Xét ở mỗi gen, chỉ một mạch của chuỗi xoắn kép là mang thông tin và được gọi là mạch khuôn dùng để tạo ra phân tử ARN mang trình tự bổ trợ để điều khiển quá trình tổng hợp chuỗi polypept
Trang 1Một số vấn đề về di truyền học
Kiến thức bổ sung và cập nhật kiến
thức mới về Di truyền học Hữu ích
cho giáo viên và học sinh, xin giới
thiệu cùng các bạn đồng nghiệp và
các bạn học sinh
I GEN
I 1 Về khái niệm
Các thông tin di truyền sinh vật cần
cho quá trình sinh trưởng, phát triển
và sinh sản nằm trong phân tử ADN
của nó Những thông tin này nằm
trong trình tự nucleotit của ADN và
Trang 2được tổ chức thành các gen Mỗi gen thường chứa thông tin để tổng hợp
một chuỗi polypeptit hoặc một phân
tử ARN có chức năng riêng biệt Xét
về cấu trúc, mỗi gen là một đoạn
ADN riêng biệt mang trình tự bazơ
thường mã hoá cho trình tự axit amin của một chuỗi polypeptit Các gen rất khác nhau về kích thước, có thể từ
dưới 100 cặp đến vài triệu cặp bazơ ở sinh vật bậc cao, các gen hợp thành các phân tử ADN rất dài nằm trong các cấu trúc được gọi là nhiễm sắc
thể ở người có khoảng 30.000 -
40.000 gen phân bố trên 23 cặp NST, trong đó có 22 cặp NST thường
(autosome) và 1 cặp NST giới tính (X
và Y) Như vậy, ở người có 24 loại
NST khác nhau Trên nhiễm sắc thể, các gen thường nằm phân tán và cách
Trang 3biệt nhau bởi các đoạn trình tự không
mã hóa Các đoạn trình tự này được gọi là các đoạn ADN liên gen ADN liên gen rất dài, như ở người các gen chỉ chiếm dưới 30% toàn bộ hệ gen Xét ở mỗi gen, chỉ một mạch của
chuỗi xoắn kép là mang thông tin và được gọi là mạch khuôn dùng để tạo
ra phân tử ARN mang trình tự bổ trợ
để điều khiển quá trình tổng hợp
chuỗi polypeptit Mạch kia được gọi
là mạch không làm khuôn Cả hai
mạch trên phân tử ADN đều có thể được dùng làm mạch để mã hoá cho các gen khác nhau Ngoài ra, người ta còn dùng một số thuật ngữ khác để chỉ mạch khuôn và mạch không làm khuôn, như mạch đối nghĩa / mạch
mang nghĩa, mạch không mã hoá /
mạch mã hoá Cần chú ý là, mạch đối
Trang 4nghĩa và mạch không mã hóa chính là mạch khuôn để tổng hợp phân tử
ARN
Khả năng lưu giữ thông tin di truyền của ADN là rất lớn Với một phân tử ADN có n bazơ sẽ có 4n khả năng tổ hợp trình tự bazơ khác nhau Trong thực tế, chỉ một số lượng hạn chế các trình tự mang thông tin có ích (thông tin mã hóa các phân tử ARN hoặc
protein có chức năng sinh học)
I 2 Về tổ chức của gen
Hầu hết các gen phân bố ngẫu nhiên trên nhiễm sắc thể, tuy nhiên có một
số gen được tổ chức thành nhóm,
hoặc cụm Có hai kiểu cụm gen, đó là các operon và các họ gen
Trang 5Operon là các cụm gen ở vi khuẩn
Chúng chứa các gen được điều hoà hoạt động đồng thời và mã hoá cho các protein thường có chức năng liên quan với nhau Ví dụ như operon lac
ở E coli chứa ba gen mã hoá cho các enzym mà vi khuẩn cần để thủy phân lactose Khi có lactose làm nguồn
năng lượng (và vắng mặt glucose) thì
vi khuẩn cần ba enzym do operon lac
mã hoá Sự dùng chung một trình tự khởi đầu phiên mã (promoter) của các gen trong operon (hình 1) cho phép các gen đó được điều khiển biểu hiện đồng thời và sinh vật có thể sử dụng nguồn năng lượng một cách hiệu
quả.Ở các sinh vật bậc cao không có các operon, các cụm gen được gọi là các họ gen Không giống như các
Trang 6operon, các gen trong một họ gen rất giống nhau, nhưng không được điều khiển biểu hiện đồng thời Sự cụm lại của các gen trong họ gen có lẽ phản ánh nhu cầu cần có nhiều bản sao của những gen nhất định và xu hướng lặp đoạn của nhiều gen trong quá trình
tiến hóa Một số họ gen tồn tại thành nhiều cụm riêng biệt trên nhiều nhiễm sắc thể khác nhau Hiện tượng này có
