LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ kinh tế “Đo lường mức độ ảnh hưởng các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ THỦY
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CÁC THÀNH TỐ ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH
KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ THỦY
ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CÁC THÀNH TỐ ĐẾN TÍNH HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH
KHÁNH HÒA
CHUYÊN NGÀNH : KẾ TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS VÕ VĂN NHỊ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ kinh tế “Đo lường mức độ ảnh hưởng các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Võ Văn Nhị
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong công trình nào khác trước đây
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp mới của đề tài 4
7 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 5
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.1 Các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 5
1.1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 7
1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.2.1 Các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 8
1.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 9
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu 10
1.3.1 Nhận xét 10
1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu 10
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
2.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ 12
Trang 52.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ 12
2.1.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ 16
2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần của hệ thống KSNB và tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 17
2.3 Các nhân tố của hệ thống KSNB ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB 19
2.3.1 Môi trường kiểm soát 20
2.3.2 Đánh giá rủi ro 22
2.3.3 Hoạt động kiểm soát 24
2.3.4 Thông tin và truyền thông 26
2.3.5 Giám sát 29
2.4 Các lý thuyết nền có liên quan 30
2.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 30
2.4.2 Lý thuyết đối phó ngẫu nhiên (Contingency theory) 32
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 34
3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết 35
3.2.1 Mô hình nghiên cứu dự kiến 35
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 36
3.2.3 Mô hình hồi quy tổng quát 37
3.3 Phương pháp nghiên cứu 37
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 37
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 38
3.4 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi 38
3.5 Chọn mẫu 44
3.5.1 Xác định kích thước mẫu 44
3.5.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu 44
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 46
4.1 Đặc điểm kinh doanh của các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hoà 46
Trang 64.2 Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB các doanh nghiêp CBTS tỉnh Khánh Hòa 48
4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Crobach’s Alpha 48
4.2.2 Đánh giá giá trị thang đo – phân tích nhân tố khám phá EFA 53
4.2.3 Kết quả về thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các doanh nghiêp CBTS tỉnh Khánh Hòa 59
4.2.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu 62
4.3 Bàn luận kết quả 70
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
5.1 Kết luận 73
5.2 Kiến nghị 74
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AICPA American Institute of Cretified Public Accountants - Hiệp
hội Kế toán công chứng Hoa Kỳ
COSO Committtee of Sponsoring Orangnization of the Treadway
Commission - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính
COBIT Control Objectives for Information and Related Technology KSNB Internal Control - Kiểm soát nội bộ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4 1: Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Combach Alpha lần 1 49
Bảng 4 2: Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Combach Alpha lần 2 51
Bảng 4 3: Kiểm định điều kiện thực hiện của EFA 54
Bảng 4 4: Bảng ma trận nhân tố sau khi xoay 56
Bảng 4 5: Kiểm định điều kiện thực hiện của EFA 58
Bảng 4 6: Thống kê mô tả các giá trị thang đo 59
Bảng 4 7: Ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 63
Bảng 4 8: Phân tích hồi quy tuyến tính bội mô hình 64
Bảng 4 9: Tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết 70
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3 1: Quy trình nghiên cứu 35
Hình 3 2: Mô hình nghiên cứu dự kiến 36
Hình 4 1: Các loại hình doanh nghiệp chế biến thủy sản tại Khánh Hòa 46
Hình 4 2: Sản lượng và kinh ngạch xuất khẩu thủy sản 48
Hình 4 3: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư hồi qui 66
Hình 4 4: Đồ thị Tần số của phần dư chuẩn hóa 67
Hình 4 5: Đồ thị P-P plot của phần dư - đã chuẩn hóa 68
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mọi tổ chức đều mong muốn hoạt động của đơn vị mình hữu hiệu và hiệu quả, báo cáo tài chính đáng tin cậy, tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan Tuy nhiên, ngày nay khi môi trường kinh doanh biến động không ngừng xuất hiện những nhân tố mới ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời trong hoạt động đơn vị luôn tiềm ẩn những nguy cơ không đạt được mục tiêu do những yếu kém từ nhà quản lý, đội ngũ nhân viên hoặc bên thứ ba trong quá trình thực hiện làm việc Để tồn tại trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, biến động liên tục như vậy thì việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) là một trong những giải pháp đánh giá và quản lý rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu Hệ thống KSNB bao gồm một hệ thống các chính sách
và thủ tục được thiết lập, vận hành bởi các nhà quản trị và toàn bộ nhân viên trong
tổ chức được xem là một quá trình kiểm soát từ bên trong giúp các tổ chức đạt được các mục tiêu của mình Một hệ thống KSNB được xem là hoạt động hữu hiệu tại một tổ chức không chỉ được thiết kế tốt mà được phải chú trọng chú trọng vào việc vận hành hữu hiệu và hiệu quả Do vậy, thiết lập một hệ thống KSNB hữu hiệu đang là một nhu cầu bức thiết, một công cụ quản lý tối ưu để hỗ trợ cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình
Là một trong những ngành khai thác, và sản xuất nguồn tài nguyên có thể tái sinh, ngành thủy sản Việt Nam đóng vai trò khá quan trọng đối với nền kinh tế đất nước, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của thủy sản tỉnh Khánh Hòa Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa tuy chiếm 1 tỷ trọng trên dưới 5% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước (năm 2014 là 466 triệu đô/7.831 triệu đô của cả nước, chiếm 5,9%), nhưng ngành công nghiệp chế biến thủy sản (CBTS) Khánh Hòa đã tham gia góp phần đáng kể vào việc tạo ra GDP cũng như công ăn việc làm cho người lao động của tỉnh Tuy nhiên, qua sự nghiên cứu của tác giả, việc kiểm soát hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp này phần lớn còn khá lỏng lẻo, thiếu sự kiểm tra,
cơ chế giám sát giữa các bộ phận liên quan đến tiềm ẩn nguy cơ rủi ro trong hoạt
Trang 11động Một trong những giải pháp mang tính chiến lược và cần thiết là nhận diện các nhân tố nào ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB và mức độ tác động của từng nhân tố như thế nào để đưa ra giải pháp thích hợp, từ đó xây dựng và nâng cấp KSNB để giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động, quản trị được các rủi
ro trong kinh doanh nhằm đảm bảo tồn tại và phát triển bền vững không chỉ đối với các doanh nghiệp CBTS Khánh Hòa mà còn là vấn đề bức xúc của hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
Từ thực tiễn nêu trên, vấn đề nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ các doanh nghiệp CBTS Khánh Hòa thật sự cần thiết nhằm giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp tăng cường tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát, từ đó góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động, đồng thời tuân thủ yêu cầu về KSNB của doanh nghiệp CBTS Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề
tài “Đo lường mức độ ảnh hưởng các thành tố đến tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa” để làm luận văn
(2) Đánh giá mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rõ các mục tiêu đặt ra nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu bao gồm:
Trang 12Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa?
Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa như thế nào?
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
c Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ
thống KSNB tại các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa
nhân tố bên ngoài
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính: phương pháp thảo luận nhóm với chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm và liên quan trực tiếp với lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục tiêu khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, điều chỉnh mô hình nghiên cứu và các thành phần của thang đo, hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát
Phương pháp định lượng: trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng đã được xác định
sẽ tiến hành đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp CBTS thông qua bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên thang đo Likert Scale 5 điểm, sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 22 để kiểm định
Trang 136 Đóng góp mới của đề tài
- Xác định được các nhân tố về KSNB và chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa
- Đề tài đề xuất các chính sách phù hợp để hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 5 chương chính với cấu trúc như sau:
Chương 1 - Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan
Chương 2 - Cơ sở lý thuyết
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5 - Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Trước đây, đã có nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn
đề kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp và có những cách tiếp cận khác nhau đưa đến những kết luận khác nhau Phần này tác giả trình bày tóm tắt một số nghiên cứu
thực nghiệm tiêu biểu đã được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Karagiogos, Drogalas, Dimou (2014) đã nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực ngân hàng Hi Lạp Mục tiêu của nghiên cứu này là để làm nổi bật sự tương tác giữa các thành phần của kiểm soát nội bộ và tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ Nghiên cứu đã xem xét các thành phần cấu thành hệ thống KSNB theo COSO bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin
và truyền thông, hoạt động kiểm soát và giám sát là các biến độc lập Tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ sử dụng như là biến phụ thuộc Dữ liệu nghiên cứu thu thập từ
100 bảng trả lời câu hỏi của các nhân viên ngân hàng, thang đo Likert năm mức độ được sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các thành phần của kiểm soát nội
bộ là rất quan trọng trong tính hữu hiệu của kiểm toán nội bộ và do đó trong các doanh nghiệp tồn tại và thành công
Lembi Noorvee (2006), đã đưa ra bảng khảo sát dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của COSO 1992 và từ thực trạng đánh giá hệ thống KSNB tại 3 doanh nghiệp ở Estonia Kết quả nghiên cứu của tác giả đã đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của 5 bộ phận cấu thành nên hệ thống KSNB, đưa ra các kiến nghị để cải thiện
hệ thống KSNB cho các công ty khảo sát nói riêng cũng như đưa ra kinh nghiệm để xây dựng hệ thống KSNB ở Estonia nói chung Tác giả cũng cho thấy được hệ thống kiểm soát hữu hiệu đảm bảo hợp lý của việc đạt các mục tiêu báo cáo tài chính, hữu hiệu và hiệu quả, và tuân thủ pháp luật và các quy định của công ty
Nghiên cứu của Manwanda (2011) đã điều tra và tìm cách thiết lập mối quan
hệ giữa hệ thống KSNB và hiệu quả tài chính trong một Viện đào tạo sau đại học ở
Trang 15Uganda dựa trên khuôn khổ KSNB theo tiêu chuẩn COSO Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận lý thuyết đại diện giải thích mối quan hệ giữa KSNB và hiệu quả tài chính Tác giả đưa ra các biến độc lập (môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ và hoạt động kiểm soát) và biến phụ thuộc hiệu quả tài chính (tập trung vào tính thanh khoản và tính trách nhiệm trong thanh toán) Kết quả chỉ ra rằng có mối quan hệ tích cực giữa hệ thống KSNB (môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ và các hoạt động kiểm soát) với hiệu quả hoạt động tài chính
Nghiên cứu của Varipin Mongkolsamai, Phapruke Ussahawanitchakit (2012) kiểm tra tác động của chiến lược kiểm soát nội bộ về hiệu quả hoạt động của các tổ chức của 120 công ty Thái Lan được niêm yết Kết quả cho thấy môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, và thông tin và truyền thông có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của tổ chức Hơn nữa, tầm nhìn điều hành minh bạch, kiến thức của nhân viên, đa dạng giao dịch kinh doanh, và người tham gia cũng cần có một tác động tích cực vào chiến lược kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu của Magara (2013), tác giả tìm hiểu tác động của KSNB đến hiệu quả tài chính tại các hợp tác xã tín dụng (SACCOs) ở Kenya Tác giả cho rằng SACCOs đang đối mặt một số thách thức, quan trọng đó là các vấn đề về quản lý cái mà phần lớn gây ra những yếu kém của KSNB Hiệu quả tài chính các tổ chức này cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hậu quả của sự yếu kém hay thiếu sự cần thiết KSNB dẫn đến kém hiệu quả tài chính trong hoạt động của SACCOs Tác giả
đã tiến hành trên 122 mẫu SACCOs ở Kenya dựa trên cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ các báo cáo hàng năm của SACCOs Nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận lý thuyết đại diện và lý thuyết đối phó ngẫu nhiên để giải thích KSNB là một thành phần trong hệ thống các cơ chế quản trị nôi bộ Phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm tra liệu KSNB được thiết lập bởi nhà quản lý có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính Kết quả chỉ ra rằng có hai thành phần KSNB (hoạt động kiểm soát và giám sát) có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động tài chính của SACCOs ở Kenya
Trang 161.1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Nghiên cứu của Amudo & Inanga (2009) đã dựa vào khuôn khổ KSNB của COSO và COBIT, phát triển một mô hình thực nghiệm các biến độc lập là các thành phần của KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông, giám sát, ngoài ra bổ sung thêm biến công nghệ thông tin theo COBIT tác động đến biến phụ thuộc là sự hữu hiệu của KSNB được sử dụng để đánh giá hệ thống KSNB trong các dự án khu vực công ở Uganda Kết quả cho thấy một số thành phần của KSNB bị khiếm khuyết dẫn đến cấu trúc kiểm soát của hệ thống KSNB hiện nay chưa hiệu quả Các biến độc lập xác định tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ Tính hiện hữu và hoạt động đúng đắn của tất cả các thành phần của các biến độc lập, đảm bảo tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu của Sultana và Haque (2011), cho rằng đánh giá cơ cấu KSNB trong một doanh nghiệp là cần thiết để xác định khả năng đảm bảo hoạt động doanh nghiệp được thực hiện phù hợp với mục tiêu đề ra Nghiên cứu được thực hiện trên 6 Ngân hàng tư nhân được niêm yết tại Bangladesh Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển từ khuôn khổ về KSNB theo báo cáo COSO Nghiên cứu này có mô hình tương tự như đã đề cập trên, tuy nhiên, trong nghiên cứu này, họ đã bỏ qua một thành phần độc lập được sử dụng trong nghiên cứu trước đây, đó là công nghệ thông tin
Mô hình nghiên cứu đánh giá 5 thành phần KSNB ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của
hệ thống KSNB (tính hiệu quả hoạt động Ngân hàng, báo cáo tài chính đáng tin cậy, tuân thủ yêu cầu pháp luật và các quy định có liên quan) Mô hình sẽ đạt ý nghĩa cao khi các biến độc lập được xác định có mối quan hệ với từng mục tiêu kiểm soát của Ngân hàng, cụ thể hoạt động tốt của các thành phần kiểm soát (biến độc lập) cung cấp
sự đảm bảo hợp lý tính hữu hiệu của hệ thống KSNB (biến phụ thuộc) Kết quả cho thấy hầu như tất cả các ngân hàng trong đạt được hầu hết các thành phần của kiểm soát nội bộ Chỉ có một hoặc vài ngân hàng đã thiếu một số các thành phần kiểm soát Điều này cho thấy rằng nhiều hơn hoặc ít hơn cấu trúc kiểm soát nội bộ hiện có bao
Trang 17gồm 5 nhân tố như trên đều hữu hiệu cho tất cả các ngân hàng được sử dụng trong nghiên cứu
Nghiên cứu của Jokipii (2010) cho rằng, để đảm bảo tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động, độ tin cậy thông tin và tuân thủ pháp luật, các doanh nghiệp cần phải
có KSNB tốt Tác giả đã nhận định, khuôn khổ KSNB của COSO và CoCo cho thấy KSNB cần thay đổi tùy theo đặc thù của doanh nghiệp, điều này phù hợp với lý thuyết đối phó ngẫu nhiên Bên cạnh đó, nghiên cứu đã xem xét các đặc điểm đối phó ngẫu nhiên mà doanh nghiệp lựa chọn để thích ứng với cơ cấu KSNB có kết quả ảnh hưởng thuận lợi hơn đến tính hữu hiệu của KSNB Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp SEM để kiểm tra các mô hình nghiên cứu Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp thích ứng với cơ cấu KSNB để đối phó với sự thay đổi của môi trường đạt được tính hữu hiệu của KSNB cao Sự hiện diện đầy đủ và thực hiện đúng chức năng của năm thành phần sẽ đảm bảo cho tính hữu hiệu của hệ thống KSNB Ngoài ra chiến lược doanh nghiệp có tác động đáng kể đến cơ cấu KSNB và có ý nghĩa thống kê
1.2 Các nghiên cứu trong nước
1.2.1 Các nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Trần Thị Bích Duyên, 2014, Đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định, luận văn thạc sĩ, Trường Đại
học Kinh tế Tp.HCM Mục đích nghiên cứu là đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định theo khuôn mẫu COSO 2013 Tác giả đã tiến hành chọn toàn bộ 133 doanh nghiệp để khảo sát thông qua bộ câu hỏi được thiết kế Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tiến hành kiểm định giá trị bình quân nhằm đánh giá trung bình của các thành phần của
hệ thống KSNB so với giá trị bình quân là 3, để thấy được thành phần nào là thực
sự hữu hiệu; sử dụng phân tích phương sai ANOVA để trả lời câu hỏi: các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Định thuộc các đối tượng khác nhau có khác nhau về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB không Kết quả cho thấy, sau khi thống
kê mô tả xác định giá trị trung bình của các thành phần môi trường kiểm soát, đánh
Trang 18giá rủi ro và hoạt động kiểm soát vẫn còn yếu kém Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp giữa các loại hình doanh nghiệp, số lượng nhân viên và quy mô doanh nghiệp, không có sự khác biệt giữa nhóm thời gian thành lập doanh nghiệp
Nguyễn Hữu Bình, 2014, Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến chất lượng hệ thông tin kế toán của các doanh nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh, luận
văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM Nghiên cứu đã trình bày khái quát các đặc điểm của hệ thống KSNB hữu hiệu và xác định được ảnh hưởng của những thành phần của hệ thống KSNB hữu hiệu đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán Các thành phần của hệ thống KSNB hữu hiệu có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
hệ thống thông tin kế toán Trong số 5 thành phần thì thành phần môi trường kiểm soát được đánh giá là thành phần có vai trò quan trọng nhất, có ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp đến chất lượng thông tin kế toán
Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn và Đường Nguyễn Hưng (2015), đã tổng quan tài liệu các công trình nghiên cứu và thực nghiệm về KSNB và tác động của KSNB đến các mục tiêu kiểm soát tại các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại Nghiên cứu tổng hợp được khái niệm về KSNB, sử dụng khuôn khổ KSNB của COSO, Basel về KSNB ngân hàng thương mại để gợi ý hướng nghiên cứu và mô hình thực nghiệm về tác động của KSNB đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam Nghiên cứu đã xây dựng mô hình lý thuyết tác động của KSNB đến 2 mục tiêu kiểm soát, cụ thể là tác động của 5 thành phần KSNB theo báo cáo COSO và Basel ảnh hưởng đến 2 mục tiêu hiệu quả hoạt động được đo lường bằng chỉ số ROA và mục tiêu quản lý rủi ro được đo lường bằng chỉ số Z-Score tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Nghiên cứu của Vu, H.T (2016), đã phân tích ảnh hưởng của các thành phần kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO và Basel đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các ngân hàng thương mại Việt Nam, bên cạnh đó nghiên cứu có bổ sung 2
Trang 19biến độc lập là “thể chế chính trị” và “lợi ích nhóm” vào mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống KSNB đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB các ngân hàng thương mại Việt Nam Các số liệu được thu thập từ các cuộc khảo sát tại 37 ngân hàng thương mại trong quý 4 của năm 2015 ở Việt Nam với 512 cán bộ quản lý (trong tổng số 1.000 cán bộ quản lý tại các ngân hàng thương mại Việt Nam) tham gia vào cuộc khảo sát này Tác giả sử dụng sự kết hợp của các phương pháp định tính và định lượng để nghiên cứu Kết quả cho thấy các biến độc lập “thành phần KSNB” và biến “thể chế chính trị” và “lợi ích nhóm” có ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB là có ý nghĩa thống kê
1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu
1.1.3 Nhận xét
Các nghiên cứu nước ngoài đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp như thế nào Và các nhân tố trong hệ thống tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB ra sao Mặt khác, các thực nghiệm của tác giả chủ yếu nghiên cứu tại một số quốc gia phát triển có hoạt động KSNB ra đời
từ lâu còn nghiên cứu tại một số quốc gia đang phát triển như Việt Nam rất hiếm
Còn các nghiên cứu trong nước trong thời gian qua cũng đã có một số đề tài nghiên cứu đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB nhưng đa số dừng lại ở phương pháp định tính Chủ yếu sử dụng khuôn khổ báo cáo COSO để phân tích các thành phần KSNB doanh nghiệp, từ đó các tác giả đã nêu được thực trạng kiểm soát nội
bộ, nhận thấy những mặt tồn tại của đơn vị để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện
hệ thống KSNB cho một công ty hoặc lĩnh vực cụ thể, tuy nhiên các giải pháp còn mang nặng tính lý thuyết, độ tin cậy chưa cao Tuy đã có nghiên cứu định lượng về nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB nhưng còn rất hạn chế Mặt khác mỗi ngành nghề có đặc thù khác nhau nên cần nghiên cứu vấn đề này riêng cho từng lĩnh vực, để có những hướng đi phù hợp
1.1.4 Xác định khe hổng nghiên cứu
Qua tổng quan một số nghiên cứu trước đã thực hiện liên quan đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB, tác giả thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu về các nhân tố
Trang 20ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB áp dụng trong lĩnh vực ngành chế biến thủy sản được công bố đến thời điểm hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu về đo lường mức độ ảnh hưởng các thành tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp CBTS tỉnh Khánh Hòa là cần thiết nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB cho các doanh nghiệp CBTS ở Khánh Hòa
Trang 21CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ
2.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ là một khái niệm bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 xuất phát từ nhu cầu phục vụ cho các kiểm toán viên trong việc kiểm toán báo cáo tài chính Chính vì thế, mục tiêu của KSNB khi mới ra đời chỉ đơn giản là kiểm soát tiền của doanh nghiệp Vào năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức
trong một Công bố của Cục dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Resrve Bulletin),
theo đó, KSNB được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động Cùng quan điểm này, vào năm
1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Cretified Public Acountants) đã định nghĩa KSNB “ …là biện pháp và cách thức
được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách” (Bộ môn kiểm toán, 2012) Theo thời gian, khái niệm KSNB được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn, mục tiêu kiểm soát nội bộ không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tài sản mà càng ngày được mở rộng Chính vì thế, đến năm 1949, khái niệm KSNB một lần được đưa ra bởi AICPA, AICPA định nghĩa KSNB như là một kế hoạch và những phương tiện, biện pháp phối hợp khác của tổ chức nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản, kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, tăng tính hữu hiệu, và đảm bảo cho sự điều hành quản lý được
ổn định (Lakis & Giriūnas, 2012) Khái niệm KSNB đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện từ sau khi nó đưa được đưa ra đầu tiên và được các nhà khoa học, các tổ chức khoa học quốc tế định nghĩa khác nhau về khái niệm KSNB Theo
DiNapoli (2007) định nghĩa KSNB là một hệ thống tích hợp các kế hoạch, quan điểm, chính sách, hoạt động, quản lý nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ Lakis (2008), khái niệm KSNB là một hệ thống thiết lập bởi nhà quản lý đảm bảo hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; thành lập các cơ chế đảm bải an toàn, sư dụng tài sản hợp lý; tính chi tiết, chính xác dữ liệu kế toán Shim (2011) cho rằng KSNB là một phần của hệ thống quản lý doanh nghiệp Đó là
Trang 22một kế hoạch KSNB để đạt các mục tiêu doanh nghiệp, bao gồm: phương tiện và cách thức để bảo vệ tài sản, để kiểm tra tính đúng đắn của việc thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự thận trọng và hiệu quả hoạt động, giúp phòng tránh, tìm kiếm, sữa chữa kịp thời sai phạm Còn Lakis & Giriūnas (2012) cho rằng KSNB là một quy trình cần thiết được thiết lập rộng rãi nhằm hướng tới các mục tiêu: hiệu lực và hiệu quả kinh tế, độ tin cậy của kế toán và tài chính, tuân thủ quy định và luật lệ King (2011) cũng cho rằng KSNB là một quá trình thông quá đó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu, kết quả, kế hoạch hoạt động của nhà quản lý; tổ chức, giám sát toàn bộ hoạt động doanh nghiệp hoặc từng hoạt động nhỏ của doanh nghiệp Abbas và Iqbal (2012) định nghĩa KSNB là một quá trình được thiết kế cụ thể cho các doanh nghiệp nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt các mục tiêu của doanh nghiệp Như vậy ta thấy rằng, mặc dù quan niệm về KSNB được định nghĩa khác nhau, nhấn mạnh các khía cạnh và mục tiêu khác nhau, nhưng có hai thuật ngữ cơ bản giống nhau trong định nghĩa của các tác giả: KSNB là một hệ thống và KSNB là một quá trình Điều này phù hợp với quan điểm rằng, KSNB được duy trì trong hai phần cơ bản: (1) Thủ tục cần thiết để thực hiện hoạt động kinh doanh gọi là hệ thống hoạt động, (2) Thủ tục đảm bảo doanh nghiệp đang hoạt động theo sự mong đợi được gọi
là quá trình kiểm soát (Abbas & Iqbal, 2002); phù hợp với cách tiếp cận lý thuyết đại diện và lý thuyết đối phó ngẫu nhiên (Nguyễn Tuấn và ctg, 2015)
Trong các nghiên cứu và khuôn mẫu lý thuyết về kiểm toán nội bộ thì COSO (USA), Tumbull (UK), và CoCo (Canada) được biết đến như là ba khuôn mẫu kiểm soát nội bộ chủ yếu Những khuôn mẫu này mô tả kiểm soát nội bộ là một “quá trình” được thiết lập, vận hành và giám sát bởi những người chịu trách nhiệm quản trị và quản lý của một công ty, nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý liên quan đến việc đạt mục tiêu của công ty (PAIB Committee, 2006)
Theo Hội kế toán Anh quốc (England Associatain of Accountants - EAA):
“Hệ thống KSNB là một hệ thống kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác nhau được thành lập bởi ban quan lý nhằm: tiến hành kinh doanh của đơn vị trong trật tự và hiệu quả, đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh
Trang 23doanh của ban quản trị, giữ an toàn tài sản, đảm bảo tính toàn diện và chính xác số liệu hạch toán, những thành phần riêng lẻ của hệ thống kiểm soát nội bộ được coi là hoạt động kiểm tra hoặc hoạt động kiểm tra nội bộ”
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountants
- IFAC): “Hệ thống KSNB là hệ thống các chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả các hoạt động”
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Chuẩn mực kiểm toán số 400): “Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do các đơn vị kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”
Vào năm 1992, COSO đã ban hành khuôn mẫu tích hợp về kiểm soát nội bộ (thường biết đến với tên gọi là báo cáo COSO 1992) Khuôn mẫu này ra đời được
sự chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Cho đến ngày nay, báo cáo này không chỉ là khuôn khổ hướng dẫn các doanh nghiệp tại Mỹ thực hiện KSNB, mà còn là tài liệu hướng dẫn khá phổ biến về KSNB cho các doanh nghiệp trên toàn cầu và cả những nhà nghiên cứu khoa học Báo cáo COSO được công bố dưới tiêu
đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” đã định nghĩa kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp
lý nhằm đạt đươc các mục tiêu sau đây:
- Sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động;
- Sự tin cậy của báo cáo tài chính;
- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định
Sau hơn 20 năm kể từ khi Ủy ban COSO ban hành báo cáo 1992, môi trường hoạt động kinh doanh đã có nhiều thay đổi đáng kể, như sự toàn cầu hóa nền kinh
Trang 24tế, sự thay đổi trong cách thức kinh doanh, các kỳ vọng về ngăn ngừa và phát hiện gian lận ngày càng cao và đặc biệt là sự phát triển công nghệ thông tin trên quy mô toàn cầu Theo khuôn khổ KSNB của COSO năm 1992 và được cập nhật trong những năm 2006, 2009, 2013, COSO đã ban hành khuôn mẫu tích hợp kiểm soát nội bộ năm 2013 Trong khuôn mẫu này, khái niệm KSNB, về mặt bản chất thì không thay đổi so với khuôn mẫu KSNB 1992 Tuy nhiên, mục tiêu của KSNB đã
có sự mở rộng hơn với mục tiêu hoạt động và mục tiêu báo cáo Theo khuôn mẫu kiểm soát nội bộ 2013, “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”
Trong khái niệm trên, theo báo cáo COSO 2013 nhấn mạnh đến bốn nội dung cơ bản, bao gồm:
- Kiểm soát là một quá trình: KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động có mối liên
hệ với nhau, hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của tổ chức Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình
- Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: kiểm soát nội bộ
bị ảnh hưởng bởi yếu tố con người, chính con người thiết lập ra các mục tiêu, xây dựng các chính sách, thủ tục và vận hành chúng Con người ở đây bao gồm hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên trong một đơn vị
- Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung
cấp cho hội đồng quản trị và ban giám đốc một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt được Điều này xuất phát từ hạn chế cố hữu của hệ thống KSNB liên quan đến những sai sót, bất cẩn của con người, sự thông đồng, lạm quyền của nhà quản lý…
- Các mục tiêu: kiểm soát nội bộ được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo
hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức Các mục tiêu này bao gồm:
Trang 25 Mục tiêu hoạt động: những mục tiêu này liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động tổ chức, bao gồm những mục tiêu và thành quả hoạt động, thành quả tài chính, và đảm bảo an toàn cho tài sản
Mục tiêu báo cáo: những mục tiêu này liên quan đến việc lập các báo cáo tài chính, phi tài chính bên trong và bên ngoài tổ chức và có thể bao gồm tính đáng tin cậy, tính kịp thời, tính minh bạch hay những tiêu chuẩn khác
Mục tiêu tuân thủ: những mục tiêu này liên quan đến sự tuân thủ luật pháp và các quy định mà tổ chức bị chi phối
Như vậy, thông qua báo cáo COSO 2013, khái niệm KSNB được chuẩn hóa phát triển thành một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh Chính vì vậy, khái niệm
về KSNB theo COSO 2013 là quan điểm mà tác giả vận dụng trong luận văn ở các chương tiếp theo
2.1.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
2.1.2.2 Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ của các tổ chức khác nhau được vận hành với mức độ hữu hiệu khác nhau Tương tự như thế, một hệ thống kiểm soát nội bộ cụ thể của một tổ chức cũng sẽ vận hành với mức độ hữu hiệu khác nhau ở những thời điểm khác nhau
Báo cáo của COSO (2013) cho rằng, một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu (xét ở một thời điểm xác định) nếu Hội đồng quản trị và nhà quản lý đảm bảo hợp
lý đạt được các tiêu chí sau:
Trang 26− Họ hiểu rõ mục tiêu hoạt động của tổ chức đang đạt được ở mức độ nào
− Báo cáo tài chính đang được lập và trình bày một cách đáng tin cây
− Pháp luật và các quy định đang được tuân thủ
Như vậy, trong khi KSNB là một quá trình thì tính hữu hiệu của KSNB lại một trạng thái (tình trạng) của quá trình đó ở một thời điểm nhất định Việc đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ là mang tính xét đoán Bên cạnh đó, để đánh giá tính hữu hiệu (nói chung), ngoài ba tiêu chí trên, còn cần phải đánh giá thêm:
− Năm bộ phận cấu thành, 17 nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ có hiện hữu không?
− Nếu có, chúng có hoạt động hữu hiệu không? (COSO, 2013)
Có thể thấy, sự hiện hữu của năm bộ phận cấu thành và 17 nguyên tắc của một hệ thống kiểm soát nội bộ cũng chính là tiêu chí để đánh giá tính hữu hiệu của
hệ thống KSNB Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khi cho rằng năm tiêu chí trên cần được thõa mãn khi đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB thì điều này cũng không
có nghĩa là mỗi bộ phận hợp thành của hệ thống KSNB đều phải hoạt động y hệt như nhau hoặc cùng mức độ ở các bộ phận khác nhau
2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần của hệ thống KSNB và tính hữu hiệu của
hệ thống KSNB
Một hệ thống kiểm KSNB hữu hiệu cung cấp một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt các mục tiêu kiểm soát của tổ chức Bởi vì, KSNB liên quan đến tổ chức và những cá nhân trực thuộc của nó, một hệ thống kiểm soát hữu hiệu có thể xem là một phần quan trọng trong cơ cấu tổ chức Một hệ thống KSNB được xem là hữu hiệu khi nó có thể làm giảm rủi ro không đạt được mục tiêu của tổ chức ở mức có thể chấp nhận được và có liên quan đến một, hai, hoặc cả ba loại mục tiêu Để thực hiện được điều này, nó đòi hỏi:
Mỗi một thành phần và các nguyên tắc tương ứng phải hiện hữu và phải thực hiện chức năng trong hệ thống KSNB “Hiện hữu” đề cập đến việc xác định rằng các thành phần và các nguyên tắc có liên quan tồn tại trong
Trang 27quá trình thiết kế và thực hiện hệ thống KSNB để đạt các mục tiêu cụ thể Trong khi đó, “Thực hiện chức năng” đề cập đến việc xác định các thành phần và các nguyên tắc có liên quan tiếp tục tồn tại trong hoạt động và hành vi của hệ thống kiểm soát nội bộ để đạt các mục tiêu cụ thể
Năm thành phần phải hoạt động cùng nhau một cách tích hợp “Hoạt động cùng nhau” đề cập đến việc xác định rằng tất cả năm thành phần cùng hoạt động để làm giảm nguy cơ không đạt được một mục tiêu ở mức chấp nhận được Không nên xem xét các thành phần một cách riêng lẻ, thay vào đó, chúng hoạt động cùng nhau như một hệ thống tích hợp Các thành phần phải có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với vô số các mối quan hệ qua lại và liên kết giữa chúng, đặc biệt là cách thức mà các nguyên tắc tương tác bên trong và giữa các thành phần
Do vậy, một hệ thống KSNB sẽ không được xem là hữu hiệu khi có một thiếu hụt lớn trong kiểm soát nội bộ Sự thiếu hụt này tồn tại khi nhà quản lý xác định rằng một thành phần và một hoặc nhiều nguyên tắc liên quan không thực sự hiện hữu và không thực hiện đúng chức năng, hoặc các thành phần không hoạt động cùng nhau một cách tích hợp Nói cách khác, nó đã không đáp ứng được yêu cầu cho một hệ thống KSNB hữu hiệu Có nhiều cơ sở cho việc nhận biết sự thiếu hụt trong kiểm soát nội bộ, bao gồm các hoạt động giám sát của tổ chức, các thành phần khác, và các đối tượng bên ngoài - đối tượng cung cấp dữ liệu về sự hiện hữu và thực hiện chức năng của các thành phần và nguyên tắc liên quan
Khi một hệ thống KSNB được xác định hữu hiệu, thì nhà quản lý cấp cao và hội đồng quản trị phải có sự đảm bảo hợp lý đối với từng loại mục tiêu, cụ thể như sau:
Đối với mục tiêu hoạt động:
Tổ chức chỉ đạt được các hoạt động hữu hiệu và hiệu quả khi các sự kiện bên ngoài được coi là không thể có một tác động đáng kể nào đến việc đạt các mục tiêu hoặc khi mà tổ chức có thể dự đoán một cách hợp lý về tính chất và thời gian của các sự kiện bên ngoài và giảm thiểu tác động đến mức độ chấp nhận được
Trang 28Tổ chức phải hiểu được mức độ mà các hoạt động quản lý một cách hữu hiệu
và hiệu quả khi các sự kiện bên ngoài có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được các mục tiêu và những tác động này không thể được giảm thiểu đến một mức đọ chấp nhận được
Đối với mục tiêu báo cáo: Tổ chức phải chuẩn bị các báo cáo tuân theo những nguyên tắc, quy định và chuẩn mực hoặc theo những mục tiêu báo cáo đã xác định của tổ chức
Đối với mục tiêu tuân thủ: Tổ chức phải tuân thủ pháp luật, các quy tắc, các quy định và những tiêu thủ bên ngoài
Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ của COSO yêu cầu sự phán đoán trong việc thiết
kế, thực hiện và vận hành kiểm soát nội bộ, cũng như đánh giá tính hữu hiệu của nó Việc sử dụng các phán đoán trong phạm vi được thiết lập bởi luật pháp, các quy tắc, các quy định và chuẩn mực, sẽ góp phần tăng cường khả năng của nhà quản lý đề ra quyết định tốt hơn về kiểm soát nội bộ, như không đảm bảo một kết quả hoàn hảo
2.3 Các nhân tố của hệ thống KSNB ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB
Có nhiều quan điểm khác nhau về các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB, với
đề tài nghiên cứu về hệ thống KSNB, tác giả sử dụng khuôn mẫu KSNB theo COSO 2013 để đưa ra các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB Theo báo cáo COSO
2013 thì một hệ thống KSNB bộ các đơn vị gồm có 5 “thành phần”: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát Các thành phần của hệ thống KSNB được phát triển thành 17 nguyên tắc kiểm soát trong báo cáo COSO năm 2013 diễn giải cho những khái niệm cơ bản liên quan đến mỗi nhân tố cấu thành đó Tất cả 17 nguyên tắc có thể áp dụng cho nhóm mục tiêu chung và cho cả những mục tiêu riêng rẽ bên trong mỗi hoạt động Các nội dung cơ bản của các bộ phận được tổng hợp thành 17 nguyên tắc nhằm giúp nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 292.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, các quy trình, và các cấu trúc làm cơ sở cho việc thực hiện kiểm soát nội bộ trong tổ chức Hội đồng quản trị
và quản lý cấp cao thiết lập sắc thái từ cấp trên liên quan đến tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ và những tiêu chuẩn về đạo đức được mong đợi Chính vì thế môi trường kiểm soát tạo ra sắc thái chung của một tổ chức, chi phối đến ý thức kiểm soát của mọi người trong tổ chức; là nền tảng cho tất cả các bộ phận khác của KSNB nhằm xây dựng nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp Môi trường kiểm soát bao gồm nhận thức, thái độ và hành động của nhà quản lý trong đơn vị kiểm soát và tầm quan trọng kiểm soát Môi trường kiểm soát có một ảnh hưởng quan trọng đến quá trình thực hiện và kết quả của các thủ tục kiểm soát (Ramos, 2004); (COSO 2013) Năm nguyên tắc liên quan đến môi trường kiểm soát được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO 2013, bao gồm:
Nguyên tắc 1: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính chính trực và giá trị đạo
đức
+ Thiết lập phong cách điều hành của nhà quản trị ngay từ đầu và trong suốt quá trình quản lý: HĐQT và NQL, các cấp trong đơn vị thể hiện cam kết thông qua các chỉ thị, hành động và cách ứng xử của họ, thể hiện tầm quan trọng của tính chính trực và giá trị đạo đức để hỗ trợ các chức năng của hệ thống KSNB
+ Thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức
+ Đánh giá tính tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức: Các quy trình được thiết lập ra nhằm đánh giá việc thực hiện của các cá nhân theo tiêu chuẩn đạo đức của đơn vị + Thông báo các sai lệch một cách kịp thời: các sai lệch so với tiêu chuẩn đạo đức sẽ được xác định và khắc phục kịp thời và phù hợp
Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ được sự độc lập với nhà quản lý
và đảm nhiệm trách nhiệm giám sát việc thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ + Thiết lập trách nhiệm giám sát: HĐQT có trách nhiệm giám sát liên quan đến yêu cầu và kỳ vọng đã được thiết lập
Trang 30+ Áp dụng chuyên môn phù hợp: HĐQT xác định và đánh giá định kỳ những kiến thức và kỹ năng cần thiết giữa các thành viên của mình để có những hành động tương xứng cần thiết
+ Hoạt động độc lập: HĐQT phải có đủ các thành viên hoạt động độc lập và thể hiện khách quan để giám sát hoạt động của NQL
+ Cung cấp sự giám sát đối với hệ thống KSNB: HĐQT hướng dẫn, chỉ đạo và đánh giá sự vận hành của hệ thống KSNB
Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị cần thiết lập
cơ cấu tổ chức, trách nhiệm báo cáo, phân định quyền hạn và trách nhiệm nhằm đạt các mục tiêu của đơn vị
+ Xem xét tất cả các cơ cấu của đơn vị: NQL và HĐQT xem xét tất cả cơ cấu được sử dụng (bao gồm cả các đơn vị hoạt động, pháp nhân và các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài) để hỗ trợ đạt các mục tiêu
+ Thiết lập dòng báo cáo: NQL thiết kế và đánh giá các dòng báo cáo cho cơ cấu
tổ chức để cho phép thực hiện các quyền và trách nhiệm, lưu chuyển thông tin để quản lý các hoạt động của đơn vị
+ Phân chia quyền hạn và trách nhiệm: NQL và HĐQT xác định và phân công quyền hạn và trách nhiệm cho phù hợp ở các cấp khác nhau của tổ chức
Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ cam kết trong việc thu hút, phát triển nguồn
năng lực và duy trì việc sử dụng nhân viên nhằm đảm bảo năng lực phù hợp với từng mục tiêu của đơn vị
+ Thiết lập chính sách và áp dụng vào thực tiễn: Chính sách và thực tiễn phản ánh mong đợi về năng lực cần thiết của nhân viên để hỗ trợ đạt các mục tiêu
+ Thu hút, đào tạo và giữ chân nhân viên: Tổ chức cung cấp tư vấn và đào tạo cần thiết
+ Đánh giá năng lực và báo cáo những thiếu sót
+ Lập kế hoạch và chuẩn bị cho sự kế nhiệm
Trang 31Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách
nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức
+ Thực thi trách nhiệm thông qua cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách nhiệm: NQL và HĐQT thiết lập các cơ chế để yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm về thực hiện trách nhiệm KSNB trong tổ chức và thực hiện khắc phục khi cần thiết + Thiết lập các biện pháp đo lường hiệu quả, khuyến khích và khen thưởng phù hợp + Đánh giá thường xuyên các biện pháp đo lường hiệu quả, khuyến khích và khen thưởng
Nguyên tắc 6: Đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để giúp có thể nhận
diện và đánh giá các rủi ro phát sinh trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị
+ Mục tiêu hoạt động: xem xét khả năng đối phó rủi ro, phản ánh lựa chọn của NQL (mục tiêu hoạt động phản ánh sự lựa chọn của NQL về cơ cấu, xem xét ngành
Trang 32nghề và hiệu suất của đơn vị), bao gồm mục tiêu hoạt động và hiệu quả tài chính, hình thức cơ sở cho việc cam kết nguồn lực
+ Mục tiêu báo cáo: Đối với mục tiêu báo cáo tài chính cần xem xét tính trọng yếu, phù hợp với chuẩn mực kế toán tài chính áp dụng, phản ánh hoạt động của đơn
vị Đối với mục tiêu báo cáo phi tài chính cần xem xét các yêu cầu mức độ chính xác, phù hợp với tiêu chuẩn và khuôn khổ thiết lập bên ngoài, phản ánh hoạt động của đơn vị Đối với mục tiêu báo cáo nội bộ cần xem xét các yêu cầu mức độ chính xác, phản ánh lựa chọn của NQL, phản ánh hoạt động của đơn vị
+ Mục tiêu tuân thủ: Xem xét khả năng đối phó với rủi ro, phản ánh pháp luật bên ngoài và các quy định
Nguyên tắc 7: Đơn vị phải nhận diện các rủi ro trong việc đạt được các mục tiêu
của đơn vị, và tiến hành phân tích rủi ro để làm cơ sở cho việc đối phó với rủi ro + Liên quan đến cấp độ quản lý thích hợp: Tổ chức đặt ra cơ chế đánh giá rủi ro
ở cấp độ đơn vị, ở từng bộ phận, từng chức năng
+ Phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài đơn vị
+ Ước tính tầm quan trọng của rủi ro đã được nhận diện: Nhận diện rủi ro được phân tích thông qua một quá trình bao gồm ước tính tầm quan trọng của rủi ro tiềm tàng
+ Xác định cách thức ứng phó rủi ro: Đánh giá rủi ro bao gồm việc xem xét cách thức rủi ro cần được quản lý như thế nào và đơn vị đưa ra biện pháp đối phó rủi ro thích hợp như chấp nhận rủi ro, giảm thiểu rủi ro, tránh né rủi ro, kiểm soát rủi ro
Nguyên tắc 8: Đơn vị cần xem xét các gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro đối
với việc đạt được các mục tiêucủa đơn vị
+ Xem xét các loại các gian lận có thể xảy ra: Việc đánh giá gian lận là xem xét khả năng mất mát tài sản, báo cáo gian lận và tham nhũng từ những cách khác nhau
mà gian lận và hành vi sai trái có thể xảy ra
+ Đánh giá động cơ và áp lực
+ Đánh giá cơ hội
Trang 33+ Đánh giá thái độ và tính duy lý: Việc đánh giá rủi ro có gian lận xem xét cách thức mà NQL và các nhân viên khác có thể tham gia hay biện minh cho các hành động không phù hợp
Nguyên tắc 9: Đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trường
ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ
+ Đánh giá những thay đổi từ bên ngoài: như chính trị, kinh tế…
+ Đánh giá những thay đổi trong mô hình kinh doanh: Đơn vị xem xét các tác động tiềm tàng của lĩnh vực kinh doanh mới, thay đổi đáng kể ngành nghề kinh doanh hiện có, kỹ thuật mới…tác động lên hệ thống KSNB
+ Đánh giá những thay đổi về nhà quản lý: Đơn vị xem xét sự thay đổi trong cách thức quản lý, thái độ và triết lý của người quản lý về hệ thống KSNB
2.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là các hoạt động được thiết lập thông qua các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo rằng những chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện để giảm thiểu những rủi ro để đạt các mục tiêu của đơn vị Các chính sách và thủ tục này thúc đẩy các hoạt động cần thiết để giảm thiểu những rủi ro của doanh nghiệp
và tạo điều kiện cho các mục tiêu đề ra được thực thi nghiêm túc, hiệu quả an toàn trong doanh nghiệp Hoạt động kiểm soát được thực hiện ở tất cả các cấp của đơn
vị, ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình kinh doanh, và trong môi trường công nghệ thông tin (Ramos, 2004), (COSO 2013) Về mặt bản chất, chúng có thể là kiểm soát ngăn chặn hoặc kiểm soát phát hiện và có thể bao gồm một loạt các hoạt động thủ công và tự động như phân quyền và phê duyệt, xác minh, đối chiếu và đánh giá thành quả kinh doanh Phân công phân nhiệm là một đặc thù trong việc lựa chọn và thiết lập của các hoạt động kiểm soát
Ba nguyên tắc liên quan đến hoạt động kiểm soát được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO 2103, bao gồm:
Trang 34Nguyên tắc 10: Đơn vị phải lựa chọn và thiết lập các hoạt động kiểm soát
nhằm giảm thiểu rủi ro trong việc đạt được các mục tiêu ở mức độ có thể chấp nhận được
+ Tích hợp với đánh giá rủi ro: Các hoạt động kiểm soát giúp đảm bảo rằng đối phó với rủi ro và làm giảm thiểu rủi ro ở mức chấp nhận được
+ Xác định quy trình kinh doanh phù hợp: NQL xác định quy trình kinh doanh phù hợp với yêu cầu của các hoạt động kiểm soát
+ Xem xét yếu tố đặc trưng riêng của tổ chức: NQL xem xét cách thức môi trường, độ phức tạp, tính chất và phạm vi hoạt động cũng như đặc trưng riêng của tổ chức, ảnh hưởng đến việc lựa chọn và phát triển các hoạt động kiểm soát
+ Đánh giá sự kết hợp các loại hoạt động kiểm soát: Hoạt động kiểm soát bao gồm cả kiểm soát thủ công và kiểm soát tự động, kiểm soát phòng ngừa và kiểm soát phát hiện
+ Xem xét mức độ hoạt động được áp dụng: NQL xem xét các hoạt động kiểm soát ở các cấp trong đơn vị
+ Điều chỉnh việc phân công nhiệm vụ: Khi NQL phân công nhiệm vụ không phù hợp, không thực tế, NQL tiến hành lựa chọn và phát triển các hoạt động khác thay thế khi cần thiết
Nguyên tắc 11: Đơn vị phải lựa chọn và thiết lập các hoạt động kiểm soát
chung về công nghệ thông tin nhằm hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu
+ Xác định sự phù hợp giữa việc sử dụng công nghệ trong quá trình kinh doanh
và kiểm soát chung về công nghệ thông tin: Nhà quản lý hiểu và xác định sự phụ thuộc và liên kết giữa các quá trình kinh doanh, các hoạt động kiểm soát tự động và kiểm soát chung về công nghệ thông tin
+ Thiết lập các hoạt động kiểm soát cơ sở hạ tầng công nghệ phù hợp: Các hoạt động kiểm soát cơ sở hạ tầng công nghệ, được thiết kế và thực hiện để giúp đảm bảo tính đầy đủ, tính chính xác và sự sẵn có của quy trình công nghệ
Trang 35+ Thiết lập hoạt động kiểm soát quy trình quản lý an ninh phù hợp: Các hoạt động kiểm soát được thiết kế và thực hiện để hạn chế quyền truy cập công nghệ cho người dùng có thẩm quyền tương xứng và để bảo vệ tài sản từ mối đe dọa bên ngoài
+ Thiết lập hoạt động kiểm soát quy trình chuyển giao, phát triển và duy trì công nghệ phù hợp
Nguyên tắc 12: Đơn vị phải triển khai các hoạt động kiểm soát dựa trên việc
thiết lập các chính sách và triển khai thành các thủ tục
+ Thiết lập các chính sách và thủ tục để hỗ trợ cho việc triển khai các chỉ thị của nhà quản lý: Nhà quản lý thiết lập các hoạt động kiểm soát được xây dụng dựa trên quy trình kinh doanh và hoạt động hằng ngày của nhân viên thông qua các chính sách thiết lập những gì được mong đợi và các thủ tục phù hợp hành động quy định
cụ thể
+ Thiết lập các trách nhiệm và giải trình về chính sách và thủ tục được thực thi + Sử dụng nhân viên có năng lực: Nhân viên có năng lực thực hiện hoạt động kiểm soát với sự siêng năng và tập trung liên tục
+ Thực hiện một cách kịp thời
+ Đưa ra các hành động khắc phục: Nhân viên có trách nhiệm điều tra và tác động vào các vấn đề được xác định là kết quả của việc thực hiện các hoạt động kiểm soát
+ Đánh giá lại các chính sách và thủ tục: Nhà quản lý đánh giá lại hoạt động kiểm soát định kỳ để xác định sự phù hợp của các chính sách và thủ tục và có thể làm mới chúng khi cần thiết
2.3.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ, bao gồm
cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp Thông tin cần thiết cho mọi cấp của một
Trang 36tổ chức vì giúp việc đạt được các mục tiêu kiểm soát khác nhau Vì vậy nhà quản lý phải thu thập hoặc tạo ra và sử dụng thông tin phù hợp, có chất lượng có từ các nguồn cả bên trong và bên ngoài để hỗ trợ việc thực hiện chức năng của các thành phần khác của kiểm soát nội bộ Truyền thông là quá trình cung cấp và chia sẻ, và thu thập thông tin cần thiết, được diễn ra liên tục và lặp đi lặp lại Nó cho phép đơn
vị chia sẻ những thông tin phù hợp và có chất lượng cả bên trong và bên ngoài đơn
vị Đồng thời, nó cũng cung cấp những thông tin cần thiết cho việc thiết kế, thực hiện và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ (Dinapoli, 2007), (COSO 2013) Truyền thông nội bộ là phương tiện mà thông tin được phổ biến trên toàn đơn vị, theo cả chiều dọc và chiều ngang Nó cho phép nhân viên nhận được thông báo một cách rõ ràng từ nhà quản lý cấp cao Truyền thông bên ngoài gồm hai hướng: nó cho phép truyền những thông tin có liên quan từ bên ngoài vào đơn vị, và nó cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài để đáp ứng theo yêu cầu
Ba nguyên tắc liên quan đến thông tin và truyền thông được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO 2103, bao gồm:
Nguyên tắc 13: Đơn vị phải thu thập (hoặc tạo ra) và sử dụng các thông tin
phù hợp, có chất lượng nhằm hỗ trợ cho các bộ phận cấu thành khác của kiểm soát nội bộ
+ Xác định yêu cầu về thông tin: Một quá trình được đưa ra để xác định các thông tin cần thiết và dự kiến sẽ hỗ trợ chức năng của các thành phần khác của KSNB và đạt các mục tiêu của đơn vị
+ Thu thập các nguồn dữ liệu bên trong và bên ngoài đơn vị
+ Quy trình chuyển dữ liệu phù hợp thành thông tin: Hệ thống thông tin xử lý và chuyển đổi phù hợp thành thông tin
+ Duy trì chất lượng trong suốt quá trình: Hệ thống thông tin cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác đầy đủ, dễ tiếp cận, an toàn, được xác minh và lưu lại + Xem xét mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích: Bản chất, số lượng và độ chính xác của thông tin truyền đạt phải phù hợp và hỗ trợ để đạt các mục tiêu
Trang 37Nguyên tắc 14: Đơn vị phải truyền thông trong nội bộ những thông tin cần
thiết nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện chức năng kiểm soát
+ Truyền đạt thông tin KSNB cho nhân viên: Một quá trình được đặt ra để truyền đạt thông tin cần thiết cho nhân viên hiểu và trách nhiệm KSNB của mình + Truyền thông với Hội đồng quản trị: Truyền thông tồn tại giữa nhà quản lý và Hội đồng quản trị để cả hai có thông tin cần thiết nhằm thực hiện tốt vai trò của họ đối với các mục tiêu
+ Cung cấp kênh truyền thông riêng biệt: ví dụ như đường dây nóng, hộp thư kín được đưa ra và phục vụ như là cơ chế dự phòng khi các kênh thông thường không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả
+ Lựa chọn phương pháp truyền thông phù hợp: Cần xem xét thời gian, người tiếp nhận và tính chất truyền thông
- Nguyên tắc 15: Đơn vị phải truyền thông cho các đối tượng bên ngoài các
thông tin liên quan đến các vấn đề ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng kiểm soát nội bộ
+ Truyền thông cho các đối tượng bên ngoài: Qúa trình truyền đạt thông tin phù hợp và kịp thời cho các đối tượng bên ngoài bao gồm cả cổ đông, đối tác, khách hàng, nhà cung cấp…
+ Cho phép truyền thông ngược lại: kênh truyền thông mở cho đối tượng bên ngoài cung cấp cho Nhà quản lý, Hội đồng quản trị thông tin thích hợp
+ Cung cấp kênh truyền thông riêng biệt: ví dụ như đường dây nóng, hộp thư kín được đưa ra và phục vụ như là cơ chế dự phòng khi các kênh thông thường không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả
+ Truyền thông với Hội đồng quản trị: Thông tin phù hợp từ các đánh giá được tiến hành bởi các đối tượng bên ngoài được truyền đạt đến Hội đồng quản trị
+ Lựa chọn phương pháp truyền thông phù hợp: Cần xem xét thời gian, người tiếp nhận và tính chất truyền thông, yêu cầu và kỳ vọng về pháp lý, quy định
Trang 382.3.5 Giám sát
Giám sát là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ theo thời gian Toàn bộ quy trình hoạt động phải được giám sát và điều chỉnh khi cần thiết Hệ thống phải có khả năng phản ứng năng động, thay đổi theo yêu cầu của môi trường bên trong và bên ngoài Giám sát có một vai trò quan trọng, nó giúp KSNB luôn hoạt động hữu hiệu Qúa trình giám sát được thực hiện bởi những người
có trách nhiệm nhằm đánh giá việc thiết lập và thực hiện các thủ tục kiểm soát (Spinger, 2004), (COSO, 2013) Việc đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ hoặc kết hợp cả hai được sử dụng để xác định liệu các thành phần của kiểm soát nội bộ, bao gồm việc thực hiện các nguyên tắc trong mỗi thành phần, có hiện hữu và được thực hiện đầy đủ hay không Đánh giá thường xuyên được thực hiện ngay trong các hoạt động thường ngày và được lặp đi lặp lại, do vậy sẽ hiệu quả hơn so với giám sát định kỳ Đánh giá định kỳ được tiến hành định kỳ, sẽ thay đổi trong phạm vi và tần số phụ thuộc vào đánh giá rủi ro, hiệu quả của việc đánh giá liên tục và sự cân nhắc trong quản lý Kết quả phát hiện được đánh giá theo tiêu chuẩn của nhà quản
lý, và những thiếu sót sẽ được truyền đạt đến ban quản lý và ban giám đốc
Hai nguyên tắc liên quan đến hoạt động giám sát được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO 2103, bao gồm:
Nguyên tắc 16: Đơn vị phải lựa chọn, thiết lập và thực hiện việc đánh giá
thường xuyên/ hoặc định kỳ nhằm đảm bảo các bộ phận cấu thành của kiểm soát nôi
bộ là hiện hữu và đang thực hiện đúng chức năng
+ Xem xét hỗn hợp các đánh giá thường xuyên và định kỳ Nhà quản lý đảm bảo
sự cần bằng bằng các đánh giá liên tục hoặc định kỳ
+ Thiết lập những hiểu biết cơ bản: Các thiết kế và trạng thái của hệ thống KSNB được sử dụng để thiết lập cơ sở cho việc đánh giá thường xuyên và định kỳ + Xem xét tỉ lệ thay đổi: Nhà quản lý xem xét tỷ lệ thay đổi trong quá trình kinh doanh khi lựa chọn và phát triển các đánh giá định kỳ hay định kỳ
Trang 39+ Sử dụng nhân viên có năng lực: Đánh giá viên thực hiện đánh giá liên tục và định kỳ phải có kiến thức để hiểu rõ những gì đang đánh giá
+ Phù hợp với quy trình kinh doanh: Đánh giá liên tục được xây dựng vào các quá trình kinh doanh và điều chỉnh khi điều kiện thay đổi
+ Đánh giá khách quan: Đánh giá định kỳ được thực hiện định kỳ để cung cấp những thông tin phản hồi khách quan
+ Điều chỉnh phạm vi và tần suất: Nhà quản lý thay đổi phạm ci và tần suất của các đánh giá định kỳ tùy thuộc vào các rủi ro
Nguyên tắc 17: Đơn vị phải đánh giá và công bố kịp thời những điểm yếu
của kiểm soát nội bộ cho các đối tượng có trách nhiệm, bao gồm nhà quản lý cấp cao, hội đồng quản trị và các đối tượng phù hợp khác
+ Đánh giá kết quả Nhà quản lý và Hội đồng quản trị khi thích hợp tiến hành kiểm tra kết quả cho việc đánh giá thường xuyên và định kỳ
+ Thông báo những khiếm khuyết đến Nhà quản lý: Những khiếm khuyết được thông báo đến các bên chịu trách nhiệm về hành động khắc phục và ít nhất một cấp quản lý cấp trên
+ Báo cáo những khiếm khuyết cho Nhà quản lý cấp cao và Hội đồng quản trị + Giám sát các biện pháp khắc phục: Nhà quản lý theo dõi những khiếm khuyết được sữa chữa một cách kịp thời
2.4 Các lý thuyết nền có liên quan
2.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện được hiểu là vấn đề đại diện xảy ra khi các bên hợp tác mục tiêu và phân công lao động khác nhau (Jensen và Meckling, 1976) Cụ thể, lý thuyết đại diện tập trung nghiên cứu vào các mối quan hệ đại diện; trong đó, một bên là người chủ và người quản lý doanh nghiệp (người đại diện) Jensen và Meckling (1976) định nghĩa một mối quan hệ đại diện là “một hợp đồng theo đó một hay nhiều người chủ thuê người khác (đại diện) để thực hiện một số hoạt động thay mặt chủ thông qua một số ủy quyền quyết định cho đại diện” Trong một doanh
Trang 40nghiệp, mối quan hệ này biểu hiện thông qua quan hệ giữa cổ đông (chủ sở hữu) và người quản lý (người đại diện) Lý thuyết đại diện cho rằng cả hai bên (người đại diện va người chủ) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Thông thường, bên được
ủy nhiệm (đại diện) được mong đợi sẽ hành xử theo hướng mang lại lợi ích lớn nhất cho người chủ nhưng bản thân những người đại diện cũng theo đuổi mục đích riêng của họ Theo Eisenhart (1989) lý thuyết đại diện tập trung vào giải quyết hai vấn đề xảy ra trong mối quan hệ đại diện: vấn đề đại diện và các vấn đề chia sẽ rủi ro Chính vì vậy trong mối quan hệ này luôn tồn tại những mâu thuẫn và điều này làm phát sinh một khoản chi phí đại diện, được phân thành hai loại: chi phí đầu tư vào
hệ thống kiểm soát cần thiết để giảm việc thiếu thông tin của người chủ và chi phí giảm thiểu rủi ro thông qua việc chia sẻ rủi ro với bên đại diện nhờ những biện pháp kích thích dựa trên kết quả đầu ra
Dựa vào lý thuyết đại diện giới thiệu bởi Jensen và Meckling (1976), cho thấy rằng trong các doanh nghiệp tồn tại vấn đề đại diện đó là việc tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát sẽ dẫn đến xung đột lợi ích; điều này thường xảy ra ở hầu hết các hoạt động của từng cá nhân trong hệ thống phân quyền giữa người chủ
và đại diện Do đó, quản trị doanh nghiệp là cần thiết để giúp các doanh nghiệp đồng bộ hóa lợi ích và chia sẽ rủi ro của tất cả các thành viên (Hart, 1995) Quản trị doanh nghiệp là một hệ thống luật lệ, quy tắc, chính sách; nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp (Gillan, 2006) Quản trị doanh nghiệp bao hàm mối quan hệ giữa các bên, không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp như các cổ đông, hội đồng quản trị mà còn những lợi ích liên quan bên ngoài doanh nghiệp: cơ quan quản lý nhà nước, các đối tác kinh doanh, cộng đồng và xã hội Do vậy, cơ chế quản trị doanh nghiệp có thể được chia thành các cơ chế quản trị nội bộ
và cơ chế quản trị bên ngoài (Gillan, 2006; Rezaee, 2007) Các cơ chế quản trị nội
bộ có nguồn gốc từ các thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc điều hành, KSNB và các chức năng kiểm toán nội bộ Trong khi các cơ chế quản trị bên ngoài
có nguồn gốc từ thị trường vốn, thị trường lao động, tình trạng nhà nước, chủ sở hữu chứng khoán và hoạt động đầu tư (Nguyễn Tuấn và ctg, 2015)