Sau khi nghiên cứu đề tài này, tác giả kỳ vọng sẽ tìm thêm được bằng chứng củng cố việc nhận thức của nhà đầu tư về tính minh bạch thông tin tài chính có ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu t
Trang 1NGUYỄN THỊ LINH THU
ẢNH HƯỞNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH ĐẾN HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ LINH THU
ẢNH HƯỞNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH ĐẾN HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ "Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính trên báo cáo tài chính đến hành vi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP.Hồ Chí Minh" là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng
Các số liệu được nêu trong luận văn được trích dẫn nguồn rõ ràng và được thu thập từ thực tế, đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan
Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
TP.HCM, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Linh Thu
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước liên quan 6
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước liên quan 8
Kết luận chương 1 11
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 12
2.1 Một số vấn đề chung về minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư 12
2.1.1 Minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư 12
2.1.2 Các văn bản hướng dẫn công bố thông tin theo quy định hiện hành 15
2.2 Các lý thuyết nền liên quan đến tính minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư 19
2.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 19
2.2.2 Lý thuyết người đại diện 22
2.2.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin 24
2.2.4 Lý thuyết các bên có lợi ích 25
2.2.5 Lý thuyết hành động hợp lý 27
2.2.6 Một số lý thuyết và nguyên lý cơ bản của Tài chính hành vi 29
Kết luận chương 2 30
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Quy trình nghiên cứu 31
3.2 Khung phân tích nghiên cứu 32
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 32
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 36
Trang 53.3 Phương pháp thu thập mẫu 37
3.4 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi 37
3.4.1 Thiết kế thang đo 37
3.4.2 Xây dựng bảng câu hỏi 45
3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 46
Kết luận chương 3 48
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 49
4.2 Đánh giá thang đo 51
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 53
4.4 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 57
4.4.1 Phân tích tương quan 57
4.4.2 Phân tích hồi quy 58
4.4.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 66
4.5 Kiểm định sự khác biệt hành vi nhà đầu tư theo các đặc điểm cá nhân 68
Kết luận chương 4 73
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
5.1 Kết luận 74
5.2 Kiến nghị 75
5.2.1 Đối với công ty niêm yết 75
5.2.2 Đối với nhà đầu tư cá nhân 77
5.2.3 Đối với Ủy Ban chứng khoán nhà nước và SGDCK 77
5.3 Đóng góp nghiên cứu 79
5.4 Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tương lai 79
Kết luận chương 5 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thang đo hành vi nhà đầu tư cá nhân 39
Bảng 3.2 Thang đo minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn 40
Bảng 3.3 Thang đo minh bạch thông tin tài chính 43
Bảng 3.4 Minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT và BGĐ 45
Bảng 4.1 Thống kê mẫu quan sát 50
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định các thang đo bằng Cronbach’s Alpha 52
Bảng 4.3 Kiểm định KMO và Bartlett (1) 53
Bảng 4.4 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các nhân tố đại diện 54
Bảng 4.5 Ma trận xoay nhân tố 55
Bảng 4.6 Kiểm định KMO và Bartlett (2) 56
Bảng 4.7 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các nhân tố đại diện 57
Bảng 4.8 Ma trận hệ số tương quan 58
Bảng 4.9 Tóm tắt mô hình (1) 59
Bảng 4.10 Phân tích phương sai mô hình (1) 59
Bảng 4.11 Kiểm định đa cộng tuyến mô hình (1) 60
Bảng 4.12 Kiểm định Breusch-Pagan-Godfrey mô hình (1) 61
Bảng 4.13 Tóm tắt mô hình (2) 62
Bảng 4.14 Phân tích phương sai mô hình (2) 62
Bảng 4.15 Kiểm định đa cộng tuyến mô hình (2) 63
Trang 8Bảng 4.16 Kiểm định Breusch-Pagan-Godfrey mô hình (2) 64
Bảng 4.17 Hệ số hồi quy mô hình (2) 65
Bảng 4.18 Bảng tổng hợp kết qua nghiên cứu 68
Bảng 4.19 Phân tích ANOVA những nhóm nhà đầu tư có giới tính khác nhau 68
Bảng 4.20 Phân tích ANOVA những nhóm nhà đầu tư có thu nhập khác nhau 69
Bảng 4.21 Phân tích ANOVA hành vi của nhà đầu tư khác nhau về trình độ học vấn 70
Bảng 4.22 Phân tích ANOVA hành vi của nhà đầu tư có độ tuổi khác nhau 71 Bảng 4.23 Phân tích ANOVA hành vi của nhà đầu tư có kinh nghiệm khác nhau 72
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận văn 31 Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 36 Hình 3.3 Quy trình xây dựng và đánh giá thang đo 46
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, minh bạch thông tin không còn là một vấn đề quá mới mẻ đối với
xã hội Tuy nhiên, nó vẫn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi nước ta đang trên đà hội nhập kinh tế sâu rộng với thế giới, đặc biệt phải kể đến tầm quan trọng của minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Xuất phát
từ vấn đề bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư và nhà quản lý mà TTCK Việt Nam vẫn chưa thực sự hoạt động hiệu quả và ổn định Minh chứng điều này, trên thế giới xảy ra nhiều vụ bê bối tài chính lớn như Enron, WordCom Hay tại Việt Nam, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã từng đưa tin nhiều vi phạm về minh bạch thông tin của các công ty chẳng hạn: CTCP Bông Bạch Tuyết cố tình che giấu các khoản mục phải thu khác dưới sự giúp đỡ của công ty kiểm toán khiến từ một công ty có lãi bỗng chốc trở nên lỗ trầm trọng; tình trạng chênh lệch BCTC trước và sau kiểm toán còn quá lớn (Báo cáo của Ngân hàng Sài gòn Thương tín năm 2009 chênh lệch 113 tỷ đồng do phương pháp trích lập dự phòng với các cổ phiếu chưa niêm yết, CTCP Kinh Đô có chênh lệch trước và sau kiểm toán là 203 tỷ đồng do chưa trích lập dự phòng các khoản đầu tư chứng khoán dài hạn; công ty thủy sản Minh Phú có số liệu chênh lệch 42 tỷ đồng do trích lập dự phòng giảm giá đầu tư của chứng khoán chưa niêm yết, dự phòng giảm giá hàng tồn kho…); và vấn
đề vi phạm trong CBTT khác như công bố chậm, công bố không đầy đủ vẫn còn xảy ra khá nhiều (CTCP giấy Việt Trì, CTCP quản lý quỹ đầu tư FPT, CTCP chứng khoán An Nam, CTCP Hóa chất Đức Giang – Lào Cai, CTCP chứng khoán Đà Nẵng, công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải Hà Phương…) (Nguyễn Thị Bích Loan
và Nguyễn Gia Đường, 2013) Có thể thấy rằng, hầu hết các vụ bê bối về tài chính của công ty đều có một phần nguyên nhân chính là do vấn đề minh bạch thông tin tài chính (Uddin và Gillett, 2002)
Trên thực tế, tại Việt Nam vấn đề làm sao giải quyết bài toán minh bạch thông tin các CTNY trên TTCK đã được các tổ chức lập quy và nhiều nhà nghiên
Trang 11cứu quan tâm, ví dụ Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng (2008), Nguyễn Đình Hùng (2010), Phạm Ngọc Toàn và Đinh Thị Thanh Huyền (2015), Lê Thị Mỹ Hạnh (2015)…Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu những nhân tố tác động đến minh bạch thông tin trên BCTC, xây dựng hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin, hoặc nghiên cứu đo lường mức độ minh bạch thông tin của các công
ty sau đó đưa ra đánh giá và giải pháp Có thể thấy rằng minh bạch thông tin đã được nhiều tác giả xem xét tới nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên số nghiên cứu xem xét dưới góc độ tác động của nhận thức về minh bạch thông tin đến hành vi của nhà đầu tư vẫn còn hạn chế Cụ thể, minh bạch thông tin tài chính thể hiện qua các yếu tố cấu trúc quyền sở hữu vốn, minh bạch tài chính, cấu trúc hoạt động của HĐQT, BGĐ Do đó, nhận thấy góc độ tiếp cận này vẫn còn có thể được khai thác
và mở rộng thêm nên tác giả quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng của minh bạch
thông tin tài chính trên báo cáo tài chính đến hành vi nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP Hồ Chí Minh” Sau khi nghiên cứu đề tài này, tác
giả kỳ vọng sẽ tìm thêm được bằng chứng củng cố việc nhận thức của nhà đầu tư về tính minh bạch thông tin tài chính có ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư, để từ đó đề xuất biện pháp góp phần minh bạch hóa thông tin tài chính giúp nâng cao niềm tin của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam nói chung và trên TTCK TP.HCM nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Xác định được nhân tố ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư
Trang 12Thứ ba, đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của
nhà đầu tư trên TTCK TP.HCM
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
Q1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên
TTCK TP.HCM?
