Nhận thấy còn rất hạn chế đề tài nghiên cứu về nhóm đối tượng này và tình hình thực tiễn về nâng cao mức độ CBTTTN trên BCTN cho các công ty đại chúng là cấp bách và thiết yếu nên tác gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HÀ XUÂN THẠCH
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết quả của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trịnh Thị Hợp
Trang 4MỤC LỤC TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tích cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5
1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.3 Khe hổng nghiên cứu 11
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
2.1 Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện 13
2.1.1 Khái niệm công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện 13
2.1.2 Phương tiện công bố thông tin tự nguyện 13
2.1.3 Nội dung thông tin tự nguyện công bố trên TTCK 14
2.1.4 Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện 16
Trang 52.2 Những vấn đề chung về báo cáo thường niên 17
2.2.1 Khái niệm và mục đích của BCTN 17
2.2.2 Thời điểm lập và công bố BCTN 18
2.2.3 Nội dung cơ bản của BCTN 18
2.3 Các lý thuyết liên quan đến CBTT 20
2.3.1 Lý thuyết chi phí ủy nhiệm 20
2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 21
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu 22
2.3.4 Lý thuyết chi phí sở hữu 23
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Khung nghiên cứu 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 27
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 27
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 28
3.3 Thiết kế nghiên cứu 29
3.3.1 Mô hình lý thuyết nghiên cứu 29
3.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 29
3.3.3 Mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTN 36
3.3.4 Đo lường biến 38
3.3.5 Chọn mẫu 40
3.3.6 Công cụ xử lý dữ liệu 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 42
Trang 6CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 43
4.1 Giới thiệu về sàn GDCK UPCoM 43
4.1.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của sàn GDCK UPCoM 43
4.1.2 Vấn đề về công bố thông tin trên thị trường UPCoM 44
4.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 45
4.3 Kết quả nghiên cứu định tính 46
4.4 Kết quả nghiên cứu định lượng 46
4.4.1 Thống kê mô tả 46
4.4.2 Kiểm định mô hình nghiên cứu 52
4.5 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 61
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Trang
Bảng 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN kế thừa
của Dulacha G Barako (2007)
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 52 Bảng 4.10 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 53 Bảng 4.11 Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 53 Bảng 4.12 Kết quả phương trình hồi quy 54
Hình 3.3 Mô hình lý thuyết nghiên cứu 26
Trang 8
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
BCTN Báo cáo thường niên
BGĐ Ban giám đốc
BTC Bộ Tài Chính
CBTT Công bố thông tin
CBTTTN Công bố thông tin tự nguyện CT.HĐQT Chủ tịch hội đồng quản trị CTĐC Công ty đại chúng
ĐBTC Đòn bẩy tài chính
ĐKGD Đăng ký giao dịch
DN Doanh nghiệp
HĐQT Hội đồng quản trị
KNSL Khả năng sinh lời
KNTT Khả năng thanh toán
LCTKT Loại công ty kiểm toán
NĐT Nhà đầu tư
QMHĐQT Quy mô hội đồng quản trị QSHNN Quyền sở hữu nước ngoài QSHTC Quyền sở hữu tổ chức
QSHTT Quyền sở hữu tập trung
QTCT Quản trị công ty
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán TGĐ Tổng giám đốc
TTCK Thị trường chứng khoán
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012), trong thị trường chứng khoán (TTCK), thông tin là yếu tố nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của nhà đầu tư Do vậy, công bố thông tin (CBTT) là trách nhiệm và cũng là nghĩa vụ rất quan trọng đối với các tổ chức khi tham gia thị trường, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng của hoạt động tài chính, góp phần vào sự phát triển lành mạnh của TTCK Ngày nay, yêu cầu của người sử dụng thông tin ngày càng cao, thông tin họ cần được cung cấp không chỉ là thông tin tài chính mà còn cả thông tin phi tài chính, không chỉ là thông tin bắt buộc mà cả thông tin tự nguyện, không chỉ
là thông tin trên BCTC mà trên cả báo cáo thường niên (BCTN) hay các báo cáo quản trị khác Những năm gần đây, vấn đề tự nguyện CBTT được quan tâm nhiều hơn do CBTT bắt buộc vẫn chưa đáp ứng hiệu quả cho người sử dụng thông tin Cũng theo Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012) thì tự nguyện CBTT là một khái niệm khá trừu tượng, đó là việc ngoài các thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của việc CBTT của các công ty đại chúng (CTĐC), nhằm tăng cường mức độ và chất lượng thông tin công bố, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, tạo sự minh bạch và ổn định cho thị trường, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã liên tục có những quy định thích hợp đối với hoạt động CBTT trên thị trường chứng khoán Cụ thể từ 2007 đến 2015 BTC đã có tới 4 thông
tư hướng dẫn về CBTT trên thị trường chứng khoán được ban hành thay thế cho nhau Gần đây nhất là Thông tư 155/2015/TT-BTC được ban hành để thay thế thông tư 52/2012 Đặc biệt ngày 20/11/2008, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 108/2008-QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán CTĐC chưa niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HaSTC) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc triển khai thị trường UPCoM
Trang 10(Thị trường giao dịch cổ phiếu của CTĐC chưa niêm yết) Thị trường UPCoM ra đời tạo tiền đề cho HaSTC xây dựng thị trường OTC có quản lý, góp phần thu hẹp thị trường tự do và hướng tới một thị trường OTC hiện đại Đây cũng chính là sự mong đợi của nhiều nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý thị trường trong bối cảnh thị trường cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết còn thiếu minh bạch về thông tin DN, về cổ phiếu và đặc biệt là về môi trường đầu tư lành mạnh ẩn chứa nhiều tiềm năng lợi nhuận
Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước nghiên cứu
về mức độ CBTT trên BCTN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào mức độ CBTT nói chung, hoặc CBTT bắt buộc mà còn rất ít nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện (CBTTTN) Bên cạnh đó, cũng hầu hết các nghiên cứu đi vào nghiên cứu cho đối tượng là các công ty niêm yết trên HNX và HOSE, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về các công ty trên sàn UPCoM Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu trước đều cho thấy mức độ CBTTTN của các công ty niêm yết trên HOSE và HNX đều còn thấp Qua đó đặt ra cho chúng ta câu hỏi rằng, các công ty niêm yết trên sàn chính thức, chuyên nghiệp như thế mà mức độ CBTTTN còn hạn chế, vậy các công ty trên sàn UPCoM thì mức độ CBTTTN sẽ như thế nào? Nhận thấy còn rất hạn chế
đề tài nghiên cứu về nhóm đối tượng này và tình hình thực tiễn về nâng cao mức độ CBTTTN trên BCTN cho các công ty đại chúng là cấp bách và thiết yếu nên tác giả
tiến hành nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông
tin tự nguyện trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM”
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu chung: Trọng tâm của đề tài là đi tìm các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ
CBTTTN trên báo cáo thường niên (BCTN) của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá mức độ CBTTTN trên BCTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN trên BCTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM
Trang 11Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn này cần đi vào trả lời cho các câu hỏi sau:
Thứ nhất, mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM như thế nào? Thứ hai, những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN và tác động của từng nhân tố đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: BCTN của các doanh nghiệp đăng ký giao dịch chứng khoán trên sàn UPCoM
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chọn nhóm các các doanh nghiệp trên sàn UPCoM sau khi loại trừ các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính như: ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư Dữ liệu dùng trong nghiên cứu được tác giả thu thập từ BCTN và BCTC năm 2015 của các doanh nghiệp nêu trên
4 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả kết hợp cả nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Sau khi lựa chọn các biến độc lập từ kế thừa nghiên cứu trước, tác giả khảo sát ý kiến của chuyên gia để đưa ra các biến độc lập chính thức vào mô hình nghiên cứu
- Nghiên cứu định lượng: Tác giả dùng phương pháp đo lường chỉ số CBTT để đo lường mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp và dùng phương pháp thống
kê mô tả để đánh giá mức độ CBTTTN Sau khi thu thập đầy đủ dữ liệu về biến phụ thuộc và các biến độc lập, tác giả sử dụng phần mềm Stata để kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội, tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM
5 Đóng góp của đề tài:
- Thứ nhất đề tài đã tổng kết được các nghiên cứu có liên quan được công bố trước
đó Qua đó giúp người đọc thấy được vấn đề này là quan trọng và được nhiều người quan tâm, nghiên cứu
Trang 12- Thứ hai, đề tài đã đánh giá được mức độ CBTTTN và tìm ra các nhân tố tác động đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM Kết quả nghiên cứu chính thức này của tác giả là một gợi ý cho các doanh nghiệp trên sàn UPCoM trong việc lựa chọn thông tin tự nguyện để công bố cho các đối tượng liên quan sử dụng, nhằm nâng cao tính hữu ích của thông tin được công
bố, tạo niềm tin với nhà đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh và thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của tác giả có thể giúp các nhà đầu tư cũng như các đối tượng sử dụng thông tin tài chính từ các công ty đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM đưa ra được quyết định phù hợp hơn, hiệu quả hơn; giúp các nhà ban hành luật đưa ra các chính sách, quy định để có thể nâng cao mức độ CBTT nói chung và CBTTTN nói riêng của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM
6 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu thì luận văn gồm có 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy có nhiều nghiên cứu liên quan về mức độ CBTTTN cả trong và ngoài nước Tuy nhiên ở đây tác giả chỉ đi vào lược khảo một
số nghiên cứu có liên quan trực diện đến nghiên cứu của tác giả
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu nước ngoài được tác giả lựa chọn lược khảo sau đây hầu hết là những nghiên cứu tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển tương tự như Việt Nam Hơn thế nữa, các nghiên cứu này cũng được đăng trên các tạp chí uy tín và có
số lượt trích dẫn khá cao Cụ thể nghiên cứu của Barako (2007) đăng trên Tạp Chí QTKD châu Phi, tính đến nay có 144 lượt trích dẫn; Nghiên cứu Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Kế toán Trung quốc, cũng đã có 19 lượt trích dẫn; Sweiti and Attayah (2013) được đăng trên Tạp chí quản trị và nghiên cứu tài chính kinh doanh toàn cầu; Juhmani (2013) được
đăng trên Tạp chí kế toán và BCTC quốc tế; Silmi and M Adous (2014) được đăng
trên Tạp Chí nghiên cứu tài chính kế toán
Barako (2007): “Determinants of voluntary disclosures in Kenyan
companies annual reports” Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính, đầu tiên là để
kiểm tra mức độ CBTTTN qua các báo cáo thường niên của các công ty ở Kenya
niêm yết trên sàn chứng khoán trong khoảng thời gian mười năm (1992 – 2001) Thứ hai, kiểm tra các yếu tố quyết định mức độ CBTT tự nguyện của các công ty này Với thông tin tự nguyện được chia làm 4 loại: thông tin chung và chiến lược, tài chính, hoạch định tương lai và thông tin xã hội Các yêu tố được cho là quyết định đến mức độ CBTTTN tác giả chia làm 3 nhóm: Đặc điểm công ty, đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT), cấu trúc sở hữu Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ CBTTTN còn thấp, mặc dù có cải thiện qua các năm Trong đó, thông tin chung và chiến lược có mức độ công bố cao hơn các thông tin còn lại Kết quả cũng chỉ ra rằng các biến độc lập như cơ cấu ban lãnh đạo, quyền sở hữu nước ngoài, quyền sở hữu tổ chức và quy mô doanh nghiệp là rất quan trọng cho tất cả bốn loại thông tin công bố Biến thành phần HĐQT có quan hệ tiêu cực với mức độ CBTTTN Các
Trang 14biến ủy ban kiểm toán, quyền sở hữu tập trung và loại công ty kiểm toán độc lập không có ý nghĩa đối với thông tin hoạch định tương lai, có ý nghĩa với ba loại thông tin còn lại Các biến thuộc thành phần (HĐQT), và lợi nhuận chỉ có ý nghĩa đối với hai loại thông tin tiết lộ Biến đòn bẩy tài chính và tính thanh khoản chỉ có ý nghĩa với mức độ CBTT hoạch định tương lai
Yang Lan, Lili Wang, Xueyong Zhang (2013) : “Determinants and features
of voluntary disclosure in the Chinese stock market” Bài viết này cung cấp các
phân tích chuyên sâu về các yếu tố quyết định đến mức độ CBTTTN của các công
ty niêm yết tại Trung Quốc Với quy mô mẫu được các tác giả chọn là rất lớn, 80% công ty niêm yết trên hai sàn Thượng Hải và Thâm Quyến Dữ liệu được dùng cho nghiên cứu là báo cáo thường niên năm 2006 của các công ty này Mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số CBTT với một danh sách rất quy mô là 119 khoản mục Các biến độc lập được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Đòn bẩy, tài sản cố định, tính thanh khoản, loại công ty kiểm toán, ROE, quyền sở hữu khuếch tán, tỷ lệ HĐQT không điều hành, quyền sở hữu nhà nước, môi trường pháp
lý, quy mô doanh nghiệp, chí phí vốn chủ sở hữu Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy, tài sản cố định, ROE, và quyền sở hữu khuếch tán có tác động tích cực lên CBTTTN Loại kiểm toán viên và môi trường pháp lý
có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN Chi phí vốn chủ sở hữu không có mối quan hệ với mức độ CBTTTN
Sweiti and Attayah (2013): Critical Factors Influencing Voluntary
Disclosure: The Palestine Exchange “PEX” Nghiên cứu này xem xét những nhân
tố ảnh hưởng đến việc CBTTTN trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên PEX Nghiên cứu phân tích các công ty niêm yết tại Palestine Exchange
“PEX”, mẫu được chọn là 48 công ty cho năm 2011, và 35 công ty cho năm 2007 Nghiên cứu xem xét mức độ mà các yếu tố quan trọng như tỷ lệ HĐQT không điều hành, ủy ban kiểm toán, quy mô hội đồng quản trị, hoạt động của hội đồng quản trị,
số lượng cổ đông ảnh hưởng đến việc CBTTTN Biến phụ thuộc là mức độ CBTTTN được đo lường bằng chỉ số công bố thông tin với danh sách các khoản
Trang 15mục CBTT được phát triển bởi Meek et al (1995), sau đó nó được đối chiếu với yêu cầu CBTT trên thị trường chứng khoán Palestine, và danh sách cuối cùng được thiết lập với 79 mục thông tin Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ CBTTTN của các công ty này còn thấp, mặc dù có cải thiện từ 2007 so với 2011 Các phân tích cũng cho thấy những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiết lộ tự nguyện; tỷ lệ HĐQT không điều hành, quy mô hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán, số lượng cổ đông Yếu tố không ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của công ty là hoạt động của HĐQT
Juhmani (2013): “Ownership Structure and Corporate Voluntary
Disclosure: Evidence from Bahrain”. Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố và mức độ các tiết lộ thông tin tự nguyện của các công
ty Bahrain niêm yết trên sàn chứng khoán BSE Mẫu nghiễn cứu chính thức là 41 công ty niêm yết, dữ liệu được thu thập trên BCTN của các công ty này năm 2010
Để đo lường mức độ CBTTTN tác giả sử dụng một thủ tục phân đôi, trong đó mỗi mục tiết lộ trên danh sách kiểm tra được chỉ định nhận giá trị “1” nếu nó không được tiết lộ là “0”, danh sách các mục công bố thông tin tự nguyện gồm 34 khoản mục được xây dựng dựa trên Luật công ty Bahrain và IFRS Các biến độc lập được tác giả đưa vào mô hình gồm: Quyền sở hữu của cổ đông không kiểm soát, quyền
sở hữu của nhà quản lý, quyền sở hữu của nhà nước, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là thống kế
mô tả, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu
tố có ảnh hưởng đến công CBTTTN là: Quyền sở hữu của cổ đông không kiểm soát, quy mô công ty và đòn bẩy tài chính; các biến còn lại có ảnh hưởng không đáng kể đến CBTTTN
Silmi and M Adous (2014): “Factors Affecting the Level of Voluntary
Accounting Disclosure on Annual Financial Statements: Applied Study on Jordanian Industrial Shareholding Companies”
Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ CBTTTN trong các lĩnh vực công nghiệp cho các công ty niêm yết của Jordan, và kiểm tra một số yếu tố như: Quy mô công
Trang 16ty, tuổi công ty, giá trị giao dịch (VT), đòn bẩy tài chính, thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS), ROE, dòng tiền từ hoạt động (CFFO), cổ tức trên mỗi cổ phần (DPS) có tác động tới mức độ CBTTTN hay không Để đạt được nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một danh sách các chỉ số CBTTTN bao gồm 30 khoản mục được
áp dụng Mẫu nghiên cứu là 56 công ty cổ phần công nghiệp Jordan được niêm yết trên sàn chứng khoán Amman vào năm 2013 Kết quả cho thấy các công ty công nghiệp tiết lộ các thông tin kế toán tự nguyện ở mức độ còn thấp (46%), trong đó các ngành giấy và các tông là có mức độ CBTTTN cao nhất Trong khi lĩnh vực in
ấn và bao bì, là một trong những ngành công nghiệp tiết lộ ít nhất Kết quả cũng cho thấy ROE là yếu tố có ảnh hưởng tích cực nhất tới mức độ CBTTTN, và yếu tố VT, đòn bẩy tài chính cũng có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTT tự nguyện Trong khi đó EPS, DPS có tác động tiêu cực đến mức độ CBTTTN, các yếu tố tuổi của công ty, dòng tiền hoạt động và quy mô của công ty không có ý nghĩa tương quan thống kê
Ngoài những nghiên cứu được lược khảo trên đây thì tác giả xin được cung cấp thêm bảng danh sách các nghiên cứu nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ CBTTTN Danh sách này được thống kê bởi Shehata (2014) và được tác giả đính kèm phụ lục 01
