Trong những năm qua, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An được UBND Tỉnh Nghệ An quan tâm đầu tư nhiều dự án cải thiện hệ thống kênh mương, hồ đập do công ty quản lý, bên cạnh những
Trang 1BẢN CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình làm trước đây
TÁC GIẢ
Lê Sỹ Pháp
Trang 2Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Hữu Huế đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giáo thuộc bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng – Khoa công trình cùng các thầy, cô giáo thuộc các
bộ môn khoa Kinh tế và Quản lý, phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học trường đại học Thủy Lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn thạc sỹ của mình
Xin chân thành cảm ơn đến Ban giám đốc và tập thể cán bộ công ty TNHH MTV thủy lợi Tây Bắc Nghệ An đã tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp cho tôi các tài liệu cần thiết để hoàn thành luận văn này
Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi sai sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của độc giả và quý thầy cô
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2019
TÁC GIẢ
Lê Sỹ Pháp
Trang 3MỤC LỤC
BẢN CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Nội dung luận văn 3
6 Kết quả đạt được 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 4
1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Nghệ An 4
1.1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam 4
1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An 8
1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam hiện nay 15
1.2.1 Vai trò của ngành thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước 15
1.2.2 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi nói chung hiện nay ở nước ta 16
1.3 Công tác giám sát chất lượng công trình ở một số quốc gia trên thế giới 18
1.4 Những bất cập về vấn đề chất lượng xây dựng công trình thủy lợi hiện nay 22
1.5 Một số phương pháp giám sát chất lượng công trình 24
1.5.1 Phương pháp quan sát 24
1.5.2 Phương pháp thực nghiệm 25
Trang 41.5.3 Phương pháp kiểm tra bằng thí nghiệm 25
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 27
2.1 Các cơ sở pháp lý trong giám sát chất lượng xây dựng 27
2.1.1 Cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giám sát thi công 27
2.1.2 Căn cứ pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn trong nghiệm thu công trình xây dựng 28
2.2 Quản lý chất lượng công trình 30
2.2.1 Quản lý chất lượng 32
2.2.2 Các nguyên tắc trong Quản lý chất lượng 33
2.2.3 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng 35
2.2.4 Nội dung công tác giám sát thi công xây dựng 38
2.3 Các mô hình giám sát chất lượng công trình 42
2.3.1 Mô hình giám sát chủ đầu tư 42
2.3.2 Mô hình tư vấn giám sát độc lập 46
2.3.3 Mô hình giám sát cộng đồng 46
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình 48
2.4.1 Quản lý nhà nước 48
2.4.2 Khảo sát thiết kế 50
2.4.3 Công tác giám sát chất lượng thi công 51
2.4.4 Công tác thi công 52
2.4.5 Công tác quản lý dự án 52
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỦY LỢI TÂY BẮC NGHỆ AN 57
3.1 Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An 57
3.2 Thực trạng công tác giám sát các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công và bộ máy giám sát tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An 61
3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An 65
Trang 53.3.1 Những kết quả đạt được 65
3.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 65
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giám sát các công trình trong giai đoạn thi công tại công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An 67
3.4.1 Giải pháp về nhân lực: 67
3.4.2 Giải pháp trang bị năng lực máy móc thiết bị và công nghệ 72
3.4.3 Xây dựng quy trình giám sát 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình
31
Hình 2.2 Sơ đồ quản lý nhà nước về chất lượng công trình 49
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng giám sát chất lượng 55
Hình 3.1.1: Sơ đồ bộ máy Công ty 58
Hình 3.1.2: Sơ đồ bộ máy Chi nhánh Quỳ Hợp 59
Hình 3.1.3: Sơ đồ bộ máy Chi nhánh Quỳ Châu 59
Hình 3.1.4: Sơ đồ bộ máy Chi nhánh Quế Phong 60
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình giám sát thi công 75
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác giám sát 54 Bảng 3-1: Bảng phân tích nguyên nhân của các hạn chế trong giai đoạn thi công 66
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các công trình thủy lợi ngày càng được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Nhiều công trình lớn đòi hỏi kỹ thuật cao về thiết kế, đòi hỏi công nghệ thi công mới đã được sử dụng mà không cần sự trợ giúp từ nước ngoài Các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh mương được xây dựng mới đã thấy rõ sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong vấn đề phục vụ nông nghiệp
Bên cạnh những kết quả to lớn đó, một vấn đề được tất cả các cấp, ngành quan tâm đó
là chất lượng thi công các công trình, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng trong quá trình thi công xây dựng Công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật ngày nay đã được ứng dụng các phần mềm tính toán rất nhiều, có nhiều chương trình tính toán vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vừa mang tính thẩm mỹ cao Nhưng trong giai đoạn thi công, máy móc chỉ giải phóng được một phần công việc nặng nhọc, còn những công việc liên quan mật thiết đến chất lượng công trình, yếu tố con người vẫn đóng vai trò chủ chốt Giám sát thi công xây dựng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng, công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng sẽ có nguy hại đến đời sống xã hội của mọi người, không ít công trình do không đảm bảo chất lượng đã sụt lún, vỡ đập gây nguy hiểm đến tính mạng con người, nhiều công trình có chất lượng không đảm bảo cũng gây mất mỹ quan giảm độ bền vững của công trình, gây lãng phí, tốn kém
Tăng cường công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng đã và đang được Đảng và nhà nước quan tâm trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành Luật Xây dựng, chính phủ đã ban hành các Nghị định, các ban ngành đã có các thông tư hướng dẫn công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng
Tuy nhiên, chất lượng công trình xây dựng trong giai đoạn thi công vẫn đang là vấn đề bức xúc hàng đầu trong xây dựng công trình, giám sát thi công công trình còn mang tính chủ quan, đối phó, chưa quyết liệt dẫn đến hiện tượng rút ruột công trình vẫn đang xảy ra
Trang 10Trong những năm qua, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An được UBND Tỉnh Nghệ An quan tâm đầu tư nhiều dự án cải thiện hệ thống kênh mương, hồ đập do công ty quản lý, bên cạnh những kết quả đạt được từ các dự án, vẫn còn nhiều mặt hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng công trình trong giai đoạn thi công
Với mục đích tìm ra giải pháp để nâng cao công tác giám sát chất lượng các công trình
trong giai đoạn thi công, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng thi công xây dựng công trình thủy lợi tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An” để làm luận văn tốt nghiệp của mình, với
mong muốn có những đóng góp thiết thực trong việc nâng cao năng lực giám sát chất lượng công trình thủy lợi tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An
2 Mục đích nghiên cứu
Từ thực trạng và dựa trên cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH một thành viên Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát chất lượng các công trình thủy
lợi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát các công trình trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp khảo sát; Phương pháp thống kê, kinh nghiệm; Phương pháp tổng hợp, so sánh; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp phân tích tính toán và một số phương pháp kết hợp khác
Trang 115 Nội dung luận văn
Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị gồm 3 chương chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan về công tác quả lý chất lượng công trình thủy lợi
- Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp giám sát chất lượng trong giai đoạn thi công các công trình thủy lợi
- Chương 3: Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An
6 Kết quả đạt được
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công công trình thủy lợi trong thời gian vừa qua, qua đó đánh giá những kết quả đạt được và những mặt tồn tại hạn chế và các nguyên nhân ảnh hưởng để từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục, hoàn thiện
- Đánh giá thực trạng công tác giám sát chất lượng thi công sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi tại Công ty trong những năm vừa qua, công tác quản lý chất lượng thi công khi công trình vừa triển khai thi công vừa phải đảm bảo phục vụ tưới cho sản xuất nông nghiệp
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học, phù hợp và khả thi với điều kiện thực tiễn thi công, sửa chữa, nâng cấp các công trình Thủy lợi tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tây Bắc Nghệ An
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Nghệ An
1.1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam
Nằm ở vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có lượng mưa và dòng chảy khá phong phú Lượng mưa bình quân hằng năm của
cả nước đạt gần 2000 mm Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có 2360 sông với chiều dài từ 10 km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển Đông Tổng lượng dòng chảy bình quân vào khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài Phân bố mưa và dòng chảy trong năm không đều, 75% lượng mưa và dòng chảy tập trung vào 3 - 4 tháng mùa mưa Mùa mưa lại trùng với mùa bão nên luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lụt Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp lúa nước, dân số đông Tổng diện tích đất nông nghiệp luôn được khai phá mở mang thêm nhưng đến năm 2007 mới chỉ đạt 8,5 triệu ha trong khi dân số là 85,1triệu người, mức bình quân đầu người chỉ đạt 0,4ha Nếu tính riêng diện tích trồng lúa cả nước có 4 triệu ha thì bình quân một nông dân ở nhiều vùng chỉ có 300-400m2/người Đây là mức thấp nhất trong khu vực, đồng thời cũng là mức thấp nhất thế giới Để đảm bảo lương thực cho đất nước có số dân đông trong điều kiện thiên tai
ác liệt, từ xa xưa, tổ tiên người Việt đã phải sớm xây dựng các công trình khai thác, điều tiết nguồn nước, dẫn nước, sử dụng nước từ nhỏ, thô sơ, tạm bợ, thời vụ cho đến các công trình có quy mô lớn Kế thừa truyền thống của cha ông, từ sau năm 1954 khi miền Bắc được giải phóng; Đảng, Nhà nước ta đã khôi phục nhanh chóng các hệ thống thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, đẩy mạnh xây dựng các công trình thủy lợi từ nhỏ đến lớn như hồ Cấm Sơn, Núi Cốc, hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, các hệ thống trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định, Thái Bình… Năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất với sự tăng cường của lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật miền Bắc, công việc quy hoạch và xây dựng các hệ thống thủy lợi đã nhanh chóng được triển khai mạnh mẽ
ở miền Trung và miền Nam, tạo ra bước đột phát về phát triển thủy lợi trong phạm vi
cả nước
Trang 13Ở Đồng bằng sông Cửu Long do có chủ trương kỹ thuật và bước đi thích hợp để cải tạo các vùng bị ngập lũ, chua phèn và xâm nhập mặn bằng các hệ thống kênh trục, kênh ngang, cống, đập, bờ bao… Nên đã tạo ra khả năng để chuyển vụ lúa mùa nổi năng suất thấp sang 2 vụ lúa đông xuân, hè thu có năng suất cao trên một vùng rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu….Ở miền Đông Nam
Bộ, miền Trung, Tây Nguyên ngoài phát triển các hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ đã xây dựng nhiều công trình hồ đập lớn như Dầu Tiếng, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Thạch Nham Đá Bàn, Sông Quao, Yaun, Krông Buk…Ở miền Bắc tiếp tục nâng cấp và làm mới các công trình tưới, tiêu úng và nâng cấp hệ thống đê điều
Thành quả chung của công tác thủy lợi đã đưa lại cho đất nước là rất to lớn và đã góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp và phòng chống thiên tai có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, và cải tạo môi trường Dưới đây là một số kết quả cụ thể:
Năm 1945 không kể ở đồng bằng sông Cửu Long, cả nước có 13 hệ thống thủy nông tập trung ở các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ, Duyên hải miền Trung, đập Thác Huống trên sông Cầu, đập Bái Thượng trên sông Chu, đập Đô Lương trên sông Cả, đập Đồng Cam trên sông Ba…Tổng năng lực tưới của các công trình đập lớn cùng với 13 hệ thống thủy nông nói trên đã đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu cho 77.000 ha Từ năm 1956 đến năm 2009, cả nước đã xây dựng được trên 500 hồ đập thủy nông loại lớn và vừa, trong đó có những đập cao như: Cấm Sơn cao 40,5 m chứa
338 triệu m3, Kẻ Gỗ cao 40 m chứa 425 triệu m3, Phú Ninh cao 38 m chứa 425 m3, Cửa Đạt cao 118 m chứa 1,5 tỷ m3, Dầu Tiếng cao 30 m chứa 1,45 tỷ m3 Tính đến cuối năm 2009, các hồ đập cùng các biện pháp công trình thủy lợi khác như trạm bơm, cống, kênh đã đảm bảo cho trên 7 triệu ha đất lúa được tưới, trong đó: vụ đông xuân 2,94 triệu ha, hè thu 2,3 triệu ha, vụ mùa 2,51 triệu ha Các công trình thuỷ lợi cũng đã tạo nguồn nước tưới cho 1,15 triệu ha; tiêu úng cho 1,8 triệu ha (trong đó 1,45 triệu ha đất ruộng trũng); ngăn mặn cho trên 800 nghìn ha ở ĐBSCL; cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha Thành quả trên đã góp phần tăng sản lượng lúa từ 16 triệu tấn năm 1986 lên 19,2 triệu tấn năm 1990; 24,9 triệu tấn năm 1995; 32,5 triệu tấn năm 2000 và 38,7 triệu tấn năm 2008, để đến năm 2009 khối lượng xuất khẩu gạo của nước ta đã đạt 5,8
Trang 14triệu tấn Cùng với lúa, sản xuất ngô, các loại hoa mầu cây công nghiệp cũng phát triển nhanh chóng góp phần phát triển chăn nuôi gia súc và tạo vành đai thực phẩm ổn định cho các đô thị
Về công tác đê điều - phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và gần một trong 5 trung tâm bão lớn nhất của thế giới, hằng năm Việt Nam phải chịu hàng chục cơn bão lớn, thông thường bão đều kèm theo mưa lớn gây nên những thiệt hại lớn về người, tài sản và sản xuất nông nghiệp Ở miền Bắc và khu Bốn
cũ để chống bão lụt, ngăn nước biển dâng từ xa xưa ông cha ta đã đắp đê, làm kè nhưng mức đảm bảo không cao Chỉ riêng năm 1945 hệ thống đê sông Hồng đã có 79 đoạn bị vỡ, đê khu 4 cũ cũng luôn trong tình trạng không an toàn Từ 1956 đến nay, hệ thống đê sông luôn được củng cố Cùng với các giải pháp điều tiết hồ chứa khi có mùa
lũ và chỉ đạo phòng chống lụt bão kịp thời, đã góp phần bảo vệ dân cư, mùa màng, hạn chế được nhiều thiệt hại bởi thiên tai Ở đồng bằng sông Cửu Long nơi thường xuyên
bị ngập từ 1,2 - 1,6 triệu ha về mùa lũ và có đến 700 nghìn ha bị mặn xâm nhập Từ sau năm 1975 đã đắp hệ thống bờ bao ngăn lũ sớm, hạn chế xâm nhập mặn và nhiều công trình thoát lũ, hệ thống đê biển cũng từng bước được xây dựng ở nhiều địa phương, nhờ vậy đã bảo vệ được hầu hết diện tích gieo trồng lúa hè thu ở vùng lũ và lúa đông xuân ở vùng trũng không bị lũ sớm đe dọa và nước biển xâm nhập
Về cấp nước sinh hoạt, nước công nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Các hệ thống thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm liên tục được phân bổ rộng khắp trên mọi vùng của đất nước đã góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư xung quanh công trình, nhiều hồ còn cấp nước sinh hoạt cho các điểm công nghiệp và đô thị như hồ Song Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu), hồ Mỹ Tân (Ninh Thuận), Hòa Sơn (Khánh Hòa), cụm hồ Thủy Yên - Thủy Cam (Thừa Thiên Huế), Ngàn Trươi - Cẩm Trang (Hà Tĩnh), Bản Mòng (Sơn La), Ia Keo - Nà Cáy (Lạng Sơn) Nổi bật nhất là đã xây dựng được các công trình cấp nước cho 30 vạn đồng bào vùng cao đặc biệt là những vùng núi đá vôi như Trà Lĩnh, Hà Quảng, Lục Khu (Cao Bằng) Yên Ninh, Quảng Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)… nhiều huyện vùng cao ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Thuỷ lợi cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, hàng vạn ha mặt nước của các ao hồ nuôi thủy sản đều dựa chủ yếu vào nguồn nước ngọt từ các hệ thống thủy lợi; đối với các vùng ven biển,
Trang 15phần lớn các công trình thủy lợi đều ít nhiều đóng góp vào việc tạo ra môi trường nước
lợ, nước mặn để nuôi tôm và một số loài thủy sản quý hiếm, tạo điều kiện cho việc nuôi trồng thủy sản có bước phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong nước và xuất khẩu
Về đóng góp vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới: Nhiều vùng nông thôn Việt Nam, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa do ruộng đất ít, tập quán canh tác còn lạc hậu, dân số tăng nhanh, vì vậy cuộc sống gặp nhiều khó khăn, có nơi còn quá nghèo; các công trình thủy lợi nhỏ được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau đã giúp cho nông dân có nước để canh tác, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhiều vùng rất khó khăn Nhiều công trình đã tạo ra nguồn nước để trồng trọt và định canh, định cư để xóa đói giảm nghèo và bảo vệ rừng, hạn chế được việc đốt nương rẫy Những công trình kênh mương ở đồng bằng sông Cửu Long thực sự là điểm tựa để làm nhà tránh lũ, phân bổ lại dân cư và tiến sâu vào khai phá những vùng đất còn hoang hóa Những công trình như 6 trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định thực sự đã xóa đi cảnh “6 tháng
đi chân, 6 tháng đi tay” của người dân địa phương, đẩy lùi được căn bệnh đau mắt hột, bệnh chân voi của người dân nơi đây Về tác động của thủy lợi đối với môi trường: Trong những năm qua, thủy lợi đã góp phần quan trọng vào mở mang tài nguyên đất
và cải tạo môi trường đất Điều này có thể thấy rất rõ khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của các đồng bằng đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long Tại đây, đã cho thấy thủy lợi đã có những đóng góp quan trọng để mở mang tài nguyên đất đai và cải tạo môi trường đất: Từ một cánh đồng phù sa lớn còn hoang sơ cách đây hơn 200 năm, sau khi nhà Nguyễn cho đào các kênh Rạch Rá - Hà Tiên, kênh Vĩnh Tế… đã có 520.000
ha đất hoang được khai phá, đưa vào trồng trọt, sau đó đưa tàu cuốc vào đào kênh thì diện tích đất đã được tăng lên nhanh chóng và đạt đến 1.170.000 ha (1890); 1.530.000
ha (1910), 1.930.000 ha (1920), 2.200.000 ha (1935) Các kênh khi mở ra đã là các điểm tựa làm nhà chống lũ, phân bổ lại dân cư để tiến sâu vào khai phá những vùng đất mới còn hoang hóa, tạo ra mạng lưới giao thông thủy thuận tiện cho phát triển kinh
tế, mở rộng giao lưu đời sống xã hội ở nông thônăối các đô thị trong vùng Với đặc điểm địa hình trũng thấp, chế độ lũ, triều phức tạp ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm cho 1,6 triệu ha bị chua phèn, trên 80 vạn ha bị nhiễm mặn nhưng với các giải pháp làm kênh dẫn nước ngọt từ sông Tiền, sông Hậu vào để ém phèn rồi lại xổ phèn qua hệ
Trang 16thống kênh cống, đập đã cải tạo dần được vùng đất phèn rộng lớn ở Đồng Tháp Mười,
Tứ giác Long Xuyên… và với nhiều con đập và cống lớn nhỏ được xây dựng ở các cửa sông để giữ ngọt, ngăn mặn xâm nhập và rửa mặn trên đồng ruộng đã cải tạo dần được hàng trăm ngàn ha đất bị nhiễm mặn, chua phèn Thủy lợi đã và đang cải tạo những vùng đất “chiêm khê mùa thối” chấm dứt được cảnh “sống ngâm da, chết ngâm xương” và các bệnh đau mắt hột ở các vùng chiêm trũng, tiêu thoát nước thải bẩn, nước gây ngập úng khi mưa và triều dâng cho nhiều đô thị
1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội
a) Vị trí giới hạn, diện tích tự nhiên:
Nghệ An có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 1.648.729 ha được giới hạn bởi:
- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa
- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh
- Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
- Phía Đông là biển
- Vùng đồng bằng 10 huyện thành, thị xã gồm: Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Thị xã Hoàng Mai, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh, diện tích tự nhiên là 274.288 ha, dân số là 1.995.507 người
1.1.2.2 Những yếu tố thuận lợi, khó khăn đối với công tác thủy lợi
Trang 17- Có khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp đại bộ phận tập trung thành các vùng lớn nằm ở ven sông gần nguồn nước Các vùng đất cần tưới hầu hết đã được khai thác thành ruộng đưa vào sản xuất, vùng chuyên canh lúa nước, rau màu tập trung vùng đồng bằng, vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày nằm ven đường Hồ Chí Minh
- Tài nguyên nước:
+ Nguồn nước tương đối phong phú với lượng mưa trung bình năm vùng đồng bằng ven biển 1.800mm, vùng Tây Bắc 1.600mm, vùng Kỳ Sơn, Tương Dương 1200mm, vùng sông Giăng 2000mm, tổng lượng dòng chảy trên các lưu vực sông trung bình hàng năm trên 16 tỷ m3 nước
+ Sông Cả lưu vực 27.300 km2 nguồn nước dồi dào, nhiều nhánh lớn điều kiện địa hình, địa chất có thể xây dựng 1 số hồ chứa vừa 500MW, dung tích hồ lớn để cấp nước phục vụ lớn tạo nguồn điện năng từ 450 cho nhiều mục đích khác nhau Các công trình xây dựng trên hệ thống sông Cả ít bị chi phối bởi các vùng lãnh thổ láng giềng nên có điều kiện chủ động thực hiện
- Hệ thống khe suối phân bố dày tạo điều kiện xây dựng các hồ chứa và đập dâng tự giải quyết nước cho từng vùng độc lập Hiện tại đã xây dựng 1.478 công trình, trong
đó trên 600 hồ chứa, dung tích điều tiết 430 triệu m3 nước và còn có điều kiện xây dựng nhiều hồ chứa nhỏ, đập dâng tưới, giữ ẩm các tiểu vùng độc lập phân tán
- Nguồn vật liệu xây dựng: Nguồn vật liệu xây dựng các công trình thủy lợi là đá, cát,
gỗ, xi măng có nguồn địa phương
- Điều kiện giao thông
Hệ thống đường giao thông bao gồm tuyến Quốc lộ số 1, đường Hồ Chí Minh chạy theo hướng Bắc Nam, Quốc lộ số 7, số 46, số 48 chạy theo hướng Đông Tây nối từ đường số 1 lên các cửa khẩu Thông Thụ, Nậm Cắn, Thanh Thủy Ngoài ra còn có các tuyến đường liên huyện, liên xã, đặc biệt có tuyến đường quốc phòng (biên giới) đang được xây dựng và hệ thống đường nông thôn đã được nhựa hóa, bêtông hóa giúp cho việc vận chuyển vật liệu xây dựng thuộc các huyện đồng bằng vùng núi thấp khá thuận lợi
Trang 18b) Những khó khăn thách thức:
- Điều kiện địa hình phức tạp, tỷ lệ đồi núi lớn chiếm trên 80% diện tích, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống khe suối mật độ dày, độ cao mặt đất chênh lệch lớn, hướng dốc đa chiều, tỷ suất đầu tư lớn
- Nền địa chất công trình đa dạng, phức tạp, dễ gây trượt, sạt lở mái, thấm qua nền, thay đổi dòng chảy sông suối gây bồi lấp cửa lấy nước, xói lở vùng bờ biển, cửa sông
- Diễn biến khí hậu thời tiết phức tạp:
+ Lượng mưa phân bố không đều không gian và thời gian: Tương Dương, Kỳ Sơn theo 1200 mm, các vùng thung lũng 1100 Kỳ Sơn 700, 900 mm, lượng mưa 3 tháng mùa lũ (tháng 9-11) chiếm 75%
+ Nhiệt độ, độ ẩm cao có biên độ dao động lớn
+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước dâng và bão từ biển Đông và gió khô nóng Tây Nam
Trên đây là những nguyên nhân trực tiếp gây hạn hán gay gắt, lụt lội ác liệt, lũ quét, sạt lở đất, xâm nhập mặn tác động xấu đến công tác phát triển thủy lợi, chi phí đầu tư thủy lợi cao đặc biệt là các huyện miền núi
- Điều kiện kinh tế Nghệ An gặp nhiều khó khăn, mức thu nhập đầu người thấp hơn bình quân cả nước
- Phân bố dân cư: Nghệ An có 10 huyện miền núi có 37,5% dân số cả tỉnh nhưng diện tích tự nhiên chiếm 83% diện tích cả tỉnh Có nhiều núi cao hiểm trở, dân ở rải rác, đặc biệt là các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa ruộng đất canh tác ít, dân cư thưa thớt, cũng vì địa hình hiểm trở, đồi núi cao nên các công trình thủy lợi còn chủ yếu là công trình tạm
- Biên giới Nghệ An với nước Lào 419km đi qua vùng hiểm trở, dân ở thưa thớt, thủy lợi phục vụ công tác định canh, định cư, ổn định đời sống dân dọc biên giới, góp phần quan trọng trong bảo vệ Tổ Quốc là nhiệm vụ hết sức nặng nề
Trang 191.1.2.3 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Nghệ An
Nhiều năm qua được sự quan tâm của Trung ương, trực tiếp là Bộ Nông Nghiệp và PTNT, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân trong tỉnh, thông qua nhiều chương trình phát triển, tranh thủ các nguồn vốn Quốc tế và phát huy nội lực, công tác đầu tư và phát triển thủy lợi đã đạt được những kết quả sau:
a Công trình cấp nước tưới
Toàn tỉnh đã xây dựng được 1.478 công trình bao gồm 684 hồ chứa lớn nhỏ, 339 đập dâng, 548 trạm bơm điện, ngoài ra còn có một số phai tạm, kiên cố hoá kênh mương 4.259 km, giải quyết tưới được 208.179 ha/năm
Vùng đồng bằng có 563 công trình tưới được 58.118 ha lúa màu so với đất canh tác hàng năm 82.000 ha đạt 70,63%, cấp nước cho nuôi trồng thủy sản 7000 ha gồm tôm,
cá ao, cá ruộng lúa 10 huyện miền núi có 915 công trình hồ đập và trạm bơm, kiên cố hoá 1.114 km kênh tưới được 24.094 ha so với đất canh tác hàng năm 61.000 đạt 36,94%, tưới cho cây công nghiệp, cây ăn quả 1.485 ha
- Hệ thống Đô Lương, Diễn - Yên – Quỳnh:
Hệ thống thuỷ nông Đô Lương, Diễn - Yên - Quỳnh được đầu tư khôi phục bằng vốn vay ngân hàng Châu Á (ADB), các hạng mục công trình chính đã được sửa chữa khôi phục (làm thêm một cửa Tuy nen) lưu lượng lấy vào tăng, giải quyết nước tưới cơ bản cho diện tích lúa nước Tuy nhiên do nguồn vốn có hạn kênh chính còn 15.452m, kênh cấp 1 còn 88.078m, kênh cấp 2 còn 126.000m chưa được kiên cố, vì vậy nước về phần cuối kênh cấp 1 như N13, N20, N18, N8, N24, N26, N2 gặp khó khăn trong một số năm hạn hán gay gắt Các vùng màu tập trung như Bãi ngang Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò thiếu công trình dẫn nước tưới Một vài vùng đã có kênh dẫn tạo nguồn đi qua nhưng chưa phát huy tác dụng, nguyên nhân là do vừa thiếu hệ thống kênh mặt ruộng vừa chưa có biện pháp tưới thuyết phục
Hiện nay hệ thống tưới tự chảy là 14.038 ha 133 trạm bơm lấy nước hệ thống và nước ngọt hoá sông Bùng kênh nhà Lê, trạm bơm Văn Tràng, 29 trạm lấy nước Khe Khuôn
Trang 20tưới 11.062 ha, đưa tổng diện tích vùng hệ thống được tưới 25.100 ha, diện tích tăng hơn trước khôi phục là 3.000 ha
Hiện tượng thay đổi dòng chảy, tạo bãi bồi Thượng đập Đô Lương ảnh hưởng đến khả năng lấy nước vào hệ thống
- Hệ thống thủy lợi Nam - Hưng – Nghi:
Hệ thống Nam - Hưng - Nghi được đầu tư khôi phục và nâng cấp bằng vốn vay ngân hàng thế giới WB đã sửa chữa khôi phục lại các công trình chính: cống Nam Đàn, cống Bến Thuỷ, nạo vét hệ thống kênh dẫn, tu sửa phần cơ điện đầu mối 30 trạm bơm
và kênh dẫn Làm thêm cống Nghi Quang tạo thành hệ thống ngọt hoá sông Bùng, sông Cấm góp phần giải quyết cấp nước cho 192 trạm bơm tưới vùng lúa nước tương đối ổn định 14.000 ha
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, hiện tại hệ thống Nam - Hưng - Nghi còn một
Trang 21- Các đập lấy nước:
Vùng miền núi có 339 đập dâng nước tưới được 5.990 ha
- Các trạm bơm vùng miền núi:
Vùng miền núi có 140 trạm bơm tưới được 8.803 ha
Vùng đồng bằng có 81 trạm bơm lấy nước ven sông Lam và khe suối, tưới được 5.030
ha
- Đánh giá chung:
+ Các hồ chứa nước thiết kế qua nhiều thời kỳ tiêu chuẩn không thống nhất, so với hiện nay tiêu chuẩn thiết kế nhìn chung là thấp, công trình chưa an toàn Đặc biệt một
số công trình nhỏ nhiều công trình chất lượng thiết kế thi công thấp, một số công trình
do dân tự đắp rồi được nâng cấp nhiều lần chất lượng không đảm bảo
+ Một số hồ chứa loại vừa tưới hiệu quả thấp như Vực Mấu, Vệ Vừng, Khe Đá… Nguyên nhân chính là do hệ thống kênh xuống cấp chưa được kiên cố, công trình trên kênh hư hỏng, thiếu, gây lãng phí nước Mặt khác công tác quản lý nguồn nước và phân phối nước chưa tốt
+ Các hồ nhỏ, nhiều hồ đập tràn chưa được gia cố, cống hư hỏng không kín nước vừa không an toàn, vừa lãng phí nước
+ Đập dâng: toàn tỉnh có 339 đập dâng tưới cho 5.990 ha hầu hết là ở các huyện miền núi Trong 5 năm qua phần lớn các đập này đã được sửa chữa nâng cấp và một số làm mới nhưng nhìn chung chất lượng còn tốt
+ Các trạm bơm lấy nước ven sông: vùng đồng bằng có 81 trạm tưới cho 5030 ha, vùng miền núi có 140 trạm tưới 8803 ha Các trạm bơm hiện nay còn một số tồn tại sau:
Do thay đổi dòng sông, một số trạm bơm không hoạt động được như trạm bơm Nghĩa Hoàn, Thuận Sơn, một số trạm hoạt động khó khăn nhất là những năm kiệt nước như trạm bơm Lam Sơn, Trung Sơn, Hưng Xuân…
Một số trạm bơm chưa có hiệu quả như trạm Làng Rào, Đồng Cốc, Cây Khế
Trang 22Công trình tiêu:
Song song với việc giải quyết nước, tỉnh ta đã được đầu tư xây dựng một số công trình tiêu lớn và đã đạt được hiệu quả như sau:
- Hệ thống tiêu úng Diễn Châu, Yên Thành (sông Bùng) tiêu 739 km2, trong đó 32.000
ha đất nông nghiệp bao gồm 3 kênh tiêu lớn: Sông Bùng, Vách Bắc, kênh Diễn Hoa có các cống ngăn mặn, giữ ngọt tiêu lũ và hệ thống đê sông dài 59, 26 km đã giải quyết tiêu ổn định cho 25.000 ha cây lúa Đông xuân, Hè thu
- Hệ thống tưới tiêu kết hợp Nam - Hưng - Nghi bao gồm gần 170 km kênh chính, các cống ngăn mặn giữ ngọt tiêu úng Bến Thủy, Nghi Quang giải quyết tiêu cho 643 km, trong đó có 32.000 ha đất nông nghiệp, giải quyết tiêu ổn định cho 16.000 ha diện tích cây lúa đông xuân và hè thu
- Một số vùng tiêu khác như Bắc Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Đô Lương, Thanh Chương giải quyết tiêu cho 36.000 ha đất nông nghiệp trong đó có 10.000 ha lúa đông xuân và hè thu vùng thấp
- Tiêu cho vùng màu, đã được nghiên cứu lập dự án 3 vùng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc tiêu 10.800 ha nhưng thiếu kinh phí, thực hiện khối lượng chưa đáng kể
- Một số tồn tại lớn hiện nay:
+ Hệ thống tiêu Diễn - Yên, Nam - Hưng - Nghi, Bắc Diễn Châu, Quỳnh Lưu đều là
hệ thống tưới tiêu kết hợp nên hiện tượng bồi lắng lòng kênh là phổ biến sẽ hạn chế việc tiêu nước kể cả tưới nước Điển hình là kênh nhà Lê nối liên sông Bùng, sông Cấm, kênh Sơn Tĩnh (Diễn Châu) kênh Bình Sơn (Quỳnh Lưu), Khe Cái (Nghi Lộc) hàng năm thiếu kinh phí nạo vét, sữa chữa duy tu
+ Tổ chức việc quản lý hệ thống tiêu chưa được chú ý đúng mức, một số vị trí lấn chiếm khu vực bảo vệ công trình chưa được giải quyết triệt để, một số đang có nguy
cơ bị lấn chiếm phần lưu thông dòng chảy như vùng Thượng nguồn sông Cấm, 2 bên kênh nhà Lê
Trang 23+ Giải quyết tiêu cho vùng màu thiếu nguồn kinh phí triển khai chậm, hiệu quả còn thấp, tiêu giải quyết môi trường đô thị chậm
1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Vai trò của ngành thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước
a, Những ảnh hưởng tích cực:
Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, chủ yếu là canh tác lúa nước, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta đặc biệt đối với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như:
Nhờ có nhà nước đầu tư vào các công trình thủy lợi mà nhân dân ta đã tăng diện tích thâm canh, canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất
Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng
vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong một năm Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu lớn và hiện nay nước
ta đang đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá
Trang 24- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất
Tóm lại nói một cách khách quan thì thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy rằng nó mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp không đáng kể nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Làm thay đổi điều kiện địa hình, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới thượng, hạ lưu
hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước trong khu vực
Trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi cảnh quan khu vực, ảnh hưởng tới lịch sử văn hoá trong vùng
1.2.2 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi nói chung hiện nay ở nước ta
Thủy lợi vẫn luôn là ngành được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ, các công trình được xây dựng ngày càng quy mô và hiện đại, không những đáp ứng được nhu cầu phục vụ nông nghiệp, các công trình thủy lợi hiện nay còn làm tốt các công tác khác như phục vụ du lịch…Nhiều công trình có quy mô lớn, đòi hỏi cao về các yêu cầu kỹ thuật thiết kế, điều kiện máy móc, công nghệ Nhiều công nghệ thi công mới, hiện đại trên thế giới đã và đang được áp dụng để lựa chọn thi công, song song với những công nghệ hiện đại, đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các kỹ sư thiết
Trang 25kế, thi công, giám sát phải rất cao Bên cạnh những công trình có chất lượng cao đã được thi công, để đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, đáp ứng được các tiêu chuẩn cao như các quốc gia có ngành xây dựng phát triển, công tác nâng cao chất lượng cho các công trình xây dựng ở Việt Nam cần phải được đầu tư, phát triển nhiều hơn nữa Một số công trình vừa được thi công xong, thời gian sử dụng chưa nhiều, chưa khai thác tối đa công năng sử dụng nhưng đã bị xuống cấp, xuất hiện nhiều biểu hiện của việc không đảm bảo chất lượng công trình như rạn nứt, sụt lún…
1.2.3 Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta
Hiện nay, công tác nâng cao chất lượng xây dựng các công trình thủy lợi ở nước
ta rất được chú trọng, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, các đơn vị quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đã tích cực tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật đến các chủ thể tham gia đầu
tư xây dựng công trình; hướng dẫn quy trình quản lý chất lượng lập dự án, khảo sát, thiết kế cho các chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các tổ chức cá nhân liên quan tham khảo áp dụng Các đơn vị tư vấn chỉ thực hiện các công việc phù hợp với điều kiện năng lực của cấp có thẩm quyền cho phép, chỉ giao việc chủ trì khảo sát, thiết kế cho cá nhân có chứng chỉ hành nghề và năng lực phù hợp với công việc theo quy định của pháp luật; kiện toàn bộ máy, tăng cường, bổ sung cán bộ chuyên môn, nâng cao trình
độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm tư vấn và đặc biệt là giáo dục ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác tư vấn giám sát Cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành nhiều Quy chuẩn, tiêu chuẩn, yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng các bên tham gia vào xây dựng công trình Các văn bản về yêu cầu đối với chủ đầu tư, yêu cầu với đơn vị tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ Bên cạnh đó, nhà thầu thi công xây lắp luôn tăng cường trang thiết bị thi công, củng cố bộ máy, lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp và thiết lập
hồ sơ quản lý chất lượng công trình, tự tổ chức kiểm tra nghiệm thu vật tư, thiết bị trước khi xây dựng, tổ chức thi công đúng theo hồ sơ thiết kế được duyệt, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo chất lượng và an toàn công trình, chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình làm ra
Trang 26Về phía chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng Tổ chức quản lý dự án đầu
tư xây dựng đảm bảo yêu cầu về tiến độ, chất lượng, chi phí, an toàn và bảo vệ môi trường trong xây dựng Nêu cao vai trò trách nhiệm, quản lý chặt chẽ ngay từ khâu lập
dự án, khảo sát thiết kế, cho đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng Lựa chọn nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây lắp có đủ năng lực theo quy định (thiết bị, máy móc, nhân sự, số năm kinh nghiệm, sản phẩm cùng loại đã thực hiện) ngoài ra phải có kinh nghiệm, uy tín, có trách nhiệm Chỉ được khởi công khi có đủ điều kiện theo quy định Luật Xây dựng Các đơn vị quản lý công trình xây dựng chuyên nghành luôn nâng cao năng lực của các phòng, ban chuyên môn có chức năng quản lý hoạt động xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng Hàng năm xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình trong lĩnh vực mình quản lý Ngoài ra, hiện nay trình độ của các kỹ sư trẻ ngày càng được nâng cao, ý thức về chất lượng công trình được xem xét nghiêm túc, công nghệ thi công ngày càng hiện đại, ứng dụng những công nghệ mới trên thế giới để thi công, nâng cao hiệu quả chất lượng các công trình
1.3 Công tác giám sát chất lượng công trình ở một số quốc gia trên thế giới
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và
mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Chất lượng công trình xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia Do vậy, quản lý chất lượng công trình xây dựng là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm
+ Công tác giám sát chất lượng tại Cộng hòa Pháp
Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh
về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng.Ngày nay, nước Pháp
có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các
tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có
Trang 27trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó,
để quản lý chất lượng các công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ
có thể xảy ra chất lượng kém.Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm Chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng
+ Công tác giám sát chất lượng tại Hoa Kỳ
Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản
vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình.Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ
+ Công tác giám sát chất lượng tại Liên bang Nga
Luật xây dựng đô thị của Liên bang Nga quy định khá cụ thể về quản lý chất lượng công trình xây dựng Theo đó, tại Điều 53 của Luật này, giám sát xây dựng được tiến
Trang 28hành trong quá trình xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng cơ bản nhằm kiểm tra sự phù hợp của các công việc được hoàn thành với hồ sơ thiết kế, với các quy định trong nguyên tắc kỹ thuật, các kết quả khảo sát công trình và các quy định về sơ
đồ mặt bằng xây dựng của khu đất
Giám sát xây dựng được tiến hành đối với đối tượng xây dựng.Chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể thuê người thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ thiết kế để kiểm tra sự phù hợp các công việc đã hoàn thành với hồ sơ thiết kế.Bên thực hiện xây dựng có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan giám sát xây dựng nhà nước về từng trường hợp xuất hiện các sự cố trên công trình xây dựng
Việc giám sát phải được tiến hành ngay trong quá trình xây dựng công trình, căn cứ vào công nghệ kỹ thuật xây dựng và trên cơ sở đánh giá xem công trình đó có bảo đảm
an toàn hay không Việc giám sát không thể diễn ra sau khi hoàn thành công trình Khi phát hiện thấy những sai phạm về công việc, kết cấu, các khu vực kỹ thuật công trình, chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể yêu cầu giám sát lại sự an toàn các kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình sau khi loại bỏ những sai phạm đã
có Các biên bản kiểm tra các công việc, kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình được lập chỉ sau khi đã khắc phục được các sai phạm
Việc giám sát xây dựng của cơ quan nhà nước được thực hiện khi xây dựng các công trình xây dựng cơ bản mà hồ sơ thiết kế của các công trình đó sẽ được các cơ quan nhà nước thẩm định hoặc là hồ sơ thiết kế kiểu mẫu; cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng nếu hồ sơ thiết kế của công trình đó được cơ quan nhà nước thẩm định; xây dựng các công trình quốc phòng theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga Những người
có chức trách thực hiện giám sát xây dựng nhà nước có quyền tự do ra vào đi lại tại các công trình xây dựng cơ bản trong thời gian hiệu lực giám sát xây dựng nhà nước + Công tác giám sát chất lượng tại Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu thực hiện giám sát trong lĩnh vực xây dựng công trình từ những năm 1988.Vấn đề quản lý chất lượng công trình được quy định trong Luật xây dựng Trung Quốc Phạm vi giám sát xây dựng các hạng mục công trình của Trung Quốc rất rộng, thực hiện ở các giai đoạn, như: giai đoạn nghiên cứu tính khả thi thời kỳ trước
Trang 29khi xây dựng, giai đoạn thiết kế công trình, thi công công trình và bảo hành công trình
- giám sát các công trình xây dựng, kiến trúc Người phụ trách đơn vị giám sát và kỹ
sư giám sát đều không được kiêm nhiệm làm việc ở cơ quan nhà nước Các đơn vị thiết kế và thi công, đơn vị chế tạo thiết bị và cung cấp vật tư của công trình đều chịu
sự giám sát
Quy định chất lượng khảo sát, thiết kế, thi công công trình phải phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn Nhà nước Nhà nước chứng nhận hệ thống chất lượng đối với đơn vị hoạt động xây dựng Tổng thầu phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng trước Chủ đầu tư Đơn vị khảo sát, thiết kế, thi công chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình thực hiện; chỉ được bàn giao công trình đưa vào sử dụng sau khi đã nghiệm thu Quy định về bảo hành, duy tu công trình, thời gian bảo hành do Chính phủ quy định
Đối với hai chủ thể quan trọng nhất là Chính quyền và các tổ chức cá nhân làm ra sản phẩm xây dựng, quan điểm của Trung Quốc thể hiện rất rõ trong các quy định của Luật xây dựng là “Chính quyền không phải là cầu thủ và cũng không là chỉ đạo viên của cuộc chơi Chính quyền viết luật chơi, tạo sân chơi và giám sát cuộc chơi”
+ Công tác giám sát chất lượng tại Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, Chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt
Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện Họ nhận sự
ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình.Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các Chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng
Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ
Trang 30quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc
sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các Chủ đầu tư giao việc
1.4 Những bất cập về vấn đề chất lượng xây dựng công trình thủy lợi hiện nay
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và
mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế Bên cạnh những mặt đã đạt được về quản lý chất lượng xây dựng công trình, hiện nay vẫn còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng bất cập, hạn chế chưa được giải quyết mạnh mẽ, trong
đó vấn đề đáng chú ý nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng Từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình) Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó Một số vấn đề
cơ bản trong đó là:
- Chất lượng công trình xây dựng chưa được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng
về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, chất lượng khảo sát, chất lượng thiết kế
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình Tuy nhiên, do nhiều yếu tố về giá cả, tiến độ, trách nhiệm, ý thức thức của
Trang 31các nhà thầu, của cán bộ giám sát mà chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện đưa vào công trình xây dựng còn có nhiều sai phạm
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị, quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công Tuy nhiên việc thí nghiệm, kiểm định chưa thật sự nghiêm túc và còn có yếu tố tác động dẫn đến các kết quả thí nghiệm, kiểm định không chính xác
- Về tiến độ xây dựng các công trình hiện nay, do nhiều yếu tố khách quan như biến động về giá cả nguyên vật liệu, các cơ chế chính sách thay đổi, hoặc các yếu tố chủ quan như yếu kém về khâu khảo sát thiết kế, yếu về khả năng thi công mà vẫn còn tồn tại nhiều công trình chưa hoàn thành đúng tiến độ đề ra, hoặc do bị ép tiến độ mà nhiều công trình không đảm bảo về chất lượng
- Một số công trình sau khi thi công xong, bàn giao sử dụng cho đơn vị quản lý, sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng, công trình đã xuống cấp, sụt lún, nứt nẻ…không đảm bảo an toàn nếu tiếp tục khai thác sử dụng Điều này vừa gây thiệt hại lớn về kinh
tế, vừa nguy hiểm cho đơn vị quản lý cũng như nhân dân gần khu vực có dự án
- Trang thiết bị hầu hết đã cũ, chắp vá không thể sản xuất được những sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao, không thể đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Có đến 70% thiết bị máy móc thuộc thế hệ những năm 60- 70, trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ phận, chắp vá thiếu đồng bộ Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên 20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm
có 27% Do đầu tư thiếu đồng bộ nên nhiều doanh nghiệp tham gia dự án gặp rất nhiều khó khăn về phụ tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm còn quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng chưa sửa đổi Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao…Những điều này chính là nguyên nhân làm cho chất lượng nhiều công trình chưa cao
Trang 321.5 Một số phương pháp giám sát chất lượng công trình
1.5.1 Phương pháp quan sát
Một phương pháp luận hiện đại là mỗi công tác được tiến hành thì ứng với nó có một (hay nhiều) phương pháp kiểm tra tương ứng Nhà thầu tiến hành thực hiện một công tác thì yêu cầu giải trình đồng thời là dùng phương pháp nào để biết được chỉ tiêu chất lượng đạt bao nhiêu và dùng dụng cụ hay phương tiện gì cho biết chỉ tiêu ấy Biện pháp thi công cũng như biện pháp kiểm tra chất lượng ấy được tư vấn giám sát trình Chủ nhiệm dự án duyệt trước khi thi công Quá trình thi công, kĩ sư của nhà thầu phải kiểm tra chất lượng của sản phẩm mà công nhân làm ra Vậy trên công trường phải có các dụng cụ kiểm tra để biết các chỉ tiêu đã thực hiện Thí dụ: người cung cấp bê tông hoặc vữa thương phẩm phải chịu trách nhiệm kiểm tra cường độ chịu nén mẫu đạt 7 ngày tuổi Nếu kết quả bình thường thì nhà thầu kiểm tra nén mẫu 28 ngày Nếu kết quả bình thường thì nhà thầu phải thử cường độ nén ở 14 ngày và 28 ngày để xác định chất lượng bê tông Nếu ba loại mẫu 7, 14, 28 có kết quả gây ra nghi vấn thì tư vấn kiểm tra yêu cầu làm các thí nghiệm bổ sung để khẳng định chất lượng cuối cùng Khi thi công cọc nhồi, nhất thiết tại nơi làm việc phải có tỷ trọng kế để biết dung trọng của bentonite, phải có phễu March và đồng hồ bấm giây để kiểm tra độ nhớt của dung dịch khoan phải có phễu March và đồng hồ bấm giây đề kiểm tra độ nhớt của dung dịch khoan, phải có ống nghiệm để đo tốc độ phân tách nước của dung dịch…
Nói chung cán bộ giám sát đảm bảo chất lượng phải chứng kiến quá trình thi công và quá trình kiểm tra của người thi công và nhận định qua hiểu biết của mình thông qua quan sát bằng mắt với sản phẩm làm ra Khi nào qui trình bắt buộc hay có nghi ngờ thì yêu cầu nhà thầu thuê phòng thí nghiệm kiểm tra và phòng thí nghiệm có nghĩa vụ báo
số liệu đạt được qua kiểm tra cho cán bộ giám sát để kết luận việc đạt hay không đạt yêu cầu chất lượng Để tránh tranh chấp, cán bộ giám sát không nên trực tiếp kiểm tra
mà chỉ nên chứng kiến sự kiểm tra của nhà thầu và tiếp nhận số liệu để quyết định chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản phẩm Khi có nghi ngờ, cán bộ giám sát sẽ chỉ định người kiểm tra và nhà thầu phải thực hiện theo yêu cầu này
Trang 331.5.2 Phương pháp thực nghiệm
Trong quá trình thi công, cán bộ, kỹ sư của nhà thầu phải thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm của công nhân làm ra sau mỗi công đoạn hay giữa công đoạn khi thấy cần thiết Những lần kiểm tra và thi công không có sự báo trước và yêu cầu tư vấn đảm bảo chất lượng chứng kiến, người tư vấn có quyền từ chối việc thanh toán khối lượng
đã hoàn thành này Kiểm tra kích thước công trình thường dùng các loại thước tầm, thước cuộn 5 mét và cuộn dài hơn Kiểm tra độ cao, độ thẳng đứng thường sử dụng máy đo đạc như máy thuỷ bình, máy kinh vĩ
Ngoài ra, trên công trường còn nên có súng bật nảy để kiểm tra sơ bộ cường độ bê tông Những dụng cụ như quả dọi chuẩn, dọi laze, ống nghiệm, tỷ trọng kế, cân tiểu ly,
lò xấy, viên bi thép…cần được trang bị Nói chung trên công trường có đầy đủ các dụng cụ kiểm tra các việc thông thường
Trong việc kiểm tra thì nội bộ nhà thầu kiểm tra là chính và cán bộ giám sát bảo đảm chất lượng chỉ chứng kiến những phép kiểm tra của nhà thầu Khi nào nghi ngờ kết quả kiểm tra thì nhà thầu có quyền yêu cầu nhà thầu thuê đơn vị kiểm tra khác Khi thật cần thiết, cán bộ giám sát bảo đảm chất lượng có quyền chỉ định đơn vị kiểm tra
và nhà thầu phải đáp ứng yêu cầu này
1.5.3 Phương pháp kiểm tra bằng thí nghiệm
Việc thuê các phòng thí nghiệm để tiến hành kiểm tra một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trên công trường được thực hiện theo qui định của các tiêu chuẩn kỹ thuật và khi tại công trường có sự không nhất trí về sự đánh giá chỉ tiêu chất lượng mà bản thân nhà thầu tiến hành
Nói chung việc lựa chọn đơn vị thí nghiệm, nhà thầu chỉ cần đảm bảo rằng đơn vị thí nghiệm ấy có tư cách pháp nhân để tiến hành thử các chỉ tiêu cụ thể được chỉ định Còn khi nghi ngờ hay cần đảm bảo độ tin cậy cần thiết thì tư vấn giám sát đảm bảo chất lượng dành quyền chỉ định đơn vị thí nghiệm
Nhà thầu là bên đặt ra các yêu cầu thì nghiệm và những yêu cầu này phải được Chủ nhiệm dự án dựa vào tham mưu của tư vấn giám sát đảm bảo chất lượng kiểm tra và đề nghị thông qua bằng văn bản Đơn vị thí nghiệm phải đảm bảo tính bí mật của các số liệu thí nghiệm và người công bố chấp nhận hay không chấp nhận chất lượng sản
Trang 34phẩm làm ra phải là chủ nhiệm dự án qua tham mưu của tư vấn giám sát đảm bảo chất lượng
Cần lưu ý về tư cách pháp nhân của đơn vị thí nghiệm và tính hợp pháp của công cụ thí nghiệm Để tránh sự cung cấp số liệu sai lệch do dụng cụ thị nghiệm chưa được kiểm chuẩn, yêu cầu mọi công cụ thí nghiệm sử dụng phải nằm trong phạm vị cho phép của văn bản xác nhận đã kiểm chuẩn
Đơn vị thí nghiệm chỉ có nhiệm vụ cung cấp số liệu của các chỉ tiêu được yêu cầu kiểm định còn việc những chỉ tiêu ấy có đạt yêu cầu hay có phù hợp với chất lượng yêu cầu phải do cán bộ giám sát đảm bảo chất lượng phát biểu và ghi thành văn bản trong tờ nghiệm thu khối lượng và chất lượng hoàn thành
Kết luận chương 1
Trong chương 1 này, học viên nêu lên tình hình phát triển của ngành Thủy lợi của Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng Trong đó nói rõ vai trò của ngành thủy lợi, chất lượng các công trình thủy lợi hiện nay ở nước ta, đồng thời, nêu ra những yếu tố
có ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi Những vấn đề này là tổng quan tình hình công trình thủy lợi hiện nay ở Việt Nam, để từ đó nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các công trình Thủy lợi hiện nay
Trang 35CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
2.1 Các cơ sở pháp lý trong giám sát chất lượng xây dựng
2.1.1 Cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giám sát thi công
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4091: 1895: Nghiệm thu các công trình xây dựng;
- Tiêu chuẩn Việt Nam
TCVN 4118: 2012 Công trình Thuỷ lợi – Hệ thống tưới tiêu – Yêu cầu thiết kế;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8305: 2009 Công trình Thuỷ lợi – Kênh đất –Yêu cầu
kỹ thuật trong thi công và nghiệm thu;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2737: 1995 Tải trọng và tác động;
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 04-05: 2012/BNNPTNT Công trình thuỷ lợi – Các qui định chủ yếu về thiết kế;
- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, thi công khác
+ Quy định về lựa chọn và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật trong khảo sát, thiết
kế và thi công xây dựng công trình;
+ Điều kiện kỹ thuật thi công và nghiệm thu;
+ Quy định về đánh giá sự phù hợp chất lượng công trình xây dựng;
Trang 36+ Vận dụng quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật trong giám sát thi công xây dựng công trình
2.1.2 Căn cứ pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn trong nghiệm thu công trình xây dựng
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 của Quốc hội khóa XIII;
- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 của Quốc hội khóa XIII;
- Luật Thủy Lợi 08/2017/QH14 ngày 19/6/2017 của Quốc hội khóa XIV;
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng
và bảo trì công trình xây dựng;
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về việc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu;
- Thông tư số 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016 của Bộ Xây dựng về việc quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5640: 1991: Bàn giao công trình xây dựng – Nguyên tắc cơ bản;
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8305: 2009 Công trình Thuỷ lợi – Kênh đất –Yêu cầu
kỹ thuật trong thi công và nghiệm thu;
+ Quy định về lựa chọn và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật trong khảo sát, thiết
kế và thi công xây dựng công trình;
+ Điều kiện kỹ thuật thi công và nghiệm thu;
+ Quy định về đánh giá sự phù hợp chất lượng công trình xây dựng;
+ Vận dụng quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật trong giám sát thi công xây dựng công trình
Trang 37-Và một số tài liệu khác có liên quan
Nội dung giám sát:
+ Thông báo về nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân trong hệ thống quản lý chất lượng của chủ đầu tư, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình, cho các nhà thầu có liên quan biết để phối hợp thực hiện;
+ Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định tại Điều 107 của Luật Xây dựng;
+ Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình so với hồ
sơ dự thầu và hợp đồng xây dựng, bao gồm: Nhân lực, thiết bị thi công, phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình;
+ Kiểm tra biện pháp thi công xây dựng của nhà thầu so với thiết kế biện pháp thi công
đã được phê duyệt;
+ Xem xét và chấp thuận các nội dung yêu cầu của nhà thầu thi công để chỉnh sửa các nội dung này trong quá trình thi công xây dựng công trình cho phù hợp với thực tế và quy định của hợp đồng Trường hợp cần thiết, chủ đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu về việc giao nhà thầu giám sát thi công xây dựng lập và yêu cầu nhà thầu thi công xây dựng thực hiện đối với các nội dung nêu trên;
+ Kiểm tra và đi đến thống nhất nghiệm thu vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình;
+ Kiểm tra, đôn đốc nhà thầu thi công xây dựng công trình và các nhà thầu khác triển khai công việc tại hiện trường theo yêu cầu về tiến độ thi công của công trình;
+ Giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường đối với các công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; giám sát các biện pháp đảm bảo an toàn đối với công trình lân cận, công tác quan trắc công trình;
+ Giám sát việc đảm bảo an toàn lao động theo quy định của quy chuẩn, quy định của hợp đồng và quy định của pháp luật về an toàn lao động;
Trang 38+ Đề nghị chủ đầu tư tổ chức điều chỉnh thiết kế khi phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế;
+ Tạm dừng thi công đối với nhà thầu thi công xây dựng khi xét thấy chất lượng thi công xây dựng không đảm bảo yêu cầu chất lượng kỹ thuật, biện pháp thi công không đảm bảo an toàn; chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình và phối hợp xử lý, khắc phục sự
cố theo quy định của Nghị định này;
+ Kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu; kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công;
+ Tổ chức thí nghiệm đối chứng, kiểm định chất lượng hạng mục công trình, toàn bộ công trình xây dựng;
+ Thực hiện nghiệm thu công việc xây dựng để chuyển bước thi công, nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng, nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng theo quy định; kiểm tra và xác nhận khối lượng thi công xây dựng hoàn thành;
+ Tổ chức lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng;
+ Thực hiện các nội dung khác theo quy định của hợp đồng xây dựng
2.2 Quản lý chất lượng công trình
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các
tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng
Theo Nghị định 46/2015 NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng xuyên suốt các giai đoạn từ khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình
Trang 39Hoạt động xây dựng Hoạt động quản lý chất lượng
-Giám sát của Chủ đầu tư Thiết kế + Lập dự toán kinh phí -Quy chuẩn xây dựng
-Tiêu chuẩn xây dựng -Giám sát của chủ đầu tư
- Thẩm tra thiết kế và dự toán kinh phí
-Giám sát Chủ đầu tư -Giám sát tác giả TVTK -Giám sát cộng đồng
- Bảo trì công trình Hình 2.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình Nếu tạm gác vấn đề quy hoạch sang một bên thì theo hình 2.1, hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát chất lượng của Chủ đầu tư và các chủ thể khác Nội dung công tác giám và tự giám sát của các chủ thể thay đổi tuỳ theo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ Có thể tóm tắt về nội dung và chủ thể giám sát theo các giai đoạn của dự án xây dựng là:
Trong giai đoạn khảo sát ngoài sự giám sát của Chủ đầu tư thì nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát của đơn vị mình; Trong giai đoạn thiết kế, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế xây dựng công trình Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chất lượng và
tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình và
Trang 40nghiệm thu công trình xây dựng của Chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình;
Trong giai đoạn bảo hành Chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình
có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế; giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa đó
Ngoài ra còn có giám sát cuả nhân dân về chất lượng công trình xây dựng Có thể thấy rất rõ là quản lý chất lượng rất được coi trọng trong giai đoạn thi công xây dựng công trình
2.2.1 Quản lý chất lượng
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng:
- Theo GOST 15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí
- Theo A.G.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý chất lượng được xác định như một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và
sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng
- Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng