GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Lý do lựa chọn đề tài
Trường đại học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội hiện đại, với ba sứ mệnh chính: chuyển giao tri thức, phát triển tri thức khoa học mới và phụng sự xã hội như một trung tâm văn hóa và học thuật Việc kiến tạo tri thức mới là nhiệm vụ trọng tâm, phân biệt trường đại học với các cơ sở đào tạo nghề Trường đại học không chỉ đơn thuần là nơi chuyển giao tri thức qua hoạt động giảng dạy, mà còn là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Đồng thời, trường đại học cần thực hiện nghiên cứu khoa học để phát triển tri thức mới, góp phần vào sự hiểu biết của con người về thế giới Ngoài ra, trường đại học hiện đại còn có vai trò phản biện xã hội và chính sách, thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các trường đại học Việt Nam đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ hệ thống giáo dục đại học của các nước phát triển như Mỹ và Úc (Nguyen, 2015) Các trường đại học không chỉ là nơi tạo ra và phổ biến tri thức thông qua nghiên cứu (Brew & Lucas, 2009; Faust, 2013), mà còn cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, các trường còn giữ vai trò kết nối với cộng đồng và các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước Do đó, vai trò của các trường đại học trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của quốc gia và toàn cầu là vô cùng quan trọng Chất lượng nghiên cứu của các trường đại học thường được coi là chỉ số phản ánh chất lượng giáo dục của quốc gia và ảnh hưởng đến vị trí của quốc gia trong các đánh giá giáo dục toàn cầu.
Nghiên cứu khoa học là sứ mệnh trung tâm của các trường đại học, giúp phân biệt giữa đại học và trường đào tạo nghề Hoạt động NCKH không chỉ tạo ra những con người có kỹ năng mà còn đào tạo những cá nhân tinh hoa Trong các bảng xếp hạng đại học quốc tế như THE, QS, và Giao thông Thượng Hải, NCKH được đánh giá cao, chiếm từ 20 đến 60% điểm số Để thành công trong quá trình quốc tế hóa, các trường đại học cần đầu tư cho NCKH Giảng viên không chỉ có trách nhiệm giảng dạy mà còn phải tham gia NCKH và phục vụ xã hội, thể hiện "sứ mạng thứ ba" Theo giáo sư Soo Jeung Lee, vai trò của trường đại học đã mở rộng ra ngoài mục tiêu giáo dục, tập trung vào nghiên cứu và phát triển kinh tế - xã hội Tại Việt Nam, Luật giáo dục 2019 đã quy định rõ nhiệm vụ NCKH của các cơ sở giáo dục và giảng viên.
19 nêu rõ: “Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục”, và
Căn cứ theo Điều 55 của Luật Giáo dục đại học 2012 (sửa đổi năm 2018), các cơ sở giáo dục có trách nhiệm tự triển khai hoặc hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ, cũng như các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ để thực hiện đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đây là một trong những nhiệm vụ và quyền quan trọng của giảng viên trong hệ thống giáo dục đại học.
Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo Theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học, như Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT và Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT, giảng viên được quy định cụ thể về chế độ làm việc, trong đó yêu cầu giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (NCKH), tùy thuộc vào ngạch bậc và học hàm, học vị của họ.
Nhận thức rõ vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định phát triển khoa học và công nghệ là quyết sách hàng đầu từ những năm 1980 Các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn tri thức mới và cung cấp nhân lực trình độ cao cho xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định cần phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, đầu tư vào các viện khoa học và trường đại học cấp quốc gia Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 cũng nhấn mạnh việc nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường đại học Đề án Tái cơ cấu ngành khoa học công nghệ đến năm 2020 yêu cầu phát triển đội ngũ nhân lực và khuyến khích doanh nghiệp kết nối với hệ thống phòng thí nghiệm Nghị định số 99/2014/NĐ-CP quy định chi tiết việc đầu tư và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở GDĐH, cùng với nhiều văn bản pháp lý khác từ Thủ tướng Chính phủ liên quan đến phát triển lĩnh vực này.
Luật Giáo dục đại học năm 2018 quy định rõ trách nhiệm của nhà nước trong việc phát triển khoa học và công nghệ tại các cơ sở GDĐH, với mục tiêu đầu tư vào tiềm lực khoa học và công nghệ, khuyến khích sự tham gia của tổ chức và cá nhân, đồng thời phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Chính phủ cũng quy định các chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, bao gồm việc khuyến khích giảng viên thông qua các ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính, cũng như tạo điều kiện cho doanh nghiệp và cá nhân đầu tư vào lĩnh vực này Hệ thống pháp luật hiện hành đã xác lập vai trò quan trọng của hoạt động NCKH trong GDĐH và xây dựng các chính sách khuyến khích phù hợp, tạo khung pháp lý cho sự tham gia và quản lý nhà nước đối với hoạt động nghiên cứu khoa học.
Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế, các trường đại học tại Việt Nam đã chuyển từ việc chỉ tập trung vào giảng dạy kiến thức và kỹ năng sang coi nghiên cứu khoa học (NCKH) là một nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, hoạt động NCKH tại các trường thuộc khối khoa học xã hội vẫn còn nhiều thách thức và cần được chú trọng hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển tri thức mới và phục vụ cộng đồng.
Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, cùng với các quyết định khác như số 1665/QĐ-TTg và 2469/QĐ-TTg, nhằm nâng cao năng lực giáo dục và hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên Quyết định số 69/QĐ-TTg ngày 15/1/2019 và số 89/QĐ-TTg ngày 18/1/2019 tiếp tục tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học và năng lực đội ngũ giảng viên Tuy nhiên, ngành khoa học xã hội, đặc biệt là kinh tế, vẫn gặp nhiều hạn chế trong việc công bố sản phẩm nghiên cứu quốc tế so với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật Số lượng bài nghiên cứu của ứng viên trong các kỳ xét duyệt học hàm giáo sư, phó giáo sư thuộc lĩnh vực này còn thấp, đặc biệt là những bài được đăng trong các tạp chí uy tín như ISI/Scopus.
Các NCKH tại các trường đại học khối kinh tế đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đặc biệt trong việc hoạch định các chính sách kinh tế lớn Tuy nhiên, hoạt động NCKH hiện nay vẫn gặp nhiều hạn chế, bao gồm việc giảng viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nghiên cứu, khả năng triển khai nghiên cứu còn yếu, và hạn chế về trình độ ngoại ngữ Nhiều đề tài nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, và tài liệu tham khảo chủ yếu chỉ bằng tiếng Việt, làm giảm tính thiết thực của nghiên cứu Số lượng công bố quốc tế còn khiêm tốn, chất lượng nghiên cứu chưa cao và sự lệ thuộc vào các dự án nghiên cứu quốc tế vẫn còn lớn.
Nguyên nhân hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của các trường đại học khối kinh tế được chia thành hai nhóm chính: nguyên nhân khách quan, bao gồm môi trường thể chế và chính sách, và nguyên nhân chủ quan, liên quan đến văn hóa nghiên cứu, quy chế nội bộ của trường và động lực NCKH của giảng viên Các vấn đề này đã được thảo luận nhiều tại các hội nghị và báo cáo đánh giá về hoạt động khoa học và công nghệ.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ tại các trường đại học trong giai đoạn 2011-2019 rất thấp, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển và đổi mới trong lĩnh vực này.
Năm 2015, ngân sách đầu tư cho tăng cường năng lực nghiên cứu từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt khoảng 30-50 tỷ đồng cho 61 đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vũ Văn Tích, 2016) Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2016, đầu tư tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong cả nước bình quân giai đoạn 2011-2015 chỉ đạt khoảng 1,7% ngân sách nhà nước Đặc biệt, kinh phí ngân sách nhà nước dành cho NCKH trong ngành giáo dục còn khá khiêm tốn và chưa hợp lý, chỉ bằng 35% so với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 86% so với Bộ Công thương, 44,9% so với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, và 18,3% so với các lĩnh vực khác.
Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định rằng việc phân bổ kinh phí cho sự nghiệp khoa học và công nghệ hiện nay chưa hợp lý, chủ yếu dựa vào số cấp ban đầu mà không gắn với sản phẩm đầu ra, dẫn đến khó khăn trong việc đạt mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia Điều này cũng làm giảm khả năng thu hút các nhà khoa học Việt kiều tham gia nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học Hơn nữa, mặc dù Chính phủ đã khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức đầu tư vào phát triển tiềm lực khoa học theo Nghị định số 99/2014/NĐ-CP, nhưng các chính sách vẫn chỉ dừng lại ở việc đề xuất nhiệm vụ mà chưa thực sự đi vào thực tiễn.
Theo Điều 11 Nghị định số 99/2014/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN) thông qua việc miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp và cá nhân đầu tư phát triển tiềm lực KHCN Các quyền sở hữu tài sản và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp cũng được công nhận và bảo hộ Tuy nhiên, các giải pháp hiện tại vẫn chưa cụ thể và chưa đáp ứng được thực tế đầu tư vào KHCN, với thủ tục đăng ký đề tài phức tạp và khó khăn trong thanh toán kinh phí nghiên cứu khoa học Ngoài ra, cần nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ nghiên cứu thông qua các chương trình đào tạo và hợp tác quốc tế Mặc dù đã có nhiều văn bản đề cập đến việc khuyến khích nghiên cứu, nhưng các chính sách vẫn mang tính định hướng chung và thiếu sự phân biệt giữa các lĩnh vực nghiên cứu Các biện pháp khuyến khích và khen thưởng cho người tham gia hoạt động KHCN còn mờ nhạt và không cụ thể, ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu trong giáo dục đại học.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào việc xây dựng và kiểm chứng mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên Đồng thời, tác giả đưa ra một số khuyến nghị để thúc đẩy hoạt động NCKH và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam.
Hệ thống hóa và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học là cần thiết Việc hiểu rõ các nhân tố này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên trong việc phát triển các dự án nghiên cứu Các yếu tố như chính sách hỗ trợ, môi trường làm việc, và năng lực cá nhân đều đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động NCKH.
Mô hình nghiên cứu được thiết lập nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố động cơ, rào cản nghiên cứu và đặc điểm của nhà khoa học đến kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam.
Lượng hoá ảnh hưởng của các yếu tố động cơ, rào cản và đặc điểm của giảng viên tới kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam là một vấn đề quan trọng Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố chính tác động đến hiệu suất NCKH của giảng viên, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện chất lượng nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế Việc hiểu rõ các động cơ và rào cản sẽ giúp các trường đại học xây dựng môi trường nghiên cứu thuận lợi hơn cho giảng viên.
Để nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và năng lực nghiên cứu của giảng viên các trường đại học khối kinh tế tại Việt Nam, cần đề xuất một số khuyến nghị quan trọng Thứ nhất, tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng nghiên cứu và trang thiết bị hiện đại Thứ hai, khuyến khích hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp để tạo ra môi trường nghiên cứu thực tiễn Thứ ba, tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng nghiên cứu cho giảng viên Cuối cùng, cần xây dựng chính sách khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí uy tín quốc tế.
Tổng quan nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) được coi trọng tại các trường đại học trên toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu quốc tế Trong luận án này, tác giả đã tổng hợp một số nghiên cứu gần đây về hoạt động NCKH của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
1.3.1 Các lý thuy ế t n ề n t ả ng v ề các nhân t ố ả nh h ưở ng t ớ i ho ạ t độ ng nghiên c ứ u khoa h ọ c và k ế t qu ả nghiên c ứ u khoa h ọ c
1.3.1.1 Lý thuyết về sự hài lòng và ảnh hưởng của các nhân tố tạo ra sự hài lòng tới kết quả nghiên cứu
Sự hài lòng công việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất tổ chức, đặc biệt là trong môi trường đại học, nơi giảng viên đóng vai trò chủ chốt Các khía cạnh như mức lương, cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc có thể tác động tích cực đến sự hài lòng của giảng viên, từ đó ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của họ (Nguyen, 2015) Sự hài lòng này thường bắt nguồn từ việc đáp ứng kỳ vọng cá nhân về công việc và thành quả đạt được Do đó, các yếu tố tạo ra sự hài lòng được coi là nguồn lực thiết yếu để nâng cao hiệu suất làm việc trong tổ chức.
Mối liên hệ tích cực giữa sự hài lòng và kết quả công việc đã được xác nhận trong nhiều nghiên cứu từ những năm 1980, với Creswell J (1986) cho thấy sự tương quan giữa sự hài lòng và hiệu suất công việc của nhân viên Nghiên cứu của Judge và cộng sự (2001) chỉ ra rằng mối tương quan này mạnh hơn ở các công việc phức tạp Trong bối cảnh đại học, nghiên cứu của C A D’Angelo và G Abramo (2014) cho thấy những học giả hài lòng nhất là những người có thể tiếp cận các nguồn lực cần thiết và cảm thấy được hỗ trợ trong nghiên cứu Họ cũng dự đoán rằng năng suất nghiên cứu và sự hài lòng của giảng viên có mối quan hệ thuận chiều Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng phát hiện mối tương quan nghịch giữa hỗ trợ nghiên cứu và số lượng bài báo xuất bản, cho thấy sự hài lòng là một khía cạnh tâm lý phức tạp và có thể thay đổi theo thời gian và môi trường Do đó, cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng như một nhân tố dự đoán năng suất nghiên cứu (Nguyen, 2015).
1.3.1.2 Lý thuyết về cam kết tổ chức và ảnh hưởng của cam kết với tổ chức tới kết quả nghiên cứu
Cam kết với tổ chức là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của nhân viên, quyết định hiệu quả hoạt động của tổ chức (Perry J & Porter L., 1982) Nghiên cứu cho thấy rằng sự cam kết tăng lên khi mục tiêu và giá trị cá nhân của nhân viên phù hợp với tổ chức, dẫn đến nâng cao hiệu suất công việc (Meyer & Allen, 1997) Cam kết không chỉ gia tăng tính trung thành mà còn cải thiện hiệu quả tổ chức Có ba loại cam kết: cam kết tình cảm, cam kết tiếp tục và cam kết chuẩn mực Cam kết tình cảm (Affective commitment) thể hiện sự gắn bó về cảm xúc của nhân viên với tổ chức và sẵn sàng đóng góp nguồn lực cá nhân để đạt được mục tiêu chung.
Cam kết tiếp tục (continuance commitment) phản ánh nhận thức của nhân viên về các chi phí khi rời bỏ tổ chức và được hình thành bởi điều kiện làm việc cũng như điều kiện sống của họ (Meyer & Allen, 1991) Nhân viên có kiểu cam kết này thường tiếp tục làm việc vì lý do tài chính cá nhân, như nhu cầu trang trải cuộc sống Nếu không đạt được kỳ vọng tài chính, họ có thể chuyển sang tổ chức khác Những người không thể rời bỏ do khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm sẽ vẫn ở lại nhưng cảm xúc sẽ rút lui khỏi công việc hàng ngày (Joo, 2010) Cam kết tiếp tục là dạng cam kết thiếu tính tự nguyện, dựa trên kỳ vọng tài chính, dẫn đến ít động lực cống hiến cho sự phát triển của tổ chức.
Cam kết chuẩn mực (normative commitment) là dạng cam kết thứ ba, thể hiện ý thức về nghĩa vụ của người lao động trong việc tiếp tục làm việc tại tổ chức Nhân viên có cam kết chuẩn mực cao thường gắn bó với công ty vì lý do đạo đức và tinh thần trách nhiệm.
Nghiên cứu tại các trường đại học cho thấy hệ thống khen thưởng ảnh hưởng tích cực đến cam kết của giảng viên và nhà nghiên cứu, từ đó tác động đến việc xuất bản ấn phẩm khoa học (Finaly - Newmann, 1990) Các loại cam kết với tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó cam kết tình cảm có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất (Dunham và cộng sự, 1994; Meyer & Allen, 1991) Cam kết với tổ chức được coi là động lực nội tại của giảng viên để thực hiện nghiên cứu, do đó, lý thuyết cam kết với tổ chức là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu tại các trường đại học.
1.3.1.3 Lý thuyết động lực của con người: Lý thuyết tự quyết định
Lý thuyết tự quyết định (Self-Determination Theory - STD) của Ryan và Deci (2000) cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực nghiên cứu của giảng viên và nhà khoa học Theo lý thuyết này, động lực nghiên cứu không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài mà còn bởi các yếu tố tâm lý cá nhân Việc áp dụng lý thuyết tự quyết định giúp giải thích cơ chế hình thành động lực nghiên cứu và tác động của nó đến kết quả nghiên cứu của giảng viên, đặc biệt tại các trường đại học khối kinh tế.
Lý thuyết tự quyết định cho rằng động lực phát sinh từ sự tương tác giữa các yếu tố điều chỉnh bên ngoài và nhu cầu tâm lý bên trong, cho phép cá nhân tự chủ và tự ra quyết định Theo lý thuyết này, mọi người có xu hướng hành động khi họ tin rằng hành vi của mình sẽ dẫn đến kết quả mong muốn (Ryan & Deci, 2000) Đồng thời, lý thuyết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự điều chỉnh trong quá trình tạo động lực và hành động, đặc biệt hữu ích trong việc giải thích hành vi của những người yêu thích sự tự do trong công việc, như giảng viên và học giả (Lam, 2014).
Lý thuyết tự quyết định phân biệt ba loại động lực: động lực bên trong, động lực bên ngoài và không có động lực Động lực bên trong là việc theo đuổi đam mê và cảm thấy hài lòng, trong khi động lực bên ngoài liên quan đến việc đạt được kết quả và phần thưởng từ bên ngoài Trạng thái không có động lực (amotivation) là khi cá nhân thiếu ý định hành động do không quan tâm hoặc không đánh giá được kết quả Lý thuyết này cho rằng hành vi cá nhân có thể thay đổi từ không có động lực đến động lực nội tại, với động lực bên ngoài phản ánh khả năng tự quyết của cá nhân Quá trình nội tâm hóa cho phép các hành động bên ngoài trở thành động lực nội tại, giúp cá nhân không cần phần thưởng bên ngoài để hành động.
Lam (2011) phát triển một mô hình dựa trên lý thuyết tự quyết định để giải thích mối quan hệ giữa động lực hành động và thương mại hóa trong nghiên cứu tại Anh Ông chỉ ra rằng động lực nghiên cứu không chỉ đơn thuần là tiền bạc, mà còn phức tạp hơn với ba nhóm phần thưởng chính: sự vinh danh (ribbon), phần thưởng tài chính (gold) và giải quyết các thách thức (puzzle) (Stephan & Levin, 1992) Trong giới học thuật, sự vinh danh được coi là phần thưởng quan trọng nhất cho các nhà khoa học, không chỉ vì động lực từ sự công nhận uy tín mà còn liên quan đến hoạt động tài trợ nghiên cứu và các phần thưởng tài chính từ tổ chức (Stephan, 1996).
Sự vinh danh là yếu tố quan trọng trong hệ thống khoa bảng, ảnh hưởng đến quỹ và ngân sách nghiên cứu của các nhà khoa học (Hong & Walsh, 2009) Trong mô hình truyền thống, ấn bản khoa học được xem như tiền tệ trong việc đạt được sự vinh danh, với các sản phẩm khoa học có thể kết hợp thương mại Các nhà khoa học có thể sử dụng bằng sáng chế như chứng từ để xây dựng uy tín và nhận các phần thưởng truyền thống (Murray, 2006; Owen - Smith, 2003).
Các quá trình điều khiển động lực trong nghiên cứu có thể đồng thời tồn tại, với các nhà khoa học bị thúc đẩy bởi cả yếu tố bên trong và bên ngoài Trong môi trường đại học, giảng viên có mức độ tự chủ cao và có quyền quyết định tham gia vào quá trình thương mại hóa hay không Tuy nhiên, xu hướng thương mại hóa khoa học đang tạo ra áp lực buộc các nhà khoa học tham gia vào các hoạt động thương mại, tùy thuộc vào lợi ích tiềm năng mà những hoạt động này mang lại Hình ảnh dưới đây minh họa các loại nhà khoa học và các cơ chế động lực ảnh hưởng đến hoạt động thương mại hóa, nghiên cứu và công bố.
Hình 1.1: Các dạng nhà khoa học và các động cơ ảnh hưởng tới các hoạt động thương mại hoá nghiên cứu hay công bố
Hoạt động thương mại hóa/nghiên cứu/công bố
Ruy băng Vàng Giải đố Định hướng giá trị
Nhà khoa học doanh nhân
Không có động lực Động lực bên trong
Hoạt động kiểm soát Hoạt động tự thân Động lực Động lực bên ngoài
Nhà khoa học truyền thống Hybrid
1.3.2 T ổ ng quan các nghiên c ứ u c ủ a n ướ c ngoài v ề nghiên c ứ u khoa h ọ c trong tr ườ ng đạ i h ọ c
1.3.2.1 Các nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học
Nghiên cứu là một quá trình liên tục, và kiến thức thu được từ nghiên cứu luôn là mục tiêu của khoa học (Muhammad Zafar Iqbal và cộng sự, 2011) Trong thế kỷ XXI, khu vực giáo dục đại học đã có sự thay đổi đáng kể so với những năm cuối thế kỷ XIX và XX, khi các trường đại học trở thành phần quan trọng trong doanh nghiệp hiện đại, là nơi sản sinh ra kiến thức khoa học và công nghệ (Geiger, 1986) Giảng viên đại học đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao chuyên môn thông qua giảng dạy và nghiên cứu hàng ngày Việc tham gia vào các hoạt động nghiên cứu không chỉ nâng cao kiến thức của giảng viên mà còn làm cho bài giảng trở nên hấp dẫn hơn, thu hút sinh viên đến với các vấn đề thực tiễn Hơn nữa, năng lực nghiên cứu, được đánh giá qua các công trình công bố trên tạp chí uy tín, có tác động tích cực đến danh tiếng của trường (Geiger, 1986).
Theo "Tuyên bố về các nguyên tắc" năm 1915, chức năng của các trường đại học là thúc đẩy sự tìm hiểu, nâng cao kiến thức của nhân loại, cung cấp hướng dẫn cho sinh viên và phát triển chuyên gia cho các ngành dịch vụ công Giảng viên đại học thực hiện vai trò nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ để phát triển công việc học tập của tổ chức Mỗi vai trò cho phép giảng viên tạo ra và phổ biến kiến thức cho đồng nghiệp, sinh viên và cộng đồng Tuy nhiên, sự cân bằng giữa giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ khác nhau giữa các loại hình tổ chức và chế độ bổ nhiệm của giảng viên.
Trong bài chuyên khảo của tổ chức Niên giám các trường đại học, cao đẳng
Khoảng trống nghiên cứu
Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên đại học cho thấy sự đa dạng và ảnh hưởng của nhiều yếu tố đến hoạt động này Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế và khoảng trống trong các nghiên cứu hiện tại.
Nghiên cứu quốc tế chủ yếu tập trung vào việc thiết lập khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trong nhiều lĩnh vực Các yếu tố này bao gồm yếu tố cá nhân như giới tính, độ tuổi, trình độ, cũng như các yếu tố ngoại cảnh như môi trường làm việc và hoạt động khen thưởng Mặc dù các nhà nghiên cứu nước ngoài đã áp dụng thành công các phương pháp định lượng để xác định những yếu tố này, họ vẫn chưa chú trọng đến sự khác biệt giữa các ngành khoa học và lĩnh vực nghiên cứu Mỗi lĩnh vực sẽ có những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, dẫn đến các giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu cũng khác nhau Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, vẫn còn thiếu các nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của các nghiên cứu.
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào việc đánh giá các vấn đề như tổ chức, quản lý, thể chế chính sách và quản lý tài chính Mặc dù đã chỉ ra các vấn đề và phân tích thực trạng, nhưng các nghiên cứu này vẫn thiếu các phương pháp định lượng và mô hình hóa tác động của các yếu tố khác nhau đến kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên Do đó, cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực của người nghiên cứu.
Do đó, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Một là, các nhân tố nào ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu khoa học của các giảng viên của các trường đại học khối kinh tế?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố như điểm đề tài, điểm viết sách, điểm công bố và điểm hướng dẫn đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên có sự khác biệt rõ rệt Các yếu tố này không chỉ quyết định chất lượng nghiên cứu mà còn tác động đến uy tín và khả năng phát triển nghề nghiệp của giảng viên Việc phân tích ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự đóng góp của giảng viên trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, đặc biệt là khối kinh tế, cần tăng cường hỗ trợ từ phía nhà trường cho giảng viên Việc xây dựng môi trường nghiên cứu tích cực, cung cấp nguồn lực và khuyến khích hợp tác giữa các giảng viên và sinh viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu Bên cạnh đó, việc tổ chức các hội thảo, seminar và tạo cơ hội cho giảng viên công bố nghiên cứu cũng là những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học trong trường đại học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học, đặc biệt là các giảng viên thuộc khối ngành kinh tế, cùng với những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này.
Nghiên cứu này đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam Khảo sát được thực hiện tại năm trường đại học tiêu biểu, bao gồm: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Tài chính - Kế toán và Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TP HCM).
Phạm vi thời gian của nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp từ năm 2012 đến 2017, được cập nhật đến năm 2019, trong khi dữ liệu sơ cấp được thu thập đến năm 2019 Các giải pháp và hàm ý chính sách được đề xuất sẽ áp dụng trong giai đoạn từ 2021 đến 2025.
Luận án này tập trung vào việc đánh giá và phân tích hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên đại học, đặc biệt trong khối kinh tế, cùng với các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH Dựa trên việc đánh giá thực trạng và các yếu tố tác động, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên cũng như các trường đại học khối kinh tế.
Các trường đại học khối kinh tế trong luận án này được xác định là những cơ sở giáo dục có tên gọi liên quan đến lĩnh vực kinh tế hoặc chuyên đào tạo các ngành học thuộc lĩnh vực kinh tế.
Tác giả lựa chọn các trường đại học khối kinh tế cho nghiên cứu này vì các lý do sau:
Chương trình nghiên cứu tiến sĩ trong lĩnh vực kinh tế yêu cầu lựa chọn các trường kinh tế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu sinh trong quá trình triển khai nghiên cứu.
Trong thời gian gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường khối kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ như ở các trường khối kỹ thuật - công nghệ Do đó, nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động NCKH tại các trường khối kinh tế.
Trong giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo, nền kinh tế thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện sau một thời gian phát triển thành công Để đạt được mục tiêu hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường khối kinh tế là vô cùng cần thiết.
Do hạn chế về thời gian và ngân sách, nghiên cứu sinh đã quyết định khảo sát 5 trường đại học khối kinh tế Mặc dù số lượng trường không nhiều, nhưng đây đều là những cơ sở giáo dục lớn, có chuyên môn sâu về các ngành kinh tế và đại diện cho nhiều vùng miền khác nhau.
Khái quát về phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu định tính được thực hiện ở giai đoạn đầu và cuối nghiên cứu định lượng, nhằm lựa chọn và hiệu chỉnh thang đo, cũng như thu thập thông tin bổ sung qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Nghiên cứu định lượng sử dụng các phân tích đa biến như phân tích thống kê mô tả, phân tích khám phá nhân tố, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích tương quan, phân tích hồi quy bội và hồi quy logistic, nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu khoa học và khả năng công bố quốc tế của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế.
Đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
Luận án đã phân tích hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học, đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế.
Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị “Phát triển khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025” chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2011 – 2015, cả nước đã công bố 10.034 bài báo quốc tế, trong đó các trường kỹ thuật công nghệ lớn đóng góp 1.733 bài, chiếm hơn 30% Các trường thuộc khối nông, lâm, ngư và y tế đã đăng tải 7.023 bài báo, bao gồm 3.349 bài trên các kỷ yếu hội thảo quốc gia và quốc tế Ngược lại, khối các trường sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn có số lượng bài báo thấp hơn Đặc biệt, trong khối kinh tế, tỷ lệ đề tài trên giảng viên vẫn còn thấp, với Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia có tỷ lệ cao nhất.
Hà Nội đạt tỷ lệ 0,71, trong khi Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có tỷ lệ 0,47 Các trường còn lại ghi nhận tỷ lệ thấp hơn, cụ thể là Trường Đại học Ngoại thương với 0,17, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng 0,19 và Trường Đại học Kinh tế Tp HCM đạt 0,28.
Luận án đã phát triển một mô hình và điều chỉnh các thang đo chính để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tạo động cơ bên trong, động cơ bên ngoài, rào cản nghiên cứu và các yếu tố điều kiện đến kết quả nghiên cứu của giảng viên.
Nghiên cứu đã đề xuất một phương pháp đánh giá trọng số cho các thành phần ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, dựa trên việc điều chỉnh cách tính điểm nghiên cứu khoa học của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước.
Nghiên cứu đã xác định và lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên tại các trường đại học kinh tế, bao gồm cả kết quả tổng hợp và điểm các thành phần Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề xuất một mô hình đánh giá tác động của các yếu tố tới khả năng công bố quốc tế của giảng viên trong các danh mục ISI/Scopus.
Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học kinh tế, bao gồm: (1) Thực hiện tự do học thuật; (2) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho nghiên cứu; (3) Cải thiện cơ chế tài trợ khoa học; (4) Xã hội hóa nguồn quỹ tài trợ cho nghiên cứu; (5) Đổi mới mô hình hợp tác nghiên cứu quốc tế; (6) Thúc đẩy liên kết giữa đại học và doanh nghiệp; (7) Khuyến khích hội nhập và chấp nhận văn hóa khoa học quốc tế.
Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về kết quả nghiên cứu khoa học và các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận và các hàm ý nghiên cứu.