Yêu cầu chung đối với công trường xây dựng Điều 3, Thông tư số 22/2010/TT- BXD ngày 03/12/2010[1] của Bộ Xây dựng: Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, công
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Nguyễn Mai Linh
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đinh Thế Mạnh, người đã
hướng dẫn trực tiếp và vạch ra những định hướng khoa học cho luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới Nhà trường, các thầy cô giáo trong Khoa Công trình, Phòng đào
tạo Đại học và sau Đại học về sự giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu
Xin cảm ơn các đồng nghiệp trong công ty đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tác giả trong
quá trình học tập cũng như hoàn thiện luận văn
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, các anh em trong gia
đình đã động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
HỌC VIÊN
Nguyễn Mai Linh
Trang 3M ỤC LỤC CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG
TRONG XÂY DỰNG 3
1.1 Khái quát chung về công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng 4
1.1.1 Mục đích của công tác quản lý an toàn lao động 4
1.1.2 Yêu cầu của công tác quản lý an toàn lao động 4
1.1.3 Vai trò của công tác quản lý an toàn lao động 8
1.2 Điều kiện lao động và chủ thể quản lý an toàn lao động trong xây dựng 9
1.2.1 Điều kiện lao động trong ngành xây dựng 9
1.2.2 Các chủ thể quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng 10
1.3 Tình hình đảm bảo kỹ thuật an toàn lao động 12
1.3.1 Hoạt động thông tin, truyền thông về an toàn lao động 14
1.3.2 Hoạt động giáo dục, đào tạo, huấn luyện về an toàn lao động 16
1.3.3 Hoạt động kiểm định, kiểm tra chất lượng hàng hóa sản phẩm thuộc lĩnh vực an toàn lao động 17
1.4 Tình trạng vi phạm quy định về an toàn lao động 18
Kết luận chương 1 20
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 22
2.1 Cơ sở pháp lý về an toàn lao động trong xây dựng 22
2.1.1 Chủ trương, chính sách của Việt Nam liên quan đến an toàn lao động 22
2.1.2 Quy định về an toàn lao động thi công nhà cao tầng 23
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác an toàn lao động thi công nhà cao tầng 26
2.2.1 Thiết kế và thi công công trình 26
2.2.2 Do kỹ thuật thi công nhà cao tầng 27
2.2.3 Tổ chức thực hiện 27
2.2.4 Môi trường và điều kiện làm việc 28
2.2.5 Bản thân người lao động 28
2.3 Kỹ thuật an toàn lao động trong xây dựng nhà cao tầng 28
2.3.1 Kỹ thuật an toàn lao động trong tổ chức công trường xây dựng 28
2.3.2 Kỹ thuật an toàn trong thi công xây dựng nhà cao tầng 31
2.3.3 An toàn lao động khi sử dụng máy, thiết bị thi công xây dựng 51
Trang 42.3.4 Vệ sinh trên công trường xây dựng 54
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG TRÌNH HH6 - THE GOLDEN AN KHÁNH 57
3.1 Giới thiệu về công trình HH6 - The Golden An Khánh 57
3.1.2 Vị trí dự án 58
3.1.3 Quy mô dự án The Golden An Khánh 59
3.2 Thực trạng về công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng nhà cao tầng 60
3.2.1 Công tác lập biện pháp an toàn lao động 60
3.2.2 Công tác tập huấn về an toàn lao động 63
3.2.3 Công tác trang bị và sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động 65
3.2.4 Công tác đảm bảo kỹ thuật an toàn lao động 67
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý an toàn lao động trong quá trình xây dựng công trình HH6 - The Golden An Khánh 70
3.3.1 Các nguy cơ gây mất an toàn lao động tại công trường HH6 70
3.3.2 Các giải pháp kỹ thuật 71
3.3.3 Các giải pháp về tổ chức 93
Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
Trang 5DANH M ỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1 - 1: Công nhân trên công trường lao động 4
Hình 1 - 2: Sơ đồ quản lý an toàn lao động 12
Hình 1 - 3: Công trình xây dựng ở phố Đền Lừ, Hoàng Mai, Hà Nội 19
Hình 2 - 1: Dùng máy xúc gầu nghịch để phá, dỡ công trình 32
Hình 2 - 2: Minh họa cách xếp vật liệu xây dựng đúng phương pháp 34
Hình 2 - 3: Gia cố thành hố đào thẳng đứng 36
Hình 2 - 4: Bố trí đường vận chuyển trên mép hố đào 38
Hình 2 - 5: Dựng thang hợp lý – góc nghiêng 750 42
Hình 2 - 6: Đầu thang được buộc cố định hoặc tì chắc chắn vào công trình 43
Hình 2 - 7: Chân giáo được kê ổn định lên các tấm gỗ 45
Hình 2 - 8: Phương tiện bảo hộ cá nhân phòng điện giật 49
Hình 2 - 9: Dây xích và dây cáp bị hỏng cần phải thay thế 51
Hình 2 - 10: Cần trục bánh lốp bị lật do cẩu quá tải 52
Hình 2 - 11: Thực hiện khóa máy khi không sử dụng 54
Hình 2 - 12: Công trường có nhiều gỗ phế liệu 55
Hình 3 - 1: Chung cư The Golden An Khánh – Phối cảnh dự án 57
Hình 3 - 2: Vị trí dự án 58
Hình 3 - 3: Vị trí dự án – lô HH6 59
Hình 3 - 4: Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ an toàn lao động tại một số công trường 64
Hình 3 - 5: Người lao động được chuẩn bị các dụng cụ bảo hộ lao động trên CTXD 66
Hình 3 - 6: Vụ tai nạn sập giàn giáo tại khu kinh tế Vũng Áng năm 2015 68
Hình 3 - 7: Một số công trường dung phương pháp Top-Down 72
Hình 3 - 8: Điều kiện làm việc khó khăn theo phương pháp Top-Down 74
Hình 3 - 9: Sơ đồ quản lý ATLĐ cho công tác hố móng 75
Hình 3 - 10: Hệ thống giàn giáo sẽ được sử dụng tại dự án HH6 77
Trang 6Hình 3 - 11: Sơ đồ quản lý ATLĐ cho công tác sử dụng giàn giáo 78
Hình 3 - 12: Sử dụng đai an toàn khi làm việc trên giàn giáo 80
Hình 3 - 13: Sơ đồ quản lý ATLĐ cho công tác sử dụng vận thăng và cần trục tháp 81
Hình 3 - 14: Các thiết bị vận tải phục vụ thi công trên cao 83
Hình 3 - 15: Sơ đồ quản lý ATLĐ khi sử dụng điện 85
Hình 3 - 16: An toàn cho trạm biến áp 86
Hình 3 - 17: An toàn cho các thiết bị chiếu sáng 87
Hình 3 - 18: Biện pháp an toàn khi hàn điện 88
Hình 3 - 19: Các thiết bị sử dụng điện cầm tay trên CTXD 89
Hình 3 - 20: Sơ đồ quản lý ATLĐ đối với công tác PCCC 91
Hình 3 - 21: Trang thiết bị phòng cháy chữa cháy cơ bản 92
Hình 3 - 22: Phòng lưu trữ vật liệu dễ cháy 93
Hình 3 - 23: Sơ đồ quản lý An toàn lao động trên công trường HH6 94
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 - 1: Kết quả tổng hợp sự tham gia của các Bộ, ngành và địa phương trong việc
phổ biến thông tin tuyên truyền về an toàn vệ sinh lao động năm 2011-2015 [4] 15
Bảng 1 - 2: Một số kết quả huấn luyện an toàn vệ sinh lao động từ 2011-2014 [4] 16
Bảng 1 - 3: Số lượng máy, thiết bị được kiểm định giai đoạn 2010-2015 17
Bảng 2 - 1: Hệ thanh chống cho hố đào 36
Bảng 2 - 2: Góc nghiêng của mái đào không chống 38
Bảng 3 - 1: Bảng quy định trách nhiệm của từng thành viên trong ban quản lý AT 96
Trang 8DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ Chữ viết tắt Diễn giải
ATLĐ An toàn vệ sinh lao động
ATLĐ&PCCN An toàn lao động – phòng cháy chữa cháy
CTQG Chương trình Quốc gia
DCĐCT Dụng cụ điện cầm tay
LĐTBXH Lao động thương binh xã hội
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển về kinh tế, xã hội, cùng với đó là sự phát triển không ngừng của ngành xây dựng, hiện nay các công trình xây dựng trên toàn quốc phát triển mạnh mẽ nên an toàn lao động trong xây dựng đang ngày càng được quan tâm Với đặc thù ngành nghề, thi công xây dựng công trình là một nghề có rất nhiều rủi ro, mức độ nguy hiểm cao, vì vậy đảm bảo an toàn lao động trong xây dựng
là một công tác bắt buộc trong quá trình thi công xây dựng công trình Trách nhiệm ngăn ngừa hạn chế tại nạn là trách nhiệm của toàn xã hội, là một công tác mang tính nhân văn Tuy nhiên, vấn đề đảm bảo an toàn cho người lao động tại các công trình xây dựng hiện chưa được chú trọng đúng mức
Dự án Chung cư cao tầng, dịch vụ thương mại HH6 - THE GOLDEN AN KHÁNH là một công trình lớn quy mô bao gồm 03 tòa nhà: 18T1, 18T2, 40T Tòa nhà 18T1 và 18T2 cao 18 tầng, tòa nhà 40T cao 40 tầng, thuộc khu đất 33 ha có chức năng hỗn hợp chung cư cao tầng và văn phòng, thương mại dịch vụ trong quần thể 288,8 ha của khu
