1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng giá trị hợp lý trong kế toán

139 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam – nghiên cứu thực nghiệm trên

Trang 1

-O0O -

NGÔ THỊ THƠ

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU THỰC

NGHIỆM TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-O0O -

NGÔ THỊ THƠ

ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU THỰC

NGHIỆM TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM

Chuyên ngành : Kế toán

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS, TS NGUYỄN XUÂN HƯNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam – nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn TP HCM” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tác giả

NGÔ THỊ THƠ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ix

PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

5.1 Nghiên cứu định tính 3

5.2 Nghiên cứu định lượng 3

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4

7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Các nghiên cứu được công bố ở ngoài nước 5

1.2 Các nghiên cứu được công bố trong nước 6

1.2.1 Các bài báo khoa học 6

1.2.2 Luận văn thạc sĩ 8

Trang 5

1.3 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 12

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GTHL VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN 13

2.1 Các vấn đề định giá trong kế toán 13

2.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán 13

2.1.2 Các phương pháp định giá trong kế toán 13

2.1.2.1 Giá đầu vào (Exchange input value) 13

2.1.2.2 Giá đầu ra 14

2.1.3 Các hệ thống định giá trong kế toán 14

2.1.3.1.Hệ thống kế toán dựa trên giá gốc (Historical Cost Accounting) 14

2.1.3.2.Hệ thống kế toán dựa trên mức giá chung (General price – level accounting) 15

2.1.3.3.Hệ thống kế toán dựa trên giá hiện hành (Current Cost Accounting) 15

2.1.3.4.Hệ thống kế toán dựa trên đầu ra (Exit – price Accounting) 16

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của GTHL 16

2.2.1 Giai đoạn từ 1850 - 1970: Giai đoạn tự phát của thị trường 16

2.2.2 Giai đoạn từ 1970 - 1990: Giai đoạn chính thức hình thành GTHL 17

2.2.3 Giai đoạn từ 1990 - 2005: Giai đoạn phát triển của GTHL 18

2.2.4 Giai đoạn từ 2005 đến nay 18

2.3 Nội dung của GTHL 19

2.3.1 Định nghĩa GTHL 19

2.3.2 Phạm vi sử dụng GTHL trong các CMKT quốc tế 21

2.3.2.1.Đo lường các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ban đầu 22

2.3.2.2.Sử dụng GTHL để phân bổ chi phí của các giao dịch phức hợp 23

Trang 6

2.3.2.3 Sử dụng GTHL để đo lường TS và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu 24

2.3.2.4 Sử dụng GTHL để đánh giá sự suy giảm giá trị TS 24

2.4 Kinh nghiệm sử dụng GTHL ở Trung Quốc 27

2.5 Bài học rút ra cho Việt Nam 28

2.6 Các nhân tố tác động đến việc vận dụng GTHL 29

2.6.1 Môi trường pháp lý và chính trị 29

2.6.2 Môi trường kinh doanh 30

2.6.3 Môi trường văn hóa, xã hội 30

2.6.4 Năng lực người hành nghề kế toán 31

2.6.5 Quy mô doanh nghiệp 32

2.6.6 Vai trò của các tổ chức, hội nghề nghiệp kế toán 33

2.6.7 Nhu cầu thông tin BCTC 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG CỦA LUẬN VĂN 36

3.1 Quy trình nghiên cứu của luận văn 36

3.2 Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu 37

3.2.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 37

3.2.1.1 Tác động của môi trường pháp lý, chính trị đến việc vận dụng GTHL 38 3.2.1.2 Tác động của môi trường kinh doanh đến việc vận dụng GTHL 38

3.2.1.3 Tác động của môi trường văn hóa, xã hội đến việc vận dụng GTHL 39

3.2.1.4 Tác động của năng lực người hành nghề kế toán đến việc vận dụng GTHL 39

3.2.1.5 Quy mô doanh nghiệp 40

Trang 7

3.2.1.6.Vai trò của các tổ chức, hội nghề nghiệp kế toán đến việc vận dụng

GTHL 40

3.2.1.7.Nhu cầu thông tin về BCTC 40

3.1.2 Mô hình nghiên cứu 41

3.3 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 41

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 42

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 42

3.3.2.1.Thiết kế mẫu nghiên cứu 42

3.3.2.2.Phương pháp thu thập dữ liệu 42

3.3.2.3.Phương pháp phân tích dữ liệu 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 49

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC VẬN DỤNG GTHL TRONG KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM 50

4.1 Thực trạng về quy định sử dụng GTHL trong các CMKT Việt Nam 50

4.1.1 Thực trạng về quy định sử dụng GTHL trong các CMKT Việt Nam 50

4.1.2 Đánh giá thực trạng kế toán GTHL trong các CMKT Việt Nam so với CMKT quốc tế 55

4.2 Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM 57

4.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 57

4.2.2 Kết quả nghiên cứu 59

4.2.2.1.Mức độ quan trọng đối với từng tiêu chí 59

4.2.2.2.Kiểm định chất lượng thang đo (Cronbach’s Alpha) 60

4.2.2.3.Phân tích nhân tố khám phá (EFA – Exploratory Factor Analysis) 63

Trang 8

4.2.2.4 Phân tích tương quan hệ số Pearson 66

4.2.2.5 Phân tích hồi quy bội 67

4.3 Các giải pháp 69

4.3.1 Giải pháp chung 69

4.3.1.1 Trong ngắn hạn 69

4.3.1.2 Trong dài hạn 69

4.3.2 Giải pháp cụ thể 70

4.3.2.1 Phù hợp với môi trường pháp lý tại Việt Nam 70

4.3.2.2 Nhóm giải pháp về môi trường kinh doanh 78

4.3.2.3 Nhóm giải pháp liên quan đến môi trường văn hóa, xã hội 80

4.3.2.4 Đối với người làm nghề kế toán 81

4.3.2.5 Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của các tổ chức, hội nghề nghiệp kế toán 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 84

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

5.1 Kết luận 85

5.2 Kiến nghị 85

5.2.1 Đối với Quốc Hội 85

5.2.2 Đối với Chính phủ 86

5.2.3 Về phía các tổ chức nghề nghiệp 86

5.2.4 Đối với doanh nghiệp 87

5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 88 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Việt

BCTC Báo cáo tài chính

TSCĐ Tài sản cố định

TSCĐVH Tài sản cố định vô hình TSCĐHH Tài sản cố định hữu hình

CMKT Chuẩn mực kế toán

DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 10

Các chữ viết tắt có nguồn gốc tiếng Anh

Chữ viết

IFRS International Financial Reporting

VAS Vietnamese Accounting Standards Chuẩn mực kế toán Việt Nam

SFAS Statements of Financial Accounting

Standards

Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ

ACCA Association of Chartered Certified

Accountants Hiệp hội kế toán công chứng CPA Certified Public Accountant Kế toán viên công chứng

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Sử dụng GTHL trong đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu 23

Bảng 2.2: Sử dụng GTHL trong phân bổ giá trị ban đầu của giao dịch phức hợp 24

Bảng 2.3: Sử dụng GTHL để đo lường TS và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu 24

Bảng 2.4: Sử dụng GTHL để đánh giá sự suy giảm của TS dài hạn 26

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn 37

Sơ đồ 3.2: Mô hình nghiên cứu được đề xuất về các yếu tố tác động đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam 41

Bảng 3.3: Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến GTHL 48

Bảng 4.1: Quy định sử dụng GTHL trong các CMKT Việt Nam 55

Bảng 4.2: Kết quả thống kê mô tả về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán GTHL 60

Bảng 4.3: Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 62

Bảng 4.4: Kết quả phân tích KMO và Bartlett’s của các nhân tố độc lập 63

Bảng 4.5: Kết quả phân tích phương sai trích Total Variance Explained các biến quan sát của nhân tố độc lập 65

Bảng 4.6: Ma trận xoay nhân tố các biến quan sát của nhân tố độc lập 66

Bảng 4.7: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc 66

Bảng 4.8: Bảng tóm tắt mô hình 67

Bảng 4.9: Phân tích phương sai (ANOVAa) 68

Bảng 4.10: Hệ số hồi quy (Coefficientsa) 68

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Phương pháp giá gốc ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm đó là thiếu đi sự trung thực về giá trị của các khoản mục, bất cập trong việc phản ánh và trình bày các khoản ĐTTC trên BCTC đặc biệt là khi có sự biến động của thị trường Việc sử dụng phương pháp giá gốc để trình bày thông tin trên BCTC gây trở ngại cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiếp cận với BCTC của nước sở tại Tuy nhiên trong nhiều thập kỷ qua phương pháp giá gốc chính là nền tảng đo lường trong kế toán Với mục tiêu cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh cũng như sự thay đổi trong tình hình tài chính của một đơn vị Đó là những thông tin hữu ích giúp những người sử dụng BCTC đưa ra các quyết định kinh tế Vấn đề được đặt ra đó là BCTC được ghi nhận và trình bày theo phương pháp giá gốc có thực sự cung cấp thông tin hữu ích cũng như là một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp hay không?

