Chính vì lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài:”Các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán tiền mặt sang cơ sở kế toán dồn tích ở khu vực công Việt Nam” cho bài Luận Văn của
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Mục tiêu của việc hợp nhất Báo cáo Tài chính toàn Chính phủ Hoa Kỳ là phát triển các chỉ số đánh giá hiệu suất cho từng đơn vị công, theo nghiên cứu của Ball và các cộng sự.
Theo Ball và Cộng sự (1999), Chính phủ Hoa Kỳ đã chuyển sang áp dụng cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh, không lập dự toán và hạch toán hoàn toàn theo cơ sở kế toán dồn tích Hệ thống kế toán quỹ được sử dụng để theo dõi riêng báo cáo tài chính toàn chính quyền, dẫn đến việc thực hiện gần như hai hệ thống sổ khác nhau trong khu vực công.
Việc thực hiện kế toán công thống nhất giữa các đơn vị công và kế toán tổng hợp cho toàn khu vực công nhằm cải thiện tính minh bạch của thông tin báo cáo Báo cáo tài chính khu vực công được lập trên cơ sở dồn tích hoàn toàn, trong khi kế toán ở các cấp thấp hơn áp dụng cơ sở dồn tích có điều chỉnh Nghiên cứu của Ball.I và cộng sự (1999) chỉ ra rằng việc áp dụng kế toán công theo cơ sở dồn tích có điều chỉnh giúp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời, Chính phủ Hoa Kỳ có sự linh hoạt trong việc áp dụng cơ sở kế toán cho từng đơn vị hành chính sự nghiệp.
Jack Diamond (2002) đã nghiên cứu về cải cách hệ thống quản lý chi tiêu công tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi, trong bối cảnh các quốc gia thành viên OECD đang chuyển đổi mô hình của họ Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự căng thẳng liên tục về thông tin kế toán khu vực công và nhu cầu cải cách hệ thống kế toán Các nền kinh tế mới nổi đã tìm cách nhân rộng các cải cách kế toán từ OECD, đặc biệt là chuyển từ kế toán trên cơ sở tiền mặt sang kế toán trên cơ sở dồn tích Diamond nhấn mạnh rằng việc chuyển sang kế toán dồn tích sẽ chỉ có giá trị khi áp dụng cải cách quản lý khu vực công rộng rãi và quá trình này cần thời gian dài để thực hiện Ông cũng đề xuất các giải pháp để đạt được lợi ích từ việc chuyển đổi này, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện kế toán dồn tích trong khu vực công tại các nước OECD.
Tyrone M Carlin (2003) đã tổng hợp các cuộc tranh luận về việc áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công, đưa ra quan điểm ủng hộ và phản đối Ông khẳng định rằng việc chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích là cần thiết để cung cấp thông tin kế toán chính xác và hữu ích Thực nghiệm tại Úc cho thấy, chỉ khi áp dụng đầy đủ trên toàn bộ khu vực công, mới có thể đạt được kết quả tốt Carlin nhấn mạnh rằng việc áp dụng kế toán dồn tích sẽ ảnh hưởng đến các quyết định quan trọng của Chính phủ, đặc biệt trong các vấn đề gia công phần mềm và đấu thầu cạnh tranh Mặc dù chi phí chuyển đổi có thể cao, nhưng nếu Chính phủ Úc chấp nhận, họ sẽ nhận được thông tin kế toán tốt hơn, tương tự như nghiên cứu của Jack Diamond.
Tyrone M Carlin (2003) nhấn mạnh rằng việc chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công tại Úc cần xem xét kỹ lưỡng các chi phí liên quan Nghiên cứu của ông cho thấy rằng để đảm bảo tính đầy đủ và đồng bộ trong việc áp dụng phương pháp kế toán này, cần phải hợp nhất báo cáo tài chính toàn chính quyền nhằm cung cấp thông tin đáng tin cậy.
Hasan (2004) chỉ ra rằng hệ thống kế toán truyền thống của Chính phủ, mặc dù phổ biến, không cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý khu vực công Hệ thống kế toán tiền mặt hàng năm thiếu khả năng ghi nhận đầy đủ các hoạt động, đặc biệt là khi liên quan đến tài sản vốn và cam kết tài chính trong tương lai Ngược lại, kế toán dồn tích không chỉ ghi nhận tổng chi phí đầu ra mà còn hỗ trợ đo lường hiệu suất và hiệu quả hoạt động Việc áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công có thể nâng cao trách nhiệm giải trình và cải thiện báo cáo tài chính, quản lý tài sản và nợ công Tuy nhiên, việc triển khai kế toán dồn tích gặp nhiều thách thức do yêu cầu và tính chất phức tạp của nó, đòi hỏi sự hợp tác từ nhiều yếu tố khác nhau để thực hiện thành công.
AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI + ITC)
AC (ps) : Sự thay đổi kế toán theo phương pháp áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công
MC : Quản lý thay đổi
PBS : Hỗ trợ chính trị, hàm ý là hỗ trợ pháp lý và điều hành
PAS : Hỗ trợ chuyên nghiệp và học thuật trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán
CS : Chiến lược truyền thông bao gồm : sách, tạp chí, hội nghị
WC : Sẵn sàng để thay đổi
CC : Tư vấn và phối hợp với cơ quan chính quyền để áp dụng kế toán dồn tích
BAC : Ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán theo thông lệ quốc tế
SAI : Thực hiện các vấn đề kế toán cụ thể như xác định và định giá tài sản, sổ đăng ký, tổ chức báo cáo…
ITC : Khả năng công nghệ thông tin
Dựa trên các nhân tố này, Hassan (2004) cũng đưa ra các câu hỏi để trả lời cho việc quyết định cải cách :
1 Lợi ích từ việc thực hiện kế toán dồn tích trong khu vực công;
2 Chi phí ước tính của việc thực hiện quá trình cải cách;
3 Năng lực của một quốc gia để thực hiện những thay đổi này, không phải tất cả các nước đều có thể thực hiện được các thay đổi;
4 Sự phức tạp của những thay đổi này;
5 Những thay đổi này phụ thuộc hay độc lập nhau, quá trình thay đổi có thể được thực hiện một mình hoặc nó phụ thuộc vào việc thực hiện của các thay đổi khác;
6 Đến mức độ nào chính phủ khuyến khích các hoạt động quản lý;
7 Thực hiện các hàng rào cản;
8 Mức độ sẵn sàng của Chính phủ chấp nhận sự thay đổi
Mô hình của Hasan (2004) dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu kế toán dồn tích tại New Zealand, Vương quốc Anh và Úc, nhằm phân tích các rào cản trong việc thực hiện kế toán cơ sở dồn tích tại các nước đang phát triển Nghiên cứu này đã xem xét các điều kiện áp dụng, quy mô thực hiện, chi phí và kết quả để xây dựng một mô hình với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cải cách kế toán trong khu vực công Tuy nhiên, Hasan (2004) chủ yếu tổng kết kinh nghiệm từ các nước phát triển mà chưa đi sâu vào phân tích và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố này Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn của việc cải cách chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công tại các nước đang phát triển.
Adriana Tiron Tudor (2006) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng kế toán dồn tích tại Rumani, một quốc gia đang phát triển, nhằm cải thiện hiệu quả quản lý công và tiết kiệm chi phí cho xã hội Việc chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang dồn tích không chỉ là một thay đổi quy trình ngân sách mà còn giúp ghi nhận doanh thu và chi tiêu linh hoạt hơn Nghiên cứu của Harun & Haryono Kamase (2012) tại Indonesia cũng chỉ ra rằng năng lực thể chế thấp trong khu vực công là rào cản chính đối với cải cách kế toán dồn tích Họ đề xuất phương pháp hỗn hợp để hiểu rõ hơn về sự thay đổi này và nhấn mạnh rằng việc cải cách kế toán cần phù hợp với điều kiện kinh tế và văn hóa của từng quốc gia Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về cải cách kế toán khu vực công tại châu Á.
Sau khi phân tích các nghiên cứu về việc chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích tại các quốc gia, tác giả đã tổng hợp thông tin trong Bảng 1.1, trình bày tổng quan về kế toán khu vực công trên toàn cầu.
Reforming Financial Management in the Public Sector:
Lesson US Officials can learn from New Zealand
Thực hiện cơ sở kế toán dồn tích trên toàn chính quyền Hoa
Kỳ, nguồn cung cấp thông tin cho BCTC khu vực công đáng tin cậy
Thành viên tổ chức OECD
Performance Budgeting – Is Accrual Accounting Required?
Một số giải pháp để đạt được lợi ích của việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích tại các nước OECD
& Financial Reporting in the Publice Sector:
Việc xây dựng cơ sở kế toán dồn tích yêu cầu sự đồng bộ và chuẩn bị kỹ lưỡng trong quản lý, đồng thời cần lưu ý rằng việc áp dụng phương pháp này có thể phát sinh chi phí cao.
Successful implementation Of accrual Accouting in the Public Sector
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến cải cách cơ sở kế toán dồn tích đã được xây dựng, nhưng cần phân tích sâu hơn về mức độ ảnh hưởng và kết quả của các nhân tố này.
Nguồn: Tác giả tự xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây
TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Theo nghiên cứu của Đào Xuân Tiên (2009), hệ thống kế toán công Việt Nam cần chuyển sang nguyên tắc kế toán dồn tích, hiện tại kế toán ngân sách vẫn dựa trên cơ sở tiền mặt, trong khi kế toán HCSN chỉ có một số yếu tố của kế toán dồn tích Việc này không phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế và xu hướng kế toán của các quốc gia khác Do sự thay đổi trong quản lý ngân sách nhà nước, cần thiết phải chuyển đổi sang kế toán dồn tích hoàn toàn hoặc ít nhất là điều chỉnh kế toán tiền mặt Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc can thiệp từ Chính phủ để tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và cung cấp thông tin đáng tin cậy cho báo cáo tài chính khu vực công Đỗ Ngọc Trâm (2011) cũng cho rằng hệ thống chuẩn mực kế toán công nên được xây dựng dựa trên hệ thống chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực tư.
Cash Versus Accrual Accouting Public Sector.
Việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích sẽ có thể làm giảm thiểu chi phí xã hội khi áp dụng đồng bộ trên toàn lĩnh vực công
Bài viết "Cải cách Kế toán và Năng lực Thể chế: Trường hợp của một Chính phủ Tỉnh tại Indonesia" phân tích sâu sắc quá trình cải cách kế toán dồn tích trong bối cảnh Việt Nam, nơi các đơn vị công thường quen thuộc với các chính sách kế toán cụ thể cho từng lĩnh vực Việc chuyển đổi từ hệ thống kế toán tiền mặt sang dồn tích đòi hỏi chi phí lớn và thời gian dài để thực hiện Tác giả Đỗ Ngọc Trâm chỉ ra rằng các yếu tố như con người, nhận thức, hệ thống pháp lý và cơ chế tài chính là những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến quá trình này Bên cạnh đó, bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế trong kế toán nhà nước, nhằm nâng cao tính minh bạch tài chính công, từ đó tạo lợi thế đầu tư cho quốc gia Qua nghiên cứu, tác giả khẳng định rằng cải cách kế toán khu vực công là cần thiết để thúc đẩy hợp tác đa quốc gia.
Tác giả Phạm Quang Huy (2013) khẳng định rằng kế toán công là công cụ quan trọng trong việc cung cấp thông tin về ngân sách quốc gia, và chính phủ cần thiết lập các quy định chặt chẽ để kiểm soát tài chính công Việc quản lý tài chính hiệu quả sẽ giúp thông tin kế toán trở nên hữu ích cho người sử dụng trong quá trình ra quyết định Để nâng cao chất lượng thực hiện hệ thống kế toán công, Huy nhấn mạnh sự cần thiết phải chú ý đến kế toán trên cơ sở dồn tích, điều này sẽ mở ra hướng phát triển mới cho cải cách kế toán khu vực công tại Việt Nam trong tương lai dựa trên hệ thống quản lý tài chính công.
Tác giả Ngô Thanh Hoàng (2014) đã nghiên cứu hệ thống kế toán công tại Việt Nam, chỉ ra rằng cơ sở kế toán hiện tại chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc tổ chức hạch toán và cung cấp thông tin Điều này dẫn đến chất lượng thông tin thấp và giảm hiệu quả quản lý trong khu vực công Việc thực hiện kế toán theo từng phần hành riêng lẻ làm giảm tính hiệu quả và khó khăn trong việc thiết kế chính sách và áp dụng công nghệ thông tin Do đó, cần chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích để đồng bộ hóa cải cách kế toán khu vực công, từ trung ương đến địa phương, nhằm thực hiện nhất quán các chính sách của Chính phủ.
Theo Nguyễn Thị Thu Hiền (2015), báo cáo tài chính (BCTC) khu vực công ở Việt Nam hiện chưa thống nhất, với sự khác biệt giữa các ngành nghề và lĩnh vực BCTC chủ yếu phục vụ cho các đơn vị công và cơ quan quản lý Nhà nước để kiểm soát thu chi và quyết toán ngân sách Nguyên nhân chính là do tồn tại song song hai cơ sở kế toán tiền mặt và dồn tích, cùng với việc thực hiện không đồng nhất trong các phần hành kế toán của mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) và giữa các cơ quan HCSN Điều này dẫn đến báo cáo trở nên phức tạp, không thân thiện với công chúng Tác giả cũng đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện BCTC khu vực công tại Việt Nam, hướng tới việc cung cấp thông tin kế toán hữu ích hơn.