đô thị Nam An Khánh Chính vì vậy việc đảm bảo an toàn lao động là một công tác quan trọng và chiếm chi phí lớn Vì vậy, cần có những biện pháp nhằm quản lý công tác này một cách hiệu quả
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng công trình HH6 - The Golden An Khánh” là rất cần thiết và có tính thực tiễn cao
2 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên hệ thống cơ sở lý luận về an toàn lao động và nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý an toàn lao động các dự án đầu tư xây dựng công trình để đề xuất một số giải pháp về tổ chức thực hiện và giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý an toàn lao động đối với công trình HH6 - The Golden An Khánh dưới góc độ Quản lý Nhà nước về ATLĐ
3 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu
a Cách tiếp cận
Trang 10Nghiên cứu những công trình khoa học, tài liệu đã công bố về công tác an toàn trong xây dựng
Các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn lao động trong xây dựng
b Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp điều tra khảo sát; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích so sánh; phương pháp chuyên gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Dự án xây dựng Chung cư cao tầng, dịch vụ thương mại HH6 - The Golden An Khánh
Để kiểm soát và đảm bảo An toàn lao động và Môi trường trong xây dựng phải dựa
vào bản kế hoạch xây dựng Chủ đầu tư phải căn cứ vào bản kế hoạch để đảm bảo An toàn lao động và Môi trường xây dựng đồng thời phân công cho các đơn vị chuyên trách, đơn vị phối hợp và các cá nhân chịu trách nhiệm cụ thể theo dõi, giám sát quá trình thi công, đôn đốc thực hiện các biện pháp bảo vệ an toàn lao động và môi trường Quá trình theo dõi, đôn đốc, giám sát trong thời gian thi công về mặt an toàn lao động
và môi trường là một quá trình tổ chức khoa học và thực tế
Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài luận văn mà học viên nghiên cứu được vận dụng cụ thể vào công tác quản lý An toàn lao động xây dựng cho dự án HH6 - The Golden An Khánh, qua đó nhằm đề xuất một số vấn đề tăng cường công tác quản lý An toàn vệ sinh lao động cho các dự án đầu
tư xây dựng Vì vậy, nôi dụng luận văn của học viên vừa mang ý nghĩa khoa học vừa mang ý nghĩa thực tế
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển về kinh tế, xã hội, cùng với đó là sự phát triển không ngừng của ngành xây dựng, hiện nay các công trình xây dựng trên toàn quốc phát triển mạnh mẽ nên an toàn lao động trong xây dựng đang ngày càng được quan tâm Nhưng lĩnh vực xây dựng cơ bản luôn được coi là ngành có nguy cơ cao về tai nạn lao động và thực tế đã xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng Trong những năm gần đây, số vụ tai nạn lao động trong lĩnh vực xây dựng xảy ra tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng về mức độ nghiệm trọng, chỉ tính riêng từ đầu năm 2015 đến nay đã có hàng chục vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đã được ghi nhận, chưa kể còn nhiều vụ nhỏ lẻ ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, vấn đề đảm bảo an toàn cho người lao động tại các công trình xây dựng hiện chưa được chú trọng đúng mức
Trong thời gian gần đây đã có một số vụ tai nạn lao động xảy ra trên các công trình đang xây dựng báo hiệu một vấn đề đáng được quan tâm, tai nạn lao động đã trở thành mối lo thường trực đối với nhiều công trình xây dựng, đáng tiếc hơn việc khắc phục sự
cố an toàn lao động gặp nhiều khó khăn và bài học rút ra từ đó chưa được coi trọng Đằng sau mỗi vụ tai nạn lao động, không chỉ là thiệt hại về tài sản cho cá nhân, tổ chức mà còn là những nỗi đau mất người thân, để lại nhiều hệ lụy cho xã hội
Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nguyên nhân dẫn đến các vụ tai nạn lao động là do có khoảng 80% công nhân ngành xây dựng là lao động tự do, lao động phổ thông, phần nhiều chưa được đào tạo bài bản về an toàn lao động Và một nguyên nhân quan trọng nữa đó là các nhà thầu xây dựng chưa thực sự quan tâm đúng mức tới công tác an toàn lao động cho chính những người lao động mà mình sử dụng Vì vậy, trong chương 1 của luận văn, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về các vấn
đề tổng quan trong công tác quản lý an toàn lao động ở lĩnh vực xây dựng
Trang 121.1 Khái quát chung về công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng
Mục đích của công tác quản lý an toàn lao động
1.1.1.
− Bảo đảm cho mọi người lao động những điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, thuận
lợi và tiện nghi nhất;
− Phòng tránh tai nạn lao động, ngăn ngừa bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, bảo vệ
sức khỏe, an toàn về tính mạng cho người lao động;
− Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho người lao động;
− Góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững nguồn nhân lực lao động;
− Nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà trước hết là của người lao động;
− Đây cũng là chính sách đầu tư cho chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hình 1 - 1: Công nhân trên công trường lao động
Yêu cầu của công tác quản lý an toàn lao động
Trang 13quy phạm, về an toàn lao động, vệ sinh lao động Các đơn vị sử dụng lao động có nghĩa vụ cụ thể hóa các quy định này cho phù hợp với đơn vị minh và nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định này Trong số 6 nhiệm vụ của thanh tra lao động thì nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành an toàn lao động, vệ sinh lao động được xếp hàng đầu
Có thể nói trong số các chế định của pháp luật lao động, chế định về an toàn lao động,
vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc cao mà các chủ thể hầu như ít được thỏa thuận như các chế định khác
a Yêu cầu chung đối với công trường xây dựng
Điều 3, Thông tư số 22/2010/TT- BXD ngày 03/12/2010[1] của Bộ Xây dựng: Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, công trường xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
− Tổng mặt bằng công trường xây dựng phải được thiết kế và phê duyệt theo quy định, phù hợp với địa điểm xây dựng, diện tích mặt bằng công trường, điều kiện khí
hậu tự nhiên nơi xây dựng, đảm bảo thuận lợi cho công tác thi công, an toàn cho người, máy và thiết bị trên công trường và khu vực xung quanh chịu ảnh hưởng của thi công xây dựng
− Vật tư, vật liệu phải được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp đúng theo thiết kế tổng mặt
bằng được phê duyệt Không được để các vật tư, vật liệu và các chướng ngại vật cản
trở đường giao thông, đường thoát hiểm, lối ra vào chữa cháy Kho chứa vật liệu dễ cháy, nổ không được bố trí gần nơi thi công và lán trại Vật liệu thải phải được dọn
sạch, đổ đúng nơi quy định Hệ thống thoát nước phải thường xuyên được thông thoát
bảo đảm mặt bằng công trường luôn khô ráo
− Trên công trường phải có biển báo theo quy định tại Điều 74 Luật Xây dựng[2] Tại
cổng chính ra vào phải có sơ đồ tổng mặt bằng công trường, treo nội quy làm việc Các
biện pháp đảm bảo an toàn, nội quy về an toàn phải được phổ biến và công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường như đường hào, hố móng, hố ga phải có rào chắn, biển cảnh báo và hướng
dẫn đề phòng tai nạn; ban đêm phải có đèn tín hiệu
− An toàn về điện:
Trang 14+ Hệ thống lưới điện động lực và lưới điện chiếu sáng trên công trường phải riêng rẽ;
có cầu dao tổng, cầu dao phân đoạn có khả năng cắt điện một phần hay toàn bộ khu
+ Trên công trường phải bố trí các thiết bị chữa cháy cục bộ Tại các vị trí dễ xảy ra cháy phải có biển báo cấm lửa và lắp đặt các thiết bị chữa cháy và thiết bị báo động, đảm bảo khi xảy ra cháy kịp thời phát hiện để ứng phó;
− Các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật có liên quan;
− Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài hoặc những công trình có sự tham gia của nhà thầu nước ngoài thì các quy định về an toàn lao động phải được thể hiện bằng
tiếng Việt và tiếng nước ngoài
b Yêu cầu khi thi công xây dựng
Điều 4, Thông tư số 22/2010/TT- BXD ngày 03/12/2010 của Bộ Xây dựng [1]: Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, khi thi công xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
− Trước khi khởi công xây dựng phải có thiết kế biện pháp thi công được duyệt, trong
biện pháp thi công phải thể hiện được các giải pháp đảm bảo an toàn lao động cho người lao động và máy, thiết bị thi công đối với từng công việc Trong thiết kế biện pháp thi công phải có thuyết minh hướng dẫn về kỹ thuật và các chỉ dẫn thực hiện
Trang 15− Thi công xây dựng phải tuân thủ theo thiết kế được duyệt, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật Đối với những công việc có yêu cầu phụ thuộc vào chất lượng của công việc trước đó, thì chỉ được thi công khi công việc trước đó đã được nghiệm thu đảm bảo chất lượng theo quy định
− Biện pháp thi công và các giải pháp về an toàn phải được xem xét định kỳ hoặc đột
xuất để điều chỉnh cho phù hợp với thực trạng của công trường
− Tổ chức, cá nhân phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc đảm nhận theo quy định Những người điều khiển máy, thiết bị thi công và những người thực
hiện các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được huấn luyện
an toàn lao động và có thẻ an toàn lao động theo quy định;
− Máy, thiết bị thi công có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định thì mới được phép hoạt động trên công trường Khi hoạt động, máy và thiết bị thi công phải tuân thủ quy trình, biện pháp đảm bảo an toàn
Trường hợp khi hoạt động, thiết bị thi công vượt khỏi phạm vi mặt bằng công trường thì chủ đầu tư phải phê duyệt biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình trong, ngoài công trường chịu ảnh hưởng của thi công xây dựng
Trường hợp do điều kiện thi công, thiết bị phải đặt ở ngoài phạm vi công trường và trong thời gian không hoạt động nếu các thiết bị thi công vươn ra khỏi phạm vi công trường thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định của địa phương Những người khi tham gia thi công xây dựng trên công trường phải được khám sức khỏe, huấn luyện về an toàn và được cấp phát đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân theo quy định của pháp luật về lao động
Thực hiện toàn diện và đồng bộ an toàn lao động
Trang 16Bất kỳ ở đâu có tiếp xúc với máy móc, công cụ lao động thì ở đó phải có an toàn lao động
Đề cao và đảm bảo quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong việc
1.1.2.3.
thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động
Công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính quần chúng rộng rãi, do vậy chúng là một nội dung quan trọng thuộc chức năng của bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động của tổ chức công đoàn
Trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình, Công đoàn được quyền tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng như xây dựng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động Trong phạm
vi đơn vị cơ sở, tổ chức công đoàn phối hợp với người sử dụng lao động tuyên truyền giáo dục người lao động tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động Công đoàn còn tham gia thực hiện quyền kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Tôn trọng các quyền của công đoàn và đảm bảo để công đoàn làm tròn trách nhiệm của mình trong lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động là trách nhiệm của người
sử dụng lao động và các bên hữu quan
Vai trò của công tác quản lý an toàn lao động
Chăm lo đến sức khoẻ, tính mạng, đời sống của người lao động
Xây dựng đội ngũ công nhân lao động vững mạnh cả về số lượng và thể chất
Vai trò về mặt pháp lý
1.1.3.2.
An toàn lao động mang tính pháp lý vì mọi chủ trương của Đảng, Nhà nước, các giải pháp khoa học công nghệ, các biện pháp tổ chức xã hội đều được thể chế hoá bằng các quy định luật pháp Nó bắt buộc mọi tổ chức, mọi người sử dụng lao động cũng như người lao động thực hiện
Trang 17Vai trò về mặt khoa học
1.1.3.3.
Được thể hiện ở các giải pháp khoa học kỹ thuật để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và
có hại thông qua việc điều tra, khảo sát, phân tích và đánh giá điều kiện lao động, biện pháp kỹ thuật an toàn, phòng cháy chữa cháy, kỹ thuật vệ sinh, xử lý ô nhiễm môi trường lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân
Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến để phòng ngừa, hạn chế tai nạn lao động xảy ra
Nó còn liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường sinh thái, vì thế hoạt động khoa học
về an toàn lao động góp phần quyết định trong việc giữ gìn môi trường trong sạch
Vai trò về tính quần chúng
1.1.3.4.
Nó mang tính quần chúng vì đó là công việc của đông đảo những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất Họ là người có khả năng phát hiện và đề xuất loại bỏ các yếu tố có hại và nguy hiểm ngay chỗ làm việc
Mọi cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật đều có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ của công tác an toàn lao động
Ngoài ra các hoạt động quần chúng như phong trào thi đua, tuyên truyền, hội thi, hội thao, giao lưu liên quan đến an toàn lao động đều góp phần quan trọng vào việc cải thiện không ngừng điều kiện làm việc, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.2 Điều kiện lao động và chủ thể quản lý an toàn lao động trong xây dựng
Điều kiện lao động trong ngành xây dựng
1.2.1.
Lao động trong ngành xây dựng có đặc thù: công việc thường được tiến hành ngoài trời, trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, phức tạp, địa bàn lao động luôn thay đổi, do
đó điều kiện lao động của công nhân có những đặc điểm sau:
- Chỗ làm việc của công nhân luôn thay đổi ngay trong phạm vi một công trình, phụ thuộc vào tiến độ xây dựng, do đó điều kiện lao động cũng thay đổi theo
- Trong ngành xây dựng có nhiều nghề, nhiều công việc nặng nhọc (như thi công đất,
bê tông, vận chuyển vật liệu ), mức độ cơ giới hóa thi công còn thấp nên phần lớn
Trang 18công việc và công nhân phải làm thủ công, tốn nhiều công sức và năng suất lao động thấp, yếu tố rủi ro còn nhiều
- Có nhiều công việc buộc người công nhân phải làm việc ở tư thế gò bó, nhiều công việc phải làm ở trên cao, những chỗ chênh vênh nguy hiểm, lại có những việc làm ở sâu dưới đất, dưới nước, nên có nhiều nguy cơ tai nạn
- Nhiều công việc tiến hành trong môi trường độc hại, ô nhiễm (bụi, hơi, khí độc, tiếng ồn ) nhiều công việc thực hiện ở ngoài trời, chịu ảnh hưởng xấu của khí hậu, thời tiết như nắng gắt, mưa gió làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người lao động
- Do địa bàn luôn thay đổi nên điều kiện ăn ở, sinh hoạt khó khăn, thường là tạm bợ, công tác vệ sinh lao động chưa được quan tâm đúng mức Chính những yếu tố đó cũng
là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ốm đau, bệnh tật và tai nạn cho người lao động
- Người lao động chưa được đào tạo một cách có hệ thống nên trong xử lý công việc,
xử lý tình huống còn lúng túng, thậm chí thao tác sai dẫn đến tai nạn lao động
Qua phân tích như trên ta thấy rằng điều kiện lao động trong ngành xây dựng có nhiều khó khăn phức tạp, nguy hiểm và độc hại, cho nên phải hết sức quan tâm đến cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động trong quá trình lao động
Các chủ thể quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng
1.2.2.