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy các nghiên cứu trong nước về CBTTTN chưa nhiều, do vậy việc thống kê và lược khảo các nghiên cứu trước về CBTTTN tác giả cũng đã cố gắng tìm và chọn các bài được đăng trên các tạp chí uy tín như nghiên cứu của Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012) đăng trên Tạp chí Khoa học và Ứng dụng, Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế hay
Võ Thị Thùy Trang & Nguyễn Công Phương (2015) đăng trên tạp chí Kinh doanh
và Khoa học Xã hội quốc tế…Và một số Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ và công bố
Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012): “CEO và tự nguyện công bố
thông tin của các doanh nghiệp niêm yết” Nghiên cứu này, vận dụng số liệu của
135 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn GDCK TP.HCM năm 2010, nhằm xác định
Trang 17mức độ CBTTTN và xác định các đặc điểm của CEO (Chief Executive Officer) có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của doanh nghiệp niêm yết trên sàn GDCK TP.HCM hay không Kết quả phân tích cho thấy, mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp khá thấp Các đặc điểm của CEO như tuổi, giới tính, bằng cấp, chuyên môn đều không có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN Từ kết quả phân tích trên, tác giả đưa ra một số kết luận về tình hình CBTTTN thực tế tại Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thị Thu Hảo (2014): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố
thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE” Mục đích
nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CBTTTN của các doanh nghiệp (DN) niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Tác giả
sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng khảo sát trên báo cáo thường niên của
106 DN niêm yết trên HOSE Mức độ CBTTTN được tác giả đo lường bằng chỉ số CBTT không trọng số Danh sách các mục thông tin tự nguyện được thiết lập ban đầu gồm 69 mục, sau đó tác giả đối chiếu với TT52/2012/TT-BTC và cuối cùng là khảo sát chuyên gia để đưa ra danh sách cuối cùng gồm 34 mục Các nhân tố tác giả
dự đoán là có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN được đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Quy mô công ty, loại công ty kiểm toán, loại hình sở hữu, quy mô HĐQT,
tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT, đòn bẩy tài chính, lợi nhuận Kết quả phân tích chỉ ra 3 nhân tố: (1) Quy mô cty; (2) Loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài; (3) Lợi nhuận có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN của các DN niêm yết trên thị trường HOSE Tác giả cũng đưa ra các hàm ý chính sách và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao mức độ CBTTTN của các DN trên thị trường HOSE
Phan Tôn Nữ Nguyên Hồng (2014): “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến mức độ công bố thông tin trong BCTC của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Mục tiêu của
nghiên cứu này đó là đánh giá mức độ CBTT trên BCTC của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp này Các biến độc lập được tác giả lựa chọn đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Quy mô HĐQT, tách biệt chức danh CT.HĐQT và GĐ điều
Trang 18hành, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, loại hình kinh doanh, công ty kiểm toán, tài sản thế chấp, hiệu quả sử dụng tài sản, thời gian hoạt động, tình trạng niêm yết Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu của tác giả gồm: mức độ CBTT chung, mức độ CBTT bắt buộc và mức độ CBTTTN Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độc CBTT chung của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam đạt khoảng 78,23% Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy mức độ CBTT tính theo chỉ mục CBTTTN thì mô hình không có ý nghĩa, trong khi đó 2 mô hình còn lại là đo lường chỉ số CBTT chung và chỉ số CBTT bắt buộc thì có ý nghĩa Các biến quy mô doanh nghiệp, chủ thể kiểm toán và khả năng thanh toán có ý nghĩa thống kê
Võ Thị Thùy Trang và Nguyễn Công Phương (2015): “Các công bố trên báo
cáo thường niên của các công ty niêm yết trên sàn GDCK TP.HCM” Mục tiêu
của bài nghiên cứu này là kiểm tra mức độ CBTT trên BCTN của các công ty niêm yết trên HOSE, bao gồm cả thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện, nhưng trọng tâm là thông tin tự nguyện Trong bài nghiên cứu này, danh mục các thông tin cần công bố được xây dựng dựa trên rất nhiều tài liệu: Sổ tay các nguyên tắc của quản trị công ty của OECD của các tổ chức tài chính quốc tế IFC,chương trình tư vấn tài chính ở châu Á – Thái Bình Dương (2010), Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006; Luật Chứng khoán 27/2013/QH11 ban hành ngày 18/12/2013, Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 04/05/2012 hướng dẫn về CBTT trên TTCK, văn bản số 50/2013/SGDHCM-NY ngày 01/11/2013…và các nghiên cứu có liên quan ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Kết quả là một danh sách gồm 92 các khoản mục thông tin cần công bố được thiết lập và dùng để đo lường mức độ CBTT của các công ty niêm yết trên HOSE Dữ liệu dùng cho nghiên cứu gồm 260 BCTN của 260 công ty niêm yết trên HOSE năm 2013 Kết quả cho thấy rằng mức
độ của việc tiết lộ thông tin tự nguyện trong BCTN của các công ty niêm yết là thấp, chỉ có 23,9% Các kết quả của nghiên cứu này cung cấp thông tin hữu ích cho các cơ quan Nhà nước xem xét, sửa đổi và xây dựng quy chế CBTT trong tương lai
Trang 19Nguyễn Thị Hồng Em (2015): “Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công
bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam – nghiên cứu ở ba nhóm ngành: Công nghiệp, xây dựng và tài chính” Mức độ CBTTTN
được tác giả đo lường bằng chỉ số CBTT, danh mục chỉ số CBTTTN được xây dựng
và phát triển dựa trên nghiên cứu của Meek (1995) và bổ sung bởi Chau và Gray, sau đó tác giả đối chiếu với TT 52/2012/TT-BTC để đưa ra một danh mục chỉ số CBTTTN chính thức Các biến độc lập được tác giả lựa chọn đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, tách biệt vai trò chủ tịch HĐQT và
GĐ, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, tỷ lệ sở hữu của NĐT nước ngoài, tỷ lệ sở hữu của nhà nước, tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn, lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản, tỷ
số nợ/ tổng tài sản Mẫu nghiên cứu gồm 210 công ty trong đó: ngành công nghiệp
114 công ty, ngành xây dựng 61 công ty, ngành tài chính 35 công ty Dữ liệu được tác giả thu thập từ BCTN năm 2014 của các công ty trong mẫu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm cả định tính và định lượng, nhưng chủ yếu là phương pháp định lượng Cụ thể, tác giả dùng phương pháp thống kê mô
tả biến phụ thuộc và các biến độc lập, tiếp đến là thực hiện một loạt các kiểm định: mức ý nghĩa của hệ số hồi quy, độ phù hợp của mô hình, hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai phần dư không đổi và cuối cùng là kiểm định mô hình hồi quy Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với nhóm ngành công nghiệp thì quy mô công ty và tỷ lệ
sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động cùng chiều đến mức độ CBTTTN Trong khi đó đối với nhóm ngành xây dựng thì chỉ có quy mô công ty tác động cùng chiều đến mức độ CBTTTN, còn nhóm ngành tài chính chỉ có tỉ số nợ phải trả/tổng tài sản tác động cùng chiều đến mức độ CBTTTN Các biến còn lại không
có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Qua tìm hiểu các nghiên cứu trước có liên quan tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có hai dòng nghiên cứu: Thứ nhất là các nghiên cứu về đánh giá mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp niêm yết, thứ hai là các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến mức độ CBTTTN Bên cạnh đó tác giả
Trang 20nhận thấy hầu hết các nghiên cứu trước đều đi tìm các yếu tố tác động đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán chính thức, tại Việt Nam thì đó là HOSE và HNX Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả chưa thấy có đề tài nào nghiên cứu các yếu tố tác động mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM trong thời gian năm 2015 Do đó, tác giả đã chọn nhóm các doanh nghiệp này trong mẫu nghiên cứu của mình để lấp đầy khe hổng nghiên cứu như đã nêu
Như vậy, qua việc lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan ngoài việc giúp tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu đồng thời xác định vấn đề cần nghiên cứu cho đề tài, thì công việc này còn giúp tác giả học hỏi và kế thừa được các phương pháp nghiên cứu của các tác giả đi trước cả trong và ngoài nước
Theo đó, để lấp đầy cho khe hổng nghiên cứu thì đề tài này đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:
Thứ nhất mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM như thế nào? Thứ hai những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN và tác động của từng nhân tố đến mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp trên sàn UPCoM?
