loại chứng khoán phái sinh OTC, có thể kể đến hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi và một số loại quyền chọn.

1.2.1.2 Chứng khoán phái sinh trên thị trường tập trung

Công cụ giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán với các điều khoản hợp đồng chuẩn hóa cao đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức giao dịch Sở giao dịch phối hợp với Trung tâm thanh toán bù tr để thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro đối tác, đảm bảo sự ổn định và lành mạnh cho thị trường Hợp đồng tương lai và Hợp đồng quyền chọn là hai loại chứng khoán phái sinh tiêu biểu được niêm yết.

1.2.2 Căn cứ theo loại sản phẩm giao dịch trên TTCK phái sinh

1.2.2.1 Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract)

Khái niệm Hợp đồng kỳ hạn

4 http://kinhteblog.blogspot.com/2009/02/lich-su-phat-trien-cua-cac-cong-cu-tai

5 http://www.ssc.gov.vn

Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận pháp lý giữa hai bên, quy định việc mua hoặc bán tài sản, nghĩa vụ hoặc công cụ tài chính vào một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá đã thoả thuận tại thời điểm giao dịch Hợp đồng này có tính ràng buộc và được sử dụng phổ biến trong các giao dịch tài chính.

Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận pháp lý ràng buộc giữa hai bên mà không yêu cầu mở tài khoản ký quỹ hay thanh toán phí tại thời điểm bắt đầu Các điều khoản như tài sản cơ sở, thời gian đáo hạn và hình thức thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa hai bên.

Hợp đồng kỳ hạn không được giao dịch trên sàn giao dịch, do đó, các bên tham gia phải đối mặt với những rủi ro nhất định, vì quyền lợi và nghĩa vụ theo hợp đồng không được bảo đảm bởi sàn.

Hợp đồng kỳ hạn yêu cầu các bên chỉ thực hiện thanh toán một lần vào ngày đáo hạn, không được tất toán trước thời điểm này Việc thanh toán diễn ra theo hình thức song phương, có thể thông qua việc chuyển giao tài sản cơ sở hoặc thanh toán số tiền chênh lệch giữa giá tại ngày đáo hạn và giá ký hợp đồng.

1.2.2.2 Hợp đồng tương lai (Future Contract)

Khái niệm hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận pháp lý giữa các bên để mua hoặc bán tài sản, nghĩa vụ hoặc công cụ tài chính vào một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá niêm yết tại ngày giao dịch Hợp đồng này được chuẩn hóa theo quy định và giao dịch trên sàn giao dịch tập trung.

Khi bắt đầu hợp đồng tương lai, các bên cần mở tài khoản ký quỹ tại sàn giao dịch hoặc nhà môi giới Hàng ngày, nếu có sự chênh lệch giữa giá trị thị trường của tài sản cơ sở và giá trị trong hợp đồng, nhà môi giới sẽ thông báo số tiền phải trả hoặc nhận qua tài khoản ký quỹ Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, các bên phải duy trì số dư ký quỹ tối thiểu theo quy định của sàn giao dịch và nộp thêm tiền nếu số dư thấp hơn mức yêu cầu.

TK ký quỹ thấp hơn mức ký quỹ tối thiểu;

Hợp đồng tương lai được niêm yết công khai trên sàn giao dịch với các đặc điểm kỹ thuật tiêu chuẩn hóa theo quy định của sàn Giá trị của hợp đồng tương lai được xác định dựa trên giá thị trường hàng ngày tại sàn giao dịch.

Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia vào Hợp đồng tương lai được đảm bảo đầy đủ bởi sàn giao dịch

Hợp đồng tương lai có tính thanh khoản cao và rủi ro thấp, với việc thanh toán bù trừ đa phương qua sàn giao dịch Các bên tham gia có thể tất toán hợp đồng trước hoặc tại thời điểm đáo hạn Khi đến hạn, việc thanh toán có thể được thực hiện bằng cách chuyển giao tài sản cơ sở hoặc thanh toán chênh lệch giữa giá tại ngày đáo hạn và giá tại thời điểm ký hợp đồng.

 Sự khác biệt giữa ợp đồng kỳ hạn và Hợp đồng tương lai:

Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng tương lai

- Là những hợp đồng không được chuẩn hoá, các chi tiết là do hai bên đàm phán và thoả thuận cụ thể

-Được thoả thuận trực tiếp giữa hai bên ký kết hợp đồng

-Được thực hiện trên thị trường phi tập trung

-Được thanh toán vào ngày đáo hạn

-Là những hợp đồng được chuẩn hoá về loại tài sản cơ sở mua bán, cách thức thanh toán, kỳ hạn

-Được thoả thuận và mua bán qua người môi giới

-Được thực hiện trên thị trường tập trung

-Được tính hằng ngày theo giá thị trường

1.2.2.3 Hợp đồng quyền chọn (Option Contract)

Khái niệm hợp đồng quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn là một thỏa thuận pháp lý giữa hai bên, cho phép người mua quyền chọn thực hiện quyền mua hoặc bán một công cụ tài chính cụ thể với mức giá đã định trong một khoảng thời gian nhất định Khi người mua quyết định thực hiện quyền, người bán phải tuân thủ các nghĩa vụ đã ký kết trong hợp đồng.

Không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm

Chỉ quy định quyền giao hay nhận, hợp đồng chỉ được thực hiện khi bên mua thực hiện quyền của mình

Người mua có quyền thực hiện hoặc chuyển nhượng quyền cho bên khác, hoặc không thực hiện quyền Để thực hiện quyền này, người mua cần trả phí khi ký hợp đồng, gọi là giá thực hiện, và ngày trong hợp đồng được xác định là ngày đáo hạn Tương tự, người bán cũng có những quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng quyền chọn bán.

Hợp đồng quyền chọn có thể được thực hiện trước ngày đáo hạn, tùy thuộc vào loại hợp đồng Có hai loại quyền chọn cơ bản: quyền chọn Châu Âu và quyền chọn Châu Mỹ Người mua quyền chọn Châu Âu chỉ có thể thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn, trong khi quyền chọn Châu Mỹ cho phép thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn.

Mỹ, người mua có thể thực hiện Quyền chọn vào bất cứ thời điểm nào khi hợp đồng còn hiệu lực

Có hai loại Hợp đồng quyền chọn:

Hợp đồng quyền chọn mua là một thỏa thuận cho phép người nắm giữ quyền mua tài sản với mức giá đã xác định trong một khoảng thời gian cụ thể trong tương lai Khi người mua quyết định thực hiện quyền chọn, người bán có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bán tài sản đó.

Hợp đồng quyền chọn bán là một thỏa thuận cho phép người nắm giữ quyền bán tài sản với mức giá đã định trong một khoảng thời gian cụ thể trong tương lai Khi người mua quyết định thực hiện quyền chọn bán, người bán có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ mua tài sản theo thỏa thuận.

1.2.2.4 Hợp đồng hoán đổi (Swap Contract)

Khái niệm hợp đồng hoán đổi

Kế toán chứng khoán phái sinh theo quy định của CMKT Quốc tế

1.3.1 Khái quát giai đoạn hình thành CMKT Quốc tế về công cụ tài chính

Kế toán về công cụ tài chính hiện nay được quy định bởi các chuẩn mực quốc tế như IAS 39, IAS 32, IFRS 7 và IFRS 13 Tuy nhiên, từ tháng 7 năm 2014, IASB đã hoàn thành dự án IFRS 9 và ban hành chuẩn mực mới này, có hiệu lực từ ngày 1/1/2018, nhằm thay thế toàn bộ IAS 39 IAS 39, ra đời vào năm 2005, được thiết kế để hướng dẫn trình bày báo cáo công cụ tài chính một cách nhất quán, nhưng thực tế lại phức tạp và thiếu tính nhất quán Do đó, IASB quyết định soạn lại chuẩn mực mới là IFRS 9, mặc dù việc thay thế hoàn toàn IAS 39 không hề đơn giản và phải được thực hiện qua một quá trình dần dần.

- hân loại và đo lường

Hiện nay, phần 1 về phân loại và đo lường tài sản tài chính đã được hoàn thành theo yêu cầu của FRS 9 năm 2009 Tiếp theo là nội dung liên quan đến nợ tài chính được ban hành năm 2010 và phần 3 về kế toán phòng ngừa năm 2013 Vào tháng 7 năm 2014, FRS 9 đã chính thức hoàn thiện sau khi IASB công bố nội dung cuối cùng của chuẩn mực về tổn thất đối với tài sản tài chính, điều chỉnh rủi ro tín dụng và một số nội dung trong phần kế toán phòng ngừa, thay thế hoàn toàn IAS 39 Do đó, luận văn chỉ tập trung vào ba chuẩn mực chính điều chỉnh kế toán công cụ tài chính phái sinh là AS 32, FRS 7, và FRS 9.

Chứng khoán phái sinh là một phần quan trọng trong lĩnh vực công cụ tài chính và công cụ tài chính phái sinh Bài viết này áp dụng lý thuyết kế toán công cụ tài chính theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế, làm nền tảng lý thuyết cho kế toán chứng khoán phái sinh, và sẽ được trình bày qua các nội dung chi tiết.

1.3.2 Mục tiêu và phạm vi điều chỉnh

IAS 32: hiết lập các nguyên tắc trình bày công cụ tài ch nh như nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu và b tr tài sản tài ch nh và nợ tài ch nh Chuẩn mực này áp dụng để phân loại các công cụ tài ch nh t quan điểm của tổ chức phát hành thành tài sản tài ch nh, nợ tài ch nh và công cụ vốn; việc phân loại các lợi ch liên quan, cổ tức, lãi hay lỗ, và các điều kiện của tài sản tài ch nh và nợ tài ch nh được b tr ( AS 32, đoạn 2)

IFRS 7: Yêu cầu các D thuyết minh trên C C của họ để người sử dụng báo cáo có thể đánh giá mức độ quan trọng của công cụ tài ch nh đối với tình hình tài ch nh và hoạt động của D ; t nh chất và mức độ rủi ro phát sinh t công cụ tài ch nh mà các D nắm giữ trong kỳ và tại thời điểm cuối kỳ báo cáo, và làm thế nào các D quản lý những rủi ro này ( FRS 7, đoạn 1)

IFRS 9: hiết lập các nguyên tắc cho các C C sẽ trình bày thông tin liên quan và hữu ch về tài sản tài ch nh và nợ tài ch nh giúp người sử dụng C C trong việc đánh giá về số lượng, thời gian và sự không chắc chắn về dòng tiền trong tương lai của D ( FRS 9, đoạn 1.1)

CMKT về công cụ tài chính áp dụng cho tất cả các DN và tất cả các loại công cụ tài chính ngoại tr :

Lợi nhuận từ các công ty con, công ty liên doanh và công ty liên kết được hạch toán theo các chuẩn mực FRS 10 cho hợp nhất, AS 27 cho riêng và AS 28 cho đầu tư vào công ty liên kết và liên doanh.

- Quyền và nghĩa vụ của hợp đồng cho thuê theo AS 17 ợp đồng cho thuê

- Quyền và nghĩa vụ của nhân viên trong AS 19 Lợi ch của nhân viên

- Công cụ tài ch nh thỏa mãn định nghĩa vốn chủ sở hữu trong AS 32 Công cụ tài ch nh rình bày

- Quyền và nghĩa vụ phát sinh t hợp đồng bảo hiểm được quy định trong IAS

Hợp đồng kỳ hạn mua bán giữa bên mua và bên nắm giữ cổ phiếu nhằm mục đích mua hoặc bán cổ phiếu, dẫn đến việc hai bên trở thành công ty hợp nhất theo quy định của FRS 3 về hợp nhất kinh doanh.

Cam kết cho vay ngoại tệ bao gồm ba yếu tố chính: (i) cam kết cho vay được xác định là nợ tài chính theo nhóm đo lường L thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, (ii) việc thanh toán cam kết cho vay sẽ được thực hiện bằng tiền hoặc phát hành công cụ tài chính, và (iii) cam kết cung cấp khoản vay với lãi suất thấp hơn mức lãi suất thị trường.

Công cụ tài chính, hợp đồng và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch thanh toán bằng công cụ tài chính hoặc công cụ vốn được quy định trong FRS 2 liên quan đến giao dịch thanh toán bằng cổ phiếu.

- Quyền đối với các khoản thanh toán bồi hoàn được quy định trong AS 37

Dự phòng, ợ tiềm tàng và ài sản tiềm tàng

- Quyền và nghĩa vụ thuộc pham vi FRS 15 Doanh thu t hợp đồng với khách hàng

CMKT về công cụ tài chính theo yêu cầu tổn thất trong IFRS 9 sẽ được áp dụng cho các quyền được nêu trong FRS 15, nhằm ghi nhận lãi hoặc lỗ tổn thất theo chuẩn mực FRS 9.

CMKT về công cụ tài chính liên quan đến các khoản cam kết cho vay bao gồm các điều kiện sau: (i) cam kết cho vay phải được xác định là nợ tài chính thuộc nhóm đo lường theo L thông qua CKQ ĐKD, (ii) cam kết cho vay cần được thanh toán bằng tiền mặt hoặc phát hành công cụ tài chính, và (iii) cam kết cung cấp khoản vay với lãi suất thấp hơn mức lãi suất thị trường.

CMKT đề cập đến các công cụ tài chính được sử dụng trong các hợp đồng mua bán các khoản mục phi tài chính, với phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc các công cụ tài chính khác, cũng như việc trao đổi các công cụ tài chính (theo FRS 9, đoạn 2.1).

Công cụ tài chính: là hợp đồng làm tăng tài sản tài chính của một DN và nợ tài chính hoặc công cụ vốn của một DN khác

Tài sản tài chính gồm các loại tài sản sau:

- Công cụ vốn của D khác;

Quyền theo hợp đồng cho phép nhận tiền hoặc tài sản tài chính từ bên khác, hoặc thực hiện trao đổi tài sản tài chính và các khoản nợ với điều kiện có lợi cho bên nhận.

- ợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn cổ phần của

D phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng bằng cách thanh toán bằng tiền hoặc tài sản tài chính cho bên D khác, hoặc tiến hành trao đổi các công cụ tài chính với các bên D khác trong những điều kiện không thuận lợi.

- Một hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn của D ( AS 32, đoạn 11)

Công cụ vốn: là hợp đồng chứng tỏ được những lợi ích còn lại của tài sản sau khi đã tr tất cả nghĩa vụ phải trả (IAS 32, đoạn 11)

1.3.4 Phân loại công cụ tài chính

1.3.4.1 Công cụ tài chính cơ bản

Công cụ tài ch nh cơ bản bao gồm 2 loại: tài sản tài chính và nợ tài chính

Phân loại tài sản tài chính

Tài sản tài chính bao gồm cả tài sản tài chính kết hợp công cụ phái sinh được phân loại dựa trên hai điều kiện:

- Đặc điểm dòng tiền t hợp đồng của tài sản tài ch nh, và

- Mô hình kinh doanh của D để quản lý tài sản tài ch nh

Tài sản tài ch nh được đo lường theo giá trị phân bổ (AC) 6 nếu thỏa mãn cả hai điều kiện sau đây

- Mô hình kinh doanh ài sản được D nắm giữ để thu về các dòng tiền theo hợp đồng

tr tài sản tài ch nh và nợ tài ch nh

- Dự định thanh toán trên cơ sở thuần hoặc ghi nhận tài sản và thanh toán nợ c ng một thời điểm

D không được bù tr tài sản và nợ tài chính có liên quan khi chuyển giao tài sản tài ch nh nhưng không đủ điều kiện d ng ghi nhận

Bù tr chỉ được áp dụng cho các công cụ như phải thu và phải trả giữa cùng một đối tượng nếu quyền bù tr đã được các bên đồng ý và có kế hoạch thanh toán bù tr D không được phép bù tr tài sản và nợ tài chính của các bên không liên quan.

Mục tiêu của kế toán phòng ngừa là trình bày hiệu quả của công cụ tài chính trong quản lý rủi ro của doanh nghiệp Những công cụ tài chính này được sử dụng để quản lý rủi ro, ảnh hưởng đến lãi hoặc lỗ trong báo cáo kết quả kinh doanh hoặc thu nhập tổng hợp từ đầu tư vào công cụ vốn (FRS 9, đoạn 6.1.1)

Kế toán phòng ng a được áp dụng khi một giao dịch thỏa mãn 3 điều kiện sau: ( FRS 9, đoạn 6.4.1)

- Được chỉ định ngay t đầu là một nội dung phòng ng a

- iệu quả phòng ng a có thể đo lường một cách đáng tin cậy

 Nội dung chính của ế toán phòng ngừa rủi ro Điều kiện của công cụ phòng ngừa:

Công cụ tài chính phái sinh được định nghĩa là các công cụ được đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lợi nhuận và thua lỗ, có thể được xem như là công cụ phòng ngừa rủi ro (FRS 9, đoạn 6.2.1) Ngoài ra, tài sản phi phái sinh hoặc nợ tài chính phi phái sinh cũng được đo lường theo giá trị hợp lý.

L thông qua CKQ ĐKD được xác định là công cụ phòng ngừa ngoại trừ nợ tài chính, với sự thay đổi giá trị hợp lý do rủi ro tín dụng của khoản nợ phải trả ảnh hưởng đến thu nhập tổng hợp khác (FRS 9, đoạn 6.2.2) Đối tượng phòng ngừa có thể bao gồm tài sản, nợ phải trả, cam kết chắc chắn chưa ghi nhận, giao dịch dự báo, hoặc khoản đầu tư thuần t nước ngoài (FRS 9, đoạn 6.3.1) Đối tượng này có thể là đơn lẻ, một nhóm, hoặc một phần của nhóm đối tượng và cần được đo lường một cách đáng tin cậy (IFRS).

9, đoạn 6.3.3) Đối tượng được phòng ng a là một giao dịch được dự báo có nhiều khả năng xảy ra ( FRS 9, đoạn 6.3.4) Điều kiện áp dụng kế toán phòng ngừa

Mối quan hệ phòng ng a bao gồm công cụ phòng ng a và đối tượng được phòng ng a đủ điều kiện

Tại thời điểm khởi đầu mối quan hệ phòng ngừa, cần có chứng cứ rõ ràng, kết hợp với mục tiêu quản lý rủi ro của doanh nghiệp và chiến lược thực hiện nhằm phòng ngừa các rủi ro hiệu quả.

Phòng ng a dự kiến sẽ có hiệu quả cao trong việc đạt được những thay đổi trong b đắp GTHL hoặc dòng tiền ( FRS 9, đoạn 6.4.1)

Phân loại kế toán phòng ngừa:

Dựa trên đặc điểm và tính chất của các khoản mục được phòng ngừa, hoạt động phòng ngừa rủi ro được phân thành ba loại chính: phòng ngừa rủi ro giao dịch hàng hóa (GTHL), phòng ngừa rủi ro dòng tiền và phòng ngừa rủi ro khoản đầu tư thuần ở nước ngoài.

Trong hoạt động đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán, giá chứng khoán luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư Do đó, bài viết này sẽ tập trung vào kế toán phòng ngừa rủi ro liên quan đến giao dịch hàng hóa.

Khi áp dụng kế toán phòng ng a GTHL thì:

Lãi hoặc lỗ từ công cụ phòng ngừa sẽ được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ trong báo cáo kết quả kinh doanh, hoặc vào thu nhập tổng hợp khác nếu công cụ phòng ngừa là một khoản đầu tư vốn được lựa chọn để trình bày những thay đổi về giá trị hợp lý vào thu nhập tổng hợp khác (FRS 9, đoạn 6.5.8a).

Lãi hoặc lỗ từ phòng ngừa của đối tượng được phòng ngừa sẽ điều chỉnh giá trị còn lại của đối tượng đó và được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (CKQ ĐKD) Nếu đối tượng được phòng ngừa là tài sản tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý thông qua thu nhập tổng hợp khác, thì lãi hoặc lỗ sẽ cũng được ghi nhận trong CKQ ĐKD Tuy nhiên, nếu đối tượng là công cụ vốn mà doanh nghiệp lựa chọn trình bày thay đổi về giá trị hợp lý vào thu nhập tổng hợp khác, giá trị đó sẽ được ghi nhận trong thu nhập tổng hợp khác Đối với những cam kết chắc chắn chưa được ghi nhận, các thay đổi lũy kế về giá trị hợp lý sẽ được chỉ định ghi nhận như một tài sản hoặc nợ phải trả, với lãi hoặc lỗ tương ứng được ghi nhận trong CKQ ĐKD (IFRS 9, đoạn 6.5.8b).