− Chủ đầu tư: Là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn
dự án đầu tư xây dựng Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, chủ đầu tư xây dựng công trình có trách nhiệm[1]:
+ Thành lập bộ phận chuyên trách hoặc kiêm nhiệm để kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn lao động của nhà thầu thi công xây dựng trên công trường
+ Lựa chọn Nhà thầu có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc đảm nhận theo quy định của pháp luật về xây dựng
+ Tạm dừng thi công và yêu cầu Nhà thầu khắc phục khi phát hiện dấu hiệu vi phạm quy định về an toàn lao động của nhà thầu Nếu nhà thầu không khắc phục thì Chủ đầu
tư phải đình chỉ thi công hoặc chấm dứt hợp đồng
Trang 19+ Phối hợp với Nhà thầu xử lý, khắc phục khi xảy ra sự cố hoặc tai nạn lao động, đồng thời báo cáo với các cơ quan chức năng về tình hình an toàn lao động của dự án, công trình theo quy định của pháp luật về lao động
− Ban Quản lý dự án: Ban quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ do Chủ đầu tư giao và quyền hạn do Chủ đầu tư ủy quyền Ban Quản lý dự án chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư, pháp luật theo nhiệm vụ được giao và quyền hạn được ủy quyền
− Tư vấn: là tổ chức hoặc cá nhân hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực tư vấn xây
dựng hoặc là các chuyên gia tư vấn có kiến thức rộng trong lĩnh vực xây dựng
Theo Điều 7 Thông tư số 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010, Bộ Xây dựng, 2010 [1]: Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, Ban quản lý dự
án hoặc Tư vấn quản lý dự án và tư vấn giám sát thi công xây dựng có trách nhiệm:
+ Giám sát việc thực hiện của Nhà thầu tuân thủ các biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn đã được phê duyệt; tuân thủ các quy phạm kỹ thuật an toàn trong thi công xây dựng
+ Thông báo cho Chủ đầu tư những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến an toàn trong quá trình thi công để có các giải pháp xử lý và điều chỉnh biện pháp thi công cho phù hợp
+ Kiểm tra, báo cáo chủ đầu tư xử lý vi phạm, dừng thi công và yêu cầu khắc phục khi Nhà thầu thi công vi phạm các quy định về an toàn trên công trường
− Nhà thầu: là tổ chức hoặc cá nhân thực hiện công tác xây dựng Những tổ chức, cá nhân này có đủ năng lực và chuyên nghiệp trong hoạt động xây dựng Theo Điều 6, Thông tư số 22/2010/TT- BXD ngày 03/12/2010 của Bộ Xây dựng [1]: Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình, Nhà thầu thi công xây dựng công trình bao gồm cả tổng thầu, nhà thầu chính và nhà thầu phụ trên công trường có trách nhiệm:
+ Lập và phê duyệt thiết kế biện pháp thi công, trong đó quy định rõ các biện pháp
bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình Định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra
thực tế các diễn biến trên công trường để điều chỉnh biện pháp thi công, biện pháp an toàn lao động cho phù hợp
Trang 20+ Tuyển chọn và bố trí người lao động kỹ thuật trên công trường đúng chuyên môn được đào tạo, đủ năng lực hành nghề, đủ sức khỏe theo quy định của pháp luật Đồng
thời cung cấp đầy đủ các trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động
+ Thành lập mạng lưới và bộ phận quản lý công tác an toàn lao động trên công trường; đồng thời quy định cụ thể công việc thực hiện và trách nhiệm đối với những cá nhân quản lý công tác an toàn lao động trong quá trình thi công
+ Tổ chức tập huấn và huấn luyện về an toàn cho đội ngũ làm công tác an toàn và người lao động thuộc quyền quản lý theo quy định
+ Kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn lao động theo biện pháp đã được phê duyệt, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan
+ Chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư khắc phục hậu quả, khai báo, điều tra, lập biên bảnkhi xảy ra sự cố công trình xây dựng, tai nạn lao động trên công trường
+ Thực hiện công tác kiểm định, đăng ký (nếu có), bảo dưỡng máy và thiết bị nhằmđảm bảo an toàn cho người lao động và công trình theo quy định
− Bộ phận an toàn, vệ sinh lao động: là bộ phận tham mưu, giúp việc cho người sử
dụng lao động trong việc tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các
hoạt động an toàn, vệ sinh lao động
bảo kỹ thuật an toàn lao động
Trong những năm gần đây, công tác bảo hộ lao động đã được Nhà nước, các bộ ngành, đoàn thể và doanh nghiệp quan tâm đầu tư nên nhận thức của người lao động ngày
T
Chủ đầu tưBan QLDA
Bộ phận
Cán bộ ATLĐ
Trang 21càng được nâng lên rõ rệt Cùng với những thành tựu đã đạt được về phát triển kinh tế
và xã hội đất nước, công tác an toàn lao động cũng có những chuyển biến tích cực, các
cơ sở có nhiều sáng tạo, cải tiến hợp lý hoá sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh Hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn và bảo đảm thực thi chế
độ, chính sách về an toàn lao động cho người lao động được ban hành tương đối đầy
đủ và thường xuyên được bổ sung, sửa đổi phù hợp với tình hình mới Bộ máy tổ chức
và cán bộ làm công tác an toàn lao động bước đầu được củng cố từ cơ quan quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp, trong đó nổi bật là việc thành lập được Hội đồng Quốc gia về an toàn lao động sau 10 năm triển khai Bộ luật Lao động và việc phát triển mạng lưới an toàn – vệ sinh viên với hơn 153 nghìn người [3]
Công tác thông tin, tuyên truyền được đổi mới, đa dạng hóa dưới nhiều hình thức: Mỗi năm có trên 15 nghìn cuốn sách, 8 vạn tranh áp phích và 50 vạn tờ rơi về an toàn vệ sinh lao động được phát hành; nhiều phóng sự, phim chuyên đề và các buổi tọa đàm, các chương trình giải trí với chủ đề an toàn vệ sinh lao động được xây dựng và phát trên truyền hình, Đài tiếng nói Việt Nam Website an toàn vệ sinh lao động của Việt Nam đã có hơn 1 triệu lượt người khai thác thông tin Đặc biệt, Tuần lễ Quốc gia về an toàn vệ sinh lao động hàng năm đã trở thành ngày hội của đông đảo người sử dụng lao động và người lao động trong cả nước Hoạt động huấn luyện an toàn vệ sinh lao động
đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung và phương pháp huấn luyện Số người được huấn luyện năm sau cao hơn năm trước, từ năm 2000-2004, trung bình mỗi năm huấn luyện cho trên 70 nghìn lượt cán bộ quản lý, trên 15 nghìn lượt chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, trên 700 nghìn lượt cán bộ làm công tác an toàn lao động, y tế tại doanh nghiệp và hàng triệu người lao động Công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật về an toàn vệ sinh lao động đã được chú trọng và đẩy mạnh ở các
bộ, ngành và các doanh nghiệp lớn Từ năm 2000-2004, gần 100 đề tài và dự án cấp nhà nước và cấp bộ đã được nghiên cứu, ứng dụng, triển khai phục vụ sản xuất Các hoạt động hợp tác quốc tế về an toàn lao động đã được tăng cường và mở rộng với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đan Mạch, Cộng hoà Liên bang Đức và các tổ chức quốc
tế ILO, WTO, WB, ADB , thu hút hơn 100 tỷ đồng viện trợ không hoàn lại và các hỗ
Trang 22trợ kỹ thuật khác, giúp Việt Nam giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế [3]
Đối với công tác bảo hộ lao động trong ngành xây dựng cũng đạt được nhiều thành tựu
to lớn, các doanh nghiệp được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo hộ,như quần áo mũ cho người lao động các nhà thầu xây dựng ngày càng trang bị đầy đủ vật tư, giàn giáo Máy công trình, người lao động tránh làm việc trực tiếp với công việc nặng nhọc, giảm thiểu khả năng gây tai nạn [3]
Hoạt động thông tin, truyền thông về an toàn lao động
vụ hàng đầu nhằm nâng cao hiểu biết, kỹ năng phòng tránh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động
Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2281/QĐ-TTg phê duyệt CTQG về an toàn vệ sinh lao động giai đoạn 2010-2015 [3], trong đó có Dự án 3: “Tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện, tư vấn và hỗ trợ áp dụng các biện pháp kỹ thuật về an toàn vệ sinh lao động, thuộc Chương trình Quốc gia về an toàn vệ sinh lao động giai đoạn 2011- 2015”
Tại các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, các hoạt động thông tin, tuyên truyền về
an toàn vệ sinh lao động ngày càng được quan tâm và đẩy mạnh triển khai rộng khắp trong phạm vi cả nước dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng Dưới đây là một số kết quả và hình thức tuyên truyền an toàn vệ sinh lao động phổ biến:
- Tuyên truyền qua hệ thống truyền thông đại chúng;
- Các hoạt động in, phát hành ấn phẩm tuyên truyền an toàn vệ sinh lao động;
Trang 23- Các hoạt động tuyên truyền tư vấn trực tiếp tới các doanh nghiệp, làng nghề, hợp tác
xã, bà con nông dân
Bảng 1 - 1: Kết quả tổng hợp sự tham gia của các Bộ, ngành và địa phương trong việc phổ biến thông tin tuyên truyền về an toàn vệ sinh lao động năm 2011-2015 [3]
STT
Số làng nghề được phổ biến thông tin
Số HTX được phổ biến thông tin
Số DN VN được phổ biến thông tin
Số DN ứng dụng hiệu quả hệ thống quản lý
9 Phòng Thương mại và Công nghiệp
10 Liên minh Hợp tác xã
Trang 24− Tổ chức các hoạt động hưởng ứng tuần lễ quốc gia về an toàn vệ sinh lao động tại
cấp doanh nghiệp, cơ sở;
− Thông tin, phổ biến các chính sách, văn bản pháp luật về an toàn vệ sinh lao động qua tập huấn, phổ biến thông tin cho người lao động;
− Tổ chức tuyên truyền, phát hiện các nguy cơ, rủi ro về an toàn vệ sinh lao động đối
với các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động;
− Tổ chức các hoạt động đào tạo, huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động; tổ chức tư vấn, tuyên truyền, cung cấp thông tin về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động;
− Tổ chức các hội thi, sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc, ký giao ước thi đua giữa các phân xưởng, tổ đội trong tháng hành động vì mục tiêu không tai nạn lao động;
− Các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật, chia sẻ kinh nghiệm về an toàn vệ sinh lao động cho người lao động
Hoạt động giáo dục, đào tạo, huấn luyện về an toàn lao động
1.3.2.