Q2: Có mối quan hệ nào giữa các nhân tố như cấu trúc quyền sở hữu vốn;
công bố thông tin minh bạch tài chính; cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ với hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK TP.HCM?
Q3: Những nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của nhà đầu
tư cá nhân trên TTCK TP.HCM?
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hành vi của nhà đầu tư cá nhân, nhận thức nhà đầu tư về ba yếu tố (gồm minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; công bố thông tin minh bạch tài chính; minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT, BGĐ)
Trang 13Về thời gian:
Toàn bộ quy trình khảo sát hành vi nhà đầu tư cá nhân được thực hiện từ tháng 8/2015 đến tháng 10/2015
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kế hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
+ Kiểm định T-test, ANOVA để kiểm định sự khác biệt của hành vi nhà đầu
tư theo đặc điểm nhân khẩu học, số năm kinh nghiệm đầu tư, phân tích tương quan,
và hồi quy tuyến tính để xem xét mức độ ảnh hưởng của biến nhận thức nhà đầu tư
về minh bạch thông tin tài chính đến hành vi nhà đầu tư
7 Ý nghĩa nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học:
Luận văn sẽ cung cấp thêm bằng chứng cho thấy hành vi nhà đầu tư cá nhân
và sự minh bạch thông tin tài chính trên BCTC có mối quan hệ với nhau không chỉ
ở tại TTCK tại Đài Loan mà còn đúng khi nghiên cứu tại thị trường Việt Nam
Ý nghĩa thực tế:
Trên cơ sở kết quả thực hiện, nghiên cứu sẽ tìm ra được luận cứ khoa học về mối quan hệ giữa minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư Từ đó tác giả sẽ đưa ra giải pháp nâng cao tính minh bạch TTTC để góp phần gia tăng niềm tin nhà đầu tư
cá nhân trên TTCK Việt Nam nói chung và trên TTCK TP HCM nói riêng
Trang 148 Điểm mới của luận văn
Kế thừa nghiên cứu của tác giả H.Fu (2006), luận văn nghiên cứu đã tiếp cận
ở khía cạnh mối quan hệ giữa nhận thức nhà đầu tư về tính minh bạch TTTC với hành vi nhà đầu tư tại thị trường Việt Nam Minh bạch thông tin trong đề tài được tác giả đề cập tới các vấn đề cụ thể là minh bạch tài chính; minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT, BGĐ
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn được kết cấu gồm 5 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trình bày tóm tắt các nghiên cứu công bố ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Từ đó nhận xét và xác định khe hổng nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư
Trình bày khái niệm, các lý thuyết có liên quan đến minh bạch thông tin và hành vi nhà đầu tư để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của sự minh bạch TTTC đối với hành vi nhà đầu tư cá nhân trên TTCK TP.HCM
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu công bố ở ngoài nước liên quan
Cho đến nay, chủ đề minh bạch thông tin đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nghiên cứu theo những khía cạnh khác nhau Nghiên cứu ở tầm vĩ mô, như giữa các quốc gia có nền kinh tế mới nổi tại Châu Á, Mỹ La tinh, Châu Âu, Trung Đông (S.Patel và cộng sự, 2002), giữa Hong Kong với Thái Lan (Cheung và cộng
sự, 2007) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề minh bạch thông tin tài chính như (Cheung và cộng sự, 2007), nghiên cứu nhận thức nhà đầu tư như (H.Fu, 2006), cũng như nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với thành quả hoạt động tiêu biểu (Bushman và Smith, 2003), (Jahanshad và cộng sự, 2014)
Theo (S.Patel và cộng sự, 2002) cho rằng, mức độ minh bạch CBTT tại thị trường Châu Á cải thiện đáng kể sau khủng hoảng thị trường vốn, tài chính, tiền tệ Đồng thời, mức độ minh bạch thông tin của thị trường Châu Á, Nam Phi cao hơn so với thị trường Mỹ LaTinh, Đông Âu, Trung Âu Tại khu vực Châu Á, khi so sánh mức độ minh bạch thông tin của hai thị trường Hong Kong và Thái Lan, (Cheung
và cộng sự, 2007) chỉ ra mặc dù hai quốc gia này là hai thị trường mới nổi có khá nhiều điểm tương đồng nhưng mức độ công bố và minh bạch thông tin vẫn có sự khác nhau Cụ thể, quy mô và cơ cấu HĐQT các CTNY có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố, minh bạch thông tin tại Thái Lan trong khi đó lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố, minh bạch thông tin tại Hong Kong Đối với nhóm nhân tố tài chính, quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo và khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ công khai của các CTNY ở Hong Kong trong khi đó lại không có ảnh hưởng đối với các CTNY ở Thái Lan
Nghiên cứu dưới góc độ nhận thức nhà đầu tư về minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư, tiêu biểu là nghiên cứu của (H.Fu, 2006), tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và hành vi nhà đầu tư đồng thời xem xét lý thuyết quản trị công ty, hiệu quả hoạt động, hành vi thương mại nhà đầu
Trang 16tư, quyết định của nhà đầu tư để từ đó đưa ra giải pháp góp phần gia tăng niềm tin nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng công cụ khảo sát bảng 20 câu hỏi, với thang đo Likert 9 điểm để đo lường nhận thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu
tư trên TTCK Đài Loan Thông qua các kỹ thuật phân tích dữ liệu như thống kê mô
tả, độ tin cậy Crobach’s anpha, hệ số tương quan, ANOVA, hồi quy đa biến trên mẫu 305 nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan, tác giả cho rằng: các yếu tố minh bạch TTTC (cấu trúc quyền sở hữu vốn, minh bạch tài chính, cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ) có tương quan tích cực đối với hành vi nhà đầu tư, trong đó biến cấu trúc hoạt động HĐQT có ảnh hưởng mạnh nhất Do đó, tác giả cho rằng nếu công ty muốn thiết lập một mối quan hệ dài hạn với nhà đầu tư thì công ty nên cung cấp nhiều thông tin liên quan tới cấu trúc hội đồng, quy trình tiến hành họp hội đồng cho các nhà đầu tư biết Ngoài ra, nhận thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC có sự khác biệt theo giới tính, thu nhập, trong khi đó không có sự khác biệt giữa độ tuổi Cụ thể, nhà đầu tư nữ có quan tâm nhiều về minh bạch TTTC hơn so với nhà đầu tư nam, đặc biệt là cấu trúc hoạt động HĐQT và minh bạch tài chính Đồng thời, hành vi của nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan không có sự khác biệt theo
số năm kinh nghiệm
Bên cạnh đó, tiếp cận theo góc độ các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin, (Cheung và cộng sự, 2007) còn chỉ ra có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin, đó là nhóm đặc điểm tài chính (quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo, khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp) và nhóm đặc điểm quản trị (quy mô, cơ cấu HĐQT, tỷ lệ giám đốc điều hành độc lập) Mức độ công bố thông tin minh bạch tài chính tại Thái Lan chịu ảnh hưởng bởi nhân tố quy mô, cơ cấu HĐQT trong khi đó mức độ công bố thông tin minh bạch tài chính tại Hong Kong chịu ảnh hưởng bởi nhân tố hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo, khả năng sinh lợi trong dài hạn Ngoài ra, hai thị trường này còn có chung một đặc điểm là đối với những công ty có tỷ lệ giám đốc điều hành độc lập càng cao thì mức độ công bố minh bạch thông tin càng cao
Trang 17Ngoài ra, nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch TTTC với hiệu quả hoạt động công ty cũng được xem xét Tiêu biểu, (Jahanshad và cộng sự, 2014) cho rằng, minh bạch thông tin và hiệu quả hoạt động có mối quan hệ tích cực với nhau khi nghiên cứu tại TTCK Tehran Hay nói cách khác, minh bạch thông tin càng cao càng giúp cải thiện tình hình tài chính của công ty
Về phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu ở ngoài nước chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, như (S.Patel và cộng sự, 2002), (Bushman và Smith, 2003), (H.Fu 2006), (Mensah và cộng sự, 2006), (cheung và cộng sự,2007), (Jahanshad và cộng sự, 2014)