lẽ là do sự tái cấu trúc ADN trong quá trình tiến hoá đã phá vỡ các cụm gen Các họ gen có thể có cấu trúc đơn
giản hoặc phức tạp ở các họ gen đơn giản, các bản sao của gen giống hệt nhau Ví dụ như họ gen mã hóa ARN ribosom 5S (rARN 5S) ở mỗi tế bào người, có khoảng 2000 cụm gen của gen này, phản ánh tế bào cần số lượng lớn sản phẩm của gen này (hình 2a)
Trang 7Trong khi đó, các họ gen phức tạp chứa các gen tương tự nhưng không giống hệt nhau Ví dụ như họ gen
globin ở người mã hóa cho cho các chuỗi polypeptit tương ứng với các loại globin a, b, g, e, và z (hình 2b) chỉ khác nhau vài axit amin Các
chuỗi polypeptit globin tương tác với nhau thành một phức hệ, và kết hợp với các phân tử hem để tạo ra
hemoglobin (một loại protein vận
chuyển oxy trong máu)
Trang 8
I.3 Trình tự khởi đầu phiên mã
(promoter)
Sự biểu hiện của gen được điều khiển
rất chặt chẽ Không phải tất cả các
gen có trong ADN của tế bào đều
được biểu hiện đồng thời Những gen
khác nhau được hoạt hoá biểu hiện
vào những thời điểm và ở những tế
bào khác nhau Tất cả các gen được
biểu hiện trong một tế bào sẽ xác định
đặc tính và chức năng của tế bào đó
Ví dụ, các gen biểu hiện trong tế bào
Trang 9cơ khác với các gen được biểu hiện trong tế bào máu Sự biểu hiện của
gen được điều khiển bắt đầu từ một đoạn trình tự ADN đứng trước (nằm ngược dòng về phía đầu 5’) so với
đoạn trình tự mã hóa được gọi là trình
tự khởi đầu phiên mã (promoter, còn gọi là trình tự khởi động) Đoạn trình
tự khởi động chứa trình tự đặc hiệu được ARN polymerase và các protein đặc biệt gọi là các yếu tố phiên mã
nhận biết để gắn vào trong quá trình phiên mã của gen Mức độ biểu hiện của gen trong tế bào được xác định bằng mức độ gắn kết (ái lực) của
ARN polymerase và các yếu tố phiên
mã với promoter
I 4 xon và ntron
Trang 10Ở các sinh vật bậc cao (sinh vật nhân chuẩn), thông tin di truyền mã hoá
trên các NST thường bị phân cắt
thành nhiều đoạn trình tự ADN cách biệt được gọi là các exon Các exon bị ngăn cách bởi những trình tự không mang thông tin có ích được gọi là các intron Số lượng các intron trong một gen biến động lớn, có thẻ từ 0 đến
trên 50 phân đoạn Độ dài của các
intron và exon cũng rất biến động,
nhưng các intron thường dài hơn và chiếm phần lớn trình tự của gen
Trước khi thông tin trong gen được sử dụng để tổng hợp phân tử protein
tương ứng, thì các intron phải được
cắt bỏ khỏi phân tử ARN nhờ quá
trình được gọi là quá trình cắt bỏ (quá trình hoàn thiện phân tử mARN)
Trong quá trình đó, các exon được giữ
Trang 11lại và nối lại với nhau thành một trình
tự mã hoá liên tục
Việc xác định các intron trong trình tự một gen có thể thực hiện được nhờ
các intron điển hình có trình tự bắt
đầu là 5’-GU và kết thúc là AG- 3’ Tuy vậy, thực tế ngoài những dấu
hiệu này, việc cắt bỏ các intron còn
cần các trình tự khác ở vùng nối giữa intron và exon (xem thêm mục I.1)
I 6 Gen giả (pseudogene)
Có một số gen giống với các gen khác
Trang 12nhưng trình tự bazơ của chúng có
những sai sót làm cho chúng không có khả năng chứa những thông tin sinh học hữu ích Những gen đó được gọi
là những gen giả và những sai sót
hoặc đột biến trong trình tự ADN của chúng xuất hiện trong quá trình tiến hoá làm thông tin bị lẫn lộn đến mức không còn điều khiển quá trình sinh tổng hợp protein bình thường được
nữa Những gen giả là dấu vết của quá trình tiến hoá Trải qua tiến hoá,
những sự biến đổi ban đầu các bazơ gây mất thông tin được lặp đi lặp lại đến mức thậm chí trình tự bazơ của
các gen giả khác hẳn với trình tự gen gốc ban đầu Ví dụ như các gen
globin giả trong các cụm gen globin