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung của chương này tác giả muốn lược khảo một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến vấn đề nghiên cứu Thông qua đó, giúp tác giả nhìn nhận lại định hướng nghiên cứu của mình, tìm ra khe hổng nghiên cứu Ngoài
ra qua việc lược khảo các nghiên cứu trước còn giúp tác giả kế thừa các phương pháp nghiên cứu phù hợp, đúng đắn cho bài nghiên cứu của mình
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện
2.1.1 Khái niệm công bố thông tin và công bố thông tin tự nguyện
Thông tin mà tác giả muốn nói đến trong nghiên cứu này là những thông tin liên quan đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Bao gồm cả thông tin tài chính và phi tài chinh, cả thông tin định lượng và định tính, cả hiện tại và tương lai
Yu Tian & Jingliang Chen (2009), cho rằng công bố thông tin cũng chính là công khai thông tin Hệ thống công bố thông tin là hàng loạt các quy định hành vi
và tiêu chuẩn hoạt động cho các bên có liên quan trong thị trường chứng khoán Thông thường, trước khi phát hành cổ phiếu, các công ty công bố công khai cổ phiếu phát hành, liệt kê các thông báo, báo cáo tạm thời, báo cáo thường niên và báo cáo các vấn đề nghiêm trọng, chủ yếu là báo cáo tài chính Như vậy, làm sao để các công ty phát hành chứng khoán công bố thông tin một cách công khai, minh bạch và có trách nhiệm là vấn đề cốt lõi của thị trường chứng khoán hiện đại
Xét về tích chất pháp lý, công bố thông tin của công ty gồm hai loại lớn: bắt buộc và tự nguyện Công bố thông tin bắt buộc là việc công bố các thông tin để tuân thủ với các quy định của pháp luật có liên quan Công bố thông tin tự nguyện là việc công bố các thông tin nằm ngoài những thông tin theo quy định là bắt buộc, theo Nermeen F Shehata (2014)
Theo đó, thông tin tự nguyện là những thông tin không nằm trong khuôn khổ pháp lý nào Nó được công bố hay không là phụ thuộc vào nhà lãnh đạo công ty, vào điều kiện kinh tế, văn hóa của mỗi công ty, mỗi vùng miền, mỗi quốc gia khác nhau
2.1.2 Phương tiện công bố thông tin tự nguyện
Tại Việt Nam tính đến thời điểm hết năm 2015 thì các phương tiện công bố thông tin được quy định tại điều 5, TT 155/TT-BTC bao gồm:
- Trang thông tin điện tử (website) của tổ chức là đối tượng công bố
thông tin;
Trang 22- Hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán;
- Trang thông tin điện tử của Trung tâm lưu ký chứng khoán;
- Các phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định pháp luật (báo
in, báo điện tử…)
Thông tin mà các công ty đại chúng cần công bố trên các phương tiện nêu trên được trình bày chủ yếu trên các báo cáo: Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên, bản cáo bạch, báo cáo của Hội đồng cổ đông thường niên,…Theo quan điểm của bản thân tác giả thì báo cáo có tính đa dạng thông tin nhất, thấy được toàn cảnh của một công ty nhất là báo cáo thường niên Bởi ở đó không chỉ có thông tin tài chính mà có cả thông tin phi tài chính, cả thông tin hiện tại và tương lai, cả thông tin định lượng và định tính, cả thông tin về nhà lãnh đạo, người lao động, khách hàng, các bên liên quan…Theo đó, báo cáo mà để nhà quản lý công bố thông tin tự nguyện thuận lợi và phù hợp nhất là báo cáo thường niên Đối với nhiều người sử dụng ở các nước phát triển và đang phát triển, các báo cáo thường niên được coi là quan trọng nhất, thường xuyên nhất và nguồn gốc của thông tin xác thực nhất trong tất cả các nguồn khác (Epstein & Pava, 1993; Lang & Lundholm, 1993; Cook & Sutton, 1995; ;Abu-Nassar & Rutherford, 1996; Bartlett & Chandler, 1997; Botosan, 1997; Naser et al., 2003; Akhtaruddin, 2005; Alattar & Al-Khater, 2007; Catasús, 2008; Châu & Gray, 2010), đã được trích dẫn bởi Yu Tian & Jingliang Chen (2009)
2.1.3 Nội dung thông tin tự nguyện đƣợc công bố trên TTCK
Như tác giả đã trình bày ở trên, thông tin tự nguyện công bố trên TTCK là tất
cả những thông tin nằm ngoài quy định bắt buộc phải công bố trên TTCK Ở mỗi quốc gia, văn bản quy định thông tin bắt buộc phải công bố không giống nhau, lượng thông tin bắt buộc công bố cũng khác nhau, theo đó lượng thông tin tự nguyện cần công bố cũng khác nhau
Tại Việt Nam tính đến hết năm 2015, quy định về công bố thông tin bắt buộc trên TTCK được thể hiện chi tiết, cụ thể và có hệ thống là TT52/2012/TT-BTC
Trang 23thông tư hướng dẫn về CBTT trên TTCK của CTĐC, mới đây nhất là TT155/2015/TT-BTC chính thức có hiệu lực 01/01/2016 Trong phạm vi nghiên cứu này, nội dung thông tin tự nguyện mà tác giả nhắm tới là tất cả thông tin nằm ngoài quy định bắt buộc phải công bố trong báo cáo thường niên của các doanh nghiệp chiếu theo quy định hiện hành là TT52/2012/TT-BTC
Trong thực tế đã có nhiều nghiên cứu thực hiện thiết lập nội dụng các mục thông tin tự nguyện cần công bố tại Việt Nam Cụ thể như:
Tạ Quang Bình (2012) với nghiên cứu: "Voluntary Disclosure Information in
the Annual Reports of Non Financial Listed Companies: The Case of Vietnam"
Trong nghiên cứu này, tác giả đã thiết lập một danh sách các mục thông tin tự nguyện cần công bố dựa trên các nghiên cứu trước, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Ấn Độ, Hàn Châu Phi, Nigeria, Mexico, Kuwait, Malaysia, Kenya và Trung Quốc (Singhvi, 1968; Firer và Meth, 1986; Wallace, 1988; Naser et al., 2002; Chow và Boren, 1987; Hassain et al., 1994; Yusoff và Hanefaf năm, 1995; Barako
et al., 2006 và Yuen et al., 2009) Sau đó, tác giả đối chiếu lại với BTC thông tư hướng dẫn về CBTT trên TTCK tại Việt Nam để loại ra các mục thông tin là bắt buộc phải công bố Tiếp theo danh sách này được gửi đến cho những người có chuyên môn về thực hành kế toán hoặc là thành viên làm việc tại các đơn vị có liên quan đến báo cáo tài chính để chọn ra các mục thông tin tự nguyện cần thiết công bố Một danh sách cuối cùng các mục thông tin tự nguyện được tác giả thiết lập là 72 mục và nhóm thành 7 nhóm lớn
TT09/2010/TT-Với cách thiết lập nội dung các mục thông tin tự nguyện cần công bố tương
tự như trên, Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) cũng đã xây dựng một danh sách gồm 34 mục thông tin tự nguyện Và còn nhiều tác giả khác cũng đã thiết lập danh sách nội dung thông tin tự nguyện cần công bố trong BCTN trên TTCK ở Việt Nam như Phan Quốc Quỳnh Như (2015), Võ Thị Thùy Trang và Nguyễn Công Phương (2015)…
Trong nghiên cứu của mình tác giả kế thừa danh sách nội dung các mục thông tin tự nguyện cần công bố của Tạ Quang Bình làm cơ sở ban đầu để thiết lập
Trang 24danh sách các mục thông tin tự nguyện cần công bố chính thức, danh sách này được tác giả dịch ra tiếng Việt và đính kèm ở phụ lục 05
2.1.4 Đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện
Theo Hassan (2010), để đo lường thông tin được công bố các nhà nghiên cứu thường sử dụng 2 phương pháp sau:
Phương pháp 1: Biến công bố thông tin được đo lường không dựa vào các phương tiện công bố thông tin ban đầu:
- Khảo sát công bố thông tin
- Xem xét sự tồn tại của ADR (American Depositary Receipts)
- Dự đoán của các nhà phân tích (AAF) và số lượng các nhà phân tích theo dõi công ty
Phương pháp 2: Biến công bố thông tin được đo lường dựa vào các phương tiện công bố thông tin ban đầu:
- Phân tích nội dung
- Chỉ số công bố thông tin
- Dự đoán quản trị
- Công bố thông tin tốt hay xấu
- Tần suất công bố thông tin
Việc sử dụng phương pháp nào thì còn tùy thuộc vào mục đích của nhà nghiên cứu Theo quan điểm của tác giả, nếu xem xét việc CBTT nhắm đến khía cạnh mặt lượng, tức thông tin được công bố đầy đủ hay không, nhiều hay ít mà không đi vào đánh giá chất lượng của thông tin thì phương pháp đo lường chỉ số công bố thông tin là phù hợp
Chỉ số công bố thông tin là một danh sách các khoản mục được lựa chọn, những thông tin có thể được công bố trên báo cáo của công ty (Marston và Shrives, 1991) Danh mục thông tin công bố có thể bao gồm cả thông tin bắt buộc và / hoặc các mục thông tin tự nguyện Nó có thể bao gồm thông tin báo cáo trong một hoặc nhiều phương tiện CBTT của công ty như: báo cáo thường niên, báo cáo tạm thời, quan hệ nhà đầu tư Nó cũng có thể bao gồm các thông tin báo cáo của chính công
Trang 25ty và / hoặc những người khác chẳng hạn như các nhà phân tích tài chính Do đó, chỉ số công bố thông tin là một công cụ nghiên cứu để đo lường mức độ thông tin báo cáo trong một phương tiện công bố cụ thể của một tổ chức cụ thể theo một danh sách các mục thông tin được lựa chọn, (Hassan, 2010)
Trong bản thân phương pháp chỉ số CBTT lại có 2 cách sử dụng khác nhau
là cho điểm trọng số và không cho điểm trọng số (Cooke, 1989) Những nhà nghiên cứu ủng hộ phương pháp cho điểm trọng số vì họ cho rằng mỗi mục thông tin có tầm quan trọng khác nhau Việc cho điểm trọng số là tùy thuộc vào bản thân người nghiên cứu (Botosan, 1997), hay nhóm người dùng liên quan thông qua khảo sát (Hassan, 2010) Tuy nhiên, việc cho điểm trọng số từng khoản mục thông tin lại mang tính chủ quan khi phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, nhận thức và quan điểm của người nghiên cứu Những người ủng hộ cho phương pháp không cho điểm trọng số giả định là các mục thông tin có tầm quan trọng như nhau đối với người dùng thông tin Phương pháp này được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như: Hossain & cộng sự (2009), Sehar, Bilal & Tufail (2013), Hasan & Hosain (2015),
…Dựa trên danh sách các mục thông tin, việc đo lường công bố thông tin được thực hiện bằng việc cho điểm “1” đối với thông tin mà công ty có công bố và “0” với thông tin không được công bố, điểm số CBTT cuối cùng của một công ty được cộng dồn (Cooke, 1989)
2.2 Những vấn đề chung về báo cáo thường niên
2.2.1 Khái niệm và mục đích của BCTN
Báo cáo thường niên là tài liệu quan trọng được doanh nghiệp lập hàng năm
để truyền tải thông tin về quản trị, hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính cũng như các khía cạnh khác của doanh nghiệp trong một năm qua và định hướng, chiến lược trong thời gian tới
Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp niêm yết, đầu tư rất nghiêm túc cho Báo cáo thường niên từ khâu nội dung, thiết kế cho đến in ấn, bởi vì tài liệu quan trọng này là công cụ giúp tiếp cận nhiều bên có lợi ích liên quan của doanh
Trang 26nghiệp Trong đó, độc giả đáng chú ý gồm có: cổ đông hiện tại và tiềm năng, khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên và cả cộng đồng doanh nghiệp
Theo đó mục đích của BCTN là nhằm giới thiệu cho các nhà đầu tư một cách đầy đủ các hoạt động trọng yếu và tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và nhằm mục đích chính là dự đoán giá cổ phiếu và các yếu tố liên quan như lãi trên mỗi cổ phiếu (EPS) của doanh nghiệp trong tương lai Bởi vậy việc trình bày báo cáo thường niên cũng như các số liệu tài chính trong quá khứ phải làm sao giúp các nhà đầu tư dễ dự đoán tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là EPS tương lai
Các nhà đầu tư vốn chủ sở hữu kỳ vọng vào cả cổ tức và sự tăng trưởng trong giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ Các nhà đầu tư có rủi ro là có thể không nhận được những khoản tiền này Do vậy các nhà đầu tư sử dụng các báo cáo thường niên để: (1) Dự đoán các khoản lãi kỳ vọng của họ và (2) Đánh giá các rủi ro gắn liền với các khoản tiền lãi này
2.2.2 Thời điểm lập và công bố BCTN
Theo Thông tư 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ Tài chính, công ty đại chúng phải lập Báo cáo thường niên và công bố thông tin về Báo cáo thường niên chậm nhất là hai mươi (20) ngày sau khi công bố Báo cáo tài chính năm được kiểm toán
Việc công bố thông tin phải được thực hiện trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty đại chúng, phương tiện công bố thông tin của Uỷ ban Chứng khoán Nhà Nước, SGDCK (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch) và lưu trữ bằng văn bản và dữ liệu điện tử ít nhất mười (10) năm tiếp theo tại trụ sở chính của công ty để nhà đầu tư tham khảo Thông tin tài chính trong Báo cáo thường niên phải phù hợp với Báo cáo tài chính năm được kiểm toán
2.2.3 Nội dung cơ bản của BCTN
Mỗi quốc gia quy định về nội dung trên BCTN không giống nhau, tại Việt
Nam theo Thông tư 52/2012 của Bộ Tài chính, Báo cáo thường niên phải bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Trang 27Thông tin chung về doanh nghiệp: Thông tin khái quát, Quá trình hình thành
và phát triển, Ngành nghề và địa bàn kinh doanh, Thông tin về mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản lý, Định hướng phát triển, Các rủi ro
Tình hình hoạt động trong năm: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, Tổ chức và nhân sự, Tình hình đầu tư, tình hình thực hiện các dự án, Tình hình tài chính, Cơ cấu cổ đông, thay đổi vốn đầu tư của chủ sở hữu
Báo cáo và đánh giá của Ban Giám đốc (Ban Giám đốc báo cáo và đánh giá
về tình hình mọi mặt của công ty): Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Tình hình tài chính, Những cải tiến về cơ cấu tổ chức, chính sách, quản lý, Kế hoạch phát triển trong tương lai, Giải trình của Ban Giám đốc đối với ý kiến kiểm toán (nếu có)
Đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Công ty: Đánh giá của Hội đồng quản trị về các mặt hoạt động của Công ty; đánh giá của Hội đồng quản trị về hoạt động của Ban Giám đốc công ty; các kế hoạch, định hướng của Hội đồng quản trị
Quản trị công ty: Hội đồng quản trị và các hoạt động trong năm; Ban Kiểm soát và các hoạt động trong năm; Các giao dịch, thù lao và các khoản lợi ích của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát
Báo cáo tài chính: kiến kiểm toán và Báo cáo tài chính được kiểm toán TT 155/2015/TT-BTC về CBTT chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2016, ngoài những quy định về nội dung trong BCTN như đã nêu trên, thông tư này có một số thay đổi như sau: BCTN được lập bằng song ngữ (Anh-Việt) để đáp ứng nhu cầu hộp nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, các DN cần phải công CBTT liên quan đến phát triển bền vững (Báo cáo liên quan đến môi trường và xã hội của công ty) Một sự thay đổi nữa là CBTT về Quản trị công ty sẽ không bắt buộc đối với các công ty không phải
