Formatted: Centered, Position:Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm Formatted: Font: Times New Roma 12 pt Formatted: Font: Ti
Trang 1sông srêpôk trong mùa lũ
Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 60.44.90
luận văn thạc sĩ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Lê Long
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ những nội dung trong luận văn này là do tôi nghiên cứu và thực hiện
Học viên thực hiện luận văn
Trang 3
Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 6
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 6
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 8
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 11
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 11
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
1.1.2.1 Quy trình vận hành hồ chứa 16
1.1.2.2 Hệ thống công nghệ hỗ trợ vận hành 17
1.2 TỔNG QUAN LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 18
1.2.1 Vị trí địa lý 18
1.2.2 Điều kiện địa hình 19
1.2.3 Điều kiện địa chất 21
1.2.4 Điều kiện thổ nhưỡng, thảm phủ 23
1.2.4.1 Điều kiện thổ nhưỡng 23
1.2.4.2 Điều kiện thảm phủ 24
1.2.5 Đặc điểm khí tượng, khí hậu 25
1.2.5.1 Bức xạ mặt trời 25
1.2.5.2 Chế độ nhiệt 25
1.2.5.3 Chế độ ẩm 25
Style Definition: TOC 6: Font: 12 p
Vietnamese, Do not check spelling or grammar, Character scale: 95%, Indent: Left: 0 cm, Space Before: 6
pt, Tab stops: 15,76 cm, Right,Lead
…
Style Definition: TOC 5: Do not che
spelling or grammar, Justified, Inden Left: 0 cm, Tab stops: 15,76 cm, Right,Leader: …
Style Definition: TOC 2: Font: Time
New Roman Bold, 12 pt, Bold, Italian (Italy), Do not check spelling or grammar, Character scale: 93%, Justified, Indent: Left: 0 cm, Tab stops: 15,76 cm, Right,Leader: …
Style Definition: TOC 1: Font: Time
New Roman Bold, 13 pt, Italian (Italy
Do not check spelling or grammar, Character scale: 90%, Justified, Spac Before: 6 pt, Tab stops: 15,76 cm, Right,Leader: …
Formatted: None, Space Before: 6 Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Trang 4Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
1.2.5.4 Chế độ mưa 26
1.2.5.5 Chế độ bốc hơi 28
1.2.5.6 Chế độ gió, bão 29
1.2.5.7 Mạng lưới trạm khí tượng 30
1.2.6 Hệ thống hồ chứa trên lưu vực 31
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC TRƯNG THỦY VĂN, THỦY LỰC TRÊN LƯU VỰC SRÊPÔK 34
2.1 MẠNG LƯỚI SÔNG NGÒI 34
2.2 HỆ THỐNG TRẠM THUỶ VĂN 38
2.3 CÁC ĐẶC TRƯNG DÒNG CHẢY 39
2.3.1 Dòng chảy năm 39
2.3.1.1 Chuẩn dòng chảy năm 39
2.3.1.2 Sự biến động dòng chảy năm 40
2.3.2 Dòng chảy mùa lũ 44
2.3.3 Dòng chảy mùa cạn 56
2.5 PHÂN TÍCH, TÍNH TOÁN THỦY VĂN PHỤC VỤ XÂY DỰNG QUY TRÌNH MÙA LŨ 57
2.5.1 Sự biến động dòng chảy theo mùa 57
2.5.2 Phân cấp lũ 62
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHO VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH VẬN HÀNH LIÊN HỒ CHỨA MÙA LŨ TRÊN LƯU VỰC SRÊPÔK 63
3.1 GIỚI THIỆU MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ CHỨA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 63
3.2 BÀI TOÁN VẬN HÀNH LIÊN HỒ CHỨA LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK 64
3.3 GIỚI THIỆU CÁC MÔ HÌNH ĐƯỢC LỰA CHỌN VÀ MÔ ĐUN ĐIỀU KHIỂN
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Trang 5Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
3.3.1 Mô hình Nam 66
3.3.2 Mô hình MIKE 11 69
3.3.3 Mô đun điều khiển công trình (SO) trong mô hình Mike 11 72
3.3.3.1 Chiến lược điều khiển 72
3.3.3.2 Hộp thoại chiến lược điều khiển (The Control Strategy Dialog) 74
3.4 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NAM XÁC ĐỊNH BỘ THÔNG SỐ CHO LƯU VỰC SRÊPÔK 77
3.4.1 Số liệu để mô phỏng mô hình 77
3.4.2 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 77
3.4.2.1 Kịch bản mưa lũ được chọn 77
3.4.2.2 Kết quả mô phỏng và kiểm định 78
3.4.3 Kết quả tính toán cho các khu giữa 79
3.5 THIẾT LẬP MÔ HÌNH MÔ PHỎNG MẠNG SÔNG 80
3.5.1 Phạm vi tính toán của mô hình thủy lực 80
3.5.2 Các biên tính toán của mô hình thủy lực 81
3.5.2.1 Biên trên 81
3.5.2.2 Biên dưới 81
3.5.2.3 Biên dọc sông 81
3.5.3 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình 82
3.5.3.1 Trạm hiệu chỉnh và kiểm định của mô hình thuỷ lực 82
3.5.3.2 Thời gian tính toán 82
3.5.3.3 Kết quả tính toán 83
3.5.3.4 Nhận xét kết quả tính toán 84
3.6 THIẾT LẬP MÔ ĐUN VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ CHỨA LƯU VỰC SÔNG SRÊPÔK TRONG MÙA LŨ 84
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Trang 6Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
3.7 XÂY DỰNG VÀ TÍNH TOÁN CÁC PHƯƠNG ÁN VẬN HÀNH HỆ THỐNG HỒ
TRONG MÙA LŨ 89
3.7.1 Nguyên tắc điều hành hệ thống hồ chứa trên sông Srêpôk 89
3.7.2 Xây dựng và tính toán các phương án vận hành 90
3.7.2.1 Giai đoạn xả nước đón lũ 90
3.7.2.2 Giai đoạn điều tiết cắt lũ 94
3.7.3 Hiệu quả cắt giảm lũ hạ du 95
3.8 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG ÁN VẬN HÀNH 97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 1: CÁC TRẬN LŨ LỚN ĐIỂN HÌNH TRÊN LƯU VỰC SREPOK 98
Formatted: Centered, Level 1, Inde
Left: 0 cm, Space Before: 6 pt, Afte
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Level 1, Space Before:
pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 line
Trang 7Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Trang 8Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Bảng 1 1: Lưới trạm khí tượng và đo mưa trong lưu vực 30
Bảng 1 2: Thông số cơ bản các hồ trên lưu vực sông Srêpôk 33
Bảng 2 1 Đặc trưng hình thái những sông nhánh trong lưu vực sông Srêpôk 38
Bảng 2 2 Hệ thống trạm quan trắc thuỷ văn trên lưu vực 38
Bảng 2 3 Tài nguyên nước mặt tại các trạm thuỷ văn trên 3 nhánh sông thuộc lưu vực sông Srêpôk (Việt Nam) 39
Bảng 2 4 Các tham số thống kê dòng chảy năm tại các trạm thuỷ văn trên lưu vực sông Srêpôk 40
Bảng 2.5 Xu thế biến đổi lượng dòng chảy năm theo trung bình trượt kép (n=3) 40
Bảng 2.6 Lưu lượng nước ứng với tần suất qui định tại các trạm thuỷ văn trên lưu vực sông Srêpôk Q P (m 3 /s) 41
Bảng 2 7 Xu thế biến đổi lượng mưa năm theo trung bình trượt kép (n=3) 43
Bảng 2 8 Tổ hợp lũ trên sông Srêpôk 45
Bảng 2 9 Mực nước báo động tại các điểm kiểm soát lũ 46
Bảng 2 10 Các tham số thống kê lưu lượng lớn nhất tại các trạm 47
Bảng 2 11- Lưu lượng lũ lớn nhất ứng với tần suất P% 48
Bảng 2 12 Mực nước báo động tại các điểm kiểm soát 48
Bảng 2 13 Tần số xuất hiện lũ vượt cấp báo động 54
Bảng 2 14 – Giá trị lưu lượng tương ứng với lũ lịch sử xảy ra theo tiêu chuẩn 1 55
Bảng 2 15 - Giá trị lưu lượng tương ứng với lũ lịch sử xảy ra theo tiêu chuẩn 1 56
Bảng 2 16 Đặc trưng dòng chảy kiệt tháng tại một số trạm thuỷ văn 57
Bảng 2 17 Mùa mưa tại các trạm mưa trên lưu vực sông Srêpôk 58
Bảng 2 18 Mùa lũ và mùa cạn 58
Bảng 2 19 Các tham số thống kê lượng mưa mùa mưa và mùa khô 59
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Trang 9Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
Bảng 2 20 Mức tăng, giảm trung bình hàng năm của lượng mưa mùa mưa 59
Bảng 2 21 Mức tăng, giảm trung bình hàng năm của lượng mưa mùa khô 59
Bảng 2 22 - Lượng mưa mùa mưa ứng với các tần suất quy định 60
Bảng 2 23 - Lượng mưa mùa khô ứng với các tần suất quy định 60
Bảng 2 24 Lưu lượng phân cấp tương ứng tại các trạm 62
Formatted: Level 1, Space Before:
pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 line
Trang 10Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 0.1: Sơ đồ hệ thống hồ thủy điện trên lưu vực sông Srêpôk 7
Hình 0.2: sơ họa phạm vi khu vực nghiên cứu của đề tài 9
Hình 1.1: Bản đồ lưu vực sông Srêpôk 19
Hình 1.2 - B ản đồ địa hình lưu vực 21
Hình 1.3: Bản đồ đẳng trị mưa lưu vực sông Srêpôk 28
Hình 1 4: Ảnh vệ tinh Lansat chụp 13/2/2010 lưu vực sông Srêpôk 32
Hình 2 1: Bản đồ mạng lưới sông lưu vực sông Srêpôk 34
Hình 2 2 Đường tích luỹ sai chuẩn dòng chảy năm 4 trạm thuộc hệ thống sông Srêpôk 41 Hình 2 3 - Đường trung bình trượt dòng chảy năm hệ thống sông Srêpôk 42
Hình 2 4 Đường trung bình trượt kép mưa năm hệ thống sông Srêpôk 44
Hình 2 5 - Đường trung bình trượt lượng mưa mùa mưa 60
Hình 2 6 - Đường trung bình trượt lượng mưa mùa khô 61
Hình 1 - Đường tần suất dòng chảy trung bình trạm Giang Sơn 108
Hình 2 - Đường tần suất dòng chảy trung bình trạm Đức Xuyên 108
Hình 3 - Đường tần suất dòng chảy trung bình trạm Cầu 14 108
Hình 4 - Đường tần suất dòng chảy trung bình trạm Bản Đôn 108
Formatted: Centered, Level 1, Spac
After: 0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Formatted: Level 1, Space Before:
pt, After: 0 pt, Line spacing: 1,5 line
Trang 11Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, cùng với đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại
hoá đất nước, nhu cần về năng lượng, nhất là năng lượng điện đã gia tăng mạnh mẽ
Do đó, các tiềm năng có thể khai thác để sản xuất điện phục vụ nhu cầu sinh hoạt và
sản xuất được khai thác triệt để, hàng loạt các dự án thủy điện đã và đang được xây
dựng trên các hệ thống sông khắp mọi vùng trong cả nước Các hồ chứa nước nói