Dựa trên các nghiên cứu trước đây về cải cách kế toán khu vực công sang cơ sở dồn tích, tác giả đã tổng hợp thông tin trong Bảng 1.2, trình bày các nghiên cứu trong nước liên quan đến kế toán khu vực công.
Tên công trình nghiên cứu Mục tiêu và kết quả nghiên cứu
Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế và quan điểm xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán công Việt Nam
Cải cách hệ thống kế toán từ cơ sở dồn tích sang cơ sở tiền mặt có điều chỉnh là một yêu cầu cần thiết, đòi hỏi sự can thiệp của Chính phủ trong quá trình chuyển đổi này.
Trâm Để có thông tin kế toán khu vực công theo đúng chuẩn mực quốc tế
Các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc cải cách kế toán sang cơ sở dồn tích đã được phân tích, cho thấy sự tác động của chúng đến thông tin báo cáo tài chính (BCTC) trong khu vực công.
Kế toán khu vực công và chu trình quản trị tài chính công hiện đại
Việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích là cần thiết để đảm bảo chất lượng trong việc thi hành và cung cấp thông tin, do đó cần được suy xét và cân nhắc kỹ lưỡng để đạt hiệu quả tốt nhất.
Hệ thống kế toán công ở Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị
Cơ sở kế toán khu vực công tại Việt Nam hiện nay thiếu sự đồng bộ và rõ ràng giữa các khu vực Để nâng cao tính minh bạch và hiệu quả, cần thiết phải triển khai chính sách cải cách toàn diện, nhằm đáp ứng các quy chuẩn quốc tế về báo cáo tài chính trong khu vực công.
Nguồn: Tác giả tự xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu về chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, cho thấy tình hình cải thiện và mở rộng đồng bộ Các chuyên đề nghiên cứu không chỉ phản ánh tính cấp thiết của vấn đề mà còn chỉ ra những yếu điểm và băn khoăn cần giải quyết khi áp dụng cơ sở kế toán dồn tích Do đó, việc xác định các nhu cầu thiết yếu và cân nhắc các điều kiện tiên quyết là rất quan trọng trong quá trình cải cách này.
KHE HỔNG NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 16 1 Xác định khe hổng cần nghiên cứu
1.3.1 Xác định khe hổng cần nghiên cứu
Trong bối cảnh kế toán nhà nước chưa được tổ chức và quy định thống nhất, việc xác định người sử dụng thông tin kế toán cũng chưa rõ ràng Các quy định hiện tại trong lĩnh vực này phức tạp và thiếu ổn định, dẫn đến sự khác biệt lớn so với tiêu chuẩn kế toán quốc tế Nghiên cứu cho thấy việc chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích là cần thiết để nâng cao trách nhiệm giải trình và công bố thông tin tài chính của Chính phủ, đồng thời chuẩn hóa nội dung và hình thức kế toán trong lĩnh vực công.
Hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam
Kế toán khu vực công hiện nay vẫn sử dụng hai cơ sở kế toán là tiền mặt và dồn tích, dẫn đến thông tin trên báo cáo tài chính không đạt chuẩn mực quốc tế Mặc dù có lộ trình áp dụng kế toán công và mở rộng cơ sở dồn tích vào khu vực công, các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra nhiều nhân tố tác động đến cải cách kế toán, phù hợp với điều kiện phát triển của mỗi quốc gia Trong khi đó, nghiên cứu trong nước mới chỉ dừng lại ở việc xác định các nhân tố tác động mà chưa khai thác sâu về mức độ và chiều sâu ảnh hưởng của chúng Tác giả kế thừa nghiên cứu của Đỗ Ngọc Trâm (2011) để bổ sung vào nghiên cứu của mình, và đã chọn một mô hình nghiên cứu nước ngoài kết hợp với ý kiến chuyên gia về tình hình tại Việt Nam, nhằm điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện hiện tại và tiến hành áp dụng nghiên cứu cải cách chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công ở Việt Nam.