là tổ chức niêm yết
Trang 282.3 Các lý thuyết liên quan về công bố thông tin
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Cost)
Tóm tắt nội dung lý thuyết
Lý thuyết này đã được xây dựng đầu tiên bởi Ross (1973), sau này được Jensen & Meckling (1976) phát triển thêm Nội dung của lý thuyết này đề cập đến mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (Principal) và bên được ủy nhiệm (agent) thông qua hợp đồng Trong đó bên được ủy nhiệm sẽ thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm bao gồm cả việc ủy thác một mức độ thẩm quyền ra quyết định cho bên được ủy nhiệm
Trong công ty cổ phần, bên ủy nhiệm chính là chủ sở hữu hay là các cổ đông, bên được ủy nhiệm là nhà quản lý công ty Các cổ đông thuê các nhà quản lý công ty để họ thay mặt các cổ đông thực hiện việc đề ra các quyết định kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông Tuy nhiên trong quá trình điều hành, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mang lại lợi ích cho bản thân hơn là lợi ích cho các cổ đông Bởi vì các cổ đông không trực tiếp quản lý công ty nên ít có cơ hội tiếp cận thông tin trực tiếp từ công ty để ra quyết định Trong khi đó, nhà quản
lý là người trực tiếp điều hành công ty nên chủ động trong việc nắm bắt các thông tin của doanh nghiệp Do đó, nhà quản lý có thể che giấu những thông tin gây bất lợi cho nhà đầu tư Những tổn thất gây ra trong trường hợp như thế gọi là chi phí ủy nhiệm
Chi phí ủy nhiệm sẽ được giảm thiểu bằng cách bên ủy nhiệm sẽ chủ động khuyến khích bằng vật chất và phi vật chất cho người được ủy nhiệm, nhằm tạo động lực cho họ hành động vì mục tiêu và lợi ích chung của tổ chức, công bố nhiều thông tin hơn nữa về tình hình hoạt động của đơn vị Bên cạnh đó, bên ủy nhiệm có thể thiết kế hệ thống kiểm tra, giám sát trong nội bộ đơn vị nghiêm ngặt và chặt chẽ hơn như tăng số lượng thành viên HĐQT, giảm sự phân tán quyền sở hữu, tách biệt CT.HĐQT và GĐ điều hành, tăng số lượng thành viên HĐQT độc lập, thành lập ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ khi đó nhà quản lý sẽ phải có trách nhiệm cao trong việc cung cấp thông tin liên quan về tình hình hoạt động của đơn vị
Trang 29Bên cạnh mối quan hệ giữa các cổ đông và nhà quản lý thì mối quan hệ giữa nhà quản lý và chủ nợ cũng thể hiện mối quan hệ ủy nhiệm Chủ nợ là bên ủy nhiệm còn nhà quản lý là bên được ủy nhiệm Chủ nợ trao quyền sử dụng vốn cho công ty bằng việc cho vay, sau một thời gian sẽ thu hồi vốn vay cùng một khoản lãi Trước khi ra quyết định có cho vay hay không, cho vay với mức lãi suất nào, thời gian thu hồi vốn vay là bao lâu…Thì chủ nợ luôn mong muốn phía công ty không chỉ cung cấp thông tin về tài chính, kinh doanh theo quy định mà cung cấp càng nhiều càng tốt Như vậy đủ mới có đủ cơ sở thuyết phục họ yên tâm trong quyết định cho vay của mình Theo đó, những khoản cho vay càng lớn thì đòi hỏi về thủ tục hồ sơ, thu thập và thẩm định thông tin của bên cho vay càng đòi hỏi cao, chặt chẽ
Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu
Với việc phân tích nội dung lý thuyết ủy nhiệm, tác giả đưa ra những nhận định liên quan đến bài nghiên cứu của mình như sau: Sự tách biệt chức danh CT.HĐQT và GĐ điều hành, tính độc lập của HĐQT, tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông tổ chức, tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông lớn và đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN
2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information)
Tóm tắt nội dung lý thuyết
George Akerlof là người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng vào những năm 1970 Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có
ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin thiếu độ tin cậy Điều này dẫn đến bên có ít thông tin hơn sẽ đưa ra những quyết định thiếu chính xác, đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện giao dịch
Trên TTCK, hiện tượng bất cân xứng thông tin xảy ra khi các công ty công
bố thông tin tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty thiếu trung thực, hợp lý hoặc cố tình che dấu thông tin…NĐT là người bị động trong việc thu thập thông tin, việc xác minh độ tin cậy chủ yếu dựa vào báo cáo kiểm toán của công ty kiểm toán Vì vậy mức độ CBTT là yếu tố hàng đầu giúp giảm được bất cân xứng
Trang 30thông tin, từ đó nhà đầu tư có thể ra quyết định sáng suốt và hiệu quả, làm tăng niềm tin của NĐT đối với TTCK, giúp TTCK ngày càng phát triển lành mạnh
Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu
Lý thuyết này một lần nữa cho người đọc thấy được tầm quan trọng của CBTTTN rằng mức độ CBTTTN càng cao thì bất cân xứng thông tin càng giảm Khi đó giúp nhà đầu tư yên tâm đầu tư hơn, ngược lại doanh nghiệp cũng thu hút được nhiều vốn hơn Theo đó, các doanh nghiệp trên TTCK cần cung cấp càng nhiều thông tin tự nguyện cho người dùng càng tốt đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài vì tình trạng bất cân xứng thông tin cao hơn do khoảng cách địa lý, khác biệt
về ngôn ngữ, văn hóa, pháp lý…
2.3.3 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)
Tóm tắt nội dung lý thuyết
Lý thuyết tín hiệu dựa trên cơ sở đóng góp của 2 nghiên cứu là Arrow (1972)
và Schipper (1981) Lý thuyết tín hiệu mô tả hành vi giữa hai bên, một bên là người gửi tín hiệu (thông tin) và một bên là người nhận tín hiệu (thông tin) Lý thuyết này
về cơ bản giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin giữa bên gửi và bên nhận
Trong công ty cổ phần, bên phát tín hiệu (gửi thông tin) chính là phía công
ty, bên nhận tín hiệu (thông tin) chính là nhà đầu tư, chủ nợ và các bên có nhu cầu
sử dụng thông tin khác Phía cung cấp thông tin luôn cố gắng đưa ra thông tin sao cho có lợi cho mình nhất, ngược lại bên nhận thông tin thì thật khó để biết thông tin nhận được có đầy đủ, trung thực, hợp lý hay không Để thuyết phục cho nhà đầu tư rằng thông tin trên các báo cáo mà công ty công bố là trung thực, hợp lý và hữu ích, công ty cần phải phát những tín hiệu mạnh như BCTC được kiểm toán bởi công ty kiểm toán lớn và có tiếng, có thành lập BKS, kiểm toán nội bộ…Thông thường những công ty có quy mô lớn, lợi nhuận cao muốn chứng tỏ vị thế của mình, tạo sự khác biệt với các công ty khác cũng như cần thu hút nhiều vốn sẽ cố gắng cung cấp thông tin nhiều hơn
Trang 31Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu
Dựa trên phân tích nội dung lý thuyết tín hiệu tác giả đưa ra những nhận định liên quan đến nghiên cứu của mình: Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, loại công
ty kiểm toán, khả năng sinh lợi và khả năng thanh toán có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN tại doanh nghiệp
2.3.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory)
Tóm tắt nội dung lý thuyết
Lý thuyết chi phí sở hữu được Robert E Verrecchia (1983) viết trong tác phẩm “Discretionary Disclosure” Nội dung của lý thuyết xem xét lợi ích và chi phí của việc công bố thông tin hay không công bố thông tin Chi phí công bố thông tin không chỉ là chi phí của việc chuẩn bị và công bố các thông tin kế toán, mà còn bao gồm cả thiệt hại mà công ty gặp phải từ việc công bố thông tin Điển hình phải kể đến là thông tin bị đối thủ cạnh tranh lợi dụng, khái thác…gây bất lợi cho công ty Những bất lợi trong cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến quyết định cung cấp thông tin của công ty Cũng vì thế nên thường các công ty nhỏ, lợi nhuận thấp rất nhạy cảm trong việc cung cấp thông tin, vì nếu cung cấp thông tin quá nhiều sẽ gây bất lợi và làm tổn hại đến lợi thế cạnh tranh của các công ty này trên thị trường
Vận dụng lý thuyết vào nội dung nghiên cứu
Từ phân tích nội dung lý thuyết trên, tác giả đưa ra nhận định liên quan đến bài nghiên cứu như sau: Quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN
2.4 Các yếu tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Theo Li Huiyun & Zhao Peng (2009), các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của một doanh nghiệp được chia làm 2 nhóm lớn: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài Trong đó, các yếu tố bên trong như: điều kiện tài chính công ty (Đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời…), cơ cấu quản trị công ty ( cơ cấu sở hữu, hội đồng quản trị độc lập, tách biệt chủ tịch HĐQT và GĐ điều hành, sức mạnh ban kiểm soát,…); các yếu tố bên
Trang 32ngoài: Sự kiểm soát của cơ quan quản lý, ý kiến của kiểm toán độc lập, sự phát triển của kinh tế khu vực, cạnh tranh công nghiệp…
Việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN đã được không ít các nhà nghiên cứu thực hiện và công bố Trên cơ sở lý thuyết nền và kế thừa các nghiên cứu trước, cụ thể là nghiên cứu của Barako (2007) thực hiện tại Kenya, tác giả đưa ra bảng danh sách các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTTTN thể hiện trong bảng 2.1 Tác giả kế thừa các nhân tố trong nghiên cứu này bởi vì Kenya là một đất nước có nền kinh tế đang phát triển tương tự như ở Việt Nam
3 Loại công ty kiểm toán
4 Khả năng sinh lời
5 Khả năng thanh toán hiện hành
10 Quyền sở hữu tập trung
11 Quyền sở hữu nước ngoài
12 Quyển sở hữu tổ chức
Trang 33- Trình bày nội dung các lý thuyết nền có liên quan đến CBTTTN.
- Vận dụng lý thuyết nền và kế thừa các nghiên cứu trước để đề xuất bảng các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN
Trang 34CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung nghiên cứu
Hình 3.1: Khung nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả xây dựng)
Tổng quan các NC trước
Khe hổng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
định lượng
Phương pháp nghiên cứu định tính
Mô hình nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Kết luận và kiến nghị
Kết quả nghiên cứu và bàn luận Mục tiêu nghiên cứu
Trang 35Giải thích khung nghiên cứu:
Hình 3.1 chỉ thể hiện một cách tóm tắt quy trình nghiên cứu của luận văn, do vậy tác giá xin làm rõ hơn về quy trình như sau:
- Xuất phát từ lược khảo các nghiên cứu trước về CBTTTN tác giả đã tìm ra khe hổng nghiên cứu, trên cơ sở đó tác giả đặt ra mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiên cụ thể mà luận văn cần đạt được
- Bước tiếp theo tác giả đọc phân tích các lý thuyết có liên quan về CBTTTN, từ đó vận dụng và kế thừa các lý thuyết này và kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách khảo sát ý kiến của các chuyên gia để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN đưa vào mô hình nghiên cứu chính thức.Trên cơ sở đó tác giả thiết lập các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu
- Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách thu thập
dữ liệu các biến độc lập và biến phụ trên BCTN của các DN năm 2015, sau đó tiến hành thống kê mô tả để đánh giá mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp Đồng thời tiến hành phân tích mô hình hồi quy tuyến tính bội để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lên mức độ CBTTTN của các DN
- Cuối cùng, dựa trên kết quả nghiên cứu tác giả đưa ra các kiến nghị để nâng cao mức độ CBTTTN của các DN
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phương pháp nghiên cứu định tính trước sau đó đến phương pháp nghiên cứu định lượng
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
- Sự cần thiết của nghiên cứu định tính: Như tác giả đã trình bày trong
chương 2, từ những nghiên cứu trước và lý thuyết nền tác giả đã nhận diện được mô hình nghiên cứu của Barako (2007) là phù hợp để nghiên cứu cho các DN trên sàn UPCoM tại Việt Nam Tuy nhiên việc nhận diện của tác giả là có tính cảm tính, vì vậy cần có một phương pháp nghiên cứu định tính để kiểm định lại các nhân tố này
Trang 36- Cách thức nghiên cứu: Tác giả thiết kế bảng khảo sát và gửi đến các chuyên gia qua email, các chuyên gia cho ý kiến bằng cách đánh trực tiếp trên bảng khảo sát Bảng hỏi khảo sát được tác giả thiết kế và đính kèm ở phụ lục 02
- Mẫu nghiên cứu: Gồm 9 chuyên gia thuộc các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, tài chính, ngân hàng Danh sách các chuyên gia được tác giả đính kèm phụ lục 03
- Dữ liệu thu thập: Số bảng khảo sát tác giả phát ra 9 bảng và thu lại đủ 9
bảng làm dữ liệu ban đầu
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Do việc sử dụng thang đo để đo lường biến phụ thuộc và các biến độc lập được tác giả kế thừa từ các nghiên cứu trước nên tác giả bỏ qua giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và đi vào nghiên cứu chính thức Trong nghiên cứu chính thức tác giả chia làm 2 giai đoạn là thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu:
Giao đoạn 1: Thu thập dữ liệu được chia làm 2 bước
Bước 1: Dựa trên thang đo về các biến độc lập kế thừa từ các nghiên cứu trước đã kiểm chứng, tác giả thu thập dữ liệu về các biến độc lập của các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào không đủ dữ liệu cho việc đo lường biến độc lập tác
giả loại ra khỏi mẫu tức là không thực hiện bước 2 đối với những doanh nghiệp này
Bước 2: Dựa vào danh mục chỉ số CBTTTN đã thiết lập tác giả đối chiếu với BCTN để tính ra tổng số thông tin tự nguyện được công bố của các DN đã được chọn vào mẫu nghiên cứu sau bước 1 và tính ra mức độ CBTTTN của từng DN tương ứng
Giai đoạn 2: Xử lý dữ liệu
Sau khi có đủ bảng dữ liệu về mức độ CBTTTN và dữ liệu về các biến độc lập, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá mức độ CBTTTN của các doanh nghiệp Phương pháp này giúp tác giả giải quyết câu hỏi số 1 của luận văn
Tiếp theo tác giả tiến hành kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để tìm
ra các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTN và sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến mức độ CBTTTN Việc này giúp tác giả giải quyết câu hỏi số 2 của luận văn
Trang 373.3 Thiết kế nghiên cứu
3.3.1 Mô hình lý thuyết nghiên cứu
Từ phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả xác định được các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ CBTTTN thể hiện trong mô hình sau:
Hình 3.2: Mô hình lý thuyết nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
3.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở xác định được các nhân tố đưa vào mô hình nghiên cứu, tác giả tiến hành xây dựng các giả thuyết nghiên cứu tương ứng với từng nhân tố trong mô hình nghiên cứu như sau:
3.3.2.1 Quy mô doanh nghiệp
Dựa trên cơ sở “Lý thuyết tín hiệu” có thể suy luận rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn muốn khẳng định vị thế của mình, hơn nữa nhu cầu cần vốn cũng lớn nên cố gắng cung cấp thông tin tài chính nhiều hơn, tốt hơn Ngoài ra, dựa vào “Lý thuyết chi phí sở hữu” cũng đưa chúng ta đến cùng suy luận là các doanh nghiệp có
Mức độ công bố thông tin tự nguyện
Khả năng thanh toán hiện hành
Có sự tách biệt GĐĐH &
CT HĐQT
Đòn bẩy tài chính
Loại cty Kiểm toán
Quyền sở hữu tập trung
Tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành
Khả năng sinh lời
Trang 38quy mô lớn thường cung cấp nhiều thông tin tự nguyện hơn doanh nghiệp có quy
mô nhỏ do họ có lợi thế cạnh tranh hơn, có nguồn lực tài chính cao hơn
Trong thực tế, có nhiều nghiên cứu đã xác định nhân tố quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTTTN Raffournier (1995) nghiên cứu các công ty tại Thụy Sĩ cho rằng quy mô doanh nghiệp tác động tích cực đến CBTTTN; Lopes & Rodrigues (2005) nghiên cứu các công ty ở Bồ Đào Nha thì cho thấy quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến mức độ CBTT; Barako (2007), Juhmani (2013) cũng chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp là rất quan trọng đối với mức độ CBTTTN
Từ những phân tích trên tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu liên quan đến biến quy mô doanh nghiệp như sau:
H1: Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì mức độ CBTTTN càng cao
3.3.2.2 Đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính là thuật ngữ dùng để chỉ sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu trong việc điều hành chính sách tài chính của công ty Đòn bẩy tài chính sẽ cao nếu doanh nghiệp có nợ phải trả cao hơn vốn chủ sở hữu và ngược lại Phân tích
lý thuyết ủy nhiệm cho ta thấy rằng, một doanh nghiệp muốn vay vốn nhiều thường phải cố gắng CBTT nhiều hơn và chất lượng hơn để thuyết phục được chủ nợ Theo
đó thường thì DN có đòn bẩy tài chính càng lớn thì mức độ CBTTTN càng cao
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã tìm thấy đòn bẩy tài chính có tác động cùng chiều lên mức độ CBTT nói chung và CBTTTN nói riêng Chakroun & Matoussi (2012) nghiên cứu các DN niêm yết ở Tunisia cho thấy đòn bẩy tài chính tác động tích cực đến mức độ CBTT Lan, Wang & Zhang (2013) nghiên cứu về các công ty niêm yết tại Trung Quốc cho thấy đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực tới mức độ CBTTTN Các tác giả khác cũng tìm thấy kết quả tương tự như Kolsi (2012), Borghei-Ghomi & Leung (2013)
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu tiếp theo đó là:
H2: Doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng cao thì có mức độ CBTTTN càng cao
Trang 393.3.2.3 Loại công ty kiểm toán
Theo lý thuyết tín hiệu thì một doanh nghiệp muốn thuyết phục nhà đầu tư,
tổ chức tín dụng để có thể huy động được nhiều vốn hoặc để nâng cao năng lực cạnh tranh thì một trong những cách họ lựa chọn là phát ra tín hiệu rằng BCTC của
họ được kiểm toán bởi doanh nghiệp lớn và có uy tín Một doanh nghiệp nếu được kiểm toán BCTC bởi công ty kiểm toán lớn và có uy tín thì người sử dụng thông tin
sẽ có độ tin cậy cao hơn về thông tin BCTC mà doanh nghiệp cung cấp
Trong thực tế có nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu mối quan hệ giữa
“Loại công ty kiểm toán” và mức độ CBTTTN Các nghiên cứu cho ra kết quả trái chiều nhau Dhouibi & Mamoghli (2013), Prado-Lorenzo &cộng sự (2009) không tìm thấy mối quan hệ giữa chúng Trong khi đó Schiehll, Terra & Victor (2013), Kolsi (2012), Barako (2007) thấy chúng có mối quan hệ thuận chiều; Lan, Wang & Zhang (2013) lại thấy chúng có mối quan hệ ngược chiều
Trong bài nghiên cứu của mình tác giả dự đoán “ Loại công ty kiểm toán” có tác động cùng chiều với mức độ CBTTTN Vì vậy giả thuyết đặt ra là:
H3: Doanh nghiệp được kiểm toán BCTC bởi công ty kiểm toán Big Four có mức
độ CBTTTN cao hơn các doanh nghiệp khác
3.3.2.4 Khả năng sinh lời
Theo lý thuyết tín hiệu, các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường có
xu hướng công bố nhiều thông tin hơn, thông tin công bố hữu ích hơn với người sử dụng nhằm nâng cao vị thế của họ trên thị trường Mặt khác, lý thuyết chi phí ủy nhiệm cũng cho chúng ta cùng suy luận rằng doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thì nhà quản lý thường minh bạch hóa thông tin tài chính hơn nhằm thể hiện năng lực của mình với HĐQT
Tuy nhiên trên thực tế thì nghiên cứu về mối quan hệ giữa khả năng sinh lời
và mức độ CBTTTN thì có ý kiến trái chiều nhau Sehar, Bilal & Tufail (2013), Gamerschlag, Möller & Verbeeten (2011), tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa khả năng sinh lời và mức độ CBTTTN Trong khi El-Gazzar, Fornaro & Jacob (2006),
Trang 40Hossain & Hammami (2009) thì không tìm thấy mối quan hệ giữa khả năng sinh lời
và mức độ CBTTTN
Trong nghiên cứu của mình tác giả dự đoán khả năng sinh lời có quan hệ thuận chiều với mức độ CBTTTN Nên giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là:
H4: Doanh nghiệp có khả năng sinh lời càng cao thì mức độ CBTTTN càng cao
3.3.2.5 Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành còn được sử dụng bằng nhiều thuật ngữ khác như khả năng thanh toán ngắn hạn hay tính thanh khoản của công ty Khả năng thanh toán hiện hành là năng lực tài chính mà doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ trong ngắn hạn Theo lý thuyết tín hiệu, một doanh nghiệp
có khả năng thanh toán hiện hành tốt thường cố gắng công bố nhiều thông tin hơn
để chứng minh sự ổn định và vững chắc về tài chính, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và
thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn
Camfferman & Cooke (2002) nghiên cứu về các doanh nghiệp niêm yết tại Netherlands cho thấy tính thanh khoản có mối quan hệ tích cực với mức độ CBTT Tương tự, Barako (2007) cũng cho thấy tính thanh khoản có ý nghĩa đối với mức độ CBTTTN đối với loại thông tin hoạch định tương lai Tuy nhiên, Weetmen (2004) tìm thấy không có mối quan hệ giữa tính thanh khoản và mức độ CBTTTN
Trong nghiên cứu của mình tác giả dự đoán có mối quan hệ tích cực giữa khả năng thanh toán hiện hành với mức độ CBTTTN Vì thế giả thuyết tác giả đặt ra là:
H5: Doanh nghiệp có khả năng thanh toán hiện hành càng cao thì mức độ CBTTTN càng cao
3.3.2.6 Tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành
Từ phân tích chi phí ủy nhiệm cho thấy rằng, để các công ty muốn giảm bớt
chi phí ủy nhiệm thì chủ sở hữu cần có những cơ chế giám sát, kiểm soát chặt chẽ
đối với nhà quản lý Một trong những điều kiện cần để việc giám sát, kiểm soát được hiệu quả là yêu cầu về tỷ lệ HĐQT không điều hành càng cao càng tốt Các thành viên này có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao vai trò giám sát của HĐQT (Fama & Jensen, 1983) và giảm thiểu cơ hội che giấu thông tin của những