GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Căn cứ chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xu thế hội nhập quốc tế đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các công ty niêm yết, thu hút vốn từ cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, vốn hóa thị trường cổ phiếu vào cuối năm 2014 đạt 1.121.000 tỷ đồng, tăng 54,4% so với đầu năm 2010 và chiếm trên 31% GDP Nếu tính cả dư nợ trái phiếu, quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 54% GDP.
Trong 15 năm qua, thị trường chứng khoán đã ghi nhận sự phát triển ấn tượng với vốn hóa thị trường tăng 580 lần và giá trị giao dịch bình quân tăng 50 lần Thị trường này đã hỗ trợ Chính phủ và doanh nghiệp huy động khoảng 2 triệu tỷ đồng cho đầu tư phát triển, với quy mô huy động vốn hiện tại gấp 50 lần so với 10 năm trước Trong 10 năm gần đây, thị trường chứng khoán đã đáp ứng khoảng 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương gần 60% so với cung tín dụng qua thị trường tiền tệ – tín dụng.
Thông tin trên thị trường chứng khoán là yếu tố nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của nhà đầu tư Các báo cáo tài chính cần cung cấp thông tin hữu ích cho người dùng, đặc biệt là các nhà đầu tư và nhà phân tích bên ngoài doanh nghiệp Công cụ tài chính xuất hiện trong hầu hết các mục trên báo cáo tài chính, liên quan đến quá trình huy động và sử dụng vốn, cũng như phòng ngừa rủi ro Do đó, kế toán công cụ tài chính đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán mà doanh nghiệp cung cấp.
Xu hướng toàn cầu hóa trong kế toán và kiểm toán đã giúp Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực kế toán quốc tế như GAAP, IFRS và IAS, cùng với kinh nghiệm từ các quốc gia có nền kinh tế tương đồng Các chuẩn mực hiện hành về công cụ tài chính bao gồm IAS 32 (Trình bày và công bố), IAS 39 (Ghi nhận, đo lường), IFRS 7 (Công bố) và IFRS 9 (Công cụ tài chính) Bốn chuẩn mực này được xem là phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các đơn vị.
Hiện nay, Việt Nam chưa có chuẩn mực riêng về kế toán công cụ tài chính, mà chỉ được quy định rải rác trong các chuẩn mực như VAS01, VAS10, VAS16 và VAS21 Điều này gây ra nhiều khó khăn trong việc quản lý và chuẩn hóa thông tin cũng như thực hiện công tác kế toán tại các doanh nghiệp.
Thông tư 210/2009/TT-BTC, ban hành ngày 06/11/2009 và có hiệu lực từ năm 2011, hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về báo cáo tài chính và thông tin liên quan đến công cụ tài chính Thông tư này chỉ bao gồm IAS 32 và IFRS 7, chưa đề cập đến IAS 39 và được ban hành trước IFRS 9 Thông tư áp dụng cho tất cả các đơn vị, lĩnh vực và thành phần kinh tế tại Việt Nam có giao dịch liên quan đến công cụ tài chính, do đó, việc thực hiện các chuẩn mực này sẽ ảnh hưởng lớn đến nhiều tổ chức.
Tác giả đã quyết định nghiên cứu đề tài "Nhận diện các nhân tố tác động đến mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM" Nghiên cứu này nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc công khai thông tin tài chính, từ đó góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính và đo lường mức độ công bố này trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại sàn chứng khoán TP.HCM năm 2014 Nghiên cứu cũng đánh giá thực trạng công bố thông tin công cụ tài chính của các doanh nghiệp niêm yết, nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin.
Nghiên cứu này tổng hợp các nghiên cứu quốc tế về việc trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công khai thông tin công cụ tài chính tại Việt Nam.
Mô hình nghiên cứu được xây dựng nhằm phân tích mối quan hệ giữa quy mô, công ty kiểm toán, kết quả kinh doanh và tỷ lệ tổng nợ trên tổng vốn chủ sở hữu với mức độ công bố thông tin công cụ tài chính Bài viết đánh giá thực trạng công bố thông tin công cụ tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM năm 2014 và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin cho các doanh nghiệp.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn này nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu bằng cách trả lời câu hỏi về những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính của các doanh nghiệp, dựa trên các nghiên cứu trước đây trên thế giới.