Các nước trên thế giới đã có sự hội nhập quốc tế cao trong lĩnh vực kế toán nhằm góp phần minh bạch hóa môi trường đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện quá trình sản xuất cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả GTHL dần trở thành một cơ sở đo lường quan trọng đối với BCTC, nó cung cấp thông tin về những gì mà một tổ chức có thể nhận được nếu bán một TS hoặc có thể thanh toán để chuyển giao trách nhiệm Trong những năm gần đây, việc sử dụng GTHL làm cơ sở đo lường cho BCTC đã được mở rộng, nhiều cuộc tranh luận về tính hữu ích của GTHL vẫn tiếp tục diễn ra Đặc biệt là kể từ khi chuẩn mực BCTC quốc tế “Đo lường GTHL” (IFRS 13) ra đời, kế toán GTHL trở thành xu hướng chủ đạo

Ở Việt Nam việc ghi nhận và trình bày thông tin trên BCTC chủ yếu theo phương pháp giá gốc, khái niệm GTHL đã xuất hiện nhưng vẫn còn khá mới mẻ, chưa được áp dụng rộng rãi Trong xu thế hội nhập và tiếp cận với CMKT quốc tế, kế toán theo phương pháp giá gốc sẽ dần được thay thế bởi kế toán theo phương pháp GTHL nhằm phản ánh thông tin trên BCTC một cách trung thực và hợp lý hơn Do đó với mong muốn hiểu được bản

Trang 13

chất của vấn đề, các yếu tố tác động đến việc vận dụng GTHL trong kế toán, tác giả đã

chọn đề tài “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế

toán tại các doanh nghiệp Việt Nam – nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn TP HCM”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

Luận văn được thực hiện nhằm hướng đến 3 mục tiêu cụ thể:

- Thực trạng cơ sở pháp lý về kế toán GTHL trong các CMKT Việt Nam đồng thời xem xét mức độ khác biệt của CMKT Việt Nam so với các CMKT quốc tế

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động của các nhân tố này đến việc vận dụng GTHL trong kế toán

- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện việc vận dụng GTHL trong kế toán tại doanh nghiệp Việt Nam

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Câu hỏi nghiên cứu 1: Thực trạng cơ sở pháp lý về kế toán GTHL trong các

CMKT Việt Nam hiện nay như thế nào, có sự khác biệt nào so với các CMKT quốc tế?

- Câu hỏi nghiên cứu 2: Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng

GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam và mức độ tác động của các nhân tố này như thế nào?

- Câu hỏi nghiên cứu 3: Cần có những giải pháp nào để tăng cường việc vận dụng kế toán GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu

định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng

5.1 Nghiên cứu định tính

Mục đích của phương pháp này là để khái quát hóa, mô tả các lý thuyết kế toán, các CMKT liên quan đến GTHL, tìm hiểu các vấn đề nghiên cứu, thu thập các nội dung liên quan mà các tác giả đi trước đã thực hiện, nhằm để minh chứng và giải thích cho các vấn đề nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu này là cơ sở để tác giả phát triển bảng câu hỏi khảo sát

5.2 Nghiên cứu định lượng

Được thực hiện nhằm phân tích thực tiễn vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM Bên cạnh đó kiểm định mô hình, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng GTHL của các doanh nghiệp này

Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua các giai đoạn: thiết kế mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi khảo sát, phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS Đầu tiên, phân tích thống kê mô tả giúp nhận định các vấn đề thực tiễn về vận dụng GTHL Quá trình phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp tại TP HCM, tác giả thực hiện kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, tiến hành loại bỏ các biến có hệ số tương quan nhỏ, sử dụng công

Trang 15

cụ phân tích nhân tố khám phá EFA, thực hiện phân tích hồi quy bội (MLR) trên phần mềm SPSS 22.0 nhằm đánh giá mức độ phù hợp của mô hình và xem xét mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Về mặt khoa học

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về định giá, các phương pháp định giá trong kế toán dựa trên các CMKT quốc tế Cơ sở pháp lý về kế toán GTHL được quy định trong một số CMKT Việt Nam

- Góp phần phát triển thang đo các nhân tố tác động đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam

Về mặt thực tiễn

- Xác định được các nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố này đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố HCM

7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Luận văn được thực hiện bao gồm tổng cộng 85 trang (chưa kể phần mở đầu, các danh mục, phụ lục, tài liệu tham khảo) Luận văn được kết cấu thành 5 chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (8 trang)

- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về GTHL và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng

GTHL trong kế toán (21 trang)

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu chung của luận văn

(14 trang)

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và giải pháp định hướng cho việc vận dụng GTHL

trong kế toán tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP HCM (33 trang)

- Chương 5: Kết luận và kiến nghị (4 trang).

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương này cung cấp một bức tranh tổng thể về tình hình nghiên cứu GTHL từ các nghiên cứu trước tại một số quốc gia trên thế giới cũng như ở tại Việt Nam, nhằm xác định mục tiêu của đề tài, chỉ ra các vấn đề còn tồn tại cần tập trung giải quyết trong luận văn

1.1 Các nghiên cứu được công bố ở ngoài nước

Vấn đề về kế toán GTHL nói chung hiện nay đã được khá nhiều tác giả cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới tiến hành phân tích, tìm hiểu và thảo luận dựa trên dữ liệu từ nhiều quốc gia khác nhau Các vấn đề được tập trung nghiên cứu nhiều nhất như đo lường GTHL trên BCTC, những ưu điểm và nhược điểm của GTHL khi trình bày thông tin trên BCTC, những thách thức trong việc áp dụng GTHL trong kế toán tại các nền kinh tế mới nổi, sự khác biệt giữa kế toán GTHL và theo giá gốc Cụ thể:

Ronen (2008) tiếp cận GTHL bằng cách xem xét các mục tiêu của BCTC và đề cập trước khung khái niệm chung David Cairns (2009) điều tra việc sử dụng các phép đo lường GTHL của 228 công ty niêm yết tại Anh và Úc trong khoảng thời gian áp dụng IFRS từ tháng 01 năm 2005 So sánh việc lựa chọn chính sách có sự thay đổi liên quan đến việc bắt buộc sử dụng GTHL và việc sử dụng tùy ý các công cụ đo lường GTHL giữa 2 quốc gia Tác giả cho rằng mức độ sử dụng các phép đo lường GTHL là rất quan trọng và là một trong những khía cạnh gây tranh cãi nhất của IFRS Carmen Giorgiana Bonaci (2011) tiếp cận kế toán GTHL và ý nghĩa của nó khi xem xét các quy định về BCTC Ashford C Chea (2011) đề cập ngắn gọn đến lịch sử phát triển của báo cáo kế toán tài chính, chuẩn mực FAS 157 và tác động của nó đối với kế toán GTHL Tác giả kết thúc bài báo cáo với các kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu ích của kế toán GTHL và rút ra ý nghĩa đối với BCTC và người sử dụng BCTC David Alexander (2012) thực hiện việc nghiên cứu liên quan đến đo lường GTHL trên BCTC ở giai đoạn hiện tại, ở phạm vi quốc tế và tiếp tục tập trung vào đặc thù của một nền kinh tế mới nổi bằng cách xem xét trường hợp cụ thể của Romania

Trang 17

Betakova (2014) đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về GTHL như là giá đầu ra, ưu và nhược điểm của GTHL trong BCTC So sánh kế toán GTHL và kế toán theo giá gốc và những tranh luận ngắn cơ bản liên quan đến việc lựa chọn một trong hai phương pháp này Tính hữu ích của GTHL trên BCTC và những tranh luận về phép đo kép và hệ thống báo cáo

Bên cạnh vấn đề về quá trình nghiên cứu, trong những thập niên gần đây, bối cảnh toàn cầu hóa của nền kinh tế và xu hướng hội tụ kế toán quốc tế, các CMKT quốc tế ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Đặc biệt các nghiên cứu sau đó cũng dần tập trung vào các nền kinh tế mới nổi như ở Malaysia, Samuel Jebaraj Benjamin (2012) chỉ ra các đặc điểm của kế toán GTHL có sự khác biệt giữa Malaysia so với Mỹ và các nước trong khu vực Châu Âu, trong cách hiểu, tính ứng dụng do sự khác biệt về vị trí địa lý, sự phát triển kinh tế, định hướng văn hóa xã hội Ở Trung Quốc Songlan Peng (2010), Bewley (2013) cũng cung cấp một phân tích dựa trên lý thuyết của quá trình dẫn đến sự chấp nhận của kế toán GTHL tại Trung Quốc Sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu tình huống, nhóm tác giả đã rút ra nhiều khía cạnh lý thuyết từ kinh tế, chính trị – xã hội và nghiên cứu trong tổ chức để hỗ trợ cho sự phát triển của khung phân tích

sơ bộ cho quá trình tìm hiểu các nguyên tắc kế toán mới được chấp nhận chung trong một xã hội Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt nhất định so với CMKT quốc tế do sự khác biệt về đặc thù kinh tế, chính trị hay vị trí địa lý, do đó việc áp dụng kế toán GTHL là một thách thức không nhỏ, đặc biệt đối với các nước đang phát triển

1.2 Các nghiên cứu được công bố trong nước

Tác giả cũng đã tìm được một số bài báo khoa học và luận văn thạc sĩ có nội dung phù hợp với đề tài Đi vào cụ thể, khi tìm hiểu các nghiên cứu trong nước đề cập đến GTHL, tác giả đã tập hợp được một số bài tiêu biểu có nội dung như sau:

1.2.1 Các bài báo khoa học

Nguyễn Thế Lộc (2010) với nghiên cứu Tính thích hợp và đáng cậy của “GTHL” trong

hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế được đăng trên tạp chí phát triển và hội nhập số 3

Trang 18

Bài viết xem xét GTHL dưới các góc độ khác nhau nhằm đảm bảo là cơ sở đo lường cơ bản để thay thế giá gốc trong ghi nhận ban đầu của TS và nợ phải trả Sự đảm bảo các đặc tính chất lượng của thông tin cần trình bày trên BCTC đó là dễ hiểu, thích hợp, tính đáng tin cậy, và có thể so sánh được Bài viết cũng đưa ra các hướng để sử dụng GTHL như một cơ sở đo lường chủ yếu, cần nghiên cứu các vấn đề đã được quy định trong khuôn mẫu lý thuyết có liên quan đến GTHL cụ thể là sự cân đối giữa các đặc tính chất lượng và các tiêu chuẩn đánh giá khi có hạn chế thông tin giữa tính thích hợp và tính đáng tin cậy, cũng như nội dung và phạm vi các thông tin cần công bố trong thuyết minh BCTC

Nguyễn Thành Hưng (2011) với nghiên cứu Trao đổi về kế toán GTHL trong phản ánh

và ghi nhận các khoản ĐTTC ở các doang nghiệp được đăng trên tạp chí kiểm toán số 3

Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra những bất cập trong việc ghi nhận các khoản ĐTTC theo phương pháp giá gốc Từ đó đưa ra sự cần thiết phải sử dụng GTHL để phản ánh các khoản đầu tư này, và việc vận dụng GTHL trong ghi nhận và trình bày các khoản ĐTTC Để việc ghi nhận và trình bày thông tin chính xác, hợp lý, góp phần tạo ra thông tin kế toán phù hợp tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp: thứ nhất thiết lập mô hình xác định GTHL của các khoản ĐTTC, thứ hai hoàn thiện việc ghi nhận ban đầu đối với các khoản ĐTTC, thứ ba hoàn thiện việc ghi nhận và trình bày các khoản ĐTTC trên BCTC tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán

Lê Hoàng Phúc (2012), Thực trạng và định hướng sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán

Việt Nam Tạp chí kiểm toán số 1

Tác giả đã khái quát về GTHL và xu hướng sử dụng GTHL để định giá trong kế toán trên thế giới Đồng thời sơ lược về thực trạng và định hướng sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam

Trần Văn Tùng và Lý Phát Cường (2013) với nghiên cứu Một số đề xuất triển khai

GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam theo CMKT quốc tế được đăng trên tạp chí

kinh tế và dự báo số 22 Thông qua các yêu cầu áp dụng GTHL theo CMKT Việt Nam,

Trang 19

tác giả đã xây dựng mô hình để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến GTHL thông qua phân tích hồi quy bội, từ đó đưa ra các kết luận và kiến nghị:

- 6 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến GTHL: chính sách, môi trường kế toán, phương pháp định giá, môi trường kinh doanh, tâm lý người kế toán nhà quản lý và đối tượng sử dụng, lợi ích kinh tế

- Các kiến nghị: giai đoạn 1: tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm GTHL, giai đoạn 2: Định hướng cho việc sử dụng GTHL

Chúc Anh Tú (2014) với nghiên cứu Bàn về điều kiện áp dụng GTHL đối với hoạt động

kinh doanh chứng khoán được đăng trên tạp chí kế toán và kiểm toán số 5 Tác giả đã chỉ

ra những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp giá gốc trong quá trình ghi nhận và trình bày BCTC của mỗi doanh nghiệp So sánh sự ghi nhận giá trị chứng khoán trên sổ kế toán và trình bày BCTC theo nguyên tắc giá gốc và GTHL từ đó đưa ra nhận xét rằng: (a) kế toán Việt Nam đã có sự thể hiện về GTHL qua các dẫn chứng ghi nhận ban đầu cho một số trường hợp là TSCĐ, (b) việc ghi nhận ban đầu đối với TS nói chung và chứng khoán nói riêng cơ bản được ghi nhận theo nguyên tắc giá gốc, đến cuối kỳ kế toán hoặc theo những quy định của Nhà Nước khác thì mới chuyển sang ghi nhận theo GTHL, (c) khi phản ánh sự thay đổi của TS thì chỉ nên phản ánh trên BCTC và giải trình trong bản thuyết minh BCTC để vẫn đảm bảo có thông tin so sánh trên BCTC, (d) để có thể chính thức áp dụng GTHL thì phải có lộ trình trong việc xây dựng thị trường xác định được GTHL của các TS

1.2.2 Luận văn thạc sĩ

Bên cạnh những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học, thì cũng có khá nhiều tác giả đã chọn nghiên cứu về kế toán GTHL để thực hiện trong luận văn của mình Cụ thể:

Trần Thị Phương Thanh (2012), Các giải pháp mang tính định hướng cho việc xác lập

khung pháp lý về GTHL áp dụng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM

Trang 20

Nhằm định hướng cho việc xác lập khung pháp lý về GTHL áp dụng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam, bằng cách tiếp cận những nghiên cứu trên thế giới và thực tế áp dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam Luận văn được thực hiện trên cơ sở phân tích thực tiễn theo quan điểm lịch sử và toàn diện, gắn sự phát triển của GTHL với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam trong xu thế chung của thế giới Để đánh giá thực trạng, luận văn sử dụng pháp phương định tính (thông qua phỏng vấn chuyên gia – phương pháp Delphi) kết hợp với phương pháp thống kê mô tả (thông qua bảng khảo sát)

Ngô Thị Thùy Trang (2012), Phương hướng và giải pháp vận dụng GTHL trong kế toán

doanh nghiệp Việt Nam Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM

Tác giả tìm hiểu về đo lường GTHL trong CMKT Quốc tế, kinh nghiệm sử dụng GTHL trong định giá kế toán của Mỹ cũng như thực tế áp dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam Nhằm đề ra phương hướng và giải pháp vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam

Lê Thị Kim Dương (2013), Vận dụng GTHL để trình bày thông tin trên BCTC của các

doanh nghiệp Việt Nam Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM

Tác giả đã trình bày những tính hữu ích mà BCTC có thể cung cấp cho người sử dụng và những nhược điểm chưa được giải quyết khi sử dụng phương pháp giá gốc để trình bày thông tin trên BCTC Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra được những ưu điểm khi sử dụng GTHL để ghi nhận và trình bày thông tin đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới và từ đó đề xuất những điều chỉnh đối với các CMKT Việt Nam về trình bày thông tin trên BCTC cho phù hợp với các CMKT Quốc tế Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để tổng hợp nghiên cứu, phân loại và đối chiếu, so sánh thông qua phân tích các hướng dẫn của FASB, IASB, IFRS về GTHL, cách ghi nhận và trình bày các khoản mục liên quan đến GTHL với các quy định được trình bày trong VAS Phương pháp khảo sát và phỏng vấn, phân tích kết quả và đưa ra kết luận