1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước liên quan
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, phần lớn tập trung nghiên cứu ở khía cạnh các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tài chính, như (Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng, 2008), (Nguyễn Đình Hùng, 2010), (Lâm Thị Ngọc Cẩm, 2013), (Nguyễn Chí Hồng Ngọc, 2013), (Phạm Ngọc Toàn và Trần Thị Thanh Huyền, 2015), (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015) Tuy khía cạnh các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin được nhiều tác giả quan tâm nhưng số lượng các nhân tố được xem xét vẫn còn hạn chế, chủ yếu là các nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị Nhóm nhân tố tài chính gồm: quy mô, lợi nhuận, nợ phải trả, tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản (Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng, 2008), hiệu quả hoạt động, khả năng thanh toán, đòn bẫy tài chính (Phạm Ngọc Toàn và Trần Thị Thanh Huyền, 2015), (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015), chỉ số Q (Lâm Thị Ngọc Cẩm, 2013), (Nguyễn Chí Hồng Ngọc, 2013) Nhóm nhân tố quản trị gồm: quy mô, độc lập HĐQT, cơ cấu HĐQT, quyền sở hữu, quy mô HĐQT (Nguyễn Chí Hồng Ngọc, 2013), (Phạm Ngọc Toàn và Trần Thị Thanh Huyền, 2015), (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015)
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, những công ty có lợi nhuận, chỉ số
Q, càng cao có ảnh hưởng tích cực đến mức độ minh bạch thông tin (Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng, 2008), (Lâm Thị Ngọc Cẩm, 2013), (Phạm Ngọc Toàn và
Trang 18Trần Thị Thanh Huyền, 2015), (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015) Những công ty có quy mô càng lớn, đòn bẫy tài chính càng cao, thời gian hoạt động càng dài thì mức độ minh bạch thông tin càng cao (Phạm Ngọc Toàn và Trần Thị Thanh Huyền, 2015) Hơn nữa, những công ty có sự độc lập của HĐQT thì mức độ minh bạch thông tin càng cao (Nguyễn Chí Hồng Ngọc, 2013)
Bên cạnh đó, (Nguyễn Đình Hùng, 2010) đã xem xét vấn đề minh bạch thông tin dưới góc độ xây dựng hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công
bố của các CTNY tại Việt Nam Theo tác giả, có 6 yếu tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự minh bạch TTTC Vì vậy, để kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính của CTNY cần xây dựng một hệ thống kiểm soát bao gồm 6 nhân tố đó là: hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố BCTC, hệ thống kiểm soát nội bộ, ban giám đốc, kiểm toán độc lập, ban kiểm soát
Xét về phương pháp nghiên cứu, ban đầu các nghiên cứu ở Việt Nam sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để xem xét mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp Tuy nhiên, mức độ xem xét chỉ dừng lại ở nhận định chủ quan Ví
dụ, (Nguyễn Thị Liên Hoa, 2007) cho rằng trên TTCK vẫn còn tình trạng CBTT nhầm (kết quả hoạt động của mã chứng khoán SAM nhầm với mã chứng khoán VTC) gây thiệt hại cho nhà đầu tư; hoặc tình trạng doanh nghiệp đã niêm yết trên TTCK nhưng vẫn chưa có bộ phận chuyên trách về thông tin nên khi những sự cố bất thường xảy ra vẫn chưa kiểm soát được; cơ quan ban hành luật vẫn chưa đề cập tới những đối tượng thuộc các công ty chưa niêm yết trong các văn bản quy định CBTT nên gây khó khăn cho cơ quan chuyên trách trong công tác quản lý những đối tượng này Một nghiên cứu khác, (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2009) chỉ ra được bốn nguyên nhân khiến TTCK Việt Nam chưa thực sự minh bạch đó là: (i) tính minh bạch trong BCTC chưa được coi trọng đúng mức, (ii) chưa thực hiện đầy đủ các quy định chung của Chuẩn mực kế toán quốc tế về lập và trình bày BCTC; (iii) Trách nhiệm của các CTNY, các nhà đầu tư và các công ty kiểm toán liên quan đến tính trung thực hợp lý, công khai và minh bạch của các TTTC được công bố - chưa được xử lý đúng luật; (iv) Độ tin cậy của kết quả kiểm toán độc lập BCTC đối với
Trang 19ngân hàng thương mại Việt Nam chưa cao Sau này, các nghiên cứu đã kết hợp thêm phương pháp nghiên cứu định lượng, giúp cho việc nghiên cứu minh bạch thông tin có nhiều bằng chứng thuyết phục hơn Cụ thể, nhóm tác giả (Lê Trường Vinh và Hoàng Trọng, 2008) đã tiến hành khảo sát 30 CTNY tại sàn HOSE và tìm
ra được nhân tố lợi nhuận có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của các CTNY Tác giả (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015) sau khi phân tích định lượng kiểm định
mô hình hồi quy chỉ ra rằng: đòn bẫy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của CTNY trên TTCK TP.HCM Hoặc một nghiên cứu khác của (Nguyễn Ngọc Toàn và Trần Thị Thanh Huyền, 2015) đã tiến hành phân tích định lượng kiểm định mô hình 13 nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin CTNY Sau khi kiểm định 296 CTNY trên SGDCK TP.HCM, dữ liệu lấy từ BCTC trên website CTNY và HOSE Kết quả cho thấy có 7/13 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của CTNY, gồm: quy mô công ty, thời gian hoạt động, hiệu quả sử dụng tài sản, công ty kiểm toán, khả năng thanh toán, đòn bẫy tài chính, tình hình tài chính
Tóm lại, các nghiên cứu ở ngoài nước giai đoạn đầu tập trung nghiên cứu
minh bạch thông tin ở cấp độ vĩ mô sau này chuyển sang nghiên cứu ở tầm vi mô Nghiên cứu xem xét ở mức độ cụ thể hơn, như đo lường mức độ minh bạch, các nhân tố ảnh hưởng, nhận thức nhà đầu tư Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là định lượng Trong khi đó, tại thị trường Việt Nam, các nghiên cứu tập trung xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin Tuy nhiên số nhân tố nghiên cứu còn hạn chế, chủ yếu là nhân tố tài chính và nhân tố quản trị Phương pháp nghiên cứu ban đầu sử dụng là nghiên cứu định tính, sau này kết hợp sử dụng thêm phương pháp nghiên cứu định lượng Việc nghiên cứu nhận thức nhà đầu tư về tính minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư vẫn còn hạn chế Nhận thức nhà đầu tư về cấu trúc quyền sở hữu vốn, minh bạch thông tin tài chính, cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ có ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư trên TTCK đã được kiểm định tại thị trường Đài Loan (H.Fu, 2006) Do vậy, nhận thấy đây là khe hỗng để tác
Trang 20giả tiếp tục nghiên cứu nhằm có thêm bằng chứng bổ sung vào chủ đề nghiên cứu minh bạch thông tin tài chính tại thị trường Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI
CHÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 2.1 Một số vấn đề chung về minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu
tư cá nhân
2.1.1 Minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư
Khái niệm minh bạch thông tin tài chính
Trong nghiên cứu, khái niệm thông tin đã được nhiều tác giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Chẳng hạn, thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện dưới một hình thức có ích đối với người sử dụng để ra quyết định Thông tin có ích với việc ra quyết định của đối tượng sử dụng vì nó giảm được sự không chắc chắn
và tăng tính tri thức đối với vấn đề đang được đề cập, theo (Gelinas và Dull, 2008) Hay nói một cách đơn giản, thông tin được hiểu dưới nhiều hình thức như ngôn ngữ, chữ số, ký hiệu, biểu đồ, bảng biểu, thông số, công thức, nhận định, đánh giá…và được truyền tải dưới nhiều hình thức khác nhau như báo chí, điện ảnh, truyền thanh, truyền hình, dữ liệu điện tử đem đến cho người đọc có một sự hiểu biết, một cách nhìn nhận mới thông qua tra cứu hoặc phân tích các thông tin trong biểu đồ, sơ đồ, trên các dữ liệu điện tử để phục vụ cho nhu cầu tra cứu
Thông tin trên TTCK được tác giả Nguyễn Thúy Anh (2012) định nghĩa là
“tập hợp các số liệu, tin báo, các dữ liệu phản ánh tình hình hoạt động của TTCK,
có ảnh hưởng đến biến động giá trên TTCK giúp cho đối tượng tiếp nhận có được những quyết định nhằm đạt mục đích như mong muốn” Trong khi đó, dưới góc độ kinh tế, nhóm tác giả Trần Minh Tuấn và Bùi Thị Thanh (2014) lại định nghĩa là
“toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển nhất định, thông qua các BCTC, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai”
Cho đến nay, sự minh bạch thông tin đã được nhiều tổ chức và cá nhân định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo tổ chức Standard & Poor (S&P) định nghĩa minh bạch là “sự công bố kịp thời và phù hợp của những thành quả về hoạt động và
Trang 22tài chính của công ty cũng như các hệ thống quản trị liên quan đến cấu trúc sở hữu, BGĐ, cấu trúc và quá trình quản lý” Hoặc là, minh bạch thông tin phải phản ảnh thực tế các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của doanh nghiệp, đồng thời nhấn mạnh sự khác nhau của những rủi ro và cơ hội mà công ty đối mặt Ngoài ra, thông tin phải
dễ hiểu và so sánh được, (Blanchet, 2002) Trong một nghiên cứu khác, nhóm tác giả Bushman và cộng sự (2004) cho rằng minh bạch thông tin là “sự sẵn có của các thông tin cụ thể về công ty đối với các đối tượng bên ngoài công ty Thông tin được chia làm ba nhóm chính, gồm báo cáo công ty, sự đạt được các thông tin bí mật và
sự phổ biến của thông tin” Trong đó, sự minh bạch TTTC thông qua các báo cáo công ty được xem xét dưới năm khía cạnh: (i) mức độ CBTT; (ii) mức độ công bố
về quản trị công ty; (iii) các nguyên tắc kế toán áp dụng để đo lường CBTT; (iv) thời gian công bố BCTC; (v) chất lượng kiểm toán độc lập (Bushman và Smith, 2003) Không chỉ dừng lại ở đó, (Kulzick, 2004) đứng ở góc độ người sử dụng lại
cho rằng minh bạch TTTC phải liên quan tới ít nhất đến 8 yếu tố: Sự chính xác: thông tin phản ánh chính xác sự kiện kinh tế phát sinh; Sự nhất quán: thông tin trình bày có thể so sánh được; Sự thích hợp: thông tin có khả năng làm thay đổi quyết
định người sử dụng, giúp họ đánh giá ảnh hưởng của nghiệp vụ quá khứ, hiện tại và tương lai đến các dòng tiền trong tương lai cũng như giúp họ xác nhận hoặc điều
chỉnh hành vi trước đó; Sự đầy đủ: tất cả thông tin cần thiết cho người sử dụng phải
được công bố đầy đủ Bao gồm, có nhiều hơn các chỉ số đo lường thành quả hoạt động chính, và các thông tin khác trình bày trên BCTC cần để đánh giá chính xác vị
trí và hiệu quả hoạt động của công ty; Sự rõ ràng: thông tin được trình bày rõ ràng,
dễ hiểu cho người sử dụng; Sự kịp thời: thông tin được trình bày trong khoảng thời
gian hợp lý, hay thông tin phải luôn có sẵn trước khi thông tin giảm khả năng ảnh
hưởng đến các quyết định; Sự thuận tiện: người sử dụng có thể dễ dàng và công bằng khi truy cập tất cả các thông tin liên quan đến công ty; Quản lý và thực thi: các
chính sách phải được áp dụng đầy đủ để đảm bảo mức độ thống nhất chung về minh bạch thông tin
Trang 23Theo Bushman và cộng sự (2004), minh bạch TTTC là sự sẵn có của thông tin cụ thể về công ty cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài Nhóm tác giả này đo lường cơ chế cung cấp thông tin theo ba nhóm, cụ thể: (1) Những quy định trong BCTC của công ty gồm có: mức độ, nguyên tắc, tính kịp thời của BCTC, chất lượng kiểm toán và mức độ công khai thông tin quản trị (thông tin về mức thù lao, số cổ phần nắm giữ của cổ đông lớn…); (2) mức độ đáp ứng các thông tin riêng biệt của doanh nghiệp; (3) mức độ phổ biến của thông tin bao gồm khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông Ngoài ra, (Mironiuc và cộng sự, 2013) cũng cho rằng minh bạch TTTC liên quan đến các yêu cầu về việc tuân thủ các quy định trong khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế nhằm đảm bảo thông tin trên BCTC được trình bày một cách trung thực và hợp lý, không có những sai sót trọng yếu Hoặc cũng có thể hiểu, minh bạch TTTC là việc cung cấp các TTTC một cách tin cậy, kịp thời, đầy đủ, nhất quán và không có sai sót trọng yếu theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015)
Tóm lại, minh bạch thông tin tài chính là sự công bố thông tin một cách kịp
thời, phù hợp của những thành quả về hoạt động và tài chính công ty cũng như các
hệ thống quản trị liên quan đến cấu trúc sở hữu, ban giám đốc, cấu trúc và quá trình quản lý giúp nhà đầu tư có thể dễ dàng sử dụng để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý và hiệu quả
Minh bạch TTTC có vai trò quan trọng đối với nhiều đối tượng khác nhau Đối với người sử dụng, minh bạch TTTC mang đến niềm tin và sự bảo vệ, đồng thời giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định hợp lý và hiệu quả Đối với công ty, minh bạch TTTC giúp cho bản thân công ty giảm bớt rủi ro, gian lận BCTC, gia tăng giá trị, uy tín, giảm bớt chi phí sử dụng vốn Đối với TTCK, minh bạch TTTC giúp giá chứng khoán phản ảnh đúng giá trị nội tại, góp phần giúp TTCK hoạt động hiệu quả
và bền vững (Nguyễn Đình Hùng, 2010)
Trang 24 Khái niệm hành vi nhà đầu tư
Theo luật Chứng khoán 2006: “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và
tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên TTCK” Trong luận văn, nhà đầu
tư được hiểu là các nhà đầu tư cá nhân tham gia trên TTCK Khi tham gia trên TTCK, nhà đầu tư quan tâm chủ yếu vào ba mục tiêu chính là cổ tức, an toàn vốn và gia tăng vốn đầu tư
Hành vi nhà đầu tư trên TTCK được hiểu “chuỗi hành động của nhà đầu tư
trước các kích thích của môi trường bên ngoài có liên quan đến TTCK và các yếu tố bên trong thuộc về nhà đầu tư”, Nguyễn Đức Hiển (2012) Trong phạm vi luận văn,
khi đề cập tới hành vi nhà đầu tư được hiểu bao gồm các hoạt động mua, bán và nắm giữ cổ phiếu
Nghiên cứu của tác giả (Rezaee và cộng sự, 2003), (H.Fu, 2006) cho rằng việc minh bạch TTTC có ảnh hưởng đáng kể đối với hành vi của nhà đầu tư, trong
đó minh bạch về quy trình hoạt động và cấu trúc HĐQT có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK Một nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng hiệu quả hoạt động của HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến thành quả hoạt động công ty và mối quan hệ nhà đầu tư (Randoy và cộng sự, 2003) Hơn nữa, hiệu quả hoạt động tài chính công ty có ảnh hưởng tích cực đối với việc thu hút nhà đầu tư nên việc minh bạch TTTC công ty sẽ góp phần cải thiện được sự quan tâm và niềm tin của nhà đầu tư trên TTCK (Flouris và Walker, 2005)
2.1.2 Các văn bản hướng dẫn công bố thông tin theo quy định hiện hành
TTCK Việt Nam chính thức ra đời ngày 20/7/2000, trải qua hơn một thập kỉ hình thành và phát triển đã cho thấy vai trò quan trọng của sự quản lý và điều hành của Nhà nước, đảm bảo TTCK hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, an toàn
và hiệu quả Vai trò này thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp quy, hướng dẫn về hoạt động CBTT trên TTCK Hiện nay, việc CBTT trên TTCK chịu sự chi phối chủ yếu bởi một số văn bản pháp quy sau:
Trang 25 Luật chứng khoán năm 2006
Ngày 29/6/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật Chứng Khoán số 70/QH 11 áp dụng từ ngày 1/1/2007 bao gồm 11 chương, 136 điều quy định toàn diện các hoạt động trên TTCK Luật Chứng Khoán ra đời đã đánh dấu một bước ngoặc lớn, có ý nghĩa trong công tác quản lý, điều hành hoạt động TTCK Việt Nam Luật này đã tạo lập ra một khuôn khổ pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất cho hoạt động trên TTCK, dùng làm cơ sở giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác
có liên quan nhằm mục đích hoàn thiện mô hình hoạt động của TTCK cũng như thúc đẩy TTCK phát triển ổn định, hiệu quả Luật Chứng khoán có phạm vi điều chỉnh rộng hơn bao gồm hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và TTCK Theo luật, nguyên tắc hoạt động trên TTCK phải đảm bảo: (i) tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của tổ chức, cá nhân (ii) công bằng, công khai, minh bạch (iii) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư (iv) tự chịu trách nhiệm về rủi ro (v) tuân thủ quy định của pháp luật Ngoài ra, Luật cũng đưa ra những quy định cấm những hành vi cụ thể gây ảnh hưởng đến lợi ích của các đối tượng tham gia trên TTCK, các quy định xử phạt vi phạm cũng như chi tiết các quyền và nghĩa vụ của các đối tượng có liên quan (UBCKNN, Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán, công ty thành viên, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đại chúng…)