1.3.8 Thuyết minh công cụ tài chính

Thuyết minh thông tin luôn là nội dung quan trọng trong BCTC, vì thế IFRS 7 yêu cầu công bố thông tin theo 2 nhóm chính:

- hông tin về mức độ quan trọng của công cụ tài ch nh

- hông tin về bản chất, mức độ rủi ro phát sinh t công cụ tài ch nh tác động đến D trong kỳ kinh doanh

Dưới đây là một số nội dung về thuyết minh công cụ tài chính cần áp dụng đối với thuyết minh công cụ tài chính

1.3.8.1 Thuyết minh thông tin về mức độ quan trọng của công cụ tài chính

Công cụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài sản và nợ của doanh nghiệp, giúp tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu rủi ro tài chính Theo FRS 7, đoạn 7, các loại tài sản tài chính bao gồm tiền mặt, khoản phải thu và đầu tư, trong khi nợ tài chính chủ yếu bao gồm khoản vay và trái phiếu Đoạn 8 của FRS 7 nhấn mạnh rằng việc hiểu rõ các công cụ tài chính này là cần thiết để doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định tài chính hợp lý và hiệu quả.

Tài sản tài chính và nợ tài chính được đo lường theo giá trị hợp lý (GTHL) thông qua báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) cần được chỉ định rõ ràng Điều này bao gồm việc công bố các rủi ro liên quan như rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường Sự thay đổi giá trị hợp lý thường phát sinh từ các rủi ro này, và phương pháp đo lường chúng được quy định tại FRS 7, đoạn 9.11.

Thuyết minh đối việc phân loại lại công cụ tài chính Chẳng hạn t nhóm đo lường theo GTHL sang giá trị phân bổ ( FRS 7, đoạn 12)

Lãi hoặc lỗ từ nhóm tài sản tài chính và nợ tài chính cần được đo lường theo GTHL thông qua CKQ ĐKD và phải được thể hiện tách biệt cho tài sản tài chính được nắm giữ để bán cũng như nhóm được chỉ định ghi nhận ban đầu (FRS 7, đoạn 20a) Đồng thời, cần thuyết minh tất cả thu nhập lãi và chi phí lãi liên quan đến các công cụ tài chính được đo lường theo L thông qua CKQ ĐKD (FRS 7, đoạn 20b).

Ngoài ra, cần thuyết minh chính sách kế toán về công cụ tài chính và nội dung của kế toán phòng ng a, bao gồm:

- Mô tả t ng loại phòng ng a, công cụ phòng ng a, và L của những công cụ phòng ng a đó, và bản chất rủi ro cần phòng ng a

- Đối với phòng ng a L, cần thuyết minh thông tin về sự thay đổi

L của công cụ phòng ng a và đối tượng được phòng ng a (IFRS 7, đoạn 24)

- iệu quả phòng ng a sẽ được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ trong CKQ ĐKD

- huyết minh thông tin về L của tài sản tài ch nh hoặc nợ tài ch nh FRS 7, đoạn 25)

1.3.8.2 Thuyết minh thông tin về rủi ro của công cụ tài chính

Thông tin định tính và định lượng về rủi ro trong công cụ tài chính phái sinh bao gồm các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường Rủi ro tín dụng xảy ra khi một bên tham gia vào công cụ tài chính không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán, gây tổn thất cho bên còn lại.

Rủi ro thanh toán: là rủi ro do đơn vị gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ tài chính

Rủi ro thị trường là loại rủi ro liên quan đến sự biến động của giá tài sản tài chính và dòng tiền của chúng Các yếu tố chính của rủi ro thị trường bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và các rủi ro về giá khác.

Theo kế hoạch của Chính phủ, thị trường chứng khoán phái sinh sẽ chính thức hoạt động trong năm 201 Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt là các quy định về kế toán, để thích ứng với những thay đổi sắp tới là vấn đề cần được triển khai khẩn trương.

THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

Thực trạng TTCK Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành TTCK Việt Nam Để huy động vốn cho nền kinh tế và thực hiện chủ trương xây dựng phát triển kinh tế thị trường, ngày 28/11/1996 Chính phủ đã ban hành ghị định số 75/1998/ Đ-CP về việc thành lập Ủy ban Chứng khoán hà nước

Ngày 11 tháng 7 năm 1998, Nghị định số 48/C được ban hành, đánh dấu sự ra đời của Thị trường Chứng khoán Việt Nam Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán.

Vào năm 2000, phiên giao dịch đầu tiên chính thức diễn ra tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, với hai cổ phiếu niêm yết là REE và SAM, tổng vốn hóa đạt 270 tỷ đồng, đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

Vào ngày 14 tháng 7 năm 2005, Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) chính thức hoạt động, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong thị trường chứng khoán Việt Nam Sở giao dịch này không chỉ có tên gọi đầy đủ là Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội mà còn được biết đến với tên giao dịch quốc tế là Hanoi Stock Exchange.

Ngày 11/05/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 599/QĐ chuyển Trung Tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), với tên gọi đầy đủ là Sở Giao Dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và tên giao dịch quốc tế là Hochiminh Stock Exchange Đến quý năm 2015, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có 892 mã cổ phiếu niêm yết trên 3 sàn giao dịch, với tổng vốn hóa khoảng 32% GDP và giá trị giao dịch hàng ngày vượt 2.000 tỷ đồng Thị trường trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu chính phủ, cũng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong 3 năm gần đây, với quy mô đạt 22% GDP và thanh khoản thường xuyên lên tới 2.000 tỷ đồng/phiên, nhờ sự tham gia của 25 thành viên đấu thầu và 54 thành viên giao dịch từ các định chế tài chính hàng đầu trong nước.

2.1.2 Thực trạng TTCK Việt Nam

Sau gần 15 năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường xã hội hóa hoạt động đầu tư công.

Những con số thống kê sau đây cho thấy thị trường đang dần tăng trưỏng:

Bảng 2.1: Thống kê giao dịch chứng khoán Đơn vị tính: triệu đồng

Nguồn “tổng hợp t Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Ch Minh”

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua giai đoạn khó khăn vào năm 2011 và 2012, với chỉ số X giảm xuống mức thấp nhất lịch sử 58,4 vào ngày 22/12/2011 Thanh khoản giảm sút, nhiều cổ phiếu mất giá nghiêm trọng, trong đó cổ phiếu VKP của công ty Nhựa Ân Óa từng xuống 0 đồng/cp Năm 2012, các nghị quyết nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô đã được ban hành, dẫn đến việc áp dụng các biện pháp tài khóa và tiền tệ thắt chặt, làm chậm lại tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2013 đã có những chuyển biến tích cực nhờ vào sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô Các chính sách vĩ mô đã bắt đầu phát huy hiệu quả, cùng với những giải pháp tích cực trong lĩnh vực chứng khoán.

Tính đến nay, thị trường chứng khoán ghi nhận 683 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết, với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá đạt 361 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2012.

