1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo tài chính

112 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • DANH MỤC HÌNH VẼ

  • PHẦN MỞ ĐẦU

    • 1. Tính cấp thiết của đề tài

    • 2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

    • 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

    • 4. Phƣơng pháp nghiên cứu

    • 5. Đóng góp mới của đề tài

    • 6. Kết cấu của đề tài

  • Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

    • 1.1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài

      • 1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC

      • 1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin trên BCTC.

        • 1.1.2.1. Các yếu tố bên ngoài

        • 1.1.2.2. Các yếu tố bên trong

    • 1.2. Các nghiên cứu ở trong nƣớc

      • 1.2.1. Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC

      • 1.2.2. Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin trên BCTC

        • 1.2.2.1. Các yếu tố bên ngoài

        • 1.2.2.2. Các yếu tố bên trong

    • 1.3. Nhận xét tổng quan nghiên cứu và hƣớng nghiên cứu của luận văn

      • 1.3.1. Nhận xét

      • 1.3.2. Hƣớng nghiên cứu của luận văn

    • Tóm tắt chƣơng 1

  • Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    • 2.1. Lý thuyết nền

      • 2.1.1. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information)

      • 2.1.2. Lý thuyết ủy quyền

    • 2.2. Chất lƣợng thông tin kế toán

      • 2.2.1. Chất lƣợng

      • 2.2.2. Chất lƣợng thông tin

      • 2.2.3. Chất lƣợng thông tin kế toán

        • 2.2.3.1. Chất lƣợng thông tin kế toán theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế

        • 2.2.3.2. Chất lƣợng thông tin kế toán theo quan điểm của hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ

        • 2.2.3.3. Theo chuẩn mực kế toán số 01 Việt Nam (VAS 01)

        • 2.2.3.4. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu

    • 2.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đên chất lƣợng thông tin BCTC

      • 2.3.1. Công tác kế toán

      • 2.3.2. Khung pháp lý cho kế toán

    • 2.4. Đặc điểm của DNNVV ở Việt Nam và mối quan hệ với thông tin trình bày trên BCTC.

      • 2.4.1. Định nghĩa

      • 2.4.2. Đặc điểm DNNVV và mối quan hệ thông tin trình bày trên BCTC

    • Tóm tắt chƣơng 2:

  • Chƣơng 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu

      • 3.1.1. Phƣơng pháp chung

      • 3.1.2. Khung nghiên cứu của luận văn

    • 3.2. Thiết kế nghiên cứu

      • 3.2.1. Xây dựng thang đo

      • 3.2.2. Các giả thuyết nghiên cứu

      • 3.2.3. Mẫu nghiên cứu

        • 3.2.3.1. Phƣơng pháp chọn mẫu

        • 3.2.3.2. Cỡ mẫu

        • 3.2.3.3. Đối tƣợng và phạm vi khảo sát

      • 3.2.4. Thiết kế bảng câu hỏi

      • 3.2.5. Phân tích dữ liệu

      • 3.2.6. Công cụ phân tích dữ liệu

    • Tóm tắt chƣơng 3

  • Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    • 4.1. Thống kê mô tả mẫu khảo sát

    • 4.2. Phân tích hệ số Cronbach’s alpha

    • 4.3. Phân tích khám phá EFA

      • 4.3.1. Phân tích khám phá thang đo các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin trình bày trên báo cáo tài chính

      • 4.3.2. Phân tích khám phá thang đo chất lƣợng thông tin trình bày trên báo cáo tài chính

    • 4.4. Mô hình hiệu chỉnh sau khi phân tích nhân tố

    • 4.5. Phân tích hồi qui tuyến tính bội

      • 4.5.1. Xác định biến độc lập và biến phụ thuộc

      • 4.5.2. Phân tích tƣơng quan

      • 4.5.3. Hồi qui tuyến tính bội

      • 4.5.4. Kiểm tra các giả định hồi qui

      • 4.5.5. Kiểm định độ phù hợp mô hình và hiện tƣợng đa cộng tuyến

      • 4.5.6. Phƣơng trình hồi qui tuyến tính bội

      • 4.5.7. Tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết

    • 4.6. Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính trong đánh chất lƣợng thông tin trình bày trên báo cáo tài chính.

      • 4.6.1. Kiểm định sự khác biệt về số lƣợng nhân viên

      • 4.6.2.Kiểm định sự khác biệt về tổng nguồn vốn kinh doanh

      • 4.6.3.Kiểm định sự khác biệt về chế độ kế toán

    • 4.7. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

      • 4.7.1. Chất lƣợng thông tin trên BCTC của các DNNVV ở TP. Hồ Chí Minh

      • 4.7.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin trên BCTC của các DNNVV ở TP. Hồ Chí Minh

    • Tóm tắt chƣơng 4

  • Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

    • 5.1. Kết luận

    • 5.2. Một số khuyến nghị

      • 5.2.1. Đối với nhân tố Bộ máy kế toán

      • 5.2.2. Đối với nhân tố Mục tiêu lập BCTC

      • 5.2.3. Đối với nhân tố Nhà quản lý

      • 5.2.4. Đối với nhân tố Thuế

      • 5.2.5. Đối với nhân tố Hệ thống tài khoản kế toán

      • 5.2.6. Đối với nhân tố Hình thức sổ sách kế toán

      • 5.2.7. Đối với nhân tố Hệ thống chứng từ kế toán

      • 5.2.8. Đối với Chế độ kế toán hiện nay

    • 5.3. Hạn chế của nghiên cứu và hƣớng nghiên cứu tiếp theo

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC 01:BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

  • PHỤ LỤC 04:DANH SÁCH CÁC CHUYÊN GIA ĐƢỢC PHỎNG VẤN

  • PHỤ LỤC 05: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƢỢNG

Nội dung

Kết quả trên cũng phù hợp với thực trạng hiện nay ở Việt Nam, người sử dụng thông tin kế toán tài chính cũng như người lập thông tin đều ít quan tâm hay chưa thực sự quan tâm nhiều đến k

TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC

Nghiên cứu của Robert M.Bushman and Abbie J Smith (2003) nghiên cứu về chất lƣợng TTKT đã cho thấy một cách toàn diện hơn khi lƣợng hóa chất lƣợng TTKT theo 3 nhóm sau:

- Lƣợng hoá chất lƣợng lập BCTC của công ty, gồm điểm mạnh, nguyên tắc đo lường, đúng kỳ và niềm tin (như chất lượng kiểm toán) của việc công bố thông tin nội bộ của công ty;

- Lƣợng hoá điểm mạnh trong cung cấp thông tin khác bao gồm việc phân tích và chiến lƣợc kinh doanh, giao dịch nội bộ;

- Lƣợng hóa chất lƣợng về công bố thông tin rộng rãi

Ferdy van Beest (2009), đánh giá rằng nghiên cứu chất lƣợng TTKT dựa vào các khoản mục cụ thể trên BCTC thường niên bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chính, song nó không lượng hóa toàn diện chất lượng BCTC, phương pháp được coi là lƣợng hóa toàn diện chất lƣợng thông tin KTTC thông qua các BCTC là phương pháp lượng hóa các tiêu chuẩn của thông tin KTTC được trình bày trên BCTC Nghiên cứu này dựa vào các đặc tính chất lƣợng TTKT theo yêu cầu của FASB và IASB và các ưu nhược điểm của nghiên cứu trước để xây dựng mô hình đánh giá chất lƣợng BCTC gồm 21 biến quan sát và 5 tiêu chuẩn đó là: Tính thích hợp, trung thực, dễ hiểu, có thể so sánh đƣợc, kịp thời Mô hình này đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước áp dụng để kiểm tra đánh giá chất lượng BCTC

Theo nghiên cứu của Maines L.A (2003), nghiên cứu đi sâu vào phân tích đặc tính “Đáng tin cậy” của thông tin trên BCTC, phương pháp mà nhóm tác giả sử dụng để đánh giá về đặc tính đáng tin cậy này là bao gồm: so sánh các số liệu kế toán với chuẩn mực kế toán, xem xét vấn đề công bố lại các thông tin kế toán, so sánh các ước tính kế toán và nhận biết dòng tiền tương lai, nhận biết sự đáng tin cậy của những thông tin kế toán thông qua việc sử dụng các thông tin này Bài nghiên cứu này nhằm giúp cho các nhà làm chính sách xây dựng chuẩn mực, người sử dụng thông tin có thể xác định những yếu tố góp phần tăng độ đáng tin cậy của thông tin BCTC

Davood Khodadady (2012), nghiên cứu tại 49 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước và ngân hàng tư nhân ở Ấn Độ về đặc tính “Sự thích hợp” thông tin BCTC, tác giả sử dụng phương pháp thang đo Likert 5 điểm để đo lường danh mục gồm 14 yếu tố có ảnh hưởng đến sự thích hợp của thông tin BCTC, trong đó 10 yếu tố liên quan đến giá trị dự báo và 4 yếu tố liên quan đến sự xác nhận Kết quả của nghiên cứu cho thấy là thông tin BCTC của các ngân hàng tƣ nhân thích hợp hơn thông tin BCTC của các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước

Nelson và cộng sự (2005), đã xác định các đặc điểm của hệ thống và chất lƣợng thông tin, bốn đặc tính của chất lƣợng thông tin là: tính chính xác, đầy đủ, thích hợp và có thể hiểu đƣợc Bằng một nghiên cứu thực nghiệm nhóm tác giả tiến hành khảo sát 465 người sử dụng kho dữ liệu Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tính chính xác là đặc trƣng chất lƣợng thông tin quan trọng nhất, kế đến là tính đầy đủ

Chất lƣợng thông tin BCTC còn đƣợc nhiều nhà nghiên cứu nhƣ Barth (2008), Cohen (2004), Schipper (2003) lƣợng hóa gián tiếp thông qua các thành phần có ảnh hưởng tới chất lượng BCTC như hành vi quản trị lợi nhuận, BCTC được công bố lại và thời hạn công bố BCTC Điều chỉnh lợi nhuận là một kế hoạch của nhà quản lý công ty nhằm tác động đến lợi nhuận nhằm công bố số lợi nhuận đáp ứng được mục tiêu đã xác định trước đó Điều chỉnh lợi nhuận có thể được thực hiện theo một trong hai cách: tăng lợi nhuận hoặc giảm lợi nhuận (Miettinen J, 2008) Điều chỉnh lợi nhuận đƣợc thực hiện có thể liên quan đến các khoản khuyến khích vật chất cho nhà quản lý công ty hoặc cũng có thể nhằm đảm bảo các điều khoản của hợp đồng tín dụng Khi nói đến điều chỉnh lợi nhuận thì không chỉ nói đến việc tác động bằng các con số thông qua các phương pháp kế toán mà còn thông qua các giao dịch trong hoạt động kinh tế Điển hình cho quan điểm chất lƣợng BCTC liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận là: Ali Shah S.Z et al (2009), Ebraheem

Saleem Salem Alzoubi (2012), Leila Hussein Amer, Naser Abdelkarim (2012), Gulzar M.A (2011)

Huang Zhizhong và Zhang Juan (2011), thông qua phương pháp lựa chọn các công ty công bố lại BCTC cho thấy công bố lại BCTC là trường hợp công bố BCTC nhằm cung cấp sự khẳng định về những sai sót trọng yếu mà doanh nghiệp đã công bố trong BCTC trước đây Điều này có nghĩa là BCTC công bố lại sẽ cho thấy dấu hiệu rõ ràng là BCTC đã công bố trước đây là không trung thực, thể hiện chất lượng BCTC thấp

1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC

1.1.2.1 Các yếu tố bên ngoài

N.Klai (2011), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Tunis trong giai đoạn 1997-2007, cơ chế quản trị công ty ảnh hưởng tới chất lượng thông tin KTTC của các CTNY Tunisi Kết quả cho thấy, ảnh hưởng của nhà đầu tư nước ngoài, yếu tố sở hữu gia đình và tổ chức đầu tƣ làm giảm chất lƣợng BCTC, trong khi đó sự kiểm soát từ phía nhà nước và các tổ chức tài chính có tác độngthuận chiều tới chất lượng thông tin KTTC công bố của các CTNY

Stoderstrom và cộng sự (2007), chất lƣợng thông tin kế toán trên BCTC khi áp dụng IFRS ảnh hưởng bởi: chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị và việc trình bày BCTC Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống pháp luật và chính trị ảnh hưởng quan trọng nhất đến chất lượng thông tin BCTC, nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thông tin kế toán hoặc ảnh hưởng gián tiếp thông qua chuẩn mực kế toán và việc trình bày BCTC

K.Naser (2003), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Saudi cho thấy các BCTC tuân thủ chế độ và chuẩn mực kế toán, đảm bảo đầy đủ thông tin tài chính và phi tài chính đƣợc đánh giá có chất lƣợng tốt

Ferdy van Beest (2009), trong nghiên cứu của mình bên cạnh việc lƣợng hóa chất lƣợng thông tin kế toán, nghiên cứu còn kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đó là: chuẩn mực kế toán, môi trường pháp lý và đặc thù của ngành công nghiệp

Lesley Stainbank (2008), nghiên cứu sự phát triển và tác động của IFRS đến BCTC của các DNNVV ở Nam Phi, kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp sẽ đƣợc hỗ trợ vốn tốt nhất khi lập BCTC tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực của IFRS, việc bãi bỏ hình thức thực thể doanh nghiệp ở Nam Phi là việc nên hướng tới BCTC sẽ đƣợc lập theo nhu cầu cung cấp thông tin của từng doanh nghiệp

Valeria Maria Albert and Mihaela Serban (2012), nghiên cứu tại các DNNVV ở Roma, qua phân tích quá trình hoạt động nhƣ số lƣợng doanh nghiệp, những khó khăn và rủi ro trong quá trình hoạt động cũng nhƣ sự đóng góp vào GDP của các DNNVV trong giai đoạn 2000 – 2007 Theo báo cáo thường niên của các DNNVV năm 2008, qua khảo sát các chủ sở hữu DNNVV cho thấy các vấn đề họ đang mắc phải nhƣ: thiếu nguồn lực, hạn chế tiếp cận tín dụng, thiếu khách hàng, khả năng cạnh tranh…xuất phát từ việc thông tin thiếu tin cậy trên BCTC, nghiên cứu cho thấy BCTC đƣợc lập bởi các DNNVV chủ yếu là cung cấp cho cơ quan thuế chƣa thực sự quan tâm đến chất lượng cung cấp cho người sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của kiểm toán độc lập về độ tin cậy của BCTC do các DNNVV cung cấp, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vốn của DNNVV cũng nhƣ quyết định cho vay của các ngân hàng hay tổ chức tín dụng Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu Maines (2006) còn cho rằng một báo cáo kiểm toán có ý kiến chấp nhận toàn bộ là điều kiện cần thiết để nhận biết thông tin KTTC đáng tin cậy hoặc đƣợc trình bày trung thực

1.1.2.2 Các yếu tố bên trong

Gul,F.A and Leung,S (2004), nghiên cứu tại các CTNY trên TTCK Hồng Kông, cấu trúc HĐQT ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của DN Kết quả cho thấy tính kiêm nhiệm chức danh chủ tịch HĐQT và tổng giám đốc có ảnh hưởng đến công bố tự nguyện thông tin trên BCTC Tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nadia Smaili và cộng sự (2009) cho thấy rằng việc kiêm nhiệm hai chức danh sẽ dẫn đến gian lận trên BCTC Bên cạnh theo nghiên cứu của Arman Aziz Karagul

Các nghiên cứu ở trong nước

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến chất lƣợng thông tin BCTC

Nguyễn Đình Hùng (2010), thông tin tài chính đƣợc sử dụng để lƣợng hoá gồm 30 khoản mục: (1) Chính sách kế toán sử dụng; (2) Các chuẩn mực kế toán và áp dụng cho các khoản mục trên các báo cáo tài chính; (3)Các khoản mục tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia; (4) Báo cáo tài chính năm tuân thủ theo theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ biến: IFRS, GAAP; (5) Thuyết minh báo cáo tài chính tuân thủ IFRS, GAAP; (6) Báo cáo kiểm toán của BCTC năm tuân thủ IFRS, GAAP; (7) Ý kiến chấp nhận toàn bộ của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính năm tuân thủ IFRS, GAAP, (8) BCTC tuân thủ IFRS, GAAP đƣợc kiểm toán công bố trước 30/4 hàng năm; (9) BCTC IFRS, GAAP chưa được kiểm toán công bố trước 30/4 hàng năm; (10) Khai báo các giao dịch đối với các bên liên quan; (11) Các dấu hiệu cho thấy các giao dịch đối với các bên liên quan đƣợc thực hiện theo thị trường hoặc không; (12) Các điều khoản chính xác về các bên liên quan; (13) Báo cáo giữa kỳ (qu./6 tháng) tuân thủ IFRS, GAAP; (14) Thuyết minh cho các báo cáo giữa kỳ; (15) Sự soát xét hoặc kiểm toán các báo cáo giữa kỳ; (16) Hợp nhất báo cáo tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia; (17) Phương pháp đánh giá tài sản;

(18) Liệt kê các bên liên kết mà công ty nắm phần lợi ích thiểu số; (19) Cấu trúc sở hữu của các bên liên kết; (20) Một bản dự báo thu nhập cơ bản; (21) Một bản chi tiết dự báo thu nhập; (22) Báo cáo phân tích theo bộ phận; (23) Cấu trúc doanh số;

(24) Cấu trúc chi phí; (25) Tên của công ty kiểm toán; (26) Công ty kiểm toán có phải là những công ty hàng đầu trong nước hoặc quốc tế; (27) Chính sách thay đổi theo kiểm toán; (28) Mức phí kiểm toán; (29) Công ty kiểm toán báo cáo tài chính có đồng thời cung cấp dịch vụ tƣ vấn; (30) Mức phí của dịch vụ tƣ vấn Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy chất lƣợng TTKT của các CTNY ở Việt Nam có mức độ kém, thông tin tài chính chƣa đƣợc công bố đầy đủ

Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013), nghiên cứu “Một số ý kiến về chất lƣợng BCTC của DNNVV ở Việt Nam”, nhóm tác giả có dẫn chứng (Đoạn 9, 11 và

12 của chuẩn mực kế toán số 21) cho thấy BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để lập và trình bày BCTC trung thực và hợp lý, doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với các quy định; trình bày các thông tin, kể cả chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh đƣợc và dễ hiểu; Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá chất lƣợng BCTC sẽ xem xét cụ thể dựa trên từng yêu cầu của chuẩn mực kế toán số 21 (VAS21) bao gồm: Tính trung thực, hợp lý; tính thích hợp; tính đáng tin cậy và tính dễ hiểu Để đạt đƣợc các yêu cầu trên, khi lập và trình bày BCTC cần tuân thủ các nguyên tắc: Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trong yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh đƣợc Việc tuân thủ một cách hài hòa các nguyên tắc trên sẽ giúp đảm bảo các đặc điểm chất lƣợng của BCTC, nâng cao tính hữu ích cho các thông tin trình bày trên BCTC, hỗ trợ đắc lực cho người sử dụng trong việc ra quyết định

Hà Xuân Thạch và Nguyễn Trọng Nguyên (2014), nghiên cứu các nhân tố bên trong tác động đến chất lượng thông tin BCTC tại 195 CTNY tại Việt Nam, phương pháp để đo lường chất lượng thông tin BCTC được nhóm tác giả sử dụng là kế thừa phương pháp của Ferdy van Beest (2009) dựa trên quan điểm của FASB và IASB và nghiên cứu của Jonas và Blanchet (2000), gồm 16 biến quan sát thuộc 5 đặc tính để đo lường chất lượng thông tin BCTC: Thích hợp; Trình bày trung thực; Dễ hiểu;

Có thể so sánh và kịp thời Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lƣợng thông tin BCTC của các công ty niêm yết là dưới mức trung bình

Nguyễn Phúc Sinh (2008), luận án tiến sỹ với đề tài “Nâng cao tính hữu ích trong BCTC doanh nghiệp Việt Nam hiện nay”, trong nghiên cứu này tác giảđề cập đến vai trò và tính hữu ích của BCTC doanh nghiệp Tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết của quốc tế và thực tiễn kế toán Việt Nam để phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp thông tin của BCTC doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm chuẩn hóa BCTC và nâng cao tính hữu ích của BCTC

Nguyễn Bích Liên (2012), luận án tiến sỹ với đề tài “Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam” Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng quan điểm của IASB, FASB và chuẩn mực kế toán Việt Nam đều cho rằng chất lƣợng thông tin kế toán đồng nghĩa với chất lƣợng BCTC Quan điểm chất lƣợng thông tin tác giả đƣa ra trong môi trường ứng dụng công nghệ thông tin được xác định bằng các tiêu chuẩn: hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy Trong khi đó, các tiêu chuẩn chất lƣợng thông tin theo chuẩn mực kế toán thì nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của tác giả Nghiên cứu này, tác giả chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán nói chung chứ không chú trọng vào chất lƣợng BCTC

Cao Nguyễn Lệ Thƣ (2014), nghiên cứu: “Đánh giá các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến chất lƣợng TTKT trên BCTC của các CTNY ở sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh, nghiên cứu áp dụng mô hình của Jouini Fathi

(2013) để đánh giá chất lƣợng TTKT gồm 78 chỉ số trình bày trong 7 thông tin cơ bản: Thông tin chung và chiến lƣợc; Thông tin về BCTC; Các dữ liệu xã hội và môi trường; Quản trị doanh nghiệp; Thông tin tài chính và thị trường; Thông tin dự báo và Thông tin khác Kết quả cho thấy chất lƣợng thông tin BCTC của các CTNY đạt mức 80,9% tương đương 63/78 chỉ số, tuy nhiên tác giả chưa đưa ra kết luận chung là chất lƣợng thông tin BCTC của các CTNY đã thật sự đạt ngƣỡng chất lƣợng hay chƣa

Nguyễn Anh Hiền và cộng sự (2015), nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ảnh hưởng đến chất lượng BCTC tại 380 CTNY ở Việt Nam năm 2013-2014, nghiên cứu ứng dụng mô hình Dechow et al (1995), Kothari, Leone and Wasley

(2005) để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kết quả nghiên cứu cho thấy, thông qua kiểm định phân tích phương sai có bằng chứng các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhƣ: doanh nghiệp ngành xây dựng, vật liệu xây dựng và bất động sản thì động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý sẽ cao hơn các doanh nghiệp khác Bên cạnh kết quả còn cho thấy có sự khác biệt giữa mức độ điều chỉnh lợi nhuận giữa hai sàn chứng khoán là HOSE và HNX, các CTNY trên sàn GDCK HNX có mức độ điều chỉnh cao hơn so với các CTNY trên HOSE Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các doanh nghiệp này

Huỳnh Thị Vân (2012): “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Trong luận văn thạc sỹ này, tác giả tập trung chủ yếu vào năm đầu tiên các công ty niêm yết Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với số liệu trên BCTC trong giai đoạn 2008-2010 của các doanh nghiệp niêm yết lần đầu tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình DeAngelo (1986) và mô hình Friedlan (1994) Trong nghiên cứu này, tác giả đã đƣa ra ba nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết gồm: năm đầu niêm yết, ƣu đãi thuế và quy mô doanh nghiệp Khảo sát của tác giả cho thấy phần lớn các công ty niêm yết năm đầu tiên đều có hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận, đồng thời điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết có quan hệ cùng chiều với các ƣu đã về thuế thu nhập doanh nghiệp Tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị để tăng tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC

1.2.2.1 Các yếu tố bên ngoài

Phan Đức Dũng (2014), qua nghiên cứu đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC của doanh nghiệp Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với 280 mẫu là những người làm kế toán ở nhiều công ty cổ phần khác nhau, tác giả đã đề xuất và kiểm định các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp, trong đó nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đáng kể là: Chính sách Thuế Nhà nước Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách thuế Nhà nước hợp lý đƣợc đánh giá là quan trọng nhất và có tác động cùng chiều với chất lƣợng thông tin trên BCTC Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt

(2014), nghiên cứu: “Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lƣợng TTKT trình bày trên BCTC của các CTNY ở Việt Nam”, cho thấy rằng các phần lớn các CTNY hiện nay khi lập BCTC đều lập theo mục tiêu thuế chứ không tuân thủ theo đúng quy định thuế hiện hành Vì vậy muốn nâng cao chất lƣợng thông tin kế toán trên BCTC thì cần phải thực hiện tốt chính sách thuế với nhà nước

Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013), nghiên cứu “Một số ý kiến về chất lượng BCTC của DNNVV ở Việt Nam” qua phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý thuyết và đúc kết từ thực tiễn, nhóm tác giả đã xác định hai nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV là: Khung pháp lý về kế toán cho DNNVV; Đối tƣợng sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin Nhóm tác giả đã cho rằng hiện nay khung pháp lý về kế toán cho DNNVV có nhiều hạn chế Các quy định trong luật kế toán chưa lưu ý đến đặc điểm riêng của doanh nghiệp này

Nhận xét tổng quan nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận văn

Qua việc tóm lược các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài của luận văn, tác giả đƣa ra một số nhận xét nhƣ sau:

Về chất lƣợng thông tin trình bày trên BCTC đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện, việc đánh giá và lƣợng hóa chất lƣợng thông tin BCTC đƣợc tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau Cụ thể nhiều công trình đánh giá chất lƣợng thông tin trình bày trên BCTC dựa trên các đặc tính chất lƣợng của FASB và IASB nhằm đánh giá một cách toàn diện thông tin trên BCTC Bên cạnh còn có các công trình đánh giá chất lượng thông tin trên BCTC theo hướng gián tiếp như nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay việc công bố lại BCTC điều này ít nhiều có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC Các công trình nghiên cứu trong nước chưa có nhiều nghiên cứu lƣợng hóa chất lƣợng thông tin trên BCTC dựa trên đặc tính chất lƣợng của FASB hay IASB mà chỉ có các công trình ứng dụng mô hình các nghiên cứu cụ thể trên thế giới để nghiên cứu tại Việt Nam, tuy nhiên các mô hình này được thực hiện ở các nước phát triển nên áp dụng tại Việt Nam vẫn còn nhiều câu hỏi đặt ra Và chƣa có nghiên cứu định lƣợng cụ thể nào về chất lƣợng thông tin trên BCTC tại các DNNVV ở Việt Nam

Về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trình bày trên BCTC, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy có hai nhóm nhân tố chính đó là nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Đa số các nghiên cứu chỉ tập trung tại các CTNY hay các tổ chức DN lớn, các nhân tố ảnh hưởng tới chất lƣợng thông tin BCTC chủ yếu là quản trị công ty, kiểm toán… , các nghiên cứu trong nước về BCTC tại DNNVV chỉ dừng lại phương pháp định tính từ kết quả thực tiễn các tác giả nêu ra các tồn tại và cần phải hoàn thiện Chƣa có nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của các DNNVV

1.3.2 Hướng nghiên cứu của luận văn

Từ những khe hỏng của các công trình mà tác giả đã trình bày ở trên nhằm xác định hướng nghiên cứu của luận văn:

Việc đánh giá chất lƣợng thông tin trình bày trên BCTC của các DNNVV ở TP

Hồ Chí Minh dựa trên thước đo phù hợp nào ? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của các DNNVV và mức độ ảnh hưởng ? Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thông tin trên BCTC của các DNNVV tại TP

Nội dung của chương này, luận văn trình bày các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chất lượng thông tin BCTC và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC của DN trên thế giới và ở Việt Nam

Việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu trong luận văn đƣợc trình bày theo hai phần lần lượt là ngoài nước và trong nước Chọn lọc các công trình đã công bố có liên quan đến những nội dung trong luận văn Qua đó, xác định khe hỏng nghiên cứu làm cơ sở cho mục tiêu nghiên cứu của luận văn.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết nền

2.1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information)

G.A Akerlof (1970) lần đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng Theo ông, thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhƣng thông tin không chính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện các giao dịch

Lý thuyết thông tin bất cân xứng đƣợc vận dụng trong nhiều hoạt động nhƣ:

- Trong hoạt động kinh doanh: trước khi ký kết hợp đồng trong kinh doanh hay tham gia vào quan hệ pháp luật nào đó bên có nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên ít thông tin hơn

- Trong hoạt động mua bán thông thường người bán là người nắm rõ về sản phẩm của mình và vì vậy chi phí lựa chọn bất lợi sẽ do người mua gánh chịu

Trên thị trường chứng khoán: Đối với phần lớn nhà đầu tư, sự quan tâm hàng đầu của họ là lợi nhuận Trên thị trường chứng khoán nhà đầu tư mua cổ phiếu với giá thấp và bán với giá cao hoặc hưởng lợi nhuận do cổ tức mang lại Nhà đầu tư thường có ít thông tin về doanh nghiệp hơn nhà quản lý nên có thể có những bất lợi hơn so với nhà quản lý Do đó, nếu nhà đầu tƣ không xác định chính xác lợi nhuận kỳ vọng của công ty niêm yết thì sẽ định giá cổ phiếu không chính xác và nếu định giá cao hơn giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu tƣ Theo Yang Jing (2008), trong thị trường chứng khoán, thông tin bất cân xứng biểu hiện theo ba yếu tố: thời gian, khối lƣợng thông tin và chất lƣợng thông tin

Mối quan hệ giữa lý thuyết thông tin bất cân xứng với chất lƣợng thông tin trên BCTC Độ tin cậy của các chỉ tiêu trên BCTC là quan tâm hàng đầu của người sử dụng BCTC ví dụ: Lợi nhuận là một trong những thông tin quan trọng của hầu hết các doanh nghiệp bởi vì mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp chính là tối đa hóa lợi nhuận Thông tin lợi nhuận cũng là cơ sở cho những quyết định quan trọng cho cả nhà quản lý và nhà đầu tƣ nhƣ đánh giá khả năng sinh lời, dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai, khả năng phát triển Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy có mối quan hệ giữa lợi nhuận và giá cổ phiếu Do đó, nhiều khả năng nhà quản lý hay người lập thông tin sẽ tác động để điều chỉnh chỉ tiêu này

Mối quan hệ giữa tình trạng thông tin bất cân xứng và hành vi quản trị lợi nhuận đã đƣợc nhiều nghiên cứu khẳng định nhƣ: Dye (1988) cho rằng sự tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông là điều kiện cho hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý bóp méo TTKT trên BCTC Schipper (1989) cũng đưa ra một kết luận tương tự như vậy Trong khi đó, Richardson (1998) thì cho rằng tình trạng thông tin bất cân xứng càng tăng lên thì hành vi quản trị lợi nhuận càng cao dẫn đến chất lƣợng TTKT càng giảm Do đó, trong điều kiện thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và các cổ đông, người làm thông tin và người sử dụng thông tin, trong đó các cổ đông hay người sử dụng bên ngoài luôn ở tình trạng thiếu thông tin hơn đây là điều kiện để nhà quản lý thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận

Theo Jensen và Meckling (1976) đƣa ra mối quan hệ ủy quyền đƣợc xem nhƣ là một hợp đồng giữa hai bên gồm: một hay nhiều cá nhân (bên ủy quyền – Principal(s)) cam kết với một bên là cá nhân khác (bên đại diện – Agents) để thay mặt bên ủy quyền thực hiện một số công việc nào đó bao gồm cả việc ủy quyền ra quyết định kinh tế cho bên đại diện

Trong mô hình công ty cổ phần, bên ủy quyền chính là chủ sở hữu của công ty tức là các cổ đông Bên đại diện là nhà quản lý công ty Các cổ đông thuê các nhà quản lý công ty để họ thay mặt các cổ đông thực hiện việc đề ra các quyết định kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nhà quản lý có thể đƣa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho chính bản thân họ hơn là lợi ích của các cổ đông Cùng với quá trình hoạt động, nhà quản lý thường có xu hướng quên đi lợi ích của cổ đông khi họ có thể đạt mức lợi nhuận nào đó (Jensen và Meckling, 1976)

Nhà quản lý thường có kiến thức chuyên môn hơn các cổ đông vì họ có chuyên môn về quản lý và thực hiện những hoạt động kinh doanh hằng ngày tại công ty Kiến thức của nhà quản lý càng cao họ càng có hành vi ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông một khi các hoạt động giám sát không hữu hiệu (Miller and Sardais, 2011) Do đó, cần phải thiết lập hệ thống giám sát thích hợp để bảo vệ các cổ đông trong việc giảm thiểu xung đột lợi ích giữa hai bên, qua đó đòi hỏi nhà quản lý phải cung cấp BCTC đảm bảo chất lƣợng

Mối quan hệ giữa lý thuyết ủy quyền với chất lƣợng thông tin trên BCTC

Từ lý thuyết ủy quyền, ta thấy có hai giả thuyết: sự xung đột về mục tiêu giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, Nhà quản lý có thông tin nhiều hơn chủ sở hữu Điều này dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng giữa chủ sở hữu và nhà quản lý Hành vi của nhà quản lý phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu của họ trong vốn của công ty Tỷ lệ trong vốn chủ sở hữu có thể sẽ ảnh hưởng đến việc nhà quản lý có thể hành động không vì lợi ích của các cổ đông Jensen và Meckling (1976) cho rằng khi nhà quản lý sở hữu toàn bộ công ty thì nhà quản lý sẽ đƣa ra những quyết định nhằm tối đa lợi ích của họ, cũng có nghĩa là tối đa hóa lợi ích của công ty Tuy nhiên, khi phần vốn của họ có tỷ lệ càng nhỏ thì quyền lợi của họ trong kết quả của công ty sẽ càng giảm dần và họ sẽ có xu hướng muốn nhận được khoản thù lao lớn hơn Trong khi đó, cả hai bên ủy quyền và bên đại diện đều muốn tối đa lợi ích của mình và họ có những mục tiêu khác nhau để đạt đƣợc điều này Trong đó, việc xử lý thông tin kế toán của nhà quản lý sẽ giúp họ có đƣợc những khoản lợi ích tùy theo mục tiêu của họ.

Chất lƣợng thông tin kế toán

Về chất lƣợng có rất nhiều định nghĩa khác nhau:

Theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, ISO 9000:2005, đã đƣa ra định nghĩa “Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”

Chất lƣợng có một số đặc trƣng cơ bản sau:

- Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng Nếu nhƣ một dịch vụ hay sản phẩm nào đó không đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lƣợng, cho dù trình độ tạo ra sản phẩm đó có thể hiện đại Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm của người tiêu dùng

- Chất lượng là sự phù hợp với các nhu cầu khác nhau Khi đánh giá chất lƣợng của một đối tƣợng, ta cần xét đến mọi đặc tính của đối tƣợng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Cùng một mục đích sử dụng nhƣ nhau, sản phẩm nào thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lƣợng cao hơn

- Chất lượng được tiêu chuẩn hóa cụ thể Một số chất lƣợng của các đối tƣợng đƣợc quy định cụ thể, rõ ràng

Theo Juran, chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu Theo Crosby, chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu

Nhƣ vậy, chất lƣợng của một đối tƣợng nào đó đƣợc xác định thông qua việc đối tượng đó có thỏa mãn được nhu cầu của người sử dụng, các đặc tính của nó phù hợp với nhu cầu cụ thể và chất lƣợng phải đƣợc tiêu chuẩn hóa rõ ràng

Theo Wikipedia (en.wikipedia.org): Chất lƣợng thông tin là thuật ngữ mô tả chất lượng của các thành phần trong hệ thống thông tin, sự phù hợp với yêu cầu của người sử dụng thông tin Chất lượng thông tin thường được hiểu là thước đo về giá trị thông tin cung cấp cho người sửdụng

Wang (1996), chất lƣợng thông tin đƣợc khẳng định các mặt cơ bản là: Tính nội tại của chất lƣợng thông tin gồm: Tính chính xác, tính khách quan, độ tin cậy và uy tín cung cấp thông tin; Chất lƣợng thông tin trong tình huống cụ thể gồm: Sự phù hợp, giá trị gia tăng, kịp thời, đầy đủ; Tính đại diện của chất lƣợng thông tin gồm: Sự dễ hiểu, biểu mẫu quy định, tính phổ thông, có thể so sánh đƣợc; Khả năng tiếp cận thông tin gồm: Khả năng tiếp cận thông tin, tính bảo mật thông tin

Nguyễn Tố Tâm (2013), chất lƣợng thông tin đảm bảo các đặc trƣng của chất lƣợng là: thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng các nhu cầu khác nhau và đƣợc tiêu chuẩn hóa Các tiêu chuẩn hóa của chất lượng thông tin thường giúp đáp ứng các nhu cầu khác nhau, nhƣ độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, sự phù hợp, tính dễ hiểu, có thể so sánh của thông tin Trong đó, độ tin cậy đƣợc coi là tiêu chuẩn quan trọng của chất lƣợng thông tin Bên cạnh đó căn cứ vào đặc trƣng của thông tin,chất lƣợng thông tin phải đƣợc lƣợng hóa phù hợp với đặc tính của thông tin và kiểm soát thông tin để đảm bảo chất lƣợng thông tin từ nơi phát thông tin tới nơi nhận thông tin

Nhƣ vậy, chất lƣợng thông tin đảm bảo các đặc trƣng cơ bản của chất lƣợng mà tác giả Nguyễn Tố Tâm đã trình bày là: thỏa mãn nhu cầu, đáp ứng các nhu cầu khác nhau và đƣợc tiêu chuẩn hóa Nhƣ độ tin cậy, tính khách quan, tính kịp thời, sự phù hợp, tính dễ hiểu, có thể so sánh của thông tin Căn cứ vào đặc trƣng của thông tin,chất lƣợng thông tin phải đƣợc lƣợng hóa phù hợp với đặc tính của thông tin và kiểm soát thông tin để đảm bảo chất lƣợng thông tin từ nơi phát thông tin tới nơi nhận thông tin

2.2.3 Chất lƣợng thông tin kế toán

2.2.3.1 Chất lƣợng thông tin kế toán theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế

Theo IASB (2010) thì thông tin trên BCTC phải đảm bảo hữu ích cho người sử dụng Để đạt đƣợc điều này, thông tin trên BCTC cần phải thỏa mãn các đặc tính chất lƣợng, bao gồm hai đặc tính chất lƣợng cơ bản và bốn đặc tính chất lƣợng bổ sung Các đặc tính chất lƣợng cơ bản gồm: thích hợp và trình bày trung thực Các đặc tính chất lƣợng bổ sung gốm: có thể so sánh đƣợc, có thể kiểm chứng, kịp thời và có thể hiểu được Những đặc tính này giúp tăng cường tính hữu ích của những thông tin đã đƣợc xác định là thích hợp và trình bày trung thực

 Các đặc tính chất lƣợng cơ bản:

Thông tin tài chính thích hợp có khả năng tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng Thông tin có thể làm thay đổi một quyết định, kể cả khi một số người sử dụng chọn cách không tận dụng đến nó hoặc đã biết thông tin đó thông qua nguồn khác Thông tin có thể làm thay đổi quyết định nếu nó có giá trị dự đoán, giá trị khẳng định hoặc là cả hai

BCTC trình bày những hiện tƣợng kinh tế bằng các từ ngữ và số liệu để đạt đƣợc tính hữu ích hay chất lƣợng, thông tin tài chính không chỉ thể hiện những hiện tƣợng có tính thích hợp mà nó còn phải thể hiện một cách trung thực các hiện tƣợng mà nó có ý định thể hiện Để thông tin trình bày trung thực, thông tin cần phải có đƣợc ba đặc tính sau: đầy đủ, trung lập và không sai sót Trên thực tế, việc thể hiện thông tin một cách hoàn toàn trung thực rất khó có thể đạt đƣợc Mục tiêu của IASB là tối đa hóa những đặc tính chất lƣợng này đến mức có thể

 Các đặc tính chất lƣợng bổ sung:

Các đặc tính chất lƣợng bổ sung của BCTC nhƣ có thể so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời và có thể hiểu được, giúp tăng cường tính hữu ích của những thông tin đã đƣợc xác định là thích hợp và trình bày trung thực

Thông tin BCTC sẽ hữu ích cho người sử dụng nếu thông tin đó có thể so sánh với so với chính thông tin của tổ chức đó trong khoảng thời gian khác nhau hoặc so sánh thông tin của tổ chức này với các tổ chức khác trong cùng thời kỳ Tính có thể so sánh giúp người đọc thông tin có thể xác định được và hiểu được những điểm giống và khác giữa các khoản mục Để thông tin có thể so sánh đƣợc, nhƣng thông tin giống nhau phải đƣợc trình bày giống nhau và những thông tin khác nhau thì phải đƣợc trình bày khác nhau Việc trình bày các thông tin khác nhau một cách giống nhau không làm tăng tính có thể so sánh đƣợc của thông tin Ở một mức độ nào đó, tính có thể so sánh đƣợc cũng có thể đạt đƣợc khi các chỉ tiêu chất lƣợng cơ bản đƣợc thỏa mãn

 Có thể kiểm chứng được

Tính có thể kiểm chứng bảo đảm cho người sử dụng rằng thông tin thể hiện một cách trung thực hiện tƣợng kinh tế mà nó trình bày Có thể kiểm chứng đƣợc có nghĩa là những người quan sát độc lập và có kiến thức khác nhau vẫn đạt được sự thống nhất là thông tin đƣợc trình bày trung thực, mặc dù ý kiến không nhất thiết phải giống nhau một cách tuyệt đối Các thông tin định lƣợng không nhất thiết chỉ có một giá trị mới có thể kiểm chứng đƣợc Các khoảng giá trị và các khả năng có liên quan cũng có thể kiểm chứng đƣợc

Kịp thời có nghĩa là thông tin cần phải đến với người sử dụng thông tin một cách kịp thời điểm và phải là thông tin đƣợc cập nhật mới nhất so với hiện tại Nhìn chung, thông tin càng cũ nó càng thiếu tính hữu ích Tuy nhiên, một số thông tin có thể tiếp tục có tính kịp thời trong thời gian dài sau khi niên độ kế toán kết thúc, bởi vì một số người sử dụng cần xác định và đánh giá xu hướng

Các nhân tố ảnh hưởng đên chất lượng thông tin BCTC

Từ việc xây dựng các tiêu chuẩn để lƣợng hóa chất lƣợng thông tin BCTC, nhiều nhà nghiên cứu trước đã đề xuất và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lƣợng thông tin BCTC nhằm thúc đẩy và ngày càng nâng cao chất lƣợng thông tin BCTC Tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy có hai nhóm nhân tố chính tác động đến chất lƣợng thông tin BCTC đó là: nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài

DN Tuy nhiên, đối với các DNNVV ở Việt Nam, kế thừa các nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2013), Nguyễn Ánh Tuyết (2013), Phan Đức Dũng (2014) đề xuất nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC xoay quanh hai nhóm nhân tố chính đƣợc xem là có tác động mạnh mẽ đến thông tin trên BCTC của DN đặc biệt DNNVV gồm: Công tác kế toán và khung pháp lý cho kế toán

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ánh Tuyết (2013), xác định các nhân tố nhƣ: Tổ chức công tác kế toán của DN; tổ chức bộ máy kế toán; bản chất và công việc của kế toán thuê ngoài; cung cấp thông tin của kế toán doanh nghiệp; mục tiêu của công tác kế toán DNNVV; quan điểm của nhà quản trị với công tác kế toán Tuy nhiên nghiên cứu chỉ tổng hợp lý thuyết, phân tích thực trạng công tác kế toán chƣa đƣa ra mô hình để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC Tương tự nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013), qua phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý thuyết và đúc kết từ thực tiễn bên cạnh xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC DNNVV như: Công tác tổ chức quản lý; Người làm công tác kế toán Nhóm tác giả nhận định rằng, cách thức tổ chức quản lý và triết lý quản trị của ban giám đốc các DNNVV có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lƣợng BCTC của doanh nghiệp này Thực trạng tại các DNNVV hiện nay cho thấy, những người làm công tác kế toán chỉ mang tính chất như là người ghi chép sổ sách chứ không phải là kế toán thực thu Bộ phận kế toán mới chỉ làm công việc tập hợp chứng từ ghi chép nghiệp vụ phát sinh chứ chƣa thực hiện công việc kiểm tra kế toán và phân tích hoạt động kinh doanh thông qua những thông tin kế toán cung cấp Cũng chính điều này đã làm cho việc phát hiện và điều chỉnh, sửa chữa, xử lý sai sót khó thực hiện đƣợc hoặc chậm trễ thiếu hiệu quả

Còn trong nghiên cứu của tác giả Phan Đức Dũng (2014), qua nghiên cứu đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC của doanh nghiệp là các công ty Cổ phần Tác giả đã đề xuất và kiểm định các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lƣợng thông tin trên BCTC của doanh nghiệp bao gồm: Nhận thức của nhà quản trị; Công cụ hỗ trợ; Hệ thống chứng từ kế toán; Hệ thống tài khoản kế toán; Hình thức sổ sách kế toán; Hệ thống BCTC

Từ những yếu kém còn tồn tại trong công tác kế toán đƣợc các nhà nghiên cứu tổng hợp, đánh giá và kết luận công tác kế toán ảnh hưởng đến chất lượng thông tin

BCTC của DNNVV, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ dừng lại ở phương pháp định tính, cỡ mẫu khá khiêm tốn trong nghiên cứu định lƣợng Hoặc nghiên cứu chỉ tập trung vào đối tƣợng là các doanh nghiệp lớn, CTNY… chƣa có nghiên cứu cụ thể để kiểm định các nhân tố công tác kế toán ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC tại DNNVV Từ khe hỏng nghiên cứu đó, luận văn đề xuất và kiểm định các nhân tố liên quan đến công tác kế toán ảnh hưởng đến chất lượng BCTC ở DNNVV nhƣ sau: o Hệ thống chứng từ kế toán: chứng từ kế toán sử dụng tại DN theo đúng mẫu biểu quy định hiện hành, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải có chứng từ đƣợc lập đầy đủ và kịp thời Chứng từ đƣợc tổ chức luân chuyển một cách hợp lý và được sắp xếp lưu trữ thuận tiện khoa học o Hình thức sổ sách kế toán: mẫu biểu sổ sách kế toán đƣợc áp dụng theo qui định của chế độ kế toán, số liệu phải đƣợc ghi chép đúng và kịp thời Việc áp dụng sổ sách cho DN phù hợp với loại hình và lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, các sổ sách kế toán đƣợc mở chi tiết phục vụ cho việc ghi chép theo dõi và báo cáo Các đối tƣợng giữ sổ và ghi sổ kế toán đƣợc phân quyền rõ ràng o Hệ thống tài khoản kế toán: Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng tại DN dựa vào chế độ kế toán, phù hợp với loại hình, lĩnh vực kinh doanh của

DN, đƣợc mở đầy đủ và chi tiết o Nhà quản lý: nhà quản lý của DN hiểu biết nhất định về lĩnh vực kế toán tài chính, có khả năng đọc và hiểu thông tin BCTC Quan tâm đến công tác kế toán của DN Dùng thông tin BCTC để ra các quyết định kinh tế o Bộ máy kế toán: xây dựng bộ máy kế toán hoàn thiện, tổ chức bộ phận kế toán riêng biệt, Đầu tƣ công nghệ thông tin cho bộ máy kế toán,nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân tham gia công tác kế toán Nhân viên kế toán phải ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp, nhằm tuân thủ và ràng buộc về trách nhiệm trong quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin o Mục tiêu lập BCTC: xác định mục tiêu lập BCTC rõ ràng, đa dạng hóa đối tƣợng sử dụng thông tin

2.3.2 Khung pháp lý cho kế toán

Bên cạnh các nhân tố công tác kế toán có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC, thì các nhân tố từ khung pháp lý cho kế toán cũng đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước xác định Theo nghiên cứu N.Klai (2011), kết quả cho thấy sự kiểm soát từ phía nhà nước và các tổ chức tài chính có tác độngthuận chiều tới chất lƣợng thông tin KTTC Còn nghiên cứu của Stoderstrom và cộng sự

(2007), chất lượng thông tin kế toán trên BCTC khi áp dụng IFRS ảnh hưởng bởi: chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu của K.Naser (2003), Ferdy van Beest và cộng sự (2009) Nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2013), cũng cho rằng hiện nay khung pháp lý về kế toán cho DNNVV có nhiều hạn chế, nhóm tác giả khuyến nghị Bộ Tài Chính nên ban hành một chế độ kế toán chung cho tất cả loại hình doanh nghiệp, cơ quan thuế cần ban hành các chính sách hỗ trợ cho DNNVV và đề ra yêu cầu về chất lƣợng thông tin Kết quả cũng phù hợp với Phan Minh Nguyệt (2014), tuân thủ tốt chính sách thuế tăng cường chất lượng thông tin BCTC

Nhằm kiểm định các nhân tố khung pháp lý cho kế toán có thật sự ảnh hưởng đến chất lƣợng BCTC của DNNVV hay không, luận văn đề xuất các nhân tố sau: o Thuế: các doanh nghiệp tuân thủ tốt các chính sách thuế từ khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế đến khi lập BCTC, cơ quan thuế ban hành các chính sách nhằm hỗ trợ cho các DN Chính sách thuế cần tiệm cận với chuẩn mực và chế độ kế toán để giảm thiểu những việc không cần thiết cho kế toán, hạn chế sự ảnh hưởng và chi phối đến việc ghi chép và lập BCTC của DN o Chế độ kế toán: tăng cường tính pháp lý cho chế độ kế toán, hợp nhất hai chế độ kế toán hiện nay để áp dụng chung cho tất cả loại hình doanh nghiệp.

Đặc điểm DNNVV ở Việt Nam và mối quan hệ với CLTT trên BCTC

Theo mục 1, điều 3, nghị định số 56/2009/NĐ-CP, DNNVV ở Việt Nam đƣợc định nghĩa: là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đƣợc chia làm ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên), cụ thể nhƣ sau:

Bảng 2.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

I Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Từ trên 20 tỷ đồng đến

300 người II Công nghiệp và xây dựng

Từ trên 20 tỷ đồng đến

300 người III Thương mại và dịch vụ

Từ trên 10 tỷ đồng đến

Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ

2.4.2 Đặc điểm DNNVV và mối quan hệ thông tin trình bày trên BCTC

DNNVV ở Việt Nam hiện nay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN đang hoạt động trong cả nước, đóng góp vào GDP hàng năm và tạo công ăn việc làm cao Tuy nhiên trong quá trình hoạt động các DNNVV này cũng gặp không ít khó khăn

Là DN có quy mô vốn nhỏ việc tiếp cận nguồn vốn là một vướng mắc lớn của các

DN này Bên cạnh còn chịu sự cạnh tranh khóc liệt của các DN, tập đoàn lớn cả về nguồn lực, trình độ công nghệ sản xuất, trình độ quản lý còn yếu kém Khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế thấp

Theo nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2013), DNNVV ở Việt Nam bao gồm các loại hình kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân và cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các DN này luôn đóng góp một phần quan trọng vào nguồn thu ngân sách quốc gia, tạo ra công ăn việc làm lớn, khai thác và huy động mọi tiềm năng của các địa phương, tạo ra một thị trường cạnh tranh lành mạnh hơn Tuy nhiên, các DNNVV còn một số mặc hạn chế Ở khía cạnh tài chính, có thể thấy quy mô tài chính nhỏ, phụ thuộc khá nhiều vào vốn vay nên chƣa có tính chủ động với các chiến lược phát triển lâu dài của DN Bên cạnh đó, khuynh hướng các DN này thường quản lý theo kinh nghiệm, quan hệ hợp tác trong kinh doanh còn thiếu và yếu DN nhỏ không chỉ đơn giản là phiên bản thu nhỏ của một DN lớn mà các nghiên cứu cho thấy các DNNVV có những đặc điểm khác biệt hẳn so với các DN lớn, đặc biệt liên quan đến nguồn lực, thị trường, mức độ kinh hoạt, lãnh đạo và cơ cấu tổ chức

Bên cạnh đó trong nghiên cứu của ông (Võ Văn Nhị, 2013) cho thấy, DNNVV có những đặc điểm chi phối tới việc ban hành các quy định về kế toán như: Các DN này thường không phải là công ty đại chúng Đối tượng sử dụng thông tin kế toán của DNNVV tập trung vào chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng Do vậy nghĩa vụ pháp lý công bố thông tin tài chính của các DN này có những giới hạn nhất định và đơn giản hơn so với công ty đại chúng quy mô lớn hơn Bên cạnh đó, do các nguồn lực và yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán có giới hạn nên việc đầu tƣ vào trang thiết bị, nguồn lực cho công tác kế toán gặp nhiều hạn chế Ngoài ra lĩnh vực kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong DN này thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động kinh doanh chủ yếu Các quan hệ kinh tế, tài chính phức tạp thường hiếm xảy ra Những đặc điểm này ảnh hưởng quan trọng trong tiến trình nghiên cứu ban hành, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp lý về kế toán cho DNNVV cũng nhƣ tổ chức công tác kế toán tại DN này Từ những đặc điểm riêng về nguồn cung cấp tài chính, cách thức tổ chức quản lý, đối tƣợng sử dụng BCTC,… điều này dẫn đến những điểm khác biệt giữa thông tin trình bày trên BCTC của DNNVV so với DN lớn Các thông tin trình bày trên BCTC của các DNNVV nhìn chung đơn giản, ngắn gọp hơn Theo quy định hiện nay ở Việt Nam, thông tin trình bày trên BCTC của DNNVV trên cơ sở mẫu biểu trong quyết định 48/2006/QĐ-BTC dành riêng cho loại hình DN này

Chương này trình bày các lý thuyết nền giải thích cho chất lượng thông tin BCTC gồm lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết ủy quyền Sau đó đề tài trình bày những quy định, khái niệm và quan điểm của một vài nhà nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chất lượng thông tin BCTC và các nhân tố ảnh hưởng Bên cạnh đề tài cũng đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC ở các DNNVV, và thước đo chất lượng thông tin BCTC.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 25/06/2021, 15:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w