Sau một quá trình áp dụng Luật Chứng khoán số 70/QH11, ngày 24/11/2010, Quốc Hội đã biểu quyết thông qua Luật số 62/2010/QH12 về sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật chứng khoán Luật sửa đổi này tập trung sửa đổi, bổ sung 20 điều
và bãi bỏ 1 điều trong 136 điều của Luật chứng khoán trước đó Văn bản pháp luật này có giá trị pháp lý cao nhất, đã khắc phục được một số hạn chế trong khuôn khổ pháp luật chứng khoán Theo đó, luật sửa đổi cũng đã kiểm soát chặt hơn nghĩa vụ CBTT theo quy định, giúp nâng cao việc thực hiện nghĩa vụ này Bên cạnh đó, Luật sửa đổi cũng góp phần phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT, đảm bảo TTCK phát triển minh bạch và bền vững
Trang 26 Thông tư 52/2012/TT-BTC
Ngày 5/4/2012, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 52/2012/TT-BTC về hướng dẫn việc CBTT trên TTCK, chính thức có hiệu lực ngày 1/6/2012 thay thế cho thông tư 09/2010/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên TTCK So với thông tư số 09/2010/TT-BTC, thông tư 52/2012/TT-BTC có một số điểm siết chặt hơn về quy định thời hạn CBTT, đối tượng CBTT, kiểm toán, nghĩa vụ báo cáo thông tin đối với cổ đông lớn và cổ đông nội bộ
Về thời hạn CBTT, theo quy định bên cạnh yêu cầu công ty phải CBTT
BCTC chậm nhất là 10 ngày kể từ khi tổ chức kiểm toán ký báo cáo kiểm toán thông tư 52/2012/TT-BTC còn ràng buộc tối đa không quá 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính So với thông tư 09/2010/TT-BTC quy định trong vòng 25 ngày
kể từ ngày kết thúc quý, công ty đại chúng phải CBTT trong khi đó thông tư 52/2012/TT-BTC lại quy định thời gian ngắn hơn là 20 ngày buộc các công ty đại chúng phải CBTT Bên cạnh đó, theo thông tư 52/2012/TT-BTC quy định, đối với các thông tin có thể gây tổn thất nghiêm trọng thì trong vòng 24 giờ các tổ chức niêm yết và công ty đại chúng phải CBTT Đó là những thông tin như: bị tổn thất tài sản từ 10% vốn chủ sở hữu; quyết định, nghị quyết tăng vốn điều lệ; giá trị tài sản góp vào tổ chức khác có giá trị từ 10% tổng giá trị tài sản trở lên; hợp đồng vay hoặc cho vay có giá trị từ 50% trên tổng tài sản; cổ phiếu công ty tăng hoặc giảm trong 10 phiên liên tiếp…
Về đối tượng CBTT, khác với thông tư 09/2010/TT-BTC, thông tư
52/2012/TT-BTC không dựa trên đối tượng đã niêm yết hay chưa mà dựa vào quy
mô của doanh nghiệp để quy định nghĩa vụ CBTT Theo đó, thông tư BTC quy định, những công ty có vốn từ 120 tỷ đồng và có trên 300 cổ đông trở lên bắt buộc phải CBTT Đồng thời, thông tư còn quy định đơn vị phải bổ sung đối tượng CBTT là Trung tâm lưu ký chứng khoán
52/2012/TT-Về kiểm toán, thông tư 52/2012/TT-BTC quy định phải CBTT trong vòng 24
giờ trong các trường hợp sau: đối với các Báo cáo kiểm toán có ý kiến ngoại trừ, ý
Trang 27kiến không chấp thuận hoặc ý kiến từ chối của tổ chức kiểm toán đối với BCTC; việc công bố công ty kiểm toán đã ký hợp đồng kiểm toán BCTC năm; thay đổi công ty kiểm toán hoặc việc từ chối kiểm toán BCTC của công ty kiểm toán đó
Về nghĩa vụ báo cáo và CBTT đối với cổ đông lớn và cổ đông nội bộ, thông
tư 52/2012/TT-BTC quy định các cổ đông nội bộ phải báo cáo, CBTT trước tối thiểu 3 ngày làm việc, thời gian giao dịch chỉ được thực hiện trong vòng 30 ngày (trong khi đó quy định cũ là 2 tháng), sau đó phải báo cáo trong vòng 3 ngày và không được đăng kí mua – bán trong cùng một khoảng thời gian Đồng thời, thông
tư cũng quy định chỉ được đăng ký đợt tiếp theo sau khi đã báo cáo đợt trước đó
Tóm lại, có thể thấy rằng những thay đổi trong quy định của Nhà nước về vấn đề CBTT trên TTCK đã góp phần xây dựng một cơ chế quản lý ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn đảm bảo tăng cường tính minh bạch thông tin thị trường góp phần phát triển TTCK hiệu quả và bền vững
Thông tư 155/2015/TT-BTC
Thông tư 155/2015/TT-BTC được ban hành ngày 6/10/2015 có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2016 thay thế cho thông tư 52/2012/TT-BTC Theo đó, thông tư 155/2015/TT-BTC có một số điểm mới như sau:
Về thuật ngữ, thông tư 155/2015/TT-BTC đã bổ sung một số thuật ngữ tạo
thuận lợi trong việc công bố thông tin, như “nhà đầu tư thuộc đối tượng công bố thông tin”, “ngày hoàn tất giao dịch chứng khoán”, “số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết”, “tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng”, “tổ chức kiểm toán được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán” Ngoài ra, thông
tư này còn sửa đổi khái niệm “cổ đông nội bộ” thành “người nội bộ của công ty đại chúng”
Về người thực hiện công bố, thông tư này quy định cho phép nhà đầu tư cá
nhân ủy quyền cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đại chúng, thành viên lưu ký, trung tâm lưu ký chứng khoán thực hiện công bố thay cho mình
Trang 28Về nguyên tắc công bố thông tin, thông tư cũng bổ sung quy định công bố
thông tin bằng tiếng Anh đối với Sở giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu ký chứng khoán Các đối tượng khác cũng được khuyến khích công bố thông tin bằng tiếng Anh Tuy nhiên, trong trường hợp công bố cả tiếng Việt và tiếng Anh thì nội dung công bố bằng tiếng Anh chỉ mang tính chất tham khảo
Về công bố thông tin đại chúng, thông tư 155/2015/TT-BTC quy định trong
trường hợp công ty đại chúng không thể hoàn thành báo cáo tài chính năm do phải lập BCTC hợp nhất, hoặc BCTC năm tổng hợp; hoặc do công ty con phải lập BCTC năm có kiểm toán, BCTC năm hợp nhất hoặc BCTC năm tổng hợp thì UBCKNN xem xét gia hạn thời gian công bố BCTC năm khi có yêu cầu bằng văn bản của công ty, tối đa không quá 100 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Ngoài ra, đối với các thông tin thay đổi bất thường như: thay đổi kỳ kế toán, chính sách kế toán, khởi tố, tạm giam… thì thời gian công bố trong vòng 14 giờ, rút ngắn so với thông
tư 52/2012/TT-BTC (72 giờ) nhằm đảm bảo tính kịp thời thông tin Đặc biệt, trong thông tư 155/2015/TT-BTC còn đề cập tới việc công bố thông tin liên quan đến trách nhiệm của công ty đối với môi trường và xã hội
2.2 Các lý thuyết nền liên quan đến tính minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư
2.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng lần đầu tiên được đưa ra bởi tác giả G.A Akerlof vào năm 1970, theo ông thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin hơn bên giao dịch khác
Theo các nhà kinh tế học trường phái Keynes, bất cân xứng thông tin xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che giấu thông tin khiến người mua không có những thông tin chính xác về hàng hóa, dẫn đến giá trên thị trường hàng hóa không phản ánh đúng giá trị thực của nó Hậu quả không khuyến khích hoạt động sản xuất hàng hóa có giá trị cao mà thay vào đó là các hàng hóa có giá trị trung bình hoặc kém Bất cân xứng thông tin có thể diễn ra trước hoặc sau khi các nhà đầu tư tiến
Trang 29hành giao dịch Bất cân xứng thông tin dẫn tới hai hậu quả nghiêm trọng đó là sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Sự lựa chọn đối nghịch là rủi ro bất cân xứng xảy ra trước khi nhà đầu tư tiến hành giao dịch Lựa chọn đối nghịch được hiểu là quyết định sai lầm của một bên tham gia giao dịch mà lý do chính là bất cân xứng thông tin Khác với sự lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức xảy ra sau giao dịch khi một bên cố tình thực hiện che giấu thông tin và làm ảnh hưởng đến bên còn lại
Hiện tượng bất cân xứng thông tin trên TTCK xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin riêng lẻ hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công
ty Hoặc hiện tượng đó cũng có thể xảy ra khi nhà quản lý doanh nghiệp có nhiều thông tin so với nhà đầu tư Trên thực tế, có nhiều biểu hiện về bất cân xứng thông tin trên TTCK như: tung tin đồn thất thiệt về doanh nghiệp, rò rỉ thông tin nội gián, tạo cung cầu ảo trên thị trường, cung cấp thông tin sai sự thật…
Khi tham gia trên TTCK, các CTNY sẽ cung cấp các TTTC ra bên ngoài để nhà đầu tư có thêm thông tin trong việc ra quyết định đầu tư Tuy nhiên TTTC mà các CTNY công bố lại có sự bất cân xứng, khiến thông tin mà nhà đầu tư nhận được không như nhau (ví dụ thông tin không đầy đủ, kịp thời, không xác thực…) nên tạo
ra nhiều giao dịch rủi ro cho phía nhà đầu tư nắm ít thông tin hơn Vì những nhà đầu tư nắm ít thông tin hơn nên họ sẽ không phân biệt được đâu là cổ phiếu tốt và đâu là cổ phiếu kém Do đó nhằm hạn chế rủi ro, các nhà đầu tư đã chấp nhận mua
ở mức giá trung bình khi muốn nắm giữ một cổ phiếu nào đó Chính điều này vô hình chung khiến những cổ phiếu kém được lợi vì bán được với mức giá cao hơn so với giá trị thực trong khi đó những cổ phiếu tốt lại chịu thiệt thòi khi phải chấp nhận mức giá bán thấp hơn giá trị thực của nó Và những hoạt động này diễn ra thường xuyên khiến cho TTCK không thể hoạt động một cách hiệu quả và ổn định được Bất cân xứng thông tin trên TTCK không chỉ tác động đến nhà đầu tư mà còn tác động đến cả doanh nghiệp và cả TTCK
Bất cân xứng tác động đến nhà đầu tư: bất cân xứng thông tin khiến cho giá
cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị thực của nó Nên những nhà đầu tư (cổ đông
Trang 30chiến lược, cổ đông lớn…) có nhiều thông tin sẽ thu lợi nhiều hơn so với những nhà đầu tư có ít thông tin (cổ đông thiểu số) Hiện tượng này thể hiện cụ thể qua ví dụ rò
rỉ thông tin khi đấu giá cổ phiếu Khi đấu giá cổ phiếu lần đầu, TTGDCK phải công
bố các thông tin liên quan đến cuộc đấu giá đó (tổng số nhà đầu tư tham gia, tổng số
cổ phiếu đặt mua) nhưng không công bố cụ thể thông tin có ảnh hưởng lớn đến giá
cổ phiếu (số lượng nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài, số lượng cổ phiếu họ đặt mua) Đối với những thông tin này mặc dù không được TTGDCK công bố nhưng lại bị rò rỉ, tiết lộ cho một nhóm riêng lẻ Và nhóm này đã tính toán đưa ra được mức giá hợp lý để bỏ thầu, hưởng lợi ích nhiều hơn so với nhóm nhà đầu tư còn lại Ngoài ra, bất cân xứng thông tin còn thể hiện trong sự không công bằng giữa các nhóm nhà đầu tư (nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư cá nhân) Thực tế, những nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư tổ chức thường giành phần thắng trong các cuộc đấu giá do họ nắm nhiều thông tin hơn
Bất cân xứng thông tin tác động đến doanh nghiệp: Bất cân xứng thông tin xảy ra giữa nhà quản lý doanh nghiệp với nhà đầu tư Vì mong muốn tạo dựng hình ảnh đẹp, các CTNY đã cố tình giấu những thông tin quan trọng về tình hình hoạt động công ty, hay công bố không kịp thời, công bố sai thông tin, hay tung tin đồn khiến ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt là đối với nhà đầu tư ít kinh nghiệm Do đó, khiến niềm tin của nhà đầu tư giảm đi, và họ quyết định thay đổi kênh đầu tư chuyển sang kênh đầu tư ít rủi ro hơn như gửi tiền ngân hàng Từ đó, hệ quả kéo theo các doanh nghiệp sẽ không có vốn để hoạt động, bắt buộc phải đi vay ngân hàng với chi phí cao hơn Tóm lại, bất cân xứng thông tin khiến các CTNY đánh mất hình ảnh trước nhà đầu tư cũng như gây thiệt hại kinh tế đối với bản thân doanh nghiệp đó
Trên TTCK, những hành động tung tin đồn, sử dụng lợi thế về thông tin doanh nghiệp để làm giá cổ phiếu, thổi phồng những thông tin có lợi, cố che giấu thông tin xấu, rò rỉ thông tin nội gián, xử lý số liệu chậm, sai sót … khiến nhiều nhà đầu tư gặp nhiều rủi ro khi ra quyết định đầu tư Điều này nếu lặp lại thường xuyên
sẽ tạo bất lợi cho nhà đầu tư Trên TTCK cũng sẽ tồn tại nhiều mã chứng khoán
Trang 31kém, có giá trị thấp hơn giá trị mà nhà đầu tư sẵn sàng trả giá nên gây ra sự nhầm lẫn, rối loạn giá cổ phiếu khiến TTCK dễ có nguy cơ bị sụp đổ
Để hạn chế thông tin bất cân xứng trên TTCK, Akerlof và Spence (1973) đã đưa ra phương pháp cơ chế phát tín hiệu (signaling) Theo đó trên TTCK, phát tín hiệu là phương pháp yêu cầu CTNY phải thể hiện cho các nhà đầu tư thấy được giá trị thương hiệu, hiệu quả hoạt động và tiềm năng phát triển Ví dụ, các tập đoàn nổi tiếng thường bỏ ra khoản chi lớn cho hoạt động quảng cáo, xây dựng các chế độ bảo hành chuyên nghiệp cho khách hàng nhằm gửi thông điệp, tín hiệu tốt về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình Hay một chính sách duy trì trả cổ tức tiền mặt cao, ổn định cũng phát đi một tín hiệu tích cực lạc quan về tình hình hoạt động của công ty đến các nhà đầu tư Ngược lại một chính sách trả cổ tức bằng tiền mặt giảm, biến động của công ty hay một quyết định bán một khối lượng lớn cổ phiếu bất thường của nhà quản lý sẽ phát đi một tín hiệu tiêu cực đến nhà đầu tư về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như triển vọng tương lai của công ty đó khiến giảm đi sự quan tâm của các nhà đầu tư về công ty đó
Tóm lại, lý thuyết thông tin bất cân xứng giải thích cho những ảnh hưởng của nhận thức nhà đầu về ba yếu tố (minh bạch thông tin cấu trúc quyền sở hữu vốn; minh bạch tài chính và minh bạch cấu trúc, hoạt động HĐQT, BGĐ) đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK trong các giả thuyết ở phần tiếp theo
2.2.2 Lý thuyết người đại diện
Lý thuyết người đại diện lần đầu tiên được tác giả (Jensen & Meckling 1976) tìm ra năm 1976 Khi công ty phát triển về quy mô, chủ sở hữu không trực tiếp điều hành mà thuê mướn nhà quản lý để đại diện họ điều hành công ty Khi đó, chủ sở hữu, cổ đông (người ủy nhiệm) sẽ gánh chịu rủi ro tương ứng với số vốn góp của mình nhưng không có quyền ra quyết định về hoạt động của công ty Ngược lại, đối với bên nhà quản lý (người đại diện) mặc dù không có vốn góp, chỉ làm thuê nhưng lại có quyền trong việc ra quyết định và điều hành công ty
Trang 32Lý thuyết này cho rằng cả hai bên đều luôn muốn tối đa hóa lợi ích của mình nên người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ,
cổ đông Sự xung đột này xảy ra khi xuất hiện sự bất cân xứng thông tin giữa người chủ và người đại diện Nhằm hạn chế sự xung đột lợi ích này cần sử dụng một số cơ chế kiểm soát thích hợp như: thiết lập cơ chế đãi ngộ thỏa đáng cho nhà quản lý, xây dựng cơ chế kiểm soát ngăn chặn những hành vi bất thường của họ Việc thiết lập những cơ chế như thế sẽ nảy sinh ra nhưng chi phí đại diện cụ thể như: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí khác Chi phí giám sát là những chi phí do người chủ trả để đo lường, giám sát kiểm tra hoạt động của người đại diện, như chi phí kiểm toán, chi phí duy trì hoạt động kiểm soát và báo cáo trong công ty Chi phí ràng buộc là chi phí để thiết lập một bộ máy có thể tối thiểu hành vi quản trị không mong muốn, như bổ nhiệm thành viên bên ngoài vào ban điều hành Chi phí cơ hội
là những chi phí phát sinh khi cổ đông thuê người đại diện và buộc phải đưa ra những hạn chế, ví dụ thiệt hại do người đại diện lạm dụng quyền được giao để tư lợi, thiệt hại từ những biện pháp kiểm soát hoạt động người đại diện
Trên TTCK, các CTNY có sự tách bạch riêng biệt giữa quyền sở hữu và quản
lý Các chủ sở hữu sẽ thuê một giám đốc làm đại diện cho họ để điều hành hoạt động công ty Những giám đốc này là những người có năng lực, chuyên môn có khả năng điều hành hoạt động công ty và được nhận những khoản thù lao từ người chủ
sở hữu Lý thuyết này cho rằng cả hai bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của bản thân Trong khi chủ sở hữu mong muốn nhà quản lý điều hành hoạt động gia tăng lợi ích,