Mức vốn hóa thị trường: Mức vốn hóa vào khoảng 964 nghìn tỷ đồng (tăng 199 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% D

Giá trị giao dịch: Quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 2.578 tỷ đồng, tăng 31% so với năm 2012

Về niêm yết trái phiếu: có tổng cộng 517 mã trái phiếu niêm yết trên 2 sàn với giá trị niêm yết là 521 nghìn tỷ đồng, tăng 28% so với cuối năm 2012

Tổng giá trị huy động vốn trong năm 2013 ước đạt 179 nghìn tỷ đồng, tăng 13%, trong đó vốn huy động qua trái phiếu chính phủ đạt 162 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2012 Để đảm bảo thị trường chứng khoán ổn định và phát triển, việc hoàn thiện khung pháp lý là yêu cầu quan trọng đối với các cơ quan quản lý nhà nước Năm 2013, nhiều văn bản pháp quy đã được ban hành, trong đó Ủy Ban Chứng khoán nhà nước đã đưa ra các hướng dẫn chi tiết nhằm điều chỉnh hành vi của các tổ chức tham gia, giảm thiểu tiêu cực trong hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng khoán Đồng thời, việc tăng cường giao dịch chứng khoán lên 2 buổi và rút ngắn thời gian thanh toán xuống +2 cũng đã góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường.

Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014 đã có những diễn biến tích cực, thể hiện qua tốc độ tăng chỉ số, mức độ ổn định và khối lượng giao dịch Sự phát triển của thị trường phản ánh rõ nét những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế, mặc dù vẫn có những giai đoạn điều chỉnh giảm.

Tổng giá trị niêm yết cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là 425 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2013

Mức vốn hóa thị trường t nh đến ngày 8/12/2014 đạt khoảng 1.156 nghìn tỷ đồng, tăng 21,77% so với năm 2013 và tương đương 32,24% D

Năm 2014, tổng giá trị huy động vốn qua chứng khoán ước đạt 237 nghìn tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm 27,1% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trong đó, giá trị huy động qua phát hành Trái phiếu Chính phủ ước đạt 214 nghìn tỷ đồng, chiếm 90% tổng giá trị huy động và gần tương đương với mức huy động vốn kỷ lục năm 2013.

Về mặt pháp lý cho CK phái sinh đã có Đề án về xây dựng và phát triển

CK phái sinh đã được phê duyệt theo Quyết định 3/QĐ-TTg ngày 11/03/2014 và Nghị định 42/2005/Đ-CP về chứng khoán phái sinh, được Chính phủ ban hành ngày 5/5/2015 Đây là bước tiến quan trọng trong việc thiết lập hành lang pháp lý cho triển khai các sản phẩm mới, giúp tạo ra công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư Sự phát triển này không chỉ tăng sức hấp dẫn cho thị trường mà còn góp phần nâng cao vị thế của CK Việt Nam.

2.1.3 Thực trạng vận dụng công cụ tài chính phái sinh tại Việt Nam

2.1.3.1 Đối với Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai

Hợp đồng kỳ hạn là công cụ tài ch nh phái sinh đầu tiên ở Việt am vào năm

Năm 1999, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quyết định số 5/1999/QĐ-NHNN7, quy định về các giao dịch kỳ hạn trong hợp đồng mua bán USD và VND Các giao dịch này được thực hiện giữa ngân hàng thương mại và doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hoặc giữa các ngân hàng thương mại khác được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

Hợp đồng tương lai đầu tiên trên thị trường Việt Nam được triển khai giữa Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam và Công ty Đầu tư xuất nhập khẩu Đắk Lắk, đã tạo ra hiệu quả tích cực trong kinh doanh cà phê Các giao dịch trực tiếp của Nexim Đắk Lắk tại thị trường kỳ hạn London, thông qua nhà môi giới Echcombank, đã mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp xuất khẩu và người trồng cà phê.

Hệ thống các văn bản pháp luật về kế toán công cụ tài chính

2.2.1 Hệ thống các văn bản quy định về kế toán công cụ tài chính nh cho đến nay, đối với các DN cung cấp dịch vụ tài chính, kế toán nghiệp vụ phái sinh được thực hiện theo hướng dẫn của Công văn 7404/ -KTTC ngày 29/08/200 “ ướng dẫn kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ áp dụng cho các tổ chức tín dụng” uy nhiên, đối với các DN phi tài chính thì kế toán công cụ tài chính nói chung hay công cụ tài ch nh phái sinh nói riêng được thực hiện theo các cách khác nhau vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể t Bộ Tài chính hoặc là được ban hành rải rác tại các CMK , thông tư hướng dẫn như sau:

Luật Kế toán năm 2004 quy định tài sản được ghi nhận và trình bày trên BCTC theo giá gốc

VAS 01 “Chuẩn mực chung” yêu cầu phải trình bày tài sản theo giá gốc

VAS 10 “ nh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái” đề cập đến việc kế toán tài sản tài ch nh dưới hình thức các giao dịch bằng ngoại tệ hoặc có các hoạt động ở nước ngoài

VAS 1 “Chi ph đi vay” đề cập đến kế toán chi ph đi vay, kể cả nghiệp vụ phát hành trái phiếu thông thường; chưa đề cập đến nghiệp vụ phát hành công cụ tài chính phức hợp: trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại, cổ phiếu ưu đãi cổ tức; và thông tư 1 1/2007/ -BTC ban hành ngày 31/12/2007 hướng dẫn chuẩn mực này

VAS 18 “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng” đề cập đến các nguyên tắc kế toán nghiệp vụ dự phòng phải trả chỉ là một phần nhỏ trong nghiệp vụ kế toán phòng ng a rủi ro mà thông lệ quốc tế đã đề cập đến

VAS 21 “ rình bày C C” và VAS 27 “ C C giữa niên độ” thiếu các quy định về trình bày, công bố thông tin về công cụ tài chính

VAS 30 “Lãi trên cổ phiếu”

Về nhận diện, phân loại công cụ tài chính

Quyết định 15/200/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài chính quy định về kế toán công cụ tài chính cho tất cả các doanh nghiệp, bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn, đầu tư dài hạn và quy định về phát hành cổ phiếu, trái phiếu Tuy nhiên, một số công cụ tài chính như tiền và các khoản phải thu, phải trả không được đề cập Thông tư 200/2014/BTC có hiệu lực từ năm 2015 đã mở rộng định nghĩa công cụ tài chính, bao gồm các khoản đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi có kỳ hạn và cho vay So với Quyết định 15, Thông tư 200/2014/BTC cung cấp cái nhìn chi tiết và rõ ràng hơn về công cụ tài chính.

Về phân loại công cụ tài chính

Trong Báo cáo tài chính năm 2014, doanh nghiệp vẫn áp dụng phân loại công cụ tài chính theo Quyết định 15/200/QĐ-BTC, chia thành ngắn hạn (dưới 1 năm) và dài hạn (trên 1 năm) Tuy nhiên, khi Thông tư 200/2014/TT-BTC có hiệu lực, việc phân loại này sẽ có sự thay đổi bắt đầu từ năm tài chính tiếp theo.

Vào năm 2015, công cụ tài chính sẽ được phân loại dựa trên mục đích sử dụng, bao gồm việc kinh doanh hoặc nắm giữ cho đến ngày đáo hạn, mà không phân biệt thời gian nắm giữ là trên hay dưới 1 năm.

Phương pháp đo lường công cụ tài chính bao gồm hai giai đoạn: đo lường ban đầu và đo lường sau ban đầu Công cụ tài chính được ghi nhận ban đầu theo giá gốc Khi lập báo cáo tài chính, nếu giá trị chứng khoán giảm so với giá trị ghi sổ, kế toán phải thực hiện dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn theo Thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 7 tháng 12 năm 2009 Tuy nhiên, theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015, quy định này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Giá trị ban đầu của tài sản được hạch toán theo giá gốc

Sau khi thực hiện ghi nhận ban đầu, đối với những loại tài sản có thể xác định giá trị thị trường hợp lý (GTHL), đơn vị kế toán sẽ điều chỉnh giá trị tài sản đã được ghi sổ kế toán theo GTHL.

Về ghi nhận công cụ tài chính

Theo Quyết định 15/200 /QĐ-BTC, các khoản đầu tư tài chính được phân loại và ghi nhận vào các tài khoản như: K121 “Đầu tư chứng khoán ngắn hạn”, K128 “Đầu tư ngắn hạn khác”, K221 “Đầu tư vào công ty con”, và K222 “Vốn góp liên doanh”.

Theo Thông tư 200/2014/BTC, các khoản đầu tư tài chính được phân loại và ghi nhận vào các tài khoản như: K 121 “Chứng khoán kinh doanh”, K 128 “Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn”, K 221 “Đầu tư vào công ty con”, K 222 “Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết” và K 228 “Đầu tư dài hạn khác”.

Về trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính

Công cụ tài chính được trình bày theo Thông tư 210/2009/TT-C ngày 0 tháng 11 năm 2009, hướng dẫn áp dụng CMKT quốc tế về BCTC Tuy nhiên, BCTC về công cụ tài chính vẫn chưa cung cấp thông tin đầy đủ do Thông tư thiếu nội dung ghi nhận và đo lường công cụ tài chính.

2.2.2 So sánh quy định kế toán về công cụ tài chính theo CMKT Quốc tế và Việt Nam

Tác giả đã so sánh quy định kế toán công cụ tài chính giữa chuẩn mực quốc tế và Việt Nam, nhấn mạnh những điểm tương đồng và khác biệt trong các khía cạnh như nhận diện, phân loại, ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin liên quan đến công cụ tài chính.

2.2.2.1 Nhận diện công cụ tài chính

Theo CMKT Quốc tế Theo Qui định Việt Nam hiện hành

Tài sản tài chính bao gồm:

-Công cụ công cụ vốn chủ sở hữu của

Tài sản tài chính bao gồm:

Theo hông tư 210/2009/ -BTC được quy định tương tự

Theo hông tư 200/2014/ -BTC bao

Quyền theo hợp đồng cho phép doanh nghiệp nhận tiền mặt hoặc tài sản tài chính từ doanh nghiệp khác, hoặc thực hiện việc trao đổi các tài sản tài chính và nợ phải trả với các điều kiện có lợi cho doanh nghiệp.

-Hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của DN gồm:

Chứng khoán kinh doanh Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn Tiền gửi có kỳ hạn

Cho vay Đầu tư vốn vào đơn vị khác Đầu tư khác

Nợ tài chính: là nghĩa vụ sau:

Việc thanh toán tiền mặt hoặc tài sản tài chính cho doanh nghiệp khác là bắt buộc, đồng thời cũng cần thực hiện việc trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với doanh nghiệp khác, dù các điều kiện có thể không thuận lợi.

-Hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của DN

Nợ tài chính bao gồm:

Vay và nợ thuê tài chính Trái phiếu phát hành

Thực tế áp dụng kế toán công cụ tài chính, công cụ tài chính phái sinh

2.3.1 Mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp khảo sát

Nghị định 42/2015/Đ-CP về thị trường chứng khoán phái sinh đã được ban hành, tuy nhiên, đề án xây dựng thị trường này vẫn đang trong giai đoạn triển khai và chưa thực sự đi vào hoạt động Do đó, trong quá trình khảo sát, tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng kế toán công cụ tài chính và công cụ tài chính phái sinh nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện cho thị trường chứng khoán phái sinh.

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng kế toán công cụ tài chính và công cụ tài chính phái sinh tại các doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời đánh giá mức độ tuân thủ các hướng dẫn kế toán công cụ tài chính theo Thông tư 210/2009/ -BTC.

Phạm vi khảo sát tập trung vào các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Nghiên cứu nhằm nhận diện, phân loại, ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính Đối tượng khảo sát bao gồm nhân viên kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính năm.

2014 của các DN cổ phần niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán: Thành phố

Hồ Chí Minh và Hà Nội

Phương pháp khảo sát được áp dụng là sử dụng bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp để đánh giá thực trạng kế toán công cụ tài chính và công cụ tài chính phái sinh Nghiên cứu này tập trung vào mức độ công bố thông tin theo Thông tư 210/2009/BTC, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định và thực hành trong lĩnh vực tài chính.

2.3.2 Thực trạng kế toán công cụ tài chính, công cụ tài chính phái sinh tại các công ty niêm yết Việt Nam Để đánh giá kế toán về công cụ tài chính, công cụ tài chính phái sinh cũng như mức độ áp dụng và tuân thủ theo hông tư 210/2009/TT-BTC, tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến của những người làm công tác kế toán, kiểm toán dưới hình thức trả lời câu hỏi và BCTC của các D được niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán: Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội vào ngày 31/12/2014

Trong một cuộc khảo sát thông qua hình thức trả lời câu hỏi, tác giả đã gửi phiếu điều tra đến 30 nhân viên làm việc trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, và đã thu thập được 30 phiếu trả lời đầy đủ.

Trong khảo sát báo cáo tài chính (BCTC), tác giả đã chọn 80 BCTC của 80 doanh nghiệp niêm yết thuộc nhiều ngành như công nghệ, công nghiệp, dịch vụ, năng lượng, nguyên vật liệu, nông nghiệp, tiêu dùng và y tế, chiếm khoảng 10% tổng số mã chứng khoán trên sàn Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, chỉ có 45 doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán Do đó, tác giả đã dựa vào thông tin thu thập được từ 45 doanh nghiệp này để đưa ra các nhận xét.

2.3.3.1 Kết quả khảo sát dựa trên bảng câu hỏi

Người viết tiến hành khảo sát các nội dung sau:

Thứ nhất : ý kiến về việc áp dụng dụng Thông tư 210/2009/TT-BTC trên BCTC tại các DN Việt Nam

Theo thực trạng áp dụng Thông tư 210/2009/BTC, chỉ có 4/30 ý kiến (tương đương 13%) cho rằng thông tư được áp dụng hoàn toàn đúng tại doanh nghiệp, trong khi 37% không áp dụng và 50% áp dụng sai một phần Đặc biệt, 77% ý kiến cho rằng nội dung quy định trong thông tư chưa rõ ràng và khó áp dụng Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng đúng và đầy đủ chủ yếu là do các quy định trong thông tư còn thiếu rõ ràng (57%), nhiều điểm chưa phù hợp với các quy định kế toán trước đây (33%), và ý thức tuân thủ của doanh nghiệp và người làm công tác kế toán (10%).

