Tính cấp thiết của đề tài
Tính đến nay, Việt Nam có 5.579 hồ chứa nước phân bố tại 45/64 tỉnh thành, trong đó gần 100 hồ chứa lớn có dung tích trên 10 triệu m³ Hơn 567 hồ có dung tích từ 1 đến 10 triệu m³, còn lại là các hồ dưới 1 triệu m³ Tổng dung tích trữ nước của các hồ lên đến 35,8 tỷ m³, trong đó 26 hồ chứa thủy điện lớn có dung tích 27 tỷ m³, còn lại là các hồ phục vụ tưới tiêu với tổng dung tích 8,8 tỷ m³, đảm bảo tưới cho 800.000 ha đất nông nghiệp.
Các công trình hồ đập được đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau, chủ yếu từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, nông trường và hợp tác xã Việc xây dựng hồ chứa đã đóng góp lớn vào phát triển nông nghiệp, phát điện, chống lũ, cấp nước sinh hoạt và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, hồ chứa cũng gây ra tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội, với những vấn đề trong thiết kế, thi công và quản lý, cùng với biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro Mối nguy tiềm ẩn từ các hồ chứa, đặc biệt là loại vừa và nhỏ, có thể dẫn đến mất an toàn và thảm họa cho khu vực hạ du, nhất là các công trình xây dựng từ những năm 70, 80 với tiêu chuẩn thiết kế thấp hơn.
Bảo trì công trình (BTCT) đóng vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội BTCT bao gồm các công việc nhằm đảm bảo và duy trì hoạt động bình thường, an toàn của công trình theo thiết kế trong suốt quá trình khai thác và sử dụng.
Trong công tác đầu tư và phát triển tỉnh Ninh Thuận, việc bảo trì công trình thủy lợi đã được chú trọng, nhưng chưa thực hiện đúng trình tự Cần có sự quan tâm đến tính thực tiễn để làm cơ sở cho việc đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, nhằm đảm bảo hiệu quả và bền vững trong quản lý tài nguyên nước.
Chương trình đảm bảo an toàn hồ chứa nước của Bộ NN&PTNT năm 2014 bao gồm nhiều công việc theo Khoản 1 Điều 38 của Nghị định số 46/2015/NĐ-CP Đây là công cụ quan trọng trong quản lý công trình thủy lợi, giúp nâng cao tuổi thọ và tối ưu hóa công năng, nhiệm vụ của các công trình và hạng mục liên quan.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, năng lực quản lý, theo dõi và vận hành hồ đập tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, nghị định này đã thay thế các nghị định trước đó, nhưng việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn.
Trong quá trình triển khai, các Thông tư quan trọng như Thông tư số 02/2012/TT-BXD ngày 12/06/2012 hướng dẫn bảo trì công trình dân dụng và công nghiệp, Thông tư số 14/2013/TT-BGTVT ngày 07/05/2013 quy định bảo trì công trình hàng hải, và Thông tư số 52/2013/TT-BGTVT ngày 12/12/2013 về quản lý và bảo trì công trình đường bộ đã được áp dụng Hiện tại, quy trình bảo trì công trình thủy lợi cũng đang được triển khai.
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là đề xuất quy trình bảo trì công trình hồ chứa nước Bà Râu huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận;
3 Cách tiếp cận và phư ng pháp nghiên cứu
- Tiếp cận lý thuyết, tìm hiểu các tài liệu đã đƣợc nghiên cứu;
- Tiếp cận thực tế ở Ninh Thuận, ở Việt Nam;
- Nghiên cứu tổng quan về công tác BTCT xây dựng;
- Tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm về lĩnh vực xây dựng khác nhau đã và đang thực hiện tốt quy trình bảo trì;
Điều tra và phân tích quy trình bảo trì các công trình thủy lợi là cần thiết để đánh giá hiệu quả hiện tại Việc đề xuất giải pháp nhằm khắc phục và nâng cao quy trình này sẽ giúp hoàn thiện hoạt động bảo trì, đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong quản lý tài nguyên nước.
Kết quả dự kiến từ việc áp dụng Nghị định 46/2015/NĐ-CP sẽ mang lại giải pháp hiệu quả cho quy trình bảo trì công trình hồ chứa nước Bà Râu tại huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
CHƯƠNG 1, TỔNG QUAN VỀ BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1, Bảo hành, Bảo trì công trình xây dựng
1.1.1, Bảo hành công trình xây dựng
Sau khi hoàn thành và nghiệm thu công trình, nhà thầu thi công và nhà thầu cung ứng thiết bị có trách nhiệm khắc phục hư hỏng do lỗi của mình trong quá trình thi công, gọi là bảo hành công trình Thời hạn bảo hành và mức tiền bảo hành được quy định như sau: đối với công trình cấp 1 và cấp đặc biệt, thời gian bảo hành tối thiểu là 24 tháng với 3% giá trị hợp đồng; đối với các công trình còn lại, thời gian bảo hành tối thiểu là 12 tháng với 5% giá trị hợp đồng.
Tiền bảo hành công trình được nộp vào tài khoản của Chủ đầu tư và sẽ sinh lãi theo lãi suất ngân hàng Khoản tiền này sẽ được hoàn trả sau khi thời hạn bảo hành kết thúc và Chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành trách nhiệm bảo hành Ngoài ra, tiền bảo hành có thể được thay thế bằng thư bảo lãnh của ngân hàng có giá trị tương đương.
Chủ đầu tư, chủ sở hữu và quản lý công trình có trách nhiệm theo dõi và phát hiện hư hỏng để yêu cầu nhà thầu thực hiện bảo hành công trình, đồng thời giám sát nghiệm thu công việc bảo hành theo đúng quy định.
Nhà thầu thi công xây dựng và cung ứng thiết bị phải nhanh chóng sửa chữa các hư hỏng do lỗi của mình khi có yêu cầu Nếu không khắc phục kịp thời hoặc chất lượng sửa chữa không đạt yêu cầu, Chủ đầu tư có quyền thuê nhà thầu khác để thực hiện, và chi phí thuê sẽ được trừ từ tiền bảo hành công trình.
Nhà thầu có quyền từ chối bảo hành công trình xây dựng và thiết bị hƣ h ng không do nhà thầu gây ra;
1.1.2, Bảo trì công trình xây dựng
Các công trình xây dựng cần duy trì đặc trưng kiến trúc và công năng để đảm bảo vận hành hiệu quả trong suốt tuổi thọ Đối với công trình mới, nhà thầu thiết kế và nhà sản xuất thiết bị phải lập quy trình bảo trì phù hợp với cấp công trình và loại vật liệu Đối với công trình đang sử dụng mà chưa có quy trình bảo trì, chủ đầu tư cần thuê tổ chức kiểm định có đủ năng lực để đánh giá chất lượng và lập quy trình bảo trì theo trình tự quy định.
Kiểm tra đánh giá chất lượng công trình là nhiệm vụ quan trọng mà chủ sở hữu và quản lý cần thực hiện thường xuyên để phát hiện sớm dấu hiệu xuống cấp Tùy thuộc vào loại công trình, chủ đầu tư nên thuê các tổ chức tư vấn hoặc chuyên gia có năng lực phù hợp để thực hiện kiểm tra định kỳ theo quy định Ngoài ra, trong trường hợp xảy ra sự cố bất thường như bão lũ, hỏa hoạn hay động đất, cần tiến hành kiểm tra đột xuất để bảo trì kịp thời, công việc này phải được thực hiện bởi các chuyên gia và tổ chức có đủ điều kiện năng lực.
Sau khi tiến hành kiểm tra, chủ sở hữu hoặc quản lý công trình cần đánh giá thực trạng chất lượng để quyết định cấp bảo trì phù hợp cho công trình.
Giám sát, nghiệm thu và bảo hành công trình là trách nhiệm của chủ sở hữu và chủ quản lý, họ cần tổ chức giám sát thi công và nghiệm thu công tác bảo trì công trình theo quy định của luật xây dựng.
1.2, Lịch sử phát triển của công tác bảo trì
Bảo trì đã tồn tại từ khi con người bắt đầu sử dụng máy móc và thiết bị, nhưng chỉ trong vài thập kỷ gần đây, nó mới được coi trọng đúng mức Sự gia tăng số lượng và loại hình tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng và công trình xây dựng đã làm nổi bật tầm quan trọng của bảo trì Trung bình, chi phí bảo trì có thể gấp từ 4 đến 40 lần chi phí mua sắm ban đầu, nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả thông qua các hoạt động bảo trì phòng ngừa và phục hồi trong suốt vòng đời của tài sản.
Bảng 1.1 Chi phí chu kỳ sống của một số sản phẩm tiêu dùng
Giá mua ban đầu (USD)
Chi phí vận hành bảo trì (USD)
Chi phí chu kỳ sống (USD)
Tổng chi phí/ Giá mua ban đầu
1.2.2, Bảo trì đã trải qua ba thế hệ
Bắt đầu từ thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ II, công nghiệp chưa phát triển mạnh mẽ Trong giai đoạn này, việc chế tạo và sản xuất chủ yếu dựa vào các máy móc đơn giản, thời gian ngừng máy không ảnh hưởng nhiều đến quy trình sản xuất, vì vậy công tác bảo trì cũng rất đơn giản và không tác động lớn đến chất lượng và năng suất.
Ý thức về việc ngăn ngừa hư hỏng thiết bị chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý, dẫn đến việc thiếu các phương pháp bảo trì hợp lý cho máy móc Thay vào đó, bảo trì chủ yếu chỉ được thực hiện khi thiết bị đã xảy ra hư hỏng.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II, áp lực gia tăng đã tạo ra nhu cầu lớn đối với hàng hóa, trong khi nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp lại giảm sút đáng kể Để khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động, cơ khí hóa đã được phát triển mạnh mẽ.
1950, máy móc các loại đã đƣợc đƣa vào sản xuất nhiều hơn và phức tạp hơn Công nghiệp bắt đầu phụ thuộc vào chúng;
Với sự phụ thuộc ngày càng tăng vào công nghệ, thời gian ngừng máy đã trở thành một vấn đề được chú trọng hơn bao giờ hết Câu hỏi đặt ra là liệu con người đang kiểm soát máy móc hay máy móc đang điều khiển con người Nếu công tác bảo trì được thực hiện hiệu quả, con người có thể kiểm soát máy móc tốt hơn; ngược lại, khi máy móc hư hỏng, nó sẽ gây ra nhiều khó khăn cho con người.