cổ tức cho họ thì ngược lại, những nhà quản lý cũng có những lợi ích cá nhân khác nên họ sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ sở hữu Chẳng hạn, nhà quản lý sẽ đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp nhưng lại mang lại lợi nhuận cho họ Nhằm hạn chế tình trạng hành vi trục lợi đó, chủ sở hữu đặt ra nhu cầu giám sát hoạt động của nhà quản lý thông qua các hoạt động giám sát, kiểm tra cụ thể dẫn đến việc gia tăng chi phí đại diện Tuy nhiên, khi gia tăng hoạt động giám sát, vấn đề công bố minh bạch thông tin sẽ được
Trang 33cải thiện hơn, từ đó các nhà đầu tư sẽ gia tăng niềm tin cũng như đưa ra những hành
vi đầu tư tích cực, tác động trở lại sẽ làm giảm chi phí đại diện
Lý thuyết người đại diện giải thích cho những ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK trong các giả thuyết ở phần tiếp theo
2.2.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin
Trên TTCK, các nhà đầu tư rất quan tâm đến nhu cầu tìm kiếm nhiều thông tin liên quan đến CTNY Nên các CTNY càng gia tăng CBTT càng thu hút sự đầu
tư vốn nhà đầu tư hiệu quả Do đó, việc CBTT sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Những doanh nghiệp nào càng tích cực CBTT thì sự quan tâm của nhà đầu
tư càng gia tăng, giá trị đầu tư sẽ gia tăng
Để minh bạch TTTC, các doanh nghiệp cần phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ để xây dựng một hệ thống xử lý, trình bày và CBTT Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn phải xem xét đến trường hợp khi doanh nghiệp tích cực CBTT như vậy sẽ gặp nhiều đối thủ cạnh tranh Những đối thủ này sẽ sử dụng các thông tin mà doanh nghiệp công bố để trục lợi Vì vậy, để tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa chi phí bỏ ra và lợi ích đạt được khi xây dựng hệ thống quản lý thông tin
Trên TTCK, áp dụng lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin cho các CTNY cho thấy các doanh nghiệp này luôn cân nhắc giữa chi phí và lợi ích Mặc dù việc gia tăng sự minh bạch TTTC sẽ có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của nhà đầu tư nhưng lại tạo ra một khoản chi phí cho doanh nghiệp khi thực hiện Hay nói cách khác, khi doanh nghiệp xây dựng một hệ thống ghi nhận, xử lý, kiểm soát, báo cáo thông tin sẽ tạo ra một gánh nặng chi phí cho hoạt động doanh nghiệp Bên cạnh đó, những đối thủ cạnh tranh sử dụng những thông tin mà doanh nghiệp công bố để hưởng lợi Vì vậy, nhằm thu hút nhà đầu tư cần phải gia tăng minh bạch TTTC, tuy nhiên mức độ minh bạch còn phụ thuộc vào sự xem xét hài hòa giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp cụ thể
Trang 34Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin giải thích ảnh hưởng nhận thức của nhà đầu tư về minh bạch TTTC đến hành vi nhà đầu tư trên TTCK trong các giả thuyết
ở phần tiếp theo
2.2.4 Lý thuyết các bên có lợi ích
Lý thuyết này lần đầu tiên được Freeman tìm ra vào năm 1984, theo lý thuyết này, quản trị công ty không chỉ làm hài lòng lợi ích cho chủ sở hữu mà còn phải làm hài lòng tất cả các bên có lợi ích liên quan khác Các bên có lợi ích liên quan bao gồm: chủ nợ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và xã hội nói chung Hay những thông tin công bố của các CTNY trên SGDCK không chỉ đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư mà còn phải đảm bảo lợi ích cho chủ nợ, ngân hàng, nhân viên, tổ chức, nhà cung cấp và xã hội Do vậy, khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư thường xem xét tất cả các thông tin khác liên quan tới các đối tượng này để có thêm cơ sở trong việc ra quyết định một cách chính xác
Ngoài ra, trong lý thuyết này còn đề cập tới khái niệm “trách nhiệm xã hội – Corporate Social Responsibility” của công ty, đây là một vấn đề đang được xã hội hiện nay quan tâm nhiều Mô hình trách nhiệm xã hội lần đầu tiên được Epstein đưa
ra vào năm 1987, tác giả cho rằng trách nhiệm xã hội bao gồm đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội công ty, sự thiếu trách nhiệm xã hội công ty Mô hình này được thiết kế nhằm giải thích mối quan hệ, tương tác giữa công ty với các bên liên quan ở bên trong lẫn bên ngoài công ty, theo (H.Fu, 2006) dẫn từ (Epstein, 1987) Bên cạnh
đó, theo Hội đồng Thương mại thế giới, "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là
sự cam kết trong việc ứng xử hợp đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung"; hay theo nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là "sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của
Trang 35người lao động và các thành viên trong gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội"
Trên TTCK, các CTNY phải công bố TTTC cho các đối tượng bên ngoài (bao gồm nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ, cơ quan quản lý…), có thể thấy rằng mối quan hệ đã được mở rộng ra cho nhiều đối tượng, không chỉ giữa CTNY với nhà đầu tư mà còn với các đối tượng khác (giữa CTNY với ngân hàng, CTNY với chủ
nợ, …) Để đảm bảo lợi ích cho các đối tượng liên quan, TTTC mà CTNY công bố phải đảm bảo công bố kịp thời, trung thực, hợp lý cho các đối tượng đó TTTC trình bày trên BCTC là một kênh thông tin quan trọng được các đối tượng có liên quan sử dụng trong việc ra quyết định, do đó yêu cầu cần phải kiểm toán BCTC trước khi công bố Các nhà đầu tư sẽ quan tâm mức độ minh bạch TTTC của CTNY thể hiện qua sự sai lệch số liệu trước và sau BCTC có đáng kể không Nếu kết quả hoạt động kinh doanh tốt và số liệu sai lệch không đáng kể thì các đối tượng có sử dụng BCTC (bao gồm nhà đầu tư) sẽ an tâm sử dụng và ra quyết định đầu tư Bên cạnh đó, hoạt động trách nhiệm xã hội ngày nay cũng được xã hội quan tâm, đặc biệt là các nhà đầu tư có chiến lược đầu tư dài hạn Vì thế, các nhà quản lý của CTNY bên cạnh chú trọng lợi nhuận, còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội Cụ thể, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thể hiện trong việc trình bày trung thực TTTC, không che giấu các khoản giao dịch nội bộ quan trọng, các giao dịch liên quan, cung cấp BCTC kịp thời cho các đối tượng sử dụng BCTC, đảm bảo thông tin mà các đối tượng nhận được là công bằng nhau, thực hiện các cam kết đối với xã hội Các CTNY có quan tâm cả thành công về tài chính và trách nhiệm xã hội sẽ được nhà đầu tư đánh giá cao, theo đó họ sẽ quan tâm nhiều hơn và có những hành vi tích cực hơn Ngược lại, những nhà quản lý CTNY quá tập trung vào lợi nhuận, bỏ qua trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội (ví dụ cố tình công bố chậm thông tin quan trọng bất thường ảnh hưởng đến tình hình hoạt động doanh nghiệp, các giao dịch các bên liên quan để hưởng lợi nhất thời, có sự rò rĩ thông tin ra bên ngoài, có ưu tiên cung cấp nhiều thông tin cho các cổ đông lớn hơn so với các cổ đông thiểu
Trang 36số…) sẽ là những tín hiệu xấu ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu tư, từ đó khiến các nhà đầu tư giảm sự quan tâm và đầu tư vào những doanh nghiệp đó
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư, theo nghiên cứu của (Waring và Lewer, 2004) cho rằng có sự tồn tại mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội, thành quả hoạt động công ty và sự quan tâm của nhà đầu tư khi họ thiết lập một danh mục đầu tư trong dài hạn Ở một nghiên cứu khác của (MCGuire và cộng sự, 2003) cho rằng việc công ty cải thiện hiệu quả hoạt động công ty có thể cải thiện được hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội công ty và từ đó thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư tổ chức; ngoài ra nhóm tác giả (Snider và cộng sự, 2003) đã nhấn mạnh việc công ty tích cực cải thiện, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội có thể cải thiện được thành quả hoạt động công ty Và khi thành quả hoạt động (lợi nhuận) được cải thiện sẽ có tác động đến sự thu hút nhà đầu tư (Flouris và Walker, 2005)
Lý thuyết các bên có lợi ích giải thích ảnh hưởng của nhận thức nhà đầu tư về minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK trong giả thuyết nghiên cứu ở phần tiếp theo
2.2.5 Lý thuyết hành động hợp lý
Lý thuyết hành động hợp lý được Ajzen và Fishbein đưa ra từ năm 1975 cho rằng yếu tố quyết định hành vi con người là ý định thực hiện hành vi đó Ý định thực hiện hành vi được quyết định bởi hai nhân tố: thái độ của một người về hành vi (thái độ) và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi (tiêu chuẩn chủ quan) Thái
độ của cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả hành vi
đó Còn tiêu chuẩn chủ quan là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng
cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi đó
Tác giả (H.Fu, 2006) dẫn từ (Ajzen và Fishbein, 1980) tiếp tục củng cố phát triển lý thuyết hành động hợp lý để dự đoán những ý định hành vi con người Lý thuyết này kết hợp các hệ thống thuộc sinh lý, tâm lý và hành vi với vai trò lý thuyết Mô hình lý thuyết hành động hợp lý giải thích việc con người tổ chức những
Trang 37hành vi của mình bởi những ý định (những quyết định ban đầu trong suy nghĩ) và chuyển đổi ý định đó thành hành động Khi con người nhận được thông tin có liên quan tới những ý định của mình thì họ sẽ thay đổi quyết định đó và sẽ phản ánh trong những hành động của họ
Tác giả (H.Fu, 2006) dẫn từ (Danaldson và Davis, 1994) cho rằng việc nhóm quản lý cấp cao của công ty thực hiện những chính sách quản lý, điều hành công ty phát triển tích cực sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tình hình hiệu quả hoạt động của công
ty Những kết quả hoạt động công ty được thể hiện qua các chỉ số tài chính trên BCTC, kết quả các cam kết về trách nhiệm xã hội của những người đứng đầu công
ty Và hành vi của nhà đầu tư sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động đó
Ủng hộ với kết quả này, (Uddin và Gillent, 2002) tiếp tục bổ sung thêm bằng chứng Nhóm tác giả cho rằng những quy định, quản trị công ty, hiệu quả hoạt động, cơ cấu lương thưởng (compensation Structure) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định và hành động nhà đầu tư Thái độ của công ty và nhà đầu tư được kỳ vọng có tương quan mạnh mẽ với nhau Thái độ công ty tích cực sẽ thúc đẩy tác động trực tiếp tới thái độ nhà đầu tư cũng như ảnh hưởng đến hành vi của họ trên TTCK Ngược lại, thái độ công ty tiêu cực sẽ làm nhà đầu tư thận trọng xem xét lại chứng khoán của công ty đó trong danh mục đầu tư của mình
Hành vi của nhà đầu tư trên TTCK được giải thích bởi lý thuyết hành động hợp lý Cụ thể, hành vi của nhà đầu tư trên TTCK chịu sự chi phối bởi hai nhân tố
là thái độ và tiêu chuẩn chủ quan của nhà đầu tư Trong đó, yếu tố thái độ thể hiện qua nhận thức của nhà đầu tư về tính minh bạch TTTC, như tình hình cấu trúc quyền sở hữu vốn; thông tin tình hình kinh doanh; cấu trúc, hoạt động của HĐQT, BGĐ Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm nhận định của các chuyên gia tư vấn, nhà môi giới chứng khoán, người thân, bạn bè… Chẳng hạn, khi nhà đầu tư nhận thức mức
độ minh bạch TTTC của công ty mình quan tâm là tốt (thể hiện qua các chỉ số tài chính trên BCTC, khả năng sinh lời, chính sách trả cổ tức bằng tiền mặt cao, ổn định…) cũng như theo các nhận định của các chuyên gia tư vấn, môi giới chứng
Trang 38khoán, người thân, bạn bè,…cho rằng họ nên đầu tư Các nhà đầu tư kỳ vọng công
ty mình quan tâm có khả năng sinh lời và tăng trưởng trong tương lai thì họ sẽ có ý định hành vi đầu tư vào công ty đó cao hơn
Lý thuyết hành động hợp lý giải thích cho ảnh hưởng của nhận thức nhà đầu
tư về minh bạch TTTC trên BCTC đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK trong giả thuyết ở phần tiếp theo
2.2.6 Một số lý thuyết và nguyên lý cơ bản của Tài chính hành vi
Lý thuyết kỳ vọng
Lý thuyết này cho thấy nhà đầu tư đánh giá cao khả năng bù đắp một khoản
lỗ hơn là khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận Cụ thể, khi một khoản đầu tư có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai thay vì tiếp tục đầu tư để gia tăng lợi nhuận thì nhà đầu tư lại muốn nắm chắc khoản lợi nhuận hiện tại Trong khi đó, đối với những khoản đầu tư đang thua lỗ, thì họ lại tiếp tục duy trì đầu tư và kỳ vọng cổ phiếu của họ sẽ phục hồi trở lại
Trên TTCK, thông tin tài chính do thị trường cung cấp rất quan trọng Khi nhà đầu tư nhận được thông tin lạc quan thì họ sẽ chào bán cổ phiếu khi giá cổ phiếu tăng Vì họ cho rằng, giá cổ phiếu hiện tại đã phản ánh đầy đủ thông tin này
Và khi họ cảm thấy họ đạt được lợi nhuận mong muốn thì họ sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích tiếp xem những cổ phiếu đó có khả năng sinh lợi trong tương lai hay không
Lý thuyết tâm lý đám đông
Làm theo đám đông là một hiện tượng xảy ra đối với những nhà đầu tư cá nhân không có kinh nghiệm lẫn có kinh nghiệm Khi một tình huống ra quyết định xảy ra không chắc chắn thì họ có xu hương hành động theo đám đông Lý thuyết hành động hợp lý thể hiện rõ hơn trong trường hợp nhà đầu tư buộc phải ra quyết định đầu tư khi chưa có đầy đủ thông tin Có thể thấy rằng, theo lý thuyết cho rằng khi con người đối đầu với những phán đoán của một nhóm lớn thì họ có xu hướng
Trang 39thay đổi quyết định của mình vì họ cho rằng tất cả những người khác có thể không sai
Tính bảo thủ
Khi nền kinh tế thay đổi nhà đầu tư thường có xu hướng phản ứng chậm với những thay đổi đó, gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một giai đoạn dài trước đó Cụ thể, khi nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng đây chỉ là tình trạng tạm thời và sẽ ổn định tăng lên trong dài hạn mà không hề nghĩ rằng đó có thể là tín hiệu cho thấy một chu kỳ suy thoái nhiều năm bắt đầu Nếu tình hình kinh tế không có dấu hiệu khả quan trong thời gian dài thì họ sẽ ồ ạt đi bán cổ phiếu Hậu quả, dẫn đến những phản ứng thái quá
Không yêu thích rủi ro
Tính không cân xứng giữa giá trị mà con người kỳ vọng vào lợi nhuận và thua lỗ được gọi là ghét rủi ro Đã có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho rằng, thua
lỗ được cân nặng gấp nhiều lần so với lợi nhuận Vì thế mà có tình trạng nhà đầu tư
có xu hướng giữ vị thế lỗ lâu hơn với hy vọng giá có phiếu sẽ phục hồi Không yêu thích rủi ro có thể giải thích xu hướng nhà đầu tư giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán có lời quá sớm
Kết luận chương 2
Chương 2 đã trình bày khái niệm minh bạch thông tin, khái niệm hành vi nhà đầu tư, các quy định pháp luật liên quan quy định CBTT trên TTCK, và các lý thuyết liên quan đến minh bạch TTTC, hành vi nhà đầu tư Từ những lý thuyết nền này, luận văn tiến hành xây dựng khung phân tích nghiên cứu ở chương tiếp theo
Trang 40CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của luận văn được tóm tắt qua hình vẽ như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu của luận văn
Nguồn: nghiên cứu của tác giả
Xác định mô tả vấn đề nghiên cứu
(Vấn đề, câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu; Ý nghĩa, giới hạn, phạm vi nghiên cứu)
Cơ sở lý thuyết
(Lý thuyết liên quan đến minh bạch thông tin và hành vi nhà đầu tư.)
Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
(Lựa chọn mô hình phù hợp, hình thành giả thuyết)
Thiết kế nghiên cứu
(Phương pháp chọn mẫu, thu thập, phân tích dữ liệu)
- Nghiên cứu định tính: Thảo luận tay đôi để điều chỉnh thang đo các biến đo lường
- Nghiên cứu định lượng: phân tích, đo lường mức độ mối quan hệ giữa các biến
Phân tích dữ liệu, kiểm định giả thuyết
- Crobach’s anpha và EFA (loại các biến có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ,
kiểm tra hệ số anpha, loại các biến có trọng số EFA nhỏ, kiểm tra yếu tố và phương sai trích được)
- Hồi quy tuyến tính: đo lường mối quan hệ tuyến tính của biến độc lập với biến
phụ thuộc
- Kiểm định T-test và ANOVA: kiểm định sự khác biệt biến hành vi nhà đầu tư
theo các biến định danh tuổi, giới tính, thu nhập, kinh nghiệm
Trình bày kết quả
Viết báo cáo