1.3.2 Hướng nghiên cứu của tác giả
Luận văn này tiếp tục nghiên cứu về kế toán khu vực công tại Việt Nam, dựa trên những thành tựu của các công trình nghiên cứu trước Tác giả sẽ kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách kế toán khu vực công theo hướng chuyển đổi sang cơ sở dồn tích Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để đưa ra các đề xuất nhằm cải cách hệ thống kế toán khu vực công tại Việt Nam.
Việc chuyển đổi kế toán khu vực công sang cơ sở kế toán dồn tích là xu hướng tất yếu và phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế, đặc biệt là IPSAS Nghiên cứu cho thấy áp dụng IPSAS vào kế toán công Việt Nam mang lại nhiều lợi ích thiết thực Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cải cách này, nhằm cung cấp thông tin kế toán hữu ích cho người sử dụng trong và ngoài khu vực công.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC CÔNG
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khu vực công Trong thực tế, thuật ngữ
Khu vực công thường được hiểu là khu vực nhà nước, nơi nhà nước đóng vai trò quyết định và chi phối các hoạt động xã hội Thuật ngữ này được sử dụng để phân biệt với khu vực tư hay khu vực phi nhà nước, nơi các hoạt động sản xuất sản phẩm và dịch vụ do tư nhân quyết định.
Các định nghĩa về "khu vực công" trước năm 2005 chủ yếu tập trung vào Chính phủ Tuy nhiên, vào năm 2011, Hiệp Hội Kiểm Toán Nội Bộ (IIA) đã ban hành văn bản hướng dẫn định nghĩa khu vực công, trong đó đưa ra một khái niệm mới về lĩnh vực này.
Khu vực công bao gồm các cơ quan chính phủ, đại diện, doanh nghiệp và tổ chức khác, với nhiệm vụ cung cấp chương trình, hàng hóa và dịch vụ công cho cộng đồng.
Theo định nghĩa của CMKT công, khu vực công là lĩnh vực hoạt động mà Nhà nước sở hữu và đầu tư vốn, có thể bao gồm cả sự tham gia của tư nhân với sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước Khu vực này được quản lý bởi Nhà nước nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu phục vụ nhu cầu chung của xã hội.
Khu vực công đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất các sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu phát triển chung của nhà nước và xã hội Chức năng chính của khu vực công bao gồm việc đảm bảo trật tự xã hội thông qua hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công cộng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cộng đồng.
2.1.2 Vai trò của Khu vực công
Ngay cả ở các nước phát triển, khu vực Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng mặc dù khu vực tư đã phát triển mạnh mẽ và có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ của Nhà nước GS.TS Vũ Huy Từ cùng các cộng sự đã đưa ra những quan điểm đáng chú ý về vai trò của khu vực công trong bối cảnh này.
- Khu vực công là công cụ trong tay Nhà nước để can thiệp vào xã hội, đảm bảo trật tự xã hội và sự phát triển chúng
Khu vực công đóng vai trò then chốt trong việc định hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo chính sách của nhà nước Vai trò này được thể hiện rõ ràng qua nhiều khía cạnh quan trọng.
+ Nhà nước tự mình thực hiện công việc quản lý Nhà nước đối với những lĩnh vực chủ yếu, không thể giao cho các cấu trúc phi Nhà nước
Nhà nước thông qua hoạt động của khu vực công thực hiện điều tiết thị trường nhằm hạn chế những mặt trái như chạy theo lợi nhuận, ô nhiễm môi trường và phân hóa giàu nghèo.
Nhà nước cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà khu vực tư nhân không đủ khả năng hoặc không muốn đầu tư do rủi ro cao Chất lượng và số lượng của các sản phẩm này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế toàn cầu chủ yếu là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm các thành phần do tư nhân và nhà nước đảm nhận Điều này đòi hỏi cần phân biệt thêm một khu vực mà "nhà nước và nhân dân cùng làm," như được minh họa trong sơ đồ dưới đây.
Hình 2.1: Nền kinh tế với các khu vực công, tƣ và hỗn hợp
Nguồn: Tài liệu đào tạo quản lý Khu vực công của GS.TS Vũ Huy Từ
2.1.3 Đặc điểm và phạm vi hoạt động của Khu vực công
2.1.3.1.1 Các đặc điểm cơ bản
- Phụ thuộc vào định hướng chính trị
- Chịu sự chi phối của nhà nước
- Chủ yếu do nhà nước đầu tư
- Phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của xã hội
- Thường không nhằm mục tiêu lợi nhuận kinh tế
Theo IIA (2011), khu vực công bao gồm nhiều hoạt động từ quản lý nhà nước đến cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho công dân và tổ chức Tuy nhiên, việc xác định rõ ràng các lĩnh vực thuộc khu vực công gặp nhiều khó khăn.