Về trình bày công cụ tài chính trên BCTC thì có:

13/30 ý kiến tương đương 43% cho rằng nội dung các công cụ tài chính phức hợp được qui định không rõ ràng và khó áp dụng;

10/30 ý kiến tương đượng 33% cho rằng nội dung quyền chọn thanh toán được qui định không rõ ràng và khó áp dụng;

7/30 ý kiến tương đương 24% cho rằng nội dung các khoản dự phòng thanh toán tiềm tàng được quy định không rõ ràng và khó áp dụng

Thuyết minh công cụ tài chính trên báo cáo tài chính (BCTC) hiện vẫn còn nhiều nội dung chưa rõ ràng, gây khó khăn cho kế toán viên trong quá trình lập BCTC.

4/30 ý kiến tương đương 13% cho rằng đó là nội dung phân nhóm, phân loại công cụ tài chính

4/30 ý kiến tương đương 13% cho rằng đó là nội dung tái phân loại công cụ tài chính

2/30 ý kiến tương đương 7% cho rằng đó là nội dung d ng ghi nhận công cụ tài chính

12/30 ý kiến tương đương 40% cho rằng đó là nội dung về công cụ tài chính phức hợp

8/30 ý kiến tương đương 27% cho rằng đó là nội dung về GTHL

Thứ hai: Thực trạng kế toán công cụ tài chính

Theo nhận diện công cụ tài chính, 100% ý kiến cho rằng tài sản tài chính bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, phải thu khách hàng, và phải thu khác Chỉ có 67% ý kiến đồng ý rằng cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký cược cũng là tài sản tài chính Đối với nợ tài chính, 100% ý kiến cho rằng bao gồm phải trả người bán, phải trả khác, vay và nợ, trong khi chỉ 60% cho rằng chi phí phải trả là nợ tài chính.

Trong phân loại tài sản tài chính, có 77% ý kiến (23/30) cho rằng tài sản tài chính được chia thành hai nhóm chính: tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Ngược lại, 23% ý kiến (7/30) cho rằng tài sản tài chính có thể được phân loại theo cách khác.

Về phân loại nợ tài chính, 30/30 ý kiến tương đương 100% cho rằng nợ tài chính được phân loại theo nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

Theo ghi nhận ban đầu, 90% ý kiến (27/30) cho rằng tài sản tài chính nên được ghi nhận theo giá gốc, trong khi 10% ý kiến (3/30) cho rằng nên ghi nhận theo giá trị hợp lý Đối với nợ tài chính, 100% ý kiến (30/30) đồng ý rằng nợ tài chính cũng nên được ghi nhận theo giá gốc.

Theo ý kiến khảo sát, 87% (26/30) người cho rằng tài sản tài chính nên được trình bày theo giá gốc và lập dự phòng, trong khi 13% (4/30) cho rằng nên trình bày theo giá thị trường và ghi nhận chênh lệch vào kết quả hoạt động kinh doanh Đáng chú ý, 100% (30/30) ý kiến thống nhất rằng nợ tài chính cần được trình bày theo giá gốc.

Một số ý kiến cho rằng việc thuyết minh thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính (BCTC) vẫn gặp khó khăn do nội dung của Thông tư 210/2009/TT-C chưa rõ ràng và cụ thể.

4/30 ý kiến tương 13% cho rằng gặp khó khăn trong việc thuyết minh phân nhóm công cụ tài chính;

4/30 ý kiến tương 13% cho rằng gặp khó khăn trong việc thuyết minh phân loại công cụ tài chính;

2/30 ý kiến tương đương 7% cho rằng gặp khó khăn trong việc thuyết minh d ng ghi nhận công cụ tài chính;

12/30 ý kiến tương đương 40% cho rằng gặp khó khăn trong việc thuyết minh công cụ tài chính phức hợp;

8/30 ý kiến tương đương 27% cho rằng gặp khó khăn trong việc thuyết minh GTHL

Thứ ba: ý kiến về việc áp dụng CMKT Quốc tế về công cụ tài chính để lập BCTC cho DN Việt Nam

Trong việc áp dụng các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (CMKT) về công cụ tài chính để lập Báo cáo tài chính (BCTC), có 80% ý kiến (24/40) cho rằng không nên áp dụng, trong khi chỉ 20% (6/30) đồng ý rằng đã áp dụng Tuy nhiên, 87% ý kiến (26 người) cho rằng cần thiết phải áp dụng CMKT quốc tế về công cụ tài chính trong việc lập BCTC.

Đánh giá thực trạng áp dụng công cụ tài chính phái sinh và kế toán công cụ tài chính phái sinh

Về việc sử dụng công cụ tài chính phái sinh

Việc áp dụng công cụ tài chính phái sinh tại Việt Nam còn hạn chế, chủ yếu được sử dụng trong ngân hàng để phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất và giá cả hàng hóa Sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây và việc gia nhập WTO đã tạo điều kiện cho việc thông thương quốc tế Tuy nhiên, quan điểm và tập quán kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là rào cản trong việc sử dụng công cụ này Để thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường vốn, Việt Nam đang triển khai thị trường chứng khoán phái sinh, tạo thêm cơ hội đầu tư và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư Sự kiện Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2015/NĐ-CP về "Chứng khoán phái sinh và TTCK phái sinh" vào tháng 5 năm 2015 đánh dấu bước phát triển mới và là nền tảng pháp lý cho các quy định trong lĩnh vực phái sinh.

Thông tư 210/2009/TT-BTC chỉ là bản dịch chưa đầy đủ các nội dung về trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính liên quan đến công cụ tài chính theo IAS 32 và IFRS 7 Mặc dù là văn bản pháp lý, thông tư này chủ yếu giúp quy định kế toán Việt Nam hội nhập với các chuẩn mực quốc tế, nhưng chưa phản ánh thực tiễn cao Nhiều nội dung trong thông tư còn mâu thuẫn với Luật kế toán và các hướng dẫn kế toán hiện hành Thông tư này mới chỉ quy định về trình bày và thuyết minh công cụ tài chính, chưa đề cập cụ thể đến ghi nhận và đo lường công cụ tài chính phù hợp với từng loại theo IFRS 9.

Việc thực hiện hông tư này trong thực tế còn gặp nhiều hạn chế, và cách trình bày cũng như thuyết minh về công cụ tài chính phụ thuộc vào cách hiểu của từng doanh nghiệp Hiện tại, chưa có căn cứ rõ ràng để đánh giá xem doanh nghiệp có thực hiện đúng quy định hay không.