Bình quân từ 2011 đến năm 2014, mỗi năm có trên 46.000 người làm các nghề, công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động; 46.000 người làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 25.000 cán bộ làm công tác an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp được huấn luyện và hỗ trợ huấn luyện an toàn vệ sinh lao động Riêng huấn luyện cán bộ làm công tác an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, khoảng trên 24.000 người mỗi năm
Bảng 1 - 2: Một số kết quả huấn luyện an toàn vệ sinh lao động từ 2011-2014 [3]
TT Đối tượng huấn luyện Thực hiện
2011 2012 2013 2014
1 Người sử dụng lao động, cán bộ
2 Người lao động làm nghề nặng nhọc,
độc hại nguy hiểm 31.737 60.876 64.623 35.431
3 Người làm nghề, công việc có yêu cầu
nghiêm ngặt về AT,VSLĐ 39.952 53.016 60.085 28.248
Từ 2011- 2015, người làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động ngành lao động từ cấp Trung ương đến cấp xã, phường đều được huấn luyện ít nhất 01
Trang 25lần, tổng số lượt huấn luyện là 35.597 người (Năm 2011 huấn luyện 8.162 người; năm
2012 huấn luyện 11.823 người; năm 2013 là 10.741 người làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động năm 2014 là 4.894 người)
Hoạt động kiểm định, kiểm tra chất lượng hàng hóa sản phẩm thuộc lĩnh vực
1.3.3.
an toàn lao động
Đến năm 2015, Cục An toàn lao động - Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội đã chỉ định được 57 tổ chức kiểm định và cấp chứng chỉ được cho 609 kiểm định viên; hoạt động huấn luyện nghiệp vụ cho kiểm định viên cũng đang được triển khai thực hiện Chất lượng công tác kiểm định kỹ thuật các máy thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động đang từng bước được cải thiện [5]
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, do vậy
số lượng máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt được đưa vào sản xuất ngày càng lớn Theo số liệu từ các tổ chức kiểm định, các Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội báo cáo tình hình kiểm định các máy, thiết bị trong giai đoạn 2010-2015 là:
Bảng 1 - 3: Số lượng máy, thiết bị được kiểm định giai đoạn 2010-2015 [5]
sử dụng máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phân chia theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất là 82,1%; doanh nghiệp FDI chiếm 81,6 %; khối hợp tác xã chiếm 8,7 % [5]
Trang 261.4 Tình trạng vi phạm quy định về an toàn lao động
Tổng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực của ngành (xây dựng, sản xuất vật liệu
xây dựng, tư vấn xây dựng và kinh doanh bất động sản) theo báo cáo của Bộ Xây dựng
và Tổng Cục thống kê tính đến năm 2014 gồm 72.190 đơn vị [6]
Ta nhận thấy, ngành xây dựng có hơn 70.000 doanh nghiệp lớn nhỏ, chiếm tới 10% lực lượng lao động của cả nước Tuy nhiên, số vụ tai nạn lao động và số người chết do tai nạn lao động trong ngành xây dựng chiếm tới 1/4 tổng số vụ tai nạn ở tất cả các ngành nghề
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số lượng vụ tai nạn và số người chết vì tai nạn lao động trong ngành xây dựng liên tục tăng trong những năm gần đây Nếu như năm 2014, số vụ tai nạn lao động trong ngành xây dựng chiếm 33,1% tổng số vụ tai nạn, thì đến năm 2015 tăng lên 35,2% Tính riêng 6 tháng đầu năm 2016, số vụ tai nạn lao động trong ngành xây dựng chiếm 21,6% tổng số vụ tai nạn Tương ứng với số vụ tai nạn lao động nêu trên thì số người chết do tai nạn lao động trong ngành xây dựng chiếm 33,9% tổng số người chết do tai nạn vào năm 2014
và tăng lên 37,9% vào năm 2015 Riêng 6 tháng đầu năm 2016, tỷ lệ này là 22,3% Bên cạnh đó thực tế còn tình trạng các vụ tai nạn lao động xảy ra tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được báo cáo, thống kê đầy đủ [5]
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong tổng số các vụ tai nạn lao động ngành xây dựng, có tới 55% do ngã cao, 24% do các vấn đề về điện, 10% do sập đổ thiết bị trên công trình, 10% do không có, không sử dụng hoặc có nhưng không bảo đảm chất lượng về phương tiện bảo vệ cá nhân [5]
Từ hình 1-3 cho thấy công trình đang thi công không tuân thủ quy định về an toàn lao động trong việc lắp đặt hệ thống giàn giáo đạt chuẩn Bên cạnh đó là việc công nhân không được trang bị bảo hộ lao động Và những hình ảnh tương tự đều rất dễ có thể bắt gặp ở nhiều công trường thi công xây dựng
Trang 27Hình 1 - 3: Công trình xây dựng ở phố Đền Lừ, Hoàng Mai, Hà Nội
Công tác an toàn vệ sinh lao động tại các công trường xây dựng còn nhiều thiếu sót, hầu hết vẫn mang tính chất chiếu lệ, đối phó Các công trường đều có một số vấn đề về
an toàn vệ sinh lao động, như trong tổ chức mặt bằng công trường; huấn luyện, trang
bị phương tiện bảo hộ lao động cho công nhân, quản lí sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn Các công trình đã kiểm tra có vi phạm như không nối đất vỏ các tủ điện, dây dẫn điện không treo mà rải dưới đất (kể cả trên mặt sàn đọng nước), không sử dụng ổ cắm chuyên dụng hoặc sử dụng thiết bị điện cầm tay nhưng không thực hiện đo cách điện trước khi đưa vào sử dụng Về phòng chống cháy nổ, hầu hết các công trình đã kiểm tra đều không có hoặc có nhưng không đầy đủ các phương án PCCC, cứu nạn cho công trường Việc bố trí thiết bị chữa cháy cục bộ tại các khu vực đang thực hiện những công việc dễ xảy ra cháy vẫn chưa đầy đủ, nhiều công trình bố trí thiếu số lượng bình chữa cháy, tiêu lệnh chữa cháy tại những vị trí này Các công trường không trang bị đủ bảo hộ lao động cho công nhân, phổ biến là thiếu quần, giầy bảo hộ lao động Việc sử dụng phương tiện bảo hộ lao động của công nhân cũng còn
nhiều vấn đề, thường là công nhân không sử dụng đủ trang bị bảo hộ lao động được cấp, nhiều trường hợp không mang giầy bảo hộ, không đội mũ bảo hộ, không đeo dây đai an toàn khi làm việc trên cao
Trang 28Thực tế cho thấy, tình hình doanh nghiệp vi phạm về an toàn vệ sinh lao động khá phổ biến Theo thống kê, chỉ 37% doanh nghiệp thực hiện các chỉ tiêu cơ bản về quy định đảm bảo an toàn vệ sinh lao động Tại hội thảo góp ý dự thảo luật ATLĐ do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tổ chức gần đây, các chuyên gia nhận định, nguyên nhân gây tai nạn lao động chủ yếu do sự chủ quan, thờ ơ của chủ doanh nghiệp Các lỗi vi phạm chủ yếu về làm thêm giờ quá quy định; không huấn luyện an toàn vệ sinh lao động; không kiểm tra, tu sửa máy móc định kỳ; không kiểm định thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động trước khi đưa vào sử dụng Bên cạnh đó, còn do nhận thức
về an toàn vệ sinh lao động của người lao động hạn chế, ý thức tuân thủ các quy định lao động chưa cao Nạn nhân chủ yếu là lao động phổ thông ký hợp đồng làm việc thời
vụ (chiếm 40% tổng số vụ tai nạn lao động) Số này hầu hết ở các vùng quê lên thành phố kiếm sống, làm việc theo kinh nghiệm, thiếu kiến thức và ý thức về an toàn vệ sinh lao động
Kết luận chương 1
Trong chương 1, tác giả đã tập trung đánh giá tổng quan về khái quát chung về công tác quản lý an toàn lao động trong xây đối với tình hình chấp hành các quy định về an toàn lao động, tình hình đảm bảo kỹ thuật an toàn lao động và tình trạng vi phạm quy định về an toàn lao động
Về công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng đối với tình hình chấp hành các quy định về an toàn lao động, tác giả đưa ra các vấn đề mục đích của công tác quản lý
an toàn lao động, các yêu cầu về công tác quản lý an toàn lao động và vai trò nhiệm vụ của công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng
Về tình hình đảm bảo kỹ thuật an toàn lao động, ở các công trường nếu tổ chức thi công chặt chẽ, đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định an toàn được đưa ra ở trên, thì công trường nơi đó số vụ tai nạn lao động được giảm thiểu, ngược lại ta thấy số vụ tai nạn tăng lên Do đó công tác tổ chức thi công tại các công trường hiện nay cần phải được quan tâm nhiều hơn nữa, khâu tổ chức thi công tốt, hợp lý đúng qui trình kỹ thuật thi công thì sẽ giúp hạn chế tai nạn lao động Đặc biệt cần phải quan tâm đến việc thực hiện tốt các yêu cầu, các qui định về an toàn lao động do nhà nước ban hành hướng dẫn và thực hiện Bên cạnh đó phải thường xuyên kiểm tra, theo dõi và có biện pháp chế tài nếu vi phạm Bộ phận kỹ thuật thi công phải có kiến thức tốt và có nhiều kinh nghiệm để kiểm tra và thực hiện công việc nhằm mục đích vạch ra phương án tổ chức
Trang 29thi công cho từng hạng mục công việc, từng bộ phận và cho toàn bộ công trình Có phương án tổ chức thi công tốt, có bộ phận tổ chức thi công tốt tất yếu sẽ tác động tích cực đến công tác an toàn lao động trên các công trường Như vậy công tác quản lý an toàn lao động và những yếu tố ảnh hưởng đến an toàn lao động trong thi công xây dựng là những vấn đề cần được nghiên cứu đánh giá một cách khoa học, để từ đó đưa
ra nhận định khách quan và có đề xuất hữu hiệu nhất trong công tác quản lý an toàn lao động
Tình trạng vi phạm quy định về an toàn lao động hiện nay tại các công trường xây dựng đang diễn ra khá phổ biến, tai nạn lao động chủ yếu do sự chủ quan, thờ ơ của chủ doanh nghiệp Các lỗi vi phạm chủ yếu về làm thêm giờ quá quy định; không huấn luyện an toàn vệ sinh lao động; không kiểm tra, tu sửa máy móc định kỳ; không kiểm định thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động trước khi đưa vào sử dụng Bên cạnh đó, còn do nhận thức về an toàn vệ sinh lao động của người lao động hạn chế, ý thức tuân thủ các quy định lao động chưa cao
Vì những tồn tại trên đây, vấn đề đặt ra đối với ngành Xây dựng về công tác an toàn lao động là phải có các giải pháp tăng cường công tác quản lý an toàn lao động trong quá trình thi công các công trình xây dựng Đây cũng là hướng nghiên cứu của tác giả
để áp dụng trong xây dựng công trình HH6 - The Golden An Khánh
Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ nghiên cứu những vấn đề sau:
- Phân tích các điều kiện cụ thể về biện pháp tổ chức thi công công trình HH6 - The Golden An Khánh để đánh giá biện pháp đảm bảo an toàn của đơn vị thi công;
- Thực trạng về công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng nhà cao tầng và đánh giá các nguy cơ có thể xảy ra mất an toàn trên công trường công trình HH6 - The Golden An Khánh;
- Dựa trên những cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn về an toàn lao động cũng như những nguy cơ mất an toàn đối với từng công việc cụ thể của công trình để
đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự quản lý an toàn lao động trong quá trình thi công
Trang 30CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG
2.1 Cơ sở pháp lý về an toàn lao động trong xây dựng
Chủ trương, chính sách của Việt Nam liên quan đến an toàn lao động
2.1.1.
Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động là một chủ trương, chính sách lớn và nhất quán của Đảng ta từ khi thành lập đến nay, được thể hiện trong các Văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội và trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Giai đoạn 2010 - 2015 chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện ở các văn kiện và văn bản sau:
- Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ "Chăm
lo bảo hộ lao động; cải thiện điều kiện làm việc; hạn chế tai nạn lao động"; "Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản và các chế độ, chính sách khác đối với lao động nữ"
- Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 18/9/2013 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác an toàn
vệ sinh lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế[7] Một số nhiệm vụ chính mà Chỉ thị đã nêu rõ là:
(1) Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức chủ động bảo đảm an toàn vệ sinh lao động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân;
(2): Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao hiểu biết, kỹ năng phòng ngừa tránh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo đảm vệ sinh lao động cho người lao động; (3) Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất, sử dụng trang thiết bị bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động;
(4) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động Hoàn thiện hệ thống pháp luật về an toàn vệ sinh lao động phù hợp với các quy định, công
Trang 31ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Nâng cao hiệu quả hoạt động, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức công đoàn, các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện an toàn vệ sinh lao động;
(5) Phát động phong trào quần chúng xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc Đổi mới cơ chế, chính sách, đa dạng hóa nguồn lực xã hội trong thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động;
(6) Đổi mới cơ chế, chính sách trong công tác an toàn lao động theo hướng ưu tiên cho các hoạt động phòng ngừa, quản lý rủi ro, làm rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đầu tư cho công tác an toàn vệ sinh lao động Có cơ chế đầu tư cho các hoạt động cảnh báo, phòng ngừa, quản lý rủi ro, phục hồi chức năng cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”…
- Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy chỉ rõ[8]: “ việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy là một tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, cơ quan, đơn vị, đoàn thể, hội viên, cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động”; “ Vận động cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động thấy rõ trách nhiệm, tự giác chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; ”; “Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải lấy phòng ngừa là chính; ”
Quy định về an toàn lao động thi công nhà cao tầng
Về điều kiện an toàn khi thi công, không được phép thi công khi chưa có đầy đủ các
hồ sơ thiết kế biện pháp kỹ thuật và tổ chức thi công, trong đó phải thể hiện các biện pháp kỹ thuật đảm bảo an toàn lao động và phòng chống cháy, nổ; người lao động làm việc trên công trường phải sử dụng đúng và đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân theo quy định; phải có hệ thống chống sét bảo vệ toàn bộ công trường trong quá trình thi công xây dựng
Trang 32Về công tác chiếu sáng, trên công trường phải bố trí hệ thống đèn chiếu sáng đầy đủ trên các tuyến đường giao thông và các khu vực đang thi công về ban đêm Không cho phép làm việc ở những chỗ không được chiếu sáng Chiếu sáng tại chỗ làm việc từ 100 đến 300 lux, chiếu sáng chung từ 30 đến 80 lux;
Đối với công tác vệ sinh lao động, mọi vị trí làm việc trên công trường đều phải giữ gọn gàng, ngăn nắp Các thiết bị, dụng cụ luôn phải đặt đúng nơi quy định Các chất thải, vật liệu thừa phải được thu dọn thường xuyên Khi trên công trường xây dựng có nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ hoặc ở những công trường có chứa các nguồn phóng xạ
tự nhiên, cần phải tuân thủ theo quy định hiện hành của Nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ
Về công tác giám sát an toàn lao động, công trường phải có sổ nhật ký an toàn lao động và ghi đầy đủ tình hình sự cố, tai nạn, biện pháp khắc phục và xử lý trong quá trình thi công
Đối với kỹ thuật an toàn lao động, người lao động làm việc trên cao và dưới hầm sâu phải có túi đựng dụng cụ đồ nghề Không được thả, ném các loại vật liệu, dụng cụ, đồ nghề trên cao xuống; khi làm việc trên cao (từ 2 m trở lên) hoặc chưa đến độ cao đó, nhưng dưới chỗ làm việc có các vật chướng ngại nguy hiểm, thì phải trang bị dây an toàn cho người lao động hoặc lưới bảo vệ; không được thi công cùng một lúc ở hai hoặc nhiều tầng trên một phương thẳng đứng, nếu không có thiết bị bảo vệ an toàn cho người làm việc ở dưới; không được làm việc trên giàn giáo, mái nhà hai tầng trở lên khi mưa to, giông, bão hoặc có gió từ cấp 5 trở lên; sau mỗi đợt mưa bão, có gió lớn hoặc sau khi ngừng thi công nhiều ngày, phải kiểm tra lại các điều kiện an toàn trước khi thi công tiếp
Tổ chức các bộ phận phục vụ công tác an toàn lao động
2.1.2.2.
Trong lĩnh vực thi công công trình xây dựng, người sử dụng lao động phải tổ chức các
bộ phận an toàn lao động, bộ phận Y tế và hội đồng an toàn lao động
Đối với bộ phận an toàn lao động, đơn vị thi công phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ bán chuyên trách nếu sử dụng dưới 50 người lao động; hoặc ít nhất 01 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ
Trang 33chuyên trách nếu sử dụng từ 50 đến dưới 300 người lao động phải bố trí; hoặc phải bố trí ít nhất 02 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách nếu sử dụng từ 300 đến dưới 1.000 người lao động; hoặc phải thành lập phòng an toàn
- vệ sinh lao động hoặc bố trí ít nhất 03 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách nếu sử dụng sử dụng trên 1.000 người lao động [10]
Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách phải có trình
độ thuộc các chuyên ngành khối kỹ thuật công trình Xây dựng và có kinh nghiệm làm việc trong thi công công trìnhXây dựng tương ứng Cụ thể là: có trình độ đại học và ít nhất 01 năm kinh nghiệm; hoặccó trình độ cao đẳng và ít nhất 03 năm kinh nghiệm; hoặc có trình độ trung cấphoặc trực tiếp làm các công việc kỹ thuật và có 05 năm kinh nghiệm [10]
Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ bán chuyên trách có trình độ thuộc các chuyên ngành khối kỹ thuật công trình Xây dựng và có kinh nghiệm làm việc trong thi công công trìnhXây dựng tương ứng Cụ thể là: có trình độ đại học; hoặc
có trình độ cao đẳng và có ít nhất 01 năm kinh nghiệm; hoặc có trình độ trung cấphoặc trực tiếp làm các công việc kỹ thuật và có 03 năm kinh nghiệm [10]
Đối với việc tổ chức bộ phận Y tế, đơn vị thi công công trình xây dựng phải tổ chức bộ phận y tế tại cơ sở bảo đảm các yêu cầu tối thiểu ít nhất phải có 01 người làm công tác
y tế trình độ trung cấp đối với Đơn vị sử dụng dưới 500 người lao động; hoặc ít nhất phải có 01 y sỹ và 01 người làm công tác y tế trình độ trung cấp đối với Đơn vị sử dụng từ 500 đến dưới 1.000 người lao động; hoặc phải có 01 bác sỹ và 1 người làm công tác y tế khác đối với Đơn vị sử dụng trên 1.000 người lao động [10]
Người làm công tác y tế ở cơ sở phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:Có trình độ chuyên môn y tế bao gồm: bác sỹ, bác sỹ y tế dự phòng, cử nhân Điều dưỡng, y sỹ, Điều dưỡng trung học, hộ sinh viên;Có chứng chỉ chứng nhận chuyên môn về y tế lao động [10].Trường hợp không bố trí được người làm công tác y tế hoặc không thành lập được bộ phận y tế, đơn vịphảiký hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực (cung cấp đủ số lượng người làm công tác y tế; có mặt kịp thời tại hiện trường khi
Trang 34xảy ra các trường hợp khẩn cấp trong thời hạn 30 phút đối với vùng đồng bằng, thị xã, thành phố và 60 phút đối vùng núi, vùng sâu, vùng xa) [10]
Việc tổ chức hội đồng an toàn - vệ sinh lao động cơ sở,các đơn vị thi công công trình xây dựng bắt buộc phải thành lập hội đồng an toàn – vệ sinh lao động khi sử dụng từ trở lên Đối với các đơn vị sử dụng dưới 300 người lao động, thành lập Hội đồng an toàn - vệ sinh lao động nếu thấy cần thiết và đủ Điều kiện để hoạt động [10]
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác an toàn lao động thi công nhà cao tầng
Thiết kế và thi công công trình
2.2.1.
Về nguyên nhân do thiết kế công trình: Thông thường tai nạn xảy ra do nguyên nhân này ít, nhưng khi xảy ra thì hết sức nghiêm trọng Những thiếu sót trong thiết kế như tính toán sai, bố trí kết cấu không hợp lý, lựa chọn vật liệu không đúng… có thể dẫn đến tai nạn ngay khi chế tạo kết cấu hay thi công Tai nạn thường xảy ra như sụp đổ bộ phận công trình khi tháo dỡ ván khuôn, đổ tường xây khi có gió bão…
Về nguyên nhân do thiết kế biện pháp thi công: Để tạo ra bộ phận công trình cần có biện pháp thi công như biện pháp chống đỡ ván khuôn, biện pháp chống sạt lở vách đất khi thi công… sự thiếu sót trong thiết kế biện pháp thi công có thể dẫn đến sập đổ công trình, gây tai nạn lao động
Nguyên nhân do tổ chức thi công: Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra
sự cố và tai nạn lao động hiện nay ở các công trình xây dựng Việc tổ chức thi công một cách khoa học không những góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng công trình mà còn liên quan rất nhiều đến vấn đề an toàn lao động
Biểu hiện của công tác này ở chỗ:
− Bố trí ca, kíp không hợp lý hay kéo dài thời gian làm việc của công nhân dẫn đến tình trạng sức khỏe giảm sút, thao tác mất chính xác, sử lý tình huống và sự cố kém,
do đó gây ra tai nạn lao động
− Sử dụng công nhân không đúng trình độ nghiệp vụ, làm sai quy trình, dẫn đến gây
ra sự cố
− Thiếu nơi nghỉ ngơi cho công nhân, làm ảnh hưởng đến sức khỏe
Trang 35− Bố trí công việc không đúng trình tự, chồng chéo, hạn chế tầm nhìn và hoạt động
của công nhân
− Ý thức trách nhiệm kém, làm ẩu, sử dụng nguyên vật liệu không đúng tiêu chuẩn,
cắt bớt quy trình thi công
Về nguyên nhân do kỹ thuật thi công: Đây là nguyên nhân phổ biến trong xây dựng
Do tính đa dạng và phức tạp của công việc, do thiếu hụt kiến thức chuyên môn, do trình độ nghiệp vụ của người thực hiện công việc thấp, không nắm vững quy trình làm việc đảm bảo an toàn… những yếu tố này trực tiếp gây ra tai nạn lao động
Do kỹ thuật thi công nhà cao tầng
2.2.2.
Máy móc, phương tiện, dụng cụ thiếu, không hoàn chỉnh hay hư hỏng như thiếu cơ cấu
an toàn, thiếu che chắn, thiếu hệ thống báo hiệu phòng ngừa
Vi phạm trình tự tháo dỡ ván khuôn, đà giáo cho các kết cấu bê tông cốt thép đổ tại chỗ
Đào hố móng sâu kiểu hàm ếch, nơi đất yếu đào thành thẳng nhưng không chống đỡ vách đất
Làm việc trên cao không có dây an toàn
Dùng phương tiện chuyên chở vật liệu để chở người…
Tổ chức thực hiện
2.2.3.
Việc kiểm tra giám sát nhằm mục đích phát hiện và xử lý những sai phạm trong quá trình thi công, nếu không làm thường xuyên sẽ dẫn đến thiếu ý thức trách nhiệm và ý thức thực hiện các yêu cầu về công tác an toàn hay các sai phạm không phát hiện một cách kịp thời dẫn đến xảy ra sự cố gây tai nạn lao động
Không thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ an toàn lao động: Chế độ an toàn lao động gồm nhiều vấn đề như: Chế độ làm việc, chế độ nghỉ ngơi, trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân, chế độ bồi dưỡng độc hại… Nếu không thực hiện một cách nghiêm chỉnh sẽ làm giảm sức khỏe người lao động, không hạn chế được tai nạn và mức độ nguy hiểm
Trang 36Môi trường và điều kiện làm việc
2.2.4.
Làm việc tong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như: nắng nóng, mưa, gió, sương mù… Môi trường làm việc bị ô nhiễm, chứa nhiều yếu tố độc hại
Làm việc trong môi trường áp suất cao hay quá thấp
Làm việc trong tư thế gò bó, chênh vênh nguy hiểm
Công việc đơn điệu, nhịp điệu lao động quá khẩn trương, căng thẳng vượt quá khả năng của các giác quan người lao động
Bản thân người lao động
2.2.5.
Người công nhân làm việc không đúng chuyên môn đào tạo dẫn đến thao tác sai Ngoài việc vi phạm các quy định về an toàn trong quá trình làm việc, người công nhân nếu thiếu ý thức, đùa nghịch trong khi làm việc, không sử dụng các phương tiện bảo
vệ cá nhân, tự ý làm những công việc không phải nhiệm vụ của mình… sẽ gây ra sự cố tai nạn lao động
Tuổi tác, trạng thái sức khỏe, trạng thái thần kinh tâm lý, có ảnh hưởng rất lớn đến vấn
đề an toàn, vì khi đó khả năng làm chủ thao tác kém, thao tác sai hoặc nhầm lẫn, làm liều, làm ẩu…
2.3 Kỹ thuật an toàn lao động trong xây dựng nhà cao tầng
Kỹ thuật an toàn lao động trong tổ chức công trường xây dựng
Trang 37− Biện pháp bảo đảm an toàn thi công trong quá trình xây lắp
− Bảo đảm an toàn đi lại, giao thông vận chuyển trên công trường, chú trọng các tuyến đường giao nhau, hệ thống cấp điện, cấp nước và thoát nước
− Biện pháp đề phòng tai nạn điện trên công trường Thực hiện nối đất cho các máy móc thiết bị điện, sử dụng các thiết bị điện tự động an toàn trên máy hàn điện; rào ngăn, treo biển báo những nơi nguy hiểm
− Làm hệ thống chống sét trên các công trường, đặc biệt các công trường có chiều cao
lớn
− Biện pháp bảo đảm an toàn phòng chống cháy chung trên công trường và những nơi
dễ phát sinh cháy Xây dựng nhà cửa, kho tàng, nơi chứa nhiên liệu theo đúng nội quy phòng cháy
An toàn lao động khi lập tiến độ thi công
− Xác định kích thước các công đoạn, tuyến công tác hợp lý sao cho tổ, đội công nhân
ít phải di chuyển nhất trong một ca, tránh những thiếu sót khi bố trí sắp xếp chỗ làm
việc trong mỗi lần thay đổi
− Khi tổ chức thi công dây chuyền không được bố trí công việc làm các tầng khác nhau trên cùng một phương đứng nếu không có sàn bảo vệ cố định hoặc tạm thời; không bố trí người làm việc dưới tầm hoạt động của cần trục
− Trong tiến độ tổ chức thi công dây chuyền trên các phân đoạn phải đảm bảo sự làm
việc nhịp nhàng giữa các tổ, đội tránh chồng chéo gây trở ngại và tai nạn cho nhau
An toàn lao động khi lập mặt bằng thi công
2.3.1.3.
Một mặt bằng thi công tối ưu là phục vụ cho an toàn lao động, sức khoẻ công nhân và cho năng suất cao Việc thiết kế tốt là yếu tố thiết yếu trong công tác chuẩn bị, đem lại hiệu quả và an toàn khi thi công xây dựng
Trang 38Khi thiết kế mặt bằng thi công phải căn cứ vào diện tích khu đất, địa thế, vị trí các công trình để xác định vị trí các công trình phục vụ thi công, vị trí tập kết máy móc, thiết bị, kho bãi, đường vận chuyển, hệ thống cung cấp điện nước, hệ thống thoát nước, Đồng thời phải đề cập đến những yêu cầu nội dung về kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động và phòng chống cháy sau đây:
− Nên thiết kế theo kiểu tháo lắp hoặc có thể di chuyển được để tiết kiệm vật liệu và
tiện lợi khi sử dụng
− Tổ chức đường vận chuyển và đường đi lại hợp lý Đường vận chuyển trên công trường phải đảm bảo như sau:
+ Đường 1 chiều tối thiểu 4m, đường 2 chiều tối thiểu 7m
+ Chỗ giao nhau đảm bảo phải nhìn rõ từ xa 50m từ mọi phía
+ Bán kính đường vòng nhỏ nhất từ 30-40m
+ Độ dốc ngang không quá 5%
− Thiết kế chiếu sáng chỗ làm việc cho các công việc làm đêm và trên các đường đi
lại theo tiêu chuẩn ánh sáng
− Rào chắn các vùng nguy hiểm như trạm biến thế, khu vực để vật liệu dễ cháy nổ, xung quanh các giàn giáo các công trình cao, khu vực xung quanh vùng hoạt động của các cần trục, hố vôi,
− Trên bình đồ xây dựng phải chỉ rõ nơi dễ gây hoả hoạn, đường đi qua và đường di chuyển của xe hoặc đường chính thoát người khi có hoả hoạn Phải bố trí chi tiết vị trí các công trình phòng hoả
− Những chổ bố trí kho tàng phải bằng phẳng, có lối thoát nước đảm bảo ổn định kho;
việc bố trí phải liên hệ chặt chẽ công tác bốc dỡ, vận chuyển Biết cách sắp xếp nguyên vật liệu và các cấu kiện để đảm bảo an toàn
+ Các vật liệu chứa ở bãi, kho lộ thiên như đá các loại, gạch, cát, thép hình, gỗ cây, nên cơ giới khâu bốc dỡ và vận chuyển để giảm các trường hợp tai nạn
+ Các nguyên vật liệu thành phẩm, bán thành phẩm cần sắp xếp gọn gàng, đúng nơi quy định, không vứt bừa bãi, cản trở lối đi lại Bố trí từng khu vực riêng biệt cho các
vật liệu và chú ý đến trình tự bốc dỡ và vận chuyển hợp lý
Trang 39− Làm hệ thống chống sét cho giàn giáo kim loại và các công trình độc lập như trụ đèn pha, công trình có chiều cao lớn
− Khi làm việc trên cao hoặc xuống sâu, đồ án phải nêu các biện pháp đưa công nhân lên xuống và hệ thống bảo vệ
− Bố trí mạng cung cấp điện trên công trường Mạng phải có sơ đồ chỉ dẫn, các cầu dao phân đoạn để có thể cắt điện toàn bộ hay từng khu vực Dây điện phải treo lên các
cột hoặc giá đỡ chắc chắn (không được trải trên mặt sàn, mặt đất) ở độ cao 3.5m so với
mặt bằng và 6m khi có xe cộ qua lại
− Bố trí nhà cửa theo tiêu chuẩn phòng cháy, chữa cháy
Kỹ thuật an toàn trong thi công xây dựng nhà cao tầng
2.3.2.
An toàn lao động khi phá, dỡ công trình
2.3.2.1.
− Biện pháp phá, dỡ phải được lập và tính toán kiểm tra của người có chuyên môn (kỹ
sư xây dựng), trong đó chú ý tới mặt bằng phá, dỡ, phương pháp phá, dỡ với các bản
vẽ chi tiết
− Trước khi phá, dỡ, phải khảo sát và đánh giá đúng tình trạng của nền, móng, các kết
cấu như: cột, dầm, sàn và tường công trình
− Phải tháo toàn bộ hệ thống điện, nước và các hệ thống kỹ thuật của công trình trước khi phá, dỡ công trình
− Khi phá, dỡ, đặc biệt phải quan tâm đến vấn đề tiếng ồn do máy gây ra; ô nhiễm không khí do bụi; đặc điểm về kết cấu và vật liệu công trình; an toàn cho người làm
việc trên công trường và cho cư dân khu vực xung quanh (những người bên ngoài công trình là những người có thể không nhận thức được các mối nguy hiểm của việc tháo dỡ công trình)
Trang 40Hình 2 - 1: Dùng máy xúc gầu nghịch để phá, dỡ công trình
− Chú ý tới hệ thống hàng rào Phải sử dụng hệ thống hàng rào kín với chiều cao ít
nhất là 2m để tránh gây sự chú ý của người bên ngoài công trình và của công nhân từ bên trong công trình nhìn ra ngoài
− Đối với công trình phá, dỡ mà bẩn ở mức độ ô uế thì nên có các panô, áp phích được dán ở vị trí làm việc, phòng nghỉ và phòng vệ sinh để luôn nhắc người lao động
thực hiện các biện pháp giữ vệ sinh sạch sẽ Cần xem xét các chất gây ô nhiễm thuộc
loại gì để có các biện pháp tập trung và vận chuyển ra ngoài thích hợp
− Nên có các giải pháp ngăn chặn bụi như dùng lưới bao che hoặc phun nước liên tục vào các vị trí phát sinh nhiều bụi
− Không nên đốt các phế thải trên công trường mà nên vận chuyển đi
− Trong biện pháp phá, dỡ, phải nêu rõ:
+ Biện pháp quản lý lối ra, vào công trường;
+ Giờ làm việc và không làm việc, trong đó đặc biệt chú ý tới giờ không làm việc vì
kết cấu công trình có thể sập đổ bất ngờ trong thời gian này, gây tai nạn cho người trong công trường Hạn chế tháo, dỡ công trình sau 6 giờ chiều
+ Kiểm tra tính liên tục của kết cấu;