Năm 2014, mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố Các yếu tố này bao gồm quy định pháp lý, yêu cầu từ nhà đầu tư, chất lượng quản trị doanh nghiệp, và mức độ minh bạch thông tin tài chính Sự tương tác giữa các yếu tố này quyết định cách thức và độ chi tiết của thông tin được công bố, từ đó ảnh hưởng đến sự tin tưởng và quyết định đầu tư của các bên liên quan.
Mối tương quan giữa các nhân tố và mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính như thế nào?
Thực trạng công bố thông tin công cụ tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM năm 2014 như thế nào?
Giải pháp nào nhằm giúp nâng cao chất lượng công bố thông tin cho các doanh nghiệp?
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Các quy định kế toán về trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính bao gồm IAS 32, IAS 39, IFRS 7, IFRS 9 và Thông tư 210/2009/TT-BTC của Việt Nam IAS 32 quy định về cách thức trình bày và công bố thông tin liên quan đến công cụ tài chính, trong khi IAS 39 tập trung vào ghi nhận và đo lường các công cụ này IFRS 7 yêu cầu công bố thông tin chi tiết hơn về rủi ro liên quan đến công cụ tài chính, và IFRS 9 cung cấp hướng dẫn mới về phân loại và đo lường Thông tư 210/2009/TT-BTC bổ sung các quy định cụ thể cho việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế tại Việt Nam.
Mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính theo Thông tư 210/2009/TT-BTC
Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian:
Các quy định kế toán về công cụ tài chính đối doanh nghiệp phi tài chính theo chuẩn mực quốc tế và quy định tại Việt Nam
Các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu
Với việc áp dụng phương pháp định lượng, đề tài sẽ suy diễn từ các nghiên cứu trước nhằm dự kiến mô hình lý thuyết sẽ kiểm định
Thu thập dữ liệu thông qua điều tra chọn mẫu, số lượng mẫu là 100 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
Phương pháp thu thập dữ liệu: thu thập dữ liệu từ BCTC năm 2014 của các doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM
Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng hồi quy tương quan đa biến tuyến tính với phần mềm Eviews 7 nhằm phân tích mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, đồng thời kiểm định các giả thuyết mô hình.
Quy trình nghiên cứu
Tác giả thực hiện nghiên cứu theo quy trình dưới đây nhằm thực hiện đầy đủ nội dung và mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu này tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM Việc hiểu rõ các yếu tố này là cần thiết để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong báo cáo tài chính, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc cải thiện chất lượng thông tin công bố để thu hút nhà đầu tư và tăng cường niềm tin của công chúng.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Các lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trước đây
Mô hình đo lường các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin
Công cụ tài chính của các doanh nghiệp
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG Thống kê mô tả, Phân tích hệ số tương quan, Thực hiện các hồi quy tương quan đa biến tuyến tính
Các nghiên cứu liên quan của thế giới và Việt Nam
Trên toàn cầu, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc công bố thông tin về công cụ tài chính của các doanh nghiệp, và các nghiên cứu này đã đưa ra những kết quả khác nhau.
Nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2006) tập trung vào việc xác định các tiêu chuẩn công bố tự nguyện về công cụ tài chính tại các doanh nghiệp Bồ Đào Nha Bảng Hạng mục Công bố được xây dựng dựa trên các quy định của IAS 32 và IAS 39 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh và sự tham gia của doanh nghiệp kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ trình bày và công bố thông tin liên quan đến công cụ tài chính.
Nghiên cứu của Hassan, Percy và Goodwin-Stewart (2006 – 2007) tập trung vào tính minh bạch trong công bố công cụ tài chính phái sinh của các doanh nghiệp khai khoáng tại Úc, sử dụng chỉ số công bố thông tin theo AASB 1033 Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa tính minh bạch và các đặc điểm công ty như quy mô, hiệu suất, cơ hội phát triển, kiểm toán viên và loại hình doanh nghiệp Kết quả cho thấy tính minh bạch trong công bố công cụ tài chính phái sinh đã gia tăng theo thời gian, mặc dù vẫn tồn tại sự không tuân thủ với yêu cầu công bố, đặc biệt liên quan đến giá trị hợp lý ròng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp lớn, có chỉ số giá thị trường/thu nhập cao và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu thấp thường công bố thông tin về công cụ tài chính phái sinh một cách rõ ràng hơn.
Nghiên cứu của Malaquias và Vargas (2013) đã phân tích mức độ công bố thông tin của các công cụ tài chính trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Brazil Họ đã kiểm tra các báo cáo hàng năm của 24 doanh nghiệp cung cấp tại Brazil và thị trường vốn của Mỹ trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2012.
Nghiên cứu năm 2006 cho thấy quy mô và tuổi của doanh nghiệp tại Brazil có mối tương quan tích cực với mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS Tương tự, nghiên cứu của Hà Thị Mỹ (2012) tại Việt Nam chỉ ra rằng các yếu tố như quy mô doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, vốn điều lệ), tỷ số ROE và đòn bẩy tài chính cũng có mối liên hệ thuận với mức độ công bố thông tin công cụ tài chính của các ngân hàng thương mại Hơn nữa, tác giả nhận định rằng các ngân hàng được kiểm toán bởi công ty kiểm toán thuộc nhóm Big4 có xu hướng công bố thông tin về công cụ tài chính cao hơn so với những ngân hàng không được kiểm toán bởi nhóm này.
Nghiên cứu của Phạm Quang và Hà Thị Phương Dung (2013) chỉ ra rằng mức độ trình bày và công bố thông tin của các doanh nghiệp khảo sát là thấp trước khi Thông tư 210 có hiệu lực, nhưng đã có sự cải thiện dần trong giai đoạn sau.
Kết quả nghiên cứu từ năm 2010 đến 2012 cho thấy uy tín của doanh nghiệp kiểm toán và giá thị trường trên thu nhập cổ phiếu có mối liên hệ đáng kể với mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp quy mô nhỏ thường có xu hướng cung cấp nhiều thông tin hơn về công cụ tài chính nhằm khẳng định vị thế của mình trên thị trường.
Đóng góp của nghiên cứu
Năm 2014, nghiên cứu xác định mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM Qua đó, nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá mức độ tuân thủ Thông tư 210/2009/TT-BTC của các doanh nghiệp này.
Mối liên hệ giữa mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính với quy mô doanh nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh và quy mô doanh nghiệp kiểm toán là rất quan trọng Sự hiểu biết này giúp người sử dụng thông tin kế toán chủ động hơn trong việc phân tích Báo cáo tài chính và đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.
Bố cục nghiên cứu
Luận văn được kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 1 đã khái quát lí do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu toàn luận văn Bên cạnh đó, tác giả đã liệt kê và phân tích sơ bộ các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin Công cụ tài chính của mỗi nghiên cứu Quy trình nghiên cứu cũng đã hệ thống hóa được toàn bộ các nội dung mà các chương tiếp theo sẽ trình bày.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các quy định về trình bày và công bố công cụ tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 32, IAS 39, IFRS 7, IFRS9)
kế toán quốc tế (IAS 32, IAS 39, IFRS 7, IFRS9)
2.1.1 Định nghĩa Công cụ tài chính
Theo IAS 32, công cụ tài chính được định nghĩa là bất kỳ hợp đồng nào tạo ra tài sản tài chính cho một doanh nghiệp, đồng thời cũng có thể tạo ra nợ tài chính hoặc công cụ vốn cho một doanh nghiệp khác.
Bảng 2.1 Khái niệm tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính
Tài sản tài chính Nợ phải trả tài chính
Tiền mặt, công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác
Quyền theo hợp đồng để:
Nhận tiền mặt hoặc tài sản tài chính khác từ đơn vị khác;
Trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện có thể có lợi cho đơn vị
Là các nghĩa vụ mang tính bắt buộc để:
Thanh toán tiền mặt hoặc tài sản tài chính cho đơn vị khác;
Trao đổi các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính với đơn vị khác theo các điều kiện không có lợi cho đơn vị
Hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị
Hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng các công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị
Theo IAS 32 đoạn 11, công cụ vốn chủ sở hữu được định nghĩa là hợp đồng thể hiện quyền lợi còn lại về tài sản của đơn vị sau khi trừ đi tất cả các nghĩa vụ Các công cụ này bao gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
Theo IAS 39, công cụ tài chính phái sinh được định nghĩa là một loại công cụ tài chính đặc biệt, có thể là tài sản tài chính (khoản phải thu) hoặc nợ phải trả (khoản phải trả tài chính) Để được xem là công cụ tài chính phái sinh, nó cần thỏa mãn ba điều kiện cơ bản.
Giá của nó thay đổi theo sự thay đổi giá của đại lượng cơ sở, như tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá hàng hóa, xếp hạng tín dụng…
Không có khoản đầu tư thuần ban đầu hoặc nếu có thì rất nhỏ Được thanh toán trong tương lai
Công cụ tài chính phái sinh là các sản phẩm được phát triển dựa trên những công cụ tài chính hiện có, nhằm mục đích phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận và tạo ra lợi nhuận Các dạng phổ biến của công cụ này bao gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi.
2.1.2 Phân loại công cụ tài chính
Việc nhận diện và phân loại công cụ tài chính là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến các công việc kế toán cơ bản như ghi nhận, đo lường và trình bày các công cụ tài chính.
Phân loại công cụ tài chính theo các yếu tố trên bảng cân đối kế toán
Theo lý thuyết về lập và trình bày báo cáo tài chính, công cụ tài chính được phân loại thành ba nhóm chính: tài sản tài chính, nợ phải trả tài chính và công cụ vốn chủ sở hữu Phân loại này giúp nhận diện rõ ràng các công cụ tài chính khi trình bày trên Bảng cân đối kế toán Mỗi loại công cụ tài chính sẽ được mô tả cụ thể để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong báo cáo.
Bảng 2.2: Các loại công cụ tài chính trên Bảng cân đối kế toán
1 Tiền Tiền mặt, tiền gửi
2 Công cụ vốn chủ sở hữu của đơn vị khác Cổ phiếu đầu tư
3 Các quyền theo hợp đồng nhận tiền hay một tài sản tài chính khác, hoặc trao đổi tài sản tài chính hay nợ phải trả tài chính với
Trái phiếu đầu tư, phải thu thương mại đơn vị khác trong điều kiện thuận lợi
4 Một số hợp đồng được thanh toán bằng vốn chủ sở hữu của đơn vị
Phải thu về cổ phần hóa
II Nợ phải trả tài chính
1 Các nghĩa vụ theo hợp đồng phải giao tiền hay tài sản tài chính, hoặc trao đổi tài sản tài chính, nợ tài chính với đơn vị khác trong điều kiện bất lợi
Trái phiếu phát hành, phải trả thương mại, vay theo khế ước
2 Một số hợp đồng được thanh toán bằng vốn chủ sở hữu của chính đơn vị
1 Hợp đồng cho phép hưởng lợi ích còn lại trong các tài sản của một đơn vị sau khi trừ hết nợ phải trả của đơn vị đó
Cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu quỹ
Phân loại công cụ tài chính theo nguồn gốc
Căn cứ vào nguồn gốc, công cụ tài chính bao gồm công cụ tài chính cơ sở và công cụ tài chính phái sinh
Các công cụ tài chính cơ sở như tiền, cho vay, cổ phiếu, trái phiếu, khoản phải thu, phải trả…
Các công cụ tài chính phái sinh là những công cụ mà luồng tiền của chúng phụ thuộc vào các đại lượng cơ sở như tỷ giá, lãi suất, chỉ số chứng khoán và giá chứng khoán Chúng rất đa dạng và phức tạp, bao gồm cả công cụ phái sinh cơ sở và hiện đại, có thể hoạt động độc lập hoặc kết hợp trong các công cụ tài chính khác Các loại giao dịch như tương lai, quyền chọn, hoán đổi và kỳ hạn được gọi là công cụ phái sinh cơ sở Mỗi đại lượng cơ sở như tỷ giá hối đoái, lãi suất và xếp hạng tín dụng sẽ tạo ra các nhóm công cụ phái sinh tương ứng, bao gồm phái sinh tiền tệ, phái sinh lãi suất và phái sinh tín dụng.
Phân loại các công cụ tài chính giúp phân tích bản chất kinh tế và luồng tiền trong tương lai, từ đó tạo điều kiện quan trọng cho việc lựa chọn cơ sở đo lường phù hợp với từng loại công cụ.
Phân loại công cụ tài chính theo yêu cầu đo lường và công bố thông tin
IAS 39 và IFRS 9 quy định về cách phân loại các tài sản tài chính và nợ tài chính để trên cơ sở đó xây dựng nguyên tắc ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin cho từng loại Cơ sở để phân loại là dựa vào bản chất của luồng tiền của công cụ tài chính và mục tiêu quản trị công cụ tài chính của doanh nghiệp Các công cụ tài chính được sắp xếp trong cùng một nhóm không chỉ có cùng bản chất kinh tế ban đầu mà còn được doanh nghiệp đầu tư hay phát hành với cùng mục đích
Tài sản tài chính được định giá theo giá trị hợp lý, với sự thay đổi giá trị hợp lý được phản ánh trong Báo cáo kết quả kinh doanh (FVPL - Fair value through profit or loss) Điều này bao gồm hai loại tài sản: (i) tài sản tài chính kinh doanh và (ii) tài sản tài chính được lựa chọn ghi nhận theo FVPL ngay từ ban đầu.
Tài sản tài chính được ghi nhận ban đầu theo giá trị phân bổ (AC - Amortised cost), bao gồm hai loại chính: (i) đầu tư giữ đến ngày đáo hạn và (ii) khoản cho vay cùng với các khoản phải thu.
Tài sản tài chính được đánh giá theo giá trị hợp lý, với sự chênh lệch giá trị hợp lý được ghi nhận vào thu nhập hoãn lại (FVOCI – Fair value through other comprehensive income), bao gồm cả các tài sản tài chính khác.
Nợ tài chính được định giá theo giá trị hợp lý, với sự chênh lệch do thay đổi giá trị hợp lý được phản ánh trong Báo cáo kết quả kinh doanh (FVPL) Các loại nợ tài chính này bao gồm (i) nợ tài chính kinh doanh và (ii) nợ tài chính được lựa chọn ghi nhận theo FVPL ngay từ thời điểm ban đầu.
Nợ tài chính được đo lường sau khi ghi nhận ban đầu theo giá trị phân bổ (AC) bao gồm các khoản nợ khác
Các công cụ tài chính trong kế toán phòng ngừa rủi ro (FVOCI) bao gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai và hợp đồng hoán đổi, tất cả đều được sử dụng để giảm thiểu rủi ro tài chính.
2.1.3 Trình bày công cụ tài chính
Các lý thuyết cơ sở cho việc lựa chọn các nhân tố tác động đến mức độ trình bày, công bố thông tin
2.3.1 Lí thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lí thuyết tín hiệu do Spence khởi xướng năm 1973 giải thích tính bất cân xứng thông tin trên thị trường lao động và đã được áp dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán và tài chính để phân tích mối quan hệ giữa nhà quản trị và nhà đầu tư Ross (1977) cho rằng thông tin bất cân xứng là lý do khiến các công ty tốt sử dụng thông tin tài chính để gửi tín hiệu đến thị trường Bài viết này áp dụng lí thuyết tín hiệu để làm rõ ảnh hưởng của quy mô và tỉ lệ nợ ngoài trên tổng nguồn vốn đến mức độ công bố thông tin về công cụ tài chính.
2.3.2 Lí thuyết ủy nhiệm (Agency theory)
Lý thuyết ủy nhiệm, được nghiên cứu bởi Ensen Meckling (1976), phân tích mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm trong bối cảnh cổ đông và nhà quản trị Lý thuyết này dựa trên sự tồn tại của thông tin bất cân xứng và mâu thuẫn lợi ích, dẫn đến chi phí ủy nhiệm (Levinthal, 1988) Chi phí ủy nhiệm bao gồm chi phí giám sát, chi phí liên kết và các chi phí khác phát sinh từ xung đột lợi ích giữa hai bên Lý thuyết ủy nhiệm cũng giúp giải thích ảnh hưởng của quy mô, lợi nhuận và tỷ lệ nợ ngoài trên tổng nguồn vốn đối với mức độ công bố thông tin tài chính trong báo cáo tài chính, được làm rõ trong các giả thuyết nghiên cứu ở phần sau.
Cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu
Phần này tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm và kết quả đã được thực hiện trên toàn cầu, từ đó đề xuất một mô hình mới.
(0): Các biến có ảnh hưởng nhẹ với mức độ công bố thông tin thì được giả định là không ảnh hưởng
(+): nhân tố có mối tương quan thuận với mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính
(-): nhân tố có mối tương quan nghịch với mức độ trình bày và công bố thông tin về công cụ tài chính
2.4.1 Nghiên cứu của Lopes và Rodrigues (2006)
Nghiên cứu đã xác định các tiêu chuẩn công bố tự nguyện về công cụ tài chính tại các doanh nghiệp Bồ Đào Nha, dựa trên Bảng Hạng mục Công bố phát triển từ các quy định của IAS 32 và IAS 39 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tuân thủ các quy định này là cần thiết để cải thiện tính minh bạch và độ tin cậy trong báo cáo tài chính.