chung thường được thiết kế để đảm nhiệm nhiều mục tiêu khác nhau trong đó có 03
mục tiêu chính là phát điện, cấp nước và chống lũ Tuy nhiên, các mục tiêu này
thường mâu thuẫn với nhau trong vấn đề sử dụng dung tích nước của hồ chứa Vấn
đề điều hành hiệu quả hệ thống hồ chứa, giải quyết mâu thuẫn là một nhu cầu mới đặt
ra ở nước ta trong những năm gần đây Mục tiêu của việc điều hành hệ thống hồ chứa
là nâng cao hiệu quả chống lũ và hiệu quả kinh tế (phát điện và cấp nước) không phải
chỉ cho các hồ riêng biệt mà cho tất cả các hồ chứa trong cùng một hệ thống
Khai thác thủy năng để phát điện là một trong những thế mạnh của khu vực
Tây Nguyên nói chung và trên lưu vực sông Srêpôk nói riêng Trong những năm qua,
nhiều dự án thủy điện trên lưu vực nghiên cứu được triển khai thực hiện Lợi ích to
lớn của thủy điện đã đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế, xã hội, hơn
thế nữa còn góp phần hạn chế những tai biến thiên tai xuất hiện thường xuyên do
nước gây ra trên các lưu vực sông Bên cạnh những thế mạnh đóTuy nhiên, sự xuất
hiện và hoạt động của các hồ chứa thủy điện cho thấy còncũng có nhiều tồn tại, bất
cập trong quy hoạch, phát triển tài nguyên nước lưu vực sông, đã và đang gây ra tình
trạng huỷ hoại nghiêm trọng tài nguyên đất, rừng đầu nguồn, khoáng sản, đa dạng
sinh học và nhiều tài nguyên thiên nhiên khác
Lưu vực sông Srêpôk có hệ thống các hồ chứa thủy điện, thủy lợi phát triển
mạnh mẽ Tính đến nay, trên lưu vực có khoảng 600 hồ chứa với quy mô từ nhỏ đến
lớn với tổng dung tích của các hồ là 2.341 triệu m3 Đáng lưu ý là trong thời gian gần
đây, hệ thống hồ thủy điện trên lưu vực đã và đang phát triển nhanh chóng, với
khoảng 120 hồ thủy điện, trong đó 08 hồ chứa đã đi vào vận hành Các hồ chứa có
Formatted: Level 2 Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Indent: First line: 1,27
cm
Trang 12Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
dung tích lớn trên lưu vực phải kể đến là hồ Đrây H’linh 3, Buôn Tua Srah, Buôn
Kuốp, Srêpôk 3, Srêpôk 4, Ea Súp Thượng, và hồ ĐăkPri
Hình 0.1: Sơ đồ hệ thống hồ thủy điện trên lưu vực sông Srêpôk
Hầu hết các hồ chứa này thủy điịeniệntrên lưu vực chỉ ưu tiên cấp nước cho
phát điện, mà chưa thực sự chú trọng đến các yêu cầu về phòng chống lũ, cấp nước
cho sinh hoạt, nông nghiệp, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường sông, duy trì sinh
thái vùng hạ lưu, mâu thuẫn nảy sinh giữa các mục tiêu sử dụng nước và yêu cầu
cấp nước khác Các hồ chứa lớn trên hệ thống hiện tại vẫn vận hành với quy trình
riêng lẻ, độc lập, chưa có quy trình vận hành tích nước, xả nước thống nhất trên toàn
hệ thống, chưa phối hợp được với nhau trong phòng, chống và giảm thiểu tác hại của
lũ, lụt đối với khu vựcvùng hạ du Vì vậy, hơn bao giờ hết, cần việc tiến hành các
nghiên cứu làm cơ sở để xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa cho lưu vực
Srêpôk là rất cần thiết, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên nước và mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của lưu vực Do đó, nghiên cứu các đặc trưng thủy văn,
thủy lực làm cơ sở cho việc xây dựng cơ sở vận hành liên hồ chứa lưu vực Srêpôk
trong mùa lũ là vô cùng cần thiết
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Nôi dung luận văn đề cập đến các vấn đề sau:
Formatted: Danish Formatted: Level 2, Space Before:
pt, Widow/Orphan control, Don't adju space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian tex and numbers
Trang 13Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan hiện trạng cũng như những tồn tại, hạn chế
trong quản lý, khai thác, vận hành hệ thống hồ chứa nước trên lưu vực sông Srêpôk;
- Nghiên cứu, phân tích các đặc trưng thủy văn, thủy lực các dòng chính và
các hồ chứa trên lưu vực, thiết lập bộ thông số thủy văn, thủy lực làm cơ sở nghiên
cứu xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Srêpôk trong mùa lũ
- Diễn toán lũ trong sông, đề xuấtđánh giá phương án điều hành hệ thống liên
hồ chứa cắt giảm lũ cho hạ du lưu vực sông Srêpôk trong mùa lũ
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đặc trưng thủy văn, thủy lực của các
dòng chính và các hồ chứa tham gia cắt giảm lũ hạ du trên lưu vực sông Srêpôk, được
xem xét theo tính hệ thống liên hồ trên quan điểm kết hợp 02 nhóm nhân tố chủ yếu:
đặc điểm, điều kiện tự nhiên của lưu vực (địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, thảm phủ
thực vật, khí tượng, thủy văn, ) và chế độ vận hành các hồ chứa thủy điện trên lưu
vực sông Srêpôk trong mùa lũ
Phạm vi địa lý nghiên cứu của đề tài giới hạn ở phần khu vực phía Nam của
lưu vực sông Srêpôk, bao gồm các nhánh sông Krông Ana, Krông Knô và dòng chính
Srêpôk với một số hồ chứa thủy điện có ảnh hưởng đáng kể đến chế độ thủy văn,
thủy lực trong việc giải quyết bài toán hệ thống liên hồ chứa (Buôn Tua Srah, Buôn
Kuốp, Dray H'linh, Srêpôk 3, Srêpôk 4)
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cách thức tiếp cận đề tàinghiên cứu là đi từ những vấn đề cụ thể, qua phân
tích, tổng hợp, xác định lựa chọn các nhân tố có tác động chính, quyết định đặc điểm
thủy văn, thủy lực của toàn hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Từ đó, xác định mức
độ ảnh hưởng, tác động của từng nhân tố đến các đặc trưng thủy văn, thủy lực của
toàn hệ thống Sau cùng là nghiên cứu, phân tích, thiết lập bộ thông số mô hình thủy
văn thủy lực phục vụ diễn toán lũ trong sông, làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình
vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Srêpôk trong mùa lũ
Từ quan điểm như trên, đề tài sẽ bắt đầu bBằng công tác điều tra, khảo sát
thực địa tổng hợp tại các vùng trong khu vực nghiên cứu, nhằm thu thập các tài liệu,
Formatted: Level 2, Space Before:
pt, Widow/Orphan control, Don't adju space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian tex and numbers
Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Justified, Level 2, Space
Before: 6 pt, Widow/Orphan control Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space betwee Asian text and numbers
Formatted: Space Before: 6 pt
Trang 14Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
thông tin cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở Kết hợp
cơ sởsố dữ liệu về điều kiện tự nhiên, chế độ khí hậu, thuỷ văn, cấu trúc địa chất, địa
hình, địa mạo, thảm phủ, kết hợp tài liệu khảo sát thực địa , bbằng phương pháp
phân tích, tính toán, thống kê, mô phỏng, ứng dụng các phần mềm thủy văn, thủy lực,
kết hợp sử dụng phương pháp chuyên gia, xác định các nhân tố chính, mức độ tác
động của từng nhân tố Tổng hợp lại, nghiên cứu, đánh giá tổng thể trong hệ thống
liên hồ, đề xuất phương án điều hành hệ thống liên hồ chứa cắt giảm lũ cho hạ du
Trong nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa các sản phẩm nghiên cứu mang tính chất khoa
học tương tự; kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó tại lưu vực nghiên cứu;
- Phương pháp điều tra cơ bản, phân tích và tổng kết kinh nghiệm;
- Phương pháp phân tích thống kê;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp quan sát khoa học: kết hợp viễn thám – GIS;
- Phương pháp mô hình: ứng dụng các mô hình thủy văn, thủy lực
5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN5 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày
trong 04 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vận hành hồ chứa và đặc điểm lưu
Formatted: Italian (Italy)
Formatted: Level 2, Space Before:
pt, Widow/Orphan control, Don't adju space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian tex and numbers
Formatted: Font: Not Bold Formatted: Space Before: 6 pt Formatted: Font: Not Bold Formatted: Font: Not Bold Formatted: Font color: Auto
Trang 15Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
Chương 2: Phân tích các đặc trưng thủy văn, thủy lực trên lưu vực sông Srêpôk;
Chương 3: Thiết lập mô hình mô phỏng Ứng dụng mô hình cho việc nghiên
cứu xây dựng quy trình vận hành hệ thống liên hồ chứa mùa lũ trên lưu vực sông
Srêpôk;
Chương 4: Ứng dụng mô hình toán nghiên cứu tính toán các phương án vận
hành hệ thống hồ chứa trong mùa lũ
Formatted: Font: Not Bold, Charact
scale: 95%
Formatted: Character scale: 95% Formatted: Font color: Auto Formatted: Font color: Auto Formatted: Font: Not Bold Formatted: Italian (Italy) Formatted: Space Before: 0 pt, Aft
6 pt, No widow/orphan control, Adju space between Latin and Asian text, Adjust space between Asian text and numbers
Trang 16Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẬN HÀNH HỒ CHỨA
VÀ ĐẶC ĐIỂM LƯU VỰC SÔNG SR EÊ P OÔ K
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Vận hành hồ chứa là một một trong những vấn đề được chú ý nghiên cứu tập
trung nhiều nhất trong lịch sử hàng trăm năm của công tác quy hoạch, quản lý hệ
thống nguồn nước.từ Từ nghiên cứu của Rippl ở thế kỷ XIX về dung tích trữ phục
vụ cấp nước (Rippl, 1883) đến các nghiên cứu gần đây của Lund về phương pháp
luận trong vận hành tối ưu hệ thống liên hồ chứa phục vụ đa mục tiêu (Lund và
Guzman, 1999, Labadie, 2004).
Nghiên cứu vận hành quản lý hệ thống hồ chứa luôn phát triển cùng thời
gian nhằm phục vụ các yêu cầu phát triển của xã hội Mặc dù đã đạt được những
tiến bộ vượt bậc trong nghiên cứu quản lý vận hành hồ chứa nhưng cho đến thời
điểm hiện tại không vẫn chưa có một lời giải chung cho mọi hệ thống mà tùy đặc thù
của từng hệ thống sẽ có các lời giải phù hợp
Trong những năm 70, việc ứng dụng lý thuyết điều khiển và phân tích hệ
thống đã rất rộng rãi trong các ngành kinh tế, quốc phòng Các chương trình qui
hoạch tuyến tính và qui hoạch động như GAM, GAM-MINOS được các nhà quy
hoạch thuỷ lợi áp dụng hiệu quả trong qui hoạch, điều hành hệ thống công trình thuỷ
lợi, nhất là hệ thống các công trình hồ chứa
Những năm 80, các bài toán xác suất thống kê ứng dụng trong thuỷ lợi đã
được chú ý đến lý thuyết phân tích độ bất định, độ tin cậy rủi ro của hệ thống Các tác
giả Mays L W, Tung Y K, công bố nhiều kết quả ứng dụng lý thuyết này trong
lĩnh vực kỹ thuật thuỷ lợi và thiết kế đê
Từ những năm 90, công nghệ GIS (hệ thống thông tin địa lý) cùng những phần
mềm tin học đầy hiệu lực ra đời đã mang lại sức mạnh mới trong việc thu thập, phân
Formatted: Font: Bold Formatted: None
Trang 17Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
tích, đánh giá cũng như thể hiện các kết quả phục vụ việc tính toán kiểm soát lũ trên
hệ thống sông và phân tích ngập lụt trên lãnh thổ Các thuật toán tự động dò tìm tối
ưu được áp dụng rộng rãi Các công nghệ mới của ngành viễn thám, rađa, vệ tinh đã
và đang thực sự thay đổi phương thức thu nhập thông tin trong công tác phòng chống
bão - lũ
Như vậy, đã xuất hiện và hội tụ những cơ sở lý luận về phương pháp tính và
mô hình toán, cùng các công nghệ thông tin hiện đại trong nghiên cứu, tính toán thuỷ
văn, thuỷ lực, làm cơ sở cho việc nghiên cứu điều hành hệ thống liên hồ chứa Tuy
nhiên, đó mới chỉ là những nghiên cứu về kỹ thuật cơ bản, còn khi vận dụng tổ hợp
chúng trong điều hành hệ thống hồ chưa cho từng lưu vực cụ thể còn gặp rất nhiều
hạn chế, khó khăn
Từ những phân tích trên cho thấy vận hành hệ thống hệ thống hồ chứa phục vụ
đa mục tiêu là một quá trình phức tạp, bị chi phối bởi nhiều yếu tố ngẫu nhiên, trong
khi phải thỏa mãn các yêu cầu hầu như đối nghịch của các ngành dùng nước nên mặc
dù đã được đầu tư nghiên cứu rất bài bản và chi tiết nhưng các ứng dụng thành công
chủ yếu gắn liền với đặc thù từng hệ thống, không có phương pháp luận, công cụ có
thể dùng chung cho mọi hệ thống
Có thể tóm tắt các phương pháp xây dựng quy trình vận hành hệ thống hồ
chứa thành 03 nhóm chính: mô phỏng; tối ưu; kết hợp giữa mô phỏng và tối ưu
Phương pháp mô phỏng: Mô hình mô phỏng kết hợp với điều hành hồ chứa
bao gồm tính toán cân bằng nước của đầu vào, đầu ra hồ chứa và biến đổi lượng trữ
Kỹ thuật mô phỏng đã cung cấp cầu nối từ các công cụ giải tích trước đây cho phân
tích hệ thống hồ chứa đến các tập hợp mục đích chung phức tạp Theo Simonovic,
các khái niệm về mô phỏng là dễ hiểu và thân thiện hơn các khái niệm mô hình hoá
khác Các mô hình mô phỏng có thể cung cấp các biểu diễn chi tiết và hiện thực hơn
về hệ thống hồ chứa và quy tắc điều hành chúng (chẳng hạn đáp ứng chi tiết của các
hồ và kênh riêng biệt hoặc hiệu quả của các hiện tượng theo thời gian khác nhau)
Thời gian yêu cầu để chuẩn bị đầu vào, chạy mô hình và các yêu cầu tính toán khác
của mô phỏng là ít hơn nhiều so với mô hình tối ưu hoá Các kết quả mô phỏng sẽ dễ
dàng thỏa hiệp trong trường hợp đa mục tiêu Hầu hết các phần mềm mô phỏng có
Trang 18Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
thể chạy trong máy vi tính cá nhân đang sử dụng rộng rãi hiện nay Hơn nữa, ngay
sau khi số liệu yêu cầu cho phần mềm được chuẩn bị, nó dễ dàng chuyển đổi cho
nhau và do đó các kết quả của các thiết kế, quyết định điều hành, thiết kế lựa chọn
khác nhau có thể được đánh giá nhanh chóng Có lẽ một trong số các mô hình mô
phỏng hệ thống hồ chứa phổ biến rộng rãi nhất là mô hình HEC-5, phát triển bởi
Trung tâm kỹ thuật thủy văn Hoa Kỳ Một trong những mô hình mô phỏng nổi tiếng
khác là mô hình Acres, tổng hợp dòng chảy và điều tiết hồ chứa (SSARR), mô phỏng
hệ thống sóng tương tác (IRIS) Gói phần mềm phân tích quyền lợi các hộ sử dụng
nước (WRAP) Mặc dù có sẵn một số các mô hình tổng quát, vẫn cần thiết phải phát
triển các mô hình mô phỏng cho một (hệ thống) hồ chứa cụ thể vì mỗi hệ thống hồ
chứa có những đặc điểm riêng
Phương pháp tối ưu: Kỹ thuật tối ưu hoá bằng quy hoạch tuyến tính (LP) và
quy hoạch động (DP) đã được sử dụng rộng rãi trong quy hoạch và quản lý tài
nguyên nước Nhiều công trình nghiên cứu áp dụng kỹ thuật hệ thống cho bài toán tài
nguyên nước Yeh (1985), Simonovic (1992) và Wurbs (1993) Young (1967) lần đầu
tiên đề xuất sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để xây dựng quy tắc vận hành
chung từ kết quả tối ưu hoá Phương pháp mà ông đã dùng được gọi là “quy hoạch
động (DP) Carlo” Về cơ bản phương pháp của ông dùng kỹ thuật
Monte-Carlo tạo ra một số chuỗi dòng chảy nhân tạo Quy trình tối ưu thu được của mỗi
chuỗi dòng chảy nhân tạo sau đó được sử dụng trong phân tích hồi quy để cố gắng
xác định nhân tố ảnh hưởng đến chiến thuật tối ưu Các kết quả là một xấp xỉ tốt của
quy trình tối ưu thực Một mô hình quy hoạch để thiết kế hệ thống kiểm soát lũ hồ
chứa đa mục tiêu đã được phát triển bởi Windsor (1975) Karamouz và Houck (1987)
đã đề ra quy tắc vận hành chung khi sử dụng quy hoạch động (DP) và hồi quy (DPR)
Mô hình DPR sử dụng hồi quy tuyến tính nhiều biến đã được Bhaskar và Whilach
(1980) gợi ý Một phương pháp khác xác định quy trình điều hành một hệ thống
nhiều hồ chứa khác là quy hoạch động bất định (Stochastic Dynamic Programing –
SDP) Phương pháp này yêu cầu mô tả rõ xác suất của dòng chảy đến và tổn thất
Phương pháp này được Butcher (1971), Louks và nnk (1981) và nhiều người khác sử
dụng Mô hình tối ưu hoá thường được sử dụng trong nghiên cứu điều hành hồ chứa
sử dụng dòng chảy dự báo như đầu vào Datta và Bunget (1984) đề xuất một quy
Trang 19Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
trình điều hành hạn ngắn cho hồ chứa đa mục tiêu từ một mô hình tối ưu hoá với mục
tiêu cực tiểu hoá tổn thất hạn ngắn Nghiên cứu chỉ ra rằng khi có một sự đánh đổi
giữa một đơn vị lượng trữ và một đơn vị lượng xả từ các giá trị đích tương ứng thì
phép giải tối ưu hoá phụ thuộc vào dòng chảy tương lai bất định cũng như dạng hàm
tổn thất Áp dụng mô hình tối ưu hoá cho điều hành hồ chứa đa mục tiêu là khá khó
khăn Sự khó khăn trong áp dụng bao gồm phát triển mô hình, đào tạo nhân lực, giải
bài toán, điều kiện thủy văn tương lai bất định, sự bất lực để xác định và lượng hóa
tất cả các mục tiêu và mối tương tác giữa nhà phân tích với người sử dụng Một
phương pháp khác đang được sử dụng hiện nay để giải thích tính ngẫu nhiên của đầu
vào là logic mờ Lý thuyết tập mờ đã được Zadeth (1965) giới thiệu Nhiều phần
mềm vận hành tối ưu hệ thống hồ chứa đã được xây dựng, tuy nhiên khả năng giải
quyết các bài toán thực tế vẫn còn hạn chế Các phần mềm tối ưu hiện nay nói chung
vẫn chỉ đƣa ra lời giải cho những điều kiện đã biết mà không đưa ra được các nguyên
tắc vận hành hữu ích Phần lớn các phần mềm vận hành hồ chứa được kết nối với mô
hình diễn toán lũ dựa trên mô hình Muskingum hay sóng động học như các phần
mềm thương mại MODSIM, RiverWare, CalSIM Điều này rất hạn chế cho việc điều
hành chống lũ và không áp dụng được cho lưu vực có ảnh hưởng của thủy triều hay
nước vật Các nghiên cứu mới nhất gần đây về điều hành chống lũ cũng chỉ được áp
dụng cho hệ thống một hồ
Phương pháp kết hợp: Theo Wurb (1993), trong tổng quan về các nhóm mô
hình chính sử dụng trong thiết lập quy trình vận hành hệ thống hồ chứa đã tổng kết
“Mặc dù, tối ưu hóa và mô phỏng là hai hướng tiếp cận mô hình hóa khác nhau về
đặc tính, nhưng sự phân biệt rõ ràng giữa hai hướng này là khó vì hầu hết các mô
hình, xét về mức độ nào đó đều chứa các thành phần của hai hướng tiếp cận trên”
Wurb cũng đề cập đến nhóm Quy hoạch mạng lưới dòng (Network Flow
Programming) như là một kết hợp hoàn thiện của hai hướng tiếp cận tối ưu và mô
phỏng Trong các quy trình tối ưu phục vụ bài toán liên hồ chứa (Labadie, 2004) thì
cả hai nhóm quy hoạch ẩn bất định (Implicit stochastic optimization) và quy hoạch
hiện bất định (Explicit stochastic optimization) đều cần có mô hình mô phỏng để
kiểm tra các quy trình tối ưu được thiết lập
Trang 20Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Tóm lại, phương pháp mô phỏng vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều nhất
trong phân tích vận hành hệ thống hồ chứa và cho kết quả hoàn toàn chấp nhận được
Trong hầu hết các bài toán cụ thể thì mô hình mô phỏng cũng không thể thiếu trong
việc xác định các quy trình vận hành
Tại khu vực châu Á, các nghiên cứu về các biện pháp chống lũ và điều hành
hệ thống đa hồ chứa chống lũ được phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc trong những
năm gần đây Hiệu quả của việc điều tiết hồ chống lũ được thể hiện rõ trong việc
chống lũ 100 năm vào năm 1995 ở sông Liaohe và lũ năm 1998 ở sông Trường
Giang Nhận thức được tầm quan trọng của việc điều hành hệ thống đa hồ chứa phục
vụ chống lũ, năm 1998 chính phủ Trung Quốc đã giao cho Cục Phòng chống Lũ lụt
và Hạn hán Quốc gia và 3 trường đại học: Đại học Công nghệ Dalian, Đại học Hồ
Hải và Đại học Thuỷ Điện Vũ Hán thực hiện dự án “Hệ thống quản lý tích hợp trong
kiểm soát lũ bằng các hồ chứa (Integrated Management System for Flood Control of
Reservoirs) trong 05 năm với nhiệm vụ là thiết lập hệ thống phần mềm kiểm soát lũ
cho hệ thống đa hồ chứa, thu thập và xử lý số liệu tổng thể theo thời gian thực, phân
tích mưa, dự báo lũ, trao đổi dữ liệu trên toàn quốc thông qua hệ cơ sở dữ liệu lớn
trên máy tính Kết quả của dự án là bộ chương trình phần mềm và bộ cơ sở dữ liệu có
thể sử dụng bởi trung tâm điều hành chống lũ và các hồ chứa đơn lẻ Các kết quả này
đã được đăng tải trên nhiều tạp chí Khoa học quốc tế Cuối năm 2005 tại Trung Quốc
đã tổ chức một Hội thảo quốc tế về điều hành các hệ thống hồ chứa đa mục tiêu Các
báo cáo đều tập trung vào hai vấn đề chính là xác định các đường cong qui trình theo
các phương pháp mô phỏng và phương pháp tối ưu Trong đó, phương pháp mô
phỏng vẫn là phương pháp được sử dụng nhiều hơn
1 1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vận hành hệ thống liên hồ chứa ở Việt Nam nói chung chưa được tập trung
nghiên cứu Một số nghiên cứu liên quan đã được các cơ quan nghiên cứu của các Bộ
Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công thương được tiến
hành chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ chống lũ Một số nghiên cứu vận hành hồ điều
tiết cấp nước mới tập trung vào các mục tiêu cấp nước đơn lẻ Đặc biệt, các nghiên
cứu chưa mang tính hệ thống liên hồ, và phục vụ đa mục tiêu
Trang 21Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
Hiện nay, ở Việt Nam các hồ chứa trên các hệ thống sông đã và đang được
tiến hành nghiên cứu, xây dựng quy trình liên hồ, phục vụ đa mục tiêu, như hệ thống
hồ chứa trên các hệ thống: sông Hồng, sông Ba, sông Sê San, sông Đồng Nai,
Srêpôk, v.v
1.1.2.1 a1.1.2.1 Quy trình vận hành hồ chứa
Điển hình là Quy trình điều hành chống lũ hồ chứa Hoà Bình được xây dựng
khá chi tiết và liên tục được bổ sung hoàn chỉnh Ngoài ra, còn một loạt các nghiên
cứu khác về vận hành hồ chứa Hoà Bình và hệ thống hồ chứa trên các lưu vực của
Việt Nam:
- Công ty tư Tư vấn Điện I (1991) đã nghiên cứu việc kết hợp phát điện, chống
lũ hạ du và khai thác tổng hợp hồ chứa Hoà Bình
- Viện Quy hoạch và Quản lý nước (1991) cũng nghiên cứu lập quy trình vận
hành hồ chứa Hoà Bình phòng lũ và phát điện
- Nguyễn Văn Tường (1996) nghiên cứu phương pháp điều hành hồ chứa Hoà
Bình chống lũ hàng năm với việc xây dựng tập hàm vào bằng phương pháp
Monte-Carlo
- Trịnh Quang Hoà (1997) xây dựng công nghệ nhận dạng lũ thượng nguồn
sông Hồng phục vụ điều hành hồ chứa Hoà Bình chống lũ hạ du
- Viện Quy hoạch Thuỷ lợi và Công ty Tư vấn Điện 1 I (2000) đã nghiên cứu
hiệu ích chống lũ và cấp nước hạ du của công trình hồ chứa Đại Thị (nay là Tuyên
Quang) trên sông Gâm
- Hoàng Minh Tuyển (2002) đã phân tích đánh giá vai trò của một số hồ chứa
thượng nguồn sông Hồng cho phòng chống lũ hạ du
- Lâm Hùng Sơn (2005) nghiên cứu cơ sở điều hành hệ thống hồ chứa lưu vực
sông Hồng, trong đó chú ý đến việc phân bổ dung tích và trình tự phối hợp cắt lũ của
từng hồ chứa trong hệ thống để đảm bảo an toàn hồ chứa và hệ thống đê đồng bằng
Trang 22Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
hành liên hồ chứa trên sông Đà và sông Lô đảm bảo an toàn chống lũ đồng bằng Bắc
Bộ khi có các hồ chứa Thác Bà, Hoà Bình, Tuyên Quang
- Trần Hồng Thái (2005) và Ngô Lê Long (2006) bước đầu áp dụng thuật tối
ưu hoá trong vận hành hồ Hoà Bình phòng chống lũ và phát điện
- Nguyễn Hữu Khải và Lê thị Huệ (2007) nghiên cứu áp dụng mô hình
HEC-RESSIM cho điều tiết lũ của hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hương, cho phép
xác định trình tự và thời gian vận hành hợp lý các hồ chứa bảo đảm kiểm soát lũ hạ
lưu sông Hương (tại Kim Long và Phú ốc)
1.1.2.2 b1.1.2.2 Hệ thống công nghệ hỗ trợ vận hành
Song song với quy trình điều hành thì công tác dự báo thuỷ văn phục vụ điều
hành cũng được coi trọng:
- Trịnh Quang Hoà (1997) với công nghệ nhận dạng lũ thượng nguồn sông
Hồng đã góp phần vào nhiệm vụ phòng, chống lũ đồng bằng sông Hồng rất hiệu quả
- Tổng cục KTTV (1998) đã xây dựng một dự án trong dự án liên ngành hiện
đại hoá hệ thống đo đạc và dự báo thuỷ văn trên sông Đà và sông Hồng trực tiếp phục
vụ điều hành
- Năm 2005 Trung tâm đã có văn bản về khả năng dự báo thuỷ văn gửi Hội
đồng điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện Hoà Bình góp phần vào quyết
định ban hành “Quy trình vận hành liên hồ chứa thuỷ điện Hoà Bình, Tuyên Quang,
Thác Bà trong mùa lũ hàng năm”, ban hành năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ
- Nguyễn Lan Châu (2005) đã nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ sông
Đà phục vụ điều tiết hồ Hoà Bình trong công tác phòng chống lũ bằng tích hợp các
mô hình thuỷ văn thuỷ lực và điều tiết hồ chứa
- Trần Tân Tiến (2006) đã nghiên cứu liên kết mô hình RAMS dự báo mưa và
mô hình sóng động học một chiều dự báo lũ khu vực miền Trung
- Năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Quy trình vận hành liên hồ
chứa thuỷ điện Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà trong mùa lũ hàng năm”
Formatted: Vietnamese
Formatted: Font color: Red
Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese Formatted: English (U.S.)
Trang 23Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
- Vũ Minh Cát (2007) đã nghiên cứu xây dựng công nghệ dự báo lũ trung hạn
kết nối với công nghệ điều hành hệ thống phòng chống lũ cho đồng bằng sông
Hồng-Thái Bình
- Nguyễn Văn Hạnh (2007) đã xây dựng hệ thống thông tin phục vụ vận hành
hồ chứa đa mục tiêu Tuyền Lâm-Đà Lạt-Lâm Đồng
Formatted: Normal, Justified,
Widow/Orphan control, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian tex and numbers
Trang 24Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
Lưu vực sông Srêpôk nằm trên cao nguyên trung phần Việt Nam và là một
tiểu lưu vực phía Đông của lưu vực Mê Kông, nằm trong phạm vi từ 11°53' đến
13°55' vĩ độ Bắc và từ 107°30' đến 108°45' kinh độ Đông Sông Srêpôk bắt nguồn từ
tỉnh Đăk Lăk (Việt Nam) chảy qua lãnh thổ Campuchia thuộc 02 tỉnh Mondulkiri và
Stungtreng, với chiều dài dòng chính là 315km Sông Srêpôk hợp lưu với sông Sesan
chảy từ dãy núi Ngọc Linh qua toàn tỉnh Kontum, một phần lớn tỉnh Gia Lai, qua
Campuchia tại huyện Sesan rồi cùng chảy vào sông Mê Kông tại Strungtreng
Hình 1.11.1 : Bản đồ lưu vực sông Srêpôk
Tổng diện tích lưu vực là 30.900 km2, trong đó diện tích nằm trên lãnh thổ
Việt Nam là 18.480 m2, được chia ra làm 02 lưu vực độc lập nhau là lưu vực thượng
Srêpôk có diện tích là 12.743 km2 và lưu vực Ia Đrăng - Ea Lôp - Ea H'leo có diện
Formatted: Vietnamese Formatted: Font: Bold, Italian (Italy Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Level 5 Formatted: Space Before: 12 pt
Trang 25Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
tích là 5.737 km2 bao gồm địa phận hành chính của bốn tỉnh: tỉnh Đăk Lăk - 10.400
km2, chiếm 57%; tỉnh Đăk Nông - 3.600km2, chiếm 20%; tỉnh Gia Lai - 2.900 km2,
chiếm 16%; tỉnh Lâm Đồng - 1.300 km2, chiếm 7%
Lưu vực Srêpôk có một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế ở Tây
nguyênNguyên, phía Bắc lưu vực giáp với lưu vực sông Sê San, phía Tây có đường
biên giới dài 240 km giáp với Cam Pu Chia, phía Nam giáp lưu vực sông Đồng Nai
1.2 2 Điều kiện địa hình
Lưu vực Srêpôk nằm hoàn toàn về phía Tây của dãy Trường Sơn, bề mặt địa
hình có hướng dốc thoải dần từ Đông sang Tây Địa hình Srêpôk bị chia cắt phức tạp
nhưng đặc trưng hơn cả là là tính phân bậc rõ ràng; Các bậc cao nằm về phía Đông,
bậc thấp nằm về phía Tây.; Mạng sông suối tương đối phát triển
Lưu vực sông Srêpôk có nhiều địa hình khác nhau:
Nam, tạo nên bề mặt chủ yếu của Srêpôk
Như dãy Tây Khánh Hòa có đỉnh Ca Đung cao 1.978 m, hòn Gia Lô 1.817 m Dãy
Tây Khánh Hòa là đường chia nước giữa lưu vực sông Krông Ana và sông Đa
Nhim, Dãy Chư Yang Sin cấu tạo từ khối Granít nằm về phía nam vùng trũng
Krông Pắk-Lăk chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, là dãy có đỉnh cao nhất
2.405m Dãy Chư Yang sin dốc thẳng đứng trên thung lũng Krông Ana về phía
Bắc, hạ thấp dần về phía Tây phía Nam dãy Chư Yang Sin là thung lũng Krông
Nô Dãy Dan Sona -Ta Dung dốc đứng trên thung lũng Krông Knô về phía Bắc, về
phía Nam thoải dần tới Cao Nguyên Lang Biang và Di Linh
bằng bóc mòn có núi sót khá bằng phẳng, chưa bị phân sâu như các vùng khác, độ
cao 140-300 m, thoải dần phía Tây Ở đây gặp các núi sót tạo bởi đá mac ma, cao
400-800m là di tích của bề mặt san bằng cổ Bề mặt đồng bằng Ea Soúp cắt vào bề
mặt Plioxen có phủ bazan của cao nguyên Plei Ku và Buôn Ma Thuột Tích tụ bồi
Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Character scale: 100% Formatted: Space Before: 6 pt,
Widow/Orphan control, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian tex and numbers
Formatted: Space Before: 6 pt
Trang 26Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
tích rất hạn chế dọc theo các sông Ea Hleo, Ea Soúp Ngay cả sông Srêpôk một
sông khá lớn cũng không tạo được bãi bồi nào quan trọng Vùng trũng Krông
PắckPach-Lắk ở phí nam cao nguyên Buôn Ma Thuột vốn là một thung lũng bóc
mòn với nhiều núi sót đã biến thành một cánh đồng tích tụ với đầm lầy và hồ Lắk
rộng trên 800 ha do lớp bazan đệ tứ lấp mất dòng chảy của Krông Ana
Đặc thù quan trọng nhất về Lưu vực Srêpôk là sơn nguyên, bao gồm các dãy
núi cao trên 2.000 m chạy dọc Đông - Nam lưu vực, tiếp theo là các dãy núi thấp dưới
2.000 m và các cao nguyên với độ cao từ 300-800 m thoải dần về phía Tây
Mặc dù bị chia cắt và phân bậc mạnh nhưng nhìn chung phần cao nhất là phía
Đông Nam lưu vực (dãy Chư Yang Sin) và nghiêng dần về phía Tây, từ đó nước mưa
chảy vào hệ thống sông Mê Kông, chỉ giữ lại một phần nhỏ Điều đó ảnh hưởng rất lớn
đến điều kiện thủy văn và địa chất thủy văn trong lưu vực và giải thích tại sao đối với
lượng mưa trên lưu vực nhiều nhưng tài nguyên nước, kể cả nước mặt lẫn nước dưới
đất lại hạn chế, nhất là mùa khô
Hình 1 22 -: Bản đồ địa hình lưu vực sông Srêpôk Formatted: Level 5
Formatted: None, Widow/Orphan
control, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust spa
Trang 27Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
1.2.3 Điều kiện địa chất
Lưu vực Srêpôk có cấu trúc địa chất khác nhau, chủ yếu phát triển trên nền đá
thuộc thời Trung sinh (Mesozoic), với các uốn nếp có tuổi từ Đại nguyên sinh
(Proterozoic) đến kỷ Phấn trắng (Creta) Đá mẹ, mẫu chất là yếu tố chi phối đến sự
hình thành đất tại chỗ và các vùng lân cận Trên địa bàn lưu vực có các mẫu chất,
đá mẹ như sau:
- Đá mẹ, gồm các loại đá macma xâm nhập (granit, điorit, gran-odiorit),
các loại đá biến chất (gnai, phiến mica, quăczit) và các loại đá trầm tích (đá cát, đá
bột, đá sét) với các hoạt động núi lửa phun trào, dòng dung nham bazan phủ lên
một phần các đá macma xâm nhập, trầm tích và biến chất, tạo nên các cao nguyên
bazan do quá trình xói mòn các cao nguyên bazan ngày nay đã bị thu hẹp, nhiều
nơi chỉ còn lại vết tích đá bazan (An Khê, Kon Chro, ) hoặc các loại đá bị vùi lấp
ở dưới đã lộ trên mặt đất (các vùng rìa cao nguyên bazan)
- Đá macma axit có màu xám sáng, hàm lượng SiO2 khá cao 65-75%,
trong khi đó hàm lượng CaO lại thấp 3,12%, tỉ lệ Al2O3 khá cao 15,1% Do vậy,
lớp vỏ phong hoá thường mỏng, độ dày tầng đất mịn mỏng, thành phần cơ giới
nhẹ, lẫn nhiều sỏi sạn thạch anh, hàm lượng cation trao đổi thấp, đất chua, có màu
vàng đỏ hoặc đỏ vàng Đá macma axit phân bố ở địa hình núi và gò đồi thường gặp
ở Chư Pah, Chư Prông, Đức Cơ, KBang, Mang Yang, Kon Chro, Ayun Pa, Krông
Pa
- Đá bazan là loại macma bazơ tạo nên các cao nguyên rộng Đá bazan khi
phong hoá tạo nên các loại đất đỏ bazan, tầng đất dày có tỉ lệ sét cao, tỉ lệ sét phân
tán trong nước thấp, chịu xói mòn thấp, kết cấu đoàn lạp, tính chất lý học đất tốt
- Đá sét và biến chất gồm nhiều loại khoáng vật khác nhau, trong đó chủ yếu
là khoáng vật sét Về độ hạt, gồm các phần tử rất nhỏ bé, dưới 0,01 mm (chiếm
trên 50%), trong đó trên 25% có kích thước dưới 0,001mm Ngoài ra còn gặp nhiều
khoáng vật phi sét như: vụn cơ học, chất keo, chất hữu cơ Tuỳ theo vật chất hỗn
hợp, chúng có màu sắc khác nhau như: xám, phớt đen, vàng, đỏ Đá sét khi phong
hoá cho tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nặng hoặc sét, đất có màu đỏ vàng
Formatted: Character scale: 100% Formatted: Widow/Orphan control,
Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space betwee Asian text and numbers
Formatted: Space Before: 6 pt
Trang 28Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
- Đá cát kết, đá bột kết gặp ở vùng phía nam Chư Prông, Ayun Pa, Krông
Pa, An Khê, Ea Soup Thành phần hạt vụn phần lớn là khoáng vật bền vững,
khó phong hoá như: thạch anh, mutcovic, hiđrôxit sắt, fenpat, có độ hạt từ 0,1-1
mm hay 0,05-2 mm Thành phần xi măng thường là cacbonat, silic (opan, thạch
anh), hiđrôxit sắt, kaolinit Màu sắc của đá đa dạng, phụ thuộc vào hạt vụn và xi
măng Khi phong hoá cho đất có thành phần cơ giới nhẹ-cát thô, màu xám sáng,
nghèo dinh dưỡng
- Mẫu chất phù sa cổ có tuổi địa chất kỷ đệ tứ (quarternary), có địa hình dạng
đồi thấp, lượn sóng nhẹ Đất hình thành trên mẫu chất phù sa cổ có tầng đất dày,
màu nâu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ, có sự chuyển tầng đột ngột về thành
phần cơ giới giữa tầng mặt và tầng sâu Quá trình feralit phát triển, độ phì tự nhiên
thấp, có xu hướng bạc màu, nhiều nơi có đá ong, kết von hình thành
- Phù sa (contemporary loose deposits) là sản phẩm do sông suối bồi đắp,
tích đọng lại Vật liệu được mài mòn và tuyển lựa kỹ Quy luật phân bố hoàn
toàn phù hợp với động năng dòng chảy Căn cứ vào tuổi của phú sa và quá trình
bồi đắp thường xuyên hay không để phân ra: phù sa cũ hay phù sa mới Từ sản
phẩm phù sa hình thành các loại đất phù sa có độ màu mỡ cao, tầng đất dày, địa hình
bằng phẳng, gần nguồn nước Mẫu chất phù sa phân bố ở ven sông Krông Ana, sông
Krông Pách, sông Krông Nô, sông Srêpôk và ở một số suối lớn, tạo nên các loại đất
phù sa
- Dốc tụ là sản phẩm tích đọng của quá trình bào mòn được di chuyển không
xa lắm, mức độ mài mòn và chọn lọc kém Các vật liệu hình thành đất phân bố lộn
xộn, không có quy luật Mẫu chất dốc tụ gặp rải rác ở các thung lũng hẹp vùng
núi, gò đồi, tạo nên các vùng đất có thành phần cơ giới không đồng nhất với quá
trình khủ là chủ đạo trong sự hình thành đất
Nét đặc trưng của địa chất lưu vực là sự có mặt của thành tạo địa chất cổ đới
Kon Tum có tuổi Proterozoi, với các thành phần thạch học chủ yếu bao gồm nhóm
đá Macma axit và đá biến chất phân bố ở M'Drak, Ea Kar, Krông Bông và phần
phía bắc Krông H'năng, Ea Hleo; Nhóm đá trầm tích lục nguyên phân bố chủ yếu
ở phía Tây lưu vực (Ea Soúp, Buôn Đôn, Cư Jút, Lắk, Krông Păk); Nhóm đá
Trang 29Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
macmabazơ (chủ yếu là đá Bazan)có diện tích và quy mô khá lớnphân bố tập trung
chủ yếu ở hai cao nguyên BMT Buôn Ma Thuột - Ea Hleo và cao nguyên Đắk
Nông, một phần nhỏ ở cao nguyên M'Drăk; Nhóm trầm tích bở rời phù sa và dốc tụ
(aluvi, deluvi) phân bố ở địa hình thung lũng sông và trũng giữa núi, ven rìa các
cao nguyên và dọc theo các sông lớn
1.2 4 Điều kiện thổ nhưỡng, thảm phủ
1.2.4.1 a1.2.4.1 Điều kiện thổ nhưỡng
Lớp phủ thổ nhưỡng lưu vực có thể gộp theo hai nhóm lớp sau: Nhóm đất bồi tụ
(gồm đất phù sa, đất đen do sản phẩm từ đá mẹ cacbonat hay bazan bồi tụ); Nhóm đất
phát triển tại chỗ (chiếm diện tích khá lớn, hình thành trên sản phẩm phong hoá của
các loại đá mẹ trầm tích, macma và biến chất)
Các nhóm đất chính trên lưu vực Srêpôk: Có 11 loại đất chính (đất phù sa; đất
Glây; đất mới biến đổi; đất đen; đất nâu; đất xám; đất nâu thẩm; đất đỏ; đất có
thành phần cơ giới phân dị; đất xói mòn đá mẹ nông; đất nứt nẻ), lớn nhất là đất xám
767.508 ha (42,32%) và đất dỏ bazan 534.583 ha (29,48%) Đây là loại đất màu mỡ
thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị như: cà phê, cao su, điều…
Formatted: Font: Vietnamese Formatted: Space Before: 6 pt
Formatted: Space After: 0 pt, Line
spacing: 1,5 lines
Formatted: Space Before: 3 pt, Aft
0 pt, Line spacing: 1,5 lines
Trang 30Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Diện tích các loại đất tốt, thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp dài
ngày và cây ăn quả khoảng 530.000ha, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên Buôn Ma
Thuột, Đăk Nông, Plêiku Đất phù sa sông suối ở các vùng trũng giữa các núi phù hợp
với cây lương thực, thực phẩm
1.2.4.2 b1.2.4.2 Điều kiện thảm phủ
Rừng ở lưu vực chiếm phần lớn diện tích tự nhiên với tổng diện tích
977.175ha (năm 2004), đất có rừng và được chia ra thành các loại sau:
- Rừng nhiệt đới thường xanh: Phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao,
tầng đất dày, hoặc ven các khe suối bao gồm nhiều tầng với nhiều loại cây khác
nhau
- Rừng lá rụng: Là rừng rụng lá theo mùa còn gọi là rừng khộp, phát triển
chủ yếu trên địa hình bằng hoặc đồi lượn sóng với độ dốc thấp ở những khu vực đất
xám và điều kiện khí hậu khô nóng Chúng thường rụng lá vào mùa khô
- Rừng nửa lá rụng: Là loại rừng phân bố ở những vùng chuyển tiếp giữa
rừng thường xanh và rừng lá rụng theo mùa
- Rừng tre, nứa hỗn hợp với các loài gỗ
- Rừng trồng ở lưu vực chủ yếu là thông, keo, bạch đàn, tếch
Lưu vực sông Srêpôk là vùng có độ che phủ của rừng còn khá lớn (phía Việt
Nam là 53,69% và phía Campuchia là 86,67%), tuy rừng tự nhiên đã bị tác động
mạnh do khai thác đột phá, du canh ở giai đoan sau năm 1975, đến 1995 giảm mạnh
diện tích rừng gỗ, rừng hỗn giao và rừng tre nứa
1.2.5 Đặc điểm khí tượng, khí hậu
1.2.5.1 a1.2.5.1 Bức xạ mặt trời
Theo tài liệu quan trắc nhiều năm tại các trạm khí tượng, tổng số giờ nắng
bình quân hàng năm khá cao khoảng 2.337 giờ, năm cao nhất 2.439 giờ, năm thấp
nhất là 2.179 giờ Tháng có số giờ nắng nhiều nhất thường rơi vào tháng III (cuối
mùa khô) và đạt tới 260 - 300 giờ/tháng; 9,8 giờ/ngày Tháng có số giờ nắng ít nhất
thường rơi vào tháng giữa mùa mưa và chỉ đạt khoảng 105 giờ/tháng; 3,5 giờ/ngày
Formatted: Space Before: 6 pt Formatted: Font: Vietnamese
Formatted: Italian (Italy) Formatted: Space Before: 6 pt,
Widow/Orphan control, Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space between Asian tex and numbers
Formatted: Vietnamese Formatted: Space Before: 6 pt
Trang 31Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
1.2.5.2 b1.2.5.2 Chế độ nhiệt
Khí hậu trên lưu vực sông Srêpôk thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa Song,
do vị trí địa lý và điều kiện địa hình nên khí hậu ở đây có nét riêng, mang sắc thái khí
hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nguyên Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn tại các trạm trên
lưu vực, nhiệt độ trung bình năm khoảng 22-23 oC ở vùng có độ cao 500-800 m, vùng
thấp hơn (dưới 500 m) có nhiệt độ trung bình trên dưới 24oC Tháng I có nhiệt độ
trung bình 20,3 oC, tháng V có nhiệt độ trung bình 25,4 o
C
Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm từ 2-5 oC Theo tài liệu quan
trắc nhiều năm tại các trạm khí tượng, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng
I với các trị số là 18,8 oC ở Buôn Hồ; 20,0 oC ở Ea H'leo; 20,1 oC ở M'Drak Tháng
có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng V với các trị số 27,0 oC ở Lắk; 26,1o
C M'Đrắk; 25,8 oC ở Buôn Ma Thuột Cho các giá trị dưới dạng bảng (tháng I –XII)
1.2.5.3 c1.2.5.3 Chế độ ẩm
Độ ẩm tương đối trung bình năm trong lưu vực dao động 80-85% Quy luật
biến đổi của độ ẩm tương đối trong vùng tăng theo độ cao Tại Buôn Ma Thuột có độ
cao 490 m độ ẩm tương đối đạt 81,3%; tại Buôn Hồ có độ cao 700 m độ ẩm tương
đối đạt 84,7%; tại Đắk Nông cao độ vùng này là 660m độ ẩm tương đối đạt 83,3%
Độ ẩm tương đối thay đổi trong năm khá rõ rệt Biến trình độ ẩm trùng với
biến trình mưa và ngược lại với biến trình của nhiệt độ Theo tài liệu quan trắc trung
bình tháng nhiều năm tại các trạm khí tượng, độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp
nhất xảy ra vài các tháng II, III và cao nhất vào các tháng VIII, IX, X Trong năm từ
tháng IV sang tháng V độ ẩm tăng rất nhanh đạt từ 4-6% và giảm nhanh từ tháng X
sang tháng XI nhất là những vùng có độ cao thấp như Buôn Ma Thuột, Đắk Nông
giảm 2-5%
Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các tháng III, IV Trị số thấp nhất tuyệt đối đạt
11% tháng III/1930 ở Buôn Ma Thuột, 14% ngày 16/II/1985 ở Buôn Hồ Độ ẩm thấp
ở các tháng mùa mưa dao động từ 40 - 60%
Cho các giá trị dưới dạng bảng (tháng I –XII)
1.2.5.4 d1.2.5.4 Chế độ mưa
Formatted: Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese, Not Highlight
Formatted: Level 4, Space Before:
pt
Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Space Before: 6 pt Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Trang 32Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Do chịu tác động của khí hậu của Đông và Tây Trường Sơn, mùa mưa ở trên
lưu vực kéo dài từ tháng V đến tháng X, có nơi đến tháng XI như ở phía Đông Lượng
mưa năm trung bình nhiều năm toàn lưu vực đạt từ 1.600-1.800mm ở các vùng
Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 84% lượng mưa năm, mùa khô chiếm
16% ở phía Tây và Tây Bắc của lưu vực, lượng mưa mùa khô chiếm 10-12% lượng
mưa năm Các vùng phía Tây, Tây Bắc và trung tâm lưu vực lượng mưa lớn nhất trong
ba tháng mùa mưa (tháng VII, VIII, IX) chiếm 45-50% lượng mưa năm
Tháng VIII có lượng mưa lớn nhất trung bình chiếm 17-20% lượng mưa năm
Mùa mưa của lưu vực này đến sớm hơn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam
Càng về phía Đông và Đông Nam của lưu vực do ảnh hưởng của bão, áp thấp mùa
mưa ở đây thường kéo dài Lượng mưa 03 tháng lớn nhất xẩy ra vào các tháng VIII,
IX, X lớn nhất vào tháng IX, có nơi kéo dài đến tháng XI và lớn nhất vào tháng X
như vùng Krông Buk Tháng V có cường độ mưa lớn do ảnh hưởng của những cơn
giông Những vùng phía Tây của lưu vực cho lượng mưa tháng V lớn hơn các vùng
phía Nam, Đông Nam của lưu vực Lượng mưa tháng XI ở các vùng phía Nam, Đông
Nam và phía Đông khá cao Tại thượng nguồn sông Krông Bông lượng mưa tháng XI
do ảnh hưởng của bão muộn chiếm 11% lượng mưa năm Ở những vùng chịu ảnh
hưởng mạnh của khí hậu Tây Trường Sơn như Buôn Ma Thuột, Lăk, Giang Sơn từ
tháng V đến tháng VIII có lượng mưa rất lớn, lớn nhất vào tháng VIII Lượng mưa lớn
tạo thành các con lũ sớm vào đầu mùa mưa, làm tăng lượng nước trữ trong sông, nhất
là vùng Lăk Từ tháng IX đến tháng XI do hoạt động mạnh của gió mùa Tây Nam và
các hình thức nhiễu động thời tiết khác hoặc cơn bão muộn ảnh hưởng tới vùng này
đã gây ra những trận mưa lớn trên diện rộng tạo ra các con lũ rất lớn Lượng mưa lớn
ở thượng nguồn sông Krông Ana, Krông Knô đã tạo ra những con lũ lớn như trận lũ
X/1992; XI/1981 Phía Hạ hạ du các sông này là các thung lũng trũng, trước khi lũ về
đã có lượng trữ khá cao do mưa lớn tại chỗ gây nên Do đó ở vùng hạ du thời gian lũ
rút chậm, thời gian duy trì mực nước cao kéo dài, gây úng ngập nghiêm trọng
Mưa trên lưu vực sông Srêpôk thể hiện rõ quy luật của gió mùa Lượng mưa
trung bình năm biến đổi từ 1.600 - 1.800mm; các vùng ít mưa là phía tây tỉnh Đắk
Lắk và Gia Lai thuộc hạ lưu vực sông Srêpôk, Ea H'leo, Ia Đrăng và từ 2.000 -
Trang 33Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
trung bình bình quân trên toàn lưu vực là 1.780mm, lượng mưa trạm lớn nhất là
2.551,1mm, lượng mưa trạm nhỏ nhất là 1.465,5mm Tháng có lượng mưa nhỏ nhất
là tháng I: 0,0mm tại Ea Soup (Cực Tây), tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng XI -
454,5mm tại M'Đrắk (Cực Đông) Số ngày mưa trong năm trung bình đạt từ 130 ~
160 ngày
Hình 1.3 : Bản đồ đẳng trị mưa lưu vực sông Srêpôk (nguồn)
1.2.5.5 e1.2.5.5 Chế độ bốc hơi
Lưu vực sông Srêpôk là vùng có lượng bốc hơi lớn hơn các vùng thấp lân cận,
mặc dù nhiệt độ không khí trên vùng không cao bằng các vùng khác có cùng vĩ độ
Nguyên nhân chính do: cường độ bức xạ mặt trời trên cao nguyên lớn hơn, nhất là
vào thời kỳ khô nóng, và độ ẩm tương đối của không khí thấp và tốc độ gió trn cao
nguyên cũng mạnh hơn Lượng bốc hơi khả năng vào các tháng mùa khô rất lớn điều
này là một bất lợi đối với phát triển nông nghiệp trong lưu vực
Lượng bốc hơi đo bằng ống piche trong lưu vực ở các địa điểm khác nhau cho
kết quả khác nhau Khả năng bốc hơi cao nhất ở Buôn Ma Thuôt đạt 1.464,8mm;
Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese, Check spelling and grammar
Formatted: Level 4, Indent: First lin
1,27 cm, Space Before: 6 pt, After: pt
Formatted: Font: Bold, Italic,
Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese, Check spelling and grammar
Formatted: Vietnamese, Check
spelling and grammar
Trang 34Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
1.307,9mm ở Buôn Hồ; 1.328,6 mm ở Đắk Nông; 1.354,5 mm ở M'Đrắk
Thời kỳ khô nóng vào tháng III, khả năng bốc hơi đạt cao nhất 173,7 mm ở Ea
H'leo; 163,7 mm ở Buôn Ma Thuột, 138,3 mm ở Buôn Hồ; 136,1 mm ở Đắk Nông
Bốc hơi nhỏ nhất xảy ra vào các tháng VIII và IX là các tháng có lượng mưa lớn
nhất Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche chỉ đạt 41,1mm vào tháng VIII ở Ea H'leo
Cho các giá trị dưới dạng bảng (tháng I –XII)
1.2.5.6 1.2.5.6.f Chế độ gió, bão
Hướng gió thịnh hành trong vùng thay đổi rõ rệt theo mùa: Từ tháng V tới
tháng IX gió có hướng tây, tây nam là chủ yếu từ tháng XI đến IV hướng gió đông,
đông nam là chủ yếu Hướng gió tây thịnh hành ở Buôn Ma Thuột chiếm tần suất 50 -
55% trong các tháng mùa hạ tháng VI, VII, VIII Trong các tháng mùa Đông XI, XII,
I gió đông thịnh hành tần suất xuất hiện 60 -70%
Tốc độ gió trung bình trong các tháng mùa đông lớn hơn các tháng trong mùa
hạ Theo tài liệu quan trắc trung bình tháng nhiều năm, tốc độ gió trung bình trong
lưu vực từ 1,6-3,4m/s Tốc độ gió lớn nhất đạt 5,0m/s; tốc độ gió nhỏ nhất đạt 0,9
m/s
Tốc độ gió lớn hơn 10m/s thường xảy ra vào các tháng mùa Đông, trung bình
mỗi tháng xảy ra từ 7 - 9 ngày ở Buôn Ma Thuột Tốc độ gió lớn trên 15m/s thường
xảy ra vào các tháng đầu hoặc cuối mùa Hạ Tốc độ gió lớn nhất ghi được là 20m/s
ngày 7/IX/1982 ở Buôn Hồ, 34m/s ngày 20/III/1978 ở Buôn Ma Thuột, 20m/s ngày
11/I/1981 ở M'Đrắk
Do tác dụng chắn ngang của dãy Trường Sơn nên hàng năm vùng nghiên
cứutrên lưukhông có bão đổ bộ trực tiếp vào Khi bão từ biển Đông đổ bộ vào và bị
tan do gặp phải sự chắn ngang của dãy Trường Sơn Tốc độ gió trong cơn bão suy
yếu dần, bão di chuyển châậm, hình thành vùng áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên
diện rộng
Vùng ảnh hưởng mạnh của lượng mưa do áp thấp nhiệt đới gây nên thường là
thượng nguồn sông Krông Ana, Krông Knô, Krông Bông Lượng mưa do bão hoặc
áp thấp gây nên thường rất lớn trên diện rộng như trận mưa lũ do bão ảnh hưởng
Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese, Not Highlight
Formatted: Level 4, Space Before:
pt
Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese
Formatted: Vietnamese Formatted: Font: Bold, Italic,
Vietnamese
Formatted: Vietnamese
Formatted: Space Before: 6 pt, Aft
0 pt
Trang 35Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
tháng X/1992 lượng mưa 1 ngày lớn nhất đạt 140mm ở Buôn Ma Thuột; 191mm ở
Krông Bông; 214mm ở Ea H'Dring; 189,5mm ở Ea H'leo Tổng lượng mưa 3 ngày
lớn nhất đạt 200- 400 mm trên diện rộng Lượng mưa 3 ngày lớn nhất từ
23-25/X/1992 đạt 410mm ở Krông Bông; 219,5mm ở Buôn Ma Thuột; 362,5 mm ở
EaKnôp Trận mưa lớn này đã gây ra lũ rất lớn ở thượng nguồn sông Krông Ana,
Krông Knô (X/1992) có lưu lượng đỉnh lũ lớn hơn trận lũ tháng X năm 1981
1.2.5.7 1.2.5.7.g Mạng lưới trạm khí tượng
Lưới trạm khí tượng: Trong lưu vực và lân cận có tổng số 22 trạm đo
mưa, trong đó có 07 trạm khí tượng đo các yếu tố nhiệt độ đó là Buôn Ma Thuột, Đăk
Mil, Buôn Hồ, Lăk, Đăk Nông, Ma Đrăk, Đà Lạt Nhưng hiện nay có 17 trạm đo mưa
và chỉ còn 05 trạm đo khí tượng trạm đo khí tượng đó là Buôn Ma Thuột, Buôn Hồ,
Đăk Nông, Ma Đrăk và trạm Đà Lạt là trạm vùng lân cận, trạm Lăk và Đăk Mil hiện
nay không đo các yếu tố khí tượng nữa Các trạm đo mưa do Tổng Cục Khí Tượng –
Thủy Văn quản lý có thời gian quan trắc liên tục và chất lượng tài liệu tin cậy
Bảng 1 1: Lưới trạm khí tượng và đo mưa trong lưu vực
TT Trạm K inh độ Vĩ độ Thời gian quan trắc Số năm
1 Buôn Mê Thuột (*) 108003' 12040' 28-31,33-44
spacing: Multiple 1,4 li
Formatted: Left, Space Before: 3 p
Line spacing: Multiple 1,4 li
Formatted: Space Before: 3 pt, Lin
spacing: Multiple 1,4 li
Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted
Trang 36Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
Cho bản đồ các trạm KTTV trong và gần kề lưu vực
1.2.6 Hệ thống hồ chứa trên lưu vực
Lưu vực sông Srêpôk có hệ thống các hồ chứa thủy điện, thủy lợi phát triển
mạnh mẽ Tính đến nay, trên lưu vực có khoảng 600hồ chứa với quy mô từ nhỏ đến
lớn với tổng dung tích của các hồ là 2.341 triệu m3 Đáng lưu ý là hệ thống hồ thủy
điện phát triển nhanh chóng với khoảng 120 hồ, trong đó 08 hồ chứa đã đi vào vận
hành Các hồ chứa có dung tích lớn trên lưu vực phải kể đến là hồ Dray H'linh 3,
Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpôk 3, Srêpôk 4, Ea Súp Thượng, và hồ DakPri Các
hồ chứa và các công trình đi kèm với nó thường có nhiều mục tiêu và nhiệm vụ khác
nhau Tuy nhiên, do tất cả các hồ chứa này khi xây dựng chỉ ưu tiên cấp nước cho
thủy điện, không hồ nào có dung tích dành riêng cho tích nước phòng chống lũ cho
hạ du dẫn đến khả năng phòng chống lũ là không đáng kể Việc phòng chống lũ cho
hạ du chỉ kết hợp một cách đơn giản là hạ thấp trước lũ xuống thấp hơn mực nước
dâng bình thường của hồ Tuy nhiên để bảo đảm an toàn cho trữ nước phát điện các
hồ này thường không áp dụng phương án trữ nước muộn nên hiệu quả giảm lũ cho hạ
du bằng cách thức này thường không có tác dụng đáng kể trong thực tế phòng chống
lũ thời gian vừa qua Các hồ chứa lớn trên hệ thống hiện tại vẫn vận hành với quy
trình riêng, độc lập, chưa có quy trình vận hành tích nước, xả nước thống nhất trên
toàn hệ thống ven, các công trình chưa phối hợp được với nhau trong phòng chống và
giảm thiểu tác hại của lũ lụt đối với khu vực hạ du
Formatted Table Formatted: Space Before: 3 pt, Lin
spacing: Multiple 1,4 li
Formatted: Left, Space Before: 3 p
Line spacing: Multiple 1,4 li
Formatted: Space Before: 3 pt, Lin
spacing: Multiple 1,4 li
Formatted: Space Before: 3 pt, Lin
spacing: Multiple 1,4 li
Formatted: Left, Space Before: 3 p
Line spacing: Multiple 1,4 li
Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted Formatted: Italian (Italy) Formatted
Formatted Formatted: Vietnamese, Not Highlig Formatted: Vietnamese, Not Highlig Formatted: Vietnamese, Not Highlig Formatted: Vietnamese, Not Highlig Formatted: Not Highlight
Trang 37Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
12 pt
Hình 1 43 : Ảnh vệ tinh Lansat chụp 13/2/2010 lưu vực sông Srêpôk
Bộ TN và MT đã có công văn gửi các bộ Ngành và Tỉnh có liên quan về các
hồ được đưa vào xây dựng quy trình vận hành liên hồ cũng như các điểm kiểm soát
lũ Các ý kiến phản hồi thống nhất đưa 4 hồ chứa lớn có cửa van điều tiết chủ động
vào xây dựng quy trình liên hồ (mùa lũ và mùa kiệt) Đó là các hồ:
Do việc nghiên cứu vận hành liên hồ chứa trong mùa lũ đòi hỏi các hồ phải có
dung tích khá lớn và có cửa van điều tiết chủ động nên trong khuôn khổ luận văn chỉ
lựa chọn 04 hồ chứa sau:
1) Hồ Buôn Tua Srah: Hồ là bậc trên cùng của hệ thống bậc thang sông
Srêpôk, có dung tích lớn nhất, có khả năng điều tiết lớn đối với các bậc thang còn lại
2) Hồ Buôn Kuop: Hồ có Nlm lớn nhất trên toàn hệ thống, có vai trò quan
trọng đối với duy trì dòng chảy của 3 thác Gia Long, Dray H’Dru,Trinh Nữ ở hạ du
Formatted: Level 5
Formatted: Space Before: 6 pt
Trang 38Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
3) Hồ Srêpôk 3: Hồ có dung tích và Nlm khá lớn, có vai trò quan trọng trong
việc điều tiết lũ và kiệt cho hạ du
4) Hồ Srêpôk 4: Hồ có thể bậc thang cuối cùng của hệ thống Srêpôk (phần
Việt Nam) trước khi chảy vào Cam Pu Chia
Bảng 1 2: Thông số cơ bản các hồ trên lưu vực sông Srêpôk
Hồ chứa
Các thông số kỹ thuật
Buôn Tua Srah Buôn Kuôp Srêpôk 3 Srêpôk 4
Mực nước dâng gia cường (m) 489,5 414,5 275 210,48
Mực nước dâng bình thường (m) 487,5 412 272 207
Dung tích toàn bộ (106
m3) 786,9 63,24 218,99 25,94 Dung tích hữu ích (106m3) 522,6 14,7 62,85 8,44
Loại hồ điều tiết ĐT năm ĐT ngày ĐT ngày ĐT ngày
Các hồ chứa này sẽ được xem xét liên kết với nhau trở thành một hệ thống liên
hồ, hỗ trợ lẫn nhau trong việc cắt giảm lũ cho hạ du
Formatted: Line spacing: 1,5 lines Formatted: Line spacing: 1,5 lines Formatted: Line spacing: 1,5 lines Formatted: Line spacing: 1,5 lines Formatted: Line spacing: 1,5 lines Formatted: Line spacing: 1,5 lines Formatted: Space Before: 12 pt
Trang 39Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Trang 40Formatted: Centered, Position:
Horizontal: 9,77 cm, Relative to: Pag Vertical: 0 cm, Relative to: Paragrap Width: Exactly 2,34 cm
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
Formatted: Font: Times New Roma
12 pt
CHƯƠNG 2
: PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC TRƯNG THỦY VĂN, THỦY LỰC
TRÊN LƯU VỰC SRÊPÔK
2.1 MẠNG LƯỚI SÔNG NGÒI
Sông Srêpôk là chi lưu cấp 1 của sông Mê Kông Chiều dài toàn bộ sông là
315 km với diện tích lưu vực 30.100 km2 Trong địa phận tỉnh Đắk Lắk diện tích lưu
vực của dòng chính là 4.200 km2 với chiều dài sông 125 km Đoạn này lLòng sông
tương đối dốc, chảy từ độ cao 400 m nhập lưu xuống cao độ 150 m ở biên giới
Campuchia
Hình 2 1: Bản đồ mạng lưới sông lưu vực sông Srêpôk
Formatted: Font: (Default) Times
New Roman, 13 pt
Formatted: Font: Times New Roma
Bold, Character scale: 90%
Formatted: Centered, Right: -0,09
cm, Space After: 6 pt
Formatted: Centered, Level 1, Inde
First line: 0 cm, Right: -0,09 cm, Space Before: 0 pt, After: 6 pt, Line spacing: single
Formatted: Not Expanded by /
Formatted: Centered, Level 1, Inde
First line: 0 cm, Space Before: 0 pt, Line spacing: single
Formatted: Not Expanded by /
Condensed by
Formatted: Widow/Orphan control,
Don't adjust space between Latin and Asian text, Don't adjust space betwee Asian text and numbers
Formatted: Highlight Formatted: Highlight