Khu vực hỗn hợp Nhà nước và Tư nhân Khu vực
Phạm vi hoạt động của khu vực công được xác định khác nhau tùy theo quan điểm và định hướng phát triển của từng quốc gia, và có thể thay đổi theo từng giai đoạn Các hoạt động cơ bản của khu vực công bao gồm những nhiệm vụ thiết yếu phục vụ cho lợi ích chung của xã hội.
Hoạt động quản lý nhà nước
Các hoạt động này nhằm hiện thực hóa hệ thống pháp luật quốc gia, thể hiện chức năng cơ bản và sự khác biệt giữa khu vực công và khu vực tư Chúng phản ánh quyền lực nhà nước trong khu vực công, cho thấy rằng một khu vực công mạnh là yếu tố quyết định cho việc quản lý nhà nước hiệu quả.
Hoạt động sản xuất và cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ công
Hoạt động này do các đơn vị sự nghiệp công hoặc các doanh nghiệp nhà nước đảm nhận và hoạt động ở một số lĩnh vực quan trọng sau:
Nhà nước tổ chức sản xuất và cung cấp dịch vụ, hàng hóa cho xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và người dân.
Nhà nước thực hiện việc mua sắm hàng hóa và dịch vụ từ các chủ thể kinh tế khác nhằm cung cấp cho xã hội, thông qua cơ chế mua trực tiếp hoặc hợp đồng với các thành phần kinh tế khác.
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT KẾ TOÁN CÔNG
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), kế toán công là công cụ quản lý tài sản và các quỹ của Chính phủ Trong bài viết này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa về kế toán công của IMF làm tiêu chuẩn để tiến hành nghiên cứu, phân tích và đánh giá.
2.2.2 Vai trò của Kế toán công
Kế toán công đóng vai trò quan trọng trong quản lý ngân sách nhà nước, hỗ trợ quyết định của các đơn vị sử dụng ngân sách Nó cũng là công cụ thiết yếu để kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh tế - tài chính của Nhà nước, đồng thời chứng minh việc chấp hành ngân sách của các đơn vị này.
Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp Đơn vị dự toán cấp 1 Đơn vị dự toán cấp 2 Đơn vị dự toán cấp 3
Bài viết phản ánh các hoạt động kinh tế tài chính tại đơn vị, cung cấp thông tin về việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí ngân sách Nó cũng khai thác và sử dụng nguồn thu cùng các hoạt động khác thông qua báo cáo kế toán, nhằm phục vụ cho các đối tượng liên quan.
Thông tin kế toán khu vực công đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các đối tượng liên quan đưa ra quyết định chính xác Đối tượng sử dụng thông tin kế toán khu vực công đa dạng hơn so với khu vực tư, bao gồm hai nhóm chính.
+ Đối tƣợng sử dụng bên trong: Thủ trưởng đơn vị, các phòng, ban
Đối tượng sử dụng bên ngoài bao gồm các cơ quan tài chính, cơ quan thống kê, Kho bạc Nhà nước, đơn vị dự toán cấp trên, cũng như Chính phủ, Quốc hội và một số tổ chức, cá nhân khác như các nhà tài trợ và viện trợ.
- Thông tin kế toán khu vực công làm cơ sở để lập dự toán thu-chi chính xác và tránh lãng phí
- Giúp người sử dụng thông tin kế toán đánh giá được tình hình tài chính của đơn vị, theo dõi, đánh giá chất lượng dịch vụ công
Thông tin kế toán rõ ràng, đầy đủ và kịp thời tạo điều kiện cho Nhà nước thu hút vốn tài trợ và vay mượn từ các tổ chức bên ngoài.
Cung cấp thông tin chính xác và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập các tổ chức quốc tế, đồng thời nâng cao vị thế trên thị trường toàn cầu.
2.2.3 Đặc điểm Kế toán công
Hệ thống kế toán công tại Việt Nam được quy định qua nhiều tầng pháp lý, bao gồm các văn bản như Luật, Nghị định, quyết định, thông tư và các hướng dẫn pháp luật khác.
Kế toán công được áp dụng cho các đơn vị thu – chi ngân sách nhà nước (NSNN), bao gồm các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng kinh phí NSNN, đơn vị sự nghiệp không sử dụng kinh phí NSNN và các quỹ tài chính nhà nước.