Tên biến Đo lường biến Chiều ảnh hưởng Đặc điểm công ty
Quy mô Ln(Tổng tài sản)
1: Tài chính 0: Phi tài chính
1: doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big5 0: doanh nghiệp không được kiểm toán bởi Big5
1: công ty trong nước 0: công ty nước ngoài/ niêm yết nhiều thị trường
Mức độ quốc tế hóa
Doanh thu ở nước ngoài/ tổng doanh thu +
Cơ cấu tài chính Đòn bẩy tài chính Tổng nợ/ vốn chủ sở hữu 0 Độ phổ biến của chủ sở hữu
Tỷ lệ cổ phần được sở hữu bởi 5 cổ đông lớn nhất
Tên biến Đo lường biến Chiều ảnh hưởng
Cổ đông Chỉ số giá thị trường/ Tổng tài sản 0
Thành phần HĐQT Mức độ độc lập của giám đốc 0
Tuân thủ các khuyến nghị của ủy ban thị trường chứng khoán về mức độ độc lập của giám đốc
1: tuân thủ 0: không tuân thủ
Tuân thủ các khuyến nghị của ủy ban thị trường chứng khoán về quản trị doanh nghiệp
1: tuân thủ 0: không tuân thủ
2.4.2 Nghiên cứu của Hassan và các cộng sự (2006 – 2007)
Nghiên cứu của Hassan và các cộng sự (2006 – 2007) đã tập trung vào tính minh bạch trong công bố công cụ tài chính phái sinh của các doanh nghiệp ngành khai khoáng tại Úc từ năm 1998 đến 2001, sử dụng chỉ số công bố thông tin theo AASB 1033 Kết quả cho thấy tính minh bạch trong công bố công cụ tài chính phái sinh đã gia tăng theo thời gian, tuy nhiên vẫn tồn tại bằng chứng về sự không tuân thủ các yêu cầu công bố, đặc biệt liên quan đến giá trị hợp lý ròng.
Tên biến Đo lường biến Chiều ảnh hưởng
Quy mô Log(Tổng tài sản) +
Hiệu suất Chỉ số giá/ thu nhập +
Lợi nhuận trước thuế/ tổng tài sản 0 P/E Chỉ số giá thị trường/ giá trị sổ sách ròng 0
Tổng nợ/ vốn chủ sở hữu +
1: Công ty không trách nhiệm (*) 0: công ty trách nhiệm hữu hạn
1: doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big5 0: doanh nghiệp không được kiểm toán bởi Big5
Nghiên cứu và phát triển (R D)
1: công ty R D 0: công ty không có R D
MTB Giá thị trường/ giá trị sổ sách của tài sản cố định hữu hình
DTE Tổng nợ/ giá trị sổ sách của cổ phiếu phổ thông 0
Mô hình công ty không trách nhiệm ở Úc đặc trưng bởi ba yếu tố chính: có vốn cổ phần, Điều lệ công ty xác định mục đích duy nhất là khai thác mỏ, và không yêu cầu cổ đông phải góp đủ tiền cho các cổ phiếu chưa thanh toán Mô hình này phản ánh sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ tại Úc.
2.4.3 Nghiên cứu của Malaquias và Vargas (2013)
Nghiên cứu của Malaquias và Vargas (2013) chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin về các công cụ tài chính trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Brazil có mối quan hệ tích cực với quy mô (ln(tài sản)) và tuổi thọ của doanh nghiệp, dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS.
2.4.4 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Các nghiên cứu thực nghiệm toàn cầu đã xác định và chứng minh những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin công cụ tài chính, mặc dù các nhân tố này có thể khác nhau giữa các nghiên cứu và mức độ tác động cũng không giống nhau Nghiên cứu tổng hợp các nhân tố được nhiều nghiên cứu lựa chọn làm cơ sở cho mô hình nghiên cứu Mô hình đề xuất bao gồm các nhân tố tác động như Biến quy mô, Kết quả kinh doanh, Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và Doanh nghiệp kiểm toán, nhằm đo lường biến phụ thuộc là mức độ trình bày và công bố thông tin công cụ tài chính.
Chương 2 đã tóm tắt các khái niệm liên quan đến Công cụ tài chính và cách trình bày, công bố thông tin Công cụ tài chính Bên cạnh đó, nội dung chương 2 còn nêu lên các cơ sở lý thuyết cho việc lựa chọn các nhân tố tác động đến mức độ trình bày, công bố thông tin Công cụ tài chính trênbáo cáo tài chính tạicác doanh nghiệp Việt Nam và giới thiệu các mô hình nghiên cứu liên quan trên thế giới, từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị Đây là nền tảng lý thuyết quan trọng để tác giả đưa ra kết luận trong những chương sau.