Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI 9
1.1 Khái niệm, vai trò và nội dung của quản lý nhà nước về lễ hội 9
1.2 Nội dung của quản lý nhà nước về lễ hội 14
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về lễ hội 19
1.4 Các điều kiện đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 23
2.1 Những yếu tố đặc thù của Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tác động ảnh hưởng đến quá trình quản lý nhà nước về lễ hội 23
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam từ năm 2008 đến nay 27
2.3 Đánh giá chung hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 35
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY 53
3.1 Bối cảnh mới tác động đối với quản lý nhà nước về lễ hội ở Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 53
3.2 Một số định hướng để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay 55
Trang 23.3 Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay 63
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội là nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc trong suốt chiều dài lịch
sử, là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể Cùng với các hoạt động văn hóa, Lễ hội còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nó chính là phương tiện để quảng bá, giới thiệu văn hóa, con người, vùng đất với bè bạn trong nước và quốc tế
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cùng với việc giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, công tác quản lý, tổ chức lễ hội đã có nhiều chuyển biến tích cực trong tư duy, nhận thức của các cấp lãnh đạo và toàn xã hội Việc ban hành các chủ trương, chính sách quản lý nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra lễ hội thường xuyên đã góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân
Ngày nay, quản lý Nhà nước về di sản văn hoá nói chung và đối với văn hóa lễ hội nói riêng có mối quan hệ thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững – nếu mô hình quản lý ấy đem lại hiệu quả Theo đó, giá trị văn hóa lễ hội có thể được xem là sản phẩm du lịch đặc thù; và đây cũng là một trong những nhiệm vụ đặt ra trong đối với quản lý nhà nước nhằm vừa bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa lễ hội, vừa góp phần thúc đẩy du lịch phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trong kho tàng hệ thống lễ hội truyền thống ở mọi vùng miền của nước
ta, trên thực tế chỉ có một tỷ lệ không lớn là có thương hiệu và trở nên nổi tiếng, có sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước; sự góp mặt của
nó dưới sự quản lý hiệu quả của Nhà nước thì không những phát huy được tiềm năng của lễ hội ở địa phương sở tại, mà nó còn đóng góp quan trọng đem lại nhiều nguồn lực cho địa phương đó, đem lại lợi ích nhiều mặt cho cộng
Trang 4đồng và người dân (cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần)…
Mặc dù quản lý về lễ hội gắn với du lịch hiện đang là xu hướng về nhu cầu tất yếu ở rất nhiều cộng đồng (ngoại trừ một số rất ít có các đặc trưng riêng/ có thể là cấm kỵ trong quan niệm/ tập quán tâm linh) Song với phần lớn các lễ hội của rất nhiều địa phương, trong đó có thành phố Hội An (Quảng Nam) hiện vẫn đang lúng túng trong quản lý và tổ chức các lễ hội, nhất là vẫn đang thiếu sự đầu tư trong nghiên cứu, định hướng, phát huy một số lễ hội dân gian truyền thống Hơn nữa, trong thực tiễn quản lý nhà nước về văn hóa
lễ hội trên địa bàn Hội An vẫn chưa giải quyết hài hòa, thỏa đáng đối với lợi ích của cộng đồng có văn hóa lễ hội; nói cách khác, là vẫn chưa xem văn hóa
lễ hội (với tư cách là tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch) là tiền đề và mục tiêu trong phát triển du lịch Biểu hiện cụ thể là, nhiều cộng đồng ở địa phương không được hưởng lợi từ các sản phẩm du lịch mà Nhà nước và các doanh nghiệp đã khai thác từ nguồn vốn văn hóa phi vật thể (lễ hội) của họ Không ít sản phẩm du lịch/ tổ chức sự kiện quảng bá du lịch mới chỉ tập trung mang lại lợi ích cho nhà doanh nghiệp kinh doanh du lịch, còn phía người dân (chủ thể trung tâm của văn hóa lễ hội) thì rất ít được hưởng lợi thỏa đáng để duy trì, phục hồi và bảo tồn bản sắc văn hóa lễ hội Mặt khác, dưới áp lực của
cơ chế thị trường khi có khuynh hướng thương mại hóa chỉ đơn thuần coi lễ hội truyền thống là cơ hội phát triển kinh tế, nhất là kinh doanh du lịch cũng đặt ra thách thức lớn về nguy cơ làm biến dạng bản sắc văn hóa truyền thống Với hiện trạng của một số vấn đề đặt ra đó, vô hình chung gây tác động ảnh hưởng tiêu cực đối với quá trình bảo tồn di sản văn hóa lễ hội
Xuất phát từ lý do khách quan nêu trên cùng với lợi thế so sánh của
thành phố Hội An, bản thân tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước
về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam” để thực hiện luận
văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Với mong
Trang 5muốn qua nghiên cứu này để có cách nhìn, nhận định rõ hơn những giá trị văn hóa lễ hội và các vấn đề còn bất cập ở địa bàn Thành phố Hội An, đồng thời vận dụng những kiến thức từ bản thân và các văn bản pháp luật để đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với loại hình
di sản này Đó là yêu cầu cấp thiết đối với Thành phố Hội An hiện nay, nhằm góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trong cộng đồng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với những sản phẩm lễ hội đặc sắc phục vụ du lịch, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Lễ hội và các giá trị văn hóa của lễ hội từ lâu đã được rất nhiều nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu, lý giải cơ bản qua nhiều bài viết trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành và nhiều công trình nghiên cứu văn hóa đã được xuất bản Các tác giả đã mô tả chi tiết nội dung, hình thức tổ chức các lễ hội tiêu biểu trong cả nước; luận giải về nguồn gốc, lịch sử hình thành, mục đích,
ý nghĩa, vai trò của lễ hội trong cuộc sống cộng đồng; nêu lên những quan niệm, khái niệm, phân tích cấu trúc của lễ hội và phân loại lễ hội theo từng đặc điểm, tính chất đối tượng của người nghiên cứu; giải mã hệ thống các biểu tượng của lễ hội và những biến đổi, phát sinh trong lễ hội qua từng thời
kỳ, giai đoạn lịch sử v.v Các vấn đề về sinh hoạt lễ hội cũng đã được nghiên cứu trao đổi, thảo luận trong nhiều cuộc hội thảo, hội nghị khoa học cấp quốc gia, quốc tế
a Các công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về lễ hội
- Nguyễn Thị Hương Giang (2015), Những vấn đề cơ bản về quản lý
nhà nước, Nxb Lý luận chính trị, 2015
- Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam
trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự
thật, Hà Nội
Trang 6- Bùi Quang Thanh ( năm 2016), bài viết “Quản lý văn hóa và văn hóa
quản lý đối với lễ hội cổ truyền ởViệt Nam hiện nay”, đăng trên Tạp chí Cộng
sản điện tử, ngày 15 tháng 3 năm 2016
- Bùi Hoài Sơn (năm 2007), Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt
ở châu thổ Bắc bộ từ năm 1945 đến nay, Luận án tiến sĩ, Viện Văn hóa Nghệ
thuật Việt Nam, Hà Nội
- Đoàn Thị Minh Tuyết, Học viện hành chính (2010), Bảo tồn lễ hội
truyền thống – nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước
- Hoàng Nam (2005), Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian, Nxb
Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
- Từ Thị Loan (2012), Bài viết “Một số mô hình quản lý, tổ chức lễ hội
cổ truyển”, đăng trên Tạp chí Văn học Nghệ thuật số 340, tháng 10-2012
- Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (năm 2008), Kỷ yếu Hội thảo về
chủ đề Quản lý di sản văn hóa thế giới và phát triển du lịch, Thành phố Hội
An
b Các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa và về lễ hội
- GS Hoàng Vinh (năm 1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển
di sản văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- GS Trần Quốc Vượng (1986), bài viết “Lễ hội một cái nhìn tổng thể”,
đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 01 năm 1986
- GS Ngô Đức Thịnh (năm 1993), bài viết “Những giá trị văn hoá của
lễ hội cổ truyền và nhu cầu của xã hội hiện đại”, đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Văn hoá nghệ thuật, Số 01
- GS Ngô Đức Thịnh và PGS Lê Hồng Lý (năm 1997), bài viết “Về tín
ngưỡng lễ hội và sự phát triển hiện nay”, đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ
thuật, số 11/199
- Dương Văn Sáu (năm 2006), bài viết “Khai thác lễ hội du lịch ở Việt
Trang 7Nam”, đăng trên Tạp chí Du Lịch Việt Nam, Số 01
- Mai Linh (năm 2003), bài viết “Kinh nghiệm tổ chức lễ hội và các sự
kiện du lịch”, đăng trên Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 08
- Bùi Hoài Sơn, Phạm Lan Oanh, Lê Hồng Phúc, Minh Anh, (2014),
Xây dựng nếp sống văn minh tại điểm di tích và lễ hội, Nxb Văn hóa Dân tộc
- Bùi Hoài Sơn, Viện Văn hóa Thông tin, Lễ hội cổ truyền trong việc
phát triển du lịch ở các làng ngoại thị Hội An
- Phùng Tấn Đông, (2004), Lễ hội cổ truyền ở Hội An và việc kế thừa,
phát huy những giá trị văn hóa, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Hà Nội
- Nguyễn Chí Trung, (2005), Cư dân Faifo- Hội An, Trung tâm
QLBTDT Hội An
- Trần Văn An, (2005), Di sản văn hóa, văn nghệ dân gian Hội An,
Trung tâm QLBTDT Hội An
- Trung tâm QLBTDT Hội An, (2008), Một số lễ hội, lễ lệ ở Hội An
- Trung tâm QLBTDT Hội An, (2008), Nghề truyền thống Hội An
- Phòng VH&TT, (2007), Chuyên đề Lễ hội ở Hội An, tập san Văn hóa
Hội An, số Xuân Đinh Hợi
Phần lớn các công trình nêu trên đã nghiên cứu khá chuyên sâu, mang lại những thông tin khoa học, đánh giá, phân tích một số lễ hội cổ truyền tiêu biểu và đề xuất các quan điểm bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội Đây
là những tư liệu, những cơ sở khoa học quý báu để tham khảo, kế thừa thực hiện đề tài này Tuy nhiên, dưới góc nhìn quản lý nhà nước thì đang còn nhiều vấn đề liên quan đến nội dung, hình thức, vai trò, chủ thể và đặc thù về lễ hội
ở các địa phương cụ thể (trong đó có Thành phố Hội An) chưa được triển khai
nghiên cứu toàn diện Để bổ sung và khắc phục các thiếu sót đó trong hoạt động nghiên cứu cũng chính là lý do thôi thúc học viên lựa chọn thực hiện đề tài luận văn của mình
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày làm rõ một số cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về lễ hội
- Phân tích làm rõ thực trạng công tác quản lý Nhà nước về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đó là quản lý nhà nước về lễ hội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Quản lý nhà nước về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
-Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Phương pháp luận nghiên cứu được đề tài luận văn tiếp cận đó là chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý nhà nước đối với lễ hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, đó là:
Trang 9- Phương pháp thu thập thông tin, phân tích tài liệu thứ cấp, khảo sát thực địa, thống kê so sánh, hệ thống hóa các lễ hội đang được tổ chức, các lễ hội đang bị thất truyền, mai một trên địa bàn Hội An, sử dụng phương pháp phân tích logic tổng hợp
- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong quá trình quản lý nhà nước về lễ hội
- Phương pháp tiếp cận hệ thống cấu trúc, tiếp cận phương pháp liên ngành khoa học xã hội nhân văn để nghiên cứu nhằm vận dụng những tri thức liên ngành khoa học quản lý, luật học, văn hóa học, du lịch học, nhân học để phát hiện các vấn đề cơ bản có tính nguyên nhân của thực trạng; cũng như cung cấp luận cứ khoa học nhằm đề xuất giải pháp khả thi trong quản lý nhà nước về lễ hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
ở các cấp chính quyền địa phương về lễ hội Ngoài ra, kết quả công trình này còn góp phần tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho các tầng lớp nhân dân trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội; góp phần đẩy
Trang 10mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động lễ hội, nâng cao tính gắn kết cộng đồng; đồng thời tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch lễ hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
7 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận cũng như danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu bởi 3 chương, cụ thể là:
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về lễ hội Chương 2 Thực trạng của quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam từ năm 2008 đến nay
Chương 3 Các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về lễ hội từ thực tiễn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI 1.1 Khái niệm, vai trò và nội dung của quản lý nhà nước về lễ hội
1.1.1 Khái niệm lễ hội
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng, được cấu thành bởi hai phần lễ và hội “Lễ” là phần nghi thức, liên quan đến tín ngưỡng dân gian và tôn giáo chính thống, được tiến hành trong không gian thiêng và thường là với số người hạn chế (trước bàn thờ, khu vực sân đình, khu vực dâng cúng ) Lễ thiêng về mối quan hệ giữa người với giới siêu thực, giới
tự nhiên, là động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, tưởng nhớ một sự kiện tôn giáo, với các hoạt động, ẩm thực và nghi lễ đặc sắc riêng, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là phần phát triển, nối tiếp với
lễ liên quan đến sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống Hội thiêng về mối quan hệ giữa người với người hơn, không gian mở rộng “trần tục” hơn (sân đình, bãi ruộng, đường làng ) Phần vui chơi hay trò diễn được thể hiện bằng nghệ thuật biểu diễn (ca múa,
âm nhạc, động tác, ngôn từ biểu cảm ), bằng nghệ thuật tạo hình (màu sắc, hình khối, đường nét, trang phục, đạo cụ của các nhân vật hội ) Tất cả trò diễn, trò chơi, đám rước được hiểu là nằm trong hệ thống hội
Tuy mỗi phần lễ và hội có nội dung và ý nghĩa khác nhau nhưng đều có đặc trưng chung là sinh hoạt tập thể của cộng đồng người, lễ và hội là thực thể thống nhất không thể chia tách; “lễ và hội hòa quyện xoắn xít với nhau để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của một cộng đồng Trong lễ cũng có hội và trong hội đã có lễ” (Trần Bình Minh, Những tương đồng giữa các lễ
Trang 12hội cổ truyền ở Đông Nam Á, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2000, Tr 120)
Các loại hình lễ hội ở Việt Nam được hướng dẫn tại Điều 3 Thông tư 15/2015/TT-BVHTTDL quy định về tổ chức lễ hội do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành
Theo đó, các loại hình lễ hội bao gồm:
1 Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công
với nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống
và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp
về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội Quy định về tổ chức lễ hội
do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch ban hành
2 Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh
những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng
3 Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá
về văn hóa thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác
4 Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do
tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam
Như vậy, lễ hội là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định, gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng Bên cạnh việc bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội đã và đang tạo nên những thói quen mới, lối sống mới, cách hành xử mới trước các sự kiện, dấu ấn lịch sử đương đại Các loại hình lễ hội có yêu cầu về không gian, thời gian, lễ thức riêng Lễ hội là di
Trang 13sản văn hóa quý của quốc gia, dân tộc
1.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội
Theo nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước, cơ quan trong hệ thống chính quyền có trách nhiệm quản lý tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong
đó có cả hoạt động lễ hội
Vì vậy, quản lý nhà nước về lễ hội là quá trình xây dựng đường lối, chính sách, định hướng, huy động, tổ chức, điều hành các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra và các công việc liên quan đến lễ hội, đảm bảo hài hòa giữa các giá trị truyền thống với sự sáng tạo những giá trị mới và đáp ứng các mục tiêu về phát triển kinh tế, xã hội
Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp gồm: Chính phủ, UBND các cấp ngoài ra
có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và môi trường, Ban Tôn giáo Chính phủ Theo Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 hiện nay quy định thì chủ thể tham gia quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo hiện nay bao gồm:
Cấp hành chính Cơ quan/ chủ thể
trực tiếp quản lý
Cơ quan/ chủ thể trực tiếp thực hiện
Trung ương Chính phủ Bộ Nội vụ (Ban Tôn giáo
Chính phủ) Cấp Tỉnh UBND Tỉnh (Phó Chủ tịch
phụ trách văn - xã)
Sơ Nội vụ (Ban Tôn giáo)
Cấp Huyện UBND Huyện
(Chủ tịch UBND Huyện)
Phòng Nội vụ (Phó Trưởng phòng phụ trách) hoặc phòng ban lễ hội, tôn giáo Cấp Xã UBND Xã
(Chủ tịch UBND Xã)
Công chức văn hóa – Xã
hội
Trang 14Đối tượng của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội bao gồm:
Các hoạt động lễ hội, mọi công dân tham gia hoạt động lễ hội và những phương tiện, cơ sở vật chất, tinh thần phục vụ cho hoạt động lễ hội truyền thống
1.1.2 Một số đặc điểm của lễ hội
* Tính thiêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang tính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đó bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân
Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ
có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống
Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến
* Tính "cộng đồng"
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn
Trang 15Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước.
* Tính địa phương
Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân,
nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng
* Tính cung đình
Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát nguyện vọng của người dân
* Tính đương đại
Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới
Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý
Trang 161.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về lễ hội
Vai trò của quản lý nhà nước đối với lễ hội là định hướng, điều chỉnh lễ
hội theo mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” Với tính chất đặc thù, lễ hội mang trong mình rất nhiều giá trị
văn hóa vật thể, phi vật thể Nó đóng vai trò hết sức cần thiết vì nó dẫn dắt và định hướng hoạt động lễ hội theo hướng tích cực, phát huy đồng thời khắc phục, sửa chữa những hạn chế phát sinh cũng như những hệ lụy mà hoạt động
lễ hội gây ra Chính vì vậy, công tác quản lý nhà nước về lễ hội đóng vai trò rất quan trọng, thể hiện ở những điểm sau:
Quản lý nhà nước đối với lễ hội nhằm tạo điều kiện cũng như tạo một môi trường thuận lợi cho các lễ hội được diễn ra theo đúng mục đích và đúng bản chất Bên cạnh đó, còn giúp cho lễ hội phát triển thông qua các chính sách bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, quyền về văn hóa – xã hội của con người Đồng thời xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến văn hóa, mà hoạt động lễ hội là một lĩnh vực trong đó
Quản lý nhà nước đối với lễ vội vừa có vai trò phát huy, bảo tồn, gìn giữ các tinh hoa văn hóa của lễ hội và vừa có vai trò bảo vệ hoạt động lễ hội, giúp lễ hội được diễn ra đúng với tinh thần vốn có của lễ hội đem đến giá trị tinh thần hết sức to lớn cho quần chúng nhân dân
1.2 Nội dung của quản lý nhà nước về lễ hội
1.2.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
Để bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa lễ hội, việc xây dựng quy hoạch, chiến lược, kế hoạch tổ chức lễ hội cụ thể là việc làm cần thiết và cấp bách Công tác nghiên cứu phải có sự hiểu biết đầy đủ về các giá trị văn hóa của lễ hội, tính đặc trưng của mỗi lễ hội, từ đó tìm ra những phương thức, biện pháp quản lý hiệu quả nhất, vừa bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, vừa loại bỏ các yếu tố lạc hậu, chắc lọc những tinh hoa văn hóa
Trang 17cảu dân tộc Việc ban hành xây dựng thể chế, chính sách phải được ban hành
cụ thể, rõ ràng, có sự thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương
Ở cấp trung ương: ban hành, hướng dẫn chỉ đạo thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội, lễ hội truyền thống Các văn bản quy phạm pháp luật đó phải giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và điều hành theo hướng dân chủ hóa công tác quản lý, phải là các quyết định hành chính mang tính khả thi, tránh chồng chéo, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ mỗi bên, không để tình trạng nhiều đơn vị cùng có chức năng quản lý nhưng khi quy kết trách nhiệm không đơn vị nào đứng ra nhận hoặc văn bản thiếu cơ
sở thực thi, triển khai không kịp thời
Cấp địa phương: là cấp tổ chức thực hiện, thường xuyên tham mưu với cấp trên các vấn đề về quản lý nhà nước đối với lễ hội Việc tổ chức thực hiện
là một trong những mấu chốt quan trọng, quyết định tính hiệu lực, hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời, khi các văn bản được áp dụng trong cuộc sống sẽ bộc lộ rõ các ưu, khuyết điểm, do đó cấp chính quyền địa phương cần có trách nhiệm tham mưu với cấp trên để sửa đổi, hoàn
thiện và chỉ đạo thực hiện hiệu quả
Ngày 12/7/2001, Chủ tịch nước ban hành Lệnh số 09/2001/L-CTN về việc công bố Luật Di sản văn hóa, là cơ sở căn bản về luật pháp nhằm duy trì, đảm bảo sự quản lú nhà nước đối với hoạt động lễ hội Đồng thời, nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành luật cũng được ban hành đảm bảo cho việc thực thi đúng luật và phù hợp với thực tiễn ở mỗi địa phương Theo đó, Bộ Văn hóa-Thông tin đã công bố Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT, ngày 23/8/2001 của Bộ trưởng về ban hành Quy chế tổ chức lễ hội, thay thế Quy chế lễ hội ban hành kèm theo Quyết định 636/QĐ-QC ngày 21/5/1994 của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa-Thông tin nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy phạm về quản lý nhà nước đối với các hoạt động tổ chức lễ hội dận tộc Ngày 16/12/2009 Bộ Văn
Trang 18hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư Số: 04/2009/TT-BVHTTDL quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ Đến ngày 29/8/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về tổ chức và quản lý lễ hội, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2018;đây là lần đầu tiên có một văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức Nghị định của Chính phủ về công tác quản lý và tổ chức lễ hội, là hành lang pháp lý quan trọng để các cấp, ngành và địa phương làm căn cứ tổ chức thực hiện Tiếp đến
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Nghị định Số: Số: BVHTTDL ngày 21 tháng 02 năm 2019 ban hành Quy chế hoạt động văn hoá
604/VBHN-và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng Như vậy, Ngành Văn hóa-Thông tin đã có nhiều sự điều chỉnh, bổ sung văn bản cho phù hợp với xu thế phát triển, xác định vai trò của mình là quản lý công tác tổ chức lễ hội bằng những nguyên tắc, quy định chung Bên cạnh đó, chủ trương chung là giảm bớt gánh nặng hành chính trong việc tổ chức lễ hội Những lễ hội được tổ chức thường xuyên, định kỳ không cần phải xin phép Điều này đã tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tiến hành tổ chức lễ hội một cách thuận lợi hơn
1.2.2 Tổ chức hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội
Để làm tốt công tác quản lý, tổ chức lễ hội, cần phải nâng cao hơn nữa vai trò trách nhiệm của các cơ quan quản lý, không đùn đẩy, né tránh; phân công trách nhiệm rõ ràng; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh sai phạm trong xử lý những hiện tượng tiêu cực Vì vậy, cần tập trung những nội dung sau:
Thứ nhất, xây dựng bộ máy quản lý và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức, viên chức quản lý hoạt động lễ hội
Ngày nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của nguồn lực con người trong mọi hoạt động của đời sống Trong quản lý tổ
Trang 19chức các hoạt động của lễ hội nói chung, có thể nói các nhà tổ chức hoạt động
lễ là yếu tố quan trọng tạo nên thành công của lễ hội Họ là người chịu trách nhiệm chính trong việc huy động, kết nối, tổ chức và điều hành các nguồn để tạo ra một sản phẩm lễ hội Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ QLNN về hoạt động lễ hội là việc cần được tiến hành khẩn trương, liên tục và phải đảm bảo tính hiệu quả thiết thực Công tác tuyển dụng
và sử dụng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội, đồng thời phải xây dựng kế hoạch lâu dài trong chiến lược QLNN đối với hoạt động lễ hội
Thứ hai, công tác quản lý và tổ chức lễ hội
Hiện nay, có ba loại lễ hội: Lễ hội truyền thống, Lễ hội tôn giáo, Lễ hội
du nhập từ nước ngoài đều do cộng đồng dân cư lo toan tổ chức, chủ yếu là ở quy mô làng, xã và một số rất ít có quy mô vùng miền Cơ chế cộng đồng người dân đứng ra tổ chức tất phải tuân thủ theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Dân chúng hơn ai hết phải hiểu biết cách tổ chức lễ hội như thế nào tùy thuộc vào khả năng tài chính, ý thức tự giác của người dân để đáp ứng nhu cầu văn hóa lễ hội của họ Với cơ chế tự quản, mọi người biết cách điều chỉnh hài hòa các lợi ích cá nhân, cộng đồng xuất phát từ nhu cầu của các tầng lớp trong xã hội Chính quyền sở tại chính là chủ thể quản lý, hướng dẫn tổ chức lễ hội sao cho phù hợp với bản sắc văn hóa, vùng miền, thuần phong mỹ tục, đồng thời cũng là chủ thể giám sát và tham gia trực tiếp vào tổ chức nhiều lễ hội Nếu chính quyền làm đúng chức trách, nhiệm vụ của mình, chắc chắn sẽ tạo điều kiện cho hoạt động lễ hội được tổ chức tốt hơn, đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân theo quy định của luật pháp Do vậy, các lễ hội truyền thống ở cùng quy mô cũng nên dựa theo những kinh nghiệm này
Trang 201.2.3 Thanh tra, kiểm tra hoạt động QLNN về lễ hội
Nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra là một nội dung hết sức quan trọng của quản lý nhà nước về lễ hội Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, các nhà quản lý mới có thể phát hiện, kịp thời chấn chỉnh, xử lý các tình huống, các trường hợp vi phạm Phát huy những nhân tố tích cực, biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân có những đóng góp hiệu quả vào hoạt động lễ hội; khuyến khích và nhân rộng những mô hình mới, cách thức mới tiến bộ mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc Các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội thực hiện chức năng giám sát, quản lý, giáo dục cán
bộ, đảng viên và các hội viên trong việc thực hiện Chỉ thị số 27 –CT/TW của
Bộ Chính trị khóa VIII về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và Kết luận 51 –KL/TW của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 27 –CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Hiện nay, các văn bản pháp quy ngày càng hoàn thiện, quy định cụ thể hơn đối với việc
nghiêm cấm một số hành vi tại nơi tổ chức lễ hội (Chính phủ ban hành Nghị
định số 110/2018/NĐ-CP quy định về tổ chức và quản lý lễ hội, có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 10 năm 2018) Kiên quyết xử lý vi phạm nhằm đảm bảo tính
hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật trong hoạt động lễ hội, đáp ứng yêu cầu về quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không bị xâm hại
1.2.4 Tổng kết, đánh giá
Để tổ chức các hoạt động lễ hội, ngành văn hóa cơ sở và các tổ chức xã hội báo cáo kế hoạch tổ chức, nội dung, biện pháp chỉ đạo lễ hội đến cơ quan văn hóa cấp trên trực tiếp, nếu được chấp nhận mới được tổ chức lễ hội Sau
lê hội, Ban tổ chức tổng kết đánh giá kết quả thực hiện và rút ra bài học kinh nghiệm cho lần tổ chức tiếp theo, báo cáo bằng văn bản lên cơ quan văn hóa cấp trên
Trang 21Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL, ngày 03/02/2010 của Bộ Văn hóa-Thể
thao và Du lịch về việc “Tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn
hóa, tín ngưỡng tại di tích” giao cho Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm túc chế dộ báo cáo với lãnh đạo Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch kết quả thực hiện Chỉ thị này ở địa phương theo quy định:
a) Hoàn thành và gửi Báo cáo định kỳ về tình hình tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại các di tích ở địa phương trong dịp lễ hội đầu năm (lễ hội Xuân) trước ngày 30/4 hằng năm;
b) Hoàn thành và gửi Báo cáo định kỳ tổng kết tình hình tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại các di tích ở địa phương hằng năm trước ngày 30 tháng 10;
c) Thực hiện Báo cáo đột xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thược Trung ương và với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch những trường hợp phức tạp liên quan đến việc tổ chức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tại di tích để được chỉ đạo và phối hợp giải quyết kịp thời
Thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, đối thoại giữa các nhà quản lý với các nhà nghiên cứu và người dân tham gia trực tiếp hoạt động lễ hội, để thống nhất đánh giá tình hình hoạt động lễ hội, từ đó có biện pháp xử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về lễ hội
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành các văn bản chỉ đạo về quản lý và tổ chức lễ hội, được các địa phương kịp thời triển khai thực hiện, đáp ứng yêu cầu về tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn cả nước.Năm 2018, Bộ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-
CP ngày 29-8-2018 quy định về quản lý và tổ chức lễ hội Đây là lần đầu tiên
có một văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức Nghị định của Chính phủ
Trang 22về công tác quản lý và tổ chức lễ hội; là hành lang pháp lý quan trọng để các cấp, ngành và địa phương làm căn cứ tổ chức thực hiện.
Với những quy định cụ thể, phù hợp với thực tiễn về trách nhiệm của cơ quan, đơn vị tổ chức lễ hội; trách nhiệm của ban tổ chức lễ hội; quyền và trách nhiệm của người tham gia lễ hội, Nghị định là căn cứ để Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý
Có thể khẳng định, với sự vào cuộc tích cực, đồng bộ của chính quyền các cấp, sự tuân thủ nghiêm túc các quy định tại Nghị định, ý thức trách nhiệm của ban tổ chức và người tham gia lễ hội trong thời gian gần đây đã được nâng lên rất nhiều Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đã đi vào nền nếp, hiệu quả, đảm bảo đúng mục đích, nội dung, giá trị văn hoá, lịch sử của lễ hội; góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tính nhân văn đối với xã hội và mỗi người dân; tăng tính hiệu quả trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc
Nhìn chung, các hoạt động lễ hội trên địa bàn cả nước trong những năm gần đây được tổ chức an toàn, đáp ứng nhu cầu tinh thần trong đời sống của nhân dân Ý thức tham gia lễ hội của cộng đồng thực sự có những chuyển biến tích cực
1.4 Các điều kiện đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về
lễ hội
Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số BVHTTDL ngày 8-3-2019 phê duyệt Kế hoạch tuyên truyền, khuyến nghị người dân không đốt đồ mã, vàng mã tại di tích, cơ sở thờ tự và lễ hội; Quyết định số 1983/QĐ-BVHTTDL ngày 4-6-2019 phê duyệt Đề án Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội giai đoạn 2020-2021; Quyết định số 3020/QĐ-BVHTTDL ngày 30-8-2019 ban hành Kế hoạch triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phòng ngừa mê tín dị đoan, loại bỏ hủ tục lạc hậu, văn
Trang 23848/QĐ-hóa phẩm đồi trụy trái với thuần phong mỹ tục giai đoạn 2020-2022 Đồng thời, Bộ cũng giao trách nhiệm cho Cục Văn hóa cơ sở, Cục Di sản văn hóa, Thanh tra Bộ, hằng năm, thành lập các đoàn kiểm tra đến các địa phương để đánh giá thực trạng, những bất cập, vướng mắc, từ đó tham mưu đề xuất nội dung, giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, tổ chức lễ hội.
Các địa phương cũng cần phải nâng cao hơn nữa vai trò trách nhiệm của các cơ quan quản lý, không đùn đẩy, né tránh; tăng cường phối hợp liên ngành; có phân công trách nhiệm rõ ràng cho các đơn vị tham gia Tăng cường công tác kiểm tra giám sát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh sai phạm trong xử lý những hiện tượng tiêu cực, bói toán, đốt vàng mã tràn lan, biến tướng lễ hội…
Bên cạnh việc tạo ra những hành lang pháp lý cho các hoạt động lễ hội phát triển, cũng cần phải quan tâm hơn nữa đến những chính sách bảo tồn các
lễ hội truyền thống, khuyến khích người dân tham gia lễ hội với cách hành xử văn minh, lịch sự, góp phần xây dựng nhân cách hướng thiện của con người Đồng thời, công tác tuyên truyền về lễ hội cần phải được thông tin đầy đủ, đúng mực, khách quan - coi đây là một trong những giải pháp thiết thực, góp phần giúp người dân hiểu đúng bản chất, giá trị, ý nghĩa nhân văn của các lễ hội truyền thống
Trang 24nước về lễ hội và các điều kiện đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
về lễ hội
Lễ hội, lễ hội truyền thống với tư cách là di sản văn hóa, là kho tàng văn hóa dân tộc đã có giá trị to lớn trong lịch sử và đời sống xã hội đương đại Mặc dù trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa là xu thế tất yếu nhưng lễ hội với giá trị văn hóa, nhân văn sâu sắc vẫn là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân Bằng việc xác định, mô tả, phân tích, luận chứng, luận văn dã khẳng định rằng quản lý nhà nước về lễ hội là một trong những hoạt động quan trọng trong quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa, đóng vai trò to lớn trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
và phát triển bền vững
Việc tổ chức, quản lý lễ hội không đơn thuần chỉ xoay quanh việc phục hồi, bảo tồn hay phát huy bản thân lễ hội mà còn liên quan tới công việc như lập kế hoạch, chính sách, đào tạo nguồn nhân lực, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội Vì vậy các yếu tố cấu thành nôi dung quản lý nhà nước về lễ hội được chỉ ra trong Chương 1 là cơ sở nhận thức chủ yếu để luận văn triển khai thực hiện các nghiên cứu tại Chương 2
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Những yếu tố đặc thù của Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
tác động ảnh hưởng đến quá trình quản lý nhà nước về lễ hội
2.1.1 Yếu tố tự nhiên
Thành phố Hội An có một điều kiện địa lý- tự nhiên đặc thù: thuộc vùng cồn - bàu, cửa sông - ven biển, tiếp giáp với vùng đồng bằng duyên hải của tỉnh Quảng Nam Nằm cách thành phố Đà Nẵng chừng 30km về hướng Đông Nam, cuối hạ lưu các con sông lớn của Xứ Quảng như Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang và thông với Biển Đông qua Cửa Đại hay Đại Chiêm hải khẩu nổi tiếng một thời Thành phố Hội An hiện có diện tích 60km2, gồm 9 phường, 4 xã, là vùng đất hẹp chạy dọc bờ biển và bị chia cắt bởi nhiều sông rạch, đầm nước, cửa biển Vùng đất này thuận tiện cho việc giao thông, giao thương đường thủy với các địa phương khác trong tỉnh, các tỉnh trong nước
và với nước ngoài Điều kiện địa lý tự nhiên đó đồng thời cũng thuận tiện cho việc trồng lúa nước, rau màu ở dải đất phù sa ven sông, đánh bắt thuỷ, hải sản Hội An có khu phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới năm 1998, hiếm có nơi nào tập trung mật độ di tích dày đặc như ở Hội
An với hơn 1.350 di tích Riêng ở khu vực I của Khu phố cổ được xem là
“vùng lõi” chỉ rộng 4km2 nhưng có đến 1.273 di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc các công trình dân dụng (nhà ở, cầu, giếng, chợ), công trình tín ngưỡng (đình, chùa, lăng- miếu, hội quán, nhà thờ tộc) và công trình đặc thù (mộ) Mỗi loại hình kiến trúc đều có những đặc điểm, sắc thái riêng nhưng đó là sự kết hợp hài hòa giữa không gian, bố cục và sự đan quyện tài tình giữa các phong cách kiến trúc Việt– Hoa– Nhật– Phương Tây và đều góp phần tăng
Trang 26thêm tính phong phú, đa dạng văn hóa của đô thị cổ Hội An
2.1.2 Yếu tố lịch sử văn hóa
Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên trên vùng đất Hội An ngày nay đã xuất hiện những lớp cư dân đầu tiên thời tiền- sơ sử mà những di tích văn hóa
Sa Huỳnh là những chứng cứ sinh động Dưới thời vương quốc Champa (thế
kỷ thứ II đến thế kỷ XIV) vùng đất Hội An lúc bấy giờ có tên gọi là Lâm Ấp
phố Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời kỳ khá dài, “Chiêm cảng” Lâm Ấp phố đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và trung tâm tôn giáo- tín ngưỡng Mỹ Sơn
Từ giữa thế kỷ XVI, dưới thời các chúa Nguyễn vào trấn thủ trị vì xứ
Đàng Trong, từ một “Chiêm cảng” bị suy tàn, Hội An mau chóng phục hưng
và trở thành trung tâm thương mại quốc tế phát triển thịnh đạt bậc nhất của cả nước và khu vực Đông Nam Á Do có vị trí địa lý thuận lợi, tiềm năng của một xứ Quảng giàu tài nguyên, dồi dào đặc sản, nguồn nhân lực tràn đầy sinh khí, chính sách ngoại kiều và ngoại thương khôn khéo, thoáng mở… nên cảng thị Hội An đã tạo nên một hấp lực lớn, thu hút nhiều thuyền buôn của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm…tập nấp đến giao thương
Từ cuối thế kỷ XIX, do nhiều yếu tố bất lợi, “cảng thị thuyền buồm” Hội An suy thoái dần, nhường vị thế trung tâm thương mại quốc tế cho “cảng thị cơ khí” Đà Nẵng Tuy nhiên, Hội An vẫn là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa của Quảng Nam Trong các thời kỳ kháng chiến, thực dân Pháp rồi đến đế quốc Mỹ đều chọn Hội An làm tỉnh lỵ, đặt nhiều cơ quan đầu não chính trị, quân sự của Quảng Nam Bên cạnh phố cổ với các dãy phố dọc
bờ sông như Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Minh Khai, Bạch Đằng và những đường phố phía Đông, phía Bắc như Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu được xem
Trang 27như “vùng lõi” trung tâm
Hội An không phải là đô thị cổ xưa nhất, tuổi thọ không phải dài lâu nhất, qui mô không phải to lớn nhất ở Việt Nam, nhưng với loại hình cảng thị cửa sông- ven biển nên có vai trò, vị trí quan trọng và hình thành nên những giá trị lịch sử- văn hóa độc đáo riêng không nơi nào có được
Về bình diện khái quát, lễ hội cổ truyền ở Hội An là tấm gương phản chiếu từng thời đại, thời kỳ lịch sử của Hội An Mối quan hệ và tâm lý, tư tưởng, văn hóa nghệ thuật giữa các làng và cả Hội An được tạo nên từ sự sống, sự sinh thành phát triển của lễ hội cổ truyền và sự vận động theo hai chiều ngược nhau của chính nó
Lễ hội cổ truyền Hội An là một hiện tượng xã hội trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, lưu chuyển theo thời gian, tiếp nhận tâm lý tư tưởng văn hóa nghệ thuật của thời đại và lưu giữ chúng lại, tạo nên các lớp lịch sử ngay trong từng
lễ hội cổ truyền Mặt khác, lễ hội cổ truyền còn chứa đựng những dấu ấn sâu sắc về một hoặc nhiều câu chuyện liên quan đến cá nhân hay tập thể có tác động đến lịch sử vùng đất, làng-xã và cộng đồng dân cư Chính vì vậy, với đặc trưng của mình lễ hội cổ truyền ở Hội An đã tạo nên sức cuốn hút và thuyết phục mạnh mẽ Trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hội
An, lễ hội từ lâu đã trở thành sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng Trải qua nhiều thời kỳ phát triển, sinh hoạt lễ hội đã trở thành truyền thống, một món ăn tinh thần của cư dân Hội An Truyền thống tốt đẹp này không hề gián đoạn trong tâm thức cộng đồng qua nhiều giai đoạn lịch sử
Các hoạt động lễ hội luôn đề cao giáo dục nhân quả, truyền tải ý thức trách nhiệm sống cho thế hệ hiện tại và tương lai Cốt lõi của lễ hội là con người hiện tại hướng về quá khứ, liên hệ với quá khứ để thỏa mãn mong ước tương lai Việc đề cao cái lễ đối với thần linh lại là việc truyền bá cái lễ giữa con người với nhau, đậm đà tinh thần dân chủ và nhân bản Yêu thương và
Trang 28kính trọng, tôn sùng và biết ơn như trở thành truyền thống xuyên suốt trong máu thịt, trong cuộc sống của con người Hội An, xây dựng tình đoàn kết gắn
bó trong cộng đồng dân cư trong mối quan hệ giao cảm tự nhiên, tự giác, tự hòa nhập Nó phản ánh tâm tư nguyện vọng của các cộng đồng dân cư từng làng-xã và khu vực, giúp con người giải thoát những âu lo trong đời sống, trong lao động sản xuất Vì vậy, văn hóa lễ hội ở Hội An chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, đồng thời toát lên những ước ao khát vọng của con người về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc Xét về đại thể tiến trình các lễ hội, nét nổi bật bao trùm là đề cao con người, chuyển tải triết lý sống bộc lộ quan niệm đạo đức học phương Đông mang đặc thù Hội An
Một điều đáng lưu ý ở Hội An, việc thờ cúng các anh hùng, danh nhân không có nhiều, nếu không muốn nói là quá hiếm - chỉ có một anh hùng chí sĩ thời cận đại là Nguyễn Duy Hiệu và các chí sĩ danh nhân Quảng Nam được tôn vinh dưới hình thức tượng đài ( Tượng đài Danh nhân chí sĩ Quảng Nam
ở phường Cẩm Phô) Điều này có nguyên nhân do điều kiện lịch sử đặc thù của vùng đất mới, đây cũng là địa bàn của những cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài nhiều thế kỷ
Truyền thống giao lưu văn hóa qua nhiều thời kỳ đã tạo nên tính nhân văn, nét thoáng mở, tương thích trong các tập tục, lễ nghi, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Hội An Có thể nói, ở Hội An mỗi một di tích văn hóa- tín ngưỡng đều gắn với phần hồn của di tích ấy là sinh hoạt lễ hội, lễ hội ở Hội An là tấm gương phản chiếu từng thời đại, thời kỳ lịch sử của Hội An
2.1.3 Yếu tố kinh tế - xã hội
Lịch sử hình thành vùng đất Hội An gắn với lịch sử Nam tiến của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII Quá trình giao lưu kinh tế- văn hóa đặc biệt trong mấy trăm năm dưới thời “Việt cảng” (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX), đã tạo cho Đô thị cổ Hội An có được hầu hết các loại hình văn
Trang 29hóa khác nhau, “hội tụ được các yếu tố nghệ thuật dân tộc truyền thống và làm phong phú thêm bằng những tố chất thích hợp của nghệ thuật nước ngoài”
Đặc biệt, giai đoạn “Hội An phố”, vùng đất này tiếp tục đóng vai trò là một cảng thị mà trước đó, cư dân Sa Huỳnh (Champa) đã sống Quá trình hình thành khối cộng đồng cư dân là quá trình tụ cư, hợp cư của các cư dân Đại Việt, Champa, Trung Hoa và Nhật Bản, phương Tây…Cùng với quá trình này là sự hình thành các làng, xã nông nghiệp, ngư nghiệp, các làng nghề tiểu thủ công, các khu phố buôn bán, cùng với sự tiếp nối liên tục giữa các lớp cư dân, là sự chung cư, cộng cư giữa nhiều thành phần cư dân vào những giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là vào thế kỷ XVI-XVII Đây cũng là điều kiện xã hội - nhân văn tạo nên sắc thái văn hóa đa dạng, phong phú của vùng đất Hội An được bảo lưu đến ngày hôm nay
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn Thành phố
Hội An, tỉnh Quảng Nam từ năm 2008 đến nay
Những năm gần đây, việc tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân trên địa bàn thành phố đã được chính quyền các cấp quan tâm, tạo điều kiện về công tác tổ chức cũng như kiện toàn ban tổ chức lễ hội Theo đó, các hoạt động của lễ hội phải được sự cho phép bằng văn bản của UBND Tỉnh, Thành phố trước khi tiến hành tổ chức Ban tổ chức lễ hội tổ chức họp để thống nhất nội dung, chương trình, phân công phối hợp với các đơn vị liên quan để đảm bảo an ninh, trật tự khi diễn ra lễ hội Mặt trận và các tổ chức Đoàn thể phối hợp tuyên truyền vận động người dân cùng chấp hành các quy định trong lễ hội, đảm bảo lễ hội được diễn ra tốt đẹp và thành công Việc tổ chức lễ hội trên địa bàn thành phố Hội An đa phần được lấy từ nguồn ngân sách địa phương do UBND Thành phố cấp
Trang 302.2.1 Công tác xây dựng, ban hành các văn bản chính sách pháp luật về quản lý lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội là công cụ quản
lý của nhà nước, là phương tiện để các tổ chức, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng nói chung và lễ hội nói riêng
Ngày 12/7/2001, Chủ tịch nước đã ban hành Lệnh số 09/2001/L-CTN
về việc công bố Luật Di sản văn hóa (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sử đổi,
bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18/6/2009) là cơ sở pháp
lý quan trọng nhất về quản lý nhà nước về di sản văn hóa, trong đó có lễ hội truyền thống Theo đó, nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành luật đã được ban hành đảm bảo cho sự thực thi pháp luật và phù hợp với thực tiễn mỗi địa phương, đơn vị: Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009
của Chính phủ về “Quy chế hoạt động dịch vụ văn hóa công cộng”; Thông tư
số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24/8/2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch “Quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Nghị định số
75/2009/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa”; Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/2011 của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch “Quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong
việc cưới, việc tang và lễ hội”; Chỉ thị số 265/CT-BVHTTDL ngày
18/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch “Về tăng cường công tác
quản lý, tổ chức và thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội”;
Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/7/2013 của Chính phủ “Quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo”; Thông tư liên lịch số 19/2013/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày
30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi
trường “Về Hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ
hội và phát huy giá trị di tích”;
Trang 31Ngày 05/02/2015, Ban Bí thư có Chỉ thị số 41 –CT/TW “Về việc tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội”
Trên cơ sở đó, ngày 22/12/2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL Quy định về tổ chức lễ hội thay thế Quyết định số 39/2001/QĐ-BVHTT ngày 23/8/2011 của Bộ Văn hóa Thông tin về việc ban hành Quy chế tổ chức lễ hội nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội
Ngày 25/11/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
308/2005/QĐ-TTg ban hành “Quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong
việc cưới, việc tang và lẽ hội” và Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 20/02/2017 của
Thủ tướng Chính phủ “Về việc tăng cường công tác quản lý, tổ chức lễ hội, lễ
kỷ niệm” Ngày 13/01/2016 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã
ban hành Chỉ thị số 04/CT-BVHTTDL “Về tăng cường công tác quản lý, tổ
chức lễ hội và thực hiện nếp sống văn minh trong hoạt động lễ hội năm 2016” Ngày 29/8/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-CP
quy định về “Tổ chức và quản lý lễ hội”
Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay, Tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều văn bản về phát triển
và tăng cường công tác quản lý về lễ hội Căn cứ Luật Di sản văn hóa, Tỉnh Quảng Nam đã ban hành một số văn bản về quản lý lễ hội như: Chỉ thị
số: 21/CT-UBND ngày 29/9/2015 của UBND Tỉnh Quảng Nam “Về tăng
cường thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh đô thị trên địa bàn Tỉnh Quảng Nam”; Quyết định số 17/2019/QĐ-UBND ngày 04/10/2019 của UBND Tỉnh
về “Quy định quản lý khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam”;Quyết định số: 08/2019/QĐ-UBND ngày 02/5/2019 của UBND Tỉnh
về ban hành “Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử -
văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, thay thế
Trang 32Quyết định số 28/2010/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam
2.2.2 Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân sự quản lý nhà nước
về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy và đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An trong những năm qua thường xuyên được quan tâm Cơ quan quản lý chuyên ngành
về văn hóa trong đó có lễ hội vừa thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định cấp trên, vừa chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân cùng cấp Ngoài các đơn vị quản lý nước về văn hóa, Ủy ban nhân dân các cấp thì hệ thống chính trị, xã hội cũng tham gai vào quá trình quản lý lễ hội tại địa phường như: Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam, Bộ phận quản lý nhà nước về Tôn giáo thuộc Phòng Nội vụ Thành phố Để đảm nảo chất lượng cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, hằng năm Thành phố tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dưới các hình thức: Tập huấn nghiệp
vụ, kỹ năng, triển khai các văn bản pháp luật của Nhà nước về lễ hội Mời chuyên gia có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, phục dựng lễ hội ở Trung ương, Tỉnh về tập huấn, tổ chức cho đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về lễ hội được thực hành và thảo luận Tổ chức hội thảo về quản lý và
tổ chức lễ hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa
Di sản trên địa bàn Thành phố Thông qua những buổi hội thảo, kết hợp phát hành rộng rãi tài liệu về công tác QLNN đối với hoạt động lễ hội để cho các cán bộ làm công tác văn hóa được tiếp thu những cái mới, những cái hay, những kinh nghiệm quý báu, qua đó vận dụng cho bản thân về công tác QLNN về hoạt động lễ hội tại địa phương mình Ngoài ra, thông qua các đợt
đi tham quan, thực tế ở những lễ hội lớn tại các địa phương khác trên cả nước
để cán bộ làm công tác QLNN về lễ hội được trực tiếp học hỏi, rút kinh
Trang 33nghiệm, cũng như đúc kết những ý tưởng độc đáo cho công tác tổ chức và quản lý lễ hội
Trong những năm qua, cán bộ làm công tác văn hóa trên địa bàn Thành phố Hội An phần lớn được đào tạo bài bản và đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn đại học chiếm tỷ lệ cao, được bố trí công việc đúng ngành nghề, chuyên môn, tuổi đời khá trẻ, có 2/3 tổng số cán bộ biên chế trong độ tuổi từ 30 đến 45 tuổi Hầu hết đã phát huy tính năng động, sáng tạo, biết tổ chức, quản lý các hoạt động văn hóa đi vào chiều sâu và ngày càng phát triển
2.2.3 Công tác tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Công tác quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An trong thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động lễ hội diễn ra sôi nổi, phong phú đáp ứng nhu cầu tham gia, thụ hưởng của nhân dân và du khách, với phương châm an toàn, tiết kiệm, thiết thực
Phòng Văn hóa thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo ở địa phương theo quy định của pháp luật Tăng cường tuyên truyền về các giá trị của lễ hội, nếp sống văn minh trong lễ hội; kiểm tra, xử lý nghiêm sai phạm trong lĩnh vực quản lý và tổ chức lễ hội; ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực như: xóc thẻ, rút thẻ, bói toán, cúng thuê, cờ bạc trá hình, đốt đồ
mã, đặt quá nhiều hòm công đức, đặt lễ tùy tiện, lưu hành văn hóa phẩm trái phép, đồ chơi có tính bạo lực, tăng giá dịch vụ, chèo kéo khách, thương mại hóa lễ hội, kéo dài thời gian và tổ chức lễ hội không phù hợp với thuần phong
mỹ tục Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với các địa phương và Ban Tổ chức các lễ hội phát hiện và xử lý các đối tượng lang thang
Trang 34xin ăn, ăn xin biến tướng
Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo tăng công suất thu gom rác, đảm bảo vệ sinh môi trường trước, trong và sau lễ hội nhằm đem lại ấn tượng tốt cho nhân dân và du khách Phòng Cảnh sát giao thông thuộc Công
an Thành phố phải rà soát các phương tiện tàu, thuyền, xe hoa tham gia tại các lễ hội có hoạt động trên sông nước, đường bộ đảm bảo an toàn cho người tham gia lễ hội và du khách
Phòng Thương mai-Du lịch tăng cường quản lý các hoạt động kinh doanh, dịch vụ, hướng dẫn quy hoạch dịch vụ đảm bảo thuận tiện, không gây cản trở giao thông và ảnh hưởng du khách; phối hợp với Phòng Quản lý Thị trường kiểm soát, khuyến nghị các cơ sở kinh doanh đồ mã hạn chế những mặt hàng không phù hợp thuần phong mỹ tục
Từ năm 2010, UBND thành phố đã chỉ đạo ngành Văn hóa và Thông tin chủ trì phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, xã phường xây dựng kế hoạch, chọn lựa đầu tư tổ chức lễ hội, sự kiện cụ thể cho từng năm nhằm triển khai kịp thời và có hiệu quả các hoạt động lễ hội truyền thống, các sự kiện văn hóa - du lịch, kỷ niệm các ngày lễ lớn trên địa bàn thành phố Lễ hội, sự kiện được phân cấp tổ chức: cấp thành phố, cấp xã phường, cấp tổ chức/cộng đồng chủ trì; quyết định quy mô, thời gian và địa điểm tổ chức Công tác quản
lý, chủ trì, phối hợp tổ chức được phân công cụ thể cho từng cơ quan, ban, ngành, địa phương Từ năm 2016, UBND thành phố đã chỉ đạo thực hiện phân nguồn kinh phí từ đầu năm để đảm bảo bố trí kinh phí tổ chức các hoạt động Nhiệm vụ tổ chức các lễ hội, sự kiện được định hướng thực hiện trong chương trình công tác hàng tháng, hàng quý của UBND thành phố, được chỉ đạo, đôn đốc thường xuyên trong các cuộc họp với các ban, ngành, địa phương Ngoài những lễ hội, sự kiện chính theo kế hoạch, các hoạt động khác tùy theo yêu cầu cụ thể, UBND thành phố chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức
Trang 35thực hiện
Phòng Văn hóa và Thông tin đã tích cực chủ trì tham mưu công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực lễ hội, sự kiện; nghiên cứu, đề xuất UBND thành phố ban hành kế hoạch cho từng năm, thường xuyên theo dõi, quản lý, kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc tổ chức thực hiện Trung tâm Văn hóa – Thể thao được phân công thường trực các lễ hội, sự kiện của thành phố, chịu trách nhiệm chính trong việc triển khai tổ chức thực hiện trên cơ sở các kế hoạch, chương trình đã được UBND thành phố thống nhất ban hành
Các cơ quan, ban ngành thành phố được phân công chủ trì đã chủ động tích cực tham mưu lập kế hoạch triển khai tổ chức các nội dung chương trình
lễ hội, sự kiện UBND các xã phường chủ động ra quyết định thành lập Ban
tổ chức, lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ tổ chức các lễ hội, sự kiện tại địa phương Công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, địa phương được chặt chẽ, tổ chức họp bàn thống nhất nội dung chương trình trước khi ban hành, triển khai thực hiện
Các lễ hội, sự kiện lớn của thành phố đều có thành lập Ban tổ chức do lãnh đạo UBND thành phố làm Trưởng ban, lãnh đạo cơ quan chủ trì làm Phó Ban trực, thành viên gồm lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, hội, đoàn thể địa phương liên quan Các lễ hội, sự kiện có hợp tác quốc tế tổ chức đều báo cáo
sở, ban ngành, UBND tỉnh Quảng Nam cho phép
Công tác quảng bá, tuyên truyền được Ban tổ chức các lễ hội, sự kiện tăng cường, đa dạng về hình thức như cổ động trực quan bằng panô, băng rôn,
cờ, đèn lồng…; tuyên truyền thông tin lưu động, hệ thống loa truyền thanh, gửi tập gấp, thư điện tử, tổ chức họp báo; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo đài trung ương và địa phương; mở chuyên mục tuyên truyền trên Cổng Thông tin điện tử thành phố, Trang thông tin điện tử của các
cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các trang mạng xã hội Lịch tổ chức các lễ
Trang 36hội, sự kiện chính của thành phố được tuyên truyền, quảng bá từ đầu năm được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đánh giá cao, được các doanh nghiệp du lịch, lữ hành thường xuyên quan tâm, nắm bắt thông tin để đưa khách đến Hội An Tổ chức cập nhật đưa tin, bài các hoạt động trước, trong
và sau lễ hội được chú trọng Công tác tuyên truyền, quảng bá đã góp phần
quan trọng thu hút nhân dân và du khách tham gia các hoạt động lễ hội, sự kiện trên địa bàn thành phố
Công tác quản lý và tổ chức các lễ hội, sự kiện trên địa bàn thành phố luôn được quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền thành phố, xã phường Nhận thức của các đơn vị tổ chức và chủ thể tham gia tổ chức lễ hội ở các địa phương được nâng cao Đặc biệt là sự hưởng ứng, đóng góp tham gia tổ chức
lễ hội, sự kiện của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hoạt động lễ hội,
sự kiện trên địa bàn thành phố ngày càng đi vào nề nếp, đáp ứng nhu cầu tín
ngưỡng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, qua đó nhằm bảo
tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, góp phần rất lớn cho việc quảng bá văn hóa, du lịch Hội An
2.2.4 Công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật trong quá trình quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Hằng năm, thanh tra chuyên ngành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam đều có kế hoạch kiểm tra hoạt động lễ hội ở Hội An Phòng Văn hóa và Thông tin thường xuyên tổ chức kiểm tra trước, trong và sau lễ hội Qua thanh tra, kiểm tra, các hoạt động lễ hội ở Hội An đảm bảo thực hiện nghiêm túc các quy định Pháp luật của nhà nước Ban tổ chức các lễ hội, sự kiện đều có phương án đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ, an toàn
Công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát các hoạt động liên quan khi lễ
Trang 37hội diễn ra được tiến hành đồng bộ và thường xuyên Công tác này nhằm đảm bảo cho nội dung lễ hội được diễn ra đúng với kế hoạch, chương trình, đảm bảo cho các hoạt động lễ hội diễn ra theo đúng với quy chế, quy định của nhà nước Trong biện pháp tổ chức thực hiện các công văn, chỉ thị, quyết định của
Bộ, Bộ giao cho thanh tra Bộ phối hợp với thanh tra các tỉnh thành và các cơ quan chức năng của Bộ tiên hành kiểm tra, thanh tra, kịp thời sửa sai và đề xuất xử lý nghiêm minh tập thể, cá nhân vi phạm nội dung Chỉ thị số 27- CT/TW và Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg Về công tác quản lý, tổ chức hoạt động lễ hội truyền thống ở 18 các địa phương, điều nổi bật nhất đó là hầu hết các tỉnh/thành đều nhận định Công điện 162/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có tác động trực tiếp tới lãnh đạo tỉnh ủy, UBND các tình và ngành liên quan, giúp nâng cao nhận thức về công tác quản lý và tổ chức lễ hội
2.3 Đánh giá chung hoạt động quản lý nhà nước về lễ hội trên địa
bàn Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
2.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân
2.3.1.1 Ưu điểm
Thứ nhất, công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở Hội An đã nhận được sự
quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng đồng thuận của người dân, cơ bản đã thực hiện nghiêm các quy định về quản lý và tổ chức lễ hội của của Đảng và Nhà nước Lễ hội quy mô quốc gia, cấp tỉnh, thành phố đến các lễ hội nhỏ phạm vi làng, xã đều đảm bảo an ninh trật tự Nhiều lễ hội có chuyển biến tích cực, khắc phục được nhiều hạn chế, tồn tại như mê tín dị đoan, cờ bạc, lưu hành ấn phẩm trái quy định, phù hợp với thuần phong mỹ tục, đặc tính vùng miền và điều kiện kinh tế, tạo không khí lành mạnh, phấn khởi cuốn hút du khách
Do phát huy vai trò chủ thể của người dân hoạt động lễ hội đã được xã hội hoá rộng rãi, huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân, nguồn tài trợ ngày càng
Trang 38tăng, nguồn thu qua bán vé tham quan, lệ phí, dịch vụ phần lớn đã được sử dụng cho tôn tạo di tích, tổ chức lễ hội nhằm bảo tồn các phong tục, tập quán truyền thống và hoạt động phúc lợi công cộng
Phần lễ tổ chức trang trọng, linh thiêng và thành kính, chương trình tham gia phần hội phong phú hấp dẫn, bảo tồn có chọn lọc những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc theo xu hướng lành mạnh, tiến bộ, tiết kiệm, tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian, diễn xướng dân gian, dân ca, dân vũ, dân nhạc để quảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa của người dân phố Hội Gắn kết các hoạt động văn hóa, thể thao truyền thống với quảng bá du lịch, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và mỹ tục truyền thống văn hoá lâu đời tốt đẹp, độc đáo của dân tộc ta đối với bạn bè quốc tế Đồng thời các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, làm nên
vẻ đẹp của các công trình tín ngưỡng, tôn giáo
Hầu hết lễ hội lớn được tổ chức ở Khu phố cổ Hội An-Di sản văn hóa Thế giới càng làm nổi bật bản sắc văn hóa, kết hợp với kiến trúc văn hóa cổ xưa và đương đại tạo nên không gian thiêng riêng biệt của đất và người Hội
An Nhiều lễ hội đã chinh phục được du khách, tôn vinh di sản, nâng cao uy tín của thương hiệu du lịch hấp dẫn của địa phương Kinh nghiệm tổ chức một
số Lễ hội Văn hóa, thể thao, du lịch đã dần dần mang tính chuyên nghiệp hóa góp phần tạo ra doanh thu và hiệu quả đầu tư, góp phần đẩy mạnh và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo dấu ấn với du khách trong nước và quốc tế (Festival Quảng Nam-Hành trình Di sản,
Lễ hội văn hóa Hội An-Nhật Bản, Hợp xướng quốc tế, Hội thi Ẩm thực quốc tế…)
Thông qua tổ chức lễ hội đã huy động được nguồn lực lớn từ nhân dân
và du khách, phần lớn kinh phí tổ chức lễ hội đều do nhân dân và du khách