Phạm vi hợp nhất báo cáo tài chính (BCTC) của Chính phủ hiện nay chưa được xác định rõ ràng, mặc dù kế toán công đã quy định về việc lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) Điều này dẫn đến việc chưa có nội dung, biểu mẫu và phương pháp cụ thể cho việc hợp nhất BCTC của Chính phủ.
Thông tin đầu vào của kế toán công được Chính phủ quy định rõ ràng, chia thành ba loại: ngân sách, HCSN và đặc thù Hiện tại, thông tin đầu ra của kế toán công chỉ quy định việc lập báo cáo tài chính (BCTC) ở cấp đơn vị và tổng hợp BCTC theo từng cấp ngân sách để phục vụ quyết toán kinh phí Tuy nhiên, toàn Chính phủ vẫn chưa có BCTC hợp nhất, chỉ có báo cáo thống kê tài sản và báo cáo ngân sách trình Quốc Hội.
2.2.4 Cơ sở kế toán áp dụng trong kế toán công Để thực hiện các vai trò của mình, kế toán khu vực công phải hoạt động dựa trên các nguyên tắc nhất định Nguyên tắc đầu tiên chính là nguyên tắc về cơ sở kế toán
Cơ sở kế toán được sử dụng trong kế toán công theo PSG.TS Võ Văn Nhị và cộng sự (2015) đã phân tích bao gồm:
Cơ sở kế toán tiền
Cơ sở kế toán dồn tích
Các đơn vị kế toán công hiện đang sử dụng những cơ sở kế toán khác nhau; cụ thể, các đơn vị thu – chi ngân sách áp dụng cơ sở kế toán tiền có điều chỉnh, trong khi các đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) áp dụng cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh.
Kế toán công khác với kế toán khu vực tư ở chỗ sử dụng cả hai cơ sở kế toán, bao gồm cơ sở dồn tích và cơ sở tiền Mặc dù mức độ áp dụng các cơ sở kế toán có sự khác biệt giữa các quốc gia, nhưng cơ sở tiền vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện kế toán khu vực công trên toàn cầu Do đó, chuẩn mực IPSAS được thiết lập để đảm bảo tính nhất quán và minh bạch trong hoạt động kế toán công.
Năm 2013, 39 chuẩn mực kế toán công đã được ban hành, bao gồm 38 chuẩn mực dựa trên cơ sở dồn tích và 1 chuẩn mực dựa trên cơ sở tiền Nội dung chính của các chuẩn mực này tập trung vào việc thiết lập các quy tắc và hướng dẫn cho việc quản lý và báo cáo tài chính trong lĩnh vực công.
LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Lý thuyết đại diện hay lý thuyết ủy nhiệm a Nội dung lý thuyết
Spence và Zeckhauser (1971) đã nghiên cứu về thông tin bất cân xứng giữa người sở hữu và quản lý trong ngành bảo hiểm, dẫn đến việc hình thành lý thuyết đại diện Lý thuyết này mô tả mối quan hệ hợp đồng giữa chủ sở hữu vốn và người quản lý, nhấn mạnh vấn đề làm thế nào để người đại diện làm việc vì lợi ích của chủ sở hữu khi có lợi thế thông tin và lợi ích khác nhau Trong khu vực công, các đơn vị cấp thấp sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước và đóng vai trò là bên đại diện, trong khi Quốc Hội và các thể chế Chính phủ là bên ủy thác, chịu trách nhiệm quản lý và đưa ra quyết định Để cung cấp thông tin chất lượng và minh bạch, bên đại diện cần tạo ra thông tin kế toán trung thực và hiệu quả, nhằm giảm thiểu thông tin bất cân xứng giữa các cấp Quốc hội luôn nỗ lực nắm bắt thông tin và giảm thiểu bất cân xứng để cải thiện mối quan hệ giữa bên đại diện và bên ủy thác.
Trong bài nghiên cứu luận văn, tác giả áp dụng lý thuyết đại diện để phân tích trách nhiệm của xã hội và các thủ trưởng đơn vị công trong việc cung cấp thông tin kế toán hữu ích Qua đó, tác giả mong muốn tìm hiểu thực trạng và đánh giá những hạn chế của thông tin kế toán trong khu vực công, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công sang cơ sở kế toán dồn tích.
MÔ HÌNH LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.4.1 Lý do chọn mô hình lý thuyết
Tác giả đã chọn mô hình lý thuyết của Hasan (2004) để kiểm định tại Việt Nam, dựa trên các nghiên cứu nước ngoài Mô hình này xác định các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ sở kế toán dồn tích trong khu vực công Hasan đã kiểm tra sự thay đổi của những nhân tố này để xem chúng có tác động đến việc thực hiện kế toán dồn tích hay không Với việc Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có nhiều điểm tương đồng với các nước khác trong việc áp dụng kế toán dồn tích, tác giả đã quyết định sử dụng mô hình của Hasan để phân tích và kiểm định trong nghiên cứu của mình.