Trang 21

Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phân tích và nội suy, khảo sát và phỏng vấn để giải quyết các mục tiêu đề ra

Huỳnh Thị Xuân Thùy (2013), Giải pháp vận dụng GTHL để thực hiện đo lường các

khoản đầu tư chứng khoán tại các công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là đưa ra các giải pháp vận dụng GTHL để thực hiện đo lường các khoản đầu tư chứng khoán tại các công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP HCM nhằm phản ánh đúng giá trị khoản đầu tư, cung cấp thông tin trung thực về thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập BCTC, nâng cao chất lượng thông tin do kế toán cung cấp nhằm hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định của nhà quản lý, nhà đầu tư và các đối tượng khác Đồng thời để phù hợp với thông lệ phổ biến trên thế giới và CMKT quốc tế

Luận văn sử dụng phương pháp định tính làm phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu Để nghiên cứu thực trạng, luận văn sử dụng một số phương pháp như thống kê mô tả so sánh

Lê Thị Mộng Loan (2013), GTHL ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa độ tin cậy và thích

hợp các thông tin trên BCTC của các công ty tại Việt Nam Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại

Học Kinh Tế TP HCM

Mục tiêu nghiên cứu của tác giả nhằm thông qua việc tiếp cận các CMKT Quốc tế và Việt Nam về GTHL, từ đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm định hướng việc sử dụng GTHL tại Việt Nam Sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng Tổng quan quá trình hình thành kế toán GTHL thông qua phân tích định tính để đưa ra cái nhìn khái quát về GTHL cũng như xem xét các đặc điểm chất lượng của BCTC Đồng thời sử dụng phương pháp định lượng để khảo sát việc vận dụng GTHL tại Việt Nam

Trang 22

Dương Lê Diễm Huyền (2014), Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng

GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học

Kinh Tế TP HCM

Tác giả đã đưa ra một bức tranh tổng thể nền tảng lý thuyết về định giá trong kế toán, sự hình thành và phát triển của kế toán GTHL trên thế giới Tìm hiểu về thực trạng vận dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Đề tài sử dụng phương pháp hệ thống hóa để hệ thống các khái niệm liên quan đến GTHL Tìm hiểu sự giống và khác nhau về quy định GTHL trong CMKT quốc tế và Việt Nam sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu Bên cạnh đó sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đánh giá thực trạng vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các quy định về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam

Nguyễn Thanh Tùng (2014), Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL

trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế

TP HCM

Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị để nâng cao việc vận dụng nguyên tắc kế toán GTHL vào việc ghi nhận và trình bày thông tin trên BCTC của doanh nghiệp Tác giả sử dụng đồng thời hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định tính: tổng hợp tài liệu, phân tích, so sánh, lấy ý kiến chuyên gia, thống

kê mô tả để tổng quát hoá cơ sở lý thuyết về kế toán GTHL, xác định sơ bộ các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Nghiên cứu định lượng: Khảo sát BCTC cuối năm 2013 của các doanh nghiệp, xây dựng bảng câu hỏi khảo sát thực trạng sau đó sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA, để kiểm định mô hình, kiểm định thang đo, đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đề xuất các

Trang 23

giải pháp và kiến nghị phù hợp để nâng cao việc vận dụng GTHL tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

1.3 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan tương đối đến đề tài được thực hiện, tác giả đưa ra các khe hổng nghiên cứu và vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu: Các tác giả nước ngoài chủ yếu tập trung vào vấn đề đo lường GTHL trong kế toán, ưu và nhược điểm của GTHL khi trình bày thông tin trên BCTC, so sánh sự khác biệt giữa kế toán GTHL và kế toán theo giá gốc, tác động của CMKT đối với kế toán GTHL và đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu ích của GTHL đối với BCTC và người sử dụng thông tin Nghiên cứu của các tác giả chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia, nơi mà các tác giả đang sinh sống hoặc công tác, do đó khi nghiên cứu tại Việt Nam là một khe hổng cần tiếp tục nghiên cứu do có sự khác biệt về vị trí địa lý, văn hóa, điều kiện kinh tế, chính trị

Đối với các công trình nghiên cứu trong nước có khá nhiều tác giả đã chỉ ra sự bất cập trong việc ghi nhận một số khoản mục trên BCTC theo giá gốc, sự cần thiết phải sử dụng GTHL trong việc ghi nhận và trình bày thông tin trên BCTC Một số đề tài nghiên cứu về định hướng cho việc xác lập khung pháp lý về GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp vận dụng GTHL Những ưu điểm khi sử dụng GTHL để ghi nhận và trình bày thông tin trên BCTC, nhưng các nội dung chỉ mang tính khái quát Một số tác giả đã đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam, mà chủ yếu là các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Do đó bộ phận các doanh nghiệp ở khu vực TP HCM chiếm tỷ lệ lớn lại không được quan tâm đúng mức

Tóm lại, từ những nghiên cứu trên cùng với việc xác lập khe hổng nghiên cứu từ đó tác giả đưa ra vấn đề nghiên cứu và kết quả nghiên cứu được thực hiện ở các chương sau

Trang 24

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GTHL VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG

KẾ TOÁN

Chương này sẽ trình bày một số vấn đề về định giá trong kế toán, phương pháp định giá, lịch sử hình thành và phát triển của GTHL, nội dung của GTHL Kinh nghiệm vận dụng GTHL ở Trung Quốc, từ đó rút ra bài học kinh cho Việt Nam và là cơ sở để định hướng cho những giải pháp ở phần sau của luận văn Phần cuối của chương này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán

2.1 Các vấn đề định giá trong kế toán

2.1.1 Khái niệm định giá trong kế toán

Có nhiều khái niệm về định giá trong kế toán

Theo (IASB framework, 99), “Định giá là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố BCTC được ghi nhận và trình bày trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh”

Theo Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị (2008) “Tính giá các đối tượng kế toán là một phương pháp của kế toán dùng thước đo tiền tệ biểu hiện giá trị tất cả những TS của doanh nghiệp Nhờ việc tính giá này mà mọi đối tượng của kế toán đều được biểu hiện cùng một thước đo tiền tệ, từ đó có thể tổng hợp được những chỉ tiêu cần thiết bằng tiền chẳng những trong doanh nghiệp mà còn theo từng ngành và cả nền kinh tế”

Định giá cung cấp giá trị của các nguồn lực và nghĩa vụ của doanh nghiệp, làm cơ sở xác định vốn chủ sở hữu hay là TS thuần của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Mặt khác định giá cho phép xác định doanh thu và đặc biệt là chi phí để tính ra lợi nhuận của doanh nghiệp

2.1.2 Các phương pháp định giá trong kế toán

2.1.2.1 Giá đầu vào (Exchange input value)

Trang 25

- Giá gốc (Historical cost): là số tiền (hoặc tương đương tiền) đã trả hay GTHL

của TS vào thời điểm TS đó được ghi nhận (IASB Framework) Tức là số tiền (hoặc tương đương tiền) đã thanh toán để có một TS hoặc thanh toán một khoản nợ phải trả Giá gốc trình bày những thông tin trong quá khứ, liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế như mua TS, phát sinh nợ phải trả, phản ánh bản chất thông tin

là thực tế xảy ra Giá gốc còn được gọi là giá lịch sử, giá phí hay giá thực tế

- Giá hiện hành (Current cost): thuật ngữ giá hiện hành hay giá thay thế (replacement cost) là số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả để có

được TS tương tự tại thời điểm hiện tại (Applying IFRS) Giá hiện hành trình bày những thông tin hiện tại, liên quan đến các nghiệp vụ mua TS, phát sinh nợ phải

trả, phản ánh bản chất thông tin mang tính giả định

2.1.2.2 Giá đầu ra

- Giá trị thuần có thể thực hiện (Net realizable value): Số tiền hoặc các khoản

tương đương tiền có thể thu hồi được nếu bán TS hoặc sẽ phải trả để thanh toán nợ tại thời điểm hiện tại Giá trị thuần có thể thực hiện được trình bày thông tin hiện tại, liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế như: bán TS, thanh toán nợ phải trả, bản

chất thông tin mang tính giả định

- Hiện giá (Present value): là giá trị hiện tại của dòng tiền thuần sẽ nhận được từ

việc sử dụng TS hoặc sẽ trả để thanh toán nợ Hiện giá trình bày thông tin tương lai, liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế về đầu tư, bản chất thông tin mang tính dự

đoán (Applying IFRS)

2.1.3 Các hệ thống định giá trong kế toán 1

2.1.3.1 Hệ thống kế toán dựa trên giá gốc (Historical Cost Accounting)

Dựa trên giá mua vào quá khứ để ghi nhận các giao dịch và lập BCTC Đây là hệ thống định giá truyền thống đã phát triển từ nhiều năm từ khi các kỹ thuật ghi sổ kép của Pacioli ra đời Cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vai trò chủ yếu trong các thông lệ

và CMKT

1 Vũ Hữu Đức (2010) Những vấn đề cơ bản của lý thuyết kế toán

Trang 26

Các vấn đề tồn tại

- Giá gốc không phản ánh giá trị khoản đầu tư (TS thuần) vào thời điểm hiện tại

- Trong thời kỳ giá cả tăng do lạm phát thì:

 Lợi nhuận tính theo giá gốc cao hơn lợi nhuận tính theo giá hiện hành dẫn đến chia cổ tức vượt “lợi nhuận thực”

 Chi phí sản xuất (chi phí nguyên vật liệu) là chi phí cơ hội thay vì bán ra vào thời điểm xuất dùng

- Mô hình giá gốc phải sử dụng giải pháp điều chỉnh (lập dự phòng) Giá gốc là thứ phái sinh của nguyên tắc thận trọng

2.1.3.2 Hệ thống kế toán dựa trên mức giá chung (General price – level

accounting)

Dựa trên chỉ số giá để điều chỉnh BCTC nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động giá, đặc biệt là lạm phát Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào những năm thuộc thập niên 1960 – 1970 và hiện vẫn còn được áp dụng ở một số quốc gia có lạm phát cao

2.1.3.3 Hệ thống kế toán dựa trên giá hiện hành (Current Cost Accounting)

Dựa trên giá hiện hành hay còn gọi là giá thay thế (replacement cost) của TS để lập BCTC và xác định lợi nhuận

Các vấn đề tồn tại

Trang 27

- Việc xác định giá hiện hành thiếu tính khách quan do giao dịch bán chưa xảy ra

- Mặc khác, đối với các TS đã qua sử dụng, khó tìm một thị trường hoạt động để xác định giá trị của chúng

- Theo Vũ Hữu Đức, 2010 đã khảo sát nghiên cứu thực nghiệm của Ro, 1981 cũng đã chỉ ra rằng thông tin kế toán từ giá hiện hành không ảnh hưởng đáng kể đến thị trường chứng khoán

2.1.3.4 Hệ thống kế toán dựa trên đầu ra (Exit – price Accounting)

Dựa trên giá bán trên thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Các vấn đề tồn tại

- Có rất nhiều ý kiến đã phê phán cách tính lợi nhuận theo hệ thống kế toán dựa trên giá đầu ra Bell, 1971 cho rằng việc đánh giá TS theo giá đầu ra và ghi vào kết quả hoạt động sẽ thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đến việc tối đa hóa giá trị tương đương tiền của TS trong ngắn hạn hơn là tập trung vào kinh doanh

- Larson et al, 1966 cho rằng giá trị các TS được xác định riêng rẽ sẽ khác biệt với giá trị TS được bán trọn gói, xuất phát từ các yếu tố vô hình phát sinh do sự liên kết giữa các TS, tuy nhiên giá đầu ra lại bỏ qua yếu tố này

- Nhấn mạnh đến giá trị trao đổi mà bỏ qua giá trị sử dụng (value in use)

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của GTHL 2

Lịch sử hình thành và phát triển của GTHL được chia làm 4 giai đoạn:

2.2.1 Giai đoạn từ 1850 - 1970: Giai đoạn tự phát của thị trường

Sau thời kỳ đại khủng hoảng giá gốc giữ vị trí thống trị trong kế toán tại Mỹ

2 Mark L.Zyla, 2010 Fair value measurement practical guidance and implementation, 2-8 pp

Trang 28

Giá thị trường được bàn đến trong các nghiên cứu dưới các hình thức, giá trị thuần có thể thực hiện, giá hiện hành, giá đầu ra

2.2.2 Giai đoạn từ 1970 - 1990: Giai đoạn chính thức hình thành GTHL

Một trong những báo cáo kế toán đầu tiên yêu cầu sử dụng GTHL trên BCTC là APB 18:

“Phương pháp kế toán vốn chủ sở hữu đầu tư vào cổ phiếu phổ thông” được ban hành năm 1971 giới thiệu kế toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu cho các khoản đầu tư vào các công ty con chưa được hợp nhất Theo APB 18 một khoản lỗ sẽ được ghi nhận khi GTHL của các khoản đầu tư giảm thấp hơn giá trị ghi sổ của nó, khoản lỗ này được gọi là lỗ tạm thời

APB 29: “Kế toán các nghiệp vụ phi tiền tệ” được giới thiệu vào năm 1973 chỉ ra cách thức để đo lường GTHL của các nghiệp vụ phi tiền tệ và phải được tham chiếu đến các giao dịch tiền tệ cho các TS giống nhau hoặc tương tự nhau, giá thị trường được niêm yết, thẩm định độc lập (independent appraisal) và ước tính GTHL cho TS và dịch vụ nhận được

SFAS 15: “Kế toán tái cơ cấu các khoản nợ phải thu và phải trả khó đòi”, được phát hành năm 1977 đã đưa ra một số khái niệm quan trọng về GTHL, SFAS 15 xác định GTHL là số tiền được xác định thông qua việc bán hàng hiện tại giữa người mua sẵn sàng mua và

người bán sẵn sàng bán, ngoại trừ trường hợp bắt buộc hoặc thanh lý

GTHL của TS được đo lường bằng giá trị thị trường nếu thị trường hoạt động hiệu quả Nếu không có thị trường hoạt động hữu hiệu đối với TS chuyển đổi nhưng hữu hiệu đối với TS tương tự, thì giá trị thị trường của TS này có thể hữu ích cho việc ước tính GTHL của TS chuyển giao Nếu giá thị trường không có sẵn, một dự báo về kỳ vọng của dòng tiền có thể giúp ích trong việc ước tính GTHL của TS chuyển giao, cung cấp dòng tiền dự kiến được chiết khấu theo tỷ lệ tương ứng với các rủi ro liên quan SFAS 15 đã thiết lập một số tiêu chí quan trọng khi sử dụng phương pháp tiếp cận thị trường và thiết lập việc sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền để đo lường GTHL

Trang 29

2.2.3 Giai đoạn từ 1990 - 2005: Giai đoạn phát triển của GTHL

Trong suốt thời kỳ bùng nổ của khoa học công nghệ cuối những năm 1990 đã mang đến nền công nghiệp thương mại hóa của hệ thống thông tin toàn cầu, FASB đã bắt đầu dự án

cải tiến APB 16 “Hợp nhất kinh doanh”, để ghi nhận lợi thế thương mại trong quá trình

hợp nhất cho những TSCĐVH Vào năm 1991, SFAS 107 “Công bố GTHL của công cụ tài chính” ra đời yêu cầu công bố thông tin về GTHL các công cụ tài chính của tổ chức, bao gồm TS tài chính, nợ phải trả tài chính SFAS 115, kế toán cho các khoản đầu tư chứng khoán được giới thiệu vào năm 1993, bao gồm 3 loại hạng mục chứng khoán: chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn, chứng khoán thương mại, chứng khoán sẵn sàng để bán SFAS 115 cũng yêu cầu GTHL như là các chuẩn mực của việc đo lường chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Đến năm 1994, FASB xuất bản SFAS 119 “công bố thông tin công cụ tài chính phái sinh và GTHL của công cụ tài chính” Yêu cầu các tổ chức giữ và phát hành các công cụ tài chính phái sinh cho mục đích thương mại để công bố GTHL trung bình của các công cụ tài chính này Thông tin GTHL được trình bày không có sự kết hợp với các công cụ tài chính không phái sinh

Đến năm 2000 FASB giới thiệu FAS 133 “Kế toán công cụ tài chính phái sinh và phòng ngừa rủi ro”, yêu cầu ghi nhận GTHL cho các chứng khoán phái sinh Việc hạch toán kế toán cho những thay đổi trong GTHL của các công cụ tài chính phái sinh phụ thuộc và sự phân loại của chúng: phòng ngừa GTHL, phòng ngừa dòng tiền, phòng ngừa ngoại tệ… Ngày 29 tháng 6 năm 2001 FASB phát hành SFAS 141 “Hợp nhất kinh doanh” là một trong những phần đầu tiên của dự án hội tụ FASB/IASB

2.2.4 Giai đoạn từ 2005 đến nay

Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của GTHL Tháng 11/2005 dự án đo lường GTHL được bổ sung vào chương trình nghiên cứu của IASB Mục tiêu nhằm cung cấp các hướng dẫn cho tổ chức làm thế nào để họ có thể đo lường GTHL của TS và nợ phải trả theo yêu cầu của các chuẩn mực khác

Trang 30

Đến ngày 30 tháng 06 năm 2006 các nghiên cứu thảo luận về đo lường GTHL được xuất bản, nhằm đưa ra các quan điểm sơ bộ về đo lường GTHL theo quy định của IFRS hiện hành xoay quanh chuẩn mực SFAS 157 đã được ban hành

SFAS 159 “quyền chọn GTHL cho TS tài chính và nợ phải trả tài chính” vào năm 2007, FASB đã mở rộng đo lường GTHL cho công cụ tài chính trong dài hạn, nhằm mục tiêu cải thiện BCTC, cung cấp thông tin, cơ hội, giảm thiểu biến động rủi ro trên báo cáo doanh thu do những đo lường liên quan đến các TS và nợ phải trả khác nhau

Bản dự thảo xúc tiến về đo lường GTHL năm 2009, cung cấp thêm các yêu cầu công bố thông tin về GTHL Hệ thống phân cấp GTHL được đề xuất thành ba cấp các loại dữ liệu thị trường được quan sát để làm dữ liệu đầu vào cho phép đo lường GTHL Tháng 8 năm

2010 dự thảo của IFRS về đo lường GTHL được phát hành, đến tháng 5 năm 2011 IFRS

13 về đo lường GTHL được ban hành, đây là kết quả của những nỗ lực chung của IASB và FASB để xây dựng một khung giá chung Chuẩn mực bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2013, mục tiêu của chuẩn mực này là đưa ra định nghĩa về GTHL, thiết lập khuôn mẫu về đo lường GTHL và những yêu cầu trong việc trình bày và công bố thông tin về việc đo lường GTHL

2.3 Nội dung của GTHL

Theo chuẩn mực IAS 17 “thuê tài chính” đoạn 7 đã bổ sung thêm về định nghĩa GTHL

GTHL là giá trị của TS có thể được trao đổi hoặc khoản nợ phải trả được thanh toán giữa các bên có sự hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá Như vậy định nghĩa về GTHL trong IAS 17 đã có sự cải tiến hơn so với IAS 16, đó

là đã đề cập đến nợ phải trả “Theo đó, GTHL của một khoản nợ phải trả là giá trị thanh

Trang 31

toán nợ phải trả Đây là một khái niệm liên quan đến “giá trị đầu ra” không phải giá trị trao đổi Điều này cho thấy có sự không nhất quán về định nghĩa GTHL của TS và nợ

phải trả trong hệ thống CMKT quốc tế Định nghĩa này cũng được sử dụng trong:

- IAS 32: công cụ tài chính: công bố và trình bày

- IAS 36: Giảm giá trị của TS (tổn thất TS)

- IAS 38: TSCĐVH

- IAS 39: Công cụ tài chính: ghi nhận ban đầu và sau khi ghi nhận ban đầu

- IAS 40: Bất động sản đầu tư

- IAS 41: Nông nghiệp

Đến tháng 9 năm 2006, FASB - Ủy ban tài chính kế toán Hoa Kỳ đã đề cập đến định

nghĩa GTHL trong FAS 157, đã định nghĩa GTHL như sau: GTHL là giá có thể nhận

được khi bán một TS hoặc được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường

Định nghĩa này thống nhất GTHL của TS và nợ phải trả trong hệ thống CMKT quốc tế là

“giá trị đầu ra” của TS hay nợ phải trả Giá trị đầu ra có thể được xác định trực tiếp từ thị trường hay ước tính bằng cách sử dụng các kỹ thuật định giá

Mục tiêu của một đo lường GTHL là để ước tính giá trị trong một giao dịch bình thường khi bán TS hoặc chuyển giao một khoản nợ phải trả được thực hiện giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường trong điều kiện thị trường hiện tại Một đo lường GTHL đòi hỏi một tổ chức phải xác định tất cả các yếu tố sau:

(a) TS và nợ phải trả cụ thể là vấn đề của đo lường (nhất quán với đơn vị tài khoản) (b) Đối với TS phi tài chính tiền đề định giá thích hợp cho việc đo lường (nhất quán với tính sử dụng cao nhất của TS)

(c) Bên tham gia thị trường (hoặc bên thuận lợi nhất) cho TS hoặc nợ phải trả

(d) Các kỹ thuật định giá thích hợp cho việc đo lường, xem xét sự sẵn sàng của dữ liệu để phát triển các yếu tố đầu vào đại diện cho các giả định rằng các bên tham

Trang 32

gia thị trường sẽ sử dụng giá của TS hay nợ phải trả và mức độ của hệ thống phân cấp GTHL trong đó các yếu tố đầu vào đã được phân loại

TS hay nợ phải trả

Việc đo lường GTHL được áp dụng đối với TS hay nợ phải trả đơn lẻ, khi đo lường đơn vị phải giải thích các đặc điểm của TS và nợ phải trả nếu các bên tham gia thị trường sử dụng những đặc tính đó để đo lường giá trị của TS và nợ phải trả tại ngày đo lường Những đặc tính đó bao gồm:

- Điều kiện và địa điểm của TS

- Những giới hạn khi bán hoặc sử dụng TS

Bên tham gia thị trường

Các bên tham gia thị trường là người mua và người bán trong thị trường (hay thị trường thuận lợi nhất) cho TS và nợ phải trả:

- Độc lập với các đơn vị Báo cáo, không có mối liên quan với các bên còn lại

- Có kiến thức, có hiểu biết hợp lý về TS hoặc nợ phải trả và các giao dịch dựa trên tất cả các thông tin có sẵn

- Có khả năng tài chính và pháp luật để thực hiện các giao dịch

- Sẵn sàng tham gia các giao dịch về TS và nợ phải trả mà không bị bắt buộc

Một giao dịch bình thường là giao dịch mà các giả định tiếp xúc với thị trường cho kỳ

trước tại ngày đo lường cho phép các hoạt động tiếp thị diễn ra bình thường và cho các nghiệp vụ liên quan đến TS hoặc nợ phải trả, nó không phải là một giao dịch bắt buộc Nghiệp vụ bán TS hay chuyển giao nợ phải trả là nghiệp vụ giả định tại ngày đo lường, được xem xét từ quan điểm của các bên tham gia thị trường đó là giữ TS hoặc nợ phải

Trang 33

Theo nghiên cứu của David Cairns (2006) đã hệ thống hóa phạm vi sử dụng của GTHL trong 4 trường hợp

2.3.2.1 Đo lường các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ban đầu

IASC đầu tiên đã sử dụng GTHL để đo lường các nghiệp vụ tức là xác định chi phí của các TS và nợ phải trả Thuật ngữ GTHL xuất hiện đầu tiên trong IAS 16 (1982) được sử dụng để đo lường chi phí của bất động sản đầu tư, nhà xưởng, máy móc và thiết bị trong trao đổi với các TS khác GTHL được sử dụng trong các hướng đo lường như sau:

- Thuê TS và các nghĩa vụ liên quan đến thuê tài chính theo IAS 17 (1982)

- Trao đổi hàng hóa và dịch vụ theo IAS 18 (1982)

- Các khoản trợ cấp phi tiền tệ của chính phủ theo IAS 20

- Xem xét sự mua lại của hợp nhất kinh doanh là một sự mua lại theo IAS 22 (1983)

- Các khoản đầu tư được mua lại bởi việc phát hành cổ phiếu hoặc chứng khoán để đổi lấy TS khác theo IAS 25

Sử dụng GTHL trong đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu

IAS 16

Ghi nhận chi phí của bất động sản, nhà xưởng, máy móc thiết bị được mua trong trao đổi với TS hoặc TS phi tiền tệ hoặc kết hợp giữa TS tiền tệ và TS phi tiền tệ (cung cấp những giao dịch có tính thương mại) Đoạn 24