Sự ra đời của hông tư 200/2014/TT- C đánh dấu bước phát triển mới trong công tác kế toán, điều chỉnh các nghiệp vụ liên quan đến đầu tư tài chính theo hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán quốc tế Việc này rất cần thiết cho sự hội nhập của Việt Nam vào các tổ chức quốc tế Bản dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, có hiệu lực từ 01/01/2017, đã nâng cao chất lượng thông tin BCTC, nhấn mạnh việc phản ánh đúng bản chất giao dịch hơn là hình thức Điều này cho thấy quy định kế toán Việt Nam đang dần hội tụ với chuẩn mực kế toán quốc tế.

Khuôn khổ pháp luật kế toán Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin về công cụ tài chính, đặc biệt là công cụ tài chính phái sinh và chứng khoán phái sinh Thị trường tài chính Việt Nam chưa phát triển mạnh, dẫn đến khái niệm công cụ tài chính còn xa lạ và khó hiểu Hơn nữa, văn bản pháp lý về chứng khoán phái sinh mới chỉ được ban hành, gây thiếu cơ sở cho các nguyên tắc và phương pháp kế toán cụ thể Do đó, các cơ quan chức năng cần sớm hoàn thiện khung pháp lý và các quy định liên quan đến kế toán công cụ tài chính, nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp trong tương lai khi chứng khoán phái sinh được vận hành.

Thông tư 210/2009/TT-BTC được ban hành nhằm hướng dẫn trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính, với mục tiêu nâng cao chất lượng thông tin và đảm bảo tính minh bạch Mặc dù chưa được các doanh nghiệp áp dụng triệt để, thông tư này đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp tiếp cận quy định mới về kế toán công cụ tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế Nó cũng cung cấp cho người sử dụng cái nhìn tổng quan về công cụ tài chính và hướng dẫn áp dụng một số nội dung liên quan.

- hận diện được công cụ tài ch nh;

- hân loại được công cụ tài ch nh;

- Đưa khái niệm L làm nền tảng trong việc phát triển quy định về ghi nhận và đo lường công cụ tài ch nh sau này;

Các doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng thông tư 210/2009/TT-BTC trong việc trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính, góp phần nâng cao chất lượng thông tin của báo cáo tài chính (BCTC).

1 Nhận diện công cụ tài chính

Mặc dù thông tư 210/2009/ - C đã trình bày rõ ràng về khái niệm tài sản và nợ tài chính, nhưng vẫn còn nhiều người chưa nhận diện đúng Điều này một phần do tư duy cũ về cách nhận diện tài sản và nợ theo quy định kế toán trước đây, và một phần do nhân viên kế toán chưa được cập nhật kiến thức đầy đủ Thêm vào đó, nội dung của thông tư cũng thiếu những ví dụ minh họa cụ thể.

2 Phân loại công cụ tài chính hông tư 210/2009/ -BTC phân loại tài sản tài chính và nợ tài chính theo IAS

FRS 9 đã thiết lập một cơ sở phân loại mới cho các công cụ tài chính, khác với IAS 39 trước đây Điều này có nghĩa là khi FRS 9 thay thế hoàn toàn IAS 39, thì Thông tư 210/2009/ - C đã trở nên không còn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế hiện hành.

So với phân loại 4 nhóm trước đây của IAS 39, IFRS 9 đã đơn giản hóa thành 3 nhóm, giúp dễ hiểu hơn Việc đo lường và ghi nhận tài sản kế toán cần phải hợp lý và phù hợp với nhu cầu sử dụng Phân loại theo mô hình kinh doanh trở nên rõ ràng và dễ áp dụng hơn Tuy nhiên, Thông tư 210/2009/ - C vẫn chưa cung cấp hướng dẫn cụ thể về tái phân loại công cụ tài chính.

3 Đo lường công cụ tài chính

Thông tư 210/2009/ - C không đề cập đến việc đo lường và ghi nhận công cụ tài chính, điều này ảnh hưởng đến công tác kế toán của các doanh nghiệp Do đó, các doanh nghiệp áp dụng chuẩn mực kế toán Việt Nam sẽ ghi nhận công cụ tài chính ban đầu theo giá gốc, khác với chuẩn mực kế toán quốc tế Sau khi ghi nhận ban đầu, các công cụ tài chính sẽ được trình bày theo giá gốc và doanh nghiệp cần trích lập dự phòng.

Trong đầu tư chứng khoán, các doanh nghiệp thường điều chỉnh giá trị ghi sổ dựa trên giá thị trường, phù hợp với yêu cầu đo lường công cụ tài chính theo GTHL Tuy nhiên, theo quy định mới trong kế toán Việt Nam, mọi thay đổi đều được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, ngoại trừ cổ tức được chia trong kỳ đầu tiên Ngược lại, theo FRS 9, việc trình bày chênh lệch phụ thuộc vào nhóm đo lường của tài sản tài chính Đối với các công cụ tài chính phức hợp, Thông tư 210/2009/TT-BTC yêu cầu tách riêng thành phần nợ và vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể về phương pháp kế toán, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hạch toán.

4 Trình bày công cụ tài chính hông tư 210/2009/ - C được ban hành năm 2009, CMKT Quốc tế về công cụ tài ch nh đã có nhiều thay đổi so với trước đây, điều này đã làm cho hông tư 210/2009/TT-BTC trở nên bất cập, có nhiều điểm không còn phù hợp với CMKT Quốc tế hiện hành Một ví dụ điển hình Nợ tiềm tàng theo IAS 32 sẽ được trình bày là khoản nợ phải trả trên CĐK nhưng theo qui định VAS 18 thì Nợ tiềm tàng không được ghi nhận là nợ phải trả mà chỉ nêu trong phần Thuyết minh BCTC và cho đến hông tư 210/200/ -BTC thì lại yêu cầu trình bày Nợ tiềm tàng theo như IAS 32 trong khi VAS 18 vẫn còn hiệu lực

5 Thuyết minh thông tin công cụ tài chính hông tư 210/2009/ -BTC yêu cầu DN phải thuyết minh về GTHL tuy nhiên hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về phương pháp xác định L Do đó, khi trình bày thông tin về L, D thường lấy giá ghi sổ hoặc giá trị còn lại (bằng giá trị ghi sổ tr (-) khoản lập dự phòng) làm GTHL hoặc ghi nhận là không thể xác định được L do chưa có văn bản hướng dẫn

Việc thực hiện kế toán công cụ tài chính trong thực tế còn nhiều bất cập

Thông tư 210/2009/TT-BTC chỉ hướng dẫn trình bày và thuyết minh thông tin về công cụ tài chính một cách chung chung, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc áp dụng vào thực tế do thiếu hướng dẫn cụ thể và ví dụ minh họa Để giải quyết vấn đề kế toán, cần phải xác định định nghĩa và bản chất của đối tượng kế toán, từ đó mới có thể phân loại, ghi nhận và đo lường thông tin Tuy nhiên, quy định về kế toán công cụ tài chính tại Việt Nam lại được ban hành theo hướng ngược lại, gây khó khăn trong việc xác định chính xác đối tượng cần trình bày và thuyết minh.

 Công cụ tài ch nh phái sinh và chứng khoán phái sinh

Ệ KẾ C ỨNG KHOÁN PHÁI

Ngày đăng: 25/06/2021, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w