1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp quản lý bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước tại vườn quốc gia xuân thủy tỉnh nam định

109 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Giải Pháp Quản Lý Bảo Tồn Và Phát Triển Bền Vững Đa Dạng Sinh Học Hệ Sinh Thái Tự Nhiên Đất Ngập Nước Tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy Tỉnh Nam Định
Tác giả Trần Thị Nguyệt
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Minh Hằng
Trường học Trường Đại học Thủy Lợi
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Thị Minh Hằng với đề tài nghiên cứu trong luận văn: “Nghiên cứu gi ải pháp quản lý bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước tại Vườn qu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Trần Thị Nguyệt Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 608502

Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Minh Hằng với đề tài nghiên cứu trong luận văn: “Nghiên cứu

gi ải pháp quản lý bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định”

Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây,

do đó, không phải là bản sao chép của bất kỳ một luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định Các số liệu, nguồn thông tin trong luận văn là do tôi điều tra, trích dẫn và đánh giá Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này

Hà N ội, ngày tháng năm 2016

NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Tr ần Thị Nguyệt

Trang 2

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng, giảng viên hướng dẫn đề tài luận văn, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình

học tập cũng như thực hiện và hoàn thành nội dung của đề tài luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Khoa Môi trường Trường Đại học Thủy Lợi những người đã cho tác giả kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập tại trường để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Luận văn không thể hoàn thành nếu như không nhận được sự cho phép, tạo điều kiện

và giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo và đồng nghiệp Cục Bảo tồn đa dạng sinh học,

Tổng cục Môi trường, nơi tôi đang công tác

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các anh, chị Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy và người dân các xã vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát và thu thập tài liệu để có cơ dữ liệu phục vụ cho luận văn

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả sự nhiệt nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để hoàn thiện luận văn

Trang 3

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC HÌNH ẢNH v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước 4

1.1.1 Định nghĩa về đất ngập nước 4

1.1.2 Phân lo ại đất ngập nước 5

1.1.3 Các d ịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước 8

1.1.4 B ảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững 8

1.2 Giới thiệu về Vườn quốc gia Xuân Thủy 9

1.1.1 V ị trí địa lý và ranh giới hành chính 9

1.2.2 Cơ cấu tổ chức 11

1.2.3 Hoat động quản lý bảo tồn 12

1.3 Địa hình, khí hậu, thủy văn khu vực Vườn Quốc Gia Xuân Thủy 13

1.3.1 Địa hình 13

1.3.2 Khí h ậu 14

1.3.3 Th ủy văn 14

1.4 Đặc điểm dân số, kinh tế-xã hội ở các xã vùng đệm khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy 15

1.4.1 Dân s ố 15

1.4.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội của các xã vùng đệm 16

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC HỆ SINH THÁI TỰ NHIÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY 18

2.1 Đa dạng kiểu hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước Vườn quốc gia Xuân Thuỷ và biến động của chúng 18

2.1.1 Điều tra, khảo sát thực địa Vườn quốc gia Xuân Thủy 18

2.1.2 Các ki ểu hệ sinh thái đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy 19

2.1.3 Bi ến động các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước 24

2.2 Các dịch vụ từ các hệ sinh thái đất ngập nước ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ 25

2.3 Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản của người dân tại Vườn quốc gia Xuân Thủy 32

Trang 4

2.4 Thực trạng công tác quản lý đa dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên Đất ngập nước tại

Vườn quốc gia Xân Thủy 35

2.4.1 M ục tiêu và nhiệm vụ của Vườn quốc gia Xuân Thủy 35

2.4.2 Nh ững thuận lợi và khó khăn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốc gia Xuân Th ủy 36

2.4.3 Các gi ải pháp quản lý bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước của Vườn quốc gia Xuân Thủy 38

2.5 Các áp lực/nguy cơ tác động tới đa dạng sinh học hệ sinh thái Vườn quốc gia Xuân Thuỷ 43

2.5.1 Nhóm áp l ực kinh tế - xã hội 44

2.5.2 Nhóm áp l ực tự nhiên – môi trường 49

2.6 Dự báo xu hướng biến động đa dạng sinh học 51

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC TỰ NHIÊN VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THUỶ 55

3.1 Vấn đề ưu tiên 55

3.2 Đề xuất mô hình sinh kế sử dụng bền vững tài nguyên 56

3.2.1 Nguyên t ắc xây dựng mô hình 57

3.2.2 Mục tiêu thực hiện mô hình 57

3.2.3 Đề xuất mô hình 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

1 Kết luận 69

2 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 5

DANH M ỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Ranh giới hành chính VQG Xuân Thuỷ 9

Hình 1.2 Bản đồ phân khu VQG Xuân Thủy 10

Hình 1.3 Cơ cấu tổ chức ban quản lý VQG Xuân Thuỷ 12

Hình 1.4 Diện tích, dân số và mật độ dân số các xã vùng đệm [11] 15

Hình 2.1 Bản đồ các hệ sinh thái ĐNN VQG Xuân Thuỷ [13] 19

Hình 2.2 Diện tích các kiểu ĐNN VQG Xuân Thủy [13] 20

Hình 2.3 Tỷ lệ người dân biết các loại ĐNN tại VQG Xuân Thủy 21

Hình 2.4 Tỷ lệ số người biết lợi ích của ĐNN 26

Hình 2.5 Tỷ lệ số người sử dụng ĐNN hàng ngày 26

Hình 2.6 Doanh thu, số lượng khách du lịch tham quan VQG Xuân Thủy 31

Hình 2.7 Loại hình khai thác thủy sản của người dân (tỷ lệ %) 33

Hình 2.8 Địa điểm khai thác thủy sản của người dân (tỷ lệ %) 34

Hình 2.9 Nguyên nhân đe doạ đến ĐNN VQG Xuân Thủy 43

Hình 2.10 Nồng độ dầu mỡ khoáng trong nước mặt khu vực VQG Xuân Thuỷ [30] 48

Hình 2.11 Rừng trang ở Bãi Trong bị gãy chết bởi cơn bão tháng 10/2012 49

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.2 Cơ cấu kinh tế các xã vùng đệm [12] 16

Bảng 2.1 Biến động diện tích các hệ sinh thái đất ngập nước ở VQG Xuân Thủy theo các thời

kỳ [14] 24 Bảng 2.2 Sảnlượngkhai thác, nuôi trồng thủy sản hàng năm và thu nhập tại VQG Xuân Thủy [15] 27

Bảng 2.3 Các loài thực vật có giá trị trong rừng ngập mặn Giao Thủy [17] 28

Bảng 2.4 Tình trạng khai thác tài nguyên trong vùng lõi VQG Xuân Thủy năm 2013 44

Bảng 2.5 Dự báo biến động đa dạng sinh học ở VQG Xuân Thuỷ bởi các tác động của con người [33] 52

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTBĐKH Biến đổi khí hậu

CBD Công ước Đa dạng sinh học

COP Hội nghị các bên liên quan

PTBV Phát triển bền vững

WWF Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất ngập nước (ĐNN) trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang bị suy giảm khá mạnh

cả về chất và lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân do các tác động của các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của con người cũng như ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên [1]

Khu Ramsar Xuân Thủy thuộc huyện XuânThủy, tỉnh Nam Định, được Ban thư ký Công ước Ramsar công nhận vào năm 1989, đây là khu Ramsar thứ 50 của thế giới và

là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á và Việt Nam Khu Ramsar Xuân Thủy là

một vùng cửa sông ven biển, là nơi sinh sống theo mùa của Cò thìa (Platalea minor) -

một loại chim nước di cư quý hiếm Ngoài ra, Xuân Thủy còn là nơi sinh sống của 8 loài chim quý hiếm khác như Rẽ mỏ thìa (Calidris pygmeus), Choắt (Tringa

trọng quốc tế bởi đây là môi trường sống, nơi nuôi dưỡng nhiều loài sinh vật có giá trị toàn cầu và là “ga” chim quan trọng trong chu trình di cư của nhiều loài chim quý

hiếm; ĐNN là nền tảng duy trì sự tồn tại và phát triển của sinh vật, tạo cho Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy các chức năng và giá trị kinh tế - xã hội, môi trường và văn hóa

vô cùng quan trọng đối với cộng đồng dân cư vùng cửa sông ven biển Giao Thuỷ VQG Xuân Thủy cũng là nơi phục vụ cho nghiên cứu giáo dục môi trường, phát triển

du lịch sinh thái Tuy nhiên, hiện nay VQG Xuân Thuỷ đang đối mặt với nhiều thách

thức trong việc khai thác, sử dụng và quản lý Việc đánh bắt thủy sản tự nhiên và nuôi

trồng thủy sản đang ở mức độ cao và có nhiều tác động tiêu cực đến môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có việc phá RNM để lấy đất làm đầm tôm và nuôi ngao, vạng, hủy hoại nghiêm trọng sinh cảnh của các loài chim di cư Hơn nữa,

chất thải từ các vùng nuôi trồng thủy sản cũng làm ô nhiễm nguồn nước trong Vườn

Quốc gia Việcgiảm chất lượng nước đã dẫn đến giảm số lượng của các loài động vật hoang dã Ngoài ra, sức ép của sự gia tăng dân số, các hoạt động phát triển kinh tế, xã

hội và sự suy thoái tài nguyên, môi trường do khai thác quá mức đang ngày càng đe

dọa nghiêm trọng đến diện tích, chức năng, giá trị và dịch vụ cũng như chất lượng của

Trang 10

VQG Do vậy, đề tài “Nghiên cứu giải pháp quản lý bảo tồn và phát triển bền vững đa

d ạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định” nhằm phân tích và đánh giá hiện trạng, thực trạng quản lý đa dạng sinh

học hệ sinh thái (HST) tự nhiên ĐNN tại VQG, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để góp phần bảo tồn và phát triển bền vững (PTBV) đa dạng sinh học (ĐDSH) HST tự nhiên ĐNN của VQG Xuân Thủy

2 Mục đích của đề tài

Đánh giá hiện trạng ĐDSH HST tự nhiên ĐNN tại VQG Xuân Thủy

Đánh giá thực trạng quản lý bảo tồn ĐDSH HST tự nhiên ĐNN tại VQG Xuân Thủy

Đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn và PTBV ĐDSH HST tự nhiên ĐNN tại VQG Xuân Thủy

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đa dạng sinh học HST tự nhiên ĐNN tại VQG Xuân Thủy;

Hoạt động quản lý bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH HST tự nhiên ĐNN tại VQG Xuân Thủy

Phạm vi nghiên cứu: Bãi triều có RNM; Bãi triều không có RNM; vùng nước cửa sông của VQG

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu

Thu thập các tài liệu, số liệu, các báo cáo liên quan đến nội dung nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau như các tài liệu: Luật Đa dạng sinh học; Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học (2011); Báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thủy; Bảo

tồn đa dạng sinh học trong nước và trên thế giới; các Báo cáo về kinh tế - xã hội và môi trường của các tổ chức xã, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Giao Thủy, phòng Tài nguyên và môi trường huyện Giao Thủy, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định

Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa

Trang 11

Điều tra, khảo sát thực địa: Mục đích các chuyến điều tra khảo sát là nhằm xác định vị

trí, phạm vi khu vực nghiên cứu; thu thập, bổ sung và cập nhật các thông tin, dữ liệu

tại hiện trường khu vực nghiên cứu theo các nội dung của luận văn Thời gian khảo sát được tiến hành theo các đợt khảo sát trong quá trình nghiên cứu luận văn

Ph ỏng vấn: Phương pháp này được học viên sử dụng trong các chuyến đi khảo sát thực

địa, đó là hình thức phỏng vấn trực tiếp và thông qua phiếu điều tra với 100 phiếu (phát ra 100 phiếu, thu về 100 phiếu), cho đối tượng là cán bộ quản lý VQG Xuân

Thủy và người dân có liên quan tới VQG Xuân Thủy ở 05 xã vùng đệm của VQG là Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải

Các chủ đề được xác định trước (căn cứ vào mục tiêu của đề tài và tham vấn ý kiến các chuyên gia về đa dạng sinh học) đồng thời căn cứ vào người được phỏng vấn mà đặt ra các câu hỏi thích hợp về tình hình bảo tồn, quản lý và sử dụng ĐNN tại VQG Xuân

Thủy như: các loại tài nguyên thiên nhiên tại địa phương; hiểu biết về sử dụng bền

vững tài nguyên thiên nhiên, loại hình khai thác thủy sản của người dân, địa điểm khai thác, nguyên nhân các mối đe dọa đến tài nguyên thiên nhiên Ngoài phỏng vấn thông qua mẫu phiếu, học viên còn tiến hành làm việc, trao đổi phỏng vấn trực tiếp các cán bộ làm công tác quản lý tại VQG Xuân Thủy, để thu thập được các thông tin về

hiện trạng công tác quản lý bảo tồn ĐDSH HST tự nhiên ĐNN tại VQG

Phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu

X ử lý số liệu trên Excel: Các phiếu phỏng vấn cộng đồng người dân 05 xã thuộc vùng

đệm VQG Xuân Thủy, sau khi thu thập được tiến hành tổng hợp, phân tích trên Excel

nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo tồn ĐDSH của VQG Xuân Thủy

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước

1.1.1 Định nghĩa về đất ngập nước

Hiện nay có khoảng trên 50 định nghĩa khác nhau về ĐNN đang được sử dụng [3]

Việc sử dụng định nghĩa ĐNN tùy thuộc vào mục đích quản lý của mỗi quốc gia hay

tổ chức quốc tế Các định nghĩa tương đối phù hợp với điều kiện ĐNN Việt Nam và VQG Xuân Thủy và đang được áp dụng nhiều trên thế giới, các định nghĩa được lựa

chọn để phân tích, xem xét, cụ thể như sau:

Trong các định nghĩa về ĐNN trên thế giới thì định nghĩa ĐNN của Công ước Ramsar (Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước - Convention on wetland of intrenational importance, especially as waterfowl habitat) có tầm rộng nhất, được nhiều quốc gia và tổ chức quốc

tế sử dụng Theo Điều 1.1 Công ước Ramsar “ĐNN là những vùng đầm lầy, than bùn

hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước

chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển, kể cả những vùng nước biển có

độ sâu không quá 6m khi triều thấp” [4] Theo định nghĩa này, ĐNN bao gồm các địa hình hết sức phong phú và phức tạp, chiếm một phần không nhỏ của lãnh thổ bao gồm vùng biển nông, ven biển, cửa sông, đầm phá, có thảm thực vật bao phủ hay không, đồng bằng châu thổ, tất cả các sông, suối, ao, hồ, đầm lầy tự nhiên hay nhân tạo, các vùng nuôi trồng thủy sản (NTTS), canh tác lúa nước đều thuộc ĐNN

Ngoài ra còn có một số định nghĩa ĐNN theo nghĩa rộng khác Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN, 1971) định nghĩa gần tương tự với Ramsar, tuy nhiên tính cụ

thể, tính bao quát các kiểu ĐNN chưa cao, cụ thể “ĐNN là những vùng đất bão hòa nước hoặc thường xuyên bị ngập nước, dù là tự nhiên, nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc định kỳ, dù là nước tĩnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước

mặn Những vùng ngập nước như những đầm lầy, vũng lầy, đầm rừng, than bùn, cửa sông, vịnh biển, eo biển, ao hồ, đầm phá, sông, hồ chứa”

Trang 13

Ở Việt Nam thuật ngữ “Đất ngập nước” chưa được đề cập đến cho tới những năm

1980 [5] Từ những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 nhiều công trình nghiên cứu; văn bản đã sử dụng định nghĩa ĐNN của Công ước Ramsar Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước ĐNN quy định tại Nghị định này bao gồm những vùng đất ngập nước có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia; Quyết định số 79/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học và an toàn sinh học [1], về Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước và biển nhấn

mạnh nội dung xây dựng và thực hiện quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước và

biển, trong đó chú trọng các phân khu chức năng và vùng đệm, xây dựng và thực hiện

kế hoạch bảo tồn cho từng khu Mục tiêu tổng quát là bảo tồn và phát triển bền vững đất nước, ngập nước ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xă hội, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và ĐDSH

Theo luật Đa dạng sinh học quy định: “Đất ngập nước tự nhiên là vùng đầm lầy, than bùn hoăc ̣ vùng nước thường xuyên hoặc tạm thời, kể cả vùng biển có đô ̣sâu không quá 6 mét khi ngấn nước thủy triều thấp nhất” (Khoản 1, Điều 35) [6] Đây là định nghĩa về ĐNN chính thống của Việt Nam được quy định bằng pháp luật nhằm mục đích bảo tồn các HST tự nhiên ĐNN và ĐDSH Do đó, mọi hoạt động liên quan đến ĐNN ở nước ta đều phải sử dụng định nghĩa này

1.1.2 Phân loại đất ngập nước

Mục tiêu chung của phân loại ĐNN là xác định phạm vi các hệ thống sinh thái tự nhiên phục vụ cho các mục tiêu về điều tra, đánh giá và quản lý ĐNN [7] Bốn mục tiêu cụ thể của phân loại ĐNN được xác định là: Mô tả các đơn vị sinh thái có các thuộc tính tương đồng; Sắp xếp những đơn vị này trong một hệ thống theo các dịch vụ HST khác nhau giúp cho việc ban hành các quyết định và chính sách quản lý ĐNN;

Nhận biết các đơn vị phân loại để điều tra và lập bản đồ ĐNN; Cung cấp sự đồng nhất

về thuật ngữ và khái niệm cho từng đơn vị phân loại và đơn vị bản đồ ĐNN

Hiện nay có một số hệ thống phân loại của các tổ chức quốc tế; các quốc gia trên thế

giới và của các nhà khoa học của Việt Nam được đề xuất áp dụng Các hệ thống phân

Trang 14

loại khá hiện đại, rõ ràng và đang được áp dụng nhiều trên thế giới và đặc biệt có thể xem xét trong một số trường hợp cụ thể tương đối phù hợp với điều kiện của VQG Xuân Thủy, cụ thể như sau:

Hệ thống phân loại ĐNN theo Công ước Ramsar [4] Trọng tâm chính của Công ước Ramsar là bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN là nơi cư trú của các loài chim nước Qua nhiều năm, Công ước đã mở rộng phạm trù sang bảo tồn các vùng ĐNN, coi ĐNN là các HST có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với bảo tồn ĐDSH và mang lại lợi ích cho cuộc sống của cộng đồng dân cư sống trong vùng ĐNN Vì vậy, Công ước Ramsar đã đưa ra hệ thống phân loại ĐNN nhằm bảo tồn các vùng ĐNN theo các mục tiêu này Năm 1971, Công ước Ramsar đưa ra hệ thống phân loại ĐNN đầu tiên với 22 loại ĐNN mà không chia thành các hệ và lớp Năm 1994, Phụ lục 2B

của Công ước Ramsar đã chia 35 loại ĐNN thành 3 nhóm là ĐNN ven biển và biển (11 loại), ĐNN nội địa (16 loại), ĐNN nhân tạo (8 loại) Phân loại ĐNN lại được Công ước Ramsar xem xét lại năm 1999 chia ĐNN thành 41 loại

Hệ thống phân loại ĐNN theo đề xuất của Lê Diên Dực [8]: Hệ thống phân loại này thuận tiện cho việc kiểm kê những vùng ĐNN lớn nhưng việc sắp xếp lại chưa có tính

thứ bậc thể hiện sự phân dị về mặt địa lý, điều kiện tự nhiên khiến cho việc nghiên

cứu, quy hoạch, quản lý, bảo tồn và bảo vệ ĐNN gặp nhiều khó khăn Như vậy, so với

hệ thống phân loại ĐNN Ramsar thì hệ thống phân loại ĐNN này còn thiếu một số loại ĐNN như RSH, cỏ biển…

Bên cạnh đó, hệ thống phân loại ĐNN được đề xuất của Dương Văn Ni [1]: So với hệ

thống phân loại ĐNN Ramsar thì hệ thống phân loại này đã tách cửa sông ra khỏi

biển/ven biển Hệ thống phân loại ĐNN của Dương Văn Ni không tách biệt ra ĐNN nhân tạo và ĐNN tự nhiên và còn thiếu một số loại ĐNN như bờ biển vách đá, đảo và RSH, ruộng muối Đất trồng lúa được phân chia quá chi tiết Loại ĐNN đầm mặn ven

biển (5) có phần trùng lặp với đầm mặn, lợ ven biển (11) Loại ĐNN sông, rạch (24)

nằm trong hệ thống cửa sông mà không nằm trong hệ thống sông tỏ ra không hợp lý

Những hạn chế trên gây khó khăn cho việc chuyển đổi tương ứng các loại ĐNN theo phân loại này với phân loại quốc tế

Trang 15

Tiếp theo, hệ thống phân loại ĐNN được đề xuất của Phan Nguyên Hồng và cộng sự [1]: Theo tính chất của nước ngọt hay mặn, mức độ ngập nước thường xuyên hay định

kỳ, Phan Nguyên Hồng đã phân chia ĐNN ra thành hai nhóm lớn: ĐNN ven biển và ĐNN nội địa Hệ thống phân loại của Phan Nguyên Hồng có tính thứ bậc và tiêu chuẩn phân loại quá đơn giản so với hệ thống phân loại ĐNN Ramsar Hệ thống này đã phân chia ĐNN theo các cảnh quan, nhưng sắp xếp các cảnh quan này theo tính chất ngập nước mặn (đới biển ven bờ) hay ngập nước ngọt (ĐNN nội địa) Phương pháp phân

loại này đúng như mục đích của tác giả là phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng chiến lược quản lý ĐNN ở cấp quốc gia, còn đối với các cấp chi tiết hơn sẽ không thể đáp ứng được

Nhận xét chung hệ thống phân loại đất ngập nước

Thông qua thực tiễn áp dụng, so sánh những ưu điểm, hạn chế của các hệ thống phân

loại đã có của các tổ chức quốc tế; các quốc gia trên thế giới cũng như các nhà khoa

học trong nước nghiên cứu về hệ thống phân loại ĐNN, việc đề xuất áp dụng hệ thống phân loại ĐNN của Công ước Ramsar trong luận văn vì lý do sau: hệ thống phân loại này là hệ thống phân loại chính thống đã được thừa nhận trong thực tiễn áp dụng Ngoài ra, có những ưu điểm nổi bật về tính phổ biến, tính thực tiễn ứng dụng, tính khái quát cũng như hệ thống và đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng như trong khu

vực Hệ thống phân loại ĐNN của Ramasar đơn giản, dễ sử dụng nhưng đủ chi tiết để bao hàm các loài hình ĐNN khác nhau Hơn nữa, các thứ bậc được thiết kế phù hợp theo các nhóm thuộc tính mang tính khoa học cao Hệ thống phân loại ĐNN của Công ước Ramsar bao hàm hầu như toàn bộ các kiểu ĐNN hiện có của VQG Xuân Thủy, vì

vậy có thể áp dụng chung cho mọi lĩnh vực liên quan đến quản lý ĐNN và cũng lập

bản đồ hiện trạng và quy hoạch ĐNN quốc gia để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách và chiến lược về bảo tồn và PTBV ĐNN phù hợp với điều kiện VQG Xuân

Thủy và Việt Nam

Qua phân tích các hệ thống phân loại nêu trên và tính hợp lý, tính phổ biển cũng như phù hợp với mục tiêu quản lý ĐNN, hệ thống phân loại ĐNN của Ramsar được đề

xuất sử dụng trong luận văn này (Phụ lục 3)

Trang 16

1.1.3 Các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước

Nghiên cứu các dịch vụ HST ĐNN nhằm mục đích là hiểu rõ các dịch vụ HST tại khu

vực nghiên cứu và xác định được giá trị cơ bản của các HST tại VQG Xuân Thủy đồng thời đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng hiện nay Hơn nữa, việc sử dụng hợp

lý tài nguyên ĐNN luôn phải gắn liền với các dịch vụ mà HST cung cấp; hiểu được các dịch vụ HST cung cấp mới có thể sử dụng bền vững, kiểm soát và quản lý một cách hiệu quả và ngược lại

Theo định nghĩa của Đánh giá HST thiên niên kỷ (MEA), các dịch vụ HST là “những

lợi ích con người đạt được từ các HST, bao gồm dịch vụ cung cấp như thức ăn và nước; các dịch vụ điều tiết như điều tiết lũ lụt, hạn hán; các dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất và chu trình dinh dưỡng và các dịch vụ văn hóa như giải trí, tinh thần, tín ngưỡng và các lợi ích phi vật chất khác” [9] Định nghĩa này đã cụ thể được nội hàm, tương đối dễ hiểu và có thể hình dung được khái niệm rõ ràng về “dịch vụ HST” Ngoài ra, một cách hiểu khác của MEA đã đề cập, dịch vụ HST là “các lợi ích con người hưởng lợi từ thiên nhiên” Bên cạnh đó, một định nghĩa có tính chất khái quát cho rằng “dịch vụ đem lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp của HST cho sự thịnh vượng

của con người” Cụ thể hóa nội hàm của dịch vụ HST, theo MEA dịch vụ HST bao

gồm các loại dịch vụ sau: Dịch vụ cung cấp; Dịch vụ điều tiết; Dịch vụ văn hóa; Dịch

vụ hỗ trợ

1.1.4 Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững

Thuật ngữ ĐDSH được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980 Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa

dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã) Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật

ngữ ĐDSH này Theo điều 3, Luật Đa dạng sinh học nêu: Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên [6]

Giá trị của ĐDSH là không thay thế được đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học trong đó có con người, với kinh tế, khoa học và giáo dục Theo đó Bảo tồn đa

dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng,

Trang 17

đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa

của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ

và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền

Cũng theo Luật Đa dạng sinh học, nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học là: Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học;

giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo [6]

1.2 Giới thiệu về Vườn quốc gia Xuân Thủy

1.1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính

VQG Xuân Thủy nằm ở phía Đông nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, ngay tại

cửa Ba Lạt của sông Hồng, toạ độ: từ 20010' đến 20015' vĩ độ Bắc và từ 106020' đến 106032' kinh độ Đông

Hình 1.1 Ranh giới hành chính VQG Xuân Thuỷ

Trang 18

Tháng 01/1989 vùng bãi bồi ở cửa sông ven biển thuộc huyện Xuân Thuỷ chính thức công nhận gia nhập Công ước Ramsar (Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi di trú của những loài chim nước) Đây là điểm Ramsar thứ 50 của thế giới, đặc biệt là điểm Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á

và độc nhất của Việt Nam suốt 16 năm (tới năm 2005, Việt Nam mới có khu Ramsar thứ 2 là khu Bàu Sấu thuộc VQG Cát Tiên ở tỉnh Đồng Nai).Ngày 02/01/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 01/QĐ-TTg Chuyển hạng khu bảo tồn thiên nhiên ĐNN Xuân Thuỷ thành VQG Xuân Thuỷ (VQG là cấp bảo tồn thiên nhiên cao nhất trong hệ thống bảo tồn thiên nhiên của nước ta hiện nay)

Hình 1.2 Bản đồ phân khu VQG Xuân Thủy

Ngày 02/12/2004, UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng

Khu dự trữ sinh quyển này thuộc địa bàn 5 huyện: Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định), Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình), Thái Thuỵ và Tiền Hải (tỉnh Thái Bình); với diện tích hơn 105.000 ha, vùng lõi: 14.000 ha, vùng đệm: 37.000 ha, vùng chuyển tiếp trên

Trang 19

diện tích bãi bồi rộng lớn trong đó VQG Xuân Thuỷ là vùng lõi có tầm quan trọng đặc biệt của khu dự trữ sinh quyển thế giới này.

1.2.2 Cơ cấu tổ chức

Theo Tờ trình số 26/Ttr-VQG trình UBND tỉnh Nam Định về tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ các phòng ban của VQG Xuân Thuỷ, năm 2011, lực lượng biên chế hiện tại của VQG Xuân Thủy có 19 người với tổ chức cụ thể như sau:

- Ban Giám đốc: gồm 01 Giám đốc phụ trách chung và trực tiếp phụ trách công tác: Tài vụ, khoa học, kế hoạch, tổ chức và hợp tác quốc tế 01 Phó giám đốc giúp Giám đốc trực tiếp phụ trách công tác: Bảo vệ tài nguyên, kỹ thuật, hành chính và du lịch sinh thái

- Phòng Khoa học kỹ thuật: 04 người, thực hiện các hoạt động về khoa học-kỹ thuật và hợp tác quốc tế

- Phòng Quản lý tài nguyên và môi trường: 05 người, thực hiện công tác quản lý, bảo

vệ tài nguyên môi trường nói chung của VQG

- Phòng Kinh tế tổng hợp: 05 người, thực hiện các hoạt động về quản lý tài chính,

hành chính và dịch vụ mọi mặt nhằm đảm bảo cho công tác quản lý bảo tồn thiên nhiên của VQG Xuân Thuỷ

- Ban du lịch: 03 người, thực hiện các dịch vụ về du lịch sinh thái và tuyên truyền giáo dục môi trường cho du khách & cộng đồng địa phương

Tờ trình đã đề nghị phê duyệt tổ chức bộ máy mới cũng như bổ sung chức năng nhiệm

vụ các phòng ban của VQG Theo đó, tổ chức bộ máy mới của Vườn quốc gia Xuân Thủy sẽ có 01 Ban Giám đốc (01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc) và 05 phòng ban (Hạt Kiểm lâm; Phòng khoa học kỹ thuật và hợp tác quốc tế; Phòng kinh tế tổng hợp; trung tâm du lịch sinh thái; Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã) Đặc biệt đề nghị cán bộ của VQG có đủ khả năng, thẩm quyền để xử phạt các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thủy sản và Luật Bảo vệ môi trường Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan khác nhau mà đến nay các cấp có thẩm quyền vẫn chưa phê duyệt cơ cấu và tổ chức bộ máy mới của Vườn quốc gia Xuân Thủy

Trang 20

Hình 1.3 Cơ cấu tổ chức ban quản lý VQG Xuân Thuỷ

1.2.3 Hoat động quản lý bảo tồn

VQG Xuân Thuỷ đã xây dựng Quy chế bảo tồn thiên nhiên của VQG và Quy chế sử dụng khôn khéo, bền vững tài nguyên đất ngập nước ở Khu Ramsar Xuân Thuỷ

VQG Xuân Thuỷ đã xây dựng thể chế quản lý thích hợp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường Thu hút các cán

bộ và cộng đồng dân địa phương liên kết chặt chẽ với VQG Xuân Thuỷ để giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích

Cùng với địa phương, thực hiện các chính sách về quản lý đất đai, phát triển kinh tế-xã hội ở vùng đệm

VQG Xuân Thuỷ đồng thời còn là Khu Ramsar quốc tế đầu tiên của Việt Nam Bởi vậy, đơn vị đã và đang cùng với cộng đồng địa phương thực hiện cam kết quốc tế của Chính phủ ở địa danh Ramsar này Cũng từ danh hiệu Ramsar, các mối quan hệ quốc

tế của VQG Xuân Thuỷ với các đối tác quốc tế (cả về phương diện Chính phủ và phi

Phòng Kinh

tế tổng hợp (5 người)

Ban du lịch (3 người)

Ban Giám đốc

(02 người)

Trang 21

quản lý VQG Xuân Thuỷ đã làm việc với các tổ chức quốc tế như: Đại sứ Hà Lan; Đại

sứ Đan Mạch; Đại sứ Hoa Kỳ; Đại sứ Anh; Quỹ môi trường toàn cầu thuộc Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (United Nations Development Programme) ở Việt Nam cùng các Tổ chức phi Chính phủ như: Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife international Vietnam); Hiệp hội quốc tế bảo tồn thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources); Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund For Nature - WWF); Liên minh sinh vật biển quốc tế (international marine organisms alliance) Đơn vị đã và đang nhận được nhiều sự trợ giúp cả về kỹ thuật và tài chính của các dự án nhỏ & vừa do cộng đồng quốc tế tài trợ để tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức và phát triển cộng đồng địa phương

1.3 Địa hình, khí hậu, thủy văn khu vực Vườn Quốc Gia Xuân Thủy

1.3.1 Địa hình

Nằm ở rìa châu thổ sông Hồng, khu vực VQG Xuân Thủy có địa hình bằng phẳng, có một số cồn cát, các tuyến đê và một vài gò đống nằm rải rác Độ cao có xu hướng nghiêng dần từ bắc xuống nam, từ tây sang đông Căn cứ vào các dạng địa hình bờ cổ sót lại và các tư liệu lịch sử - khảo cổ, địa chất có thể khẳng định các dạng địa hình ở huyện Giao Thuỷ nói chung có nguồn gốc do dòng chảy, do sông-biển, do biển diễn ra

từ cuối Holocen muộn đến nay [10]

Dạng địa hình hỗn hợp sông-biển chiếm phần lớn diện tích, được hình thành trong quá trình tương tác sông - biển Vật liệu cấu tạo chủ yếu gồm bột-cát, bột-sét và sét bột… đặc trưng cho kiểu bãi triều Bề mặt địa hình bằng phẳng, nghiêng thấp dần về phía biển và có nhiều dấu tích các lạch triều, lòng dẫn chết sót lại Hiện nay, dạng địa hình này đang được khai thác chính trong nông nghiệp

Hiện nay, do đập Vọp đã được phá bỏ, nên lượng bồi tích từ sông Hồng qua sông Vọp cung cấp cho vùng triều thấp (lagoon) ở phía nam cửa Ba Lạt được tăng cường, tạo điều kiện cho quá trình tích tụ và lấp đầy diễn ra ở đây nhanh hơn Các thành tạo địa hình đầm lầy ở vùng triều thấp chiếm một diện tích khá lớn ở các xã Giao Thiện, Giao

An, Giao Lạc, đồng thời cũng tạo ra một vùng đệm lý tưởng cho các khu vực bảo tồn RNM., người dân đã tự động sử dụng vùng triều thấp để nuôi ngao vạng và tôm sú

Trang 22

1.3.2 Khí h ậu

Nhiệt độ: Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa ở

miền Bắc Việt Nam, phân hoá sâu sắc theo mùa trong năm: mùa gió Tây Nam, nóng

và ẩm, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và gió mùa Đông Bắc, lạnh và khô, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Theo tài liệu của Nguyễn Văn Viết (1984), khu vực Giao Thuỷ có nhiệt độ trung bình năm đạt 23 - 24oC, tổng tích ôn đạt 8.500o

C - 8.700oC Mùa hè có nhiệt độ trung bình 27 - 29 oC Tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt

độ có thể đạt tới 38 - 39 oC Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình 16,7

oC, đôi khi có thể xuống tới 4 - 5 oC Số giờ nắng trung bình 1.650 - 1.700 giờ/năm

Ch ế độ mưa: Khu vực có chế độ mưa phong phú và phân bố khá đồng đều; lượng mưa

trung bình năm dao động từ 1.520-1.850 mm/năm; Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X, chiếm tới 85 - 90% lượng mưa năm, tập trung chủ yếu vào tháng VII, VIII và

IX Tháng có lượng mưa nhỏ nhất là tháng XII và tháng I Đối với những tháng có lượng mưa nhỏ rất thích hợp cho các hoạt động du lịch sinh thái như quan sát chim, đặc biệt là mùa chim di cư (từ tháng 11 đến tháng 3) Trong trường hợp có bão, áp

thấp nhiệt đới hay hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới thì lượng mưa cực đại trong 24

giờ có thể đạt 300-500mm Đối với các tháng có lượng mưa lơn, thích hợp cho hoạt động du lịch, tham quan sinh thái các HST tự nhiên như RNM

Chế độ gió: Khu vực cửa sông Hồng, chịu sự chi phối của hệ thống gió mùa Mùa gió

Đông Bắc với hướng gió thịnh hành là Bắc, Đông Bắc với tốc độ trung bình 4,0 - 4,5 m/s Mùa gió Tây Nam, hướng gió chính là Nam và Đông Nam với tốc độ gió trung bình đạt 3,2 - 3,9 m/s, cao nhất vào các tháng tháng V - VII Vùng nghiên cứu còn chịu ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới, do đó, thường chịu tác động của gió bão, với sức gió đạt 45 - 50 m/s Bão thường tác động xấu đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường và hoạt động của con người, đặc biệt là gây biến động địa hình bãi, thúc đẩy quá trình xói lở bờ cả về quy mô lẫn cường độ

1.3.3 Th ủy văn

Theo dẫn liệu trong Báo cáo hiện trạng của VQG Xuân Thuỷ (2005), khu vực VQG Xuân Thủy có 2 sông nhánh chính trong khu vực bãi triều là sông Vọp và sông Trà,

Trang 23

ngoài ra còn một số lạch triều nhỏ cấp thoát nước tự nhiên

Sông Vọp: chảy từ cửa Ba Lạt ra biển Giao Hải dài khoảng 12 km, là ranh giới ngăn

cách giữa Cồn Ngạn và Bãi trong

Sông Trà: chảy từ Cửa Ba Lạt xuống phía Nam ra biển gặp sông Vọp ở biển Giao Hải, dài khoảng 12 km và là ranh giới ngăn cách giữa Cồn Ngạn và Cồn Lu Trong thời gian qua, do nhiều nguyên nhân đã dẫn đến tình trạng sông Trà bị lấp đầy ở đoạn cuối ngăn Cồn Lu và Cồn Ngạn Năm 2012, Dự án Thủy lợi Cồn Ngạn đã tiến hành đào nối sông Trà với sông Vọp ở phía cuối các đầm tôm của Cồn Ngạn

1.4 Đặc điểm dân số, kinh tế-xã hội ở các xã vùng đệm khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy

Trang 24

Mật độ dân số tại các xã vùng đệm VQG Xuân Thủy cũng tương đương với mật độ dân số trung bình của khu vực Đồng bằng sông Hồng (949 người/1km2 vào năm

2011) Tuy nhiên, mật độ dân số trong vùng vẫn cao, gấp 5 lần so với mật độ trung bình của cả nước, gấp gần 3 lần so với Đồng bằng sông Cửu Long, gấp 10 lần so với miền núi và trung du Bắc Bộ và gấp 12 lần so với Tây Nguyên

Đây chính là áp lực lớn đối với công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên ĐNN tại khu vực

Tỷ lệ tăng dân số

Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện Giao Thủy (2014), toàn bộ 5 xã vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thuỷ có tỉ lệ tăng dân số tự nhiên tương đối đồng đều giữa các

xã, bình quân qua các năm là gần 1,02 %

So với các năm trước, tỷ lệ này đã giảm nhiều do trình độ dân trí ngày càng được nâng lên và công tác kế hoạch hoá gia đình của địa phương được thực hiện tốt trong những năm gần đây

1.4.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội của các xã vùng đệm

Theo kết quả nghiên cứu từ các xã vùng đệm, cho thấy cơ cấu kinh tế chủ yếu gồm có: nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và xây dựng, kinh doanh và dịch vụ

Bảng 1.1 Cơ cấu kinh tế các xã vùng đệm [12]

Trang 25

như tất cả người lao động thất nghiệp tham gia vào hoạt động khai thác tài nguyên tự nhiên, các hoạt động này diễn ra trên cả vùng đệm và vùng lõi của VQG Chính điều này đã tạo áp lực lên VQG Xuân Thủy

Tình trạng cơ sở hạ tầng

Giao thông đường bộ: Từ tất cả các nơi đến đê quốc gia, tiếp giáp với ranh giới VQG khá thuận lợi Từ trung tâm Hà Nội du khách đến đây khoảng 150km, thời gian đi mất khoảng 3,5 - 4,0 giờ Từ ranh giới đê quốc gia đi ra vùng lõi của VQG có một đường trục Cồn Ngạn dài khoảng 4 km là con đường giao thông huyết mạch của Ban quản lý VQG đã được nâng cấp thành đường cấp IV đồng bằng, kè mái, rải nhựa, hai làn xe cơ

giới có thể đi lại dễ dàng

Ranh giới giữa vùng lõi và vùng đệm ở phía Tây Bắc là đê bao bề mặt được thảm nhựa hoặc rải đá dăm Đây là tuyến đường bộ duy nhất có trong khu vực dùng để tuần tra bảo vệ và phục vụ khách tham quan du lịch Tuy nhiên, mặt đường hẹp, chưa bằng phẳng nên việc đi lại cũng còn khó khăn

Giao thông đường thuỷ: Trong khu vực VQG Xuân Thủy, có các sông nhánh như sông Vọp, sông Trà và nhiều lạch triều, du khách có thể đi thuyền máy nhỏ dọc theo các dòng sông lạch để quan sát chim và thưởng ngoạn cảnh đẹp của một trong những khu vực rừng ngập mặn còn lại tốt nhất vùng châu thổ sông Hồng

Tuy nhiên, giao thông đường thuỷ ở VQG còn phụ thuộc vào thuỷ triều, vào những ngày triều kiệt, việc thăm quan của du khách bằng đường thuỷ gặp rất nhiều khó khăn

Do vậy, nếu muốn đi thăm quan VQG bằng xuồng, các du khách cần phải liên hệ trước với Ban du lịch để hiểu rõ lịch con nước, từ đó có thể chủ động và hiệu quả hơn cho chuyến đi của mình

Trang 26

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC HỆ SINH THÁI TỰ NHIÊN ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY

2.1 Đa dạng kiểu hệ sinh thái tự nhiên đất ngập nước Vườn quốc gia Xuân Thuỷ và biến động của chúng

2.1.1 Điều tra, khảo sát thực địa Vườn quốc gia Xuân Thủy

Học viên đã tiến hành 2 đợt khảo sát vào các tháng 6 và tháng 8 năm 2016, cụ thể:

- Đợt khảo sát tháng 6/2016: Làm việc với ban quản lý VQG Xuân Thủy và chính quyền địa phương các xã vùng đệm của VQG để tổng hợp các thông tin có liên quan đến HST tự nhiên ĐNN tại Vườn quốc gia Xuân Thủy: điều kiện tự nhiên; tình hình kinh tế - xã hội của người dân các xã vùng đệm trong Vườn quốc gia; công tác quản lý

và bảo tồn đa dạng sinh học của Ban quản lý VQG; tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái tự nhiên ĐNN trong Vườn quốc gia; tìm hiểu các mô hình sinh kế của người dân tại VQG Mục đích để làm căn cứ viết phần tổng quan của đề tài

- Đợt khảo sát tháng 8/2016: Tiếp tục tổng hợp các thông tin liên quan đến đa dạng sinh học của VQG, điều tra thực địa bằng phiếu điều tra về bảo tồn và quản lý sử dụng tài nguyên ĐNN tại VQG Xuân Thủy đến cộng đồng dân cư 05 xã thuộc vùng đệm

của VQG;

Nội dung chính là tiến hành làm việc, tham vấn các cán bộ quản lý trong VQG về các thông tin liên quan đến công tác quản lý bảo tồn ĐDSH của VQG Mục đích của đợt

khảo sát nhằm thu thập các số liệu có liên quan đến tình hình sử dụng cũng như quản

lý bảo tồn các HST tự nhiên ĐNN tại VQG, phục vụ nội dung đánh giá hiện trạng đa

dạng sinh học hệ sinh thái tự nhiên ĐNN; đánh giá thực trạng công tác quản lý bảo tồn ĐDSH của VQG và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững các HST tự nhiên ĐNN này

Trang 27

Cách thức tiến hành khảo sát: Tập trung vào việc tham vấn, xây dựng, phát, thu phiếu điều tra, cụ thể kết quả sẽ được trình bày trong những phần sau (mẫu phiếu điều tra và

kết quả tổng hợp tại phụ lục 1.2)

Đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ địa phương và lãnh đạo ở các ban ngành có liên quan trong quản lý tại VQG Xuân Thủy và tập trung vào độ tuổi lao động, do những người trong độ tuổi lao động có lien quan trực tiếp nhiều nhất đến tình hình khai thác tài nguyên ĐNN trong VQG Xuân Thủy

2.1.2 Các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy

Trên cơ sở phân tích, đánh giá khái quát đặc điểm tự nhiên và ĐDSH của VQG Xuân Thủy cùng với các nghiên cứu khác liên quan, cũng như kết hợp với quá trình khảo sát thực địa, các kiểu ĐNN tại VQG Xuân Thủy đã được xác định

Hình 2.1 Bản đồ các hệ sinh thái ĐNN VQG Xuân Thuỷ [13]

Căn cứ vào tài liệu phân loại ĐNN của Công ước Ramsar, đã xác định các kiểu đất ngập nước tự nhiên chính ở VQG Xuân Thuỷ bao gồm: Bãi triều có RNM; Bãi triều

Trang 28

lầy không có RNM; Dải cát ven bờ; Vùng nước cửa sông (giới hạn ven bờ ngoài Cồn

Lu, Cồn Xanh và Cồn Mờ, nằm trong vũng lõi của VQG) Trong số này chủ yếu là các HST tự nhiên ĐNN Tại mỗi kiểu HST, có các đặc trưng riêng về điều kiện môi trường sống, về nơi cư trú, dẫn tới các đặc trưng về quần xã sinh vật

Hình 2.2 Diện tích các kiểu ĐNN VQG Xuân Thủy [13]

Qua hình 2.2 cho thấy: Diện tích các kiểu đất ngập nước tại vùng lõi chiếm tỷ lệ lớn (gần gấp đôi so với diện tích vùng đệm); Vùng nước cửa sông chiếm diện tích lớn nhất tại vùng lõi trong các kiểu đất ngập nước và không xuất hiên tại vùng đệm; Dải cát ven

bờ chỉ xuất hiện trong vùng lõi của VQG; Rừng ngập mặn và bãi triều không có rừng ngập mặn phân bố cả ở vùng lõi và vùng đệm của VQG với diện tích tại vùng lõi lớn hơn tại vùng đệm; Đầm nuôi trồng thủy sản xuất hiện cả ở vùng lõi và vùng đệm, tuy nhiên chủ yếu diện tích phần lớn phân bố tại vùng đệm Trong các kiểu ĐNN kể trên, diện tích chiếm phần lớn chủ yếu tập trung vào vùng nước cửa sông, RNM, bãi triều không có RNM

Việc xác định các kiểu ĐNN trên cho phép xác định các dịch vụ HST được cung cấp

từ các kiểu ĐNN cụ thể này Sự đa dạng các kiểu loại ĐNN dẫn đến đa dạng các loại hình dịch vụ ĐNN, điều này sẽ ảnh hưởng đến việc khai thác và sử dụng các loại hình

Trang 29

ĐNN và sự quan tâm của các bên liên quan tham gia khác nhau, đặc biệt là người dân các xã vùng đệm

Hình 2.3 Tỷ lệ người dân biết các loại ĐNN tại VQG Xuân Thủy

Qua kết quả tổng hợp phiếu tham vấn các bên liên quan về sử dụng tài nguyên ĐNN tại VQG Xuân Thủy cho thấy RNM và bão triều không có RNM được người dân biết đến nhiều nhất (với tỷ lệ lần lượt là 28% và 24%), sau đó là đầm nuôi tôm (24%), các loại ĐNN còn lại như sông nhánh - lạch triều, vùng nước cửa sông, dải cát ven bờ mặc

dù được cộng đồng dân cư biết đến nhưng với tỷ lệ thấp (<15%), (hình 2.3) Kết quả này hoàn toàn tương đồng với tỷ lệ diện tích các loại ĐNN xuất hiện tại VQG Xuân

Thủy đã nêu tại hình 2.2

Bãi triều lầy có RNM

Bãi triều lầy có RNM với diện tích được xác định năm 2014 tại vùng lõi là 1.110 ha, vùng đệm là 808 ha Đặc trưng cơ bản của kiểu HST này là bãi triều có thảm RNM phát triển mạnh trên nền bùn nhuyễn, bùn cát Loại sinh cảnh này thường ở khu triều

giữa và triều cao, nơi có thời gian ngập nước khi triều cường trong ngày Ở VQG Xuân Thuỷ, HST bãi triều lầy có RNM chủ yếu ở Cồn Lu và một phần ở Cồn Ngạn giáp với sông Trà Bãi Trong ở Tây nam của VQG, tiếp giáp với đê Quốc gia là vùng RNM trồng mới

Bãi triều lầy có RNM có hệ thực vật ngập mặn phát triển chủ yếu là các loài: Sú

Trang 30

(Aegiceras corniculatum ), bần chua (Sonneratia caseolaris), trang (Kandelia obovata)

đâng (Rhizophora stylosa) RNM là môi trường thuận lợi cho quần xã ĐVĐ bao

gồm một số loài Giun nhiều tơ; các loài cua chủ yếu thuộc các họ Ocypodidae, Grapsidae; các loài Tôm gõ mõ (Alpheidae); các loài ốc thuộc họ Potamididae, Ellobiidae, Nassaridae, Littoridae, Neritidae, Assimineidae; các loài hai mảnh vỏ, đa

số thuộc các họ Ostreidae, Veneridae, Psammobidae, Glaucomyidae, Tellinidae; Các

loại bò sát, ếch nhái thường gặp ở đây là ếch cua (Fejervarya cancrivora), rắn bồng trung quốc (Enhydris chinensis) Đây cũng là môi trường sống ưa thích của nhiều loài

chim nước và một vài loài chim định cư kiếm ăn trên các tầng tán của RNM Khu vực bãi triều lầy có RNM đoạn cuối điểm giao giữa sông Trà và sông Vọp và phía đầu cồn Ngạn thuộc khu vực vùng lõi VQG là nơi kiếm ăn thường xuyên của loài cò mỏ thìa

và rẽ mỏ thìa vào mùa di cư RNM còn là nơi cư trú sinh trưởng ở giai đoạn con non của nhiều loài hải sản kinh tế

Bãi triều không có RNM

Bãi triều lầy không có RNM với diện tích được xác định năm 2014 tại vùng lõi là 1.219 ha, trong vùng đệm là 922 ha Các dạng bãi triều bằng phẳng, ngập nước thường xuyên vào những ngày nước cường, chỉ được phơi cạn vào kỳ nước kém Nền đáy là cát bột, bùn cát, bùn sét tùy theo điều kiện động lực mạnh hoặc yếu của quá trình

tương tác sông và biển Do không có thực vật che phủ, trao đổi nước tốt, nên là môi

trường phát triển cho nhiều loài động vật đáy: thân mềm có hàu (Crassostrea spp.), ốc

dạ (Cerithideopsilla cingulata), ốc sắt (Cerithideopsis largillierti), ốc bùn (Nassarius jacksonianus, N foveolatus), giáp xác có s ẳng (Macrophthalmusspp.), còng đỏ (Uca arcuata), còng vuông (U borealis); giun nhi ều tơ (Polychaeta)…

Ở VQG Xuân Thuỷ, HST bãi triều không có RNM rộng lớn ở phân khu phục hồi sinh thái của VQG Xuân Thủy phía Tây - Nam Cồn Lu là khu vực nuôi thuần loài ngao bến tre (Meretrix serata) Bãi triều không có RNM có thể xem là nơi của hầu hết các loài chim nước di cư kiếm mồi, đặc biệt đây là nơi kiếm ăn của cò mỏ thìa và rẽ mỏ thìa

Đa số các bãi triều không có RNM đã được tận dụng tối đa để nuôi ngao

Dải cát trải dài suốt ven bờ ngoài Cồn Lu và cồn cát chắn vùng cửa sông

Trang 31

Dải cát trải dài suốt ven bờ ngoài Cồn Lu, diện tích được xác định năm 2014 là 988 ha trong vùng lõi Tại đây rừng phi lao được trồng để phòng hộ ven biển với diện tích được là 110 ha xen lẫn muống biển và trảng cây bụi

Các cồn cát được hình thành phổ biến ở vùng cửa sông Hồng, từ các nguồn bồi tích sông đưa ra được các dòng chảy ven bờ và sóng di chuyển về hai phía cửa sông Các cồn cát thường thành dải dài chạy song song với bờ, chắn ở phía ngoài cửa sông Tại khu vực VQG Xuân Thuỷ: Cồn Xanh, Cồn Mờ có lớp cát mỏng và vẫn đang tiếp tục bồi đắp do phù sa từ sông Hồng đem lại, thường bị ngập khi thuỷ triều lên Độ cao bãi Cồn Xanh khoảng 0,5 - 0,9 m, diện tích bãi nổi khi triều kiệt khoảng trên 200 ha Các cồn có cấu tạo 3 đới: đới cát ở phía biển, chuyển tiếp sang phía lục địa là vật liệu mịn hơn có các loại cỏ biển phát triển Hầu hết bãi triều không có RNM ở Cồn Xanh đang

để tự nhiên, cho nên các loài thân mềm 2 mảnh vỏ rất đa dạng về thành phần loài, bao gồm cả các loài ngao bản địa như ngao dầu, ngao vân, mà không thấy ở bãi triều nuôi ngao Bến Tre ở Cồn Lu Hiện nay, bãi triều không có RNM ở Cồn Xanh là nơi tập trung an toàn cho nhiều loài chim nước di cư với những đàn tới hàng chục cá thể

Sông nhánh, lạch triều

Có hai sông nhánh ở khu vực VQG Xuân Thuỷ là sông Trà và sông Vọp chảy theo

hướng Đông Bắc - Tây Nam Diện tích sông nhánh, lạch triều trong vùng lõi và vùng đệm là xấp xỉ ngang nhau (hình 2.2) Tàu, thuyền máy chỉ có thể đi lại trên các sông này vào thời điểm nước triều cường Vào thời điểm nước triều kiệt, nhiều khu vực sông Trà bị cạn, mực nước thấp

Lạch triều là các dòng nước nhỏ, nông hình thành theo dạng xương cá dọc hai bên bờ sông, chức năng cấp thoát nước theo thuỷ triều cho sông Vọp và sông Trà Kích thước

và độ sâu lạch triều thay đổi theo chếđộ thuỷ triều Quần xã HST sông nhánh - lạch triều chủ yếu là nhóm sinh vật nổi; ĐVĐ có thân mềm nhưốc vân (Neritina communis), ốc gạo (Clithon oualaniensis); giáp xác có họ tôm he (Penaeidae), họ cua

bơi (Portunidae); giun nhiều tơ có Nephtyidae, Sông nhánh - lạch triều là nơi phân bố

của nhiều loài loài cá nước lợ, mặn, đặc biệt ven bờ sông nhánh, lạch triều, loài cá

bống bớp (Bostrychus sinensis) chuyên đào hang làm nơi cư trú; vùng bờ bãi ven sông,

Trang 32

lạch cũng là nơi chim nước lui tới kiếm mồi Hiện nay, trên các sông nhánh, lạch triều,

người dân địa phương giăng rất nhiều lờ bát quái (mỗi lờ có thể kéo dài hàng chục mét) bắt hết các loài cá, tôm, cua lớn nhỏ

Vùng nước cửa sông Ba Lạt

Vùng nước cửa sông Ba Lạt được xác định từ điểm đầu của xã Giao Thiện tới vùng nước ven bờ ngoài của Cồn Lu tới độ sâu 6m khi triều kiệt, kéo dài sang phía Tây - nam tới cuối bãi triều nuôi ngao ở Cồn Lu Diện tích vùng nước cửa sông trong vùng lõi được xác định trong năm 2014 là 3.173 ha Vùng nước cửa sông Ba Lạt có nhóm sinh vật nổi phát triển trong tầng nước Quần xã động vật đáy bao gồm giáp xác có họ tôm he (Penaeidae), họ cua bơi (Portunidae), một số loài thuộc họ tôm càng sông

(Palaemonidae), họ cua rạm (Varunidae); thân mềm có ốc gạo (Assiminea spp.), ốc mút (Cerithideopsilla cingulata, Cerithidea rhizoporarum ), hàu cửa sông (Crassostrea ariakensis ), hến vỏ mỏng (Corbicula luteola); Khu hệ cá vùng nước cửa sông rất đa

dạng về thành phần loài Người dân địa phương đặt khá nhiều đăng đáy với chiều dài hàng trăm mét ở vùng cửa sông để bắt cá

2.1.3 Biến động các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước

Bảng 2.1 Biến động diện tích các hệ sinh thái đất ngập nước ở VQG Xuân Thủy theo

Trang 33

RNM: Giai đoạn 1986-1995 RNM có sự biến động nhưng không nhiều và chủ yếu

xuất hiện tại Cồn Ngạn Giai đoạn 1995-2007 đây là giai đoạn có sự biến động lớn về

diện tích theo hướng gia tăng diện tích Theo các tài liệu của Ban quản lý VQG Xuân

Thủy, có thể xem tới năm 2007, diện tích RNM ở khu vực VQG Xuân Thủy là rộng

nhất (1.711 ha) RNM phát triển rộng khắp Cồn Lu Ở Cồn Ngạn RNM chỉ còn sót

một dải hẹp ven sông Trà (sông nhánh chảy giữa Cồn Ngạn và Cồn Lu) và những vạt

nhỏ ở phía trong giữa các đầm nuôi thủy sản Tại Bãi Trong, nhờ phong trào trồng mới RNM nên diện tích RNM ở đây phát triển đáng kể (rừng thuần Trang - Kandelia obovata) Giai đoạn 2007 – 2013, RNM vẫn duy trì, tuy nhiên diện tích có giảm đi so

với năm 2007 (chỉ còn 1661 ha), do bị cơn bão số 10 năm 2012 tàn phá, làm chết và gãy ngọn khoảng 167 ha RNM, chủ yếu ở Bãi Trong

Bãi triều lầy không có RNM: Từ năm 1986 đến năm 2013, diện tích HST này luôn

giảm, giảm mạnh nhất là giai đoạn 1995-2007 Có thể giải thích sự suy giảm về diện tích bãi triều này lớn nhất ở giai đoạn trên vì đây cũng chính là thời điểm diện tích RNM tăng đột biến (nhờ phong trào trồng mới RNM) Giai đoạn 2007-2013 diện tích bãi triều không có RNM đi vào ổn định dù có chút suy giảm về diện tích nhưng không đáng kể

Vùng nước cửa sông: Qua bảng 2.1 cho thấy hệ sinh thái này biến động diện tích giảm nhiều vào các giai đoạn 1986-1995 và 2007-2013 (diện tích giảm lần lượt -100.3 ha và -302.3 ha), giai đoạn 1986-1995 diện tích vùng nước cửa sông giảm phần lớn do sự gia tăng diện tích các đầm nuôi tôm; Giai đoạn 2007-2013 diện tích vùng nước cửa song

giảm do sự gia tăng diện tích của các dải cát ven bờ Giai đoạn 1995-2007 diện tích của vùng nước cửa sông có tăng nhưng không đáng kể (33.9 ha)

Như vậy có thể thấy sự biến động này chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất/mặt nước của nhân dân địa phương

2.2 Các dịch vụ từ các hệ sinh thái đất ngập nước ở Vườn quốc gia Xuân Thuỷ

VQG Xuân Thủy khá đa dạng về các kiểu HST ĐNN nói chung và HST ĐNN tự nhiên nói riêng Vì vậy những lợi ích thu được từ các HST này cũng rất đa dạng và phong phú

Trang 34

Hình 2.4 Tỷ lệ số người biết lợi ích của ĐNN

Kết quả kháo sát, phỏng vấn các bên liên quan tại VQG Xuân Thủy cho thấy: có tới 90% (90/100 phiếu) người được phỏng vấn biết được lợi ích, giá trị của ĐNN tại VQG Xuân Thủy và 74% (74/100 phiếu) số người dân được hỏi đã sử dụng các tài nguyên ĐNN trong cuộc sống hàng ngày

Hình 2.5 Tỷ lệ số người sử dụng ĐNN hàng ngày Như vậy có thể thấy đa số người dân sống trong vùng đệm của VQG Xuân Thủy đều

biết đến lợi ích của ĐNN và sử dụng tài nguyên ĐNN này phục vụ cho chính cuộc

sống hàng ngày của mình

Ngoài ra, kết quả qua nghiên cứu tài liệu cũng như khảo sát và phỏng vấn trực tiếp, HST ĐNN tại VQG Xuân Thủy cung cấp những dịch vụ giá trị cụ thể sau đây:

Trang 35

a Dịch vụ cung cấp

ĐNN tại VQG Xuân Thủy giàu chất dinh dưỡng, có ánh sáng mặt trời thâm nhập được đến phần lớn độ sâu của môi trường nước, rất thuận lợi cho nhiều loài sinh vật phát triển Do đó, là nơi sản xuất sinh khối, tạo nguồn thức ăn cho các loại thủy sản, động

vật hoang dã hoặc vật nuôi nên nguồn lợi thủy sản ở đây rất phong phú và có khối lượng lớn Một phần các chất dinh dưỡng này có từ các động thực vật đã chết sẽ được các dòng chảy bề mặt chuyển đến các vùng nước ven biển, làm giàu nguồn thức ăn cho

những vùng đó

Các sản phẩm thủy sản

Bảng 2.2 Sảnlượngkhai thác, nuôi trồng thủy sản hàng năm và thu nhập tại VQG Xuân

Thủy [15]

Hoạt động Sản lượng (tấn) (triệu đồng/tấn) Đơn giá (triệu đồng) Thu nhập

Hoạt động khai thác thủy sản tự nhiên 600 13 7.800

RNM đã trở thành không thể thiếu đối với sinh kế người dân địa phương trong vùng đệm Đây là môi trường sống cho nhiều loài có giá trị và nhu cầu tiêu thụ cao tại địa phương cũng như trên thị trường nội địa Hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên rất phổ biến trong cộng đồng, đặc biệt là hình thức khai thác thủ công sử dụng các công

Trang 36

cụ thô sơ (cuốc, thuổng, cào…) trong khu vực RNM Những người tham gia khai thác thủy sản thủ công có đến 70% là phụ nữ trong các xã vùng đệm VQG Hằng ngày, những người phụ nữ này đều đặn đạp xe tới bìa rừng, sau đó đi bộ len lỏi dưới những tán rừng ngập mặn để tìm kiếm từng loại thủy sản Các loài đánh bắt được chủ yếu là

là tôm (Metapenaeus Ensis, Penaeus monodon, Penaeus merguiensis), cua (Scylla serrata, Portunus trituberulatus), cá (Bostrichthys sinensis), ốc và loài hai mảnh vỏ…

(Solen gouldii, Hiatula diphos) [16]

Các sản phẩm từ khu hệ thực vật

Người dân tại các xã vùng đệm sử dụng thân và cành cây khô của RNM để làm chất đốt, chủ yếu từ các cây thuộc họ Đước, Bần chua, Sú Ngoài giá trị cung cấp năng lượng, RNM VQG Xuân Thủy còn cung cấp nhiều nguồn dược liệu quý và có giá trị cao Các loài thực vật có khả năng làm cây thuốc lên tới 111 loài Trong đó một số loài

được sử dụng phổ biến như: Sài hồ nam (Pluchea pteropoda), Nhọ nồi (Eclipta prostrata ), Ngải cứu (Artemisia vulgaris)

Bảng 2.3 Các loài thực vật có giá trị trong rừng ngập mặn Giao Thủy [17]

5 Nhóm cây bảo vệ và chắn sóng, xói mòn đất 20

Hoa trang (Kandelia obovata) và hoa sú [17] Đây là một nguồn lợi góp phần tăng thu nhập đối với người dân địa phương

Trang 37

Rõ ràng, các vùng ĐNN nói chung, khu ĐNN Xuân Thủy nói riêng đã và đang mang lại cho cộng đồng địa phương những nguồn lợi thủy sản to lớn Điều này không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu cho địa phương mà còn góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho họ Tuy nhiên, trong tương lai để khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thủy sản trong khu vực, chúng ta cần phải nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt và cần phải có những đề án, quy hoạch cụ thể

b Dịch vụ điều tiết

ĐNN Xuân Thủy có tác dụng như một bể chứa nước để sau đó nước ngầm dần vào lòng đất Quá trình này diễn ra liên tục, bổ sung nước cho các tầng nước ngầm Mặt khác, quá trình nạp và tiết nước liên tục giữa vùng ĐNN với các tầng nước ngầm cũng góp phần thấm lọc, làm cho các tầng nước ngầm trở nên sạch hơn Các tầng nước

ngầm với chất lượng nước cao là nguồn cung cấp quan trọng cho cuộc sống người dân các huyện khu vực Nam Định nói chung và VQG Xuân Thủy nói riêng

RNM VQG Xuân Thủy góp phần cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, điều hòa khí

hậu địa phương và giảm hiệu ứng nhà kính Theo tính toán của Jim Enright của tổ

chức Yadfon Association (2000), RNM có khả năng tích luỹ CO2 ở mức độ cao, RNM

15 tuổi giảm được 90,24 tấn CO2/ha/năm, tác dụng lớn làm giảm hiệu ứng nhà kính (Cục Bảo vệ môi trường, 2005) [18] Theo Lê Xuân Tuấn và cộng sự (2005) hàm lượng CO2 trong nước của khu vực RNM (7,38 mg/l) thấp hơn so với nơi không có RNM (7,63 mg/l) vì tán lá hút CO2 mạnh hơn làm cho hàm lượng CO2 nơi có rừng

giảm [19]

Nhờ có thảm thực vật, đặc biệt thảm thực vật RNM VQG Xuân Thủy có chức năng

bảo vệ bờ biển khu vực phía Bắc Việt Nam, hạn chế tác động của gió bão, sóng, thủy triều, xói lở, sóng thần Mặt khác, ĐNN Xuân Thủy tạo ra môi trường thuận lợi cho

việc lắng đọng phù sa, nhờ quần thể thực vật mọc dày ở các bãi triều làm giảm động

lực sóng và dòng chảy… góp phần ổn định và mở rộng bãi bồi

Tới nay, chưa có nghiên cứu cụ thể về vai trò của RNM trong việc bảo vệ vùng bãi bồi

của VQG Xuân Thủy nói riêng, tuyến đê Ngự Hàn của huyện Giao Thủy nói chung Tuy nhiên theo thống kê cho thấy, các dải RNM ven biển sẽ góp phần giảm ít nhất 20-

Trang 38

50% thiệt hại do bão, nước biển dâng và sóng thần gây ra Đặc biệt, hệ thống RNM

trồng ven đê còn đóng vai trò là tấm lá chắn xanh, giảm 20-70% năng lượng của sóng

biển, hệ số suy giảm sóng đạt giá trị lớn nhất khi độ cao của cây đạt đến 3,5m đảm bảo

an toàn cho các con đê biển, giúp tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng cho việc duy tu, sửa

chữa đê biển [20]

c Dịch vụ hỗ trợ

Rừng ngập mặn là nơi cung cấp đất cũng như nơi nuôi dưỡng cho nhiều loài như tôm, cua, các loài hai mảnh vỏ Chúng đẻ trứng ở rừng ngập mặn và rừng nuôi dưỡng ấu trùng Ở một độ tuổi nhất định, chúng sẽ di chuyển ra biển và sau đó trở lại vào rừng trong mùa sinh sản để bắt đầu một chu kỳ sống mới Bên cạnh đó, các loài thủy sản và chất hữu cơ của rừng ngập mặn cũng là nguồn thức ăn cho các sinh vật biển

VQG Xuân Thủy là nơi sinh sống quan trọng của các loài chim di cư trong khu vực châu thổ sông Hồng Dựa trên điều tra sơ bộ của Tổ chức sinh vật chim thế giới,có 150 loài chim di cư được tìm thấy ở VQG Xuân Thủy, năm trong số đó được liệt kê trong Sách Đỏ của IUCN và Việt Nam [21]

Trong thời gian mùa đông (tháng mười một và tháng mười hai), VQG Xuân Thủy trở thành nơi cư trú quan trọng cho các loài chim từ Siberia, Hàn Quốc và Bắc Trung Quốc bay về phía nam để tránh rét Đây là nơi các loài chim nghỉ ngơi và để tích lũy

năng lượng cho hành trình dài [21] Một số loài như loại cò thìa(Platalea minor)ở lại

trong mùa đông (từ tháng chín đến tháng tư của năm sau) ở VQGXuân Thuỷ Số lượng

cá thể các loài này xuất hiện trong vườn có thể chiếm đến 20% tất cả các cá thể trên thế giới [21] Chúng tìm kiếm thức ăn ở những đầm lầy, bãi bồi ngập triều và đầm nuôi tôm và nghỉ ngơi trên cồn cát hoặc bờ bao xung quanh đầm nuôi tôm

Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong VQG Xuân Thuỷ cung cấp không gian sống cho nhiều loài ngụ cư và di cư Có sáu loài rắn hiếm trong khu vực, rắn cạp nong

(Bungarus fasciatus), r ắn cạp nia bắc(Bungarus multicinctus), rắn sọc dưa (Elaphe radiate ), rắn hổ đất(Naja Naja), rắn ráo(Ptyas korros) và rắn ráo trâu(Ptyas mucosus)

Bốn trong số đó nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (ba trong số chúng đang bị đe dọa tiệt chủng và các loại khác thì được xếp vào loại dễ bị tổn thương), tất cả sáu loài này đều

Trang 39

không được phép hoặc hạn chế khai thác và sử dụng, được viết trong Nghị định số 48/2002/NĐ-CP Hơn nữa, có 11 loài chim được liệt kê là bị đe dọa, dễ bị tổn thương

và gần bị đe dọa ở quy mô toàn cầu [21]

d Dịch vụ văn hóa

Theo số liệu thống kê của VQG Xuân Thủy, hàng năm VQG đón từ 4000 đên trên 20.000 khách tới thăm quan, nghiên cứu với doanh thu từ 50 triệu đến 820 triệu đồng Các hoạt động du lịch chính mà khách là quan sát chim, đi thuyền, tham quan, nghiên cứu rừng ngập mặn

Hình 2.6 Doanh thu, số lượng khách du lịch tham quan VQG Xuân Thủy

Những năm trước, phần lớn du khách là những nhà khoa học về sinh học (nghiên cứu chim, rừng ngập mặn và thuỷ sinh) nhưng hiện nay đã có sự thay đổi đáng kể, lượng khách đến VQG để quan sát chim chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 80%) Khách thường đến vào mùa chim di trú (tháng 9, 10 năm trước đến tháng 3, 4 năm sau), theo thông tin trên mạng Internet hoặc qua các công ty lữ hành Nhìn chung lượng khách quốc tế còn nhỏ và ít có khách đi theo Tour du lịch sinh thái

Khách du lịch nội địa: số lượng khách nội địa thường chiếm trên 90% tổng số khách đến VQG Thông thường khách nội địa đến tham quan nghiên cứu là học sinh, sinh

Trang 40

viên, cán bộ nhân viên đến từ khối các cơ quan nhà nước và con em địa phương đi xa

về thăm quê Số lượng khách hàng năm thường từ 4.000-7.000 lượt khách, khoảng 200 đoàn/ năm

Từ các kết quả trên có thể thấy số lượng khách đến VQG Xuân Thuỷ là quá nhỏ bé so với tiềm năng sẵn có ở đây Do vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch là rất cần thiết

Giáo dục

Rừng ngập mặn ở VQG Xuân Thuỷ là nơi thường diễn ra các hoạt động về giáo dục và nghiên cứu khoa học bởi sinh viên và các nhà nghiên cứu Từ đó có được những kiến thức về đa dạng loài và sự phong phú cũng như vai trò của rừng ngập mặn Theo kết quả tổng hợp từ Ban quản lý VQG Xuân Thủy, câu lạc bộ bảo tồn các loài chim hoang

dã được hình thành và duy trì tại các xã vùng đệm, sự phối hợp giữa các cán bộ Vườn

và người dân địa phương trong công tác bảo tồn đã bước đầu mang lại những hiệu quả tích cực Nhiều câu lạc bộ xanh đã được thành lập tại các trường học, nhiều các ấn phẩm, tài liệu về giáo dục môi trường đã được biên soạn và phát hành đã góp phần nâng cao nhận thức cho các em học sinh và cộng đồng dân cư

2.3 Ho ạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản của người dân tại Vườn quốc gia Xuân Th ủy

Diện tích bãi bồi và mặt nước rộng lớn với nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng chính là yếu tố giúp cho hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản trong khu vực phát triển và có đóng góp lớn vào nguồn thu nhập chung của địa phương Chính vì vậy, bên cạnh 16,6% số lao động tham gia trực tiếp thì ước tính có khoảng 30% số lao động nhàn rỗi trong các hoạt động sản xuất khác lựa chọn việc khai thác tài nguyên thủy sản làm sinh kế chính và thu nhập chính cho gia đình Theo quan sát, cũng như phỏng vấn của nhóm nghiên cứu cho thấy, bình quân mỗi người khai thác trong một ngày thu được khoảng 150.000-200.000 VNĐ, bình quân mỗi tháng họ đi được khoảng 20 ngày, ước tính thu nhập của họ trong 01 tháng là 2.000.000- hơn 3.000.000 VNĐ Rõ ràng, với người dân nông thôn không có nhiều sự lựa chọn về công việc thì đây được coi là một nguồn thu lớn, nó góp phần đáng kể vào việc chi tiêu trong gia

Ngày đăng: 25/06/2021, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] C ụ c B ả o v ệ môi trườ ng, " Điều tra, đánh giá, thố ng kê, quy ho ạ ch các khu b ả o t ồ n đấ t ng ậ p nước có ý nghĩa quố c t ế , qu ố c gia," Hà N ộ i, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá, thống kê, quy hoạch các khu bảo tồn đất ngập nước có ý nghĩa quốc tế, quốc gia
[2] B ộ Tài nguyên và Môi trườ ng, "Báo cáo qu ố c gia v ề đa dạ ng sinh h ọ c," Hà N ộ i, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia vềđa dạng sinh học
[3] Dugan P.J, "A review of current issues and requied action," Wetland Conversation, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A review of current issues and requied action
[5] Hoàng Văn Thắ ng, " Đa dạ ng sinh h ọ c, các ch ức năng chính và mộ t s ố nhân t ố tác độ ng lên h ệ sinh thái đấ t ng ập nướ c," Lu ậ n án ti ế n s ỹ sinh h ọc, Đạ i h ọ c qu ố c gia Hà N ộ i, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học, các chức năng chính và một số nhân tố tác động lên hệsinh thái đất ngập nước
[7] Cowardin, Carter, Golet and LaRoe, "Classification of Wetland and Deepwater Habitats of the United State" WasingtonDC, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Classification of Wetland and Deepwater Habitats of the United State
[8] Lê Liên D ự c, "Báo cáo t ổ ng quan v ề đấ t ng ập nướ c Vi ệ t Nam," B ộ Khoa h ọ c, Công ngh ệ và Môi trườ ng, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về đất ngập nước Việt Nam
[9] Heidi W., Haripryia G., "The Economics of Ecosystem and Bidodiversity in Local and Regional Policy anhd Management," TEEB, Routlegde, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Economics of Ecosystem and Bidodiversity in Local and Regional Policy anhd Management
[10] Vũ Văn Phái, Nguyễ n Hoàn, Nguy ễ n Hi ệ u, "Ti ến hóa đị a m ạ o vùng c ử a sông Ba L ạ t trong th ờ i gian g ần đây," Đại học quốc gia Hà Nội , vol. 18/2, pp. 44-53, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến hóa địa mạo vùng cửa sông Ba Lạt trong thời gian gần đây
[11] C ụ c Th ố ng kê t ỉnh Nam Đị nh, "Niên giám th ố ng kê huy ệ n Giao Th ủy năm 2014 : Nam Đị nh," 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê huyện Giao Thủy năm 2014: Nam Định
[12] S ở Tài nguyên và môi trường Nam Đị nh, "D ự án t ổ ng h ợp đớ i b ờ ," Na m Đị nh, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án tổng hợp đới bờ
[14] D ự án JICA-NBDS/VEA/BCA, "Báo cáo t ổ ng h ợ p k ế t qu ả c ủ a chuy ến điề u tra và xây d ự ng b ộ ch ỉ th ị đa dạ ng sinh h ọc đấ t ng ập nướ c t ại vườ n qu ố c gia Xuân Th ủ y (t ỉnh Nam Đinh) ," 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả của chuyến điều tra và xây dựng bộ chỉ thị đa dạng sinh học đất ngập nước tại vườn quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Nam Đinh)
[15] Nguy ễ n Vi ế t Cách và c ộ ng s ự , " Báo cáo hàng năm sản lượ ng khai thác th ủ y s ả n t ại Vườ n qu ố c gia Xuân Th ủ y," Ban qu ản lý Vườ n qu ố c gia Xuân Th ủ y, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hàng năm sản lượng khai thác thủy sản tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
[16] The IUCN species survial Comission, "2012 IUCN Red List," International Union for the Conservation, vol.30, pp.134-159,2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2012 IUCN Red List
[17] Phan Nguyên H ồ ng và c ộ ng s ự , "Thành ph ần và đặc điể m th ả m th ự c v ậ t vùng r ừ ng ng ậ p m ặ n huy ệ n Giao Th ủ y, " Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần và đặc điểm thảm thực vật vùng rừng ngập mặn huyện Giao Thủy
[18] Tr ầ n Ng ọc Cườ ng và c ộ ng s ự , " Hướ ng d ẫn Công ướ c v ề các vùng đấ t ng ập nướ c, " C ụ c B ả o v ệ Môi trườ ng, Hà N ộ i, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Công ước vềcác vùng đất ngập nước
[19] Phan Nguyên H ồ ng, "R ừ ng ng ậ p m ặ n Vi ệ t Nam , " Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn Việt Nam
[20] Phan Nguyên H ồ ng, Nguy ễ n Th ị Kim Cúc, "Ph ụ c h ồ i và qu ả n lý h ệ sinh thái r ừ ng ng ậ p m ặ n trong b ố i c ả nh bi ến đổ i khí h ậ u," Tuy ển tập Hội thảo quốc gia Cần Giờ - Thành ph ố Hồ Chí Minh , Hà N ộ i, 23-25/11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi và quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu
[21] Phan Nguyên H ồ ng và c ộ ng s ự , " Đa dạ ng sinh h ọ c ở Vườ n qu ố c gia Xuân Th ủ y. Hà N ộ i, Vi ệ t Nam," MERC - MCD, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Xuân Thủy. Hà Nội, Việt Nam
[4] Phan Dung, (2015, Jan) ramsar.org. [Online]http://www.ramsar.org/document /handbook-6-wetland-cepa Link
[31] Nguy ễ n Th ị Nhung, (2015) http://www.ngheandost.gov.vn.[Online] http://www.ngheandost.gov.vn./web/neoportal/cac-don-vi-khcn-khong-chuyen Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w