2.4.2 Mô hình lý thuyết của Hasan (2004)
Trong mô hình lý thuyết của Hasan (2004) cho rằng có 6 nhân tố cơ bản tác động đến việc chuyển đổi thực hiện kế toán cơ sở dồn tích gồm:
Việc phát triển và cải cách kế toán khu vực công sang cơ sở kế toán dồn tích phụ thuộc vào quan điểm của Chính phủ và các cơ quan quản lý, không phải tất cả các hệ thống đều hỗ trợ chuyển đổi này Đối với các quốc gia đang phát triển, tính độc lập của thể chế chính trị có ảnh hưởng lớn đến quản lý Bello (2013) cho rằng việc chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích là một quá trình phức tạp, thường gặp kháng cự từ những người hưởng lợi từ hệ thống cũ Hasan và cộng sự nhận thấy rằng yếu tố chính trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi này.
2 Nhân tố Giáo dục, nghề nghiệp, sự truyền thông
Nghiên cứu của Hasan và cộng sự chỉ ra rằng việc mở rộng nghiên cứu sang các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn do tình trạng gian lận và tham nhũng gia tăng trong khu vực công Sự thiếu hụt nhân sự có trình độ chuyên môn, kỹ năng, cũng như kỹ thuật và phương tiện tài chính càng làm trầm trọng thêm vấn đề Do đó, cần thiết phải truyền thông thông tin đến người dân để họ có thể nắm bắt sự thay đổi kịp thời và tạo áp lực lên Chính phủ, nhằm đảm bảo việc cung cấp thông tin kế toán khu vực công được cập nhật và minh bạch.
Tính pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc cải cách chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích, giúp kết nối các thay đổi của Chính phủ với các cơ quan quản lý Nhà nước Đây cũng là công cụ thiết yếu để ban hành các chuẩn mực kế toán và thu thập thông tin phản hồi từ các đơn vị liên quan.
Các nước đang phát triển đối mặt với nhiều thách thức trong quản lý kinh tế, bao gồm tỷ lệ lạm phát cao, sự ổn định của tiền tệ kém, gia tăng nợ nần và chi tiêu quốc gia không hợp lý, cùng với việc kiểm soát nội bộ yếu kém trong khu vực công Những vấn đề này cho thấy sự phát triển kinh tế quốc gia có ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển đổi cơ sở kế toán trong khu vực công hiện nay.
Theo nghiên cứu của Hasan (2004), quá trình cải cách chuyển đổi sang cơ sở kế toán dồn tích tại các nước đang phát triển diễn ra chậm Để thúc đẩy sự phát triển này, cần có sự can thiệp và tài trợ mạnh mẽ từ các tổ chức quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính và chuyên môn liên quan đến xây dựng cơ sở kế toán dồn tích.
Tác giả Hasan (2004) đã bày tỏ mối lo ngại về văn hóa quan liêu hủ tục và phân tích sự không sẵn lòng đổi mới hệ thống kế toán để cung cấp thông tin minh bạch từ các nhà cầm quyền Ông cho rằng động cơ chính của vấn nạn tham nhũng xuất phát từ văn hóa thiếu sót, ngay cả ở những nước có nền dân chủ cao và hệ thống kiểm soát nội bộ tốt Dựa trên 6 nhân tố này, Hasan đã xây dựng một mô hình lý thuyết để phản ánh thực trạng này.
Sơ đồ 2.2: Mô hình lý thuyết của Hasan (2004)
Nhân tố Giáo dục, nghề nghiệp và sự truyền thông
KẾ TOÁN TRONG KHU VỰC CÔNG
Bài viết tổng quan về khu vực công, bao gồm khái niệm, vai trò, đặc điểm và cơ sở kế toán áp dụng Tác giả phân tích ưu nhược điểm của nguyên tắc kế toán tiền mặt và dồn tích trong khu vực công Đồng thời, bài viết giới thiệu khái niệm và đặc điểm của CMKT công quốc tế cùng với các lý thuyết liên quan, nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi cơ sở kế toán khu vực công Lý thuyết đại diện và lý thuyết mở rộng được sử dụng làm nền tảng cho nghiên cứu, từ đó tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương 3 của luận văn.