IAS 17

Đo lường TS và nợ phải trả phát sinh trong một hợp đồng thuê tài chính trên BCTC của bên đi thuê (trừ khi GTHL cao hơn giá trị hiện tại và thanh toán tiền thuê tối thiểu) Đoạn 20

IAS 18 Ghi nhận doanh thu Đoạn 9

IAS 20 Đo lường việc chuyển giao TS phi tiền tệ từ chính phủ đến các tổ chức

Đoạn 23

Trang 34

IAS 38

Đo lường các TSCĐVH được mua trong trao đổi một TS phi tiền tệ hoặc

TS, hoặc kết hợp TS tiền tệ và TS phi tiền tệ (cung cấp những giao dịch có tính thương mại) Đoạn 45

IAS 39 Đo lường TS tài chính hay nợ phải trả tài chính Đoạn 43

IAS 41 Đo lường TS sinh học và sản phẩm thu được từ nông nghiệp Đoạn 12

và 13

IFRS 1 Đo lường bất động sản, nhà xưởng, máy móc thiết bị tại ngày chuyển đổi

sang IFRS Đoạn 16

IFRS 2 Đo lường hàng hóa và dịch vụ nhận được và các công cụ vốn cổ phần

trong giao dịch thanh toán vốn chủ sở hữu Đoạn 30

IFRS 3 Đo lường TS nhận được, nợ phải trả phát sinh hoặc giả định và công cụ

vốn chủ sở hữu được ban hành bởi bên mua Đoạn 24

(Theo David Cairns 2006)

Bảng 2.1: Sử dụng GTHL trong đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu 2.3.2.2 Sử dụng GTHL để phân bổ chi phí của các giao dịch phức hợp

Một tổ chức đôi khi phải đối mặt với việc cần thiết phải phân bổ tổng chi phí (hay GTHL) của một giao dịch phức hợp Ví dụ rõ ràng nhất của giao dịch phức hợp là một hợp nhất kinh doanh, bên mua đo lường chi phí được xem xét để phân bổ là chi phí của việc mua lại các TS và nợ phải trả

IAS 32 Đo lường thành phần của nợ phải trả của một công cụ tài chính hợp

nhất (thành phần của vốn chủ sở hữu là phần còn lại) Đoạn 31

IFRS 3 Đo lường các TS bị mua lại, nợ phải trả tại ngày mua trong một hợp

nhất kinh doanh (lợi thế thương mại là phần còn lại) Đoạn 36

(Theo David Cairns 2006)

Trang 35

Bảng 2.2: Sử dụng GTHL trong phân bổ giá trị ban đầu của giao dịch phức hợp 2.3.2.3 Sử dụng GTHL để đo lường TS và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu

IAS 16 Đo lường bất động sản, nhà xưởng và máy móc thiết bị (quyền chọn)

Đoạn 31 IAS 19 Đo lường phúc lợi của người lao động Đoạn 54d

IAS 26 Đo lường các khoản đầu tư vào chương trình phúc lợi Đoạn 32

IAS 27 Đo lường các khoản đầu tư vào công ty con, công ty đồng kiểm soát,

công ty liên kết Đoạn 37 IAS 28 Đầu tư vào công ty liên kết Đoạn 1

IAS 31 Đầu tư vào công ty đồng kiểm soát Đoạn 1

IAS 38 Đo lường TSCĐVH (cung cấp ghi nhận ban đầu theo giá gốc và GTHL

được xác định bằng cách tham chiếu đến thị trường hoạt động) Đoạn 75

Đo lường TS sinh học Đoạn 12

Đo lường sản phẩm nông nghiệp Đoạn 13

(Theo David Cairns 2006)

Bảng 2.3: Sử dụng GTHL để đo lường TS và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu 2.3.2.4 Sử dụng GTHL để đánh giá sự suy giảm giá trị TS

Trang 36

- Đối với TS dài hạn

Bất động sản đầu tư,

nhà xưởng máy móc

thiết bị

Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng TS IAS 36

Bất động sản đầu tư

(mô hình GTHL) Sử dụng GTHL IAS 40 Bất động sản đầu tư

(mô hình giá gốc)

Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng TS IAS 36

TS sinh học (mô

TS sinh học (mô

hình giá gốc)

Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng của

TS

IAS 36

Lợi thế thương mại

Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng của

TS

IAS 36

TSCĐVH khác Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi

phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng TS IAS 36

Công ty liên kết Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi

phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng TS IAS 36 Công ty đồng kiểm

soát (phương pháp Giá trị lớn hơn giữa GTHL sau khi trừ đi chi

IAS 36

Trang 37

vốn chủ sở hữu) phí cần thiết để bán TS và giá trị sử dụng TS

TS tài chính sẵn

sàng để bán Sử dụng GTHL IAS 39 Các khoản cho vay

và khoản phải trả

Giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai được chiết khấu sử dụng lãi suất hiệu quả IAS 39

(Theo David Cairns 2006)

Bảng 2.4: Sử dụng GTHL để đánh giá sự suy giảm của TS dài hạn

- Đối với TS ngắn hạn

Hàng tồn kho Giá trị thuần có thể thực hiện IAS 2

Hợp đồng xây dựng Chênh lệch giữa doanh thu và chi phí

hợp đồng xây dựng IAS 11 Sản phẩm nông

nghiệp GTHL trừ đi chi phí bán hàng IAS 41

Phải thu khách hàng Giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai

được chiết khấu sử dụng lãi suất hiệu quả IAS 39 Các khoản phải thu

hợp đồng cho thuê

tài chính

Giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai được chiết khấu sử dụng lãi suất ngầm định trong hợp đồng thuê tài chính

IAS 17

Công cụ phái sinh Sử dụng GTHL IAS 39

Các khoản đầu tư Giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai IAS 39

Trang 38

giữ đến ngày đáo

hạn

được chiết khấu sử dụng lãi suất hiệu quả

Các khoản tương

đương tiền Sử dụng GTHL IAS 39

(Theo David Cairns 2006)

Bảng 2.5: Sử dụng GTHL để đánh giá sự suy giảm của TS ngắn hạn

2.4 Kinh nghiệm sử dụng GTHL ở Trung Quốc 4

Từ năm 1978 đến 1996 kế toán ở Trung Quốc bị chi phối bởi nguyên tắc kế toán theo giá gốc Trong suốt thời gian từ năm 1997 đến năm 2000 một cuộc cải cách kế toán GTHL thí điểm được thực hiện, yêu cầu sử dụng GTHL 3 trong 16 CMKT Cuộc cải cách này không thành công và GTHL sử dụng trong 3 chuẩn mực bị cấm cho đến năm 2001 Vào ngày 01/01/2006 Trung Quốc công bố một bộ các nguyên tắc kế toán mới được chấp nhận chung (GAAP) trên toàn quốc GAAP này bao gồm một khuôn mẫu lý thuyết và 38 chuẩn mực Trong số đó GTHL lần đầu tiên được chính thức công nhận như là một công cụ đo lường trong khuôn mẫu lý thuyết, và yêu cầu 25 trong 38 chuẩn mực cho phép sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp GTHL Thông qua việc phân tích 25 chuẩn mực cho thấy có

17 chuẩn mực yêu cầu sử dụng GTHL để ghi nhận đo lường ban đầu của TS và nợ phải trả, 8 chuẩn mực yêu cầu đo lường TS và nợ phải trả sau ghi nhận ban đầu, 11 chuẩn mực yêu cầu kiểm tra khấu hao TS, 17 chuẩn mực yêu cầu công bố thông tin GTHL trong các

đo lường kế toán và trên BCTC và phân bổ chi phí một lần dựa trên giá trị của TS được mua Lần đầu tiên GTHL được xác định và được liệt kê trong khuôn mẫu lý thuyết như là

Trang 39

một công cụ đo lường khác với giá gốc, chi phí thay thế, giá trị thuần có thể thực hiện được và giá trị hiện tại

Khuôn mẫu của kết quả phân tích đưa đến kết luận rằng sự thành công trong cuộc cải cách GTHL lần thứ hai tại Trung Quốc được thúc đẩy bởi sự kết hợp của các cơ hội chính trị, mạng lưới kết nối sâu rộng giữa 3 yếu tố chính: Bộ tài chính Trung Quốc (MOF), IASB, và WB, tạo ra các mối liên kết xã hội mạnh hơn, cơ sở hạ tầng dùng chung, và khung chiến thuật kế toán GTHL như một chính sách mới Sự tương tác và tăng cường hợp tác của 3 nhóm này thông qua sự tôn trọng, chia sẻ lợi ích lẫn nhau trong các hoạt động tập thể được xem là yếu tố quan trọng để kế toán GTHL trở thành nguyên tắc được chấp nhận chung, những yếu tố này không thấy trong cuộc cải cách kế toán GTHL đầu tiên Thêm vào đó một cuộc khảo sát giữa cuộc cải cách kế toán GTHL lần đầu tiên và thứ hai ở Trung Quốc, môi trường kinh tế không có sự thay đổi đáng kể Điều này chỉ ra rằng sự thành công của cuộc cải cách kế toán GTHL lần thứ hai chủ yếu là do các yếu tố xã hội hơn là các yếu tố kinh tế

Trong suốt thời gian từ năm 2001 đến 2006, GTHL xuất hiện như một sự biến chuyển đầy kịch tính xảy ra ở Trung Quốc Việc áp dụng kế toán GTHL chuyển từ thất bại hoàn toàn đến một thành công nhất định được hoan nghênh bởi các tổ chức quốc tế như: tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Hội đồng CMKT quốc tế (IASB) và liên minh Châu Âu (EU) Sự phát triển nổi bật này, và hai kết quả tương phản, cung cấp một tình huống đáng chú ý trong nghiên cứu để có cái nhìn sâu hơn vào quá trình mà các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung

2.5 Bài học rút ra cho Việt Nam

Trung Quốc là một nền kinh tế mới nổi điển hình cho việc áp dụng GTHL thành công Đây là trường hợp Việt Nam cần nghiên cứu và học hỏi vì có sự giống nhau về thể chính trị, điều kiện phát triển kinh tế có sự tương đồng về văn hóa và xã hội Có nhiều điểm giống nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc hơn so với nhiều nước khác trong khu vực

Trang 40

Thông qua việc vận dụng GTHL ở Trung Quốc có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Trung Quốc là một nền kinh tế đang phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng gia nhập vào thị trường tài chính và thương mại thế giới tuy nhiên vẫn còn nhiều sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Trung Quốc và IFRS các khác biệt này là do các đặc điểm kinh tế cũng như môi trường pháp lý ở Trung Quốc do đó việc vận dụng GTHL không chỉ đơn giản là ban hành các chuẩn mực về việc thực hiện mà vấn đề là phải phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo sự hội nhập tức là các tiêu chuẩn đánh giá sẽ tương đồng với các tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế, như vậy việc hòa nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ rút ngắn khoảng cách Bên cạnh đó còn phải đáp ứng yêu cầu thông tin, và kiểm soát của mỗi quốc gia Đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống kế toán, tính thống nhất giữa các chuẩn mực

Tùy vào điều kiện của mỗi quốc gia, việc vận dụng GTHL đòi hỏi phải có một lộ trình nhất định, phù hợp với đặc điểm kinh tế của Việt Nam, môi trường kinh doanh, hệ thống pháp lý, chính trị văn hóa phải song song với việc xây dựng một hệ thống chuẩn mực BCTC Nên chọn hướng tiếp cận dần, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Việt Nam, cũng như phù hợp với đặc điểm kinh tế của từng giai đoạn

Cần nghiên cứu, thử nghiệm GTHL nhằm tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực đã ban hành Tiếp tục phát triển GTHL đồng hành với hệ thống kế toán Việt Nam

2.6 Các nhân tố tác động đến việc vận dụng GTHL

2.6.1 Môi trường pháp lý và chính trị

Môi trường pháp lý là những cơ sở pháp lý mà kế toán phải căn cứ vào đó để thực hiện công việc kế toán, đảm bảo cho hoạt động của kế toán phù hợp với những quy định của pháp luật Hầu hết những nghiên cứu trước đây đều cho rằng môi trường pháp lý và chính trị có ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng GTHL trong kế toán Trần Thị Phương Thanh (2012), Dương Lê Diễm Huyền (2014) Luật kế toán Việt Nam chưa có một quy định chung (chuẩn mực chung) về mặt pháp lý cho việc áp dụng GTHL, dẫn đến các quy

Ngày đăng: 25/06/2021, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Chúc Anh Tú (2014), Bàn về điều kiện áp dụng GTHL đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Tạp chí kế toán và kiểm toán số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về điều kiện áp dụng GTHL đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán
Tác giả: Chúc Anh Tú
Năm: 2014
[3] Đào Ngọc Hạnh (2014). Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP HCM. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP HCM
Tác giả: Đào Ngọc Hạnh
Năm: 2014
[4] Dương Lê Diễm Huyền (2014), Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Dương Lê Diễm Huyền
Năm: 2014
[5] Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Năm: 2008
[6] Huỳnh Thị Xuân Thùy (2013), Giải pháp vận dụng GTHL để thực hiện đo lường các khoản đầu tư chứng khoán tại các công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp vận dụng GTHL để thực hiện đo lường các khoản đầu tư chứng khoán tại các công ty cổ phần niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Thị Xuân Thùy
Năm: 2013
[8] Lê Thị Kim Dương (2013), Vận dụng GTHL để trình bày thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng GTHL để trình bày thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Kim Dương
Năm: 2013
[9] Lê Thị Mộng Loan( 2013), GTHL ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa độ tin cậy và thích hợp các thông tin trên BCTC của các công ty tại Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: GTHL ảnh hưởng đến sự cân bằng giữa độ tin cậy và thích hợp các thông tin trên BCTC của các công ty tại Việt Nam
[10] Mai Ngọc Anh (2011) Chuẩn mực kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thông lệ quốc tế và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Theo Tạp chí Kiểm toán số 2/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo thông lệ quốc tế và định hướng vận dụng ở Việt Nam
[11] Ngô Thị Thùy Trang (2012), Phương hướng và giải pháp vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng và giải pháp vận dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Ngô Thị Thùy Trang
Năm: 2012
[12] Nguyễn Đình Thọ (2012), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh thiết kế và thực hiện. Nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh thiết kế và thực hiện
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Năm: 2012
[13] Nguyễn Thành Hưng (2011), Trao đổi về kế toán GTHL trong phản ánh và ghi nhận các khoản ĐTTC ở các doang nghiệp. Tạp chí kiểm toán số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về kế toán GTHL trong phản ánh và ghi nhận các khoản ĐTTC ở các doang nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thành Hưng
Năm: 2011
[14] Nguyễn Thanh Tùng (2014), Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Kinh Tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng GTHL trong kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng
Năm: 2014
[15] Nguyễn Thế Lộc (2010), Tính thích hợp và đáng cậy của “GTHL” trong hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế. Tạp chí phát triển và hội nhập số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính thích hợp và đáng cậy của “GTHL” trong hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế
Tác giả: Nguyễn Thế Lộc
Năm: 2010
[16] Nguyễn Thu Hoài (2009), Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp tính giá trong kế toán. Tạp chí kiểm toán số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp tính giá trong kế toán
Tác giả: Nguyễn Thu Hoài
Năm: 2009
[17] Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị (2008), Giáo trình nguyên lý kế toán. Nhà xuất bản lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nguyên lý kế toán
Tác giả: Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị
Năm: 2008
[18] Phạm Hoài Hương (2010), Mức độ hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại Học Đà Nẵng – Số 5 (40) 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức độ hài hòa giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế
Tác giả: Phạm Hoài Hương
Năm: 2010
[19] Phạm Hoài Hương (2014), Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để áp dụng CMKT quốc tế IAS/IFRS. Tạp chí Kinh tế và phát triển, Số 199 tháng 01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để áp dụng CMKT quốc tế IAS/IFRS
Tác giả: Phạm Hoài Hương
Năm: 2014
[21] Trần Đình Khôi Nguyên (2010), Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các DNNVV, Tạp chí khoa học và công nghệ, Số 5 (40). 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các DNNVV
Tác giả: Trần Đình Khôi Nguyên
Năm: 2010
[22] Trần Đình Khôi Nguyên (2013), Bàn về thang đo các nhân tố phi tài chính ảnh hưởng vận dụng CMKT trong các DNNVV ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và phát triển, Số190 tháng 04/2013: 54-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thang đo các nhân tố phi tài chính ảnh hưởng vận dụng CMKT trong các DNNVV ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Khôi Nguyên
Năm: 2013
[23] Trần Quốc Thịnh (2014), Định hướng xây dựng chuẩn mực BCTC Việt Nam đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế. Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh Tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng xây dựng chuẩn mực BCTC Việt Nam đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế
Tác giả: Trần Quốc Thịnh
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm