Ngành học: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước Tên luận văn: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng thủy lợi và cơ sở khoa học của một số giải pháp công trình tiêu nước nhằm thích ứng với biến
Trang 1Lu ận văn này được hoàn thành vào tháng 9 năm 2011 tại khoa Sau đại học
tr ường Đại học Thủy lợi Hà Nội Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
th ạc sĩ, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ chân thành, sự chỉ bảo tận tình của tập thể các Giáo sư, phó Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên của trường cùng toàn thể cán
bộ khoa sau đại học
Trước hết tự đáy lòng mình xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS Lê Quang Vinh người thầy hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo hướng đi cũng như cung cấp các thông tin và căn cứ khoa học cần thiết cho luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo khoa Sau đại học, tập thể giáo viên và cán b ộ khoa, viện Quy hoạch Thủy lợi, sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Bình, Chi c ục Quản lý nước và công trình thủy lợi Thái Bình, gia đình cùng các anh chị đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi về vật chất, tinh thần và cung cấp tài liệu chuyên ngành cho tác giả học tập và hoàn thành luận
v ăn này
Tác giả xin gửi tới ban lãnh đạo Trung tâm khoa học & Triển khai kỹ thuật thủy lợi và tập thể đơn vị nơi tác giả công tác lời cảm ơn chân thành đã tạo điều kiện để hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả được trình bày luận văn này
Hà Nội, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Nguy ễn Hồng Thân
Trang 3I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ và tên: NGUYỄN HỒNG THÂN Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 06/08/1984 Nơi sinh: Vĩnh Phúc
Quê quán: Tam Hồng – Yên Lạc – Vĩnh Phúc Dân tộc: Kinh
Chức vụ, đơn vị công tác trước khi đi học tập, nghiên cứu:
Cán bộ kỹ thuật
Chỗ ở hiện nay hoặc địa chỉ liên lạc:
Nhà 46 ngõ 191 Khương Thượng – Đống Đa – Hà Nội
Điện thoại cơ quan: Điện thoại nhà riêng:
Fax: Email: Di động: 0982096118
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO: 1 Trung học chuyên nghiệp: Hệ đào tạo: Thời gian từ: / đến /
Nơi học (trường, thành phố):
Ngành học:
2 Đại học: Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian từ: 09/2004 đến 06/2009
Nơi học (trường, thành phố): Đại học Thuỷ Lợi Hà Nội
Ngành học: Kỹ thuật Tài Nguyên Nước
Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: Thiết kế trạm bơm tưới Đại Định – Vĩnh Phúc
Ngày và nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp: 19/05/2009 - Đại học Thuỷ Lợi
Người hướng dẫn: Th.s Lưu Văn Quân
3 Thạc sĩ: Hệ đào tạo: Sau đại học Thời gian từ: đến
Nơi học (trường, thành phố): Đại học Thuỷ Lợi Hà Nội
Ngành học: Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước Tên luận văn: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng thủy lợi và cơ sở khoa học của một số giải pháp công trình tiêu nước nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu cho hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình……….
Ngày và nơi bảo vệ :
Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Quang Vinh
4 Trình độ ngoại ngữ (biết ngoại ngữ gì, mức độ): TOEFL 477 5 Học vị, học hàm, chức vụ kỹ thuật được chính thức cấp; số bằng, ngày cấp và nơi cấp:
Trang 4
Thời gian N ơi công tác Công việc đảm nhiệm
06/2009 đến nay Trung tâm khoa học & Triển khai kỹ thuật thủy lợi – Trường Đại Học Thủy Lợi Cán bộ kỹ thuật
VI KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH HỌC CAO HỌC:
V CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ:
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN CỬ ĐI HỌC
Giám đốc
Hà Nội, Ngày 28 tháng 09 năm 2011
Ng ười khai
Nguyễn Hồng Thân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hệ thống thuỷ nông (HTTN) Bắc Thái Bình có tổng diện tích tự nhiên 89.271ha, trong đó có 57.999 ha đất nông nghiệp, bao gồm các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ và một phần thành phố Thái Bình nằm phía bắc sông Trà Lý
Hệ thống Bắc Thái Bình có truyền thống và trình độ cao vể thâm canh lúa nước,
có nhiều khu vực chuyên canh rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày, có phong trào chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha đang diễn ra rất mạnh Bắc Thái Bình cũng là một hệ thống phức tạp về mặt cấu trúc, có đủ loại hình tưới tiêu nước và phụ thuộc rất nhiều vào chế độ thuỷ triều
Hiện nay hệ thống thuỷ nông Bắc Thái Bình có 86.759 ha đất nằm trong đê cũng là diện tích cần tiêu, trong đó có 18.127 ha tiêu bằng động lực và 68.632 ha tiêu
tự chảy, tiêu trực tiếp ra các sông lớn bao bọc xung quanh là sông Luộc, sông Hoá, sông Hồng, sông Trà Lý và biển Đông
Hệ thống công trình thuỷ lợi đã có trên hệ thống thuỷ nông Bắc Thái Bình được xây dựng khá đồng bộ và hoàn chỉnh từ đầu mối đến mặt ruộng Tuy nhiên, trải qua nhiều thập kỷ xây dựng và khai thác, đến nay hầu hết các công trình này đều đã bị xuống cấp, bị hư hỏng nhưng chưa được sửa chữa, nâng cấp kịp thời, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong hệ thống
Cũng như nhiều hệ thống thuỷ lợi khác ở ĐBSH, trên hệ thống Bắc Thái Bình đang có sự chuyển dịch rất mạnh về cơ cấu sử dụng đất (SDĐ): diện tích ao hồ, đất trồng lúa nước bị giảm dần, diện tích đất đô thị và công nghiệp không ngừng mở rộng, nhu cầu tiêu nước tăng lên nhanh chóng Trong hệ thống đang tồn tại mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu và khả năng đáp ứng của các công trình thuỷ lợi đã có Do có địa hình bằng phẳng và thấp, lại gần biển nên HTTN Bắc Thái Bình là một trong những vùng chịu tác động rất mạnh của biến đổi khí hậu toàn cầu và cả mực nước biển dâng Liên tiếp trong các năm 2003, 2004 và 2008 hệ thống này bị úng ngập rất nặng nề gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của nhân dân
Do vậy, nghiên cứu đánh giá hiện trạng thuỷ lợi và cơ sở khoa học của một số giải pháp công trình tiêu nước nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu cho HTTN Bắc Thái Bình là rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được hiện trạng thủy lợi và cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp công trình tiêu nước thích ứng với biến đổi khí hậu cho HTTN Bắc Thái Bình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ứng dụng
Đối tượng nghiên cứu là các công trình tiêu nước đã và sẽ xây dựng trên HTTN Bắc Thái Bình
Trang 6Phạm vi nghiên cứu là các cơ sở khoa học và các giải pháp công trình tiêu nước thích ứng với BĐKH
4 Nội dung và kết quả nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng công trình tiêu và khả năng đáp ứng tiêu của các công trình này trong HTTN Bắc Thái Bình
- Phân tích các mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng tiêu nước của các công trình tiêu nước đã có trên hệ thống thủy lợi
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD) đối với yêu cầu tiêu nước trong HTTN Bắc Thái Bình theo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công bố
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp công trình thủy lợi nhằm thích ứng với BĐKH và NBD và cơ sở khoa học, khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các giải pháp
5.2 Phương pháp điều tra thu thập và đánh giá
Điều tra thu thập tài liệu, khảo sát và nghiên cứu thực tế, phân tích đánh giá và tổng hợp tài liệu để từ đó rút ra các cơ sở khoa học và khả năng ứng dụng vào thực tiễn
5.3 Phương pháp tự nghiên cứu
Tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên
Địa điểm nghiên cứu của đề tài là hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THỦY NÔNG BẮC THÁI BÌNH
1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình là vùng đồng bằng ven biển thuộc hạ du sông Hồng bao gồm các huyện Đông Hưng, huyện Hưng Hà, huyện Quỳnh Phụ, huyện Thái Thụy và một phần thành phố Thái Bình Vị trí địa lý của hệ thống được giới hạn bởi:
- Phía Tây Bắc giáp sông Luộc và tỉnh Hưng Yên
- Phía Đông Bắc giáp sông Hóa và thành phố Hải Phòng
- Phía Tây và Tây Nam giáp sông Hồng và sông Trà Lý
- Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ
- Phía Nam là sông Trà Lý và hệ thống Nam Thái Bình
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình do phù sa sông Hồng bồi tụ tạo thành nên địa hình tương đối bằng phẳng so với các vùng đồng bằng khác, cao độ biến đổi từ 0,5÷3m Nhưng chủ yếu tập trung ở cốt đất 0,75÷2,0m
Trong hệ thống hướng dốc chính là hướng Tây Bắc – Đông Nam cao từ huyện Hưng Hà thấp xuống huyện Đông Hưng, nhưng lại có xu thế cao lên ở vùng ven biển
Thái Thụy Đặc biệt các giải đất trũng phần lớn chạy dài theo các triền sông như: Ven sông Hồng là vùng Minh Tân, Văn Lang, Độc Lập; Ven sông Trà Lý là vùng Tịnh Xuyên, Hoa Hồng Bạch, Sa Lung;ven sông Luộc là vùng Ba Trai, ven sông Sành là vùng Họ An và vùng sông Sinh
1.1.3 Đặc điểm cấu tạo địa chất
Về địa chất qua các hố khoan của các công trình đã xây dựng cho thấy tình hình địa chất được khái quát như sau:
Tầng canh tác trung bình từ 7 ÷ 10cm đây là lớp đất màu có lẫn nhiều phù sa Dưới
đó là lớp đất sét mỏng 3 ÷ 5cm hạt mịn ít thoát nước, dưới nữa là lớp đất sét hạt thô
Trang 8dày từ 0,5 ÷ 2m, có lẫn nhiều vỏ sò, hến, xác sú vẹt, có vùng phần lớn là đất sỏi, lớp đất này làm cho tầng nước sạch mạch di động nhanh làm mái kênh mương và hố móng công trình không ổn định
Lớp nước mạch nằm ở rất nông thường chỉ cách mặt đất từ 0,5 ÷ 1,0m, có nhiều vùng mực nước ngầm nằm ngay ở tầng đất canh tác, vì nước ngầm ở nông nên muối từ trong lòng đất dễ đưa lên tầng canh tác
Cấu tạo địa chất trong vùng về cơ bản gồm các lớp sau:
- Lớp 5: Là đất sét nhẹ, màu xám nhạt, trạng thái dẻo chảy, nằm ở cao độ 16m) đến (-25m) có φ = 7-80, độ dày lớp 4 trên 10,0m
( Lớp 6 là đất sét nhẹ, trạng thái dẻo chảy, nằm dưới lớp 5, có φ = 7-80
Nhìn chung địa chất công trình là tương đối phức tạp, lớp dưới đáy công trình nói chung là lớp đất yếu, cần có gia cố khi xây dựng công trình
1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình được hình thành trong quá trình nâng dần
do phù sa bồi đắp, do vậy đất đai của hệ thống thuộc loại đất trẻ giàu chất dinh dưỡng, nhưng sự phân bố chất dinh dưỡng lại không đều có vùng giàu đạm nhưng lại nghèo kali và ngược lại, vùng cao thường bị rửa trôi, đất bị bạc màu, vùng thấp trũng tầng đất canh tác được tăng dần chất dinh dưỡng nhiều nhưng độ chua lớn, đất canh tác thường
bị ngập nước quanh năm Vùng ven biển thường là bãi đất cao, lượng muối hòa tan trong đất còn khá lớn Hàng năm do tác dụng xâm thực của nước biển qua mạch nước ngầm làm độ mặn tăng lên
Theo tài liệu thu thập của trung tâm nghiên cứu nông nghiệp tỉnh Thái Bình hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình có diện tích tự nhiên là 89.271ha với các loại đất chính sau:
Trang 9o
Trun
g bình
Khá Nghè
o
Trun
g bình
- Tiềm năng đất đai trong vùng còn rất khá, hiện tại chưa khai thác hết
- Diện tích đất chua, mặn chiếm tỉ lệ tương đối cao cần được cải tạo để nâng cao độ đồng đều về năng suất trong vùng
1.1.5 Đặc điểm khí tượng,khí hậu
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình là vùng nhỏ thuộc đồng bằng Bắc Bộ nên đặc điểm chung về khí tượng, thủy văn đều mang nét chung của đồng Bằng Bắc Bộ Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng được bố trí rộng khắp trên địa bàn như: trạm Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thái Ninh, Thụy Anh và thành phố Thái Bình
Trạm khí tượng quan trắc đày đủ nhất và dài năm nhất là trạm thành phố Thái Bình có đủ các yếu tố khí tượng từ năm 1960 đến nay và vẫn tiếp tục quan trắc Ngoài
ra còn có các trạm đo mưa từ 1961 đến năn 2002 là Thái Thụy (1961 – 2002), Đông Hưng (1960 – 2002), Hưng Hà (1960 – 2002)
- Lượng mưa trung bình nhiều năm: 870,9mm
- Những đợt mưa lớn 200-350 mm trở lên thường xảy ra vào tháng 8,9 mưa lớn thường gắn liền áp thấp nhiệt đới, bão
- Lượng mưa lớn nhất ngày tại Thành phố Thái Bình trong tháng 7 là 294,9mm, tháng 8 là 253,6mm, tháng 9 là 418mm
Trang 10- Lượng mưa trung bình nhiều năm trong các tháng khác nhau cụ thể: Tháng
Có hai mùa gió chính trong năm:
- Gió mùa Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10, gió thổi từ ngoài biển vào mang theo hơi nước gây ra mưa rào
- Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thường lạnh, khô và gây ra mưa phùn
1.5.1.6 Bốc hơi
Thông thường bốc hơi có liên quan đến nhiệt độ, nắng, mưa, độ ẩm và gió
- Lượng bốc hơi trung bình năm: 752 mm/năm
- Lượng bốc hơi lớn nhất (tháng 11): 90÷100 mm/tháng
- Lượng bốc hơi nhỏ nhất ( tháng 2,3): 33÷41 mm/tháng
1.5.1.7 Nắng
Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng từ 1600-1750 giờ Các tháng mùa hè
từ tháng 5 đến tháng 10 có nhiều nắng nhất, trên dưới 200 giờ mỗi tháng Các tháng
Trang 112,3 là những tháng ít nắng, chỉ đạt khoảng 30 đến 40 giờ mỗi tháng
1.5.1.8 Mây
Lượng mây trung bình năm chiếm khoảng 70% bầu trời Tháng 3 trời nhiều
mây nhất có lượng mưa cực đại, chiếm trên 90% bầu trời Tháng 10 trời quang đãng nhất, lượng mưa trung bình chỉ chiếm khoảng 60% bầu trời
Sông Hồng phân nước qua sông Thái Bình qua hai phân lưu lớn còn lại là sông Đuống (dài 64 km), sông Luộc (dài 72,4km) Phân nước sang sông Đáy qua sông Nam Định (dài 31,5 km) và chảy thẳng ra biển (Vịnh Bắc Bộ) ở cửa Ba Lạt và hai phân lưu nữa là sông Trà Lý (dài 64 km) và sông Ninh Cơ dài 51,8 km
Sông Trà Lý có hướng chung là Tây – Đông Bắt đầu từ xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co, uốc khúc qua Quyết Chiến, An Tiến, Đồng Phú, Đồng Công của huyện Đông Hưng, thành phố Thái Bình, Đông Mỹ, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phú của huyện Thái Thuỵ đột ngột đổi hướng Bắc – Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối cùng tới Định Cư rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý,
sông dài 64 km Sông Trà Lý vẫn là sông thiên nhiên, mới chỉ có tác động của con người là đê được đắp hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các cống
Sông Hoá có hướng chảy chung từ Bắc – Đông Bắc, bắt đầu từ xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình chảy uốn khúc qua các xã An Đồng, An Thái, An Ninh, Thị trấn An Bài, An Thanh, An Mỹ, Thụy Ninh, Thụy Việt, Hồng Quỳnh cuối cùng qua xã Thụy Tân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình rồi đổ ra sông Thái Bình rồi
ra biển Sông Hóa có chiều dài 38,04 km
Sông Luộc cũng là một phân lưu của sông Hồng nối sông Hồng với sông Thái Bình Sông Luộc chảy theo hướng Tây – Đông, hướng thấp dần của đồng bằng Bắc
Bộ Cửa vào ở độ cao trung bình +4 - +6m, xuống Quý Cao, Vĩnh Bảo chỉ còn +1 – 0m Sông Luộc ít dốc và chảy quanh co, độ rộng lòng sông trung bình từ 300 – 400 m,
độ cao đáy sông khoảng từ 1-5m
Trang 12Mực nước sông ngoài phụ thuộc vào sự điều tiết của nhà máy thủy điện Hòa Bình Trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau nhà máy chỉ xả nước vận hành phụ thuộc vào mực nước trong hồ, trong những năm gần đây tình trạng thiếu nước tích trữ trong hồ đã làm mực nước trên các sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc , sông Hóa xuống thấp gây khó khăn cho các cống lấy nước thượng lưu, đồng thời hạ lưu bị mặn xâm nhập làm giảm chất lượng nước tưới
Về mùa lũ mực nước sông chịu sự chi phối chủ yếu của lũ thượng nguồn, nước tuy chứa hàm lượng phù sa lớn nhưng thường gây lũ trên các triền sông Sự điều tiết của hồ Hòa Bình đã làm kéo dài thời gian có lũ trên sông Theo số liệu thống kê công
ty TNHH một thành viên khai thác CTTL Bắc Thái Bình, mực nước lũ duy trì tại cống Lão Khê trên triền sông Luộc như sau:
Báo động I: cao nhất 30 ngày, trung bình 15-16 ngày
Báo động II: cao nhất 12 ngày, trung bình 10-12 ngày
Báo động III: cao nhất 16 ngày, trung bình 5-7 ngày
Trang 131.9m và khi triều kém, đỉnh và chân dao động trong khoảng 0.3 – 0.5m Số ngày triều cường từ 3m trở lên trong một năm có từ 152 – 176 ngày
Bảng 1.6: Mực nước bình quân tháng mùa kiệt tại cống Nhâm Lang trên sông Luộc- Huyện Hưng Hà- Tỉnh Thái Bình trong một số năm điển hình
( Nguồn: Viện Quy hoạch Thủy Lợi)
Bảng 1.8: Mực nước bình quân 1,3,5,7 ngày đỉnh và chân triều trong mùa lũ ứng với tần suất 5%, 10%, 20%
Trang 14Bảng 1.9 Mực nước báo động và thời gian duy trì tại một số trạm đo
Đơn vị: cm
Sông Vị trí Mức báo động 1 Mức báo động 2 Mức báo động 3
MN(cm) Số ngày MN (cm) Số ngày MN (cm) Số ngày
cây có giá trị kinh tế khác Mặt khác vùng cũng chịu ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu đang diễn ra gây ra những khó khăn, thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Đây là thách thức lớn đòi hỏi công tác điều hành hệ thống thủy nông ngày càng phải
có những hành động tích cực, chủ động nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do sự biến đổi khí hậu gây ra
1.2 Hiện trạng kinh tế, xã hội và định hướng phát triển kinh tế
1.2.1 Hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất
Năm 2009 tổng diện tích tự nhiên của hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình là 89.270 ha được phân chia từng loại như bảng 1.11
Trang 15Bảng 1.11 Hiện trạng sử dụng đất Bắc Thái Bình năm 2009
TT Hạng mục Tổng Hưng Đông Quỳnh Phụ Hưng Hà Thuỵ Thái 20% TP Thái
Bình Tổng diện tích tự nhiên 89,270.58 19,576.95 20,961.97 20,873.85 26,503.64 1,354.17
1 Đất nông nghiệp 57,998.79 13,474.57 14,122.61 13,561.94 16,160.96 678.71 1.1 Đất trồng cây hàng năm 54,570.71 12,863.07 13,181.55 12,661.63 15,210.89 653.57 1.1.1 Đất trồng lúa 51,627.06 12,625.19 12,480.94 11,507.46 14,405.48 607.99 1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 2,943.64 237.88 700.60 1,154.18 805.40 45.58 1.2 Đất trồng cây lâu năm 3,326.69 597.54 938.16 873.81 892.36 24.82 1.3 Đất nông nghiệp khác 101.40 13.96 2.90 26.50 57.72 0.32
2.1 Đất rừng sản xuất 2.44 0.00 0.00 0.00 2.44 0.00 2.2 Đất rừng phòng hộ 417.58 0.00 0.00 0.00 417.58 0.00 2.3 Đất rừng đặc dụng 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00
3 Đất nuôi trồng thủy sản 6,425.01 1,089.68 998.40 1,426.21 2,735.52 175.20
5 Đất phi nông nghiệp 21,467.74 4,579.77 5,030.01 4,829.51 6,438.72 589.73
5.1 Đất ở 6,987.34 1,688.58 1,471.82 1,701.48 1,960.72 164.74 5.1.1 Đất ở tại nông thôn 6,625.02 1,673.13 1,397.46 1,551.25 1,909.49 93.69 5.1.2 Đất ở tại đô thị 362.33 15.46 74.36 150.23 51.23 71.05 5.2 Đất chuyên dùng 11,960.85 2,499.11 3,048.06 2,323.70 3,745.06 344.92 5.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình
sự nghiệp 180.42 38.95 45.27 47.03 43.00 6.17 5.2.2 Đất quốc phòng, an ninh 26.18 7.95 5.48 1.74 7.27 3.74 5.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp 540.80 125.90 53.99 109.78 155.78 95.35 5.2.4 Đất có mục đích công cộng 11,213.44 2,326.31 2,943.33 2,165.15 3,539.00 239.65 5.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 243.78 59.14 53.53 61.30 65.78 4.03 5.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 894.36 175.13 175.66 226.73 302.41 14.43 5.5 Đất sông suối và mặt nước
chuyên dùng 1,361.39 154.77 276.54 511.80 360.96 57.32 5.6 Đất phi nông nghiệp khác 20.03 3.04 4.40 4.50 3.79 4.30
6.1 Đất bằng chưa sử dụng 382.94 63.92 67.97 156.17 84.35 10.53 6.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 6.3 Núi đá không có rừng cây 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00
7 Đất có mặt nước ven biển 2,512.00 0.00 0.00 0.00 2,512.00 0.00
7.1 Đất mặt nước ven biển nuôi
trồng thuỷ sản 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 0.00 7.2 Đất mặt nước ven biển có rừng 1,021.99 0.00 0.00 0.00 1,021.99 0.00 7.3 Đất mặt nước ven biển có mục
đích khác 1,409.01 0.00 0.00 0.00 1,409.01 1,354.17
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình 2009)
Trang 16- Đất nông nghiệp có 57.998,79 ha chiếm 64,97%
- Đất lâm nghiệp: có 420,02 ha chiếm 0,47%
- Đất nuôi trồng thủy sản: có 6.425,01 ha chiếm 7,20%
- Đất làm muối: có 64,08 ha chiếm 0,07%
- Đất phi nông nghiệp có 21.467,74 ha chiếm 24,05%
- Đất chưa sử dụng có 382,94 ha chiếm 0,43%
- Đất ven biển có 2.512 ha chiếm 2,81%
1.2.2 Hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp
Nghành nông nghiệp hơn 10 năm qua trong vùng nghiên cứu đã có bước phát triển khá vững chắc, trên lĩnh vực trồng trọt liên tiếp có sự chuyển biến mới về năng suất, là một trong những vùng có năng suất lúa bình quân cao nhất trong cả nước, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp ngày một tăng, từng bước tạo nên sự đồng đều giữa các khu vực và hình thành ngày càng rõ nét các vùng chuyên canh, chuyển biến tích cực trong việc đưa nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng ngành nghề
Mặc dù sản xuất nông nghiệp đang phát triển mạnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng ngành nghề, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp nhưng
tỷ trọng thu nhập từ trồng trọt vẫn rất lớn chiếm 81,7% sản phẩm nông nghiệp Tỷ trọng chăn nuôi còn thấp, chiếm 16,5%; thu nhập từ dịch vụ nông nghiệp chỉ chiếm 1,8%
1.2.2.1 Sử dụng đất nông nghiệp
Theo số liệu thống kê đến năm 2009 diện tích đất nông nghiệp toàn khu vực là 57.998,79 ha chiếm 64,97% diện tích đất tự nhiên Đất sử dụng cho nông nghiệp bao gồm các loại sau:
- Đất trồng cây hàng năm có 54.570,71 ha chiếm 94,09 % diện tích đất nông nghiệp
- Đất trồng cây lâu năm có 3.326,69 ha chiếm 5,74 % diện tích đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp khác 101,40 ha chiếm 0,17% diện tích đất nông nghiệp
Trang 17khoảng 80-85% diện tích, vụ mùa 90% là nhóm giống ngắn ngày, chủ yếu là giống lúa lai và lúa thuần Trung Quốc
Thời vụ gieo cấy:
- Vụ xuân: Trong khu vực thường gieo cấy vào cuối tháng 1 đến đầu tháng 2
hàng năm Thời kỳ bơm nước đổ ải thường bắt đầu từ đầu tháng 1 cho các trà xuân sớm và từ trung tuần tháng 1 cho các trà xuân muộn
- Vụ mùa: Gieo cấy trong tháng 6 và thu hoạch vào cuối tháng 9
1.2.2.3 Chăn nuôi
Chăn nuôi là phần quan trọng trong ngành nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm phân bố rộng khắp trên toàn tỉnh với quy mô sản xuất hộ gia đình là chủ yếu Miền Bắc Thái Bình trong những năm gần đây cũng phát triển chăn nuôi rất mạnh, tỷ trọng tăng dần từ 19,2% năm 1990 lên 25,2% năm 2005 trong tổng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp Mô hình chăn nuôi chủ yếu là hộ gia đình, nhưng bước đầu hình thành các trang trại, gia trại chăn nuôi tập trung, trong đó có các điểm chăn nuôi lớn được quy hoạch tổng thể như Đông Kinh huyện Đông Hưng những mô hình này đã và đang được triển khai thực hiện Điều đó làm giảm tác động đến môi trường, nâng cao năng suất và đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa
1.2.2.4 Quy hoạch phát triển nông nghiệp
Theo định hướng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình đến năm 2020: Xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, phù hợp với hệ sinh thái, phát triển bền vững, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong sản xuất, bảo quản và chế biến để tạo ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị cao; đặc biệt, chú ý lựa chọn và sản xuất bộ giống mới phù hợp cho năng suất, chất lượng cao Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thủy sản và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong từng vùng
Nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 đạt mức bình quân 3,7%/năm và giai đoạn năm 2016 - 2020 đạt mức 2,6%/năm
1.2.3 Hiện trạng và quy hoạch phát triển thủy sản
1.2.3.1 Hiện trạng nghành thủy sản
Từ năm 1998 đến nay vị trí của ngành thuỷ sản kinh tế trong lưu vực đóng một vai trò quan trọng và được coi là nhành kinh tế mũi nhọn, giá trị sản suất của ngành thuỷ sản năm 1998 là 272 tỷ đồng, năm 2003 là 352,018 tỷ đồng.Trong năm 2005 sản lượng khai thác toàn hệ thống là 22,2 nghìn tấn đến năm 2007 là 25,3 nghìn tấn và đến năm 2008 là 27,4 nghìn tấn
Các lĩnh vực khai thác thuỷ sản chủ yếu:
• Nuôi trồng thuỷ hải sản:
- Thuỷ sản nước ngọt: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 1998 là 3.843 ha, năm
2000 là 4.030ha, năm 2006 là 3.734 ha Huyện có diện tích nuôi nhiều nhất là Hưng
Trang 18Hà và Thái Thụy Đối tượng nuôi rất đa dạng đã thể hiện được tính khoa học trong việc chọn đối tượng nuôi với phổ thức ăn khác nhau, nhằm tận dụng hết nguồn dinh
dưỡng trong chuỗi thức ăn của thuỷ vực, đồng thời giảm bớt mật độ quá dày bằng cách phân đều theo các tầng mặt nước khác nhau trong ao nuôi
-Thuỷ sản mặn lợ: Diện tích nuôi thuỷ sản mặn lợ nằm ở huyện Thái Thuỵ
Nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ có xu hướng chuyển đổi từ diện tích làm muối, trồng lúa ven biển với năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản.Năm 2005 đã chuyển đổi đã chuyển đổi được trên 500 ha làm muối, trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản trong
đó có những vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ở Thụy Hải, Thái Đô huyện Thái
Thụy
1.2.3.2 Quy hoạch phát triển thủy sản
Theo định hướng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình đến năm 2020: Phấn đấu giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng 9,4%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và tăng 6,7%/năm giai đoạn 2016 - 2020
Tiếp tục mở rộng diện tích nuôi thủy sản ở bãi triều, đẩy mạnh nuôi thâm canh thủy, hải sản ở vùng nước lợ; mở rộng quy mô và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất giống thủy sản; đẩy mạnh cải tạo ao hồ, ruộng chuyển đổi thành các vùng tập trung để phát triển nuôi trồng thủy sản thâm canh và bán thâm canh, có khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, chất lượng cao
Đẩy mạnh khai thác hải sản trên biển, tăng cường khai thác đánh bắt xa bờ, hạn chế khai thác gần bờ
1.2.4 Hiện trạng và quy hoạch phát triển công nghiệp và tiểu công nghiệp
1.2.4.1 Hiện trạng phát triển công nghiệp và tiểu công nghiệp
Những ngành công nghiệp chủ yếu của khu vực là công nghiệp chế biến nông sản - thực phẩm, công nghiệp dệt da may mặc , công nghiệp sành sứ thuỷ tinh và sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa phục vụ nông nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống có thêu ren, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, dệt vải, trạm bạc
Hiện trong khu vực có 39 làng nghề, xã nghề Trong đó Đông Hưng 8, Vũ Thư
11, Quỳnh Phụ 10, Thái Thuỵ 7, Hưng Hà 14, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp thu hút nhiều lao động Miền Bắc Thái Bình nổi tiếng với các làng nghề truyền thống như dệt lụa Thái Phương, đồ gỗ mỹ nghệ An Thái, bánh cáy làng Nguyễn mang lại những hiệu quả kinh tế cao, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là lúc nông nhàn
1.2.4.2 Quy hoạch phát triển công nghiệp và tiểu công nghiệp
Theo định hướng phát triển kinh tế tỉnh Thái Bình đến năm 2020: Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có thị trường ổn định trong nước và ngoài nước, hiệu quả cao, các ngành công nghiệp có thế mạnh về nguồn nguyên liệu, sử dụng nhiều lao
Trang 19động Khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường đầu tư chiều sâu nhằm trang bị công nghệ hiện đại, thiết bị đồng bộ
Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 20%/năm, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 17%/năm
1.2.5 Hiện trạng và quy hoạch phát triển đô thị
Trong khu vực có thành phố Thái Bình và các thị trấn huyện lỵ: Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Thái Thuỵ, Diêm Điền
Theo định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020 xây dựng kết cấu hạ tầng và đẩy nhanh đô thị hóa là lĩnh vực quyết định, là nhiệm vụ xuyên suốt thời kỳ quy hoạch Đến trước năm 2020 đưa thị trấn Diêm Điền huyện Thái Thụy và thị trấn Đông Hưng huyện Đông Hưng trở thành thị xã thuộc tỉnh
1.2.6 Hiện trạng và quy hoạch phát triển các cơ sở hạ tầng
1.2.6.1 Giao thông vận tải
Mạng lưới giao thông:
• Đường bộ:
Là vùng có mật độ lưới đường giao thông lớn với các trục đường chính:
- Quốc lộ số 10 chạy giữa hệ thống từ Bắc xuống Nam dài khoảng 41 km là trục giao thông chính nối liền Thái Bình với Hải Phòng, Nam Định
- Quốc lộ 39 nối liền cảng Diêm Điền vào mạng quốc lộ số 10 ở Gia Lễ
- Tỉnh lộ 217 xuất phát từ ngã ba Đọ chạy qua thị trấn Quỳnh Côi rồi nối với quốc lộ 5
- Tỉnh lộ 39B từ Thành phố Thái Bình sang Thành phố Hải Phòng
- Ngoài ra còn các mạng lưới đường liên huyện, liên xã khá dày đặc nối liền các khu dân cư với mạng lưới quốc lộ, tỉnh lộ
• Đường thuỷ:
Hệ thống có mạng lưới sông ngòi dầy đặc thuân lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ, mật độ lưới đường sông 0,33 km/km2 Các sông chạy qua lưu vực gồm: sông Hồng dài 10 km, sông Luộc dài 71 km, sông Hoá dài 36 km, sông Trà Lý dài 65
km ngoài ra còn có 14 sông cấp 1 nhỏ có chiều dài 250 km Trong hệ thống có cảng biển Diêm Điền cho phép tầu có trọng tải dưới 600 tấn ra vào, cảng thành phố trên sông Trà lý với loại tầu thuyền dưới 100tấn có thể ra vào được, ngoài ra còn một số bến hàng hoá nhỏ như bến Hiệp trên sông Luộc
1.2.6.2 Du lịch - dịch vụ
Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch, dịch vụ tăng tương đối nhanh chiếm 28,86% trong tổng thể nền kinh tế Là một vùng ven biển có khu du lịch thương mại Diêm Điền – Cồn, ngoài ra còn có thể thăm quan các làng nghề mang tính truyền thống của địa phương như Đông Kinh – Đông Hưng
Trang 201.2.6.3 Hệ thống Y tế
Trong vùng 100% số xã có trạm xá và có mạng lưới y tế đến thôn, xóm Các huyện trong hệ thống có từ 1 đến 2 bệnh viện khu vực Tuyến trên bệnh viện đa khoa của tỉnh Thái bình nằm tại thành phố Thái Bình
1.2.6.4 Về giáo dục
100% số xã trong vùng có các trường tiểu học và phổ thông cơ sở, tất cả các cháu đều được đến trường phổ cập giáo dục Mỗi huyện có từ 1 đến 3 trường phổ thông trung học và có một số trường trung cấp, hướng nghiệp
1.2.6.5 Quy hoạch phát triển các cơ sở hạ tầng
a) Lĩnh vực giao thông
Cải tạo và nâng cấp hệ thống đường giao thông để gia tăng sự giao thương giữa Thái Bình với Hà Nội và các tỉnh trong Vùng đồng bằng Bắc Bộ Nâng cấp, mở rộng quốc lộ 39, xây dựng mở rộng cảng biển Diêm Điền, cảng sông Tân Đệ; nâng cấp một
số tuyến đường quan trọng và xây dựng các cầu nối với tỉnh ngoài, xây dựng các công trình thủy lợi, cấp nước, cấp điện; xây dựng hạ tầng các khu du lịch, khu công nghiệp
b) Mạng lưới điện
Sản lượng điện thương phẩm cung cấp cho khu vực tăng trên 11%/năm giai đoạn 2011 - 2020 Xây dựng, cải tạo đồng bộ đường dây tải điện 220 KV, 110 KV, trung thế, hạ thế và hệ thống các trạm biến áp
c) Mạng lưới bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin
Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng bưu chính viễn thông hiện đại và rộng khắp, công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu phát triển các dịch vụ mới và ứng dụng công nghệ thông tin, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, nâng cao chất lượng phục vụ Phấn đấu đến năm 2020 có 38 máy điện thoại/100 dân
d) Cấp, thoát nước, vệ sinh và bảo vệ môi trường
- Đối với khu vực đô thị: xây dựng, mở rộng mạng lưới cấp nước cho thành phố Thái Bình, các thị trấn, các khu công nghiệp Hướng đến 100% số hộ được sử dụng nước máy, đến năm 2020 đạt 180 đến 200 lít nước/người/ngày
- Đối với nông thôn, phát triển hệ thống cấp nước theo nhiều quy mô phù hợp với phân bố dân cư và địa hình từng vùng Phấn đấu đến năm 2020, 100% dân cư sống
ở nông thôn được sử dụng nước sạch
- Cùng với quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đô thị, cần phải quan tâm đến bảo vệ môi trường, giữ
gìn cảnh quan thiên nhiên, thực hiện vệ sinh đô thị
e) Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang sẵn sàng hoàn thành các nhiệm vụ được giao
f) Dân số, lao động việc làm
Trang 21Thực hiện tốt chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình Xây dựng trung tâm đào tạo nghề quy mô vùng để đào tạo nghề cho Tỉnh và các địa phương lân cận
Cơ cấu lao động phải được thay đổi mạnh theo hướng giảm mạnh lao động sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh lao động công nghiệp - xây dựng, lao động dịch vụ Dự kiến đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 33% của tổng số lao động
g) Giáo dục - đào tạo
Tiếp tục xây dựng, phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cân đối, đồng bộ và chất lượng cao để bảo đảm quyền và nghĩa vụ học tập của nhân dân, thực hiện công bằng trong giáo dục
h) Y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Quan tâm chăm lo sức khỏe cho các đối tượng chính sách xã hội; mọi người đều được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng cao.Tăng cường cơ sở vật chất, nhân lực cho mạng lưới y tế từ tuyến tỉnh đến xã phường
Phấn đấu đạt tỷ lệ: 8 bác sĩ, 0,5 dược sĩ đại học và 18 giườngbệnh/10.000 dân vào năm 2012
i) Văn hóa - thông tin, thể dục thể thao
- Tăng cường quản lý nhà nước về văn hóa thông tin Phấn đấu đến năm 2012: 80% gia đình; 55% thôn, làng; 80% cơ quan, trường học đạt chuẩn văn hóa, đến năm
có khả năng trữ và điều tiết nước mưa ngày một thu hẹp, do mặt đất các khu đô thị và công nghiệp phần lớn đều được bê tông hóa làm hạn chế khả năng tổn thất nước do ngấm và làm tăng lượng dòng chảy mặt Vì vậy những xu hướng chuyển dịch cơ cấu đất này đòi hỏi chế độ tiêu rất khẩn trương, làm tăng hệ số tiêu và tổng lượng tiêu
- Chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu sử dụng đất, chuyển đổi một bộ phận đất trồng lúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng các loại cây khác có giá trị hàng hoá cao hơn đang đặt ra hàng loạt vấn đề thay đổi
Trang 22về yêu cầu tiêu thoát nước cho các mùa vụ lúa, màu, cây công nghiệp, phục vụ yêu cầu nuôi trồng thuỷ sản
- Sự phát triển mạnh của nền sản xuất nông nghiệp nước ta trong những năm qua đã làm thay đổi quan trọng về chế độ tiêu và hệ số tiêu Trước đây phần lớn diện tích đất nông nghiệp được trồng các loại lúa cao cây có thời gian sinh trưởng dài, khả năng chịu ngập lớn Vì thế các công trình thủy lợi thiết kế trước đâychỉ với hệ số tiêu
từ 1,60 l/s.ha đến 3,00 l/s.ha là đã thỏa mãn nhu cầu tiêu Hiện nay nền sản xuất nông nghiệp của nước ta đã có những bước tiến vượt bậc làm thay đổi cơ bản về cơ cấu mùa
vụ và cây trồng Các giống lúa thấp cây, thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao nhưng khả năng chịu ngập kém được gieo cấy trên phần lớn diện tích trồng lúa nước Các loại cây có giá trị cao về kinh tế được đưa vào sản xuất ngày một nhiều đang thay thế dần những loại cây nông nghiệp truyền thống ít có giá trị kinh tế Những cây trồng cạn thuộc loại này đều có yêu cầu về chế độ cấp nước và tiêu thoát nước rất cao Vì vậy các công trình tiêu nước cho nông nghiệp hiện nay hầu hết được thiết kế với hệ số tiêu trên 6,0 l/s.ha, nhiều trường hợp trên 7,0 l/s.ha hoặc cao hơn
- Do những diễn biến khí hậu phức tạp trong những năm gần đây dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, mưa gây úng có xu hướng tăng cao về cường độ mưa, xuất hiện đồng thời trên diện rộng và diễn biến bất thường đã làm nhu cầu tiêu nước trong các hệ thống thủy lợi trở nên căng thẳng hơn trong khi khả năng tiêu thoát của các công trình tiêu lại có hạn
1.3 Hiện trạng công trình tiêu
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình là hệ thống có khả năng tiêu tự chảy khá tốt, nhưng có một số vùng trũng cục bộ vẫn phải tiêu bơm Các biện pháp tiêu của khu vực hiện nay vẫn là tiêu tự chảy kết hợp tiêu bơm Với các hướng tiêu chính sau:
- Tiêu tự chảy cho các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, một phần thành phố Thái Bình và một phần Thái Thụy qua cống Trà Linh I và Trà Linh II ra biển Trục tiêu chính của hướng này là sông Tiên Hưng, sông Sa Lung và hệ thống sông trục xương cá Trong vùng tiêu tự chảy có những vùng thấp trũng nằm rải rác sâu trong nội đồng thì dùng trạm bơm điện nhỏ đổ vào các sông trục
- Tiêu tự chảy cho hạ du sông Hóa, sông Trà Lý bằng các cống dưới đê ven sông, ven biển của huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy
- Tiêu động lực cho những vùng trũng tập trung nằm ven đê sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc và sông Hóa của các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ và thành phố Thái Bình
Trong vụ Đông Xuân hầu hết các vùng thực hiện tưới tiêu kết hợp, hệ thống sông ngòi nội đồng trữ và điều tiết nước tưới là chủ yếu Khi nguồn nước ở vùng ven biển bị nhiễm chua mặn thì tiêu đuổi thải ra biển
Trang 23Vụ mùa đầu vụ tổ chức lấy phù sa đại trà, hệ thống dâng cao mực nước đế lấy nước phù sa tự chảy Giai đoạn lúa mùa đã cấy trở đi, hệ thống thực hiện phương thức tưới tiêu tách rời là chủ yếu, mực nước các sông chìm được giữ ở mức thấp để phòng úng, khi có mưa gây úng thì lợi dụng thủy triều xuống mở cống Trà Linh I và II tiêu ra biển
1.3.1 Hiện trạng các công trình tiêu nước
1.3.1.1 Hiện trạng các công trình tiêu đầu mối
• Lưu lượng thiết kế 135m3/s
• Lưu lượng max: 189,67 m3
/s
Hiện tại cống đã bị hư hỏng nhiều, qua kết quả kiểm tra các bộ phận kết cấu bê tông của cống không còn đạt yêu cầu về cường độ thiết kế, chỉ còn khoảng 21-58% cường độ thiết kế, độ đồng nhất của bê tông bị suy giảm, phía biển giảm nhiều so với phía đồng Do ảnh hưởng của mực nước bị thay đổi cùng với sự khắc nghiệt của môi trường vùng biển cho nên bề mặt bê tông trong vùng có mực nước thay đổi bị xâm thực mạnh, cửa van đổ ra biển bề mặt bê tông bị xâm thực làm rỗ bề mặt, thép chịu lực
bị hở và bị ăn mòn rất nghiêm trọng làm giảm sự chịu lực của kết cấu Vì vậy cống đã xuống cấp nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến việc tiêu nước vụ mùa Từ năm 2006-
2010 cống Trà Linh I đã được cải tạo nâng cấp bằng nguồn vốn vay ADB3
• Cầu giao thông: tải trọng thiết kế xe H13, chiều rộng cầu 5,8m
Hiện tại cống còn tốt đang khai thác bình thường
1.3.1.2 Hiện trạng các công trình tiêu khác
- Các sông trục tiêu: Trục tiêu chính gồm hai sông là sông Tiên Hưng và sông
Sa Lung Sông Tiên Hưng là sông tự nhiên bắt đầu từ Từ cống Nhâm Lang đến cửa
Trang 24Diêm Điền dài 61,8km có nhiệm vụ tiêu nước cho toàn hệ thống qua các mạng trục sông xương cá Ngoài ra còn có sông Sa Lung bắt đầu từ cống Lão Khê đến ngã ba Tích Thủy dài 40,9 km có nhiệm vụ dẫn nước tiêu cho hầu như toàn bộ các xã phía nam của sông Tiên Hưng vào sông Tiên Hưng
- Sông Tiên Hưng chủ yếu là trục tưới tiêu cho hệ thống Bắc Thái Bình, nhưng nhiệm vụ tiêu là chính sông chảy đều từ Nhâm Lang đến Trà Linh I, II để tiêu ra biển cho toàn bộ sông Tiên Hưng bị bồi lắng nhiều Vì vậy những trận mưa lớn các vùng trũng thấp vẫn bị úng cục bộ khu lớn như vậy vẫn phải giải quyết bơm nội đồng 4.800
ha Dù có nạo vét kênh trục nhưng trong vùng tiêu vào sông Tiên Hưng ra cống Trà Linh I, II vẫn có những nơi trũng thấp cục bộ nằm rải rác, cao độ từ 0,75 trở xuống Hiện nay lòng dẫn sông Tiên Hưng đảm bảo nhu cầu tiêu chung cho hệ thống Hiện trạng sông Sa Lung và sông Tiên Hưng xem bảng 1.12 và bảng1.13
Bảng 1.12 Hiện trạng sông Sa Lung từ Lão Khê đến Tích Thủy
TT Đoạn sông ( Từ … Đến) Chiều dài (m) Chiều rộng
m3/h Hiện trạng các trạm bơm tiêu xem ở bảng 1.14
- Các cống tiêu hạ du: Các cống dưới đê hạ du tiêu ra sông Hóa, sông Trà Lý,
Trang 25tổng số 35 cống với khẩu độ 138m, giải quyết tiêu cho diện tích ven đê sông Hóa, sông Trà Lý Hiện trạng các cống đang hoạt động tốt
Bảng 1.13: Hiện trạng sông Tiên Hưng từ Nhâm Lang đến Diêm Điền
TT Đoạn sông ( Từ … Đến) Chiều dài
(m)
Chiều rộng (m)
Hệ số mái Cao độ đáy
Bảng 1.14: Hiện trạng các trạm bơm tiêu hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình
Tiêu ra sông
máy
Loại máy (m3/h)
Q tk
(m 3 /s)
Hiện trạng
Thượng K7+780 đê trái sông Trà Lý Trà Lý 1000 1000 7 1000 1,94 Xuống cấp
7 Cống Lấp K15+150 đê trái sông Trà Lý Trà Lý 648 648 2 2500 1,39 Còn tốt
8 Trung Hiệp K26+850 đê trái sông Trà Lý Trà Lý 300 240 4 4000 4,44 Còn tốt
9 Xóm Đền K27+100 đê trái sông Trà Lý Trà Lý 192 192 12 1000 3,33 Còn tốt
10 Sa Lung K32+350 đê trái sông Trà Lý Trà Lý 877 877 4 1000 1,56 Còn tốt
11 Hoàng
Diệu K27+670 đê trái sông Trà Lý Trà Lý 158 158 20 1000 5,56 Xuống cấp
12 Hà Thanh K14+150 đê phải sông Luộc Trà Lý 1701 1701 20 1000 5,56 Còn tốt
Trang 26- Sông nhánh xương cá chính: gồm 20 sông, tổng chiều dài khoảng 150km Trên trục kênh chính có nhiều cống điều tiết, trong đó có:
• Cống điều tiết Neo I (B = 8 m) bị xuống cấp, nứt nẻ, khẩu độ nhỏ, chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu
• Cống Thượng Phúc 1: Còn tốt nhưng khẩu độ nhỏ so với yêu cầu tiêu
1.3.2 Hiện trạng úng và nguyên nhân
1.3.2.1 Hiện trạng úng ngập
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình nằm ngay cửa biển việc tận dụng tiêu tự chảy là cần thiết Vùng đã xây dựng một hệ thống tiêu tự chảy tương đối đồng bộ, nhưng tình trạng ngập úng vẫn còn xảy ra do hệ thống kênh mương bị bồi lấp, các công trình đầu mối tiêu đã xuống cấp như Cống Trà Linh I bị hư hỏng nặng, các vùng ven sông lớn chưa xây dựng được trạm bơm Các vùng úng cục bộ trong các khu tự chảy cần xây dựng các trạm bơm tiêu cục bộ
Vùng nghiên cứu nằm ngay cửa biển việc tiêu tự chảy là chính, trong lưu vực
đã xây dựng một hệ thống tiêu tự tương đối đồng bộ, nhưng hàng năm hiện tượng úng ngập thường xảy ra do hệ thống kênh mương bị bồi lấp, các công trình đầu mối tiêu đã xuống cấp như Cống Trà Linh I bị hư hỏng nặng Đặc biệt là trong 2 năm 2003 và năm
2004 xuất hiện mưa lớn vào thời gian 9/2003 và 7/2004 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp
Trận mưa úng từ ngày 7-14/9/2003 có cường độ mưa lớn nhất, nơi cao như Thành phố Thái Bình 876mm, thấp nhất là Thái Thuỵ 360mm, mực nước các sông trục nội đồng ở mức cao nhất từ trước tới nay, sông tiêu chậm do do khả năng mở cống tiêu hạn chế triều biển cao, sông nông bị ách tắc, gây ngập úng lớn
Trận mưa úng từ ngày 20-24/7/2004 đây là trận mưa lớn thứ 2 trong khu vực khoảng thời gian 60 năm lại đây, nơi cao như Quỳnh Phụ trạm Phụ Dực 611mm, Thái
Thụy trạm Thụy Ninh 647mm, thấp nhất là Đông Hưng 342mm, tập trung vào đúng thời kỳ lúa mùa đang cấy, mực nước trên các sông lớn cao ở mức báo động số II và số III, lũ trên các sông lớn đã chặn toàn bộ các cửa tiêu tự chảy qua các cống tiêu hạ du, đồng thời lại trùng với thời kỳ triều lửng nên mức độ tiêu tự chảy qua các cống tiêu lớn ra biển như cống Trà Linh I, II và cống Lân I,II cũng bị giảm đáng kể, gây ngập úng lớn
Những vùng úng tập trung ở khu vực sông Sành, trạm Bơm Đại Nẫm, Tràng, Đồng Tiến thuộc trạm bơm Hệ, một số vùng trũng rải rác Quỳnh Xá, Quỳnh Trang, Quỳnh Bảo huyện Quỳnh Phụ, Đồng 80, Thái Hồng, Thuỵ Ninh huyện Thái Thuỵ, Đông Tân, Đông Cường, Đô Lương, An Châu huyện Đông Hưng
Hiện trạng công trình tiêu đã xây dựng tương đối hoàn thiện nhất là hệ thống
Trang 27công trình tiêu tự chảy nên những trận mưa <200 mm thì úng rất ít, với trận mưa từ
200 ÷ 300mm nếu quản lý khai thác tốt thì úng sẽ hạn chế nhiều
Bảng 1.15: Thống kê úng ngập và năng suất lúa một số năm
Năm Đợt mưa Lượng mưa (mm) Diện tích úng (ha) Diện tích mất trắng
Bảng 1.16: Diện tích úng ngập một số năm gần đây
TT Huyện Hưng Hà Hưng Đông Quỳnh Phụ Thụy Thái TP Thái Bình Tổng
Trang 28Bảng 1.17: Thống kê một số vùng có diện tích thường xuyên úng ngập
T
T Vùng úng
Diện tích úng (ha)
Diện tích mất trắng (ha)
Địa điểm
I Huyện Hưng Hà 4469.98 3052.8
2 Xuân Dương 184.05 125.7 Thái Phương - Hưng Hà
5 Kim Trung 122.41 83.6 Minh Khai + Văn Lang - Hưng Hà
12 Hồng Tiến 130.9 89.4 Văn Cầm+Duyên Hải - Hưng Hà
13 Khu TB Minh Tân 3473.14 2372 Minh Tân - Hưng Hà
II Huyện Đông Hưng 7049.19 5976.7
1 Ven Trà Lý 1483.58 1278 Chung với Hưng Hà
7 Đông Giang 214.76 185 Đông Hà+ Đông Giang - Đông Hưng
8 Đồng Quan 316.38 186 Đông Phong+ Đông Huy - Đông Hưng
10 Một số vùng khác 3907.11 3365.7 Rải rác các xã
III Huyện Quỳnh Phụ 10499.9 9 3984.9
1 Quỳnh Mỹ 235.56 89.4 Quỳnh Mỹ+ Quỳnh Hồng - Quỳnh Phụ
3 Quỳnh Nguyên 39.52 15 Quỳnh Nguyên+ Quỳnh Bảo - Quỳnh Phụ
Phụ
5 Dọc sông Sành 3702.1 1405 Dọc sông Sành - Quỳnh Phụ
6 Khu TB Cao Nội 3836.48 1456 Khu TB Cao Nội - Quỳnh Phụ
7 Dọc sông Sinh 2479.49 941 Dọc sông Sinh - Quỳnh Phụ
IV Huyện Thái Thụy 11735.9 9 6351.8 3
1 Dọc sông Sinh 4114.85 2226 Dọc sông Sinh - Thái Thụy
2 Thái Ninh 249.55 135.03 Thái Hưng - Thái Thụy
4 Dọc sông Thiên
Trang 29Đối với các khu vực khác trong hệ thống hiện tượng úng cục bộ vẫn tồn tại Nguyên nhân do các vùng này chưa có công trình tiêu Theo thống kê diện tích của Hưng Hà, Đông Hưng và Quỳnh Phụ là 3.940ha và mất trắng 2.197ha Thái Thụy tuy
có điều kiện địa hình thuận lợi giáp biển tiêu tự chảy tốt, địa hình cao hơn trong nội đồng tuy nhiên gần đây diện tích úng lên tới 11.736 ha, mất trắng 6.348ha
1.3.2.2 Nguyên nhân úng ngập
- Các yếu tố tự nhiên, đặc biệt yếu tố bất lợi của địa hình các khu trũng không tập trung, cao độ phân bố không đều gây khó khăn cho khả năng tiêu thoát cục bộ Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, khí tượng thủy văn, sông ngòi, luôn thay đổi theo chiều hướng bất lợi, mưa thời đoạn ngắn có xu hướng tăng cao, tăng theo diện rộng đã làm tăng nhu cầu tiêu nước trong khi đó khả năng tiêu của các công trình tiêu lại có hạn
- Do quá trình phát triển kinh tế xã hội trong nền kinh tế thị trường, phát triển
cơ cấu sử dụng đất thay đổi, những diện tích ao hồ trước đây đã dần chuyển thành các khu dân cư, các hệ thống giao thông phát triển tạo sự ngăn cản dòng chảy mặt của nước mưa Các kết quả đó đã làm thay đổi hệ thống sông nội đồng và công trình tiêu không thay đổi kịp Hậu quả làm hạn chế khả năng tiêu thoát nước của các khu vực nội đồng, làm giảm khả năng chuyển tải của hệ thống dẫn đến diện tích úng ngập ngày càng tăng thêm
- Các kênh tiêu mặt ruộng gần như không còn, thậm chí còn biến thành ruộng lúa nên tiêu nước từ ruộng này sang ruộng kia mà không chảy xuống kênh tiêu nên không thực hiện được biện pháp chôn, rải, tháo
+ Hệ thống bờ vùng bờ thửa chưa khép kín đồng bộ nên khó thực hiện được phân vùng tiêu và xử lý cục bộ
+ Hệ thống kênh tiêu trong quá trình quản lý khai thác có bộc lộ một số nhược điểm như toàn bộ hệ thống kênh tiêu mặt ruộng hầu như không còn, tiêu tràn lan và không còn việc điều tiết nước ở mặt ruộng Vật cản lòng kênh và vi phạm công trình
Trang 30rất nhiều làm giảm năng lực của hệ thống kênh, kênh mương không được nạo vét làm cho nhiều hệ thống tiêu không hoạt động được hết số máy hiện có
- Một số nguyên nhân khác:
+ Các sông trục dẫn nước tiêu nước quá nông, bề dày lớp bồi lắng từ 1,0 ÷ 1,5
m thường chỉ đạt 50% so với năng lực yêu cầu, nhiều sông chỉ đạt khoảng 40%, vì vậy thời gian tiêu kéo dài từ 12-15 ngày
+ Diện tích úng trên 30.000ha, tập trung ở những vùng thấp và ở cốt < 1,0m, đặc biệt có trên 5.000ha ở cốt < +0,5m
+ Hệ thống trạm bơm tiêu đầu mối và công trình tiêu nội đồng xây dựng không đồng bộ, không hoàn chỉnh ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tiêu Tình trạng nước vùng cao vẫn bị dồn xuống gây úng cho vùng trũng, như vùng Ba Đạc tám mươi, Thái Hồng, vùng ven sông Sinh, sông Cô, sông Sành, Tà Sa, vùng Nam sông Sa Lung…
+ Khu vực tiêu động lực, hệ số tiêu chỉ đạt 4l/s/ha so với yêu cầu thực tế thì còn thấp Năng lực tiêu của trạm bơm nhỏ song vùng tiêu thì lớn
+ Nhiều trạm bơm tiêu đầu mối xây dựng từ những năm 70, cho đến nay công trình trạm, công trình thủy công cũng bị hư hỏng nhiều Đặc biệt về thiết bị và máy bơm ly tâm sử dụng bơm tiêu không phù hợp với yêu cầu hiện nay Một số trạm bơm tiêu đã xuống cấp và lạc hậu như Tịnh Xuyên (34x1000 m3/h), Hậu Thượng (20x1000
m3/h)…
+ Các trạm bơm thiết kế chỉ cho phép tiêu ở mực nước dưới báo động 3, đây là một hạn chế lớn Các trận úng lớn năm 1996, năm 2003 vừa qua trong đồng thì gây mưa úng, ngoài sông thì duy trì mực nước báo động 3, các trạm bơm không được tiêu nên đã xảy ra tình trạng lúa ngập chờ lũ rút để bơm
+ Năng lực hệ thống mới chỉ đáp ứng được cho sản xuất nông nghiệp chuyên canh Trong điều kiện thời tiết bình thường tưới tiêu cho hai vụ lúa ( giống cao cây dài ngày) đạt năng suất 7,0 -7,5 tấn/ha năm và cây vụ đông với diện tích 25% gồm các loại cây truyền thống: khoai lang, khoai tây, ngô… sản phẩm chủ yếu tiêu dùng nội bộ, chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn quy mô chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất để tạo ra các sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
1.3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến công trình tiêu
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã và đang ảnh hưởng với mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn đối với vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung và vùng Bắc Thái Bình nói riêng, gây nên những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của khu vực Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài Nguyên Môi Trường xây dựng vào tháng 6 năm 2009 dựa trên cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước với các trường hợp phát thải trung bình, thấp và cao có ba kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam trong thế kỷ XXI
Trang 31Theo các kịch bản về BĐKH, đến năm 2100 khu vực đồng bằng Bắc Bộ nhiệt
độ tăng từ 1,6-:-3,1oC ; mưa trong mùa khô có thể giảm tới 2-:-14 %, tổng lượng mưa năm tăng từ 5,5-:-10,1 % so với thời kỳ 1980 - 1999, là nguyên nhân gây lên tình trạng hạn hán và lũ lụt ở các lưu vực sông Kịch bản nước biển dâng cũng đã được xây dựng theo các kịch bản phát thải thấp - trung bình - cao Theo đó, vào giữa thế kỷ XXI, mực nước biển có thể dâng thêm lần lượt là 28 cm – 30 cm – 33 cm và đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển dâng thêm từ 65 cm - 75 cm - 100 cm so với thời kỳ 1980 - 1999
Hệ thống công trình tiêu nước đã xây dựng ở vùng ĐBSH nói chung và hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình nói riêng trong nhiều năm qua mới chỉ hướng vào mục tiêu chủ yếu là đảm bảo yêu cầu cho nông nghiệp, chưa chú trọng đến yêu cầu cấp thoát nước của các khu vực đô thị, công nghiệp và nuôi trồng thủy sản Bởi vậy khi có thêm nhu cầu tiêu thoát nước mưa cho khu vực đô thị, dân cư, khu công nghiệp và nuôi trồng thủy sản đòi hỏi thời gian tiêu căng thẳng hơn, triệt để hơn xảy ra mâu thuẫn giữa nhu cầu về tiêu thoát nước với khả năng tiêu nước và chuyển tải nước của các công trình tiêu nước Dẫn đến tình trạng úng ngập triền miên, kéo dài trong nhiều ngày, nhiều giờ trong suốt mùa mưa đã xảy ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội Khi có thêm tác động của BĐKH và nước biển dâng thì các công trình thủy lợi đã có lại càng không đáp ứng được và mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng lại càng căng thẳng hơn
Do nước biển dâng, chế độ dòng chảy sông suối sẽ thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thuỷ lợi trong hệ thống sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng, làm hệ thống đê biển hiện tại trên hệ thống có nguy cơ tràn và vỡ đê ngay
cả khi không có các trận bão lớn Ngoài ra, do mực nước biển dâng cao kéo theo mực nước các con sông dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn sẽ làm cho đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp sự an toàn của các tuyến đê, bờ bao làm chế độ dòng chảy ven bờ thay đổi gây xói lở bờ
Mặt khác trong hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình các công trình tiêu nước vùng ven biển, ven sông hiện nay hầu hết đều dùng biện pháp tiêu tự chảy vì vậy khi mực nước biển dâng lên, việc tiêu tự chảy sẽ hết sức khó khăn, diện tích và thời gian ngập úng tăng lên tại nhiều khu vực
Chính vì những lý do trên ứng phó với điều kiện BĐKH và NBD là nhiệm vụ
có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng không chỉ đối với hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình mà còn cả Việt Nam Nếu không có biện pháp hữu hiệu ứng phó với BĐKH và NBD thì nó sẽ diễn ra nhanh và khốc liệt hơn Do vậy cần phải có sự chuẩn bị đối phó đúng mức và kịp thời
Trang 321.4 N hận xét và đánh giá chung
1.4.1 Vai trò của hệ thống đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước, hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình những năm gần đây đã đạt được những bước tiến đáng kể, có mạng lưới kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, hệ thống đô thị tương đối phát triển, các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiên tiến Cùng với sự phát triển của hệ thống đưa Thái Bình trở thành một trong những tỉnh có trình độ phát triển ở mức trung bình của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.Hiện nay trong khu vực của hệ thống đạt được một
số chỉ tiêu kinh tế như sau:
- Tăng nhanh đầu tư toàn xã hội, thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài, thời
kỳ 2006 - 2010 tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến đạt 35 - 36% GDP
- GDP bình quân đầu người đạt 14,3 triệu đồng năm 2010
1.4.1.2 Về phát triển xã hội
- Tỷ lệ tăng dân số chung đạt 0,55% thời kỳ 2006 - 2010 Nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống 2,5% và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% vào năm 2010
- Năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, trong đó qua đào tạo nghề là 25%, hoàn thành phổ cập trung học phổ thông
- Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân và các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, phát thanh và truyền hình trên toàn hệ thống
1.4.2 Những thế mạnh và tồn tại của hệ thống
1.4.2.1 Thuận lợi
- Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, thuỷ sản và du lịch dịch vụ Có nhiều sông lớn bao quanh là nguồn cấp nước và thoát nước thuận lợi cho vùng
- Nằm sát biển nên vùng nghiên cứu có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các ngành thuỷ sản, nông nghiệp
- Địa hình các vùng trong hệ thống thuận lợi trong việc tưới tiêu, bố trí công trình thuỷ lợi và tiêu nước tự chảy
- Hệ thống công trình thuỷ lợi đã có trên hệ thống thuỷ nông Bắc Thái Bình được xây dựng khá đồng bộ và hoàn chỉnh từ đầu mối đến mặt ruộng
Trang 33- Trong hệ thống đã xây dựng một hệ thống tiêu tự chảy tương đối đồng bộ, nhưng tình trạng ngập úng vẫn còn xảy ra do hệ thống kênh mương bị bồi lấp, các công trình đầu mối tiêu đã xuống cấp như Cống Trà Linh I bị hư hỏng nặng, các trạm bơm, cống tiêu qua thời gian khai thác đã xuống cấp nghiêm trọng
- Nhận thức của cộng đồng về khai thác, sử dụng và bảo vệ tổng hợp tài nguyên nước, sự hiểu biết về biến đổi khí hậu và nước biển dâng còn có nhiều hạn chế
- Vùng nghiên cứu vẫn là một khu vực nghèo, công nghiệp kém phát triển, thiếu hụt về vốn đầu tư cho các ngành nói chung và thuỷ lợi nói riêng
- Các làng nghề, tiểu thủ công nghiệp trong vùng phát triển tự phát Nên vấn đề nước thải từ các làng nghề ra môi trường là một vấn đề cần được quan tâm đúng mức cho vấn đề tiêu thoát nước thải
- Hầu hết các quy hoạch vùng, quy hoạch lưu vực sông đã lập trong khu vực Bắc Thái Bình chưa xét đến yếu tố ảnh hưởng của sự BĐKH & NBD những yếu tố này tác động mạnh đến các hoạt động tưới, tiêu, chống lũ của các lưu vực sông
Vì vậy xây dựng một chiến lược phát triển thuỷ lợi nhằm đáp ứng nhu cầu các ngành kinh tế, đối phó với tình trạng thiếu nước, ứng phó với thiên tai, đặc biệt với BĐKH và NBD là cần thiết nhằm phát triển kinh tế xã hội khu vực Bắc Thái Bình một cách bền vững
1.4.3 Những vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết trong luận văn
Trên những cơ sở khoa học đề tài sẽ đánh giá hiện trạng công trình tiêu và khả năng đáp ứng tiêu của các công trình này trong hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình đồng thời đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với yêu cầu tiêu nước trong HTTN Bắc Thái Bình theo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã được công
bố nhằm phân tích các mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng tiêu nước của các công trình tiêu nước đã có trên hệ thống thủy lợi Từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp công trình thủy lợi nhằm thích ứng với BĐKH và NBD và cơ sở khoa học, khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các giải pháp đề xuất nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất và nước trong hệ thống
Trang 34CHƯƠNG 2 YÊU CẦU TIÊU NƯỚC
2.1 Phân vùng tiêu
2.1.1 Khái niệm vùng thủy lợi
Là tập hợp hệ thống thủy lợi đang cùng tồn tại với các yếu tố khác như sông, ngòi, đường xá chia cắt vùng thành những khu vực độc lập hoặc tương đối độc lập Vùng thủy lợi có khái niệm như vùng khép kín, trong đó tổng hợp cả về tưới, tiêu, cấp thoát nước và bảo vệ môi trường
2.1.2 Vùng tiêu
Vùng tiêu là một tập hợp hệ thống các công trình tiêu gồm công trình đầu mối (có thể là cống tiêu, trạm bơm tiêu), công trình tiêu phân tán nội đồng, công trình nối tiếp, hệ thống kênh dẫn có khả năng kiểm soát được mối liên hệ thuỷ lực giữa mặt ruộng và nơi nhận nước tiêu đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, dân sinh, bảo vệ môi trường Trong vùng tiêu có thể có một hoặc nhiều đối tượng tiêu nước khác nhau Một hệ thống thủy lợi có thể phân thành một hoặc nhiều vùng tiêu tùy thuộc vào đặc điểm tiêu nước của nó Phân vùng là một biện pháp thực hiện phương châm tiêu nước
truyền thống là chôn nước, rải nước và tháo nước có kế hoạch
2.1.2.1 Nguyên tắc chung về phân vùng tiêu
Vùng tiêu là tập hợp các hộ tiêu nước khác nhau nằm trong một lưu vực tiêu được xác định dựa trên một số nguyên tắc sau:
- Vùng tiêu được xác định không chỉ phù hợp với yêu cầu nước hiện tại mà còn phải hạn chế mâu thuẫn có thể nảy sinh trong tương lai
- Vùng tiêu có thể là lưu vực tự nhiên của một hay nhiều chỉ lưu sông suối, cũng có thể là lưu vực tự nhiên kết hợp với lưu vực nhân tạo hoặc lưu vực hoàn toàn
do nhân tạo xây dựng nên nhưng phải là vùng tiêu tương đối khép kín
- Mỗi vùng tiêu có thể có một hoặc nhiều hệ thông công trình thủy lợi được xây dựng phục vụ tưới, tiêu, cải tạo đất, cấp thoát nước và phòng chống lũ
- Vùng tiêu được xác định phải mang tính độc lập hoặc tương đối độc lập với các vùng lân cận trong quản lý, khai thác các hệ thống thủy lợi
- Không xét đến địa giới hành chính trong phân vùng tiêu
2.1.2.2 Các căn cứ để xác định ranh giới phân vùng tiêu
a) Sông ngòi và nơi nhận nước tiêu
Đối với vùng tiêu bằng động lực thì sông lớn có đê bao bọc thường là nơi nhận nước tiêu quan trọng của khu vực nghiên cứu Nguồn nước cần tiêu thoát của vùng tiêu được đưa ra sông nhờ các trạm bơm Trong trường hợp này sông nhận nước tiêu
Trang 35được xác định là ranh giới của vùng tiêu
Sông lớn cũng được coi là ranh giới của vùng tiêu tự chảy khi nó là nơi nhận nước tiêu trực tiếp từ các sông nhánh hoặc từ các hộ tiêu nước không cần năng lượng bơm
Sông ngòi nội địa, sông nhánh (kể cả sông tự nhiên và nhân tạo) thường được chọn làm các trục tiêu chính của công trình tiêu nhự trạm bơm, cống tiêu tự chảy… Các sông thuộc loại này chỉ được coi là ranh giới của vùng tiêu khi bản thân nó cũng
là nơi tiếp nhận nước tiêu tự một phía (bên phải hoặc bên trái) lưu vực
Hồ, ao có thể trở thành biên giới của vùng tiêu nếu nó là nơi tiếp nhận và chuyển tải nước tiêu đi nơi khác
b) Điều kiện địa hình
Cao độ mặt đất, hướng dốc, mức độ phức tạp của địa hình cũng như mức độ chia cắt lưu vực bởi các sông suối, khe lạch và công trình xây dựng có ảnh hưởng rất mạnh đến tính chất và quy mô của vùng tiêu Theo điều kiện địa hình, biên giới của lưu vực tiêu có thể xác định dựa vào những đặc điểm sau:
- Những dải đất cao tự nhiên do con người xây dựng hay nhân tạo chia cắt lưu vực thành những vùng có hướng dốc khác nhau
- Những công trình do con người xây dựng như đường giao thông, kênh tưới (
có thể kể cả kênh tiêu) chia cắt lưu vực tiêu thành những khu vực riêng biệt, độc lập, không liên thông với nhau
- Sông ngòi như đã trình bày ở mục trên
c) Chế độ thủy văn
Chế độ nước tại nơi tiếp nhận nước tiêu quyết định đến quy mô và tính chất vùng tiêu Khi mực nước tại nơi nhận nước tiêu thấp hơn mực nước cần giữ lại ở trong đồng thì hệ thống có khả năng tiêu tự chảy Ngược lại, nếu cao hơn mực nước cho phép duy trì ở trong đồng thì phải tiêu bằng động lực
Căn cứ vào sự tương quan giữa quá trình mực nước tại nơi tiếp nhận nước tiêu với quá trình mực nước cần tiêu ở trong đồng có thể xác định được quy mô và giới hạn các vùng tiêu tự chảy, bán tự chảy hay vùng tiêu bằng động lực
d) Loại hộ tiêu nước
Mỗi hộ tiêu nước khác nhau có nhu cầu tiêu và tính chất tiêu cũng khác nhau:
- Các hộ tiêu nước đặc biệt như tiêu cho khu vực công nghiệp, khu vực thành thị, khu vực chuyên canh nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ nên phân thành những vùng tiêu riêng và độc lập với các hộ tiêu nước khác Bởi vì khi giải quyết chế
độ tiêu nước cho những hộ thuộc loại này cần phải có các biện pháp kỹ thuật riêng để
xử lý nước thải, ngăn ngừa sự lây lan ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ các ngành sản xuất khác và bảo vệ môi trường
Trang 36- Các hộ tiêu nước khác như ruộng lúa, hoa màu, cây công nghiệp, ao hồ, thổ cư vùng nông thôn, đường xá… là những hộ tiêu nước “truyền thống”, nếu không bị giới hạn bởi các ràng buộc khác thì có thể nằm trong cùng một vùng tiêu
- Vùng tiêu động lực: Là vùng phải sử dụng năng lượng để tiêu nước Công trình tiêu có thể là một hay nhiều trạm bơm hoặc cống tiêu Các trạm bơm bố trí cho vùng có thể là bơm tập trung ra sông trục lớn hoặc là hệ thống bơm phân tán nội đồng
- Vùng tiêu hỗn hợp: Là vùng tiêu áp dụng nhiều biện pháp tiêu khác nhau (tập hợp các tiểu vùng tiêu tự chảy và bán tự chảy hoặc tự chảy và động lực)
2.1.2.4 Các phương pháp phân vùng tiêu đã áp dụng ở nước ta hiện nay
Vùng tiêu là một cơ sở rất quan trọng cho hệ thống thuỷ nông Bởi vì nó liên quan đến biện pháp thuỷ lợi giải quyết tiêu úng Phân vùng tiêu theo:
a) Phân thành vùng tiêu tự chảy và vùng tiêu động lực:
Phương pháp phân vùng tiêu này thường được áp dụng cho những vùng mà
vùng tiêu động lực được tách biệt vùng tiêu tự chảy Khái niệm tiêu bằng động lực nảy sinh khi những khu vực trũng bị úng ngập thường xuyên, nơi mà cao độ mặt ruộng thấp hơn mực nước tại cửa nhận nước tiêu, có nhu cầu tiêu nước để phát triển sản xuất Trên thực tế địa hình hệ thống có những vùng úng trũng cục bộ, nên trong mùa mưa úng vẫn phải sử dụng bơm tiêu ra các trục sông trong nội đồng Nên trong những vùng tiêu tự chảy có những diện tích tiêu động lực và ngược lại
Quy mô các vùng tiêu chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiện trạng công trình và đặc điểm địa hình của hệ thống Tuỳ thuộc vào đặc điểm địa hình, nền sản xuất nông nghiệp của vùng tiêu, mực nước khống chế tại nơi nhận nước tiêu mà quy mô vùng
tiêu tự chảy và động lực có sự thay đổi
Đây là phương pháp phân vùng mang tính tổng quát, phục vụ cho công tác quản
lý điều hành hệ thống
b) Phân vùng theo hướng tiêu:
Đây là phương pháp thường dùng trong các quy hoạch có quy mô lớn, mang tính tổng quát, bổ trợ cho các phương pháp phân vùng khác Phương pháp phân vùng này
có ưu điểm là thuận lợi cho công tác quản lý điều hành hệ thống trên tầm vĩ mô nhưng
Trang 37có nhược điểm là không đi sâu vào từng công trình, từng lưu vực cụ thể
c) Phân vùng theo lưu vực:
Phân vùng theo lưu vực có thể là lưu vực sông tiêu hoặc lưu vực của công trình
tiêu phụ trách Đây là phương pháp thường dùng trong tính toán tiêu hiện nay và áp dụng cho tất cả các vùng có quy mô khác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lý đối với lưu vực lớn có thể chia thành những lưu vực nhỏ hơn Trong mỗi lưu vực lại phân
ra thành tiểu vùng tiêu tự chảy và tiểu vùng tiêu động lực Trong vùng tiêu bằng động lực lại chia ra thành lưu vực từng công trình tiêu với quy mô thích hợp
d) Phân vùng tiêu theo địa giới hành chính:
Cách phân vùng này bắt nguồn từ cơ chế quản lý theo vùng lãnh thổ Tuy thuận lợi cho việc quản lý hành chính theo vùng lãnh thổ nhưng không phù hợp với công tác quản lý tiêu trên toàn hệ thống Phương pháp phân vùng theo địa giới hành chính thường áp dụng cho một số trường hợp có thể trùng với phân vùng theo lưu vực
2.1.2.5 Phân vùng thủy lợi cho hệ thống Bắc Thái Bình
Căn cứ vào báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học cấp Bộ “ Nghiên cứu, tổng kết
và đánh giá thực trạng phân vùng tiêu nước mặt ở một số hệ thống thủy nông đồng bằng Bắc Bộ ”, căn cứ vào đặc điểm địa hình và hiện trạng quản lý khai thác trên hệ thống Luận văn phân hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình thành 2 vùng lớn theo biện pháp tiêu là tự chảy và động lực Các vùng tiêu lớn đó lại được chia thành các tiểu vùng nhỏ theo hướng tiêu ra các sông Vùng bãi ngoài đê các sông lớn có diện tích
2512 ha gồm 7 bãi chính khi tính toán tiêu cho hệ thống không tính đến diện tích này
Hệ thống Bắc Thái Bình được phân thành 2 vùng chính như sau:
- Vùng tiêu động lực của các trạm bơm ra sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luôc
và sông Hoá với diện tích 18.127 ha được phân thành các tiểu vùng như sau:
+ Tiểu vùng tiêu ra sông Luộc: bao gồm khu vực mà trạm bơm Đại Nẫm, Hà Thanh phụ trách tiêu ra sông Luộc với diện tích 4733ha
+ Tiểu vùng tiêu ra sông Hóa: tiêu 5822ha ra sông Hóa bằng trạm bơm Cao Nội
- Vùng tiêu tự chảy tiêu cho 68.632 ha tiêu ra biển Đông, hạ dụ sông Hóa và sông Trà Lý được phân thành các tiểu vùng như sau:
+ Tiểu vùng tiêu ra biển Đông: Tiêu tự chảy cho 50.032 ha các huyện Hưng Hà,
Trang 38Đông Hưng, Quỳnh Phụ, một phần thành phố Thái Bình và một phần Thái Thụy qua cống Trà Linh I và Trà Linh II ra biển Đông Trục tiêu chính của hướng này là sông Tiên Hưng, sông Sa Lung và hệ thống sông trục xương cá Trong vùng tiêu tự chảy có những vùng thấp trũng nằm rải rác sâu trong nội đồng thì dùng trạm bơm điện nhỏ đổ vào các sông trục
+ Tiểu vùng tiêu ra sông Hóa: Tiêu tự chảy cho 7.903 ha ra hạ du sông Hóa bằng các cống dưới đê ven sông, ven biển của huyện Quỳnh Phụ
+ Tiểu vùng tiêu ra sông Trà Lý: Tiêu tự chảy cho 10.697ha ra hạ du sông Trà
Lý bằng các cống dưới đê ven sông, ven biển của huyện Thái Thụy
2.2 Tính toán hệ số tiêu
2.2.1 Các đối tượng tiêu nước có mặt trong HTTN
2.2.1.1 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất theo các vùng
Để phục vụ tính toán xác định hệ số tiêu và yêu cầu tiêu úng vụ mùa, luận văn dựa vào tài liệu hiện trạng SDĐ ( bảng 1.11) và hệ số dòng chảy C của một số đối tượng tiêu nước đã biết ( bảng 2.8) đã chia HTTL Bắc Thái Bình thành 6 nhóm đất chính ( xem bảng 2.1)
2.2.1.1 Dự báo cơ cấu sử dụng đất theo kịch bản BĐKH
Căn cứ vào tài liệu hiện trạng cơ cấu sử dụng đất năm 2009 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của các địa phương trong hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình, luận văn đã dự báo cơ cấu sử dụng đất tại các thời điểm năm 2050 và 2100 phù hợp với các mốc thời gian của kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở Việt Nam theo các nguyên tắc sau đây:
- Đảm bảo an ninh lương thực: đất nông nghiệp giảm do quá trình đô thị hoá nhưng đến cuối thế kỷ này diện tích trồng lúa không ít hơn 50 % diện tích tự nhiên;
- Đất trồng màu tăng lên nhưng tổng diện tích trồng không quá 5 % diện tích tự nhiên
- Đất nuôi trồng thủy sản tăng nhưng đến cuối thế kỷ này cũng chỉ chiếm tỷ lệ không quá 10% diện tích tự nhiên, đất ao hồ thông thường giảm nhưng không dưới 2%
- Quá trình đô thị hóa tăng nhanh đất đô thị được mở rộng xung quanh khu vực thị trấn huyện và vùng nông thôn, đến năm 2020 có 30% diện tích hiện tại khu vực nông thôn chuyển thành đất đô thị, 60% đất nông thôn năm 2020 thành đất đô thị của năm 2050 và toàn bộ đất khu vực dân cư nông thôn cùng với một số diện tích đất kkác biến thành đất đô thị năm 2100
Dự báo cơ cấu sử dụng đất của hệ thống xem ở bảng 2.1
Trang 39Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất và dự báo cơ cấu sử dụng đất của hệ thống cho
một số thời điểm chính đến năm 2100
2.2 2.1 Khái quát chung
Mô hình mưa là sự phân bố lượng mưa theo các ngày của trận mưa, trong đó vị trí của ngày mưa lớn nhất có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của công tác điều tiết nước ở mặt ruộng cũng như quy mô công trình tiêu
Trong tính toán mô hình mưa được chọn là mô hình mưa đại diện và có dạng bất lợi Dựa vào tài liệu mưa tiêu thiết kế 1, 3, 5, 7 ngày max tháng 7, 8, 9, mưa vụ mùa và mưa năm
Điều kiện chọn:
+ Mô hình chọn phải có dạng phân bố bất lợi và có đỉnh tập trung vào 1 hoặc vài ngày ở giữa thời đoạn hoặc cuối thời đoạn mưa
+ Mô hình chọn tốt nhất là có lượng mưa xấp xỉ lượng mưa thiết kế
+ Mô hình được chọn rơi vào thời kỳ bất lợi có ảnh hưởng tới năng suất cây lúa Theo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ:“ Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến hệ số tiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ” của Trung tâm khoa học & Triển khai kỹ thuật thủy lợi – Trường Đại Học Thủy Lợi, mô hình mưa tiêu thiết kế chọn như sau:
Mô hình mưa thiết kế tiêu cho nông nghiệp
- Mô hình một trận mưa thiết kế tiêu cho nông nghiệp áp dụng cho vùng đồng bằng Bắc Bộ nên chọn trận mưa 5 ngày lớn nhất với dạng mô hình phân phối có đỉnh rơi vào ngày thứ hai hoặc thứ ba của trận mưa
Trang 40- Tính toán hệ số tiêu cho lúa nên tính với trường hợp khi xuất hiện trận mưa lớn nhất năm ứng với tần suất thiết kế, công trình bảo đảm tiêu hết trong giai đoạn sinh trưởng bất lợi nhất, tức là khi lúa mới cấy bén rễ hồi xanh gặp mưa ứng với tần suất xuất hiện lớn hơn hoặc bằng tần suất thiết kế không bị mất trắng hoặc ảnh hưởng tới năng suất
Mô hình mưa tiêu thiết kế áp dụng cho khu vực đô thị và công nghiệp
Đối với các khu vực công nghiệp và đô thị có yêu cầu tiêu nước rất cao đòi hỏi mưa giờ nào phải tiêu hết giờ đó Do vậy mô hình mưa tiêu thiết kế cho các đối tượng tiêu nước này phải là mưa giờ Hiện nay phần lớn các đô thị từ loại I trở xuống trực thuộc tỉnh và khu công nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ đều là một bộ phận hay một loại đối tượng tiêu nước của các hệ thống thủy lợi Do vậy, khi tính toán xác định hệ số tiêu thiết kế cho loại đối tượng tiêu nước này nên sử dụng dạng mô hình mưa tiêu thiết
kế áp dụng chung cho cả hệ thống thủy lợi (có cùng tần suất, cùng tổng lượng mưa, số ngày mưa, dạng phân phối lượng mưa của trận mưa thiết kế) nhưng mô hình phân phối mưa phải lấy theo giờ cho cả trận mưa và hệ số tiêu cũng được tính theo giờ
Mô hình mưa tiêu thiết kế áp dụng cho các đối tượng tiêu nước khác
Tuỳ thuộc yêu cầu tiêu nước của từng loại đối tượng tiêu nước không thuộc hai loại trên, có thể áp dụng mô hình mưa thiết kế tiêu cho nông nghiệp hoặc mô hình mưa thiết kế tiêu cho khu đô thị và khu công nghiệp tập trung
2.2.2.2 Mô hình mưa tiêu thiết kế áp dụng cho từng loại đối tượng tiêu nước ở thời điểm hiện tại
a) Chọn trạm đo mưa tính toán
- Căn cứ theo bản đồ lưới trạm thủy văn trong khu vực
- Căn cứ theo khu tiêu và các yếu tố địa hình, khí hậu, thủy văn
- Tài liệu đo đạc của trạm phải đủ dài lớn hơn 20 năm, và đã được chỉnh biên
xử lý
- Trạm mưa phải đại diện cho vùng cần nghiên cứu
Trong khu vực nghiên cứu có các trạm đo mưa Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Côi, Kiến Xương, Thái Thụy và trạm Thái Bình
Căn cứ vào các yêu cầu trên, trong tính toán này chọn trạm mưa Thái Bình làm trạm mưa tính toán vì:
- Trạm khí tượng Thái Bình có tài liệu mưa dài 38 năm (1970 ÷ 2007)
- Trạm khí tượng nằm gần khu vực tính toán, tài liệu đo đạc đã được chỉnh biên
xử lý
b) Tần suất tính toán mưa, mực nước
Tần suất tính toán căn cứ vào TCXDVN 285 - 2002 quy định đối với công trình tiêu có thể lấy tần suất P = 10 ÷ 20% Các vùng trong lưu vực nằm ở đồng bằng đều là