Bài viết tổng hợp và phân tích các chương trình giáo dục an toàn mạng trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình này tại Việt Nam. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 chương trình (Jones và Finkelhor, 2011). Mời các bạn tham khảo!
Trang 1TỔNG QUAN MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC
AN TOÀN TRÊN MẠNG INTERNET TRÊN THẾ GIỚI:
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Phạm Hạnh Ngân
Tóm tắt: Bài viết tổng hợp và phân tích các chương trình giáo dục an toàn
mạng trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chương trình này tại Việt Nam Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 100 chương trình (Jones và Finkelhor, 2011) Các chương trình được thực hiện cho học sinh ở mọi cấp học Một số bằng chứng khoa học về hiệu quả của các chương trình giáo dục an toàn mạng cũng được trình bày trong bài Ngoài ra, dựa trên các ưu và nhược điểm của các chương trình đã được triển khai trên thế giới, một số gợi ý cho việc xây dựng chương trình giáo dục an toàn mạng cho học sinh Việt Nam được đưa ra.
Từ khóa: chương trình, giáo dục, an toàn mạng, học sinh, tổng quan
Đặt vấn đề
Hiện nay, mạng Internet đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người với những nhu cầu như làm việc, giải trí, học tập, Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế, các thiết bị điện tử (điện thoại di động thông minh, máy tính bảng, ) ngày càng phổ biến; sự
1 Trường Đại học Giáo dục;
Email: congtv@vnu.edu.vn.
2 THPT Amsterdam.
Trang 2xuất hiện của mạng 3G1, 4G2, 5G3,đường truyền internet không dây giúp cho tất cả mọi người ở độ tuổi nào cũng có thể truy cập mạng Do vậy, lượng người truy cập internet càng ngày càng tăng lên, đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên (Hunley và cộng sự 2005) Theo Trung tâm Quốc gia về Thống kê Giáo dục Hoa Kỳ (National Center for Education Statistics, NCES), tại Mỹ năm 2003 có 91% số học sinh từ mẫu giáo đến lớp 12 sử dụng máy tính, 59% sử dụng máy tính với độ tuổi rất sớm (79% số học sinh từ lớp 9 đến 12 sử dụng máy tính) Tại Việt Nam, khảo sát tại một trường Trung học phổ thông Hà Nội có 100% học sinh sử dụng internet với những mục đích khác nhau (Phạm Thị Liên, 2016).
Mạng internet phát triển đã mang đến cho con người vô vàn những lợi ích Internet mang lại sự thay đổi tương tác xã hội của mỗi cá nhân trong xã hội, phương pháp học tập và tạo nên nhiều lựa chọn giải trí mới Đặc biệt với sự ra đời của mạng
xã hội và các ứng dụng thông minh, mạng Internet đã tạo nên một công cụ giao tiếp mới nhanh chóng và thuận tiện, giúp những người trẻ tuổi sử dụng tin nhắn tức thì (Messenger4, Imess5, ), mạng xã hội (Facebook6, Instagram7, ), YouTube8, Email9, phòng trò chuyện và webcam
1 3G: Viết tắt của third - generation technology, là thể hệ thứ ba của chuẩn công nghệ di động, cho phép truy cập internet, truyền cả dữ liệu điện thoại và dữ liệu ngoại thoại (tải dữ liệu, gửi thư điện tử, tin nhắn nhanh, hình ảnh…)
2 4G: Viết tắt của fourth - generation technology, là thế hệ thứ tư của chuẩn công nghệ di động
và thay thế cho thế hệ thứ ba của truyền thông băng thông rộng
3 5G: Viết tắt của fifth - generation technology, là thế hệ tiếp theo của công nghệ truyền thông di động sau thế hệ 4G, hoạt động ở các băng tần 28, 38, và 60 GHz Mạng 5G có tốc độ nhanh hơn khoảng 100 lần so với mạng 4G hiện nay.
4 Messenger: là một dịch vụ và ứng dụng phần mềm tin nhắn tức thời chia sẻ giao tiếp bằng ký tự
và giọng nói Được tích hợp trên ứng dụng Chat (trò chuyện) của Facebook và được xây dựng trên giao thức MQTT, Messenger cho phép người dùng Facebook trò chuyện với bạn bè trên cả
di động và trang web chính
5 Imess: iMessage là một dịch vụ nhắn tin tức thời được phát triển bởi Apple Inc Nó được hỗ trợ bởi ứng dụng Tin nhắn trong iOS 5 trở lên và OS X Mountain Lion trở lên
6 Facebook: là một website dịch vụ mạng xã hội và truyền thông xã hội do công ty Facebook, Inc điều hành với trụ sở tại Menlo Park, California.
7 Instagram: là một phần mềm chia sẻ ảnh miễn phí cho phép người dùng chụp ảnh trên điện thoại của mình, thêm các bộ lọc hình ảnh, và sau đó chia sẻ trên nhiều mạng xã hội khác nhau,
kể cả Instagram Những bức ảnh chụp được sẽ có dạng hình vuông với tỉ lệ 4:3 thường được dùng trong các thiết bị di động
8 Youtube: là một trang web chia sẻ video, là nơi người dùng có thể tải lên hoặc tải về máy tính hay điện thoại và chia sẻ các video clip.
9 Email (Thư điện tử): là một phương thức trao đổi tin nhắn giữa những người sử dụng các thiết
bị điện tử
Trang 3Tuy nhiên, khi tham gia vào các hoạt động trực tuyến và tương tác thông qua mạng internet, thanh thiếu niên có thể bị rơi vào các nguy cơ xấu của không gian
ảo, tiêu biểu như bắt nạt trực tuyến (Kraft, 2016); sexting (hành vi gửi, nhận hoặc chuyển tiếp những tin nhắn có nội dung gợi cảm như: ảnh khỏa thân, bán khỏa thân
và các tư thế khiếm nhã khác của bản thân người gửi hoặc của một ai đó qua các thiết bị điện tử mà chủ yếu là điện thoại) (Trần Thành Nam và cộng sự, 2016); bị quấy rối, bị đánh cắp thông tin cá nhân, bị tiếp xúc với các văn hóa phẩm đồi trụy (Farrukh, Sadwick, Villasenor, 2014) Từ đó, mạng internet đã gây nên rất nhiều những hậu quả nghiêm trọng đối với người sử dụng, đặc biệt là thanh thiếu niên: Những vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần (Nguyễn Thị Bích Hạnh, 2017); nghiện internet (Cao và Su, 2007; Lê Minh Công, 2013); ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập (Kirschner và Karpinski, 2010), v.v.
Tại Việt Nam, bên cạnh sự gia tăng mạnh mẽ của mạng internet, cũng đã xuất hiện những mặt trái của “không gian mới” này với mức độ đáng báo động như bắt nạt trực tuyến với tỷ lệ 24% (Trần Văn Công và cộng sự, 2015); hành vi sexting của học sinh, sinh viên là 15% (Trần Thành Nam và cộng sự, 2016); v.v.
Trước thực trạng những nguy cơ như vậy, việc giáo dục an toàn mạng đang trở thành một biện pháp được các nước trên thế giới áp dụng Các chương trình giáo dục an toàn mạng đã được xây dựng và triển khai ở nhiều nước trên thế giới với sự tham gia của các chính phủ, các tổ chức xã hội, với mong muốn tạo nên một không gian internet an toàn, lành mạnh cho mọi người.
Cùng với xu thế chung đó, Việt Nam cũng đang trong quá trình triển khai một vài chương trình giáo dục an toàn mạng tại các trường học, đặc biệt là cho thanh thiếu niên, ví dụ các tiết học về bắt nạt qua mạng trong khuôn khổ Dự
án trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng do tổ chức Plan International Việt Nam phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội thực hiện tại 20 trường học tại Hà Nội từ tháng 11/2013 đến tháng 11/2016 Một chương trình khác mang tên Think Before You Share - Suy nghĩ trước khi chia sẻ do Facebook
và Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững tổ chức tại 10 tỉnh thành phố Việt Nam Tuy nhiên, trong phạm vi tìm kiếm của chúng tôi, chương trình trên mới bắt đầu triển khai từ tháng 6/2018 và vẫn chưa có một công bố chính thức
gì về hiệu quả đạt được Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi thấy rằng việc tổng quan các chương trình giáo dục an toàn mạng dành cho học sinh trên thế giới và đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam là cần thiết, đưa ra những
đề xuất quan trọng giúp các nhà hoạch định giáo dục có thể tham khảo và đưa vào xây dựng, triển khoa chương trình giáo dục, an toàn mạng cho học sinh tại Việt Nam
Trang 4Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu dưới đây được tổng hợp các công trình đã xuất hiện từ
năm 2006 - 2018, được tìm kiếm với các từ khóa “internet safety program, internet
safety education, online safety program, online safety education…” trên internet
trong các cơ sở dữ liệu khoa học (ví dụ Google Scholar, SAGE) và các trang thông web chính của các tổ chức, cơ quan chính phủ các quốc gia (ví dụ U.S Department
of Justice).
Sau khi tìm kiếm từ tháng 7 đến tháng 8/2018, chúng tôi tổng hợp và chọn lọc được tất cả 17 chương trình giáo dục an toàn khi sử dụng internet nổi bật ở các nước trên thế giới (Mỹ, Canada, Nhật Bản ) có liên quan trực tiếp và đưa vào sử dụng cho mục đích của bài viết.
Kết quả nghiên cứu
Quan sát các kết quả được trình bày trong bảng 1, có thể thấy:
Thứ nhất, các chương trình hướng vào tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã
hội, đặc biệt là nhóm học sinh – sinh viên – giáo viên – phụ huynh.
Thứ hai, đa số học sinh thường bắt đầu được giáo dục an toàn mạng từ cấp
trung học cơ sở (từ 11 tuổi) Ở một số nước, ví dụ như Phần Lan, học sinh được tiếp xúc với giáo dục an toàn mạng sớm hơn, bắt đầu từ lứa tuổi tiểu học (từ 7 – 8 tuổi) Điều này có thể là do đây là lứa tuổi có tỷ lệ sử dụng mạng cao nhất và có nguy cơ cao và tỷ lệ lớn là nạn nhân của những nguy cơ xấu (bắt nạt trực tuyến, hành vi sexting,…)
Thứ ba, nội dung giáo dục an toàn mạng rất đa dạng: bắt nạt trực tuyến và
quấy rối, bạo lực, tư duy kĩ thuật số và phê bình kĩ thuật số, bảo mật, chơi game an toàn, v.v Trong phạm vi khảo sát của chúng tôi, nội dung giáo dục an toàn mạng tập trung vào nâng cao nhận thức của người sử dụng mạng nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của người dùng Các chương trình sử dụng cả hai hình thức online (online learning/training)1 và offline (offline learning/training)2 thông qua việc xây dựng website, app3 và cẩm nang, sách hướng dẫn hoặc các bài giảng, các dự án mang tính chất cộng đồng lớn.
1 Online Learning/Training: đào tạo trực tuyến, là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học, lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên.
2 Offline learning/training: Dạy học trực tiếp trong không gian có cả người dạy và người học.
3 App (phần mềm ứng dụng trên thiết bị di động, còn được gọi tắt là ứng dụng di động, hoặc chỉ ứng dụng): là phần mềm ứng dụng được thiết kế để chạy trên điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị di động khác.
Trang 5Thứ tư, các chương trình do các nhóm nghiên cứu khoa học tổ chức, các
trường học hoặc do các các cơ quan chính phủ, tổ chức xã hội thực hiện.
Thứ năm, các thành phần tham gia giáo dục an toàn mạng thường là tất cả mọi
người, tập trung vào lứa tuổi học sinh/sinh viên, giáo viên, phụ huynh và nhà quản lý/lãnh đạo Các chương trình được triển khai bởi các nhóm chuyên gia thường được tổ chức tại các trường học dựa trên các phương thức giảng dạy lớp học, tập huấn học sinh, cán bộ nhà trường, tổ chức hoạt động tìm hiểu tập thể Trong khi
đó, các chiến dịch quốc gia, quốc tế với quy mô rộng hơn được tổ chức trong cộng đồng, bao gồm việc tổ chức giảng dạy tại một số trường học.
Thứ sáu, đa số các chương trình được xây dựng và đánh giá hiệu quả, trong
phạm vi tổng quan 17 chương trình của chúng tôi, có 9 chương trình được nhóm tác giả xây dựng đánh giá hiệu quả thông qua thực nghiệm, và cho thấy bằng chứng khoa học về hiệu quả Đây là một trong những cơ sở quan trọng để các chương trình giáo dục an toàn trên mạng internet được triển khai và nhân rộng
Trang 6Tên chương trình
Lứa tuổi
Phương pháp thực hiện
Thời gian
Hiệu quả/ cách thức/ chiến lược can
I-SAFE (Internet – Safety Program – Chương trình an toàn mạng I-SAFE) (2006)
Chibnall et al (2006)
Toàn trường, giáo viên, học sinh, phụ huynh
10 - 14
Chương trình đào tạo kỹ năng sử dụng mạng an toàn dành cho học sinh Cán bộ nhà trường và phụ huynh được cung cấp thông tin trực tiếp hoặc qua đĩa DVD họ chuẩn bị để mang đến những chương trình giáo dục toàn diện
Giảng dạy
2004 - 2005
Chương trình thực hiện bằng phương pháp thực nghiệm đối chứng, nghiên cứu theo chiều dọc đã thành công trong việc nâng cao nhận thức của một bộ phận học sinh về vấn đề an toàn mạng
Nhiều phương thức giảng dạy và truyền đạt thông tin được thực hiện và thành công trong việc cung cấp thông tin chi tiết về hiệu quả của giáo dục an toàn mạng
Chương trình chưa đạt đến thành công trong việc thay đổi hành vi sử dụng mạng cuả học sinh
fall into the trap! program (Chương trình Hãy không rơi vào bẫy!) (2008) Menesini and Nocentini
Học sinh THPT
14 – 15 Chương trình sử dụng cách tiếp cận bạn cùng lứa để ngăn ngừa, can thiệp vào tình trạng bắt nạt trực tiếp và bắt nạt trực tuyến
Giảng dạy Thực nghiệm trong 6 tháng Chương trình sử dụng phương pháp thực nghiệm đối chứng, phân tích dữ liệu cho thấy nhóm thực nghiệm có sự giảm thiểu rõ rệt, nhóm đối chứng không có thay đổi sau khoảng thời gian thực nghiệm
Chương trình được điều chỉnh và thêm nhiều yếu tố kết hợp về công nghệ
Có thể có một số hạn chế trong mức độ lựa chọn trong quá trình khảo sát khi các học sinh chỉ có 2 lựa chọn có hoặc không
Bảng 1 – Tổng hợp một số chương trình giáo dục an toàn mạng trên thế giới
Trang 7“Be Netwise” Internet Education On Campaign (Chiến dịch giáo dục mạng Internet “Be NetWise”) (2009)
Liên đoàn Thanh niên Hồng Kông
Hồng Kông
Học sinh và phụ huynh và thầy cô
Học sinh tiểu học, trung học
Với sự giúp đỡ chính phủ, chiến dịch được tiến hành với mục đích xây dựng và phát triển một nền văn hoá Internet văn minh trên nhiều phương diện ở trẻ em và thanh thiếu niên
Giảng dạy chuyên đề
1 năm với hơn 20 hoạt động lớn nhỏ
Tạo cơ hội làm việc cho 500 người Các bài giảng đạt hiệu quả cao, một số hoạt động vẫn được tiếp tục tiến hành do nhu cầu của gia đình và trường học
Chiến dịch kéo dài và có nhiều hoạt động có tính thực tiễn, được phân chia cho từng nhóm đối tượng riêng biệt
The ConRed Program (Chương trình ConRed) (2012) Donna Cross et al
Tây Ban Nha Học sinh/ Sinh viên
11 - 19 Chương trình dựa trên lý thuyết hành vi xã hội tiêu chuẩn nhằm giảm các vấn đề như đe doạ trực tuyến, nghiện Internet và định hướng những nhận thức sai lệch về kiểm soát thông tin trên mạng xã hội, thúc đẩy cách sử dụng một cách đúng đắn
Giảng dạy Thực nghiệm trong 3 tháng Chương trình đưa ra kết quả tích cực với 3 mục tiêu ban đầu Nhóm thực nghiệm có thay đỏi rõ rệt so với nhóm đối chứng sau thời gian thực nghiệm
Kết hợp điều tra những khía cạnh quan trọng về việc sử dụng mạng với tính ứng dụng cao
Nghiên cứu mới thực hiện trên phạm vi nhỏ (3 trường)
Trang 8Program (Chương trình KiV
Juha Ollila
Phần Lan
Nhà trường, phụ huynh, học sinh
Chương trình xây dựng các bài giảng theo phương thức lớp học, xây dựng website, xây dựng ứng dụng trò chơi cho học sinh nhằm mục đích củng cố sự cảm thông, sự tự tin vào năng lực của bản thân và ngăn ngừa thái độ tiêu cực của những người chứng kiến bắt nạt
Tổ chức giảng dạy và trò chơi
Chương trình dài hạn tại các trường học
Chương trình cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thiểu tình trạng bắt nạt bằng nhiều hình thức Bên cạnh đó, báo cáo cho thấy sự cải thiện về sở thích học tập, động lực và kết quả học tập, giảm sự lo lắng, trầm cảm ở nhiều học sinh
Chương trình nổi bật bởi nội dụng giảng dạy và hướng dẫn giáo viên - một trong những nội dung hiếm thấy ở các chương trình can thiệp hiện nay
nghiên cứu quốc tế đầu tiên tại Hà Lan, W
Estonia và Ý thành công
Đối tượng nghiên cứu tương đối tương đồng, chưa có sự đa dạng để đem ra so sánh và đưa ra kết luận một cách toàn diện
The Internet is a Mask (Chương trình : “Mạng Internet là
một chiếc mặt nạ) (2014) Leandra N Parris, Kris Varjas, Joel Meyers
Khảo sát ý kiến của học sinh và phụ huynh về vấn đề can thiệp phòng chống nạn bắt nạt trực tuyến và phân tích số liệu
phân tích số liệu và đưa ra bàn luận về ý nghĩa của các chiến lược được học sinh lựa chọn sử dụng
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn mẫu tiêu chuẩn, phân tích định tính, mô tả cắt ngang Học sinh được nâng cao hiểu biết về vấn đề sử dụng mạng đồng thời có biểu hiện của việc sử dụng mạng an toàn hơn Nghiên cứu cho thấy người lớn có ít khả năng làm giảm tình trạng bắt nạt trực tuyến
Những chiến lược được đưa ra được giải thích nhằm giúp cho cả hai đối tượng phụ huynh và học
hiểu rõ về các phương pháp này
Đưa ra chiến lược dựa trên phỏng vấn sâu, chưa có thực nghiệm để đo đạc hiệu quả
Trang 9gram 2.0 (Chương trình Bắt nạt 2.0) ((2014
Maite Garaig
ordobil; Vanesa Mar- tínez- Valderrey
Tây Ban Nha
Nâng cao hiểu biết về bắt nạt trực tuyến cũng như các giải pháp can thiệp, phòng ngừa, tự bảo vệ bản thân của trẻ và nâng cao kĩ năng giao tiếp để giải quyết mâu thuẫn Chương trình đưa ra kết quả tích cực: hành vi bắt nạt trực tuyến có xu hướng giảm đồng thời nhiều khả năng giao tiếp của học sinh được cải thiện
Giảng dạy nâng cao hiểu biết, kĩ năng giao tiếp
19 bài giảng trong một kì học Mỗi bài giảng kéo dài 1 tiếng
Chương trình sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm có nhóm đối chứng, đánh giá trước sau can thiệp đã cho thấy hiệu quá làm giảm đáng kể những hành vi ứng xử tiêu cực ở nữ giới Đối với những khía cạnh còn lại, sự thay đổi ở cả hai giới là như nhau
Làm nổi bật được tầm quan trọng của việc tổ chức chương trình từ khi trẻ còn nhỏ để củng cố cảm xúc xã hội, khả năng chung sống hoà hợp và phòng ngừa bạo lực
Nghiên cứu mới chỉ sử dụng bảng hỏi tự thuật, cần áp dụng thêm báo cáo từ nhiều nguồn khác như báo cáo của giáo viên, phụ huynh về hành vi của học sinh hoặc các kỹ thuật quan sát để đánh giá tác động của chương trình Bên cạnh đó, để đưa ra kết luận mang tính toàn thể, chương trình cần mở rộng quy mô và nguồn gốc của mẫu
Trang 10Sensibility Develop
ment Program against Cyber
bullying (Chương trình phát triển sự nhạy cảm đối với bắt nạt trực tuyến) ((2015
Nedim Bal & Kahra
Thổ Nhĩ Kỳ
15 - 18
Xây dựng 2 bài giảng nhằm nâng cao hiểu biết cảu thanh thiếu niên về bắt nạt trực tuyến và an toàn mạng
Giảng dạy
2 bài giảng Mỗi bài giảng kéo dài 70 - 80 phút
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, thực nghiệm có đối chứng Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt ở nhóm thực nghiệm trong khi không có nhiều thay đổi ở nhóm đối chứng, cho thấy chương trình có hiệu quả trong việc tang sự nhảy cảm của học sinh đối với vấn đề bắt nạt trực tuyến
Nghiên cứu góp phần thử nghiệm cho các nghiên cứu trong tương lai và có thể coi là nghiên cứu cơ sở Những tác dụng được tìm thấy được cho là có tác động lớn hơn đối với phiên bản dài hạn so với phiên bản ngắn của nó
- Chương trình được phát triển cho thanh thiếu niên có nguy cơ nhưng chưa từng tiếp xúc với bắt nạt trực tuyến, điều này không khả thi trong một số trường hợp - Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm nhỏ, khiến cho nghiên cứu trở nên thiếu tính ứng dụng cho trường học - Nghiên cứu mang tính thử nghiệm, chưa khái quát hoá kết quả